Transcript: Trí Tuệ Ba La Mật (Sai Biệt Trí)

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:24:03

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay buổi giảng cuối, thầy cố gắng giảng cho xong cái Bát Nhã Ba La Mật. Hôm nay sức khỏe thầy kém. Đúng là vô thường. Nếu một ngày nào, ví dụ như quý Phật tử mà nghe tin thầy không còn nữa, thì nhớ một điều, là lòng thầy thương yêu tất cả mọi người. Thầy chỉ gởi lại một câu đó thôi, thầy không làm gì được nhiều, nhưng mà trái tim thầy thì không lúc nào mà không thương yêu mọi người. Hôm nay chúng ta nghe tiếp về Bát Nhã. Hôm trước, chúng ta đi vào cái căn bản trí, tức là thấy được cái lý không của vạn hữu. Do tu thiền, chúng ta đi sâu dần vào những cái bước định.

[1:08]Ở mỗi cái bước định thì chúng ta phá được một cái chấp nào đó. Những người mà vào định sâu thì họ phá được những cái chấp rất là khó phá. Ví dụ như cái khái niệm về lớn nhỏ của không gian. Như chúng ta thấy thì cái nhà này mình thấy là lớn, rồi cái đồng hồ này mình thấy nó là nhỏ. Thì cái khái niệm lớn nhỏ của không gian đó, nó ăn sâu vào trong tiềm thức sâu thẳm của mình, mình không phá được. Nhưng mà đến một mức định nào đó, thì người ta vượt qua được cái chấp đó. Bỗng nhiên người ta cảm thấy là cái lớn và cái nhỏ này nó bình đẳng, không khác nhau. Cái người mà được như vậy là cái mức định rất sâu.

[2:02]Hoặc như mình thấy cái thời gian nó trôi dài, là một phút nó ngắn hơn một ngày, hay là ngắn hơn 100 năm. Nhưng mà người họ đến cái mức định nào đó, thì họ thấy hai cái thời điểm đó bằng nhau. Một phút hay là một giây, một khoảnh khắc, nó bằng như cả một thế kỷ, hai cái đó bình đẳng không sai khác. Những cái chấp về không gian và thời gian nó rất sâu trong tiềm thức, không có dễ phá, đòi cái định rất là sâu mới có thể phá được. Chúng ta hiểu những điều đó là không phải hiểu là cho mình đã đạt được, mà phải biết đây là con đường mà các bậc Thánh đã đi qua, đã đạt được, mà mình hiểu rồi thì mình phải cúi đầu để ngưỡng mộ những vị

[2:56]đó, những vị mà đã vượt qua được những cái chấp đó, còn mình thì chưa được gì cả. Phải nhớ, chứ còn cái bệnh lớn của người học giáo lý Bát Nhã là dễ trở nên kiêu mạn. Khi mà học tất cả đều không rồi, không chấp, rồi không giữ quy tắc, không giữ lễ phép, không tôn ti, không trật tự, và không biết khiêm hạ, cho nên người học cái lý không Bát Nhã dễ rơi vào cái lỗi kiêu mạn, rồi tan vỡ hết những công đức của mình. Nên khi mà thầy nói về cái lý không Bát Nhã, thì thầy nhắc một điều quan trọng vào cuối bài, là mình hiểu được cái lý không, mình mới thấy cái vĩ đại trong tâm hồn của những vị Thánh mà mình không thể bằng được, nên mình phải biết cúi đầu tôn kính những vị Thánh đó.

[3:51]Còn cái bài Bát Nhã Tâm Kinh có nói lý sắc và không, tức là sắc tức thị không, không tức thị sắc; sắc bất dị không, không bất dị sắc. Cái yếu chỉ của bài Bát Nhã Tâm Kinh thì nó nằm gọn ở chỗ đó. Sắc là cái hình hài này, là tượng trưng cho cái có; còn không là cái rỗng, tượng trưng cho cái không có. Cho nên ở đây, cái người mà họ chứng, họ vào cái định đến tận cùng, thì họ thấy luôn bình đẳng giữa cái có và cái không có. Nên cái chỗ chứng này rất là sâu, chúng ta chưa vượt qua được. Chúng ta không thể nào mà chúng ta thấy được là có thân này và không thân này là bình đẳng. Giống như bây giờ mình có một căn nhà

[4:41]và mình thấy nó bình đẳng với cái mình không có căn nhà mà mình ở ngoài trời. Hai cái đó bình đẳng, mình không thể thấy nổi điều đó. Nhưng những bậc chứng đạo, họ thấy hai điều đó bình đẳng, và thấy một cách rất là tự nhiên, thấy một cách rất là tự nhiên. Nên cái đó là ăn thua theo cái mức định, nó tạo thành cái trí tuệ mà phá chấp như vậy. Những cái điều đó chúng ta không đạt được. Rồi cái người mà đến cái chỗ thấy được cái có và không bình đẳng rồi đó, bắt đầu họ đi vào đến một cái là một là tất cả, và tất cả là một.

[5:20]Nói rằng nơi một cái hiện tượng rất nhỏ mà vẫn chứa đựng cả cái vũ trụ mênh mông này. Nên ở đây bắt đầu từ cái lý tận cùng của cái không, họ mở đi vào cái lý tận cùng của cái có. Nhưng mà cái có của một bậc Thánh mà thấy được, là cái có rất vi diệu. Bắt đầu cái lý nhân quả nó mở ra. Ở những cái giai đoạn trước, chúng ta nếu mà thấy được nhân quả, chỉ thấy được rất là mơ hồ. Ví dụ, ví dụ mình được một cái định càn cạn á, mình nhìn thấy một cái người đó, mình nhìn vào họ, mình thấy cái tâm họ hẹp hòi, và mình thấy luôn cái quả báo họ sẽ nghèo khổ. Đó là ở cái mức độ định mình cũng thấy được điều đó.

[6:11]Nhưng mà một cái bậc Thánh, ví dụ họ nhìn vô thấy cái tâm người đó hẹp hòi, thì họ thấy dường người đó cũng nghèo khổ vậy, nhưng mà họ thấy rất sâu, thấy luôn trong kiếp trước những cái việc làm nhỏ nhỏ chút chút, rồi trong cái hẹp hòi đó đã có những lần nào mà bất chợt họ độ lượng, bất chợt là đã có những cái gì phát tâm tôn kính bậc Thánh vân vân, là bên cạnh những ác nghiệp mà họ gieo, có được những cái thiện nghiệp nào nó xen lẫn. Nên một bậc Thánh họ thấy cái nhân quả thấy sâu lắm, thấy tột cùng của cái nhân quả luôn. Nên cái lý nhân quả mà mình được học, được tin, được hiểu là chỉ học cái càn cạn thôi,

[6:52]còn những vị Thánh, họ thấy được cái nhân quả sâu đến tận cùng, từng chi tiết nhỏ. Cho nên ở cái giai đoạn mà sau khi đến thành tựu được cái lý không, tâm hoàn toàn tự tại rồi, thì một người Bồ Tát lại chỉ dùng cái lý nhân quả để mà làm lợi ích chúng sinh, chứ không có dùng lý không. Đây là điều chúng ta để ý. Chỉ có người mà chưa chứng thì hay thích nói về lý không, để chứng tỏ rằng mình được giải thoát, được tự tại, nhưng một người chứng rồi thì lại chỉ dùng cái lý nhân quả để độ chúng sinh thôi. Như thầy nghĩ là quý Phật tử đi từ đạo tràng này sang đạo tràng kia, có lẽ cũng đã nghe nhiều về cái Bát Nhã tánh không.

[7:48]Và đôi khi mình không có hiểu hết, mình đã từng nói về lý không để biện minh cho những việc làm sai lầm của mình, vân vân. Cho nên bây giờ mình hiểu đó là cái sai của phàm phu. Bậc Thánh, họ cái lý không là để cho mình được giải thoát tự tại, nhưng mà đối với chúng sinh thì lại dùng cái lý nhân quả, dùng cái hạnh chứ không dùng cái lý nữa. Nên ở đây là cái vai trò của ngài Phổ Hiền rất là đặc biệt. Bồ Tát Văn Thù thì tượng trưng cho căn bản trí, là thấy được cái lý không; còn Bồ Tát Phổ Hiền là tượng trưng cho sai biệt trí, là thấy được cái có, cái muôn ngàn, nghĩa là vô lượng vô lượng cái tế hạnh của một vị Bồ Tát, vô lượng vô lượng cái đường đi biến thiên của

[8:40]nhân quả của chúng sinh, thì một vị Bồ Tát phải thấy để mà độ chúng sinh. Nên ở đây một vị Bồ Tát họ thấy nhân quả nó sâu thế này: một cái nhúc nhích nhỏ thôi mà họ thấy cái ảnh hưởng đó đến 1.000 kiếp sau. Nó như vậy, ghê gớm như vậy, còn mình mình không để ý. Thầy nói ví dụ, ví dụ như là như một bầy trẻ nhỏ chơi đùa trước cái tượng Phật, thì tụi nó vô tâm, nó không có tín ngưỡng, à nó không biết trời Phật thần thánh gì hết, tụi nó chơi đùa vô tư. Nhưng mà trong đó có một đứa nhỏ, lúc đó khi đang chơi đùa dưới tượng Phật, như tượng Bồ Tát Quan Âm vậy, nó nhìn lên cái nó thấy là có người nào đó đã ngồi trên cái

[9:29]bệ mà làm thả xuống đó một cái miếng ni lông, miếng rác. Nó chạy lên nó nhặt thôi, nó đem xuống lại, nó bỏ ở dưới, chứ nó cũng không biết đem bỏ thùng rác. Hay là cái ý thức của nó còn kém, mà nó chỉ biết là nhặt đem bỏ đi thôi. Thì một vị Bồ Tát họ nhìn thấy cái hành vi nhỏ như vậy, thì họ biết rằng 1.000 kiếp sau đứa bé này có thể chứng A La Hán.

[9:59]Mà một kiếp tới cũng chưa có gì xảy ra. Nghĩa là nó nhặt được một cọng rác trên bệ Phật, thì nó chết kiếp này nó qua kiếp sau nó cũng không có gì xảy ra hết á. Năm kiếp nữa cũng chả có gì xảy ra hết. Nhưng mà một chút ý thức biểu lộ lòng tôn kính Phật đó thôi khiến mười kiếp sau nó gặp được một người biết Phật pháp nhắc cho nó vài câu, nó mới biết đi chùa. Mười kiếp sau nữa nó vô chùa công quả được mấy ngày rồi bỏ đi ra. Hai chục kiếp sau nữa có một lần nó đi xuất gia được một hai năm nó lại hoàn tục. Một trăm kiếp sau nữa bắt đầu nó vào được một chút thiền định rồi lại bị thối thất. Hai trăm kiếp sau nữa thì nó bắt đầu nó làm một giảng

[10:46]sư, là có thể vào được thiền định lâu hơn. Và cứ tăng lên một ngàn kiếp sau nó mới chứng được đạo. Nhưng mà từ một cái việc mà nhặt cái hành vi rất nhỏ thôi, mình thấy điều đó không có gì hoặc mình không đánh giá được cái nhân quả của nó. Nên một cái nhúc nhích nhỏ mà một vị Bồ Tát có thể thấy được cái trùng trùng trùng vô lượng kiếp sau chuyện gì sẽ xảy ra. Đó, cái thấy của Bồ Tát là vậy, mình mình thấy không nổi. Rồi ví dụ như mình gặp một người khách lạ đi đường,

[11:22]họ lỡ đường, mình mời họ dùng một bữa cơm, một ly nước,

[11:30]nhưng mà cái không ngờ là cái người mà mình mời một ly nước giữa đường xa nắng bụi này, họ lại là người mộ đạo.

[11:40]Cho nên cái cái mộ đạo của họ thì năm chục kiếp sau họ đắc đạo.

[11:48]Thì lúc đó mình sẽ gặp lại họ một chút, hoặc là không gặp lại họ luôn á. Nghĩa là trong kiếp thứ năm mươi họ đắc đạo và kiếp đó mình không có duyên gặp lại họ, không gặp gì hết. Nghĩa là cái ly nước mình mời giống như mất luôn á, nhưng mà không mất. Cái vị đó hoặc là một vị Bồ Tát vân du trong ba cõi sáu đường, hoặc vị đó an trú Niết-bàn, thì vị đó không bỏ sót một cái chúng sinh nào đã có duyên. Mình là người không biết Phật pháp, nhưng mình mời ly nước thì vị đó ổng tìm lại tất cả những cái duyên với chúng sinh mà ổng bắt gặp đã uống của mình một ly nước á, là thế nào ổng xúi một người khác đến với mình để đem Phật pháp đến cho mình.

[12:37]Lúc ổng không có trực tiếp nữa, tại vì ổng ở trên Niết-bàn hoặc ổng ở mấy cái cõi cao rồi, nhưng mà ổng tác động vào tâm của một người khác. Một người bạn nào ở cách đó mấy làng, cái bữa đó vô tình ổng khiến cho cái người đó một bữa đi ngang nhà mình, tới cái chỗ nhà mình cái người kia bị trúng gió. Ổng làm trúng gió cái mình chạy ra mình bưng vô, tại cái tánh mình nào giờ hay mời nước người ta đó, hay giúp lặt vặt. Thấy người trúng gió cũng khoác bưng vô cạo gió. Cạo gió xong cái thành bạn. Thành bạn, người kia tới lui nhiều lần cái đem Phật pháp cho mình nghe. Nghĩa là từ một cái ly nước uống năm chục kiếp sau

[13:15]bắt đầu mình gặp được Phật pháp để tu hành. Nghĩa là cái nhân duyên của chúng sinh như vậy, nó không có một kiếp hai kiếp mà một vị Bồ Tát nhìn một cái nhân duyên là thấy cái diễn tiến của nó đi trùng trùng trùng không, rất nhiều kiếp. Nên cái thời gian đối với một vị Bồ Tát là vô nghĩa. Mình á thì mình hay sốt ruột. Nói con làm phước hoài mà chưa thấy trúng số. Mấy năm nay ngồi thiền hoài mà không biết chừng nào đắc đạo. Là vì mình chưa có được cái trí tuệ của một Bồ Tát. Một Bồ Tát ổng nói một chuyện cái ổng nói hai ba chục kiếp, hai ba trăm kiếp mà. Mình nghe Bồ Tát nói mình nản liền, tại tâm mình hẹp hòi.

[14:03]Mình ví dụ như cực khổ chừng hai năm mình thấy đuối rồi. Nói: "Trời, sao đời tôi khổ quá!" Còn Bồ Tát khi ổng thấy một người đó thấy người ta đi cúng dường, đi làm phước cản: "Thôi, để bữa khác đi. Ngoài đó mưa gió bão lụt thôi kệ, bữa khác tính. Mình đem tiền giờ mua chiếc xe để mình chạy đỡ." Cái cản hổng cho làm phước. Thì một cái việc hành vi đó thôi vị Bồ Tát nhìn vô thấy liền có thể là mười kiếp không có cơm ăn. Không phải là tại một hành vi đó, nhưng mà nó biểu lộ một cái tâm tâm ích kỷ, hẹp hòi. Rồi cái tâm này nó cứ đẻ ra hết cái chuyện này tới chuyện kia, cứ tạo hết cái nghiệp hẹp hòi này tới nghiệp hẹp hòi kia.

[14:57]Cho nên cái cộng nhiều lại cái mười kiếp không có cơm ăn thiệt. Đó, một cái nhúc nhích nhỏ thôi, nhưng một vị Bồ Tát thấy cái ảnh hưởng của nó rất là lớn. Rồi ví dụ bây giờ mình đi trên đường phố, mình nhìn thấy một người người điên, tuy cái thanh niên nó còn khỏe, còn trẻ,

[15:23]nhưng mà dơ dáy, quần áo thì rách rưới, đi lang thang ngoài đường, nói bậy nói bạ. Thì chả biết nhà cửa ở đâu, thì chẳng ai quan tâm. Mình gặp cái người điên đó mình coi họ làm sao? Sự thật nhiều khi mình coi họ giống như súc sinh vậy, cái giá trị của một người điên nhiều khi nó bằng như một con súc sinh. Nhưng mà cái nhân quả tại sao mà nó đáng đáng sợ như vậy, đáng thương như vậy? Tại sao ai biết?

[16:00]Có nhiều nguyên nhân. Nhưng mà một người mà họ có đạo nhãn, họ nhìn qua, họ nhìn suốt vào quá khứ họ thấy liền, họ thấy nó chỉ bắt đầu bằng một việc rất là đơn giản, việc rất đơn giản. Là trong một lần vui đùa, người đó buột miệng công kích thần thánh. Thấy người ta thờ Phật Bà, nói một câu: "Xi măng, cốt sắt cũng lạy lục." Buột miệng một câu thôi. Không điên liền, không điên liền. Từ từ cái tâm bất tín thần thánh nó phát triển, mai mốt mình nói một câu nặng hơn nữa, mai mốt nói câu nặng hơn nữa, rồi lại lôi kéo nhiều người bất tín thần thánh thêm nữa. Khi mà nhân quả nó đủ rồi thì nhiều khi năm, mười kiếp điên luôn.

[16:53]Điên để rồi mình sống không có giá trị gì trong cuộc đời này hết á. Cho nên quý Phật tử thấy nó đáng sợ lắm, không có đơn giản. Mình đi trên một đường phố thôi, mình thấy cái người lành lặn cũng nhiều, cái người điên thì không bao nhiêu. Như vậy mình cho rằng là cái người mà biết đạo đức, biết làm việc thiện thì nhiều hơn là người tạo ác nghiệp, phải không? Phải không? Nhưng đó là cái nhìn cạn. Nếu mình nhìn luôn cái số lượng gà, vịt, những con súc sinh, à những con chim, con mèo, con chó với những người điên, thì mình sẽ thấy cái số mà chúng sinh mà bị đọa nó nhiều hơn cái chúng sinh mà không bị đọa, được làm người.

[17:51]Nên mình sẽ thấy thế này: nếu mà không có cái căn lành sâu dày với Phật pháp, trong một lúc nào bất chợt một người vui miệng mà thốt lên một câu phỉ báng, thì quả báo giống như cái người điên mà đang đi lang thang, nói lảm nhảm, rất là đáng tội nghiệp. Nó một cái nhúc nhích của nhân quả là thấy liền, rất là đáng sợ như thế. Nên Bồ Tát hay rộng rãi bố thí là vậy đó. Các Ngài bố thí có mong cầu điều gì không? Có không? Nói lại một câu: "Có không?" Vậy là chưa làm Bồ Tát được. Tại cái người bố thí mà có mưu đồ là Bồ Tát á.

[18:46]Mình bố thí mình cũng có ý đồ. Cái ý đồ của mình là gì? Bố thí nhiều rồi sau đó đó, nghĩa là mình bố thí mình cũng nghe lời, ví dụ nghe lời cái ni sư trụ trì đi, cái mình góp được hai chục ký gạo cho người nghèo, thì chạy ra bỏ mấy ngàn mua tờ vé số liền. Biết đâu nhờ hai chục ký gạo này trúng được cái tờ mấy triệu cũng có lời lắm. Hoặc là mình cúng vải vóc, hy vọng kiếp sau mình được đẹp đẽ, sang trọng, mình cũng có ý đồ. Rồi Bồ Tát cũng có ý đồ. Nhưng mà khoan nói Bồ Tát, giờ mình nói tới cái người mà lơ lơ lửng lửng chưa phải Bồ Tát. Chúng sinh thì có ý đồ, nhưng mà bây giờ quý Phật tử ở đây

[19:35]biết tu thì chắc không còn ai có ý đồ nữa, phải không? Nên nãy hỏi: "Có ý đồ không?" thì ai nấy trả lời là: "Không" á, tức là mình suy bụng ta mà ra bụng Bồ Tát. Mình bây giờ biết đạo nên mình cúng dường mình không có mong cầu quả báo, nên mình nghĩ Bồ Tát cũng vậy. Đây là cái giới người Phật tử đang tu đó. Ừ, lơ lơ lửng lửng này không bố thí là vị tha thôi, không mong cầu gì hết. Nên mình chưa phải Bồ Tát. Bồ Tát một đồng bỏ ra là có tính toán trong trỏng hết á. Không có đồng nào sót mẻ miếng nào hết trơn á. Ý đồ gì vậy?

[20:19]Cho chúng sinh mắc nợ mình, rồi mình nói người ta mới nghe.

[20:26]Nên cái mưu đồ mưu đồ là để giáo hoá. Có những người đắc đạo mà nói không ai nghe, tại vì không có duyên. Từ những kiếp xưa lo chuyên tu, rồi xưa nữa xưa lắm xưa lắm thì đã từng cung kính cúng dường một vị thánh nào đó. Cho nên đời này không cần phải sống vị tha với chúng sinh, chỉ nhờ cái phước mà cung kính cúng dường một bậc thánh vào mấy ngàn kiếp trước á, mà bây giờ chỉ cần chuyên tu nhập thất rồi được đắc đạo. Cho nên duyên với chúng sinh không có. Bây giờ đắc đạo rồi đi ra nói mở miệng đâu người ta ghét đó, mở miệng đâu người ta chê đó, mặc dù nói có lý lắm, có lý. Còn có cái người không có đắc đạo, ví dụ như bản thân tôi vậy.

[21:17]Tôi thì tu vô cùng tệ dở không ra cái thứ gì, ngồi đây nói không ra hơi, mà chết biết ngày nào. Nhưng mà nhiều khi nói bậy nói bạ có người nghe. Tại sao vậy? Tại vì hồi trước dường như là tôi có lúc nghèo quá rồi đi bán hàng nước, rồi thấy mấy phật tử đi ngang á, mời một người ly trà uống cho không, không lấy tiền. Biết đâu vậy, biết đâu vậy. Cho nên bây giờ chịu khó ngồi nghe tôi nói. Bồ Tát họ bố thí là vậy đó, là có mưu đồ hết á. Nhưng mà tới chừng một cái người đó mà biết đạo rồi á thì không có bố thí nữa à, bắt cái người đó phải bố thí lại mình. Cho nên như ở trên chùa đó, có một cái người đó

[22:03]thì tôi hay giúp đỡ, cái người dưới làng nghèo, thì tôi hay giúp đỡ, đôi khi cho gạo chỗ này chỗ kia. Rồi cái người đó cũng lên chùa công quả, tụng kinh. Cái bắt đầu một hôm lại lấy rau đem lên chùa cúng dường lại. Thì các đệ tử tôi mới hỏi là có nhận hay không tại vì người này nghèo. Tôi nói rằng: "Bây giờ thì bắt đầu phải nhận. Nếu họ chưa hiểu đạo thì mình phải cho họ để họ mắc nợ rồi mình nói đạo họ mới nghe. Nhưng họ hiểu đạo rồi thì phải buộc họ làm phước, thì họ có phước rồi họ mới đứng vững trên đôi chân của họ được, chứ không có phải cho hoài. Mình cho là để dụ thôi, dụ họ hiểu đạo thôi." Nên Bồ Tát á

[22:53]khi thì cho mà khi thì bắt người ta phải cúng lại mình. Như vậy á là phải. Qua câu chuyện tôi mới kể, tôi nói ngày xưa có một cái anh á, anh phật tử, hoàn cảnh anh khó khăn, và tôi hay giúp đỡ. Thì lúc đó vì tôi chưa có chùa, cho nên tiền bạc thì có ai cúng á thì thường thì không có sử dụng. Rồi đụng ai cần thì cho thôi. Mà lúc đó bắt đầu đã nghĩ tới một cái tu viện, cho nên cũng không có phí. Chứ ngày xưa nữa, nói này cũng khoe nữa, sao tôi ghét tôi cái vụ nói một lát cái khoe. Nói rồi cũng quên à, cứ quên hoài. Thôi lỡ nói nói cho hết nha, thông cảm. Hồi mà xưa lúc mà còn trong chúng á, tôi mà có tiền để trong túi thì tôi cảm thấy mình tội lỗi.

[23:43]Hễ có ai cần cúng dường liền. Cho đến khi bắt đầu nghĩ tới chuyện mà lập một cái tu viện, bắt đầu phải để dành. Nói để dành chứ cũng không để dành được, tại vì thấy đụng chuyện này đụng qua đụng lại cũng gặp người khổ rồi lại cũng giúp đỡ nên cái anh đó thì tôi hay giúp đỡ, mà nhiều khi giúp những cái những cái những cái số rất là lớn. Nhưng mà tôi nghĩ là ngày xưa à một kiếp nào đó có lẽ anh cũng có cái ân nghĩa gì với tôi. Mà thiệt, tôi thì tôi chỉ đoán vậy thôi chứ tôi không có biết. Nhưng anh đó thì chờ một đêm ảnh nằm mơ ảnh thấy. Ảnh nói: "Có một đêm không biết sao con nằm mơ con thấy con là lính của thầy.

[24:23]Đi đánh trận á thì thầy chỉ huy, mà con là lính đứng một bên á." Thì ngồi tôi nghĩ tôi gật đầu: "Chắc cũng dám đúng lắm." Hồi kiếp trước chắc ư sai ổng riết á. Làm cái này làm cái kia. Bây giờ có tiền ráng giúp ổng bù nợ lại, chứ cũng không phải hay ho gì. Nhưng mà cái điều đó cũng không có cái hay, không hay gì. Tôi vẫn chờ đợi một cái ngày mà anh biết á là đem cái mồ hôi nước mắt của anh ra để cúng chùa. Nhưng mà chờ mãi không thấy. Tức là mặc dù là được tôi giúp đỡ, cho nên rất là mến tôi rồi mến đạo, tin Phật Pháp đủ thứ hết, nhưng mà vẫn chưa có thể lấy đồng tiền mồ hôi nước mắt mình ra làm một cái phước gì hết á.

[25:11]Và tôi biết rằng anh đó vẫn chưa thể đứng lên đôi chân của mình được, vẫn còn sẽ khó khăn, sẽ vất vả. Tôi không phải là Bồ Tát nhưng mà tôi bắt chước như vậy. Nên tôi nói những điều này ra thì quý Phật tử có thể cũng bắt chước. Bắt chước này, mình lý Không thì mình chứng không nổi, phải không? Lần trước mình nói lý Không thì mình chứng không nổi, bây giờ nói qua cái lý Có, thì dĩ nhiên mình cũng không đủ sức để thấy hết, nhưng mà mình hiểu một vài nguyên tắc để mình làm phước. Làm phước như thế này: Là khi bố thí mình cũng bắt đầu có cái tính toán như Bồ Tát, không phải để cầu phước mà để cho người kia

[25:56]mắc nợ mình, rồi mình nói Phật Pháp họ nghe. Khi họ nghe rồi đó, mới dụ họ lấy tiền bạc mà đem giúp người này giúp người kia để cho họ có phước. Là như vậy á. Ngài Phổ Hiền có cái gì đặc biệt, ai nhớ?

[26:17]Có cái mười hạnh Phổ Hiền đó, Phổ Hiền tác hạnh mà chúng ta hay tụng á. Đó là đệ tử chúng đẳng tùy thuận tu tập Phổ Hiền Bồ Tát thập chủng đại nguyện. Nghĩa là đệ tử chúng con nghĩa là vâng vâng lời để tu theo mười cái hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền. Hạnh thứ nhất là gì? Nhất giả Lễ kính chư Phật. Hồi xưa có một lần tôi viết cuốn sách để tôi giảng về mười cái hạnh này, rồi cuốn sách mất đâu luôn không biết nữa, thất lạc luôn. Cũng uổng, chớ cuốn đó viết thì cũng viết hết tâm huyết, lúc đó đang ở trong thất á, đang nhập thất mà viết cuốn đó, nên cũng hết tâm huyết, giờ không biết nó trôi đâu mất tiêu. Thứ nhất là:

[27:05]Nhất giả Lễ kính chư Phật. Mình thấy ngài là một vị đại Bồ Tát, ngài dạy cái đó là dạy cho ai?

[27:15]Dạy mà thứ nhất là phải tôn kính chư Phật, là ngài dạy cái hạnh đó dạy cho ai? Dạy cho ai vậy?

[27:25]Dạy ai, nói lớn coi. Chúng sinh phải không? Ngài dạy cho Bồ Tát.

[27:32]Chúng ta đừng tưởng một vị Bồ Tát đã chứng qua luôn quả vị A-la-hán rồi, thần thông du hý tự tại mười phương cõi, rồi không lễ Phật nữa. Đừng hiểu lầm chuyện đó. Mà mười hạnh ngài Phổ Hiền dạy là dạy cho hàng Bồ Tát, hàng đại Bồ Tát.

[27:54]Nghĩa là một vị Bồ Tát mà muốn sau này thành tựu viên mãn được Phật quả, có thể thuận tiện giáo hoá vô lượng chúng sinh thì cái hạnh đầu tiên phải tu là Nhất giả Lễ kính chư Phật. Khủng khiếp chưa? Mình cứ tưởng là mình là chúng sinh nên mình mới lạy Phật, còn vị đại Bồ Tát khỏi lạy đi. Đó là cái trí của mình quá cạn. Chứ còn mà cái người mà trí tuệ siêu việt thì nghĩa là càng hiểu cái vấn đề chừng nào, càng có trí tuệ chừng nào thì càng phải biết cúi đầu xuống lạy Phật chừng đó. Nhưng mà hiện nay đã có nhiều người hiểu Phật Pháp rất là cạn cợt, đi tuyên giảng là không cần lạy Phật. Cho nên cái người mà giảng như vậy đó

[28:42]giết chết cái lợi ích của chúng sinh, mà cũng sai luôn cái hạnh của Bồ Tát. Một vị Bồ Tát tại sao phải lễ kính chư Phật?

[28:55]Mình đắc đạo rồi, nghĩa là vân du ba cõi sáu đường tự tại rồi, tại sao vẫn phải lễ Phật?

[29:07]Vì nó có cái nhân quả: kính Phật mới thành Phật.

[29:13]Một vị Bồ tát cái tâm linh mình đã chứng rất cao nhưng cái uy đức chưa đủ trùm mười phương cõi, cái uy đức chưa đủ trùm hết từ tam giới đến cả chư thiên vô lượng vô lượng chư thiên trong những cảnh giới rất cao, có uy đức không đủ trùm khắp. Mà cái oai đức chưa đủ trùm khắp nghĩa là vô lượng cõi của cõi trời thì người đó chưa chứng được cái quả Phật tuyệt đối. Ví dụ như Đức Phật Thích Ca của chúng ta vậy, Ngài sinh ra ở Ấn Độ, đi tu thành Phật, giáo hóa được một số chúng sinh trong cái thời gian đó, tính ra không bao nhiêu người. Hồi đó dân số còn ít, không bao nhiêu người ở cái cõi người này theo Phật.

[30:00]Nhưng mà vô lượng cõi trời, vô lượng cõi Phật khác đều phải hướng về Đức Phật để đảnh lễ, vì cái oai đức của Ngài phủ trùm vô lượng cõi. Cái con mắt của loài người nhìn không thấy hết được cái uy đức của Phật. Nhưng mà chỉ có những cái vị chư thiên tử ở những cõi tầng trời rất cao cao nữa cao nữa đều thấy cái uy đức của Phật phủ trùm cả mình, phải cúi đầu trước Phật. Nên cái uy đức đó do đâu mà có? Là do trong thời gian mà làm hạnh Bồ tát đi hết cõi Phật này đến cõi Phật kia để cúi đầu đảnh lễ Đức Phật, hộ trì Phật, nghĩa là trợ duyên cho chư Phật giáo hóa chúng sinh, chứ không phải là tự mình giáo hóa.

[30:52]Nên các vị Bồ tát khi mà trí tuệ chứng rồi, nhân quả thấy rồi, các ngài làm cái hạnh dễ sợ lắm, mình không lường nổi. Nên ngài Phổ Hiền mới nói, tức là từ nơi một vị Phật cho đến vô lượng các vị Phật trong pháp giới này, ta đều đến cúi đầu cung kính đảnh lễ, mà đảnh lễ từ kiếp này cho đến vô lượng kiếp khác, không bao giờ biết mỏi mệt. Ngài nói đó không phải ngài nói cho chúng sinh, mà nói cho hàng các Bồ tát hết. "Nhị giả xưng tán Như Lai", lần thứ hai là ca ngợi Như Lai. Khen Phật để làm gì?

[31:35]Trong cái câu kinh Phổ Hiền thì tôi có dịch như thế này: "Như biển cả âm vang dào dạt sóng, rất nhiệm mầu con khởi những ngôn từ. Từ nghìn xưa và mãi đến nghìn sau, ngợi ca Phật biển muôn trùng công đức." Là một vị Bồ tát làm cái hạnh như thế, luôn luôn ca ngợi Phật. Mà ca ngợi Phật cho ai nghe? Cho ai nghe? Cho chúng sinh nghe. Để chi vậy? Vì nó có hai cái nhân quả: Trước mắt là vị Phật đó vĩ đại như vậy nhưng mà chúng sinh không hiểu nổi, cho nên mình đến mình ca ngợi cái vị Phật đó cho chúng sinh bên đây biết. Nhờ vậy chúng sinh đó họ mới về đến với vị Phật đó để quy hướng, để học hỏi và được giáo hóa.

[32:31]Đó là cái lợi trước mắt. Cái lợi thứ hai là chính cái vị Bồ tát đó nhờ cái công đức đó cho đến viên mãn nó mới góp phần thành tựu Phật quả. Vì sao? Vì nơi Phật quả thì vị Phật mới là luôn luôn được cái tiếng thơm, tiếng khen nó lan khắp trong ba cõi sáu đường, trong vô lượng vô lượng cõi. Đó là cái đặc tính của một vị Phật phải có. Đó là cái đặc tính như vậy. Cái vị Phật đó phải đủ cái phước để được cái tiếng thơm, để được cái tiếng khen phủ trùm vô số các cõi trời, vô số các cõi Phật trong mười phương hết. Ở cõi người này có thể con mắt chúng ta không thấy hết cái uy đức của Phật, không đủ để ngợi khen Phật,

[33:24]thậm chí có người còn công kích Phật trong lúc Phật tại thế. Nhưng với con mắt của chư thiên, con mắt của các vị Bồ tát trong mười phương cõi thì nghĩa là Phật là một đấng mà mình có thể ca ngợi muôn ngàn muôn triệu kiếp vẫn không hết được cái hay của Phật. Nên một vị muốn thành tựu Phật quả phải được cái phước đó. Nên gieo cái nhân mà xưng tán Như Lai là để cho vị Bồ tát thực hành mà sau này thành tựu được cái quả vị Phật. "Tam giả quảng tu cúng dường", cúng dường tức là cúng Phật chứ không phải bố thí chúng sinh đâu. Nghĩa là một vị Bồ tát ngoài cái kính Phật, khen ngợi Phật rồi còn phải cúng dường Đức Phật.

[34:16]Cúng dường là để biểu lộ lòng tôn kính. Rồi trong cái vô số cúng dường Phật đó, có một điều ngài Phổ Hiền dặn là không có cái gì tôn kính Phật bằng sự thương yêu đối với chúng sinh, nghĩa là giúp đỡ chúng sinh. Đó, là ở đây cúng dường Phật nhưng mà phải nhớ là thương yêu, giúp đỡ chúng sinh. Những cái hạnh như vậy làm cho mình thành tựu được Phật quả. Tứ giả gì? Sám hối nghiệp chướng. Ngũ giả: Tùy hỷ công đức. Lục giả: Thỉnh chuyển pháp luân. Thất giả: Thỉnh Phật trụ thế. Bát giả: Thường tùy Phật học. Cửu giả: Hằng thuận chúng sinh. Thập giả: Phổ giai hồi hướng. Thì hôm nay chúng ta không có thì giờ,

[35:05]chúng ta cũng không có cố ý để đi sâu vào mười hạnh này. Cho nên chỉ gợi ý để quý Phật tử tự nghiền ngẫm thêm. Sau này nếu có duyên thì chúng ta sẽ trao đổi với nhau về mười hạnh của Bồ tát Phổ Hiền. Nhưng hôm nay nói sơ sơ một vài cái hạnh ban đầu để quý Phật tử thấy là nơi một vị mà chứng được cái sai biệt trí thì các ngài hoàn toàn dựa vào nhân quả để tu hành tiếp, chứ không còn dựa vào lý Không nữa. Cái lý Không là để cho mình đạt được cái tự tại, mà các ngài đã tự tại rồi thì không có sống với cái lý Không. Ví dụ mình nói không ta, không người, không có chúng sinh, không thế giới, nó sẽ có một cái hệ quả xảy ra là gì?

[35:58]Mất từ bi.

[36:02]Cái người mà tu tập cái lý Không có một cái nhược điểm là thờ ơ với chúng sinh.

[36:11]Tại lúc đó mình cứ quán tất cả đều là hư vô. Tới bây giờ ngồi trước mặt mọi người, thấy tất cả chỉ là hư ảo. Thấy trời trăng mây nước, cứ lo quán tất cả chỉ là hư ảo. Quán như vậy nó có cái lợi là tâm mình nó bớt bận tâm, bớt chấp trước, bớt suy nghĩ, nhưng cái hậu quả của nó là mình không còn thương yêu ai nữa hết. Đó là cái nhược điểm. Thì mình chỉ tu cái lý Không ban đầu trong một cái số cái chất nào đó thôi. Chứ còn nếu dựa vào lý Không để thực hành cho triệt để thì coi chừng người này sẽ trở nên khô khan, mất từ bi. Cho nên lý Không không nên có lạm dụng, mà lý Không chúng ta phải hiểu nó là cái trí tuệ của người

[37:09]ở trong định, ở ngang cái định nào thì chứng vào cái lý đó, chứ không phải là để mình chưa được định mà cứ dùng cái lý Không để nói, để năng, để chứng tỏ là ta đây tự tại thì nó vừa tăng cái kiêu mạn mà vừa mất cái từ bi. Đó, đó là cái mình phải cẩn thận.

[37:32]Rồi một cái điều nữa là trong cái sai biệt trí này đó chúng ta phải hiểu là cái sai biệt trí gọi là cái trí tuệ của thần thông á, của thần thông, gọi là đạo nhãn á. Chúng ta phân biệt nè, cái trí tuệ thì chia ra làm hai loại: một là căn bản trí, hai là sai biệt trí. Trong sai biệt trí á thì lại cũng chia làm hai nữa: là một cái đó là thấy được cái lý nhân quả sâu sắc để biến thành cái hạnh. Và một cái gọi là cái đạo nhãn á tức là cái con mắt của thần thông á, biết quá khứ, vị lai á, cũng gọi là sai biệt trí. Có nhiều vị á là tu ở ngoại đạo không có cái hạnh cao, à không chứng được lý Không thủy, nhưng mà nhờ một cái kỹ

[38:29]thuật nào đó tâm được vào định rồi cũng có thần thông. cũng biết được chuyện này chuyện kia. Thì cái này mình không có tin, đây là chỗ phải cẩn thận. Đừng có tưởng rằng ai có thần thông cũng đều là đúng với đạo Phật, cũng đừng tưởng rằng ai nhiếp tâm được vào định là đúng với đạo Phật, không phải. Tại sao mà nói nhiếp được tâm mà vẫn chưa đúng với đạo Phật? Thì chúng ta sẽ hẹn vào một bài giảng khác cái bài đó phân tích giữa Đạo và Thuật. Cái nào được gọi là đạo, cái nào được gọi là thuật? Thì một bài giảng khác chúng ta sẽ phân tích, hôm nay chúng ta chỉ cảnh giác vậy thôi. Đừng tưởng là người nhiếp tâm được vào định

[39:18]hoặc người có thần thông đều đúng với Phật pháp. Tại sao thì sau này, đó. Ở đây chúng ta tiếp tục nói tới cái sai biệt trí. Hồi nãy mình đã nói tới cái thấy được nhân quả để tạo thành vô lượng các công hạnh. Bây giờ mình nói tới cái đạo nhãn của thần thông của một vị Bồ Tát. Khi một vị Bồ Tát chứng định sâu rồi thì các ngài có cái thần thông có thể biết được những cái chuyện rất là khó biết, biết được quá khứ, vị lai của người này người kia, biết được tâm của chúng sinh, biết được diễn biến của nhân quả à rất là rất là vi diệu. Mà các ngài biết thì các ngài giấu kín lắm chứ không giống như là mình.

[40:06]Mình hay làm thầy bói biết hay nói, chứ các vị Bồ Tát nói biết nhưng mà im lặng. Như ví dụ ví dụ như thế này, ở mức độ càn càn á thì một người đó họ đến một vị Bồ Tát, một vị thiền sư đi. Các ngài nhìn cái vị đó là biết à mấy ngày qua đã làm chuyện gì, mấy năm trước đã làm chuyện gì, ở kiếp trước đã có làm một số công hạnh gì, biết được cái nhân phải biết luôn cái quả, mấy ngày tới chuyện gì sắp xảy ra, mấy tháng tới chuyện gì sắp xảy ra, mấy năm tới chừng nào trúng số, à chừng nào đi nước ngoài, rồi chừng nào mà tự nhiên phát tướng đẹp đẽ ra, ví dụ chừng nào có thể thi được hoa hậu mà được chấm đậu ví dụ vậy,

[40:48]biết được, rồi biết luôn kiếp sau nữa kiếp sau nữa chuyện gì sẽ xảy ra, chuyện gì sẽ xảy ra. Tức là các vị đó nhìn một cái là biết hết trơn à. Thì đó là một vị gọi là một vị thiền sư đắc đạo có thể biết được như vậy, nhìn mình như vậy là biết hết trơn. Nhưng mà còn trường hợp những vị Bồ Tát, nhiều khi các ngài không cần gặp mình á, không cần gặp mình. Chúng sinh thì mênh mông mười phương cõi các ngài ở một chỗ. Khi mình tới mình gặp các ngài mình nói: "Thưa thầy, con có một cái người bạn bị bệnh mà lâu ngày không lành mà con không biết là làm sao để giúp đỡ?" Chưa gặp mặt thì cái vị Bồ Tát này cũng biết liền từ xa cái người

[41:31]kia kiếp trước đã gieo cái nhân gì mà bây giờ bị cái nghiệp bệnh như vậy, chừng nào mới có thể bớt được nghiệp, chừng nào mới có thể hết. Nghĩa là khỏi cần gặp mặt luôn. Nhưng mà tự tại như vậy, cái thần thông nó sâu sắc như vậy, đó. Nghĩa là ngoài cái nghiệp của chúng sinh, các ngài còn thấy cái nghiệp của đất nước, của thế giới. Nhưng cái thế giới này sẽ đi về đâu? Bởi chúng sinh đã tạo những cái nhân quả như vậy, tương lai thế giới này sẽ đi về đâu? Hoặc là Phật pháp cũng vậy, thấy những cái tăng ni tu như thế này, Phật tử tu như thế này thì Phật pháp sẽ như thế nào? Đó. Đến giờ các ngài biết à thấy tăng ni

[42:15]à tu như vậy, Phật tử tu vậy, nói Phật pháp chưa phát được. Rồi các ngài làm gì? Các ngài làm gì để mà hoằng dương Phật pháp?

[42:29]Ví dụ khi thấy Phật pháp chưa được hưng thịnh à các ngài sẽ làm điều gì để mà làm cho Phật pháp được hưng thịnh? Ai nói đúng khen hay.

[42:43]Thật ra các ngài không có thị hiện xuống để mà độ chúng sinh đâu, hiếm khi lắm. Ví dụ như một vị Bồ Tát nhìn xuống thấy Phật pháp như vậy suy tàn như vậy, nhưng mà các ngài không có trực tiếp đâu. Các ngài mới đi tìm trong chúng sinh những người có căn lành trợ duyên phát huy cho họ. Trợ duyên phát huy cho họ. Ví dụ như khi nhìn xuống sau khi mà quan sát Phật pháp nghĩa là đang cần phải hưng thịnh, dòm hết từ bắc chí nam, từ Sài Gòn nhìn qua Thủ Đức dòm thấy tịnh xá Ngọc Thành. Dòm thấy tịnh xá Ngọc Thành thấy có một cái sư cô trụ trì. Cái cô này thì hơi dữ nhưng mà thấy cũng nhiệt tình. Thôi thì trợ duyên cho cổ làm Phật pháp.

[43:27]Cái sự tác động âm thầm, tác động âm thầm để cho nghĩa là cái cô trụ trì mới gặp người này, kết hợp với người kia từ từ xây dựng Phật pháp. Rồi lâu lâu khiến gặp vài người cự nự cho bớt dữ, chứ dữ quá ai mà chịu đời cho nổi. Cho nên cự lại mấy lần rồi cái tự nhiên cũng bớt dữ rồi làm được việc Phật pháp. Đó. Rồi cứ dòm tới dòm lui trong cái Phật tử, thấy có người đó là có lòng. Cái người này có thiện căn nè, thế là trợ duyên cho người này bắt đầu để người này phát huy. Thế là đem băng đầu này, đem kinh đầu kia, giúp đỡ đầu nọ. Nghĩa là từ người đó Phật pháp lan ra rồi qua tới người khác. Rồi làm nữa, tại sao làm chi mất công vậy?

[44:13]Một mình ổng thị hiện xuống thôi ổng nói oang oang, nói đâu trúng đó hết rồi Phật pháp phát huy cho lẹ phải không? Tại sao phải trợ duyên người này trợ duyên người kia để làm Phật pháp làm chi vậy? Ai biết?

[44:30]Bởi vì lòng thương yêu chúng sinh. Các ngài làm thì các ngài hưởng phước hết trơn rồi, còn đâu tới mình nữa, phải không? Nên các vị Bồ Tát từ bi mới trợ duyên cho mình làm thì vừa được cái Phật pháp mà mình cũng có công đức nữa. Nên Bồ Tát thương chúng sinh là không có cho chúng sinh tiền, mà tìm cách cho chúng sinh có công đức. Cái đó đó là mình mới hưởng hoài không hết. Nên đây mình thấy mấy cái như những bậc cha mẹ thương con cái thích để lại gia tài. Để lại gia tài đó là cái mà mình ngu si, mình không có bằng Bồ Tát là vậy đó. Nên Bồ Tát thương mình tìm cách để cho mình một cái công đức, đó.

[45:12]Ngay cả nhiều khi cái người mà như là hai cái chân không còn nữa mà cũng trợ duyên để làm được việc đạo, để cho người đó có công đức. Đó là cái lòng thương yêu của Bồ Tát á. Chứ còn mình thấy trời ơi tội nghiệp quá cái mình phải cho tiền, thôi ăn ở không đi, ai cho tiền ăn đi, tội nghiệp. Mình chỉ vậy, từ từ người ta hết phước. Cho nên các Bồ Tát đày đọa chúng sinh dữ lắm. Phải nói Bồ Tát đày đọa chúng sinh, bắt chúng sinh phải cực khổ, phải tạo phước, chứ không cho chúng sinh nghỉ ngơi. Cho nên có một lúc nào đó mình cảm thấy: "Tôi mệt quá, thôi làm việc đạo đủ rồi, giờ tôi lo nghỉ." thì điều đó nó ngược với ngược với tâm nguyện của Bồ Tát.

[45:56]Chắc người cười ngất mình.

[45:59]Các ngài thấy mình vậy các ngài cười ngất. Rồi vì sao? Khi mình nghĩ tới cái đắc đạo cho mình á thì mình không bao giờ đắc đạo nữa hết. Cứ đi làm việc Phật pháp và gục chết trên đường đi. Mà kiếp sau rất dễ đắc đạo. Vì cái tâm hi sinh, tâm vị tha không nghĩ cho mình nữa, cái tâm đó mới là cái nhân để đắc đạo. Còn mà ngồi tu cho siêng mà nghĩ cho mình thì không có đắc đạo. Đây là cái điểm mà mình thì không biết. Thì cứ thấy người này nhập thất, người kia nhập thất cứ khoái, cũng muốn nhập thất cho mau đắc đạo. Đâu có ngờ rằng cái điều đó là điều đi ngược lại với tâm của chư Phật, tâm của chư Bồ Tát.

[46:39]Mà chính những người hi sinh tất cả, lo cho Phật pháp, cho chúng sinh thì người đó mới là người đắc đạo lúc nào không hay, không ngờ được. Là như vậy. Cho nên ở đây là chúng ta thấy các ngài đó có thần thông biết hết nhưng mà không có ra mặt mà lén ở sau lưng trợ duyên cho người này, trợ duyên cho người kia để làm việc Phật pháp. Nên ví dụ như quý Phật tử làm được cái điều gì cho Phật pháp, cho chúng sinh thì mình phải hiểu là sao?

[47:17]Hiểu rằng cái đó là do do ai?

[47:22]Do sự trợ duyên của Bồ Tát, phải không? Chứ đừng có nghĩ là do tui. Do tui chết liền á. Đây là cái điểm mà nhiều người bị vấp ngã. Ví dụ thế này, ví dụ như là có một vị Bồ Tát ổng ở trên ổng đang dòm xuống.

[47:42]Khi ổng dòm ổng thấy có một cô Phật tử ngồi đang nghe pháp ở Ngọc Thành. Nghĩa là tay thì chống cằm, mắt lim dim. Nhưng mà: "Con người này được nè. Con người này có thể làm Phật pháp được." Cái trợ duyên tới lui cái người này tự nhiên hăng hái lên. Bắt đầu đem băng cho người này nghe, rồi qua bên đầu hàng xóm giảng đạo, bị người ta chửi chạy qua cuối xóm giảng đạo, bị người ta chửi qua chỗ khác đưa kinh cho đọc, bị người ta cự nự, đi qua chỗ khác, nghĩa là cứ làm riết rồi người hàng xóm chịu thua thôi cũng phải nghe luôn. Tức là con người được như vậy là Phật trợ duyên. Rồi vài ba năm sau cái nghĩa là làm được lợi rất nhiều,

[48:18]đem cho nhiều người về với Phật pháp, dắt không biết bao nhiêu người lên chùa quy y, ví dụ vậy. Tới một hôm ba năm sau nằm thấy gác gác chân ơ gác tay lên trán mới ngồi nghĩ: "Mình hay thiệt. Mấy năm qua mình làm lợi cho Phật pháp, mình hay thiệt." Thì ngay lúc đó Bồ Tát rút về liền, không trợ duyên nữa.

[48:40]Thì bắt đầu làm đâu hư đó.

[48:45]Đây là chỗ mình phải để ý. Ví dụ ví dụ như là như tôi đi. Như tôi bây giờ tôi đi giảng thì trong một trăm người nghe người đắc thì hết tám chục người chê nhưng cũng được hai chục người khen. Thì thường thường như vậy thì tôi thấy hai chục người khen cái tôi mừng, tôi mừng cái tôi đi khoe, tôi nói chớ thầy đi giảng nhiều người khen lắm. Thật ra có hai chục người còn tám chục người người ta mắng lên chửi xuống, người ta chê hoài. Nhưng mà được hai chục người khen: Thầy thầy giảng hay, thầy có tài. Thì Bồ Tát sao, rút lại liền. Qua bữa sau đăng đàn thuyết pháp lên đó tự nhiên run lập cập, mở miệng nói không ra.

[49:29]Đúng là như vậy. Nên đây là chỗ chúng ta phải hiểu cái việc làm bí mật của Bồ Tát và cái việc làm của mình để mình có cái tác ý cho thích hợp. Không bao giờ được tự cao vì những việc làm gì mà gọi là tốt đẹp nơi mình. Mình phải hiểu mình chỉ là một công cụ của chư Phật thôi. Mình làm việc gì là thừa sự với chư Phật, là nhờ nương nơi thần lực của chư Phật chứ không phải là tự sức mình. Đây là điều mà tôi không có nói ngoa đâu, tôi nói thật á. Là vì sao tôi nói như vậy? Bởi vì tôi nhìn vào bản thân tôi mà tôi biết. Đây là tôi thú thật với quý Phật tử, tôi nói thật. Mà quý Phật tử đừng có chê, đừng cười mà đừng có mách cho

[50:17]người khác biết, tại người ta biết người ta cười tôi. Ví dụ như là năm phút nữa là tới giờ giảng nha, thì tôi cầm cái sổ dàn bài lên giảng mà tôi vừa đi từ trong phòng ra đây là vừa đi vừa run. Vì tôi không biết tôi sẽ nói điều gì, hoàn toàn không biết. Nhưng mà lên tới đây rồi với tâm thành niệm Phật xong rồi thì mở miệng nói thì thì Phật đang nói chứ không phải tôi nói. Nên là mình phải hiểu rằng mọi việc mình làm được đều là sự trợ duyên của chư Phật, không bao giờ được nghĩ rằng cái đó là cái tài của mình hết. Thì Phật ổng còn xài mình tiếp. Ổng mới nói: "Ờ, thằng này xài được, nhờ nó tiếp, nhờ nó để làm việc Phật pháp".

[51:04]Chứ còn mà nếu mình có khởi một niệm tự cao: Cho này là do tôi hay, tôi hay, thì ổng không xài nữa. Là lúc đó mình đi thất tha thất thểu ngoài đường mà không ai nhờ tới hết, làm việc gì cũng không được. Đây là chỗ mà cái đạo nhãn cái thần lực của Bồ Tát đó. Các ngài giấu mặt hết trơn không có thấy mình không thấy, mà sự thật đã chi phối tất cả ở dưới này. Mà người nào tâm còn khiêm hạ thì các ngài còn nhờ để làm việc Phật. Còn người nào mà tự cao, bỏ người đó qua kiếm người khác. Cho nên ở đây quý Phật tử mà muốn làm việc Phật thì phải khiêm hạ là vậy đó. Lúc nào cũng thấy mình là cát bụi, cỏ rác.

[51:47]Lúc nào mà mình cũng thấy mình là một công cụ của Phật thôi, chứ mình không phải hay ho gì. Nghĩ như vậy thì còn làm được nhiều công đức lành lắm. Và như vậy chúng ta nói sơ qua về cái trí tuệ của những vị Thánh. Bây giờ bắt đầu mình ứng dụng cái việc tu hành của mình trong cái quán chiếu Bát-nhã. Đây là cái công phu. Hôm trước là mình chỉ khảo sát trí tuệ của Bồ Tát, bây giờ tới khi mình... Bây giờ mình chưa có chứng được cái trí tuệ tánh Không, cho nên mình phải dùng cái lý luận để mình áp dụng cái lý Không đó vào trong tâm mình làm cho mình dễ dễ nhiếp tâm vào Định đó. Ví dụ như là mình thấy mình cứ bận tâm

[52:41]về nhà cửa đi, cái mình dùng cái lý Bát-nhã mình nói: Ôi, nhà cửa này vô thường. Đó. Bữa nay ở vậy mai quy hoạch cái đập mất tiêu. Nếu mà không nhờ được cái ông thợ dời nhà ở miền Tây lên thì nhà này phải đập mất. Cho nên thôi, cũng không bận tâm nữa, có thì ở, không có thì thôi. Mình nghĩ như vậy cái mình bớt bận tâm, bớt lo lắng cái việc nhà cửa. Đó là nhờ cái lý Bát-nhã đó mình làm cho mình bớt, lắng tâm lại. Rồi ví dụ như mình cứ bận tâm về cái tương lai của con cái, cái mình: Ôi, cuộc đời vô thường, mỗi cái có nhân quả. Nhân nó như thế nào thì quả nó sẽ như vậy. Mà bây giờ làm ông, làm tướng gì rồi cũng chết.

[53:30]Thôi, tới đâu tới, bây giờ cứ ráng sống cho đúng với đạo đức bây giờ, không bận tâm nữa. Nghĩa là nhờ mình có những cái lý luận như vậy nên tâm mình nó thanh tịnh bớt lại. Thì mình phải hiểu đó là mình còn lý luận để bớt thôi chứ không phải mình đã chứng. Nhiều người mà lý luận được cái nói mình chứng luôn rồi. Như nghe đi giảng đâu không biết, cái nghe nói ta cũng không, Phật cũng không, chúng sinh cũng không, trước không sau không, quá khứ hiện tại vị lai đều không. À rồi cái đi đâu cũng nghinh nghinh, ai nói gì: Không. Coi chừng người ta không cho vài cái sưng mặt sưng mày hết. Nên cái người mà hiểu cái lý Bát-nhã dễ ngông dễ nghênh là vậy đó.

[54:16]Không biết được là mình chỉ đang mượn phương tiện để đang bớt bận tâm, bớt động tâm, chứ không phải mình đã chứng. Mà hiểu được cái lý Không rồi đi đâu cũng nói giống như mình chứng rồi đó, cho nên hết phước. Nên đa số người mà tu Bát-nhã hoặc là hay giảng Bát-nhã mà không hiểu được chỗ này để cho cái tác phong của mình giống như mình đã chứng rồi cái lý Không vậy thì thường là bị rơi vào ô nhiễm.

[54:46]Nghĩa là mình tìm hiểu kỹ vị đó thế nào cũng có chuyện gì sai lầm trong cuộc sống. Thế nào cũng bị, là là đa số như vậy. Như tôi vừa nghe một cái chuyện rất là đau lòng, rất là thương tâm. Dĩ nhiên là tôi không thể kể cho quý Phật tử nghe được ở đây, nhưng mà cũng liên quan tới một cái chuyện như vậy. Rồi có một cái vị đó rơi vào một cái lầm lỗi khủng khiếp, lầm lỗi khủng khiếp mà tôi không thể kể được. Tôi không thể kể tên cũng như không thể kể cái lỗi gì mà tôi sợ rằng nay mai quý Phật tử sẽ nghe, chuyện có thể được đăng báo, lớn chứ không phải nhỏ. Thì tôi không biết là nguyên nhân nào mà đã đưa

[55:30]đến như vậy, tại vì nó phải có nguyên nhân. Chứ không phải là mình chê trách người ta, thấy người đó lầm lỗi như vậy thê thảm, nặng nề, động trời như vậy mình đứng đó mình khinh bỉ, mình chửi mắng, mình trách người ta, không phải. Còn cái nguyên nhân gì phía trước á. Nhiều khi nguyên nhân nó rất nhẹ mà nó tạo thành cái hậu quả rất nặng. Thì tôi mới hỏi những người đệ tử tôi là cái vị đó như thế nào. Thì những người đệ tử tôi mới kể là vị đó gặp ai cũng giảng về Bát-nhã. Tôi buồn bã, tôi gật đầu, tôi nói đúng rồi, cái nguyên nhân nằm tại chỗ này. Nguyên nhân nằm tại cái chỗ mà giảng về Bát-nhã mà giảng về cái kiểu mình đã chứng rồi, cho nên đọa.

[56:12]Cái lý Bát-nhã nguy hiểm lắm. Nên ví dụ mình tu mình quán tất cả đều là hư vô hết mà mình phải hiểu là mình dùng phương tiện để mình lắng tâm chứ mình chưa hề chứng được cái hư vô thật sự. Thì như vậy mình còn có thể tu tiếp được. Đây là chỗ quý Phật tử cẩn thận. Khi mà mình bớt bận tâm như vậy thì mình thấy làm sao? Mình phân tích cái tâm mình, mình sẽ thấy nó có hai cái lớp. Nói nhiều lắm, nhưng mà mình có hai cái lớp cho dễ nhìn. Một là những cái suy nghĩ, mà sâu hơn bên trong là những cái tình chấp, tình chấp. Cái tình chấp đó ví dụ thế này. Bây giờ mình cứ thường hay nghĩ đến cái người hàng xóm mà có gây gổ với mình.

[57:01]Mà tại sao mình cứ nghĩ về cái người đó hoài vậy? Ở sát hàng rào với nhau là cứ hay gây gổ chuyện xích mích này xích mích kia, cho nên nhiều khi mình đi làm cũng nghĩ tới cái người đó, về nhà liếc liếc dòm qua bên đó thấy bực bực, cứ bị bận tâm hoài. Là vì sao? Vì sao cứ nghĩ về người đó hoài? Là vì bên trong nó có một cái tình chấp là ghét, phải không? Ghét là một loại tình chấp, thương cũng là một loại tình chấp, thù hận cũng là một loại tình chấp, giận cũng là một loại tình chấp. Chữ giận hờn đó. Ví dụ như mấy Phật tử trẻ trẻ như tụi con ha mà có một người mình giận hờn, khi mình giận hờn thì mình thấy

[57:46]lại chính là mình đang nghĩ về người đó rất là nhiều, phải không? Không giận hờn thì ít nghĩ, nhưng mà giận hờn tức là mình đang nghĩ về người đó rất nhiều. Thì cái giận hờn nó cũng là một cái tình chấp. Thù hận, thương yêu cũng là loại tình chấp. Và cái tình chấp bên trong á, nó mới thúc đẩy ra cái tư tưởng bên ngoài, cái vọng tưởng bên ngoài. Cho nên cái vọng tưởng bên ngoài chỉ là một cái bề mặt thôi, chứ còn cái sâu bên trong mới thật sự là cái tình chấp. Nên khi mình quán Bát-nhã là mình phá cái tình chấp bên trong khiến cho cái vọng tưởng bên ngoài nó không khởi được nữa. Nghĩa là cái gốc bị phá thì cái ngọn nó bị héo đi.

[58:31]Như hồi nãy đó, ví dụ như tại sao mà mình cứ nghĩ đến cái chuyện là

[58:38]phải ra mua tờ vé số, đến nỗi mà đêm nằm mơ thấy có ông thần ổng lại ổng chỉ con số để đánh đề luôn á? Tại sao vậy? Tại vì tại vì cái tình ở trỏng. Cái tình mê, mê tiền, chứ có gì đâu. Nó có cái chữ mê ở trỏng là tình chấp. Chính vì cái mê tiền này nên mình mới mơ ước được trúng số. Thì chính cái mơ ước trúng số này nó tạo thành cái vọng tưởng là cứ nghĩ ngợi tới cái bà mà ở đầu ngõ bả biên số đề, như là lén công an bả biên số đề, cứ nghĩ tới bả, nhớ bả nhiều. Nhớ bả nhiều hơn là nhớ nhớ kinh, ví dụ vậy. Là do cái tình chấp mê tiền, có gì đâu. Thì bây giờ mình sau khi mình xem xét vậy, mình mới phá cái tình chấp mê tiền đó đi.

[59:28]Mình mới ngồi mình lý luận, đó, lý luận mình nói: "Tiền bạc là cái gì? Cái gì vô nghĩa, bạc bẽo. Khi thì ở tay người này, khi chảy qua tay người kia. Có tiền thì mình có thể mua được thứ này, mua thứ kia, nhưng mà những cái mình mua được đó rồi nó cũng tạm bợ, vô nghĩa. Nếu mà mình không biết dùng đồng tiền cho nó hợp lý là cho nó đi lên cái giá trị cao cả thì đồng tiền giúp cho mình tạo thêm cái tội lỗi thôi. Rồi mình bày đặt đi bia ôm, rồi đi hớt tóc thanh nữ gì gì đó đại khái, nên cái đồng tiền mà nó không khéo thì chỉ là làm thêm sa đọa. Do đó thôi mình không mê nữa." Mà khi mình lý luận một lát cái tự nhiên mình cái

[1:00:15]vọng tưởng của mình nó không nghĩ tới cái bà biên số đề lén ở đầu xóm nữa. Đó, không còn nằm mơ thấy cái ông già chống gậy lại nói: "Chiều nay con đánh số 09 Tiền Giang nghe con." Không còn nằm mơ thấy điều đó nữa. Ví dụ vậy. Là do cái tình chấp nó hết thì cái vọng tưởng nó hết theo. Đó, nên mình dùng cái lý Bát-nhã là phá cái tình chấp đó. Ừ.

[1:00:42]Thực ra cái tình chấp á nó thường là đi theo cái tâm vị kỷ. Đi theo cái tâm vị kỷ, cho nên mình mà quán lần lần á mà quán vô tới cái ngã của mình á là mình phá được nhiều cái tình chấp.

[1:01:00]Mình giận người này, mình ghét người kia, coi cuối cùng là tại vì mình thấy chính mình là quan trọng. Cái người anh em của mình mà mình giận là vì họ có tiền mà không giúp đỡ mình. Đó. Rồi hoặc cái ông đầu ngõ mà mình thấy cảm tình với ổng là bởi vì mỗi lần có cái gì ăn ngon ổng kêu mình. Tức là đều dựa vào chính mình để mình khởi cái tình thương ghét với mọi người. Có cái tình thương ghét rồi thì vọng tưởng nó khởi. Nên do đó là cái lớp bên ngoài là vọng tưởng, ở bên trong là cái tình chấp thương ghét, bên trong nữa chính là cái tâm vị kỷ của mình, thấy mình là quan trọng. Do đó là mình lý luận cái lý Không này mình lý luận vô tới luôn

[1:01:48]cái tâm ích kỷ luôn thì mình phá được nhiều cái. Mỗi khi mình suy nghĩ điều gì, mình coi coi cái tâm này là có phải do vị kỷ nó xúi, xúi giục mình suy nghĩ điều này hay không. Đó. Ví dụ bây giờ tự nhiên mình đang ngồi ở nhà cái chợt mình khởi lên cái tâm nói:

[1:02:11]"Thôi chạy qua nhà ông Thiện Huệ chơi." Tại sao khi không mà khởi cái niệm kì vậy? Mình phân tích tiếp: "Ở đâu có vậy?" Mình ngồi mình tìm ra cái tình chấp bên trong đó, cái tình chấp bên trong: "À, mình ngồi không buồn, muốn kiếm người nói chuyện cho đỡ buồn." Đó, là chúng ta bị một cái bệnh là bệnh không thể sống một đời sống cô độc được, sợ cô đơn và luôn luôn thích có người để nói chuyện, là để có mình nghe người ta nói gì đó rồi mình nói cái gì cho người ta nghe đó. Cái nhu cầu đó, cái nhu cầu giao tiếp giữa người và người, nhu cầu đó lớn và mình đang bị cái này nó thúc đẩy, cho nên đang muốn kiếm người để nói chuyện cho vui.

[1:02:56]Mình hiểu được cái nguyên nhân này rồi cái mình ráng bỏ, mình niệm Phật vài tiếng, mình ráng bỏ cái tâm cô độc, sợ cô độc sợ cô đơn đó, thôi ở lại nhà để mà tiếp tục thắp nhang lạy Phật, tụng kinh gì đó, không có đi rỉu rỉu nữa. Chớ cái mà thích nói chuyện, sợ cô đơn là cái bệnh lớn của con người đó. Người nam cũng có những người bạn nhậu, bạn cà phê của mình, còn phụ nữ thì cũng có bạn tứ sắc mà bạn ngồi nói chuyện lê đôi mách. À đúng rồi, ai dùng chữ đó hay. Lê đôi mách, người phụ nữ cũng có cái bệnh đó. Là chúng ta bị cái bệnh sợ cô độc đó. Như thánh sư Milarepa là ổng cũng kể lại ổng đang ở trên núi tuyết ổng

[1:03:41]tu, chợt ổng khởi lên cái tâm là muốn đi về làng xóm để giáo hóa. Ổng xách đồ ổng đi, đi nửa đường ổng sực tỉnh lại ổng nói: "Mình bị cái cảm giác cô đơn nó lừa, muốn tìm bạn để nói chuyện." Thì quay trở lại cái hang mình ngồi thiền tiếp. Nó là như vậy, cho nên chúng ta vậy, khi mà bị cái vọng tưởng thì mình phải đi tìm cho ra cái tình chấp của vọng tưởng đó là gì ở bên trong để mà phá từ bên trong, mà đi cho lần cho tới được cái vị kỷ là mình sẽ thấy mình hóa giải được rất nhiều. Làm sao mình cảm thấy không có vì mình nữa, không lo cho mình nữa mà chỉ để thương yêu người khác thôi thì nó nhẹ nhàng lắm.

[1:04:25]Như vậy mỗi khi mình khởi cái tâm vị tha thì mình sao?

[1:04:32]Nếu mà giữ lại thì giống như là cũng còn vọng tưởng, phải không? Mà buông bỏ thì mất cái tâm vị tha cũng uổng. Ví dụ bây giờ, nào giờ mình thấy cái người hàng xóm mình họ không biết đạo, mình thấy thương, mình muốn nói chuyện Phật pháp, đưa băng cho họ nghe, đưa sách cho họ đọc. Mà nào giờ thấy chưa có duyên, nhưng vài lần có tiệc có tùng mình mời họ qua thấy nay họ bắt đầu có cảm tình với mình, mình thấy thuận tiện rồi, có thể sang để nói chuyện đạo với họ rồi, thì cái ý nghĩ trong đầu lẩn quẩn là mình bây giờ phải đi qua nói chuyện với ổng nói làm sao, thì cái tâm đó là tâm vị tha, vì muốn cho người ta hiểu đạo.

[1:05:16]Nhưng mà nuôi dưỡng cái tư tưởng mà đi qua giúp người ta như vậy nó là vọng tưởng, tâm đang bị động, tâm bị bận tâm thì phải bỏ đi. Mà bỏ đi thì mất cái vị tha, vậy giờ phải tính sao đây? Ai biết? Sự thực mà nếu mà suy nghĩ cái chuyện mà vị tha thật sự á, cứ để cho nó suy nghĩ tiếp, đi làm luôn, xách băng xách kinh đi qua nói chuyện luôn, đừng có sợ, đừng sợ. Vì sao? Vì cái việc làm mà thật sự vị tha đó nó lại phá cái vọng tưởng mình về sau. Về sau nó lại làm cho tâm mình vào định được dễ dàng. Đây là chỗ mà nhiều người không biết. Nên hôm có một cái cô Phật tử, cổ tranh luận với tôi, cô nói rằng là muốn giải thoát á

[1:06:09]phải tinh tấn thiền định, chứ không cần làm phước thiện, không cần. Như Phật nói là tìm nơi mà hang núi, chòi tranh, khe đá mà tinh tấn ngồi thẳng lưng, nhiếp tâm vào thiền, chứ không phải là đi giúp người này giúp người kia, nói như vậy. Thì tôi mới trả lời thế này, tôi nói trước khi mà Phật giảng về Tứ diệu đế, Phật luôn luôn giảng về nhân quả trước. Chúng sinh theo nhân quả tu có phước rồi Phật mới giảng Tứ diệu đế để cho người đó tu thiền. Nên cái người không biết á cứ tưởng là mình tinh tấn ngồi thiền tâm được yên, không phải, mà chính cái đời sống vị tha đó, thương yêu người này giúp đỡ người

[1:06:57]kia đó, vậy đó cái tâm đó làm cho mình vào định được. Cho nên trong trường hợp này, chúng ta thấy là cái tánh Không nó không có bình đẳng, cái lý Không mà mình tu nó không có bình đẳng. Hễ là cái tư tưởng nào mà mình thấy nó là thuộc về vị kỷ thì mình xét ra mình bỏ, còn cái tư tưởng nào mà nó thuộc về vị tha thì mình lại sử dụng nó tiếp. Đó, đây là chỗ mà gọi là mình tu Bát-nhã mà không có bỏ hết thiện ác, lại là bỏ ác mà giữ thiện. Đó, cái chỗ này nếu mà nhiều người khác nghe đó, có lẽ sẽ chê tôi là tu không rốt ráo. Nói: "Tu như kiểu ông này chắc không rốt ráo." Nhưng vì sao? Là vì còn chấp thiện, phải không?

[1:07:45]Còn thấy có thiện ác, còn chấp thiện, nên tu vậy chắc không có giải thoát. Thôi, ai chê thì cũng phải đành chịu. Nhưng mà những người nào mà thực hành theo lời tôi thì sẽ thấy kết quả, thấy kết quả. Chứ còn mình không có thì giờ để mình cãi, vì có nhiều người dựa vào lý Không á, nói là: "Không thiện không ác, ngay đó là Phật tánh của ông." Họ hay lý luận như vậy, cho nên ví dụ nghe tôi nói là nếu cái tư tưởng vị kỷ thì bỏ, tư tưởng vị tha thì giữ, cái: "Ông này không, như vậy là còn chấp thiện chấp ác nè, tu không có rốt ráo." Thôi kệ họ, mình cũng không cần cãi. Cứ thực hành rồi sẽ thấy, rồi sẽ thấy, rồi sẽ thấy cái sức mạnh của lòng vị tha.

[1:08:30]Chính cái lòng vị tha làm cho mình vào trong định, còn cái mà gọi là không thiện không ác mà hiểu một cách cạn cợt có nghĩa là mình sẽ không tạo phước được nữa.

[1:08:42]Hôm qua có một người phật tử à gọi điện thoại nói chuyện với tôi, thì anh này ảnh cũng tu thiền với nhiều vị thầy. Ảnh mới hỏi thế này, ảnh nói, "Thưa thầy, con

[1:09:00]tu thiền, con ráng giữ chánh niệm tỉnh giác, kiểm soát vọng tưởng, nhưng chừng được một hai phút, thế là bị vọng tưởng nó khởi lên nó che tâm lại, nó kéo đi. Giờ có cách nào, thầy có cái phương pháp nào để giữ cái chánh niệm tỉnh giác nó lâu để cho tâm có thể vào Định được?" Thì tôi mới trả lời thế này, tôi nói, "Không bao giờ có một cái pháp môn nào làm nên điều kỳ diệu đó hết á, không bao giờ có.

[1:09:32]Cái mà cái sức mạnh tỉnh giác giữ được tâm mình trong thanh tịnh, cái điều kỳ diệu đó chỉ do phước mà có thôi. Nghĩa là một cái đời sống vị tha, nghĩa là từ đây mình nghĩ cái thân này không còn là của mình nữa, thân này là của Phật pháp, của chúng sinh. Chính cái đó, rồi mình sống mình làm phước, làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh. Vậy đó, chính cái đó năm năm sau, mười năm sau hay hai mươi năm sau không cần, không biết thời gian, hoặc có khi sáu tháng sau thôi, tự nhiên cái Định nó hiện ra trong tâm mình. Nó tự nhiên, nhẹ nhàng. Cái sức mạnh của lòng vị tha, của công đức là vậy, chứ còn không có một cái pháp môn nào đem lại sự kỳ diệu đó." Tôi trả lời như vậy.

[1:10:17]Và ai tin thì thực hành theo thì sẽ thấy tôi nói đúng hay sai. Nên ở đây khi tôi giảng về Bát Nhã, nói về lý Không thì tôi không có nói rốt ráo cái gì cũng không, tôi không nói điều đó. Vì nói cái gì cũng không nó sẽ sinh bệnh dữ lắm, sẽ sinh một cái chấp mới là một cái chấp Không. Còn nói ví dụ như nói là không chấp thiện, không chấp ác là sao? Chúng sinh đi qua những giai đoạn như thế này, chúng ta nhớ nè, nó có ba cái giai đoạn để mình đi qua trong cái việc mà tu tập thiền định. Giai đoạn đầu là tâm mình còn có những cái tư tưởng bất thiện.

[1:11:00]Đây giai đoạn thứ nhất là mình phải gạn lọc bỏ cái tư tưởng bất thiện, thì mình bước được sang giai đoạn thứ hai là lúc đó trong tâm mình chỉ còn những tư tưởng, tư tưởng thiện mà thôi. Hễ không suy nghĩ thì thôi, mà nếu suy nghĩ thì chỉ suy nghĩ cái điều thiện, điều tốt đẹp, đó là giai đoạn thứ hai. Qua giai đoạn thứ hai rồi mới đến giai đoạn thứ ba là không còn suy nghĩ gì nữa. Cho nên cái tâm mà không suy nghĩ nó phải đặt trên nền tảng của một cái tâm thuần thiện. Cái điều này như tôi giảng nhiều rồi phải không? Nói ra rồi mới nhớ hình như đi giảng đây giảng đi giảng lại quá chừng cái chỗ này.

[1:11:43]Cho nên vì vậy mà chúng ta hễ là ai mà nói không thiện không ác mà đi tới chỗ không còn suy nghĩ thiện ác thì mình phải hỏi là, "Anh đã đi qua được giai đoạn thuần thiện trong tâm chưa? Nghĩa là trong tâm của anh đã hoàn toàn không còn tư tưởng bất thiện hay chưa?" Mà nếu người đó nói, "Rồi, tâm tôi không còn tư tưởng bất thiện", thì mình chấp nhận người này nói đúng. Là như vậy anh được quyền bước qua giai đoạn thứ ba là giai đoạn mà không còn nghĩ tới cái thiện, vì dứt khoát mình không nghĩ tới ác. Còn nếu mà họ nói không nghĩ thiện, không nghĩ ác, nhưng mà tâm họ trước đây vẫn còn có điều bất thiện thì mình nói cái không

[1:12:28]thiện không ác của anh nó không có căn bản, không có cơ sở, không vững chắc, và anh đang bị cái lỗi chấp Không, anh có thể bị đọa vào ô nhiễm. Nghĩa là nếu anh cứ chấp cái lý không thiện không ác này mà cho là cao đó, thì trong vòng một hai tháng sau nữa anh sẽ làm nên một cái tội lỗi gì đó để cho anh biết hổ thẹn.

[1:12:54]Đáng sợ như vậy đó.

[1:12:58]Có những cái lầm lỗi mà do mình tà kiến, chứ không phải là do mình dở, do mình hiểu sai, nó thúc đẩy mình tạo thành tội lỗi liền. Nói ví dụ đi, người mình chả bao giờ có cái tật ăn cắp gì của ai, từ nhỏ lớn không bao giờ ăn cắp, tâm mình không tham không gì hết, nhưng mà vì mới ngày hôm qua mình nói cái lý không thiện không ác, cái gì cũng không, cái gì cũng không, ngày hôm nay tự nhiên mình thấy có người họ để cái đồng hồ đẹp, mình đi qua liếc cái, lại liếc cái, bước qua liếc không có ai cái lượm bỏ túi liền. Mà từ nhỏ tới lớn không bao giờ mình phạm cái lỗi ăn cắp của ai hết, mà bữa nay liếc mắt thấy không ai biết bỏ túi liền,

[1:13:44]bởi vì ngày hôm qua vừa nói cái lý không thiện không ác đó. Nguy hiểm vậy đó. Chúng ta thấy đáng sợ. Nghĩa là mình sẽ phạm một cái tội mà mình không từng có, mình không có cái tánh đó, nhưng mà nói bậy phạm à. Đó là cái đáng sợ như vậy. Nên nói cái gì cũng không là coi chừng. Như trong Góp Nhặt Cát Đá có câu chuyện một cái ông thiền sinh đó đến nói chuyện với một thiền sư, nói cái gì cũng không hết. Thì thiền sư ổng cầm cái cây ổng đập vô mặt cái bốp một cái, ổng sùng lên liền. Ổng nói, "Cái gì cũng không hết thì cái sùng của anh từ đâu tới?" Nghĩa là mình nói cái Không là mình nói trên lý mà chưa phải chứng được.

[1:14:24]Đây là điều chúng ta cẩn thận khi mà chúng ta quán lý Bát Nhã, chúng ta thấy cái gì cũng là hư vô hết, cái gì cũng biến đổi, cái gì cũng vô thường, nhưng mà cẩn thận nuôi dưỡng cái tâm vị tha.

[1:14:41]Trong luận Đại Thừa có một cái bộ luận rất là nổi tiếng về lý Không là Trung Quán Luận.

[1:14:50]Trung Quán Luận do Ngài Long Thọ ngài viết rồi được luận... Đây là một bộ luận mà có thể nói khó nhất trong Phật giáo Đại Thừa, có được dịch sang tiếng Trung Hoa, thì đa phần là chúng ta học Trung Quán là học từ tiếng Trung Hoa. Cái bộ luận này rất là khó hiểu. Nên thường là chỉ dạy riêng cho những người xuất gia, những người mà chuyên tâm nghiên cứu tu tập, vì những tư tưởng nó sâu sắc, nó tinh vi ghê gớm lắm. Nghĩa là Ngài Long Thọ ngài lý luận một lát không còn cái gì có hết trơn á, cái gì mọi cái mất tiêu hết trơn. Ví dụ như cái lý thế này: Mình mình đang đi vậy á mà ngài lý luận một cái mình thấy mình không có đi.

[1:15:35]Nói rằng, "Khi chưa đi thì không có cái đi", đồng ý không? Đồng ý không? Thì chưa đi làm gì có cái đi. "Đi rồi thì cũng không còn có cái đi", đúng chưa? "Và khi đang đi cũng không có cái đi", được không? Nghe tới đây mình chới với rồi phải không? Vậy mà ngài lý luận một lát ra, nghĩa là khi chưa đi thì không có cái đi, khi đi rồi không có cái đi, mà khi sẽ đi không có cái đi, và khi đang đi cũng không có cái đi luôn. Thì học cái lý này mình mới thấy bắt đầu mình đi tới đi lui nói, "Ủa, mình đang đi đây mà sao ngài nói không có cái đi?" Cái lý này nó vi diệu giống như ngài Tăng Triệu ngài giải thích trong cái cuốn Triệu Luận á.

[1:16:24]Có bốn cái câu kệ nổi tiếng lắm mà lâu quá tôi không còn nhớ. Ngài mới nói thế này, là: "Ánh trăng đi qua bầu trời thế này nhưng mà không hề di chuyển. Gió bão thổi bay núi vậy đó, chưa từng nhúc nhích. Rồi nước sông chảy gấp như vậy đó, coi vậy không có trôi.

[1:16:47]Bụi trần lăng xăng lăng xăng vậy chớ, chẳng hề động." Nghĩa là ngài có bốn cái câu kệ ngài nói như vậy. Và đây là một cái thử thách cho cái trí tuệ về tánh Không của con người. Cái lý này hình như tôi có giải thích trong cái Đạo Đức Của Người Tu thì phải. Tôi có giảng một lần cho quý sư... À hình như chưa, đúng rồi, chưa từng giảng ở đâu hết. Tôi chỉ giảng điều này ở trong chùa thôi, cho các đệ tử nghe thôi, chứ chưa từng giảng ở đâu hết. Không biết hôm nay nên nói không? Nói ha. Còn vài phút nữa, thôi kệ, tôi ráng gom tàn lực để nói.

[1:17:29]Cái công phu Bát Nhã thì còn nhiều lắm, nhưng mà thôi để nói thế này để rồi nghỉ. Bây giờ chúng ta thấy nè, ví dụ như là một chiếc xe đang chạy, đang đi trên đường, thì mình thấy xe đó có đi phải không? Có đi từ chỗ này và đến chỗ kia. Nhưng mà tại sao con mắt của một người tu Bát Nhã lại thấy chiếc xe đó không hề đi? Ví dụ một chiếc máy bay bay trên bầu trời thế này, thì mình thấy rõ ràng nó xuất hiện từ phía xa chân trời, đi lần lần lần mất về phía bên kia chân trời, tức là có di chuyển chứ. Như vậy lý Bát Nhã dám nói rằng nó không hề đi là dựa vào đâu vậy? Dựa vào đâu? Thì muốn hiểu được điều này, chúng ta phải có hai cái điều kiện mới hiểu nổi.

[1:18:18]Thứ nhất, tâm mình phải vào định khá sâu. Thứ hai, phải hiểu được cái lý chuyển động tương đối của nhà bác học Einstein. Phải kết hợp hai cái lý đó mới hiểu được cái này. Mà người xưa họ hiểu được là vì họ chứng, họ chứng họ thấy như vậy, họ không giải thích được. Chính vì họ không giải thích được, tới bây giờ mình cũng cũng mờ mờ luôn. Mà bây giờ mình dùng lý luận để nói thì không nói hết ý, vì sao? Phải có cái chứng trong định mới thấy được điều này. Tôi thì tôi cũng không có chứng ở trong định, tôi không biết gì hết trơn. Nhưng mà tôi mờ mờ rồi sao nó thấy được, hiểu sơ sơ, thì giải thích quý Phật tử nghe.

[1:18:56]Nói cái này hơi dài dòng, không biết có kịp thời gian không. Cái chuyển động tương đối của Einstein là như thế này nè. Ví dụ bây giờ, một người mình đi từ ở trong chùa ra ngoài chùa thì mình thấy có đi không? Mình so với cái chùa là mình có đi chứ phải không? Tại hồi nãy mình ở trong chỗ cái phòng khách, bây giờ mình ra tới cổng chùa, nó có sự thay đổi vị trí mà. Nhưng bây giờ hai người cùng đi từ trong nhà khách ra tới cổng chùa, có đi không? Có sao không có? Nếu so sánh với cái chùa, phải không? Nhưng nếu hai người đó so sánh với nhau, lúc nào vai cũng kề vai, thì thấy hai người đó có đi với nhau không?

[1:19:35]Hai người đó đứng yên đối với nhau. Đối với cái chùa thì hai người đó có đi, nhưng mà đối với nhau hai người đó thì hai người đó không đi nha. Hiểu không? Cái lý này lý chuyển động tương đối Einstein đó, lý toán học rất là cao, mà quý cô bên đây ngồi gật gật đầu được là thông minh lắm. Ví dụ thế này, vì hai chiếc máy bay bay trên trời, hai chiếc bay à qua bầu trời á, thì nếu mình đứng ở đây mình nhìn thì thấy chiếc máy bay đó có đi bay không? Vì so sánh với mình thôi, mình đang đứng yên thì máy bay nó đi. Nhưng hai chiếc nó bay song song với nhau, thì chính hai chiếc đó đối với nhau là đứng yên.

[1:20:12]Đồng ý không? Đồng ý. Cho nên hồi mà thời Đệ nhị Thế chiến á, có một người phi công lái máy bay của Đồng minh á, ổng đang bay cái ổng thấy viên đạn ở ngoài cửa sổ ổng á, nó đi bên cạnh ổng, ổng thò tay ra ổng chụp cái đầu đạn ổng bỏ vô. Tại vì lúc đó cái viên đạn nó bay cùng vận tốc với chiếc máy bay. Nó đang sắp sửa nó nó nó bị giảm vận tốc, sắp sửa rớt rồi, nó bay chậm lại rồi. Tức là cái viên đạn của quân Đức nó bắn lên cái chiếc máy bay đó mà nó bắn trật, rồi lúc đó nó giảm vận tốc sao không biết nó bay cùng vận tốc với chiếc máy bay. Cho nên người phi công mới thấy như nó đứng yên bên cạnh mình,

[1:20:45]thò tay ra chụp nó bỏ vô trong khoang máy bay cất. Là vì trong chuyển động tương đối nó đứng yên đối với nhau. Như vậy là chúng ta muốn nói là cái vật đó chuyển động là chúng ta phải dựa vào đâu? Phải so sánh nó với cái gì mới gọi là chuyển động, phải không? Ví dụ bây giờ tôi đi về Sài Gòn là vì mình so sánh gì? So sánh mình với Thủ Đức. Đối với Thủ Đức là mình đã đi về Sài Gòn rồi. Nhưng đối với cái ông tài xế mà lái xe cho mình thì hai người đâu có đi đâu với nhau hết trơn, tại mình ngồi đó, ổng cũng ngồi đó, cách nhau hai hàng ghế. Chạy mấy chục phút ra rồi vẫn cách nhau hai hàng ghế, không nhúc nhích, phải không?

[1:21:26]Như vậy nói bây giờ tôi đi là chưa chính xác, phải nói đi đâu, so sánh với cái gì mới được, mới được nói là chuyển động. Đồng ý không? Đồng ý chưa? Cái lý này rất là sâu. Bây giờ đó là lý Einstein là như vậy đó. Bắt đầu mới bước qua tới đạo là cái người chứng. Bây giờ ví dụ có một người chứng đạo, ví dụ quý Phật tử tưởng tượng mình chứng đạo đi. Tưởng tượng. Tưởng tượng mình chứng hết trơn rồi, ai cũng chứng, đây ngồi đây chứng trơn, chứng sạch hết. Chứng rồi mình đứng đây, mình nhìn chiếc máy bay đang bay trên bầu trời. Hồi mình chưa chứng á thì mình thấy mình là một cái bản ngã đang đứng tại đây, và mình thấy chiếc máy bay đó

[1:22:10]so với mình là nó đang di chuyển, đúng không? Nhưng bây giờ mình lỡ xui mình chứng hết rồi, mình không còn thấy chính mình nữa. Chiếc máy bay đó không biết có bay hay không mà nó không còn dựa vào mình nữa. Lúc mình tự cảm thấy như vậy, vì mình không còn dựa vào mình nữa, nên chiếc máy bay kia mình nó đâu dựa vào mình đâu nữa mà mình thấy nó bay. Mình chỉ thấy nó bay khi mình thấy mình đang đứng đây. Nhưng bây giờ vì lỡ mình xui mình chứng đạo, mình không còn thấy mình đứng đây nữa, mình thấy mình là cả đất trời này, thì chiếc máy bay nó biết dựa vào đâu để mà nói nó đang di chuyển? Đồng ý chưa?

[1:22:47]Hiểu điều này không? Đó, đây là chính cái lý mà ngày xưa Ngài Long Thọ đã nói: "Đang đi cũng không có đi." Mà ngày xưa Ngài Tăng Triệu nói: "Trăng qua bầu trời chưa hề di chuyển", là tâm các Ngài cùng với trời đất là một, không còn đứng một chỗ để mà nhìn thấy trăng từ từ trôi qua bầu trời trong một buổi tối nó là mộng mơ, êm ái gì không có nữa. Các Ngài là cả đất trời, cho nên không hề thấy cái gì di chuyển. Nó di chuyển mà như không di chuyển, bởi vì có dựa vào bản thân mình nữa đâu. Hiểu chưa? Đây là cái lý rất cao, rất cao. Bao nhiêu năm qua đó, cả mấy ngàn năm qua cái lý này vẫn là một cái bí ẩn.

[1:23:30]Thì thôi, nói cái lý này cũng giống như tặng quý Phật tử làm quà cái ngày Tết. Cầu chúc cho quý Phật tử được một cái Tết vui vẻ, an lành, bước sang năm mới được nhiều điều may mắn, tốt đẹp, tu hành tinh tấn hơn, có kết quả hơn, sống một đời vị tha hơn.

[1:23:53]Và nếu ha, nếu mà tôi chưa chết thì mình còn gặp nhau nữa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.