[0:01]Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Kính bạch trên chư Tôn Đức. Kính thưa quý Phật tử.
[0:11]Hôm nay là ngày lễ đại tường. Nếu nói á thì là của một vị Hòa thượng đạo cao đức trọng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, của một vị nguyên là Trưởng ban Trị sự của Giáo hội Phật giáo tỉnh Vĩnh Long.
[0:32]Nhưng mà nếu nói trên tông môn của dòng phái Thiền Trúc Lâm thì Hòa thượng là một bậc đại sư huynh khả kính, là trưởng tử của tôn sư Hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ.
[0:50]Còn như chúng tôi, nếu nói vai vế là đàn em, tên Chân Quang là tên giấy tờ, còn tên ở trong tông môn là Thông Huyễn vậy. Nếu mà nói trong cái tình của tông môn thì chúng tôi là đàn em của ngài. Nói thì là đàn em, nhưng mà sự thật chúng tôi lúc nào cũng coi mình như là đệ tử của ngài. Những lúc mà anh em còn gặp nhau vậy, thì ngài là người ít nói. Những lúc mà ngài thuyết giảng thì thì đành phải nói, còn trong đời sống bình thường, ngài rất ít nói, chỉ nói những điều cần phải nói, nói nhẹ nhàng, rồi đôi khi điều chỉnh ý kiến của một vài người cho nó chỉnh lại, và những điều nói ra đều làm sự hoan hỷ.
[1:48]Ở đây tất cả mọi người chúng ta ngồi ở đây, nếu ai là người mà chưa được diện kiến tôn nhan của Hòa thượng, Hòa thượng mà đại tường hôm nay là Hòa thượng Thượng Đắc Hạ Pháp, thì phải xem như cuộc đời mình là một điều bất hạnh, phải nói như vậy. Còn ai mà đã từng được diện kiến tôn nhan của Hòa thượng thì hãy xem như là cuộc đời mình có một điều may mắn lớn. Vì sao vậy? Vì Hòa thượng có cái năng lực kỳ lạ thế này. Hòa thượng có cái năng lực kỳ lạ là không biết là từ nhiều đời xưa Hòa thượng tu hành gì thì mình không biết, nhưng Hòa thượng có cái năng lực kỳ lạ là hễ ai gặp Hòa thượng thì phải tăng trưởng đạo tâm.
[2:39]Mà việc mà tăng trưởng đạo tâm là việc khó hơn bắc thang lên trời. Tất cả những điều chúng ta làm, chúng ta tu, chúng ta học, chúng ta tụng kinh, lễ bái, ngồi thiền, sưu tầm kinh điển, đủ thứ chuyện chỉ để làm một điều là tăng trưởng được đạo tâm. Vất vả lắm, không phải dễ. Mà có người tăng trưởng được đạo tâm 3 năm rồi 3 năm sau mất. Có người tăng trưởng, giữ gìn được đạo tâm 10 năm rồi mà sau năm thứ 11 mất. Cho nên việc mà giữ gìn, phát triển, tăng trưởng đạo tâm là điều khó hơn bắc thang lên trời. Nhưng với Hòa thượng của ta ở đây, chỉ cần nhìn thấy Người, ta tăng trưởng được đạo tâm rồi, hơn ngàn muôn lời nói, hơn ngàn muôn cái cả nhiều năm tháng dày công tu học.
[3:27]Đây là một điều đặc biệt ta không hiểu được. Và chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi là hàng hậu học của Người, một đàn em nhỏ bé của Người, cũng vậy, mỗi khi được gặp Người thì cảm thấy mình vững lòng, mình yên tâm, mà có nhiều cái xúc cảm, mà thêm sức mạnh để bước tới.
[3:53]Cái việc mà mỗi khi ta diện kiến ngài mà tự nhiên ta vững niềm tin trong cái sự tu hành thì đây là một công hạnh phi thường mà nhiều khi vài ba trăm năm hay một, hai nghìn năm mới có được chứ không phải là dễ. Vậy mà trong thời đại này, ta có được Người. Ngài cao to như Phật, to, đường bệ. Ngài đường bệ mà cái đường bệ của ngài nhìn như một ngọn núi vững vàng và an lạc. Nó không giống như một người võ sĩ cũng cao to mà mình nhìn vô mình phát sợ giống như con quái vật, còn ngài như một ngọn núi châu báu, hiền lành, điềm đạm. Mà cái nét mặt thì không phải đẹp như một nghệ sĩ, mà đẹp như Phật vì nó toát ra sự an lạc, hiền lành, đức độ và đặc biệt là đôi mắt.
[4:48]Nhìn vào đôi mắt không có gì trỏng. Nhìn vào đôi mắt mình không tìm thấy một cái ước vọng gì, một cái toan tính gì, mà chỉ có sự hiền lành và từ bi. Mà không phải là ngài người từ bi, hiền lành nơi cái dung mạo, mà người từ bi, hiền lành trong đời sống của mình, trong hành trạng của mình. Tức là từng việc làm, từng lời nói chỉ vì Phật pháp, chỉ vì chúng sinh. Nên cái từ bi, cái đức độ của ngài, cái hiền lành của ngài, nó từ thân
[5:27]tướng, từ lời nói, trong ánh mắt, và đặc biệt là trong hành trạng của ngài. Cho nên ngày mà Người rời bỏ cái trần gian này phải nói là một sự mất mát lớn của Phật giáo chúng ta. Riêng chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi là một người người em nhiều bất hạnh của Người,
[5:55]mà dù ở xa, dù ít khi gặp, mà Người luôn luôn chở che, bảo bọc, yêu thương, dạy dỗ.
[6:06]Tôi không hiểu tại sao. Không hiểu tại sao là có thể có một con người một người anh vĩ đại đến như vậy.
[6:16]Mặc dù là dù ngài bận trăm công ngàn việc. Ở nơi cái thiền viện đây, ở đây cũng là trường trung cấp, nơi với đệ tử của mình, với việc Phật sự của Giáo hội và trách nhiệm đối với tông môn, đối với ân sư vẫn còn đầy. Còn chúng tôi là một đứa em rời xa, lạc loài và khốn đốn, nhưng mà ngài lúc nào cũng hỏi thăm, cũng liên lạc, dạy bảo, sai bảo, nhắc nhở, cần thì kêu về để rầy, để dạy. Tôi không hiểu nổi. Không hiểu nổi sao có thể một người mà cái tấm lòng mà bao dung đến như vậy, lớn lao đến như vậy, mà chi tiết, cặn kẽ đến như vậy. Vì vậy, trong cuộc đời tu hành của của chúng tôi, riêng chúng tôi vậy, ngài là một người anh, nhưng cũng là một người thầy,
[7:08]cũng là một ân nhân, là một tấm gương, là ánh mặt trời, là ngọn núi. Chúng tôi không biết dùng bao nhiêu lời để có thể bày tỏ được. Đó là cá nhân chúng tôi, một người em ít khi được gặp ngài, khi có việc thì ngài mới gọi về sai bảo, dặn dò, sắp xếp. Còn biết bao nhiêu người mà được ở bên cạnh ngài, được học hỏi, được chiêm ngưỡng, được chứng kiến, thì cái niềm cảm xúc đó là vô hạn. Nhưng hôm nay ngồi đây cũng vậy, chúng tôi nghĩ rằng còn có nhiều người chưa từng được diện kiến tôn nhan của ngài, cho nên trong cái buổi lễ cảm động này, chúng tôi muốn truyền lại cái cảm xúc đó để cho quý Phật tử biết rằng trong cái thời mạt
[7:59]pháp này, trong cái thời mà nhiều khi cái xấu, cái ác còn nhiễu nhương này, nhưng đã có lúc mặt trời xuất hiện, đã có lúc hoa sen nở, đã có một bậc đại sĩ đến với trần gian như thế và đã ra đi thanh tịnh, lặng lẽ như thế, nhưng để lại trong lòng chúng ta biết bao nhiêu là cảm xúc, niềm yêu kính, tấm gương và sự mẫu mực, mô phạm.
[8:30]Nhưng nếu ca ngợi Người, ta phải nghĩ đến Thầy của Người, tức là Tôn Sư Hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ đến nay vẫn còn tại thế. Hòa thượng Tôn Sư năm nay là đã cao niên lắm rồi, hơn 90 rồi, và cứ sợ đệ tử là đi trước mình. Nói: "Chú nào đi trước tôi, tôi đập cho ba hèo." Nhưng mà rồi cũng đành phải nhìn cái thế sự vô thường, chuyện đời không gì biết trước. Và nhìn thấy cái người đệ tử đầu tiên của mình lặng lẽ ra đi trước mình. Và chỉ một bậc thầy như thế, một bậc tôn sư như thế, mới có người đệ tử như thế. Nên hôm nay vậy, chúng ta cùng nhau vân tập về đây, quỳ trước tôn nhan của Hòa thượng Thượng Đắc Hạ Pháp
[9:30]để bày tỏ lòng kính yêu, tưởng niệm đến Người thì chúng ta cũng phải dâng cái lòng tôn kính của mình lên Tôn Sư Hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ. Xin mọi người cùng chắp tay lại để tưởng nhớ hai bậc tôn sư, hòa thượng khả kính trong cái Giáo hội Phật giáo của chúng ta. Thôi thỉnh vậy, xin đại chúng để tay xuống vậy. Và hôm nay vậy, vâng lời của ban tổ chức à yêu cầu chúng tôi về đây có một bài pháp thoại để cúng dường lên Hòa thượng. Chúng tôi xin trình bày một bài pháp thoại là Ngàn Kiếp Tu Hành.
[10:19]Như vậy, như Hòa thượng chúng ta có mặt trên cuộc đời này không phải một lần. Ngài, Ngài tu ở kiếp này không phải một kiếp tu hành ở đời này. Ta phải hiểu rằng Ngài cũng đã qua nhiều kiếp tu hành. Nhưng là, và chúng ta cũng đừng nghĩ rằng cứ ai tu rồi đều sẽ đến đích. Chúng ta đừng nghĩ rằng hễ tu rồi thì phải chứng. Đừng nghĩ rằng có tu rồi sẽ có ngày đắc đạo. Không có chuyện đó. Xin thưa không có chuyện đơn giản như vậy. Rất nhiều người tu rồi lui.
[11:03]Và có những người tu rồi xuống địa ngục. Có người tu đọa súc sinh, chứ không phải ai tu rồi cũng chứng. Cho nên, hôm nay chúng ta nói chuyện với nhau cái bài "Ngàn kiếp tu hành" này để trước hết ta bỏ đi cái ảo tưởng: "Hễ dạ, nay con tu theo Phật chắc có ngày con thành Phật." Đừng có ảo tưởng chuyện đó mà thành kiêu mạn, không có chuyện đó đâu. Vì sao vậy? Vì nhân quả khắt khe.
[11:32]Nhân quả khắt khe. Khi chúng ta phát tâm tu, chúng ta tạo được nhiều công đức, chúng ta gieo được nhiều nhân lành, điều đó chắc chắn. Ví dụ một kiếp nào đó, chúng ta gặp được một bậc thầy khả kính, chúng ta làm đệ tử, chúng ta tiếp nhận những lời dạy của vị đó rồi chúng ta sửa mình. Chúng ta làm những điều phúc, ta biết giúp người, biết thương người, biết cứu vật, biết phụng trì Tam Bảo, làm nhiều công đức lành. Đúng, kiếp đó. Nhưng cái nhân quả khắt khe nó sẽ có hai điều xuất hiện. Một là khi quả báo lành tới, ta trở thành một người vinh quang do cái phước mình đã gieo trong cái kiếp trước đó,
[12:21]là biết kính thầy, kính Phật, giúp người, thương đời, vân vân. Bao nhiêu điều đó cái đời sau ta trở lại là một người vinh quang, vẻ vang. Đó là cái điều thứ nhất của nhân quả đem đến cho ta. Rồi điều thứ hai là khi mà trở lại với những cái vinh quang đó thì cái hệ quả tất yếu của cái sự vinh quang là sự kiêu mạn. Ta thấy mình hơn người. Ví dụ sinh vào trong gia đình giàu thì mình tự nhiên mình thấy mình hơn người nghèo; sinh vào trong gia đình quyền thế, tự nhiên thấy mình hơn những người ở đẳng cấp thấp. Tự nhiên. Và cái hệ quả của cái tâm, cái nguyên tắc của tâm, tự nó phải xuất hiện kiêu mạn dù ta không muốn.
[13:09]Rồi cái kiêu mạn này bắt đầu ấy, nó thúc đẩy cho ta hưởng hết cái phước ta có. Rồi bắt đầu ta làm bậy vì cái kiêu mạn này. Cho nên trong cái kiếp sau ta hưởng hết những phước mình đã tu tạo từ kiếp trước rồi sau đó làm thêm một mớ nghiệp bậy bạ, kiếp sau nữa tụt xuống trở lại. Mà nếu tụt thấp thì thôi ta trở lại thấp thấp không sao, mà nếu nặng quá ta đọa luôn vào ba ác đạo. Nếu trong cái kiếp đó, lúc mà hưởng vinh quang, ta bị cái kiêu mạn nó thúc đẩy mạnh quá thì ta sẽ tạo nghiệp rất nặng để có thể đọa luôn ba ác đạo. Chứ đừng tưởng kiếp thứ nhất tu, kiếp sau tu, kiếp sau tu nữa lên từ từ, không có.
[13:50]Cái nguy hiểm của cái tâm lý chính là cái sự kiêu mạn do những thành quả trước đó mà ta làm được điều tốt đẹp. Đây là điều oái oăm, điều ngang trái trong sự tu hành. Và vì vậy, nhiều khi trải qua ngàn kiếp tu hành, ta cứ lên, xuống, lên, xuống, lên, xuống hoài, chưa bao giờ đi được tiến xa, chưa bao giờ đi được tới đích. Cái khó là như vậy. Rất nhiều người trong chúng ta hưởng phước tột cùng rồi tụt xuống lại, không tiến thêm nữa, bắt đầu lại từ đầu, bắt đầu lại từ đầu, gieo lại những nhân từ ban đầu: lạy Phật, sám hối, tụng kinh, lễ bái, kính trọng chư tôn, phụng trì người xuất gia, hộ trì đạo, làm những việc từ thiện đối với xã hội, giúp đời, giúp nước,
[14:41]vân vân, lên lại, lên lại tới chừng vinh quang rồi, hưởng rồi, xuống lại. Cứ làm phước rồi hưởng phước, làm phước rồi hưởng phước, tâm linh không thăng tiến, đạo quả không xuất hiện. Đây là điều rất là lạ mà hôm nay chúng ta phải hiểu điều này để diệt trừ cái kiêu mạn trong lòng mình, diệt trừ cái ảo tưởng mình tin chắc điều mình tu chắc có ngày chứng. Cái ý niệm rằng hễ có tu sẽ có ngày chứng thực sự cũng là một tà kiến, một điều hiểu lầm, một điều hiểu lầm và gây nguy hiểm cho chúng ta, làm cho chúng ta chủ quan, không cẩn thận. Nên vì vậy là chúng ta nói những điều này để chúng ta cẩn thận hơn nữa trong cái sự tu hành của ngàn kiếp.
[15:30]Đừng ai nghĩ rằng tu hành trong một kiếp được kết quả. Đừng ai nghĩ rằng tu hành trong ba kiếp, mười kiếp mới được kết quả, không, tâm mình phải chuẩn bị cho một ngàn kiếp. Cái tâm thế phải như vậy mới là một tâm thế lớn. Còn người bắt đầu vừa gặp đạo cái nói: "Dạ, con quyết tu một kiếp tu cho chứng", người này tâm thế bé tí tẹo như hột gạo, hột lúa, hột trấu. Còn người nào vừa khi gặp đạo là đã chuẩn bị cái tâm thế nói: "Dạ, con căn cơ hạ liệt, con chấp nhận đi một ngàn kiếp" thì người này coi vậy mà tâm thế họ lớn vì lòng họ đã nghĩ tới một khoảng thời gian rất là xa. Còn người vừa gặp đạo ấn định cho mình một khoảng thời gian ngắn,
[16:13]người này tưởng hay nhưng mà sự thực cái tâm thế nhỏ, hẹp, ngắn, tầm thường. Nên khi mà phát tâm tu hành gọi là phát tâm Vô thượng Bồ-đề, phát tâm cầu đạo giải thoát thì chúng ta vậy, trong lòng ai cũng thường mơ hồ đi tìm một khoảng thời gian để mình có thể thành tựu được đạo nghiệp giải thoát. Nhưng nhớ giùm, cứ nhắc cho mình 1.000 kiếp. Vậy đó mà nó tới chứng hồi nào không hay. Còn mà nghĩ mình một kiếp thì người này 1.000 kiếp chưa chứng. Nó cái nhân quả nó ngược lại. Mình nói: "Tôi tu, tôi nhất quyết kiếp này chứng" thì ta yên trí người đó 1.000 kiếp sau mình còn gặp người đó đi đẩy xe ở ngoài đường á.
[17:00]Còn có người nào mà họ nghĩ trong lòng họ là: "Chắc căn cơ mình hạ liệt, mình tu phải ngàn kiếp" thì không chừng 30 kiếp sau mình thấy họ ngồi tòa sen mất rồi. Vì cái tâm thế họ lớn, người này coi vậy chớ mà có kết quả, có kết quả lớn được. Cái ngàn kiếp tu hành này là ta lo nhất là tiến rồi lui, tiến rồi lui. Vì phước ta làm rồi hưởng, làm rồi hưởng. Vì ta làm phước rồi hưởng, làm rồi hưởng nên ta tiến rồi lui, tiến rồi lui. Như vậy, chừng nào thì ta xác định tu rồi đi tới đạo quả, không bị lui lại? Khi nào thì bắt đầu xác định điều đó? Xin thưa, khi bắt đầu ta chứng quả Tu-đà-hoàn như Phật dạy.
[17:49]Khi người nào mà chứng được Tu-đà-hoàn rồi thì người này Phật dạy là người này chắc chắn đi đến sự giải thoát. Đó là định nghĩa về quả vị Tu-đà-hoàn. Còn cái người chưa chứng Tu-đà-hoàn thì cứ tu, nhưng mà khi tiến, khi lui, khi được, khi mất, khi lên, khi xuống, làm phước rồi hưởng phước và có khi làm tội phải trả quả. Nhưng lúc nào đó không biết, vì một lý do gì đó không biết, vì một nhân duyên gì đó mà họ chứng được Tu-đà-hoàn một cái, rồi, ngày đó Phật gọi là bắt đầu vào dòng Thánh và người này chắc chắn phải đi tới chỗ chứng quả giải thoát. Ngay khi chứng Tu-đà-hoàn thì người này mới bắt đầu xác định là sẽ đi tới đích.
[18:33]Còn lúc chưa chứng quả Tu-đà-hoàn thì tu thì cứ tu gieo nhân, không chắc là mình sẽ đi tới đích đâu. Nhớ giùm chúng tôi điều này. Nhớ, nha. Không chắc là mình đi tới đích đâu. Nên cái ý thức rằng tu thì tu mà không chắc mình đi tới đích thì cái ý nghĩ này là chánh kiến giúp cho ta một sự khiêm tốn và cẩn thận. Còn hễ nói mình phát tâm tu, thực hành tu, bắt chân ngồi thiền được, là lễ bái Phật được cái là nghĩ mình chắc mình sẽ được tới đích, đó là một ảo tưởng, hiểu lầm, gây cho ta một cái kiêu mạn thầm kín và tổn phước. Còn ngay khi ta dù rất tinh tấn nhưng mà biết rằng mình chưa phải Tu-đà-hoàn
[19:17]thì chưa chắc mình sẽ được tới đích nên phải hết sức là cẩn thận. Nên cái tâm mà nghĩ rằng mình chưa chắc, cái tâm mà nghĩ rằng mình phải hết sức cẩn thận, đó là chánh kiến, đó là đạo đức, đó là khiêm hạ. Và người này coi vậy chớ sẽ ổn định, bớt bị vấp ngã. Còn cái người mà cứ tự cho mình chắc chắn đi tới đích, người đó sẽ vấp ngã, vấp dài dài, hỏng hết chuyện này, hư tới chuyện kia. Còn cái người mà biết khiêm tốn, biết cẩn thận vậy chứ ít vấp ngã và chính vì họ ít vấp ngã nên cơ hội để chứng Tu-đà-hoàn họ đến rất là sớm. Nói về Tu-đà-hoàn là gì? Tu-đà-hoàn là cái nấc thang thánh quả trong bốn thánh quả từ thời Đức Phật.
[20:04]Nhưng mà sau này qua tới Thiền tông của Trung Hoa thì các vị thường hay gọi là đốn ngộ. Cho nên từ thì có khác nhưng bản chất thì, thì giống nhau. Vì sao? Vì đạo Phật chỉ có một đạo Phật, không có hai, ba đạo Phật. Chúng ta nhớ như vậy. Chúng ta nhớ đạo Phật có một đạo Phật. Ví dụ bây giờ người tu theo Mật tông, người tu theo Thiền tông, người tu theo Tịnh tông, nếu mà đúng chánh kiến thì phải giống nhau. Hoặc người tu theo Nam tông Nguyên thủy, người tu theo Bắc tông Đại thừa mà nếu đúng chánh kiến thì phải giống nhau, bởi vì sao? Vì chỉ có một đạo Phật. Còn nếu mà ta hiểu nhầm thì mới tạo ra thành nhiều đạo Phật khác nhau.
[20:52]Để hiểu điều này, ta mới thấy rằng là sao? Ta tu hành trong Phật pháp trong tình đoàn kết, hòa hợp vô biên. Thì cũng vậy, khi mà một vị thiền sinh đến gặp một vị thiền sư
[21:10]Đến gặp vị thiền sư mà được vị thiền sư khai ngộ, cái vị đó trong chớp mắt thay đổi tâm hồn mình. Thay đổi tâm hồn là thay đổi suy nghĩ, thay đổi cái mình nhìn thấy, thì trong Thiền tông gọi là người kiến tánh hay đốn ngộ. Vào thời Đức Phật, người này hốt nhiên chứng Tu Đà Hoàn và từ thời điểm đó, Phật gọi người này là vào dòng thánh và cũng kể từ giờ phút đó người đó mới được gọi là sẽ đi tới đích giác ngộ. Còn nếu chưa phải có cái giây phút đó thì ta nhớ một điều giùm: Chưa chắc, nha. Ta nhớ cái câu thần chú "chưa chắc" mà tu. Vậy đó mà nó cẩn thận, đi đúng đường hơn, đừng chủ quan. Cái cái một bậc Tu Đà Hoàn hay một bậc bất ngờ khai ngộ
[22:03]thì ta vừa nói họ thay đổi tâm hồn, trạng thái tâm hồn thay đổi, trạng thái tâm linh thay đổi và họ thấy một điều mới lạ hơn chúng ta. Thấy một điều mới lạ hơn chúng ta. Ví dụ như bây giờ, khi mà ta ta cầm cái cành hoa lên ta hỏi nhau: "Cái này cái gì?", cái nói: "Dạ, cái này hoa đỏ." Hoa đỏ là cái nhìn của ta khi ta chưa chứng Tu Đà Hoàn. Nhưng mà nếu một bậc đốn ngộ, họ nhìn lên cái này họ thấy cái gì đó mà ta không thấy. Cái gì? Kiếm mấy ông thiền sư hỏi, chúng tôi không biết, vì mình chưa ngộ á nên mình không biết. Hỏi thầy Trí Minh đây thử, hỏi thầy Trí Hải á. Coi mấy thầy có ngộ rồi mấy thầy biết, mấy thầy thấy gì.
[22:44]Còn chúng tôi chưa ngộ nên không thấy, ha. Nhưng mà họ thấy cái không phải mình thấy. Hỏi nói nói: "Ủa, vậy thầy ngộ đạo rồi thầy thấy cái gì? Thấy có cái cành hoa chứ thầy thấy cái gì?". Thì ổng lại ổng cú đầu mình cái, ổng cũng không giải thích, mình cũng chẳng hiểu cú đầu là cái gì. Nhưng mà đừng hỏi nhiều quá ổng cú đầu, mà hỏi nữa ổng lấy cây ổng đập á. Còn không bậm miệng mình lại. Nó là cái gì? Đó, nên ráng tu cho tới cái đó. Hoặc là ví dụ như bây giờ mưa rơi, thì mình nhìn thấy mưa rơi rả rích, cái mình nhớ cái bài bài nhạc mưa rừng ơi mưa rừng rồi ví dụ vậy phải không? Nhưng mà một thiền sư họ nhìn thấy mưa rơi, họ thấy cái khác.
[23:23]Họ thấy khác, không phải thấy cái mưa giống mình. Vậy họ thấy mưa làm sao? Phải hỏi thầy Trí Hải, trưởng tử của Hòa thượng Đắc Pháp ở đây. Họ thấy cái gì đó mà mình không thấy, vậy thì những người mà thấy cái mình không thấy đó, thì người đó tu sẽ có ngày tới đích. Còn mình chưa à. Mình tu thì cứ tu nha, tinh tấn cứ tinh tấn, mọi công đức cứ làm, đừng bao giờ nghĩ trong đầu mình sẽ chứng thì là mình suy nghĩ đúng. Còn hễ mình tu cái mình nghĩ mình sẽ chứng, cái suy nghĩ đó sai. Chỉ bậc bắt đầu Tu Đà Hoàn, bắt đầu kiến tánh thì người đó sẽ có ngày chứng. Đó là điều chắc chắn bởi vì Phật ấn chứng như
[24:04]vậy, Phật tuyên bố như vậy, không thể sai. Mà cái các ngài thấy cái gì kể từ giây phút các ngài đốn ngộ đó thì nhiều thứ lắm, nhiều thứ lắm. Nhưng trong đó có một điều mà kinh Nguyên thủy hay nói là điều này: Cái gì có sinh thì có diệt. Cái gì có sinh thì có diệt, cái gì có bắt đầu thì sẽ có chấm dứt. Các ngài thấy cái đó, mình có thấy cái đó chưa ạ? Mình có thấy cái đó chưa ạ? Ví dụ như bây giờ ta nhìn cái hoa này, cái hoa này thì nhiều cái để thấy lắm. Ví dụ như là mình nhìn bình thường thì mình thấy cái cành hoa đỏ đẹp, có ai bịt miếng cái ni lông dưới cành này nọ, đại khái là như vậy, mình thấy như vậy.
[24:52]Nhưng mà nếu một người nhìn bằng con mắt đạo thì nhiều thứ để thấy, nhiều thứ để thấy khác hơn chúng ta. Con mắt phàm mình thì thấy cành hoa đỏ, nhưng một bậc thánh nhìn vô, họ thấy nhiều điều kèm theo, nhiều điều đính kèm. Trong một điều đính kèm mà nói: Tự nhiên họ không bị bám vào cái họ thấy, nên họ thoát ra khỏi cái họ thấy và họ thấy cành hoa sẽ tàn. Cái thấy đính kèm theo. Còn ta ngưng ngang cành hoa đỏ đẹp cái ta ngừng lại, bắt đầu ta làm thơ. Còn họ nhìn cành hoa đỏ, họ thấy luôn giây phút nó sẽ tàn hoại, sẽ úa tàn. Thôi thôi không nói nữa, để thầy Trí Hải thầy sẽ nói, thầy Trí Minh đó, lát thầy giải thích nha, thấy gì đó rồi nói Phật tử nghe.
[25:44]Thì từ giây phút đó, họ nhìn thấy cái khác, thân tâm có thay đổi, cuộc sống thay đổi. Và người đó Phật gọi là sẽ chắc chắn đi tới giác ngộ. Còn chúng ta chưa nha, nhớ giùm. Nên hai cái ý nghĩ khác nhau ở chỗ này chúng ta xác định lại ngày hôm nay. Cùng là tu, nhưng có người sẽ chắc chắn đi tới đích giác ngộ vì người đó đã chứng Tu Đà Hoàn. Cùng là tu, nhưng có rất nhiều người chưa chắc đi tới đích giác ngộ vì chưa phải Tu Đà Hoàn. Đó, và hôm nay ta cần nhận ra điều đó để đừng chủ quan, đừng ảo tưởng, đừng kiêu mạn. Để chi? Để ta biết khiêm tốn, biết cẩn thận là như vậy. Nói lý do gì một bậc Tu Đà Hoàn,
[26:40]một bậc kiến đạo thì chắc chắn sẽ tới cái đích giác ngộ? Đây là những phẩm chất đây. Ngoài cái thiền ngữ, ngoài cái thấy của thiền thôi chúng ta không bàn, bây giờ chúng ta nói về những phẩm chất của một bậc Tu Đà Hoàn. Một bậc Tu Đà Hoàn, cái sự tu hành của họ là kiên định phi thường. Nhắc lại, một bậc Tu Đà Hoàn, kể từ lúc mà họ đốn ngộ thì đối với lý tưởng tu hành, họ là kiên định phi thường. Nhớ giùm cái chữ kiên định phi thường. Nghĩa là lập trường tu hành này rồi, đừng hòng ai có thể làm lung lay. Nếu phải chết thì chết, nếu ai giết cứ giết, nha, không điều gì có thể làm họ rung sợ, lung lay và bỏ cuộc.
[27:28]Và cũng vậy, đừng hòng có một cái điều gì cám dỗ ở trần gian mà làm cho họ mất đi một giây hướng về sự tu hành. Đây cái khác của một bậc Tu Đà Hoàn với chúng ta là như vậy. Chúng ta, sự kiên định là không phi thường, lý tưởng tu hành còn có thể lung lay.
[27:54]Như hôm nay vậy, ví dụ như chúng ta đến đây trong buổi lễ thế này, chúng ta tưởng nhớ ngài, rồi chúng ta hướng về Phật, về Tổ, và lúc khung cảnh ngồi ở đây, ta cảm thấy mình có vẻ là kiên tâm tu tập lắm. Chúng ta cảm thấy giống như mình đang hướng tâm về đạo vô thượng lắm, phải không ạ? Nhưng mà bước ra khỏi chùa một cái chuyện gì xảy ra? Dòng đời cuốn chúng ta liền. Cơm, áo, gạo, tiền, bao nhiêu điều lo toan, tất bật, rồi thậm chí mấy cái người mà trẻ trẻ, mấy người trẻ trẻ ở đây, nói: "Anh mà đi chùa nữa em bỏ anh à.", cái thôi đành phải nghỉ chùa, nhắn tin thầy thông cảm, giờ người yêu con hăm bỏ con nên con và
[28:35]thầy phải chia tay vì con không muốn chia tay người yêu. Bị một cái là một sự cám dỗ, sự hăm dọa, hoặc người khác nói: "Anh mà đi chùa nữa, tôi cho anh nghỉ chức.", thế mình bỏ chùa liền. "Ví dụ bây giờ anh đang làm việc chỗ tôi ha, vì cái công ty tôi đang làm ăn thế này, anh giữ cái chức là phó giám đốc điều hành thế này, mà tôi thấy anh đi chùa nhiều quá, bộ không được rồi nha, anh mất thì giờ. Công ty này phải chuyên tâm lo, tôi kỳ hạn anh mà tôi còn nghe nói anh, có người nói anh đi chùa nữa là tôi bãi chức anh.", thế là mình sao? Mình đành phải bỏ chùa. Như vậy mình còn kiên định không ạ?
[29:10]Không, không kiên định. Hoặc là bây giờ có người bên bà con nào đó kêu mình lại, nói: "Bác thì giờ bác già, gần chết, con cái cũng không có, tụi nó ở đâu hết, thấy cháu là cái người mà mà mà mà bác cũng thương nào giờ, gia tài bác để lại thì lớn, nên bác cũng tính để lại gia tài cho cho cháu. Nhưng mà bây giờ thấy cháu đi chùa hoài, bác thì bác đạo khác, thôi thì bây giờ con bỏ đạo Phật đi, con qua đạo với bác đi thì bác để lại gia tài cho con, gia tài gồm có cái nhà này, miếng đất kia." Cái lúc đó mình sao? Thôi mình cũng đành nhắn tin thôi: "Sư phụ ơi, vì cái gia tài nên con chia tay sư phụ rồi
[29:52]sau này tính sao." Mình lung lay liền, đúng không ạ? Nếu bị đe dọa, nếu bị cám dỗ, nếu bị hứa hẹn, mời gọi, ta dám bỏ đạo liền, vì cái điều đó lớn quá. Còn một bậc Tu Đà Hoàn thì sao? Đừng hòng những chuyện đó. Các ngài rất điềm đạm, rất hiền lành, nhưng mà sự kiên cường là vô hạn. Đó là cái khác nhau giữa ta và một bậc Tu Đà Hoàn. Nên chính vì cái sự kiên định phi thường đó, chính vì cái phẩm chất đặc biệt đó, nó thành một cái nhân mà nó phải ra một cái quả, đó là gì? Chắc chắn được chứng ngộ giải thoát. Vì sự kiên định phi thường. Còn chúng ta, tại sao thầy nói tui tu không chứng? Chỉ bởi vì coi vậy chớ ta không có kiên định.
[30:41]Khi ta gặp phải một trở ngại, khi ta gặp một cái cám dỗ, gặp một cái gì hứa hẹn, ta lúc ngay khoảnh khắc đó, chưa đừng nói tới 10 năm, 10 tháng, ngay đúng khoảnh khắc đó ta lung lay liền. Ta nghĩ thôi, tạm thời mình nghỉ tu chút, bỏ thầy một chút xíu để mình hưởng cái này cái đã. Có không ạ? Có không? Nói thật lòng đi, có không ạ? Có! Đó, đó chính là cái mà ta thua một bậc Tu Đà Hoàn. Và đó là lý do ta tạo phước rồi hưởng, tạo phước rồi hưởng, không có thăng tiến được tới tột cùng của sự chứng ngộ là vậy. Còn một bậc Tu Đà Hoàn rồi, cái phẩm hạnh đầu tiên của một vị đó là sự kiên định phi thường trong lý tưởng tu tập. Ta không có chuyện đó.
[31:27]Nên người nào nhìn lại mình, mà nếu cảm thấy mình có sự kiên định phi thường, có hăm dọa, có đánh, có giết, có mời gọi, có dụ dỗ, không bao giờ một sát na nhỏ mà ta buông bỏ cái lý tưởng tu hành của mình, thì coi chừng mình cũng Tu Đà Hoàn rồi. Coi chừng mình có được phẩm chất của Tu Đà Hoàn. Bởi vì bậc Tu Đà Hoàn là bậc lập trường tu tập, lý tưởng tu hành kiên định phi thường như vậy. Nhớ vậy, cho nên chúng ta nhìn lại mình ở điểm này một chút, nha. Và cái người mà Tu Đà Hoàn á, thì họ cũng chưa chứng liền. Khổ cái họ cũng chưa chứng liền. Bắt đầu cũng nhiều kiếp, à, có khi họ lên cõi trời, xuống cõi người, thậm chí có những lúc làm vua,
[32:14]có khi xuống lại trở người bình thường, mà chỉ có một điều không bao giờ đọa ba ác đạo thôi. Mà người Tu-đà-hoàn họ chưa có thần thông. Họ giống như mình nên mình nhìn không biết. Cái khổ cho chúng ta là chúng ta không biết ai là một bậc Tu-đà-hoàn ở giữa cuộc đời này. Mà thật sự có nhiều vị Tu-đà-hoàn từ những thời mấy ngàn năm xưa họ trở lại đây. Và có những người họ trở lại đây, đôi khi họ cũng chỉ là một cư sĩ. Nhưng mà cư sĩ đó cái sự tu hành, cái lập trường tu hành rất là đặc biệt. Và phần nhiều các vị Tu-đà-hoàn khi trở lại đều là người xuất gia, hầu hết là người xuất gia. Và những người xuất gia đó chắc chắn là một điều đó là những bậc tôn đức
[33:01]lớn, những bậc đạo cao đức trọng, những bậc mà khi đi qua trần gian này, khi rời khỏi trần gian này để lại dấu ấn rất là mạnh trong tâm khảm của chúng ta, để lại sự thương nhớ rất là sâu đậm trong tâm hồn của chúng ta. Đó là cái dấu hiệu của bậc Tu-đà-hoàn. Họ còn phải đi trở lại rất nhiều lần, chứ không phải là chứng liền. Chắc chắn sẽ chứng, nhưng không phải là rẹt một cái đi lên từ từ chứng luôn, mà cứ đi lên đi xuống, đi lên đi xuống, nhưng chắc chắn phải chứng. Cái đi lên đi xuống là có khi lên tới cõi trời rồi vẫn xuống lại cõi người. Có khi đi lên tới ngôi vị rất cao trong nhân gian này,
[33:38]và cũng có khi xuất hiện ở một thân phận cũng bình thường như mọi người. Chỉ có một điều là những phẩm chất trong tâm hồn của người đó đáng làm thầy của mình. Khi nếu vô tình trong cuộc đời này có một lần nào đó mình gặp một bậc Tu-đà-hoàn, mình sẽ tự nhiên mình có cái sự kính mến. Vì sao? Vì đời sống họ có gì đặc biệt, tâm hồn họ có cái gì đặc biệt, và những lời nói họ nói ra nó đều sâu sắc, có giá trị, có đạo lý, đáng để cho mình học hỏi. Đó là bậc Tu-đà-hoàn, mà nhiều khi vị đó cũng chẳng biết mình là Tu-đà-hoàn đâu. Nhớ như vậy. Cái người nào mà trong kiếp đó chứng thì mới biết mình bắt đầu bước vào một dòng Thánh, bắt đầu hết nghi ngờ. Hết nghi ngờ.
[34:23]Nghĩa là cái người nào mà ví dụ mình đang tu sinh ra kiếp này rồi ngay kiếp này mình chứng Tu-đà-hoàn thì mình biết mình chứng, vì lúc đó hết nghi ngờ. Thân tâm thay đổi, nhãn quan thay đổi, sự tỉnh giác hiện ra, biết rõ mình là Tu-đà-hoàn, là một bậc kiến đạo, trong nhà thiền gọi là một bậc kiến tánh thì họ biết rõ. Nhưng bắt đầu cái hành trình của những kiếp sau mới vất vả. Khi lên cao khi xuống thấp, lên cao xuống thấp để mà hoàn chỉnh những công hạnh của mình, nhiều khi vị đó quên. Vị đó không biết mình đã từng chứng. Chỉ có một điều vị đó biết rõ ràng là có chết không bao giờ rời bỏ lập trường tu hành.
[35:00]Chỉ có một điều vị đó biết điều đó thôi, chỉ còn ghi nhớ điều đó để đi thôi, chứ còn nhiều việc khác quên mất rồi. Nhưng những cái phẩm chất của vị đó đi thì cực kỳ đặc biệt. Ví dụ như ngày xưa vậy, khi gặp Hòa thượng ở đây vậy thì tất cả mọi người huynh đệ chúng tôi đều nói một câu thế này: "Thầy Đắc Pháp chắc chắn là người trên cõi trời xuống." Và ai cũng yên tâm với câu nói đó, và ai cũng chấp nhận một cách hoan hỷ vui vẻ vì Thầy hội tụ nhiều cái yếu tố mà hơn người quá. Ví dụ nội thân tướng hơn người, cao to hơn người, cái sự đường bệ đĩnh đạc hơn người, cái đạo hạnh hơn người, và cái duyên tu hành hơn người.
[35:49]Cái sự tu chứng của ngài thì đúng là ta không biết vì ngài kín đáo quá. Chỉ có cái điều là cái lời dạy của ngài, từng lời dạy nho nhỏ đều khế hợp với lời của Phật, với lời của Tổ. Và vì vậy, chúng ta tin chắc rằng là cái tâm linh chứng ngộ của ngài chắc chắn là có một cái quả vị gì đặc biệt, chỉ có điều ngài không nói thôi. Với con người đó, với cái đời sống như thế, với cái lời dạy như thế, chắc chắn ngài là người ở trong vị Thánh. Nhưng mà vị Thánh nào thì mình không biết, tại nếu mình biết mình cũng bằng ngài mất tiêu rồi, phải không ạ? Nên chỉ đoán thôi, và mình kính ngưỡng vô cùng. Và chỉ biết rằng như nhiều bậc Tu-đà-hoàn đã trở lại với cuộc đời,
[36:37]rời khỏi cuộc đời đều để lại dấu ấn trong tâm hồn chúng ta, thì ngài ở đây cũng vậy. Ngài đã đến với cuộc đời, một đời hành đạo rồi rời khỏi cuộc đời và để lại trong lòng ta biết bao nhiêu niềm thương nhớ kính yêu. Cho nên ít nhất ông Thầy mình ở đây Tu-đà-hoàn trở lên. Có ai không tin thì giơ tay phản đối. Còn nếu tin, cho một tràng pháo tay. Chúng ta nhớ một điều thế này: là trong ngàn kiếp tu hành đó, sự khác nhau giữa một bậc Tu-đà-hoàn và chưa phải Tu-đà-hoàn là điểm này. Chúng ta để ý kỹ để coi chừng mình bị mà mình sửa lại cho đi cho đúng. Cả hai người cùng phát tâm tu: một người là Tu-đà-hoàn và một người chưa phải Tu-đà-hoàn.
[37:26]Một người Tu-đà-hoàn cũng phải làm phước rất nhiều, và một người chưa phải Tu-đà-hoàn cũng phải làm phước rất nhiều. Vì hễ tu rồi là phải làm phước, đúng không ạ? Hễ tu rồi là phải làm phước chứ không có chuyện không làm phước. Quét cái sân chùa cũng làm phước, vào dọn cái nhà vệ sinh cũng làm phước, đem ít gạo cúng chùa cũng làm làm phước, bưng dọn hành đường nấu cơm cũng làm phước, vân vân. Nghĩa là ai tu rồi cũng phải làm phước. Nhưng mà một bậc Tu-đà-hoàn á, làm rồi có hưởng chứ không phải không hưởng đâu, vì nhân quả nó bắt buộc phải hưởng. Nhưng mà các ngài hưởng nhưng mà ngài không hưởng hết.
[38:03]Bị lý tưởng tu hành nó cứ thôi thúc, thôi thúc để mà hồi hướng nó đi về cái sự giải thoát viên mãn. Còn ta đó, ta chưa phải Tu-đà-hoàn á, khi mà phước tới đó, cái kiên định tu hành của ta không đủ, cái ta bị hưởng hết. Cái khác nhau giữa một bậc Tu-đà-hoàn và không Tu-đà-hoàn là: người thì hưởng hết sạch phước và người hưởng không hết để tu tiếp, để dành mà hồi hướng về sự giác ngộ tuyệt đối. Hai cái chỗ đó khác nhau. Nên bây giờ chúng ta nhìn lại tâm mình chỗ này. Ví dụ bây giờ tưởng tượng chúng ta có tiền để cất một cái biệt thự,
[38:45]ta có thể cất năm cái biệt thự thì mình có cất không? Có cất không? Nếu mình nghĩ cất cái nho nhỏ ở được rồi, còn nhiêu để làm phước tu thì coi chừng mình Tu-đà-hoàn á. Tại mình không bị thôi thúc bởi cái hưởng cho hết. Còn cái người mà vừa thấy mình có cái số tiền có thể làm được cái nhà to để sống cho sướng làm làm hết, coi chừng mình không phải Tu-đà-hoàn. Có một lần vậy, chúng tôi gặp người Phật tử vậy, sau khi làm ăn khá giả rồi cất một cái nhà to, đẹp, mời chúng tôi tới để để giống như ăn tân gia. Sau khi bước vô cái nhà xong cái bắt đầu lòng lo. Lo vì cảm nhận cái người này ráng hưởng phước.
[39:35]Mà hễ ráng hưởng cho tận hưởng hết phước mình thì không phải Tu-đà-hoàn. Mà không phải Tu-đà-hoàn rồi khốn đốn á, khi lên khi xuống á, mà xuống có khi xuống tuột luôn tới ba ác đạo. Đó cái khác nhau. Còn một bậc Tu-đà-hoàn á, do cứ bị lý tưởng tu hành thôi thúc cho nên các vị đó không hưởng hết phước. Đôi khi có hưởng rồi có xuống, nhưng mà không tuột xa, không tuột sâu, không rơi vào ba ác đạo, lúc nào cũng giữ thân người để để tiến tới trước. Đó là cái khác nhau. Cái khác nữa là thế này: cả Tu-đà-hoàn và cả người chưa Tu-đà-hoàn có lúc phạm tội,
[40:14]cũng có lúc tạo nghiệp. Bởi vì Tu-đà-hoàn gần giống người thường lắm, cho nên chúng ta khó nhận ra. Ủa, nói tại sao mà Tu-đà-hoàn có tạo nghiệp? Chỉ bởi vì các vị chưa có thần thông. Nhớ: một vị Tu-đà-hoàn chưa có thần thông. Vị Tu-đà-hoàn chưa thể biết quá khứ, vị lai; chưa nhìn con người có thể biết được tốt hay xấu hoàn toàn, cảm nhận phần nhỏ thôi chứ không biết hết. Do đó, có khi hiểu lầm, có khi quyết định sai, và cũng có khi kết tội oan người khác. Bậc Tu-đà-hoàn còn bị điều này. Và chính vì còn bị điều này, còn bị cái nhầm này cho nên còn nghiệp phải phải trả. Đó, bậc Tu-đà-hoàn đây là cái tội nghiệp.
[40:59]Nên ta hiểu một bậc Tu-đà-hoàn mình thương đứt ruột. Thương ở chỗ gì? Thương ở chỗ là mình biết đây là một bậc Thánh, đây là một người chân tu, đây là một người lý tưởng tu hành kiên cường, nhưng mà có những lúc cuộc đời khốn đốn, khốn đốn đọa đày không thể tưởng tượng được. Nếu mình hiểu mình thấy mình rớt nước mắt nếu mình nhìn thấy một cuộc đời của một bậc Tu-đà-hoàn chỉ vì những kiếp xưa có lúc hiểu nhầm. Mà vì sao hiểu nhầm? Vì chưa đủ thần thông, vậy thôi. Chứ còn Tư-đà-hàm trở lên là hết rồi. Tư-đà-hàm bắt đầu có thần thông, bắt đầu biết một phần quá khứ, vị lai, bắt đầu nhìn người biết một phần thiện ác tốt xấu người ta
[41:35]nên bớt nhầm, và vì bớt nhầm cho nên không có tạo nghiệp bậy. Còn Tu-đà-hoàn thì vẫn còn tạo nghiệp bậy nên còn phải trả nghiệp. Nhưng cái đặc điểm của một bậc Tu-đà-hoàn là không bao giờ đọa ác đạo, không bao giờ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu có trả nghiệp chỉ trả nghiệp ở thân thân người mà thôi. Nhưng mà rất là tội nghiệp, rất là tội nghiệp. Con người rất là tốt, rất là đạo đức, rất là lý tưởng mà có những lúc phải khốn đốn vào vào đường cùng luôn, chứ không phải là dễ. Cái khác nhau là ở chỗ đó. Còn chúng ta cũng làm bậy,
[42:10]cũng tạo nghiệp mà sẩy một cái mình đọa làm chó à, chứ không phải không đâu. Mấy con chó ở chùa đó toàn là người tu không chứ đâu phải là người thường đâu, mà bây giờ trở lại chùa làm thân làm thân chó. Nên nhìn mấy con chó đó phải hiểu mà mình phải biết sợ. Thấy nó mình ôm ấp, vỗ về: "Kina, Kina vô đây ăn cơm con." Đâu biết ông đó ngày xưa ông thầy chùa đó, rồi trở lại chùa để giữ chùa, trả nợ. Nhưng mà đã từng là người xuất gia chứ không phải không đâu, chỉ vì chưa chứng Tu-đà-hoàn. Cho nên khi mà làm bậy mà đọa, đọa tuột luôn vào ba ác đạo. Còn mà cư sĩ mà mà có thể đọa ác đạo vẫn nhiều lắm, không phải là không.
[42:55]Còn bậc Tu-đà-hoàn thì không bị điều đó. Nên ta thấy cái sự thăng trầm của nhiều kiếp tu hành vất vả không ạ? Vất vả không? Quá vất vả. Nhưng mà không thể không trải qua. Vì sao vậy? Vì từ phàm tới Thánh là cái đường đi xa quá, nên phải vất vả như vậy mới đi tới. Từ cái trầm luân sinh tử mà tới cái giác ngộ giải thoát xa quá, đường đi phải vất vả như vậy chứ không có thể ngắn được. Ta phải chuẩn bị cái tâm thế đó. Đó là lý do mà hôm nay ta nói với nhau cái tựa đề cái bài là "Ngàn kiếp tu hành" là vậy, để ta chuẩn bị cái tinh thần của mình, tâm hồn của mình như vậy. Người Tu-đà-hoàn có cái phẩm chất thế này:
[43:39]là yêu lẽ phải.
[43:43]Còn ta yêu yêu gì?
[43:48]Ta yêu cái gì? Ta yêu tùm lum à, yêu tào lao à. Phải không? Ừ. Ta yêu danh, yêu lợi, yêu tiền, yêu... yêu em nữa. Khổ ghê. Ta yêu nhiều thứ quá. Ta yêu nhiều thứ quá. Còn người bậc Tu-đà-hoàn, cái ái chưa hết. Tại vì tới A-na-hàm, tam quả ái mới hết. Bậc Tu-đà-hoàn ái chưa hết, nhưng mà cái mãnh liệt trong lòng họ là yêu lẽ phải. Cái yêu lẽ phải đó nó cao hơn mọi thứ khác nếu đem ra cân. À. Ví dụ bây giờ, nói thế này: ví dụ như đây là một ông Tu-đà-hoàn, ha. Thì ông là người cư sĩ nên ông có gia đình, có vợ, có con. Nhưng mà trong tâm ông chứng Tu-đà-hoàn rồi. Cái à ông có vợ, và người vợ đó là người vợ đẹp, hiền, à đàng hoàng.
[44:48]Nên ông cũng yêu vợ không? Yêu vợ. Đây là con, à ngoan, đại khái mọi cái tốt đẹp. Rồi có một lần, có một lần vợ ông với người hàng xóm gây lộn. Với người hàng xóm gây lộn. Thì ông đi làm về ông nghe. Ông nghe ông mới hỏi sự tình. Thì khi hỏi sự tình ra đó thì ông biết vợ ông có lỗi, chứ không phải của người hàng xóm. Nhưng mà vợ ông thì ráng cãi cho bằng được. Thì sau khi mà biết rằng vợ mình có lỗi rồi thì ta nhớ, bậc Tu-đà-hoàn và không Tu-đà-hoàn xử lý khác nhau chỗ này: một người không phải Tu-đà-hoàn thì quyết bênh ai? Bênh bênh vợ. Bởi vì nhất vợ nhì trời, nó vậy. Cho nên phải bênh vợ cho bằng được, tại ông này ông chưa Tu-đà-hoàn.
[45:38]Còn cái ông Tu-đà-hoàn, sau khi nghe xong mà biết vợ mình có lỗi thì xin lỗi hàng xóm, phải không? Kêu vợ vô rầy. Vì vì sao? Vì một bậc Tu-đà-hoàn yêu lẽ phải hơn mọi điều khác trên đời này. Cái khác nhau như vậy. À cái cái yêu lẽ phải của họ kỳ lạ. Cho nên một người mà Tu-đà-hoàn á, nhiều khi họ thích nghe đạo lý, thích tụng kinh, thích đọc sách thánh hiền. Vì sao? Vì họ hạnh phúc trong những đạo lý đó. Còn ta thì ta hạnh phúc trong cái gì? Ta hạnh phúc trong những trò giải trí, ha. Ca, nhạc, phim, game, nhậu nhẹt, ăn, làm tào lao vậy, ta hạnh phúc trong những điều, ta vui trong những điều tào lao đó.
[46:23]Còn một bậc Tu-đà-hoàn, họ vui trong đạo lý. Đó là lý do hễ nghe đâu có đạo lý, họ tìm tới để nghe. Vì đó là giây phút mà họ được sống sống an vui, hạnh phúc. Còn ta mà nghe đâu mà tụng kinh, giảng pháp thì sao? Buồn lắm, kiếm chỗ khác chơi. Đó. Trong cái ngàn kiếp tu hành này ta nhớ một điều, ta nhớ giùm cái chữ là "chưa chắc ăn". Bởi vì cái chữ "chưa chắc ăn" phải là một câu thần chú mình ráng đọc cho thuộc lòng. Chú thì có nhiều cái Án, phải không? "Án ma ni bát di hồng", "Án lam", Án gì... phải thêm một cái "Án chưa chắc ăn" giùm. Vì chi vậy? Để phòng lúc mình sinh lên cõi trời. Ví dụ lỡ như kiếp này mình làm được nhiều công đức lành
[47:11]quá, à mình kính Phật, trọng tăng, làm đường, bắc cầu, giúp người nghèo, à thương yêu những người cơ nhỡ, mình làm được nhiều việc phước quá, biết tu hành, biết tới chùa tụng kinh, lễ Phật, ngồi thiền, biết hết. Chết cái mình lên cõi trời. Tự nhiên khi từ bỏ cái thân này, hương thơm ngào ngạt, ánh sáng hào quang chiếu ra, chư thiên đón tiếp mình. Thần thức mình rời khỏi xác là chư thiên đưa mình lên cõi trời, trở thành một vị thiên tử hay một thiên nữ. Lúc đó mình, một ý nghĩ nó khởi lên trong đầu mình là gì? Ngon rồi. Lên cõi trời ngon rồi. Thì xin thưa, nhớ ngày đại tường của Hòa thượng Đắc Pháp
[47:53]hôm nay, chúng ta nói với nhau câu thần chú gì? Án gì? "Án chưa chắc ăn". Nhớ giùm câu đó nha, "Án chưa chắc ăn". Lên cõi trời rồi vẫn chưa chắc ăn chút nào. Nhớ giùm câu đó, chưa chắc ăn chút nào. Còn rớt xuống lại á. Lên đó rồi hưởng hết phước cõi trời rơi xuống lại, có khi 100 năm rơi xuống, có khi 500 năm rơi xuống, có người 5.000 năm rồi vẫn phải rơi xuống khi hưởng hết phước mà không thể thăng tiến lên được. Nên chưa chắc ăn. Nói bây giờ thôi con không cần lên cõi trời. "Thưa thầy, con ngồi con nhập được thiền." Nói nhập được thiền sao? "Con ngồi con bất động, tâm không động, không vọng tưởng ba tiếng đồng hồ." Thì như vậy chắc ăn chưa? Chắc ăn chưa ạ?
[48:34]Chưa. Có người nói: "Dạ, con ngồi ba ngày." Chắc ăn chưa? Giỏi. Giỏi. Thật sự là như vậy, chứng thiền vẫn chưa chắc ăn. Vì có một lần thì chúng tôi gặp một vị sư, nói khi chưa gặp á thì được một Hòa thượng giới thiệu, nói vị sư đó ngồi nhập định bất động sáu ngày đêm. Thì chúng tôi cũng lòng cũng mong được gặp. Có một vị mà cao tăng đến như vậy, đạo lực đến như vậy thì thật là đáng kính. Hôm đó cũng trong một cái đám giỗ, trong cái đám giỗ của một vị Hòa thượng lớn, thì vô tình cái khi đến ngồi thì thì chúng tôi ngồi cạnh cái vị sư đó. À ngồi cạnh cái nghe nói: "À, vị sư đó hả?", cái mình quay qua chắp tay chào mình
[49:18]cũng kính trọng rồi mình hỏi, hỏi thăm vài điều. Nhưng mà khi hỏi thăm vài điều thì lại thấy nó không hiện rõ cái phẩm chất Tu-đà-hoàn. Lạ như vậy. Ngồi nhập định sáu ngày đêm mà không hiện ra được phẩm chất Tu-đà-hoàn. Nên trong lòng cứ ngờ ngợ hoài, nói sao kỳ, thì thôi không dám nói, không dám thắc mắc. Thôi đành về, thì thôi cũng ít gặp. Bảy năm sau mới đi tìm lại vị sư đó mà không nghe tiếng nữa. Mới đi hỏi lại cái vị sư đó đâu rồi đâu rồi, tại nghĩ là với như vậy là là đặc biệt lắm. Nói: "Dạ, ổng hoàn tục lấy vợ." Rất là uổng, rất là uổng. Người tu được tới mức độ mà ngồi nhập định được sáu ngày mà rồi hoàn tục lấy vợ.
[50:07]Uổng, bởi vì sao? Bởi vì vị sư đó quên cái câu thần chú "Án, Án... Án chưa chắc ăn", quên cái câu đó.
[50:23]Ngày xưa vậy, chúng tôi hay kể câu chuyện trong cái chùa đó, trong cái thiền viện vậy, có một vị tăng ngồi nhập định được ba ngày, cả chúng rất là kính phục, mới báo với ông tri sự. Cái ông tri sự ổng mới nói: "Đâu, ngài nói một chuyển ngữ coi tôi nghe." Ông kia im lặng không nói, đứng im lặng không nói, quay vô trong cái đơn mình ngồi nhập định bỏ thân luôn. Sau đó làm lễ thiêu ra được một tô xá lợi.
[50:58]Tô để lên trên bàn thờ thờ. Để cái tên bài vị với cái để cái tô xá lợi ổng thờ, coi như người đắc đạo. Nhưng mà ông tri sự lại, ổng cầm cái gậy ổng gõ vô cái tô xá lợi, gõ cốp cốp cốp vậy. Ổng nói: "Bây giờ dù ngài có làm ra được mà mười cái đấu xá lợi này, cũng không bằng lúc mà tôi hỏi ngài một chuyển ngữ, ngài trả lời cho đúng giùm tôi." Thì ra ông tri sự mới là người chứng thánh. Ông tri sự mới chắc ăn, tức là ổng chứng Tu-đà-hoàn, ổng kiến tánh thật sự, ổng là người có thể đi tới đích được, ổng thấy rõ. Còn ông kia nhập được định ba ngày mà chưa chắc ăn. Nhập được định ba ngày, có khả năng ngồi thiền bỏ thân tự tại
[51:39]và thiêu ra có xá lợi, nhưng mà chưa phải là người kiến đạo. Ghê chưa? Nó lạ lùng vậy đó. Bởi vậy trong việc tu hành dễ hay khó? Khó vô cùng nha. Khi ta nói được việc tu hành là khó là ta bắt đầu có chánh kiến thêm được một chút. Còn ai mà nói tu hành dễ là người đó tà kiến nha. Người ta nhớ như vậy, nhớ giùm cái chữ "chưa chắc ăn". Chứng được cái này, chứng được cái kia rồi vẫn chưa chắc ăn. Trong kinh Lăng Nghiêm có nói về ngũ ấm ma, là có những người tu thiền đắc được thần thông, phải không ạ? Đắc thần thông xong rồi lạc vào đường ma. Kinh Lăng Nghiêm nói rõ ràng. Cho nên nếu mà mình tu, bắt đầu mình tâm mình yên
[52:23]và mình biết được quá khứ, vị lai, nhìn con người biết hết người ta, biết hết tâm hồn người ta suy nghĩ hoài. Thậm chí sống trên đời, ví dụ mình đi trên đường bình thường mình chả để ý ai, nhưng mà mình một người nào vừa đi qua mặt mình một cái mình biết hết cuộc đời người đó luôn. Biết người đó suy nghĩ cái gì, tâm tính làm sao, sống ở nhà cư xử với mọi người thế nào, thấy biết hết. Nhưng sao? Có chắc ăn chưa ạ? Không. Nhích chút xíu là lọt vào ngũ ấm ma liền, không chắc ăn chút nào. Vì vậy mà những bậc mà chân sư có thần thông họ đều kín như kín như bưng, kín như bưng, vậy đó. Nói không đâu xa, nói như Hòa thượng Tôn sư ở ở Thường
[53:04]Chiếu chúng ta, Trúc Lâm mà Hòa thượng Tôn sư vậy. Nay thì Hòa thượng rất là già yếu. Rồi chúng tôi theo ngài từ khi còn trẻ, còn nhỏ vậy. Nhiều điều ngài nói nói vào trong thẳm sâu tâm hồn của mình, nhưng mà lúc nào cũng rất là kín đáo. Có những người mà họ hiểu rồi kín như bưng, vậy đó. Ta thấy rằng trong bao nhiêu cái sự mà trở ngại trong ngàn kiếp tu hành mà khiến ta cứ thăng trầm, trôi lạc mãi, trong đó có một lý do này: lý do sự kiêu mạn, sự kiêu kỳ. Đây là trở ngại lớn nhất đó. Bao nhiêu cái trở ngại khác chứ không bằng, không quan trọng, không quan trọng bằng cái kiêu mạn. Ví dụ như con người đời đó làm phước,
[53:49]dốc tiền dốc bạc ra xây chùa, à dốc tiền ra cúng chư Tăng, dốc tiền ra đắp đường, bắc cầu, làm bao nhiêu việc từ thiện lớn. Tức là đời trước nữa cũng có phước rồi, đời này mới giàu, mà đời này giàu rồi lại dốc hết để đi làm phước nữa thì kiếp sau làm sao? Hơn nữa, kiếp sau làm vua. Phước làm nhiều quá. Kiếp sau có khi lên cõi Trời, rời cõi Trời xuống trần gian làm vua, tức là phước lớn đến như vậy. Mà khi làm vua thì sao? Thì nó có cái ác của cái thế gian này làm vua bắt phải hưởng. Cái ác của thế gian là vậy, đáng lẽ ổng làm vua để cho ổng tu giùm, thấy không? Cho dân nhờ, thấy ổng làm vua rồi bắt bưng cho
[54:31]ổng ít nhất hai trăm hầu thiếp, thấy không ạ? Bắt ổng phải sống trong nhà sang trọng, bắt ổng một bữa ăn ổng phải ăn đúng ba chục món. À là khi mà ổng đi tắm thì phải có người hầu bưng, hâm, lau, đủ thứ nghĩa là bắt ổng hưởng, mà ổng hết sạch phước kiếp đó luôn. Hưởng lên cõi Trời một mớ rồi, xuống làm vua hưởng một mớ rồi, ba hết luôn cái trở lại làm người bình thường. Thì tưởng người bình thường thì thôi, tùy theo nó yên không? Không yên lại chỗ gì? Chỗ là phước thì hết mà tâm kiêu kỳ thì còn. Chết là chết cái đó. Ta không sợ hết phước, ta không sợ nghèo, ta không sợ khổ mà ta sợ nhất là cái tâm gì?
[55:13]Kiêu kiêu mạn. Tâm đó mới giết chết cuộc đời của ta, phá hết sạch công đức lành của ta làm trong nhiều kiếp. Mà chính cái tâm đó mới xúi ta làm vô số điều bậy bạ để tạo nghiệp không không thể tưởng tượng được. Nên cái bậc Tu-đà-hoàn là bậc chiến đấu với cái kiêu mạn mình mãi mãi. Tu-đà-hoàn thì chưa hết kiêu mạn, tới A-na-hàm vẫn chưa hết kiêu mạn nha, tới A-la-hán mới vô ngã và hết sạch kiêu mạn. Vì vậy, một bậc Tu-đà-hoàn vẫn còn kiêu mạn, nhưng cái khác nhau giữa một bậc Tu-đà-hoàn và chúng ta ở chỗ này, chúng ta bị cái kiêu mạn đó điều khiển nên chúng ta kênh kiệu, phách lối, thấy mình hơn người, khinh người.
[55:59]Còn một bậc Tu-đà-hoàn thấy được cái sự kiêu mạn của mình và chiến đấu với nó m- hết kiếp này tới kiếp kia, cứ dằn nó xuống, kềm nó xuống, khóc lóc, sám hối, lễ bái, nhắc nhở, tự nhủ, tác ý đủ thứ để kềm cái kiêu mạn lại mà nó không hết, nhưng kềm được. Chính vì bậc Tu-đà-hoàn là một bậc biết kiềm chế cái kiêu mạn mình nên các vị không làm bậy quá đáng và không đọa không đọa quá sâu. Còn chúng ta chưa phải Tu-đà-hoàn, khi kiêu mạn khởi lên cái ta bị nó sai sử nên ta phách lối, khinh người, thấy mình hơn người, đố kỵ với người giỏi hơn mình. Những điều đó làm ta tan sạch hết mọi công đức, còn bậc Tu-đà-hoàn thì lúc nào cũng canh chừng cái tâm
[56:46]kiêu mạn của mình dù nó chưa hết, tới A-la-hán mới hết. Nên ta biết rằng xuất hiện trên cuộc đời này ai cũng có tâm kiêu mạn, nhưng mà người nhiều, người ít, cái người nhiều thì phải chiến đấu cho nhiều, người ít thì đỡ khổ hơn. Nhưng mà đặc biệt là Hòa thượng chúng ta ở đây,
[57:09]nói trong tông môn là một bậc trưởng tử, nói với tỉnh Vĩnh Long mình là Trưởng ban Trị sự, được bao nhiêu người kính trọng nhưng mà ở gần Hòa thượng đố ai thấy được Hòa thượng khởi được tâm kiêu mạn, đố ai nhìn thấy, dường như Ngài không có. Nhưng mà nếu theo định nghĩa của Phật thì phải tới A-la-hán mới hết, Ngài chắc là có lẽ cũng chưa phải A-la-hán, nhưng mà lạ một điều là Ngài hiền lành, khiêm hạ, bao dung, gần gũi, giản dị, không tìm thấy dấu vết đó. Đặc biệt của Ngài ở đây là vậy. Và chính đó là điều gì? Đó là điều mà làm cho ta ta kính yêu Ngài biết bao nhiêu. Và ta biết chắc rằng một điều thì ta cứ gọi Ngài như là một
[57:53]bậc Bồ-tát, một bậc đại sĩ, một người chắc chắn phải đi tới cái đích giác ngộ cuối cùng, chắc chắn là như vậy. Bởi vì sự chiến đấu kiềm chế với tâm kiêu mạn Ngài đã làm rất nhiều ở những kiếp trước nên kiếp này Ngài khá thuần thục, tâm hồn Ngài nhẹ nhàng, thanh thản, phải nói là như Ngài vậy ta được gọi là khiêm hạ, khiêm hạ, người ở ngôi vị cao mà đối với mọi người yêu thương, khiêm hạ. Ví dụ như có một lần quý vị à chúng tôi đến thăm Ngài thì Ngài ngồi trên cái ghế thì lúc đó có một vị Thượng tọa là phó ban Trị sự là cũng lớn lắm, vị phó ban là mình nhìn thấy cái vị phó ban đó nhìn Hòa thượng mình như là
[58:39]nhìn một ngọn núi, cái lòng kính sợ như vậy, không bao giờ dám ngồi trước mặt, không bao giờ dám ngồi ngang hàng, ngồi xa xa, ngồi thấp thấp, tuy là phó ban là cái vị trí gần Ngài mà chiêm ngưỡng Ngài như là nhìn một ngọn núi châu báu. Nhưng mà Ngài thấy ngượng Ngài ngoắc: "Đây, Thông Huyễn lại đây, ngồi tui", ngồi bên cạnh Ngài, cái ghế bên cạnh Ngài. Thì thôi lâu lâu mình được ông đại sư huynh ổng cho ngồi bên cạnh ổng lấy hên lấy hên thì mình cũng ráng ngồi để lấy hên, chứ biết chừng nào có dịp, lật đật ngồi xuống liền để lấy hên, nhưng mà ngồi đó chứ mà hiểu một điều, Ngài dung dị quá, nha, Ngài yêu thương quá,
[59:18]Ngài khiêm tốn quá, không bao giờ Ngài thấy Ngài là lớn cả. Và đó là gì? Đó là phẩm chất một bậc thánh mà Ngài đã chiến đấu với cái tâm kiêu mạn của mình đâu từ kiếp nào nên bây giờ hiện ra một con người gì đó hư vô, thanh tịnh, dung dị, nhẹ nhàng, yêu thương, từ ái.
[59:38]Nói hoài cũng không hết được cái những cái sự kính trọng của chúng ta đối với Ngài như vậy. Nên quý Phật tử nào ngày hôm nay mà về đây mà dự được cái lễ đại tường của Ngài cũng là được phước rất là lớn chứ không phải là không đâu. Nên nhớ mà ra tháp lạy Ngài cho nhiều vô để mà được hưởng phước đem về nha, là vậy.
[1:00:03]Nó có cái này, thường á theo nhân quả thì cái duyên tu hành nó hay lặp đi lặp lại và cái duyên tội lỗi nó cũng lặp đi lặp lại. Nhớ như vậy. Trong nhân quả cái khuynh hướng tự nhiên của nhân quả là như vậy. Ví dụ cái người mà đã từng xuất gia thì chạy đi chạy lại chạy tới chạy lui một hồi cũng xuất gia. À nhưng mà cái xuất gia nó thưa hay là nó dày là do cái công phu. Ví dụ cái người đó trong cái đời đó họ tu tốt thì những đời sau họ dễ trở lại làm người xuất gia nhanh hơn nhanh hơn. Còn mà mình tu mà mình tu không nhiều thì nhiều khi đời này mình xuất gia, tới 20 đời sau mình mới xuất gia lại, tức là nó thưa hơn.
[1:00:41]Đó là cái khác nhau như vậy. Nhưng nó vẫn hay lặp đi lặp lại mà cái điều tốt mà lặp đi dày hơn, sát hơn, khít hơn, có nghĩa là mình tu tốt. Còn cái việc tu hành mà nó thưa, nay kiếp này mình xuất gia, 10 kiếp sau mới xuất gia lại, 30 kiếp sau mới xuất gia lại chút xíu, tức là cái tu mình nó dở, như vậy á, ta hiểu như vậy, ừ. Cho nên bao nhiêu người ngồi cư sĩ ngồi đây chứ coi chừng kiếp xưa mình cũng từng là người từng là người xuất gia chứ không phải không đâu, cũng có đó chứ không phải không. Cái duyên tội lỗi cũng vậy, hễ ta làm điều bậy rồi qua kiếp sau cũng hay lặp lại điều đó. Nên chính vì cái mà nó hay lặp lại,
[1:01:19]cái điều bậy làm cho ta cái việc tu hành cứ hay bị gián đoạn, nên gọi là mình ngàn kiếp tu hành vất vả là như vậy. Nên sống trên đời phải cẩn thận, đừng làm điều tội lỗi, đừng làm điều ác, đừng làm điều bậy, vì lỡ làm một lần kiếp sau lặp lại. Mà cái này lần này mình làm coi chừng nó cũng là cái lặp lại của lần trước. Thôi thà kiếp này ngưng luôn để nó đừng lặp lại nữa. Và cái đó ta gọi là giữ giới, đừng làm những điều ác, đừng làm điều bậy, đừng làm điều xấu, đừng làm điều trái lương tâm thì nó không lặp lại. Còn cái điều gì đã tốt, sự tu hành à tôn kính Phật, trọng Tăng, cúng dường, cái sự trung thành,
[1:02:06]cái đạo đức, cái nhân ái cứ phải mà huân tập để cho nó lặp lại cho khít nha, kiếp này có kiếp sau có, càng ngày càng nhiều, càng ngày càng nhiều, cho tới khi ta chứng Tu-đà-hoàn rồi là ta đi luôn, là ta đi tới đích luôn, vậy, do vậy. Do đó ta phải cương quyết trước những điều xấu, điều ác, điều lỗi lầm, điều bậy bạ, đừng để nó nó nó xuất hiện trong đời mình một lần. Vì xuất hiện một lần rồi nó lặp lại, nó lặp lại nó làm cho mình đúng là đi qua ngàn kiếp tu hành vất vả, cứ lên xuống lên xuống hoài, còn một lần mình cương quyết dừng được nó, quyết dừng được nó rồi thì thoát luôn. Ví dụ như vì một lý do gì đó người ta xúi mình chửi bậy một câu, không!
[1:02:48]Trong cái thời cơ mình có thể lấn hiếp người khác để mình giành ưu thế về mình, nhưng đó là nghiệp, không! Thấy được lợi đó nhưng mà không, để chi? Để dừng nó lại luôn, kiếp sau nó đừng đừng lặp lại. Thấy một lần đó mình nổi nóng lên mình muốn chửi người ta, không, dừng lại, để chi? Nó đừng lặp lại nữa. Vì nó không phải là quả báo, quả báo thì đương nhiên rồi, nhưng mà cái ghét nhất là cái gì? Cái tội lỗi nó cứ lặp lại, cái lỗi nó hay lặp lại. Cho nên nhớ, đừng. Không phải là vì sợ quả báo đâu, quả báo thì mình chấp nhận trả, nhưng mà ghét nhất là cái nó lặp lại cái lỗi đó. Một lần mình si mê, một lần mình sân hận,
[1:03:29]một lần mình tham lam, một lần mình gian dối, được một lần là nó làm lần nữa. Còn quả báo thì đương nhiên phải trả cho công bằng rồi, nhưng mà ghét nhất là nó lặp lại. Nên vì vậy, trong ngàn kiếp tu hành mà ta phải đi qua, nhớ cứng rắn vượt qua lỗi lầm, chấm dứt nó, dừng lại nó, dù lúc đó là sao? Dù có bị cái cái tập nghiệp gì lôi kéo, ráng vượt qua để cho nó đừng đừng lặp lại như vậy. Trong cuộc đời này ta cũng sẽ gặp có những người thế này: họ thích tu lắm, thích tu hành giống như là một bậc Tu-đà-hoàn kiên định tu tập, nhưng mà nhiều khi hay đi đường tà, chọn nhầm tà sư, đi nhầm tà pháp, mà ta biết rằng sai một ly đi một một một trăm dặm.
[1:04:19]Sai một ly đi một dặm, nhớ như vậy. Bị lạc đường tà một cái là trở lại khó. Mà có nhiều người lạ vậy, có khuynh hướng gì không biết, cũng thích tu, nhưng mà lại chọn nhầm tà sư, đi nhầm tà pháp. Nên chúng ta cẩn thận, lúc nào phải khiêm tốn, đừng chủ quan, đừng nghĩ mình giỏi rồi, hiểu rồi. Lúc nào cũng phải lễ bái, tôn kính Phật, cầu Phật gia hộ cho con gặp được chân sư thiện hữu. Đừng chủ quan là mình giỏi rồi mình biết lựa ông thầy nào hay, bị lừa chết à nha. Bị lừa chết nghe, người ta đồn đồ, người ta tổ chức á, người ta rủ rê dụ dỗ, có tổ chức! Mình bị nghe lời rủ rê dụ dỗ mình đi lạc nhầm tà sư à, chứ không phải không đâu.
[1:04:59]Cho nên cứ chắc ăn nhất là phải lễ Phật, cầu Phật gia hộ, xin cho con gặp được, được chân sư.
[1:05:10]Một bậc Tu Đà Hoàn có đặc tính này nữa nè, là gom hết mọi công đức để hướng về giải thoát.
[1:05:19]Điều này cái khác của chúng ta. Ví dụ một người mà không phải Tu Đà Hoàn á thì
[1:05:26]làm nhiều việc mà không gom những việc đó đi về cái giải thoát. Nói vậy nghĩa là sao? Ví dụ thế này: Ví dụ bây giờ ta biết làm phước, ta gặp cái người khổ, nói: "Sao anh lại ngồi đây khổ vậy?", nói: "Dạ, nhà hết gạo rồi, bây giờ không biết mượn ai xin ai." Cái mình thấy thì mình tội quá, cái mình thôi tôi cho anh ít tiền anh đi mua gạo, hoặc là trên xe tôi có ít gạo bánh đây, tôi đưa cho anh. Thì đó là làm phước tốt không ạ? Tốt, phải không? Nhưng mà tốt kiểu của một bậc chưa phải Tu Đà Hoàn. Còn một bậc Tu Đà Hoàn mà khi gặp cái người như vậy, hỏi: "Anh sao khổ vậy?", nói: "Dạ, bây giờ hết gạo hết cơm rồi khổ quá",
[1:06:00]thì cái người đó cũng đem cái bọc gạo hay tiền cho, nhưng mà miệng nói thêm câu này: "Anh ráng làm phước tu hành nha. Anh ráng tới chùa Sơn Thắng gặp quý thầy tu nha. Tôi cầu nguyện cho anh được thoát khổ." Đó là miệng nói, nhưng trong tâm bí mật cầu nguyện cho người này một ngày nào đó sẽ được giác ngộ giải thoát. Cái cầu nguyện đó bí mật, không nói ra. Đó, cho nên một bậc Tu Đà Hoàn làm cái gì cũng hướng việc đó về sự giải thoát. Làm bao nhiêu việc phước, giúp người, dạy người, thương người, dạy răn người, đe người gì cũng cuối cùng đưa về sự giải thoát. Còn chúng ta á, quên, do lý tưởng tu hành mình không kiên định.
[1:06:41]Ví dụ bây giờ ta kêu đứa nhỏ tới ta rầy, ta nói: "Con đi chơi vậy là không được nghe không? Con mặc đồ hở hang như vậy là không được phải không? Con nhuộm tóc như vậy là không được nghe không?", mình đánh đòn nó, mình rầy nó, ví dụ như vậy, rồi thôi. Nhưng mà bậc Tu Đà Hoàn kêu lại cũng rầy. Rầy xong, rồi giải thích về đạo lý và hướng cho nó tu hành, chứ không có ngừng lại ở chỗ rầy cái lỗi thôi. Mà hễ đã sửa lỗi một người, rầy lỗi một người thì tìm cách đưa người đó về với chánh đạo giải thoát tu hành luôn, không ngừng lại. Cho nên ta nói cái khác nhau giữa một bậc Tu Đà Hoàn và không phải Tu Đà Hoàn là ở chỗ đó.
[1:07:16]Không phải Tu Đà Hoàn thì ta có thể làm điều tốt, rồi ta ngừng ngang chỗ điều tốt đó thôi. Còn một bậc Tu Đà Hoàn mà hễ làm một điều tốt rồi thì phải hướng luôn về về sự, sự giác ngộ giải thoát. Hễ giúp ai rồi cũng đều tìm cách gieo cái nhân của họ, gieo cái ý niệm của họ về với sự giải thoát giác ngộ. Nhớ như vậy đó, khác nhau giữa ta với. Và cái đặc điểm mà dễ nhìn thấy nơi một bậc Tu Đà Hoàn nữa là: Yêu thích cuộc sống vị tha, không sống cho mình được.
[1:07:49]Chúng sinh phàm phu á thì hạnh phúc khi được sống cho mình, vui sướng khi được phụng sự cho mình, gom về cho mình. Còn đối với một bậc Thánh thì sống cho mình là một điều một cực hình, một điều đau khổ, vì họ không thể sống cho mình được. Từ trong ý nghĩ nhỏ, từ trong cái hành vi nhỏ, không sống cho mình được. Tại sống cho mình nó giống như là bị dao đâm hay là tên bắn vậy, khó chịu lắm, không sống được, phải sống cho mọi người. Sống vì Phật pháp, sống vì chúng sinh. Đó là những bậc Thánh mà họ đi qua được nhiều kiếp tu và họ đã chứng quả rồi như vậy. Và một điều giống nhau, những bậc Thánh đó đi qua
[1:08:34]cuộc đời đều để lại dấu ấn đậm trong lòng người. Dù ít người, dù nhiều người biết, nhưng luôn luôn để lại một dấu ấn tốt đẹp, để lại thêm cái thiện pháp cho trần gian này, để lại thêm những cái viên ngọc đạo lý cho trần gian này. Đó là những một bậc Thánh xuất hiện giữa đời như vậy, và ta phải hiểu rằng bất cứ ai tu hành cũng qua nhiều kiếp gian khổ. Và trong nhiều kiếp gian khổ đó, có người lên rồi xuống lại, tạo phước rồi hưởng hết phước. Chỉ khi nào ta bắt đầu kiến đạo thì lúc đó mới xác định được là ta đi và sẽ có ngày đến. Còn nếu chưa có kiến đạo thì ta cứ đi, chưa chắc có ngày đến. Nhớ hai cái đó khác nhau rất xa.
[1:09:28]Hiểu như vậy để làm gì? Để là ta cẩn thận, khiêm tốn nha, cẩn thận khiêm tốn. Và hôm nay vậy, tất cả chúng ta có duyên lành được về đây dưới mái chùa Sơn Thắng này, cái Thiền viện Sơn Thắng này để dự cái lễ tưởng niệm đại tường của Hòa thượng thượng Đắc hạ Pháp, một bậc tôn túc đạo cao đức trọng đặc biệt trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam ta. Mỗi người chúng ta có duyên mới về đây, và về đây là cũng tăng thêm được duyên phước của mình đối với một bậc Thánh mà đã đến với cuộc đời và đã rời khỏi cuộc đời như thế. Chúng ta cầu nguyện ở trên cao kia, Hòa thượng, bậc thầy của chúng ta lúc nào cũng soi
[1:10:22]rọi chúng ta, hướng dẫn chúng ta, gia hộ chúng ta, và gia hộ cho Phật giáo Việt Nam, Phật giáo thế giới mỗi ngày một hưng thịnh, một một phát triển. Còn ta nguyện yêu kính người, nguyện lấy người làm tấm gương mô phạm tu hành cho cho đời mình. Và cũng vậy, biết rằng ngàn kiếp tu hành sắp tới ta không chủ quan, và nguyện lòng xin được cái sự kiên định như những bậc Thánh đã đã kiên định. Dù thân này có nát, có hoại, vẫn xin một lòng đi trên con đường chánh pháp để tìm sự giác ngộ giải thoát mà mà thôi. Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Nam Mô Sơn Thắng đường thượng, Hòa thượng thượng Đắc hạ Pháp tôn sư chứng minh.