Transcript: Kinh Pháp Hoa 25 - Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Và Đà La Ni

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:19:28

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:36]Mời Phật tử ngồi. Hôm

[0:52]nay mình nghe phẩm Phổ Môn, nói về công hạnh đặc biệt Bồ Tát Quán Thế Âm.

[1:02]Nói tới Bồ Tát Quán Thế Âm thì các Phật tử của mình đều quen thuộc, dường như không ai là không biết. Trong đời mình ít nhất cũng một lần mình cảm nhận được cái sự vi diệu, linh thiêng, mầu nhiệm của Bồ Tát Quan Âm. Ít nhất trong đời chúng ta cũng đã có lần trải qua, phải không? Ở đây, quý Phật tử đã có người nào đã từng niệm Bồ Tát Quan Âm mà cảm nhận được cái mầu nhiệm trong những lúc mà mình khó khăn hoạn nạn không? Có ai có chưa?

[1:45]Mọi người hầu hết là có phải không? Có tâm thành. Mà nhiều cái chuyện vi diệu không thể tưởng tượng được từ xưa cho tới bây giờ. Ngay cả trong cái cuộc đời hiện tại mà nhiều người thoát nạn một cách mầu nhiệm. Thí dụ như trên tôi có người Phật tử. Anh này thì gia đình thì cũng đạo Phật, nhưng mà lúc đó anh cũng không có mộ đạo lắm, biết vậy thôi. Một lần ảnh làm ở nông trường, sau giải phóng rừng còn nhiều, ảnh mới đi vào rừng xem cây. Đi rồi không biết cái ma đưa lối quỷ đưa đường sao rồi cứ đi hoài. Bụng á thì muốn về mà cái chân ai thúc đẩy cứ bước vào bước vào rồi lần lần lạc luôn vào trong rừng.

[2:28]Trời phủ tối xuống, coi tìm không được đường ra. Đi vừa đói vừa khát, nhổ cái rễ tranh để mà nhai cho đỡ, rồi cứ đi lạc vào những chỗ không nước, không có gì để ăn để uống. Dần tới ba ngày thì cái đêm thứ ba là kiệt rồi. Sốt cao mà người lả hết rồi, không đi nổi nữa mà không biết là ở đâu nữa, mới nằm xuống, nghĩ chuẩn bị là chết, hết cất bước đi được rồi. Đi mười thước muốn đi tới mà đi không nổi, tại trong rừng dây lau lách, luồn qua lách lại không đi được nữa. Mới rút cái chứng minh nhân dân ra nhìn nó lần cuối, nghĩ rằng sau này có ai vào đến chỗ này thấy cái bộ xương mình với cái chứng minh nhân dân

[3:11]họ sẽ về báo được gia đình mình, nằm như vậy. Thì cái tâm đi dần dần vào hôn mê để chờ chết. Lúc đó có cái ý nghĩ khởi lên: qua cái này mà nếu mình sống được thì thôi từ đây cuộc đời mình sống vì người khác, nghĩ như vậy. Rồi tiếp tục chìm trong cái hôn mê đó, nửa mê nửa tỉnh. Trong lúc cái nửa mê nửa tỉnh đó, chợt thấy Bồ Tát Quan Âm hiện ra, đứng trên trời có một cái người đồng tử. Bồ Tát mới sai chú đồng tử đưa một cái ly nước cho uống, cái nước cam lồ này kia, chú đồng tử mới bước tới đưa lên miệng, chế vào miệng cho uống. Sau khi vào cảm thấy khỏe khoắn thì lúc đó mới thấy trong cái cảnh giới thấy Bồ Tát Quan Âm và chú đồng tử mới bay

[3:54]đi, mà chú đồng tử còn quay lại như đưa tay ngoắc ngoắc rồi biến mất. Anh mới cảm thấy khỏe khoắn và ảnh ngủ luôn một giấc tới sáng dậy cái tỉnh lại, muốn tìm đường đi tiếp nữa. Cảm giác mệt lả không còn. Đi rồi cứ nhớ cái hướng mà trong khi mình mê thấy chú đồng tử ngoắc, đi theo hướng đó. Đi một lát thì thấy đường xe bò cắt ngang giữa rừng thì mừng, thấy có dấu vết của con người, nhưng mà không biết là quẹo phải hay quẹo trái, tại sợ quẹo bậy cứ đi vô rừng hoang thêm nữa. Mới nhớ lại cái hình ảnh chú đồng tử ngoắc cái hướng đó, cái quẹo bên trái đi theo hướng đó. Đi một lát là thấy con đường lớn, rồi mới thấy có con người rồi, thấy gần.

[4:34]Mới đánh dấu lại cái chỗ của mình để men men đi xuống suối tìm nước. Vào thì thấy chòi kiểm lâm, mừng quá chạy ùa vào, leo lên cái chõng tre của họ thì nằm đó mê luôn, kiệt sức hoàn toàn, thật sự. Rồi người ta mới tìm giấy tìm tờ, người ta cho ăn cháo rồi mấy ngày sau đưa về.

[4:53]Từ đó thì anh này bắt đầu trở thành con người người ta, người làng gọi là tào lao. Đụng ai có chuyện gì cũng nhào vô giúp đỡ, mà ai nhờ chuyện gì mà làm biếng cái chợt nhớ tới cái lời hứa của mình lúc mình gần chết ở trong rừng. Cứ nhớ vậy rồi thôi, cái ráng cái xông xáo xen vào để làm giúp người ta, như là mình đã nguyện nếu mà thoát chết thì từ đây cuộc đời này sống vì người khác. Như tôi có người bạn hồi xưa vậy. Anh này là cùng tuổi với tôi, trùng tên, trùng tuổi mà cũng mộ đạo giống nhau nữa. Ừm mà cũng ưa thích âm nhạc, tức là hai người giống nhau nhiều điểm lắm. Một lần ảnh kể cái chuyện, thường thường á thì ngày Chủ nhật rảnh

[5:38]ảnh hay lên chùa Vạn Đức ở Thủ Đức tụng kinh Pháp Hoa. Ngày đó một ngày từ sáng tới chiều tụng hết bộ, tụng như gió vậy, thì mộ đạo. Lần ảnh về một quê chơi, anh này không biết bơi. Cái đoàn người của ảnh bị cướp. Cướp thì xúm nhau người ta bỏ chạy, ảnh cũng đâm đầu ảnh chạy. Ảnh vừa chạy vừa niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm, mà lúc đó sợ hãi dữ lắm. Ảnh chạy đến cái bờ sông mà ảnh không biết bơi, sợ lắm. Chợt lúc đó thấy có ông lão ngồi trên chiếc xuồng ngoắc: "Lên đây!". Ảnh nhảy thót lên chiếc ghe, ông kia bơi thoăn thoắt thoắt qua bờ bên kia liền. Ảnh nhảy lên bờ xong quay lại, ông già biến mất rồi, không còn ông già nữa.

[6:17]Cái đám cướp đứng nhìn bên kia bờ nhìn theo rồi thôi, còn ảnh đâm đầu ảnh chạy tiếp kiếm xóm làng người ta để mà xin nương náu. Những cái vi diệu mình nói không hết được. Hoặc có cái anh đó đi đánh trận, ảnh thì đạo Phật. Trong cái trận đánh đó, ảnh bị bao vây. Ảnh là chỉ huy cái đơn vị của ảnh đó nhưng bị bao vây chập chùng, tiếng súng của phe đối phương này chung quanh chập chùng, không còn đường thoát. Ảnh thì người đạo Phật mà thường hay niệm danh hiệu Quan Âm đó. Thì trong lúc mà rối trí không còn, chỉ còn biết là niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm thì nghe cái tiếng của cái người đối phương đã tới sát bên tai rồi.

[6:57]Tức là họ lẩn quẩn đâu chừng vài thước nữa là bao vây, vòng vây đã siết chặt hết rồi không còn lối ra nữa. Thì đơn vị ảnh cũng chết gần hết chỉ còn đâu mười mấy người ở bộ chỉ huy. Lúc đó chợt thấy một người đồng tử nhỏ hiện ra bảo: "Ông đi theo tôi." Rồi chú bé quay lưng bỏ đi. Ảnh lúc đó rối quá rồi, đi theo thôi. Ảnh mới nghĩ nếu mà đứa bé này mà dắt mình đi về phía bên phải là dắt mình về cái phía địch là phải bắn nó liền, còn nếu dắt về phía bên trái thì không biết, thì cứ đi theo, thì đứa bé dắt đi phía bên trái. Nó đi miết rồi từ từ không còn nghe tiếng súng nữa. Tiếng súng bắn rầm rầm nãy giờ đang bắn tự nhiên xa đâu mất luôn,

[7:37]tức là thoát cái vòng vây rất xa mà không hiểu đi con đường nào mà vòng vây người ta đã đan chặt chung quanh hết rồi mà đi ra khỏi vòng vây mà không ai trông thấy ai, không thấy địch, địch cũng không thấy mình gì hết. Đi đến chỗ cái đứa bé biến mất luôn trước mặt ảnh. Ảnh mới quay lại hỏi mấy cái người lính: "Ủa, tụi bay có thấy đứa bé không?". Nói: "Dạ đâu có thấy. Thấy đại úy đi đâu tụi em đi theo đó, đâu biết." Thoát nguy, thoát nạn. Rồi ảnh nhớ đó nên mới nghĩ là đây là được Bồ Tát cứu giúp. Vì trong kinh Phổ Môn nói mà: "Trong quân trận sợ sệt, một lòng niệm danh hiệu Quan Âm thì oán giặc

[8:09]đều tiêu tan", trong đấy có ghi rõ lắm, thì rất là linh nghiệm. Rồi lúc đó là tôi đang ở Đại Tòng Lâm, tôi đang làm điệu ở đó. Tối đến tụng kinh thì tôi hay hướng dẫn mấy em Phật tử nho nhỏ ngồi thiền. Thấy mấy em đi chùa tụng kinh hoài cũng có cái tâm, mới nói với quý thầy lớn, nói: "Thầy cho phép con hướng dẫn mấy em nhỏ ngồi thiền để cho nó tiến bộ." Quý thầy đồng ý. Tại vì mấy đứa nó nhỏ quá nên mình không thể giải thích gì đạo lý nhiều. Mới kêu mấy đứa là: "Thôi bây giờ tụi con ngồi thiền, tụi con dụng công như thế này: Hễ tụi con thấy trong đầu mình mà động tâm khởi vọng tưởng suy nghĩ thì niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm tức là Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát.

[8:55]Còn hễ tâm không suy nghĩ thì thôi buông thả để cho nó yên. Còn hễ nó vừa động suy nghĩ thì lại niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát." Thì mấy đứa nhỏ cứ tập theo như vậy mà từ từ nó nhiếp tâm được đó nghe. Thì cái anh Hồng này nè, cái anh mà nãy ảnh nói là ngày xưa đó cũng ở trong quân trận mà được thoát ra nhờ niệm Quan Âm đó. Ảnh thì lớn nên ảnh không có vào chùa ảnh ngồi nghe mà ảnh cứ ngồi ngoài hiên ảnh nghe lóm. Ảnh nghe vậy cái ảnh lén ảnh cũng tập. Không ai thấy cái ảnh ra ngoài tượng Quan Âm ảnh ngồi. Ảnh ngồi trước tượng Quan Âm, tượng Quan Âm vậy ảnh ngồi ở dưới, ảnh cũng niệm Quan Âm như vậy mà không cho ai biết là ảnh học lén.

[9:32]Một lần ảnh đang ngồi nhiếp tâm vào từ từ, cái ảnh chợt nhiên nghe tiếng một người bạn ảnh hỏi vợ ảnh: "Ủa anh Hồng đâu rồi?" "Hình như ảnh qua chùa rồi." "À để qua bển kiếm ổng." Tức là cái cuộc nói chuyện ở đâu? Ở nhà ảnh, phải không? Nhà ảnh với cái chùa cũng xa lắm, mà đang trong nhiếp vào thiền cái chợt như ảnh nghe câu chuyện ở nhà ảnh mà liên quan tới ảnh. Ảnh mới xả thiền ra, ngạc nhiên thì thấy mình đang ở bên chùa. Ảnh xả thiền, loay hoay lát thì cái anh bạn đi qua tới, nói: "Tao qua nhà mày không có, mày lại qua đây? Nghe vợ mày nói, đi qua đây kiếm mày." Ảnh mới ngạc nhiên, ảnh đem cái câu chuyện đó vào hỏi quý thầy.

[10:09]Thì lúc mà ảnh đang hỏi quý thầy thì tôi không có mặt, thì tôi đang bận ở phía sau, mới đi vào. Thì khi quý thầy trả lời sao đó không biết, nhưng rồi quý thầy đi, tôi mới ngồi xuống hỏi: "Hồi nãy nghe anh nói cái gì lạ lạ đó, anh nhắc lại." Thì anh mới nói là: "Con đang ngồi thiền cái chợt nhiên nghe cái câu chuyện bên nhà con, không biết gì." Cái tôi mới nói rằng: "Anh rất có duyên với Bồ Tát Quan Âm. Có lẽ là anh niệm danh hiệu Quan Âm nào giờ nhiều. Tại vì Bồ Tát Quan Âm là cái hạnh của ngài là nghe, nghe cái tiếng kêu của khắp thế gian để mà cứu độ. Nên anh thường niệm danh hiệu ngài, nên lúc anh nhiếp tâm vào thì cái

[10:45]thần nhĩ nó hiện ra, nó ứng với cái hạnh của ngài Quan Âm, nên anh nghe được tiếng động từ xa, phải không?" Ảnh mới công nhận là: "Từ nào giờ con thường hay niệm danh hiệu Quan Âm." Và ảnh kể câu chuyện mà ảnh đã thoát nạn một lần nhờ niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm như vậy. Nên những sự mầu nhiệm, phi thường về Bồ Tát Quán Thế Âm thì muôn đời mình nói không hết. Rất là mầu nhiệm. Hôm nay thì mình học về cái phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn. Chữ Phổ Môn: phổ là cùng khắp hết, cái môn là phương tiện, phương tiện này có nghĩa là phương tiện cứu độ đó, phương tiện cứu độ khắp tất cả của Bồ Tát Quán Thế Âm.

[11:28]Cái chữ Phổ Môn là phương tiện cứu độ cùng khắp hay là tất cả, hay là mọi phương tiện của Bồ Tát Quán Âm có nghĩa là thế này: là Bồ Tát Quán Thế Âm dùng mọi phương tiện, dù là bộc lộ hay là thầm kín, dù là hiền hay dữ, tất cả mọi phương tiện, miễn làm sao mà cứu được chúng sinh. Và cứu chúng sinh này thì có nhiều cái ý nghĩa. Một á là cứu chúng sinh vượt qua cái nguy hiểm, cái khó khăn trong đời sống. Và thứ hai á là cứu chúng sinh vượt qua khỏi phiền não, vô minh của chính mình. Đó là hai cái ý nghĩa cứu độ của Bồ Tát. Mà bằng cách nào để cứu độ như vậy thì Ngài dùng tất cả mọi phương tiện, tất cả mọi phương tiện, rất nhiều rất nhiều.

[12:23]Cái chữ phổ là như vậy, rất nhiều phương tiện cứu độ.

[12:30]Lúc bấy giờ ngài Vô Tận Ý Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai hữu, chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: Bạch Thế Tôn, ngài Quán Thế Âm Bồ Tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?

[12:44]Đầu phẩm, chợt một vị Bồ Tát hiệu là Vô Tận Ý. Cái tên vị Bồ Tát được nói lên trên đầu phẩm không phải là ngẫu nhiên, không phải là ngẫu nhiên, mà có hàm cái ý. Cái Vô Tận Ý này có hai nghĩa. Hai nghĩa là: nghĩa thứ nhất á là cái ý nghĩa nói về Bồ Tát Quán Thế Âm này là là vô tận, là vô hạn, mình không đủ sức để hiểu hết được. Chỉ có Bồ Tát với Bồ Tát mới hiểu được hết cái phẩm Phổ Môn này, người thật sự đắc đạo mới hiểu hết phẩm này. Còn người phàm phu của chúng ta thì mỗi người chỉ hiểu một góc cạnh nào đó mà thôi. Như bản thân chúng tôi là đã từng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm, ừ đã từng giảng về phẩm Phổ Môn cũng như giảng Pháp Hoa này bao nhiêu lần,

[13:41]mà chúng tôi vẫn tự thấy mình không đủ trí tuệ để hiểu hết phẩm Phổ Môn này. Vì phẩm Phổ Môn này quá vĩ đại, quá khủng khiếp.

[13:54]Đó là cái ý thứ nhất, là cái phẩm này là vô tận ý, không nói hết được. Cái ý nghĩa thứ hai gần gũi hơn, cái nghĩa bóng gần gũi hơn, là khi mà tâm chúng ta còn vọng tưởng, ý là vọng tưởng đó, nghĩa là vọng tưởng còn nối tiếp nối tiếp không dừng lại, thì chúng ta không hiểu nổi cái thế nào là tâm từ bi. Vì Bồ Tát Quán Thế Âm là tượng trưng cho lòng đại bi của mười phương chư Phật. Lòng đại bi của mười phương chư Phật được biểu tượng bởi Bồ Tát Quán Thế Âm. Cái chữ này chúng ta phải hiểu thế này, câu nói này hiểu thế này: là có thể chúng ta cho rằng Bồ Tát Quán Thế Âm là nhân vật không có thật, nói theo tinh thần của Nam tông Nguyên thủy.

[14:46]Bởi vì cái hệ Nam tông Nguyên thủy á thì không có chấp nhận toàn bộ kinh Đại thừa, cho nên những vị Bồ Tát trong kinh Đại thừa thì những vị sư bên Nam tông không có công nhận, cho rằng chỉ là những nhân vật được người nào đó đặt ra thôi, chứ không có đúng, không có thật. Nếu mà hiểu như Nam tông, mình cũng có thể chấp nhận vì điều đó đúng với lịch sử, là kinh Đại thừa không phải Phật thuyết, mà vị nào đó sau này đã viết ra. Thì như vậy Bồ Tát Quán Thế Âm là nhân vật không có xuất hiện thật sự có tính cách lịch sử, mà Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ là biểu tượng của lòng đại bi của mười phương chư Phật.

[15:31]Và cái lòng đại bi này của mười phương chư Phật này đủ sức để hiện thành một vị Bồ Tát, hình ảnh của một vị Bồ Tát đến với chúng sinh một cách gần gũi, thương yêu mà cứu độ. Cho nên, dù chúng ta hiểu theo tinh thần Nam tông mà hiểu cho sâu sắc, thì chúng ta vẫn tin tưởng có một Bồ Tát Quán Thế Âm tràn đầy lòng đại bi, là tượng trưng cho tâm đại bi thương yêu chúng sinh của chư Phật, để mà chúng ta tôn kính Ngài, thờ phụng Ngài, không có lỗi gì hết, như một người mẹ hiền vậy. Còn chúng ta hiểu theo tinh thần Đại thừa, thì Bồ Tát Quán Thế Âm là một vị Bồ Tát với lòng đại bi vô hạn. Cái chữ bi là gì?

[16:26]Bi có nghĩa là gì? Bi có nghĩa là... không ai nhớ nữa? Nghe giảng lâu quá rồi mất rồi.

[16:40]Thật ra đó, ở đây mà nếu quý Phật tử mà những người mà thọ Bát Quan Trai từ trước tới giờ, nghe hết những điều mà quý thầy hướng dẫn mà còn nhớ được, thì ngày hôm nay quý Phật tử giỏi hơn quý thầy, biết nhiều quá ha. Mà có cái có cái tệ hại là nghe tai này bay qua tai kia đi mất, bây giờ hỏi lại không ai nhớ hết trơn. Hồi xưa có giảng về Tứ Vô Lượng Tâm rồi phải không? Từ, bi, hỷ, xả. Giảng chưa? Hình như giảng rồi phải không? Chắc rồi, ừ.

[17:21]Từ là lòng thương yêu chúng sinh không có điều kiện. Bi là lòng thương xót trước nỗi khổ của chúng sinh. Bi là lòng thương xót trước nỗi khổ của chúng sinh. Có từ rồi mới có bi, nghĩa là mình thương ai rồi đó thì khi thấy người đó khổ mình mới xót xa, mình mới xót xa. Ví dụ như là quý Phật tử cũng vậy, à

[17:51]như trong gia đình mình, mình thấy như người con của mình bị bệnh, lòng mình sao? Rất là lo lắng phải không? Rất là thương xót. Nhưng mà nếu con hàng xóm bệnh thì sao? Kệ, nó bệnh bệnh nó chết thôi chứ có gì. Tức là khi không có lòng thương yêu thì không có lòng thương xót. Hai cái đó đi đôi với nhau, phải không? Nên có thương yêu rồi mới có lòng thương xót. Bây giờ chúng ta cũng vậy, ví dụ như là mình nghe cái bên cái xứ Phi châu người ta đánh nhau rồi cái dân làng vô tội phải trốn cái chiến cuộc đó mà di tản từ nơi này qua nơi kia, không nước, không cơm, không quần, không áo, lăn lóc giữa trời, khổ sở vô cùng, mình nghe rồi thì tâm mình thấy làm sao?

[18:45]Nói thiệt nghe coi, nghe rồi thấy sao? Đau khổ, rồi, được một người, ai nữa, ai có thấy gì nữa? Bi.

[19:00]Không, cái này thầy đang hỏi là khi mình nghe tin những người dân ở Phi châu mà họ bị đày đọa khổ sở như vậy, chiến tranh, thiên tai, cướp bóc vậy, rồi mình thấy lòng mình sao?

[19:19]Mình tội nghiệp một cái rồi thôi quên. Thấy: Ờ, cũng tội nghiệp ha. Rồi thôi bắt đầu lo đi chợ để mà mua thịt quay về ăn tiếp, không nhớ gì nữa hết.

[19:32]Còn người nào mà nghe như vậy lòng day dứt day dứt, dĩ nhiên mình chẳng làm gì được trơn, cả thế giới Liên Hiệp Quốc người ta cũng không có làm được bao nhiêu, huống chi mình không làm gì được, nhưng mà day dứt không yên thì người này là người có lòng từ, có lòng thương chúng sinh. Vì có lòng từ mới có lòng bi, có thương yêu mới có thương xót. Rồi ví dụ như là ngoài Bắc của mình, nói gần lại thôi, mấy đồng bào ngoài Bắc mình năm nay bị bão lụt, nhà cửa cuốn trôi ráo hết trơn, mình nghe rồi mình sao? Thôi, thôi kệ, có ai đi quyên thì mình cũng coi lấy mấy bộ đồ cũ cho người ta mặc tội nghiệp. Thì cái lòng từ bi của mình đáng giá bằng ba bộ đồ cũ,

[20:16]mình không mặc nữa, hết model rồi cho người ta cũng được, để người ta mặc đỡ. Lòng từ bi mình đáng giá ba bộ đồ cũ. Còn người mà nghe như vậy xót xa, bớt ăn bớt mặc, bớt ăn bớt mặc mà cho người ta được nhiều hơn, thì đó là lòng từ bi nó cao hơn một chút. Đánh giá như vậy. Hoặc là trở lại cái người hàng xóm bên cạnh mình, người mà không có máu mủ ruột thịt gì với mình hết, mình thấy người ta bệnh, mình cũng có cái xót xa mà đến thăm hỏi, thì phải biết là lòng từ bi mình có, lòng từ có, lòng bi có. Ở đây cái lòng bi nó khác với cái ái luyến thế này. Lần đó Đức Phật đến tại cái xứ đó, một vị thôn trưởng mới hỏi, hình như là...

[21:09]Có ông thôn trưởng, quên tên ổng rồi, mới hỏi: "Bạch Thế Tôn, ngay đây, ở giờ phút này, xin Thế Tôn hãy nói một cách vắn tắt, cô đọng, dễ hiểu cho con nghe ý nghĩa thế nào là đau khổ và nguyên nhân của đau khổ?". Tức là ổng nói ổng là cư sĩ mà nghe triết lý mà cao siêu như quý thầy tỳ kheo nghe không nổi, Phật nói nó cô đọng. Đức Phật cũng nói cô đọng, Đức Phật nói rằng: "Ví dụ như ở trong làng này, trong cái thôn của ông, có người bị bệnh rồi chết, lòng ông có thấy đau khổ không?". Ông thôn trưởng ổng ngồi suy nghĩ, ổng nói: "Dạ, bạch Thế Tôn, nếu cái người bệnh chết đó mà là vợ của con, con của con thì con sẽ thấy rất đau khổ.

[21:56]Còn nếu người bệnh rồi chết đó là cái người nào khác, không phải vợ con con thì con không thấy đau khổ". Ông trả lời cũng đúng rồi, cũng thành thật lắm chứ. Đức Phật nói: "Đó! Chính ái là nguyên nhân của đau khổ. Vì lòng thương yêu tạo thành sự ràng buộc mà người ta cứ phải lo toan, gắn bó, chịu nợ duyên ràng buộc với nhau". Đức Phật nói là ổng tỉnh ngộ liền. Nghĩa là Đức Phật nói rất hay, với các tỳ kheo, ngài giảng Tứ Diệu Đế trên trời dưới đất mình nghe mình không hiểu. Nhưng gặp ông nông dân ít học, Phật nói cho ví dụ cái ông hiểu liền. Thì đó, cái lòng thương yêu và cái sự xót xa, lo lắng, đau khổ, thương xót nó liên quan với nhau.

[22:35]Chỉ khác giữa cái ái luyến với cái từ bi là ở chỗ này: Cái ái luyến là mình chỉ dùng cái thương yêu và thương xót đó cho người thân thuộc của mình. Còn cái từ bi á là cái thương yêu, thương xót đó mình dành cho tất cả mọi người, dù người đó không có liên quan đến máu mủ của mình, phải không? Đó, và cái chỗ này chúng ta thấy cái Phẩm Phổ Môn này rất độc đáo ở nơi cái ý nghĩa đại bi này, từ từ lát nữa thì mình sẽ nghe tiếp. Nên ngài Vô Tận Ý là tượng trưng cho hai điều: Là cái ý nghĩa, cái công hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm là vô biên vô hạn, không ai đủ sức hiểu nổi hết. Tôi cũng có thể nói tất cả những vị giảng sư trên thế gian này,

[23:20]mỗi người giảng Phẩm Phổ Môn đều khác nhau hết, không ai giống ai. Và cộng tất cả những bài giảng đó lại hết vẫn không bao giờ được một chút xíu nào ý nghĩa của Phẩm Phổ Môn này, quá cao siêu.

[23:36]Phật mới bảo ngài Vô Tận Ý Bồ Tát: "Thiện nam tử, nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức (rất là đông) chúng sinh chịu các khổ não, nghe đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát này, nhiếp tâm lại, nhất tâm để mà niệm danh hiệu của ngài thì Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ nghe đến tiếng kêu đó mà làm cho người đó đều được giải thoát".

[24:02]Đây là cái định nghĩa vắn tắt, cô đọng mà quan trọng nhất của ý nghĩa bài kinh này. Bước vào đầu kinh là Phật nói thẳng liền. Cái công hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm là vậy: Là vô số chúng sinh trên cuộc đời này gặp đau khổ, mà nếu biết niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ gia hộ cho người đó vượt qua liền. Đó là cái ý nghĩa căn bản. Và cái ý nghĩa căn bản này, cái ý nghĩa nó không đơn giản chút nào hết. Đây là chúng ta sẽ thấy phân tích ra rồi chúng ta mới thấy nó phức tạp. Chúng ta mới thấy phức tạp là: Tại sao trong đạo Phật nhấn mạnh về luật nhân quả nghiệp báo, nghĩa là ai gieo nhân nào phải chịu quả đó?

[24:49]Mình bị cái cảnh khổ là chắc chắn là do nghiệp đời trước, phải không? Đó là luật công bằng mà, đúng không? Nhưng mà tại sao trong đạo Phật lại có một pháp môn là niệm danh hiệu một vị Bồ Tát mà được vượt khỏi cái khổ đó? Như vậy có phải cái phẩm này, nơi cái ý nghĩa giáo lý này nó ngược lại với luật nhân quả của đạo Phật hay không? Đây là cái chỗ mấu chốt rất là quan trọng.

[25:15]Cái chỗ này nhiều người không hiểu làm cho đạo Phật trở thành một đạo thần quyền như các tôn giáo khác. Hoặc là không hiểu thì bác cái Phẩm Phổ Môn này, không đặt niềm tin nơi Bồ Tát Quán Âm. Đây là trường hợp mà không hiểu, chúng ta sẽ phát sinh một trong hai tà kiến: Một á, là cho rằng trong đạo Phật cũng có khái niệm thần quyền giống như bên các tôn giáo khác là cầu xin sự cứu rỗi từ ơn trên mà không dựa vào cái nghiệp, cái thiện nghiệp của chính mình. Đó là một tà kiến. Cái tà kiến thứ hai là vì thấy nói rằng hễ gặp đau khổ mà niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm thì hết khổ, nó trái với nhân quả nên bác luôn cái Phẩm Phổ Môn này, không tin.

[26:02]Đây là cái tà kiến thứ hai. Đó, đây là chỗ này chúng ta phải hiểu rõ, hiểu sâu sắc. Chúng ta hiểu được cái chỗ này thì như vậy chúng ta sẽ thấy được hai cái tà kiến nó sai. Có rất nhiều vị, ngay cả những vị tu hành trong đạo Phật, mà do hiểu sai cái Phẩm Phổ Môn này đã rơi vào tà kiến. Thờ Bồ Tát Quán Âm mà hay gọi là mẹ á, quý vị có nghe không? Đi đâu cũng nói: "Mẹ, để mẹ độ cho". Thôi, ráng uống cái nước mà mẹ độ cho khỏe mạnh. Những vị thầy đó đang trở thành thần quyền của ngoại đạo. Vì ngoại đạo á, họ tin rằng có một vị Thượng đế, một vị thần linh tạo ra thế gian này. Cho nên mình không cần biết mình có tội lỗi hay là phước

[26:47]đức gì, chỉ cần mình thờ phượng cái vị thần linh đó, mình sẽ được vị thần linh đó cứu vớt, cứu rỗi. Tôi nhớ hôm qua tôi đi xe đò về đây, tôi mới đi xe ôm từ bến xe về thì cái ông mà ổng chở xe ôm ổng có vẻ trí thức. Ổng đi đường ổng mới gợi chuyện, ổng nói: "Tôi cũng là thầy mà tôi là thầy giáo". Hỏi anh: "Đó giờ dạy gì?". Nói: "Tôi dạy triết, tôi dạy triết". "Bây giờ sao anh không dạy nữa mà đi xe ôm?". Nói: "Thôi, nghề đi xe ôm thì đụng chạm hết". Nói: "Sao anh không mở cái lớp ngoại ngữ mà dạy? Anh văn hay Pháp văn?". "Nói Anh văn bây giờ dạy cũng tốt". Đi một lát cái anh mới nói thế này: "Thưa thầy, có phải rằng khi người ta biết nhiều

[27:28]thì người ta sẽ trở nên vô thần hay không? Khi người ta biết nhiều quá rồi người ta sẽ trở nên vô thần, không còn tin ở tôn giáo nữa, phải không?". Thì tôi hiểu là ông này đã thuộc loại người nào rồi. Ổng nói câu đó ra xong là biết ổng thuộc loại người nào. Tức là người có học, có nghiên cứu khoa học, rồi từ từ mất niềm tin với tôn giáo tại vì thấy những cái lý thuyết tôn giáo là vô lý, vô lý vạn phần. Thì tôi mới trả lời câu này, tôi mới nói rằng: "Khi mà mình biết hơi nhiều thì mình sẽ trở thành vô thần, và khi mình biết nhiều hơn nữa thì mình hết vô thần". Ổng nói: "Ủa, vậy thầy nói tôi mới biết hơi nhiều hả?". Nói:

[28:06]"Đúng, anh mới biết hơi nhiều thôi nên anh mới bị trở thành vô thần". Nói: "Sao vậy?". "Vì khi mình biết hơi nhiều nghĩa là gì? Nghĩa là mình có học, mình biết, mình có kiến thức khoa học, mình giải thích được thế nào là mưa, là mây, là sấm, là sét, vũ trụ bắt nguồn từ đâu, con người từ đâu hình thành, mình có một số kiến thức nó giải thích được một số điều của cuộc đời này, và mình cảm thấy không cần cái sự giải thích của tôn giáo nữa. Và những cái điều mà tôn giáo nói đến có vẻ như là lừa gạt, tại người xưa họ không giải thích được rồi đặt tầm bậy ra nên mình đâm trở thành vô thần. Đó là tôi nói khi mình bắt đầu mình biết hơi nhiều thì mình trở thành vô thần.

[28:44]Nhưng mình biết nhiều hơn nữa thì bắt đầu mình hết vô thần là ở chỗ này: Nếu anh sống rất nhiều, anh quan sát cuộc đời này rất kỹ, anh sẽ cảm thấy rằng mọi việc trên đời nó không có phải vô tình, ngẫu nhiên nó xảy ra, mà dường như nó đi theo cái quy luật nhân quả vô hình nào đó chi phối, chứ không phải tự nhiên ngẫu nhiên mà nó xảy ra đại, là cái thứ nhất. Cái thứ hai là cái năng lực tâm linh mà trên thế giới đang nghiên cứu, những nhà ngoại cảm có thể biết được ý nghĩ người ta từ xa, biết được chuyện quá khứ vị lai sắp xảy ra, họ có thể ngồi thiền họ cất thân mình lên giữa hư không, vân vân, mà bây giờ người ta gọi là cái

[29:22]năng lực tâm linh, năng lực ngoại cảm thế giới đang nghiên cứu. Nếu anh biết được tới điều đó nữa thì anh mới biết rằng thế giới này không phải chỉ là vật chất, còn là tâm linh nữa. Mà sự vận hành của cuộc đời này nó bị luật nhân quả âm thầm chi phối. Nên nếu anh nhìn cuộc đời rất sâu, anh biết nhiều hơn nữa thì hết vô thần". Nói vậy thôi, ổng mới chịu làm thinh. Nên chúng ta thấy vậy đó. Thì như vậy cái tà kiến này cũng vậy, là có những vị thầy quá tin Phẩm Phổ Môn mà hiểu không tới, hiểu không hết được ý nghĩa này, bắt đầu thờ Bồ Tát Quán Âm như là người ngoại đạo họ thờ vị thần linh của họ.

[30:01]Cái gì cũng mẹ mẹ mẹ mẹ, xin mẹ xin, rồi quên đi cái việc làm phước thiện của mình. Bây giờ thì chúng ta giải thích với nhau cái chỗ mấu chốt này: Vẫn là luật nhân quả nghiệp báo mà vẫn không phải là một thần linh của ngoại đạo, vẫn là Bồ Tát Quán Thế Âm đáng tôn kính của chúng ta, không hề là tà kiến, không hề sai lầm với luật nhân quả.

[30:29]Hôm trước chúng ta có lần nói với nhau về cái nhân quả là khi mà chúng ta tôn kính một vị thánh nào thì chúng ta được cái phước là trước sau lâu mau cũng sẽ thành tựu cái công hạnh của bậc thánh đó. Nhớ không? Nhớ. Nhưng mà có điều là lâu hay mau thôi, lâu hay mau. Là ví dụ những vị thánh mà quá cao siêu như Đức Phật thì chúng ta kính lễ ngài trọn vẹn thì cái phước chúng ta sẽ thành Phật là điều khẳng định, nhưng có điều nó lâu lắm, nó qua rất nhiều kiếp. Còn những cái vị đơn giản như một ông thầy giáo đáng kính, hồi nhỏ chúng ta đi học, chúng ta có cái lòng là biết kính thầy, thì cái người đó lớn lên rất dễ trở thành một

[31:17]vị thầy nữa, là một vị thầy giáo đáng kính trở lại. Tức là cái phước người đó, cái tư cách của người đó tương đối nó gần với mình thì mình tôn kính vị đó, mình dễ được quả báo đạt được cái vị trí người đó luôn. Còn khi mình tôn kính một cái vị nào cái tư cách rất cao, mình cũng sẽ đạt được nhưng hơi lâu. Đó là nhân quả. Là mình được cái phước của bậc thánh đó. Cái phước của bậc thánh đó nó còn nhiều cái lắm, nhiều cái lắm. Là nó ứng ra nhiều mặt chứ không phải là chỉ thành tựu cái tư cách của bậc thánh đó thôi. Như chúng ta tôn kính một vị A La Hán thì trước sau gì chúng ta cũng sẽ trở thành một vị A La Hán.

[31:57]Như có hai vợ chồng đó, chuyện này cũng có kể rồi, nhắc lại. Thấy một vị A La Hán đi ngang cái mới đem phẩm vật ra cúng dường, phẩm vật ra cúng dường, cái vải ra cúng dường ngài. Tại cái áo của ngài rách hết rồi, mới lấy trong nhà ra cái tấm vải để quấn cái y. Ngài mới vào trong cái bụi rậm ngài mới thay, mặc cái y mới, ngài bước ra. Thì hai vợ chồng mới nhìn ngài sững sờ thì không ngờ ngài đẹp rực rỡ. Hồi nãy thấy ngài tồi tàn phải mặc áo rách, bây giờ thì mặt ngài đẹp trai với cái áo mới nữa, trông ngài vô cùng rực rỡ, đẹp quá đi. Cái người vợ mới buột miệng... À, lúc mà cúng ngài cái tấm y thì có nói câu này:

[32:37]"Xin cho chúng con sau này được dự phần vào quả vị của ngài. Tức nghĩa là con phải chứng được cái quả như ngài." Thì ngài mỉm cười. À, lúc mà ngài quấn cái y xong ngài ra đó thì hai vợ chồng quỳ xuống mới phát lời nguyện: "Xin cho chúng con sau này được dự phần vào quả vị của ngài, tức là sẽ chứng A La Hán như ngài." Cái lúc đó vị A La Hán mới mỉm cười. Ngài mỉm cười nghĩa là gì? Ngài muốn nói điều gì? Ngài muốn nói là sẽ đạt được. Nhưng mà ngài không nói thành lời, những vị thánh hà tiện lời nói lắm. Ngài mỉm cười, ngài mỉm cười đẹp trai quá. Cái bà vợ mới buột miệng mới nói: "Trời ơi anh ơi, ngài đẹp như một tài tử!" Cái chồng nói:

[33:17]"Ờ ha!" Rồi sau đó ngài biến mất luôn. Chỉ một câu nói đó thôi, hai vợ chồng hết kiếp này tới kiếp kia đi làm tài tử, đi làm diễn viên. Và ở kiếp cuối cùng gặp được Đức Phật độ, hai vợ chồng hai vợ chồng đắc A La Hán hết luôn, tức là lời nguyện đều thành tựu hết. Nhưng mà lỡ mà động tâm khen bậy một cái là đi theo cái nghiệp đó luôn. Thì cái phước của một vị thánh làm cho mình hướng tới như vậy. Nhưng mà ngoài cái phước đạt được tư cách của bậc thánh đó, mình còn có cái phước là mình hưởng được những cái dư phước của các ngài nữa, cái dư phước các ngài trên mọi phương diện, trên mọi phương diện.

[33:59]Ví dụ như à tôi nói đơn giản, như mình nghèo, cái số mình nghèo quá mình phải đi làm thuê, giúp việc cho một gia đình khác. Giúp làm thuê, đây mình đặt cái ví dụ để dễ hiểu thôi. Thì nếu mà cái gia đình đó họ có thu nhập không cao lắm, họ không cao lắm, họ tương đối sống rồi dư dả chút xíu thôi, thì mình làm người giúp việc cho gia đình đó mình có sướng không? Không sướng lắm, vừa vừa thôi. Tại họ đâu có dư mà cho mình nhiều, tiền lương căn bản nhiêu đó, ăn cơm rồi chút đỉnh vậy thôi, lâu lâu thưởng chừng chục đồng uống nước. Nhưng mà nếu cái người mà mình làm giúp việc á là người cực kỳ giàu có thì ở đó mình sướng không?

[34:42]Rất ngon lành, hưởng cái dư phước của người ta. Thì mình không phải ở cái nhà xập xệ mà ở cái nhà villa, biệt thự, rồi nội cái thức ăn, thức uống và phương tiện xe cộ của người ta mình đều hưởng lây được, phải không? Ví dụ như người ta có xe hơi, lâu lâu người ta cũng chở mình đi chợ, ví dụ kêu tài xế thôi chở đi ra chợ, cũng được đi xe hơi với người ta mặc dù không phải xe mình. Tức là mình hưởng cái dư phước của cái người nhà giàu đó mặc dù mình đi làm thuê, phải không? Đúng không? Thì đây cũng vậy. Khi mình kính lễ một vị Bồ Tát, nếu vị Bồ Tát đó cái sức oai thần vừa đủ thì cái phước của mình cũng có hưởng được cái dư phước ngài mà chút chút thôi.

[35:21]Đây là nhân quả rất đúng nhe, không có sai. Còn mình niệm danh hiệu vị Bồ Tát mà công hạnh của ngài quá lớn, không thể tưởng tượng được. Ngài là một vị Bồ Tát qua vô lượng kiếp đi trong luân hồi độ chúng sinh, ngài đi lang thang khắp nơi để độ chúng sinh, cái phước ngài quá lớn, công hạnh ngài quá vô biên mà mình một lòng hướng về ngài để niệm danh hiệu ngài với sự tôn kính, thì mình hưởng được cái dư phước của ngài một chút, một chút, chút xíu thôi bằng hạt cát thôi, hạt bụi thôi, không nhiều. Nhưng cái hạt bụi của ngài thì nó bằng cái gì?

[35:59]Nó bằng cả một cái núi của mình. Một cái dư phước nhỏ bằng hạt bụi của ngài thôi, đủ để mình vượt qua cái khổ mình đang chịu, đủ vượt qua cái khổ mà mình đang phải chịu đựng. Quý Phật tử hiểu chỗ này không? Cho nên cái điều này nó nói lên hai ý nghĩa. Thứ nhất là luật nhân quả nghiệp báo vẫn tồn tại trong cái việc mà mình niệm Phật và được thoát khổ này, vẫn tồn tại. Thứ hai là phải do cái sức oai thần, trong kinh dùng là sức oai thần, mà mình phải hiểu là cái phước đức của vị Bồ Tát đó cực kỳ lớn, cực kỳ lớn. Hai điều đó. Nên vẫn dựa vào luật nhân quả chứ không rời ra khỏi luật nhân quả. Nhưng cái điều thứ hai quan trọng nữa là cái công đức của vị Bồ

[36:48]Tát cực kỳ lớn, thì ngay đó là mình hưởng được một chút phước rất nhỏ của ngài, đủ để mình vượt qua cái khổ của mình. Nên cái phía cuối phẩm này nè, là chúng ta có nghe Phật nói là có một người mà đem tứ sự, thuốc thang, đồ vật mà cúng dường cho mười phương chư Phật với cúng dường Bồ Tát Quán Âm phước bằng nhau, phải không? Nhớ cái phẩm mình vừa tụng hồi nãy chưa? Đó. Cho nên cái phước của ngài cực kỳ lớn. Cho nên ở đây do cái dũng lực vĩ đại của ngài, nên chúng sinh nào mà hướng tâm về ngài đều hưởng được một chút phước đó hết, được một chút phước. Mà một chút phước của ngài thôi, đủ mình xài, đối với mình là quá lớn.

[37:29]Quý Phật tử nghe cái chuyện một phút của Thượng đế chưa? Chuyện này chuyện vui thôi. Có một người đã gặp Thượng đế, chuyện này chuyện vui, thì ổng mới thưa rằng: "Lạy Cha của chúng con, con nghe nói rằng đối với Cha một triệu đồng ở thế gian này bằng một đồng, một xu của Cha phải không? Tức là một triệu đô la thì bằng một xu của Cha." Thì Chúa nói: "Đúng." "Xin Cha hãy cho con một xu của Cha." Thì Chúa mới nói rằng: "Hãy chờ Ta một phút." Hiểu không? Chừng nào có được một xu đó? Chắc phải chờ một phút. Nhưng một phút Thượng đế thì bao lâu? Ngàn năm thôi. Cái câu chuyện nó như vậy.

[38:18]Thì ở đây cũng vậy, khi mình niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm mình cũng hưởng được một chút xíu xiu phước của ngài, nhưng đối với mình đủ xài, vượt qua được cái đau khổ mà mình đang phải chịu đựng. Đó là cái ý nghĩa công hạnh của Bồ Tát. Nhưng bây giờ mình hiểu cái nghĩa bóng mà nghĩa thấp. Cái phẩm này là nói về nghĩa đen, nghĩa đen rất là lớn, nhưng mà nghĩa bóng thì thấp và gần gũi với mình. Khi mình gặp khổ, mình niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm thì mình thoát khổ. Ví dụ như có cái chuyện gì xảy đến làm mình đau khổ, mình động tâm, mình khóc lóc, than thở thì mình phải niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm.

[38:56]Ở đây hai ý nghĩa. Cái nghĩa thứ nhất là mình đừng lo cho mình nữa, mình hãy khởi lòng thương yêu tất cả chúng sinh thì tự nhiên cái đau khổ của mình biến mất. Tất cả mọi cái đau khổ đều do lòng ích kỷ mà ra hết. Nhớ điều này không? Hồi giảng Tứ Diệu Đế cách đây ba năm. Quên mất rồi. Mọi đau khổ xuất hiện đều do lòng ích kỷ mà ra. Cho nên khi chúng ta gặp chuyện đau khổ thì chúng ta hãy nhớ một điều là đừng nghĩ tới mình nữa mà ngay lúc đó hãy nghĩ đến tất cả chúng sinh, nghĩ đến thương yêu tất cả chúng sinh, tự nhiên cái đau khổ, dằn vặt của mình biến mất. Ví dụ như là mấy đứa con gái trẻ trẻ như tụi con á,

[39:41]rồi mình tự nhiên đâm ra cái mình khiến lớn lên chút xíu cái bày đặt mình thương cái người dưng, à, mình thương cái người dưng. Ít bữa cái mình với người dưng nó giận nhau, mình buồn khổ. Mình buồn khổ thì nhớ cái phẩm này là niệm danh hiệu Quán Âm. Lúc đó đừng ngồi nghĩ tới mình nữa mà nghĩ đến tất cả chúng sinh, nguyện trải lòng thương yêu này đến tất cả chúng sinh, thì tự nhiên mình thấy mình bớt đau khổ vì cái người dưng đó. Nên mấy đứa con gái, đứa con trai còn trẻ trẻ nhớ thầy, hôm nay thầy dặn cái điều đó, nghe không? Nhưng mà lỡ mà có thương người dưng nào thì nhớ điều đó. Có một chuyện à có một bé, con của một Phật tử ở

[40:22]đâu trong đây, nó đi qua cái cầu sông Đồng Nai. Cầu cao lắm. Thấy hai cha con đó ổng muốn tự tử, ổng ôm đứa con 9 tuổi ổng nhảy xuống sông tự tử luôn, tức là ổng chết mà ổng dìm đứa con ổng chết luôn. Đứng ở trên cầu, lúc đó nó quên mất cái cầu cao khủng khiếp, nó hết sợ, đâm đầu nhảy xuống luôn, đâm đầu nhảy xuống dưới đó cứu được đứa bé đó. Cứu nó cũng suýt chết luôn, phải nhờ tàu cứu hộ ra. Còn ổng kia thì ổng ôm cái chân cầu ổng chịu ổng ngột thở ổng chết mất, nhưng cứu được cái đứa bé. Thì chúng ta thấy nè, trong cái lúc mà đó đó, tại sao mà ta quên mất cái cầu cao? Mình đứng trên cầu nhìn xuống sông nhiều khi mình chóng mặt,

[41:01]mà lúc đó tự nhiên hết sợ nhảy xuống đại cứu là sao?

[41:06]Nói theo như thầy trụ trì ở đây thầy giải thích, khi thầy nghe câu chuyện đó thầy trụ trì ở đây đó thầy giải thích, tại lúc đó mình quên mình, mình chỉ nghĩ tới đứa bé, nên quên mất cái cầu nó cao mà nhảy từ trên đó xuống là là gãy xương sống chứ đâu phải dễ. Nhưng quên mình nên dám nhảy xuống cứu đứa bé. Chúng ta thấy cuộc sống mình là như vậy đó. Sở dĩ mình sợ hãi, mình đau khổ vì mình nghĩ tới mình. Còn ở đây khi mình vị tha nghĩ tới người khác thì cái đau khổ biến mất. Nên cái ý nghĩa mà khi gặp đau khổ niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm nghĩa là vậy đó, nghĩa là trong cái đau khổ này, mình trải lòng thương yêu tất cả

[41:42]chúng sinh, đừng nghĩ tới mình nữa thì cái đau khổ của mình biến mất. Đó là ý thứ hai. Ý thứ ba là trong cái đau khổ mà mình nhiếp tâm vào thiền, vì Bồ Tát Quan Âm là tượng trưng cho thiền định đó, bằng cái sự tỉnh giác, lắng nghe âm thanh mà không chạy theo âm thanh. Đây là một phương pháp thiền định của ngài Bồ Tát Quan Âm nè. Để tôi giải thích sơ sơ quý Phật tử nghe mà hiểu, hiểu cái này nó liên quan tới kinh Lăng Nghiêm, hiểu một chút xíu. Bây giờ quý Phật tử à mình đang ngủ phải không? Nghe ai kêu mình tiếng thì mình sao? Mình thức dậy, phải không? Nên cái tiếng động nó có tác dụng là làm cho mình

[42:21]tỉnh thêm, tỉnh thêm chút nữa, đúng không? Ví dụ như mình đang ngồi mình suy nghĩ chuyện này chuyện kia, chợt có người kêu mình, "Chị Năm! Chị Năm!", cái lúc đó mình chợt tỉnh ra, mình không suy nghĩ đông tây nữa mà trở về với thực tại chỗ mà người ta đang kêu mình, đúng không? Đó, cho nên cái tiếng động nó giúp cho mình trở về với thực tại. Rồi bây giờ chúng ta đang ngồi với nhau ở đây cũng vậy, chúng ta đang nghe cái gì? Thôi bây giờ không thèm thuyết nữa, bây giờ nghe cái gì?

[42:58]Bây giờ ví dụ đang không có tiếng giảng nè, quý Phật tử nghe cái gì? Cái quạt nó quay khúc khắc khúc khắc, phải không? Cái người ngồi bên cạnh nhúc nhích cái gì đó, tiếng động, có người có tiếng cười, nghe cái tiếng động mình nghe rõ, phải không? Đó, và những cái tiếng động đó đó, nếu mà tâm mình động, mình chạy theo á, thì mình sẽ động tâm, mình thành một cái vọng tưởng, mình suy nghĩ mãi, suy nghĩ mãi. Ví dụ nghe tiếng quạt mà mình quên lời giảng đi, mình lắng nghe tiếng quạt, mình thấy cái quạt này khô nhớt, khô nhớt, nó kéo mình đi, rồi cái bắt đầu sao nữa? Nó kéo mình tới quạt nhà mình chưa kêu, tại mình mua năm cái quạt tốt.

[43:37]Mình nói đồ bây giờ đồ Nhật nó tốt hơn đồ Thái Lan. Đó, từ một tư tưởng của tiếng quạt mà dắt một lần qua tới Nhật, qua Thái Lan ở bển rồi. Nếu mà vì cái tiếng động mà mình chạy đi thì vọng tưởng dắt mình đi mất. Còn nếu cũng nghe cái tiếng động mà mình chỉ nghe thôi, không có chạy theo nó,

[43:59]lặng lẽ và mình đang sống ở thực tại này, quên hết quá khứ, không mơ ước gì tới tương lai nữa và chỉ đang trong giây phút hiện tại mình có được sự tỉnh giác, đúng không? Và như vậy, cái đau khổ biến mất. Như vậy, hai cái phương pháp để chúng ta vượt qua đau khổ, một là bằng lòng từ bi, hai là bằng cái thiền định, cái tỉnh giác. Khi chúng ta đau khổ, chúng ta hãy trải lòng thương yêu tất cả chúng sinh thì cái nỗi khổ của mình nó cũng vơi bớt, và cái nữa là khi chúng ta đau khổ, chúng ta nhiếp tâm vào thiền định, tâm mình được thanh tịnh an lạc thì đau khổ cũng cũng vơi bớt, đó là cái nghĩa gần. Bây giờ ta nghe tiếp:

[44:46]"Nếu có người bị nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát này liền được chỗ cạn." Ở đây là nghĩa đen nha, chứ không phải nghĩa bóng. Có người giải thích cái này là nghĩa bóng, nghĩa là nước này là tượng trưng cho nước tham ái, mà niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm là mình nhiếp tâm vào tu thì mình thoát được tham ái, đó là giải thích theo nghĩa bóng, nhưng mà sự thực, cái chỗ đoạn kinh này là đang nói nghĩa đen, không nói nghĩa bóng. Nghĩa đen thật sự như vậy đó, hễ người mà rớt xuống nước mà niệm Bồ Tát Quan Âm là thế nào cũng chìm mà được chỗ cạn. Bữa nào không tin quý Phật tử kiếm chỗ sâu sâu nhảy thử.

[45:25]Nhưng mà nhớ viết thư để lại, nhớ viết thư từ cái gì dặn dò để lại rồi làm thử.

[45:33]Đây cũng là một câu chuyện có thực. Có cái bà cả gia đình bà, trong thời gian mà sau giải phóng hay có cái vụ mà đi vượt biên, biên này nọ đó, Phật tử nghe không? Thì bả bị lừa, bị cái nhóm lừa cướp đó, tổ chức nó lừa đưa hết gia đình bả lên ghe đi ra ngoài biển. Sau đó ra tới ngoài khơi rồi đó, nó mới xốc từng người lên nó đập búa vào đầu nó thả xuống biển. Thì cầm ông chồng bả lên nó đập cái bốp, quăng xuống biển trước mặt bả, xốc mấy đứa con ra đập bốp bốp thả xuống biển, và đập tới bả luôn. Thì lúc đó bả mới niệm Quan Âm. Nhà bả là người mộ đạo nhất, nên lúc mà thấy cảnh đó bả quá sợ hãi, lật đật bả niệm Bồ Tát Quan Âm,

[46:15]thì nó cũng vác bả đập một cái bốp vô đầu quăng luôn xuống biển. Một dòng nước lạ không biết từ đâu cứ cuốn bả trôi đi trôi đi mà không chìm, tại nếu chìm bả chết rồi, bả không biết bơi. Trôi từ ngoài biển trôi mãi trôi mãi, trôi vào dòng sông, trôi vào dòng sông rồi trôi dần trôi dần vào tắp vào một cái ghe của người ta rồi người ta cứu bả lên. Bả lên rồi bả tìm về được nhà, chữa được bệnh, bởi vì cũng bị đau đầu do nó đánh. Sau này bả thường xuyên đi chùa, và lúc đó bả đến cái chùa mà tôi đang ở, bả kể lại câu chuyện của bả cho quý thầy nghe. Đây là một chuyện có thật, vì chính bà đó là bà con người thực mà chúng tôi được

[46:52]gặp gỡ, được nghe chính bà kể lại, khủng khiếp, nên đây là nghĩa nghĩa thực đó. "Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sinh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu và các thứ báu nên vào trong biển lớn. Giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của người đó trôi tắp vào nơi nước quỷ La-sát, trong ấy nếu có một người niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì những người đó đều được thoát khỏi nạn quỷ La-sát. Vì cái nhân duyên đó mà gọi Bồ Tát này là Bồ Tát Quán Thế Âm." Quan sát tất cả tiếng kêu của thế gian cứu giúp. Ở đây có thể giải thích theo nghĩa bóng là một người vì tham tham nên đi tìm san hô,

[47:41]hổ phách nè nên lên ghe mà đi vào rong ruổi đi vào luân hồi sinh tử. Lên ghe đi vào trong biển tức là từ cái tham này mà mình trôi lăn trong luân hồi sinh tử. Gió lớn thổi lên, gió lớn là cái tâm mình nó động, gió lớn thổi lên làm động tâm. Trôi tắp vào nước quỷ La-sát là bắt đầu cảnh khổ, phiền não, đau khổ hiện ra. Thì trong đó nếu mà mình niệm Bồ Tát Quan Âm tức là làm cái gì? Niệm Bồ Tát Quan Âm là làm? Khởi lòng từ bi với chúng sinh, phải không? Nhiếp tâm vào thiền định để vượt qua cái tham, cái sân của mình thì sẽ thoát được cái nạn khổ của quỷ La-sát. Thì cái chuyện này là nói theo nghĩa bóng

[48:27]là nghĩa gần gũi, nhưng cũng là nghĩa đen, nghĩa đen là nghĩa có thật. Cứ hiểu đúng như vậy là cũng có thật. Là nếu mà chúng ta gặp cái hoàn cảnh ác quỷ, bây giờ nghe chữ ác quỷ mà kiếm không ra, giờ sợ bom nguyên tử, sợ hỏa tiễn nhiều quá, ác quỷ trốn đâu mất sạch hết, hồi xưa sao nghe hoài không biết nữa, xưa đủ thứ chuyện giờ hết nghe ác quỷ.

[48:53]Nếu mà mình gặp đây là nói trong thế giới vô hình đó, mình gặp một cái chúng sinh trong thế giới vô hình mà loại chúng sinh nó dữ á, mà mình niệm danh hiệu Quan Âm thì những cái chúng sinh hung dữ trong thế giới vô hình cũng thoát ra được. Mình cũng thoát ra được. Thì có câu chuyện hôm nọ có người Phật tử họ lên họ hỏi tôi, mà thật sự tôi cũng không biết đường đâu mà trả lời. Nói ở bà dì ở một cái ngã ba mà tới đó người ta cứ bị tông xe chết hoài. Ở cái chùa đó tự nhiên có một lần có cái người đó họ bị lên đồng, họ lên đồng mà nhiều người nhập vào để nói chuyện này chuyện kia, thì họ đều là những người mà đã chết ở tại cái ngã ba đó.

[49:36]Họ mới kể rằng là khi mà họ bị tông xe chết á thì họ mới biết rằng là ở cái đó có nguyên một cái đảng, đảng ma trong thế giới vô hình mà có một con ma nó làm thủ lĩnh nó như quỷ á, và luôn luôn nó thèm máu người. Thì nó cứ đứng ở đó, hễ ai đó tới nó tìm cách nó xô người ta để người ta té mà có đổ máu ra là nó ngửi cái mùi máu đó là cảm thấy nó thích. Thế giới vô hình nó cũng có nhiều loại, có những chúng sinh vất va vất vưởng hiền lành, nhưng cũng có những chúng sinh cũng hung dữ, ghê gớm. Rồi họ đem chuyện đó lên họ hỏi tôi chuyện đó như thế nào? Thì thầy chưa chết, thầy cũng không biết nó làm sao, biết quỷ làm sao.

[50:14]Để từ từ tính. Nhưng mà ở đây cái sức cảm hóa từ nơi Bồ Tát Quan Âm á là chẳng những những cái tai nạn thực tế trong cuộc đời này mà danh hiệu Bồ Tát Quan Âm có thể tác động luôn vào thế giới vô hình. Những chúng sinh trong thế giới vô hình nghe tới danh hiệu Bồ Tát Quan Âm cũng bị chuyển biến, không còn ác độc hung dữ nữa, đó là nghĩa đen. À, mà tại sao có cái trường hợp này xảy ra trong đạo Phật? Mình sẽ liên hệ với cái ý nghĩa này để biết. Ví dụ như quý Phật tử ở nhà có điện thoại, khi mình gặp cái chuyện tai nạn khủng khiếp nào đó thì mình gọi số mấy?

[51:01]Gọi số mấy? Trời, có điện thoại mà không biết số gì gọi, rồi đụng chuyện rồi sao? 113 là công an khẩn cấp, 114 là cứu hỏa khẩn cấp, 115 là xe cứu thương khẩn cấp, làm ơn nhớ giùm mấy chuyện đó.

[51:21]Còn bên nước Mỹ thì họ có cái số là 911 (nine one one), hễ đụng chuyện khẩn cấp cứ nhấn số đó. Dù mình bị thương mình không nói được nữa thì người ta cũng xác định cái vị trí người ta tới liền. Ví dụ có người đó họ bị tai nạn trong nhà, rồi họ bị nhà bị bốc lửa cháy họ bị ngợp, họ chỉ dở dở họ nhấn được ba số 911 rồi họ buông điện thoại họ rớt, nằm gục. Thì ở nơi tổng đài họ tra ra cái số đó từ đâu gọi tới, vị trí nhà đó ở đâu là xe chữa lửa, xe cứu thương, cảnh sát tới tại chỗ để cứu liền. Thì chúng ta thấy ở một cái quốc gia văn minh họ có hệ thống nghĩa là cứu cấp kịp thời, phải không? Nước gia văn minh nào cũng có hệ thống như vậy thì trong Phật pháp cũng có điều đó.

[52:06]Nhưng Phật pháp thì không có điện thoại mà bằng cái niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm. Có một vị Bồ Tát đảm nhận cái công hạnh đó. Mỗi vị Bồ Tát thường có cái công hạnh hơi khác nhau buổi đầu, về sau thì từ từ giống nhau hết. Nhưng mà ban đầu mỗi vị có một việc khác nhau như vị Trì Địa Bồ Tát ổng có cái hạnh gì? Đắp đường, bắc cầu. Nên là ổng cứ hiện thân trong luân hồi sinh tử ổng hay đi đắp đường bắc cầu để gieo duyên với chúng sinh. Những chúng sinh nào đi trên con đường của ổng đắp, đi trên cái cầu của ổng bắc thì những chúng sinh đó sẽ có duyên với ổng rồi ổng sẽ đến để ổng giáo hóa. Đó, có những vị Bồ Tát như vậy.

[52:42]Rồi có vị Bồ Tát như Thường Bất Khinh á thì gặp ai cũng gieo cho người ta một cái niềm tin là người nào cũng có thể thành Phật được hết. Ổng đi lang thang gặp ai cũng gieo người ta cái niềm tin như vậy. Đó là một cái hạnh của vị Bồ Tát. Rồi ví dụ như là như những vị Bồ Tát Dược Vương, Dược Thượng thì có cái hạnh là thích chữa bệnh cho người ta. Hễ ai mà bệnh tật cái nọ mấy vị đó thích chữa. Mỗi vị Bồ Tát có một công hạnh. Nhưng mà riêng cái công hạnh của Bồ Tát Quan Thế Âm là Bồ Tát cái hạnh cứu cấp là khó nhất, hạnh cấp cứu là khó nhất. Tại sao khó? Tại vì cấp cứu đòi hỏi trình độ cao hơn là người thường.

[53:24]Như vào trong bệnh viện á, bác sĩ giỏi mới nằm ở khoa cấp cứu. Tại lúc đó là phải ứng phó kịp thời, chậm trễ chừng nửa phút, một phút là người ta chết liền. Đến đó là phải nhanh chóng giải quyết liền, mà phải có phương tiện hiện đại. Cho nên chúng ta chữa bệnh á, ví dụ ông thầy thuốc á, chữa bệnh lâu dài dễ chữa lắm. Ví dụ người ta cảm đâu có chết liền, hay dị ứng chết liền, từ từ mình chữa. Nhưng người ta đang giẫy tê tê, người ta đang nín thở, tắt thở, mắt trợn tròng thì cái người có tay nghề cao phải châm cứu, điểm huyệt hay làm sao đó, phải giỏi thì mới cấp cứu người ta được. Cho nên cái người có khả năng cấp cứu là người rất giỏi.

[53:59]Thì cũng vậy, ở những cái giai đoạn ban đầu á thì một vị Bồ Tát chưa đủ khả năng cấp cứu, vì cái nghiệp chúng sinh tới lúc đó rất nặng, mình không chặn lại nổi. Nhưng mà khi cái phước của mình rất lớn mà người ta có hướng tâm về mình thì mình đủ sức san sẻ phước để giúp người ta vượt qua. Cho nên cái công hạnh của Bồ Tát Quan Âm là công hạnh cấp cứu, mà trong kinh gọi là gì? Chữ... chữ gì? Thí vô... Thí Vô Úy, giúp cho người ta vượt qua sự sợ hãi trong lúc cấp thời. Đây là một trong những cái cứu giúp chúng sinh rất là hay. Hạnh cấp cứu mà, hạnh này không dễ làm, phải vị Bồ Tát là đại Bồ Tát, phước đức vô cùng lớn mới làm nổi cái hạnh này.

[54:46]Nếu lại có người sắp sẽ bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì dao gậy của người cầm liền gãy từng khúc, người ấy được thoát khỏi. Ở đây có ai có cái này chưa? Có ai có kinh nghiệm này chưa? Lại có một chuyện là tôi cũng được nghe là

[55:05]cái anh này ảnh bị giống như là bị cướp vậy đó, bắt trói lại. Bắt trói lại, anh này là người đàn ông chứ không phải là người đàn bà, người nữ. Người nữ thường là dễ tin hơn nhưng anh này ảnh lại là có lòng tin. Thì tên cướp mới đánh ảnh để tra của, mà trong lúc đó là ảnh niệm Quan Âm, thì đánh vô cái là cái cái gậy nó bị gãy liền. Câu chuyện đó có một lần tôi nghe lúc đó tôi còn còn nhỏ lắm, cách đây mười mấy năm tôi đã nghe câu chuyện này. Nên những cái điều mà chi tiết nói chi tiết lặt vặt lặt vặt trong phẩm Phổ Môn này đều ứng thật theo nghĩa đen, chứ không phải là chỉ trên nghĩa bóng về tu hành không thôi.

[55:42]Nếu quỷ Dạ Xoa cùng La Sát đầy trong cõi tam thiên đại thiên muốn đến hại người, nghe xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì quỷ đó không còn dùng con mắt dữ để hại người, chứ đừng có nói để mà làm hại được. Vì cái sức mạnh của Bồ Tát cảm hóa họ được, điều này có hai nghĩa. Cái nghĩa thứ nhất á thì khi chúng ta niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm thì cái thần lực của Bồ Tát chuyển biến tâm của những loài hung dữ này. Cái La Sát, Dạ Xoa này là tượng trưng cho chúng sinh mà hung dữ. Và chúng sinh đó là chúng sinh cõi người mình cũng như là chúng sinh trong cõi vô hình, đều là những chúng sinh hung dữ. Nhưng nếu mà mình niệm danh hiệu Bồ Tát thì trong

[56:24]vô hình chuyển được tâm của người kia. Cái nghĩa thứ hai là khi mình gặp một người hung dữ mà họ... họ bắt đầu họ nổi gió làm dữ với mình thì mình làm sao? Nghĩa bóng. Thì mình sao?

[56:50]Mình khởi tâm từ bi mà nhìn họ.

[56:55]Ở bước đầu á, do cái công hạnh mình chưa sâu dày, khi mà họ làm dữ với mình, mình khởi cái niệm hiền lành, tác ý đối lại nhìn họ thì nhiều khi họ còn giận, họ tát mình bạt tai rồi thôi họ bỏ đi. Tại cái công hạnh về quán từ bi mình chưa mạnh. Nhưng mà khi công hạnh quán từ bi của mình qua vài năm nó sâu dày rồi, người ta vừa sấn sấn làm dữ với mình, mình khởi lòng từ bi nhìn người ta, người ta dịu xuống liền. Mà cái này đòi hỏi công phu hơi lâu. Còn quýnh quá thì sao? Thì cứ niệm Bồ Tát chắc ăn nè. Còn nếu mà mình có thời gian tu hành đã chuẩn bị rồi thì lúc gặp chuyện dữ cứ khởi tâm từ bi hướng về cái

[57:37]người hung dữ, mình sẽ hóa giải được bớt cái tâm hung dữ của họ và nói chuyện với nhau bình tĩnh hơn.

[57:49]Lại có người hoặc có tội hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát tất cả đều đứt rã, liền được thoát khỏi. Cái ràng buộc này có hai nghĩa: hoặc là một cái sức trói buộc thật sự, như là mình không phải là tội phạm nha, không phải là tội phạm nặng, tức là đây là người tốt mà lâm vào cái hoàn cảnh nào đó bị trói, bị giữ. Và nếu mình niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm thì sẽ có những cái may mắn bất ngờ làm cho dây nó sút ra, sút ra. Đây là điều có thật theo nghĩa đen. Còn nghĩa bóng là cái sự trói buộc này tượng trưng cho gì? Sự cái triền phược, phiền não trong tâm mình.

[58:34]Và nếu mình nhiếp tâm vào trong thiền định, nếu mình biết khởi tâm từ bi thì cái ràng buộc trong tâm mình được tháo gỡ. Vì mọi cái ràng buộc trong tâm mình á mọi cái triền phược, mọi cái phiền não khởi sinh từ lòng ích kỷ. Mà nếu mình quán tâm trong cái từ bi thương yêu chúng sinh thì cái ích kỷ đó nó cũng được giải tỏa và cái phiền não đau khổ của mình cũng biến mất. Này nghĩa giống như trước.

[59:06]Cái hình mà thờ Bồ Tát Quan Âm á, quý Phật tử nhớ có những cái hình gì đâu nhớ? Đứng nói nghe. Thứ nhất là hình Bồ Tát phải không? Hình như một người mẹ, hình một cái chú gì nữa? Đồng tử, phải không? Hình gì nữa? Con chim anh lạc, phải không? Rồi có khi đứng trên tòa sen hoặc có khi đứng trên con rồng, phải không? Hình ảnh như vậy. Quý Phật tử có ai đã tới Đại Tòng Lâm chưa? Thấy cái tượng Bồ Tát Quan Âm thiệt là lớn nằm ngoài giữa đồng ruộng không? Thì cái cánh đồng ruộng đó đó, hầu hết là của mấy người Thiên Chúa. Tại vì đất thì của chùa hồi xưa khẩn, rồi sau giải phóng không biết quản lý không được sao mấy người Thiên Chúa họ qua họ khẩn họ làm tới bây giờ

[59:55]họ lấy luôn, thì chính quyền cũng cấp luôn cho họ đám đất đó luôn. Thành thử đất của chùa rất lớn mà mất. Những người Thiên Chúa họ quản lý mấy đám ruộng đó họ họ làm. Mà mấy người Thiên Chúa đó thì họ có tín ngưỡng với Bồ Tát Quan Âm không? Không, phải không? Chả để ý gì có bà nào đứng đó hay chùa thờ. Nhưng mà có một gia đình ở bên Ngọc Hà, tức là cái xóm Thiên Chúa, cái làng Thiên Chúa mà họ có ruộng bên Quan Âm á, họ hay qua làm ruộng. Cái gia đình đó hai mẹ con á kể lại cho một người quen là người Phật tử nghe. Họ mới lên họ kể lại cho chúng tôi nghe. Kể rằng có những lúc họ nhìn lên tượng Phật Bà thì họ thấy có những con rồng

[1:00:35]từ đâu đến bay quanh tượng Phật như là lễ bái vậy đó, rồi bay đi biến mất. Mấy lần như vậy. Thấy con rồng hiện ra.

[1:00:45]Còn cái chuyện mà con chim anh lạc, cái chuyện ly kỳ, nó lạ lắm. Hồi lúc mà tôi chưa đi tu, cái tôi nghe nói ở Long Thành có cái ông đó ổng làm bảo vệ chợ là quản lý thị trường gì đó. Chức là chức gì tôi cũng chẳng rành. Ông này thì ổng ổng không có biết đạo, không có tin tôn giáo. Rồi do cái giấc mơ thấy thế nào đó mà ổng đào được lên một cái tượng Phật. Ổng thờ và nghe nói tượng đó rất linh. Tôi hiếu kỳ, tôi mới tìm tới cái nhà ổng. Tôi tìm tới cái tôi hỏi: "Thưa anh, phải là anh Chính, anh đào được tượng Phật không?" "Dạ phải". Ổng mới chỉ lại cái tượng Phật đang thờ trên bàn thờ. Tôi đến, tôi thắp nhang và tôi đảnh lễ. Tôi nói:

[1:01:28]"Anh vui lòng anh kể giùm nghe cái câu chuyện này". Ổng mới kể rằng: "Năm giấc mơ trong năm đêm liên tiếp. Cái giấc mơ đầu tiên thì ổng thấy một cái ông gì giống như ông Địa, mập mạp và hồng hào, đứng ở bên sân của ổng. Tại cái nhà ổng cái đất rộng, cất nhà một bên, còn một bên là vẫn là cái sân, thì ổng đứng bên đó ổng nhìn ổng cười. Cái sáng ra ổng nói với cái bà hàng xóm trước mặt, thì bà đó là Phật tử, nói: "Đêm hôm tôi nằm mơ tôi thấy ông Địa". Bà kia thì bả cũng không biết, không biết đó là Bồ-tát Di Lặc, phải không? Tại người đời họ không rành đó, họ cứ thấy ông Địa, Bồ-tát Di Lặc nó giống nhau, cứ tưởng vậy.

[1:02:06]Cái đêm thứ hai thấy một người giống như một đồng tử trai trẻ dậm chân dưới đất, dậm chân cái chỗ đứng rồi biến mất. Ổng không biết chuyện gì. Thấy mấy đêm, cái đêm thứ đêm cuối cùng là đêm thứ năm á, thấy đồng tử đó mới mắng ổng, nói: "Ngươi thật là ngu, chỉ cho của báu mà không biết lấy. Ngươi không thấy người ta xuống biển để tìm của báu?" Thì theo cái tay chỉ, ổng nhìn theo ổng thấy hiện ra một cảnh người ta cứ lăn lăn lăn nhảy xuống biển để đi tìm dưới biển. Rồi chú đồng tử nói tiếp: "Người ta lên rừng để tìm của quý". Theo cái tay chỉ ổng lại thấy hiện ra cái cảnh bao nhiêu người đi lặn lội lang thang vào rừng để tìm của.

[1:02:44]"Còn chỉ cho ngươi của báu mà không biết nhận". Nói rồi biến mất. Sáng ra ổng mới qua ổng mới hỏi cái bà Phật tử trước nhà nữa. Bà kia nói: "Mấy đâu? Mày đào cái chỗ đứng lên coi". Ờ, bắt đầu đào. Thì ổng mới dẫn tôi ra xem cái chỗ đào đó, cái dấu đào vẫn còn. Ổng nói: "Khi đào xuống một thước á thì đụng một cái rễ cây bốc lên mùi thơm ngào ngạt mà cái rễ cây đó không của một cây nào hết, nó chỉ là một cái rễ cây nằm ở dưới đất một khúc vậy thôi. Không của một cây nào hết nha, mà nó vẫn tươi, vẫn sống, bao nhiêu năm không biết mà rất là thơm. Đào đào đào nó tới nguồn của cái rễ cây thì không thấy có cây nào dính líu.

[1:03:20]Đào lại đằng ngọn của cái rễ cây thì nó từ từ nó nhỏ, nó bọc trong cái chùm, cái chùm đó đất nó dính. Lấy cái chùm lên mở ra thì có cái tượng Phật Di Lặc bằng đồng. Khi mà moi moi được cái tượng ra cái ổng nói: "A, đúng cái ông Địa này nè, tôi thấy ông này nè". Còn ông kia ông kia là một Phật tử, cái ông chồng của bà Phật tử trước mặt, ổng biết cái ổng lật đật quỳ xuống ổng xá liền, ổng nói: "Đây là Bồ-tát Di Lặc". Về mới lấy nước thơm rửa rồi thỉnh lên bàn thờ. Ổng mới về ổng mới kể lại, mấy người Phật tử mới đến, mời một cái sư cô ở đằng Sáng hay Long Thành, xã Long Thành đến, rồi làm lễ an vị, tụng kinh.

[1:03:54]Tụng kinh trong ba ngày. Thì ảnh mới kể lại là khi mà tụng tới phẩm Phổ Môn này, tự nhiên có một con chim nó đến nó đậu bên ngoài, nó tụng theo. Ở trong đây tụng là nó tụng theo. Nhưng mà cái bà Hải đó, hôm đó bả tụng trật, con chim nó không tụng nữa, nó kêu quác quác quác lên. Bả mới ngạc nhiên, bả nhìn lại bả thấy bả bỏ mất mấy chữ. Bả tụng trở lại đúng thì con chim bên ngoài nó cứ tụng theo, tụng theo. Nó không tụng thành tiếng người, nó kêu tiếng chim thôi, nhưng mà kêu từng tiếng từng tiếng theo đúng với những tiếng ở trong cái bài kinh. Khi mà tôi nghe ổng kể câu chuyện đó, thì sau này tôi hay tới lui với ổng trở thành bạn.

[1:04:31]Và tôi nghe câu chuyện đó, chợt tôi khởi một cái ước muốn là được gặp con chim đó. Cái ước mơ đó bí mật, tôi cũng chẳng nói cho ai nghe. Ước mơ đó cũng cả một tháng sau vậy đó. Rồi một lần cái tôi đi từ bên Trảng Bom đi về, tôi đạp chiếc xe đạp đi băng qua đường rầy, tôi vừa băng qua đường rầy, tự nhiên có con chim từ đâu bay tới đó, đảo trên đầu tôi ba vòng, vừa đảo vừa kêu, đúng ba vòng. Cái tôi mới ngừng xe lại tôi nhìn lên, thì khi con chim nó xòe đôi cánh mà nó kêu cái tiếng kêu, tôi thấy dưới cái cánh con chim nó có hai cái vòng hai cái vòng đen, hai bên có hai cái vòng đen nè, và bay đảo quanh đầu tôi đủ ba vòng rồi bay đi mất luôn.

[1:05:09]Tôi mới về, tôi tìm đến cái anh Chính đó tôi hỏi, tôi hỏi: "Cái tiếng con chim nó phải như vậy không?" Tôi cũng bắt chước lại tiếng chim kêu, bây giờ thì bắt chước không được, kêu kỳ lắm. "Nó kêu như vậy không?" Anh nói: "Đúng rồi". Nói là khi nó bay lên phải là con dưới cánh có hai cái vòng đen? Anh nói: "Đúng rồi, đúng con chim đó". Tôi nghĩ cũng lạ thiệt! Chỉ cái ước mơ tôi thầm kín trong đầu mà chợt nhiên cũng có cảm ứng, hay thiệt! Nên là tôi nhớ lại cái hình tượng Bồ-tát Quan Âm mình hay thờ đó, có đồng tử và có con chim anh lạc, tôi nghĩ không phải là cái chuyện ngẫu nhiên mà người nào đó đã dựng lên cái hình tượng.

[1:05:46]Người ta cũng đã cảm nhận được những cái vi diệu nào đó có thật mà người ta phải vẽ lên để thờ, phải không?

[1:05:55]"Nếu như kẻ oán tặc đầy trong cõi tam thiên đại thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu, trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng: Các thiện nam tử, chớ nên sợ sệt. Các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, vì Bồ-tát đó hay đem pháp vô úy để thí cho chúng sinh. Các ông nếu xưng danh hiệu thì sẽ được thoát khỏi oán tặc. Mọi người nghe rồi đều xưng lên: Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát. Vì xưng danh hiệu Bồ-tát nên liền được thoát khỏi". Ở đây có hai nghĩa: Cái nghĩa thứ nhất là nghĩa đen, là cũng giống như những cái nghĩa trước. Khi mình sống trên cuộc đời này

[1:06:37]mà mình đi vào một nơi mà toàn là kẻ oán tặc, tức là kẻ cướp nè, chiến tranh, quân trận, tức là nơi mà người ta cầm dao, cầm gươm, cầm súng để sẵn sàng bắn nhau, giết nhau, mình không biết xui sao mình lọt vào trong cái vùng đó, thì nếu mà mình xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát thì sẽ thoát khỏi, thì sẽ thoát khỏi. Tôi nhớ câu chuyện của một cô Phật tử, cô kể, của ủa hiện nay thì cô đang ở bên Mỹ á nhưng mà cô có đi đi về về, cô nói rằng hồi nhỏ, vào cái thời Pháp mà chiếm Việt Nam thì lính Pháp đàn áp dã man để chống lại cái phong trào Việt Minh đang giành độc lập, thì họ đi vào đâu mà họ nghi là Việt Minh thì họ bắn giết hết.

[1:07:23]Nói thời đó dân mình sống rất là khổ. Thì hôm đó cái tự nhiên có tiếng báo động ngoài làng là Pháp đang tràn vào làng giết bắn giết, thì cả gia đình mới xúm nhau chạy trốn, bỏ gia đình, dắt díu nhau đi vào đồng ruộng để trốn. Mà ở miền Tây á thì vườn rừng ít lắm, toàn là đồng lúa, những cái bờ đê những bờ đê vậy, cái lúc đó người nhà của cô mới chạy, nhảy luôn đại xuống một cái bờ, cái bờ đất. Bờ đất thì cỏ mọc lưa thưa thôi thì cũng hổng có kín đáo như cái miền Tây. Cổ cứ nằm đó cổ niệm Bồ-tát Quán Thế Âm. Thì lính Pháp nó tràn vào làng nó giết người, rồi nó tràn đi nó lùng tiếp, đi ra ngoài đồng nó lùng tiếp,

[1:08:05]thì những người khác núp nơi này bị nó lôi ra nó bắn, lôi ra nó bắn. Đi đến cái chỗ cái bờ của cổ, gia đình của nằm, thì nó không thấy, mà cô nói là ngồi ở đó thấy đi ngang rõ ràng, cỏ lưa thưa lưa thưa à, nói: "Thì có mắt cận thị dòm cũng thấy nữa, mà không biết sao nó không thấy, đi luôn rồi gia đình thoát chết kỳ đó". Nên nghe câu chuyện đó tôi lại nhớ cái đoạn này: Nếu mình lọt vào nơi oán tặc đầy cả tam thiên đại thiên, lọt vào vùng chiến tranh, là cướp bóc, mà người ta lúc nào cũng cầm gươm, cầm kiếm, cầm súng mà đi lùng để giết nhau, mà mình là người hiền lành lỡ lọt vào một cái nơi như

[1:08:37]vậy, mình cứ một lòng xưng danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm thì sẽ được thoát khỏi. Đây là nghĩa đen, rất là đúng. Và nghĩa bóng là gì? Nghĩa bóng là gì? Nếu mình đã lỡ gây hận thù với chúng sinh nhiều quá rồi, mình lỡ gây hận thù nhiều quá, bây giờ mình phải gặp lại kẻ oán thù thì mình làm sao để hóa giải điều đó? Cũng chỉ lòng từ từ bi. Đó, quý Phật tử bây giờ là hiểu đạo nhiều rồi đó, trả lời đúng rồi đó.

[1:09:10]Gặp lại những người mà họ ghét mình, bây giờ thì mình không có ghét họ, tại đời trước mình lỡ mình mắng họ câu gì đó, hoặc mình lỡ mình đánh họ bạt tai nào đó, cái nó thành cái mối oán thù nhiều kiếp. Bây giờ gặp lại tự nhiên họ ghét mình. Có khi mình sống trên đời mình chả đụng gì tới ai hết á, sao người ta cứ ghét mình. Quý Phật tử có bị đó không? Cũng có khi ha. Ờ mình chả đụng gì tới ai mà sao người ta dòm mình người ta cứ ghét à. Đó thì cứ phải phải làm sao?

[1:09:41]Phải làm sao? Đúng! Đối lại người ta bằng lòng từ bi. Chứ đừng đem oán thù để đối lại với oán thù. Mà biết người ta ghét mình á thì ngồi phải ngồi tưởng là nguyện: "Con rất thương người này, con rất thương người này". Mình khởi cái ý nghĩ như vậy, mặc dù khó khởi lắm nha, tại người ta cũng đắc ám lắm, người đâu mình không làm gì cứ moi móc nói xấu mình riết, rất là bực. Bây giờ ngồi nghĩ thương thương bả, thương bả, thương không vô, nhưng mà phải ráng, phải ráng. Phải nghe lời Phật dạy. Nghĩa là bả đi ngang bả hứ, bả thấy mình là bả rầy bả la, bả đủ thứ, nhưng mà rồi lắng tâm lại, ngồi tưởng hình bà đó lên trước mặt và mình tưởng mình đến ôm hôn thắm thiết.

[1:10:27]"Vô Tận Ý, Quán Thế Âm Bồ tát sức oai thần cao lớn như thế." Khi mà mình được thoát cái nạn á mà do xưng danh hiệu Bồ tát Quan Âm á, ở đây mình đứng trên nhân quả mình sẽ còn hiểu thêm điều này nữa. Ví dụ như khi mà mình gặp tai nạn, như mình đi trên ghe, trên sông, cái ghe nó chìm, mình niệm danh hiệu Bồ tát Quan Âm cái mình không bị chìm, không bị chết, được cứu sống, được cứu sống. Thì nếu mà nói đúng cái nghiệp của mình á thì mình phải chết chung với những người hành khách khác. Nhưng mà nhờ mình niệm cái mình thoát chết, thì cái phước đó đâu ra? Phải nói là do sức oai thần của Bồ tát phải không, mình hưởng được cái phước đó.

[1:11:16]Nhưng mà trên cuộc đời này cái luật nhân quả không có cái gì mà không do mình hết trơn á, phải chính mình. Nhưng ở đây là cái phước mượn, phước mượn của Bồ tát chứ không phải phước của mình. Quý Phật tử hiểu chữ phước mượn không? Ở đây có ai vay ngân hàng chưa?

[1:11:35]Tức là tiền không phải của mình nhưng mà mình thấy là có con đường làm ăn cái mình đi vay ngân hàng. Đó, mình vay là phải phải trả. Mà trả bằng vốn người ta có chịu không? Phải có phải có lãi. Thì trong Phật pháp cũng giống như vậy, cũng giống như vậy. Khi mình gặp cái chuyện nguy hiểm, mình niệm danh hiệu Bồ tát Quan Âm cái mình được thoát khổ, rồi thôi về nhà mình ăn chơi tiếp, không lo tu hành, không lo tạo phước, tức là mình sao? Không biết trả phước lại mà không trả lãi nữa. Mai mốt hai, ba lần sau mà mình đụng chuyện mình niệm thì ngân hàng không duyệt cho vay nữa, thì ráng mà chịu.

[1:12:24]Không, đây là điều có thật đó. Tôi cũng gặp mấy người rồi, có những chuyện họ niệm danh hiệu Bồ tát không linh, họ mới nói với tôi là: "Sao con đụng chuyện niệm không linh?". Thì tôi mới nói: "Tại mấy lần trước anh niệm xong anh hết nạn, anh không về, không làm phước bù, thì niệm đâu linh nữa". Thì trong Phật pháp vậy mà người đời cũng vậy, chân lý là một mà, khắp nơi đều giống nhau như vậy. Cho nên quý Phật tử á, hễ mình niệm danh hiệu Quan Âm mà thoát được là biết mình mắc cái nợ, mà coi cái nạn nó lớn nhỏ mà về làm phước bù lại trả cho đủ, trả có lời, mà để càng lâu lời càng nặng. Không, đây là có thật.

[1:12:59]Ví dụ như là tôi nói cái chuyện mình đi trên ghe xong chìm ghe, thì cái việc mà mình đáng lẽ chết mà mình không chết thì cái phước đó cần nhiều hay ít? Rất nhiều phải không? Bây giờ về mình làm cái gì? Làm phước làm cỡ nào mới đủ bù lại cái đó? Cứu thoát mình? Làm rất nhiều chứ không có ít được. Hồi nãy tôi nói cái câu chuyện mà cái anh mà thật sự bị đi lạc trong rừng mà đói chết á, nhớ không? Đói mà gần chết mà thấy Bồ tát Quan Âm hiện ra cho bình nước á. Thì chỉ vì ảnh có khởi cái niệm là: "Nếu mà ảnh sống được á thì cả cuộc đời này thôi sống vì người khác, không sống cho mình nữa". Thì đó đó, thì suốt cuộc đời đi làm để trả lại cái nợ mà được Bồ tát cứu sống.

[1:13:44]Chứ đáng lẽ giờ này ảnh không còn tồn tại, mà còn tồn tại thì cái thân mạng này không phải của ảnh nữa, của Bồ tát, của Phật pháp. Cho nên từ đây là cứ lo mà đi làm phước, làm đụng chuyện chùa làm, đụng chuyện dân làng cũng làm, giúp người ta. Mà ảnh lại sống được như vậy nên là phước trả không sợ, sợ thiếu. Thật ra chúng ta thấy á, mình thấy cái mạng sống mình thì quý, nhưng mà đối với những vị thần linh, thần thánh trong cõi vô hình đó, họ thấy cái sống, cái chết nó không quan trọng, không quan trọng. Nếu cần họ lấy mình đi đó. Để tôi kể hai câu chuyện quý Phật tử sẽ thấy hết hồn. Câu chuyện hồi xưa của ngài thiền sư.

[1:14:23]Chuyện này tôi đã kể chưa? Tại kể nhiều quá, nhiều khi kể rồi, kể lại người ta ghét. Có ông thiền sư đó ổng đến trụ trì cái chùa đó thì ổng thấy có cái miếu thờ vua Tề Tuyên Vương ngày xưa còn, ổng mới đến ổng làm cái am, làm cái cốc cho trụ trì ổng ở, ổng dọn dẹp ổng ở. Đêm nằm ngủ cái ổng thấy con rắn, con mãng xà lớn hiện ra nằm kế bên ổng. Con mãng xà lớn bằng cái ôm vậy đó. Ổng thức dậy ổng thấy cái ổng mới xô nó qua một bên, rồi ổng nằm ngủ tiếp. Gặp mình sao? Nhảy một cái lên khỏi nóc nhà ra rớt bên ngoài luôn. Còn vị thiền sư tâm bất động không có sợ, xô con rắn qua một bên rồi nằm ngủ tiếp.

[1:15:04]Qua đêm sau, ổng lại nằm mộng, ổng thấy ông vua Tề Tuyên Vương tới, ổng nói: "Đây là chỗ tôi ở, nhưng mà vì thầy đã đến ở nên tôi không thể ở đây được nữa". Thấy cái đức của một vị thiền sư mà lớn hơn cái ông thần ở trong cõi vô hình thấy ghê gớm chưa? Đức của người tu á. Ổng giành chỗ rồi ông kia phải bỏ đi, không dám cự nự. Còn mình sao? Mình lại nhà người ta mình ở, nhằm cái giường có người chết, nửa đêm họ lôi mình xuống giường. Đuổi đi, có không? Có rất nhiều người bị ma nhát kiểu đó đó. Còn đem thiền sư tới ở là ông thần đó ổng bỏ đi. Ổng nói là: "Vì thầy đã đến ở nên tôi phải đi. Chỉ xin thầy cho tôi 60 tráng đinh trong chùa đem theo để hầu hạ".

[1:15:43]Trong giấc mơ cái ngài ngài đồng ý, ngài cho. Qua ngày hôm sau, tự nhiên khởi lên cơn bệnh dịch chết đúng 60 người tráng đinh trong chùa, người công quả trong chùa. Là ông thần đó ổng lấy đi theo ổng luôn, ổng bắt chết theo ổng để hầu hạ ổng trong cõi vô hình. Nên chúng ta thấy cái mạng của mình không phải là chắc thật đâu, rất là mong manh. Nên Phật nói cái lý vô thường ấy, là sống nay, chết mai, không biết lúc nào. Mà mình ở đây á thì mình thấy cuộc sống mình nó quý, nhưng mà người ở trong cõi vô hình á họ thấy cuộc sống mình là tạm bợ. Mà cuộc sống trong cõi vô hình mới là cuộc sống thật, họ nghĩ như vậy.

[1:16:20]Mình thì mình bám víu cuộc sống vật chất với thể xác này, còn cái người trong cõi vô hình họ nói sống với thể xác này mệt chứ, thôi lấy nó đi về trỏng sống với mình cho khỏe. Họ bắt một cái là chết liền, giống như là 60 người tráng đinh trong chùa, qua một đêm sáng mai phát cơn bệnh lên chết sạch 60 người gọn lẹ. Nó mong manh như vậy, rất là dễ. Cái mạng sống mình nó mong manh như vậy, mà chúng ta vì trong cái lúc tai nạn, cái phước mình đã hết, đáng lẽ phải chết, mà niệm danh hiệu Bồ tát Quan Âm mà được sống thì cái mạng sống của mình nó không còn của mình nữa. Mà của ai? Của Bồ tát á. Thì từ đó suốt cuộc đời còn lại ráng mà làm phước để bù lại, trả cái món nợ.

[1:17:02]Đây là ý nghĩa mượn phước đó, giống như vay ngân hàng. Mà như vậy cũng có cái lợi, có cái lợi là nhờ mình niệm danh hiệu Quan Âm thoát được tai nạn mà mình biết phát tâm làm phước. Cái phát tâm làm phước á nó tạo cho mình một cái chủng tử, cái thói quen đi hết kiếp này sang kiếp khác. Và nhờ vậy mình đi trong luân hồi mình phước mình tăng trưởng, mình sẽ trở thành con người nó được nhiều hạnh phúc, được nhiều cái niềm vui hơn. Và cũng nhờ đó mà mình biết tin Phật pháp, biết tin Phật.

[1:17:39]Phẩm này thì giảng không hết. Đã hết giờ rồi mà giảng không hết. Chắc phẩm này phải giảng hai lần.

[1:17:51]À thôi, có hỏi gì hỏi đi.

[1:17:58]Cái chữ "Mẹ" đó thì sai thì không sai. Sai không sai bởi vì Bồ tát đến với chúng sinh như một người mẹ hiền, thương yêu tất cả chúng sinh. Nhiều khi mình thương con mình không bằng Bồ tát thương mình nữa. Cái lòng thương yêu của chư Thánh đối với chúng sinh vậy là vô hạn, vô biên như vậy. Cho nên nhiều khi mình nghĩ ngài như một người mẹ, không sai lắm, nhưng mà điều nó hơi cải lương và hơi giống mấy cái ông ngoại đạo một chút. Nên mình cứ xưng Bồ tát bởi vì Bồ tát thì không có tướng nam, không có tướng nữ. Vì mình nghĩ mình cảm động trước lòng thương yêu của ngài như một người mẹ, nên mình thờ hình tượng ngài như một người mẹ hiền.

[1:18:34]Chớ ngài là vị Bồ tát không có tướng nam, không có tướng nữ mà thường là tướng nam. Lúc mà ngài xuất hiện trong Phẩm Phổ Môn này lại là một vị nam tử, người đàn ông hiện ra chớ không phải là người mẹ.

[1:18:46]Nghe mà kêu "Mẹ Mẹ" tôi sợ lắm. Ai hỏi gì nữa không? Thôi nghỉ ha, đứng lên. Nguyện đem công đức này

[1:19:08]hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.