Transcript: Tu Bao Lâu Thì Đắc Đạo

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:20:03

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:29]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta bàn với nhau để mình xem tu chừng nào thì đắc đạo nha.

[0:44]Chúng ta nghe nhiều cái câu chuyện trong lịch sử của đạo Phật từ thời Đức Phật và những câu chuyện của các vị thánh sư, những vị thiền sư về sau. Và khi nghe kể ta chỉ nghe kể cái giây phút mà các ngài đắc đạo, à. Ta không có nghe kể về những cái câu thời gian trước đó lắm, không nghe kể nhiều lắm. À mà những cái cuốn sách kể về những giai thoại về sự đắc đạo các ngài họ tập trung lại, họ tập trung lại trong một quyển sách, nên khi ta đọc hết trang này tới trang kia, ta thấy cái mật độ để được đắc đạo rất là dày, hết người này đắc đạo tới người kia đắc đạo. Nên và ta có cảm giác như là tu rất dễ đắc đạo, đúng không ạ? Đúng không?

[1:38]Đó, ta có cảm giác như vậy. Ví dụ bây giờ ta đọc cái cuốn ưm Thiền sư Trung Hoa của Hòa thượng à Thanh Từ viết ba ba tập. Hết cái vị thiền sư này tới cái vị thiền sư kia đi trong ba cái tập đó. Nếu ta đếm được thì ta sẽ thấy khoảng vài trăm vị thiền sư.

[1:59]Mà ta nghĩ trải chừng 300 vị thiền sư, thực ra không có tới 300. Ta trải 300 vị thiền sư đó từ cái thời nhà Đường mãi tới cái thời nhà Tống cận đại, tới thời nhà Tống cận đại sau này. Mà với một đất nước Trung Hoa rộng mênh mông như thế, thì 300 vị như vậy là nhiều hay ít? Tỉ lệ nhiều hay ít? Quá ít. Quá ít. Hoặc là ta đọc trong cuốn Thiền sư Việt Nam vậy. Những cái vị đắc đạo mà trải từ cái đời mà Khương Tăng Hội cũng là tương đương với cái thời nhà Đường bên Trung Hoa, kéo dài đời Lý, nhà Trần, nhà Lê ngót nghét đâu được 100 vị gì đó. Trong một đất nước như vậy, thì tỉ lệ đó nhiều hay ít? Rất là ít, không có nhiều.

[2:50]Cái thời mà chứng đạo dày đặc chỉ là thời Đức Phật. Chỉ là thời Đức Phật. Là trong một cái phạm vi nhỏ bé của cái khu vực mà đất nước Kosala với đất nước Ma Kiệt Đà, một vài đất nước chung quanh chung quanh á thì bây giờ chỉ là miền khoảng miền Trung Ấn Độ thôi, miền Trung Trung hơi đông bắc Ấn Độ chút xíu. Thì cái số lượng mà những vị chứng từ A La Hán, chứng cho tới Tu Đà Hoàn với số lượng cực nhiều. Dĩ nhiên trong kinh cũng có cường điệu. Nhá. Ta đọc những cái bản kinh từ Nikaya cho tới kinh điển Bắc tông Đại thừa, cái số người mà được chứng đạo nếu mà ta ta ta ta tin vào những con số đó đó thì số người chứng đạo nó nhiều hơn cái dân số của Trái Đất lúc đó.

[3:43]Đọc xong mình biết ngay là cái người viết lại đã đã cường điệu, không có thật. Thật. Đó là lý do mà khi ta nghiên cứu kinh điển, ta phải có cái nhìn khoa học, đừng có dễ tin, đừng có đọc kinh mà đọc bằng cái niềm tin. Đạo Phật là đạo của sự thật, là một đạo của sự thật, đạo của lý trí khác với rất nhiều tôn giáo khác. Ở các tôn giáo khác á, cứ yêu cầu tín đồ có chữ tín mà, phải tin, không được nghi ngờ, không được không tin, cứ phải cố gắng mà tin, tin tuyệt đối, mà ngày nào người ta còn tin thì ngày đó cái đạo đó còn sống. Còn ngày nào người ta hết tin, cái đạo đó tan vỡ. Nên vì vậy, các giáo sĩ, các chức sắc,

[4:36]các nhà lãnh đạo tôn giáo bằng tất cả mọi phương tiện của mình, phương pháp của mình, kỹ thuật của mình, lực lượng của mình, tiền bạc của mình, tài tổ chức của mình làm sao giữ cái niềm tin cho tín đồ. Vì nếu ngày nào người ta không tin nữa, đạo đó biến mất. Mà niềm tin là cái gì? Không có chứng minh. Tin là không có được giải thích á, cứ tin không có giải thích, không có chứng minh. Còn trong đạo Phật thì ngược lại. Ban đầu ta hiểu không rõ lắm, nhưng mà do một nhân duyên gì đó ta tin Phật, ta tin Pháp, ta tin Tăng, à ta đến với đạo. Nhưng khi đi đúng con đường của đạo Phật rồi thì niềm tin bị gạt bỏ, chỉ còn lại trí tuệ.

[5:29]Đây là điều khác nhau giữa đạo Phật và các tôn giáo khác. Các tôn giáo khác phải giữ cái niềm tin như là giữ cái trái tim mình, mất trái tim rồi tắt thở chết liền. Nhưng trong đạo Phật giữ cái đầu, cần cái trí tuệ. Càng tu thì càng có trí tuệ, càng có lý trí và không cần niềm tin nữa, bỏ niềm tin qua một bên. Mà niềm tin không có chỗ đứng. Nên ta thấy vậy, một cái người mà đệ tử của Phật đúng nghĩa đó, càng tu lâu họ chững chạc, đĩnh đạc, không có cái sốc nổi, không có cái cái cảm tính của cái kiểu của con người dùng niềm tin mà không suy xét. Còn ở trong đạo Phật gạt bỏ cái niềm tin nên họ cũng gạt bỏ cái cảm tính,

[6:20]mà nâng cao cái trí tuệ, nhìn mọi việc cái gì cho nó chính xác, không có dễ tin. Thì cũng vậy, mình là đệ tử Phật, đọc kinh Phật mà đọc đâu tin đó thì người đó không có trí tuệ, cũng không có con mắt của khoa học.

[6:40]Hồi đó vậy, lúc mà thầy mới vào đạo, cũng nhiều khi đọc các cuốn sách nghiên cứu của các tác giả về đạo Phật, thấy họ nói những cái điều mà có vẻ hoài nghi về kinh điển mình khó chịu. Nói: "Tại sao lại dám phê bình, dám có cái sự hoài nghi trong kinh điển?" Thấy khó chịu. Nhưng khi mình tu lâu rồi thì mới thấy những nhà nghiên cứu đó họ đúng, tại họ không có tin. Họ nghiên cứu một cách khoa học. Thì cũng vậy, khi đọc cái đoạn kinh đó mình thấy muôn ức triệu người về đây được sau lời Phật nói được đắc quả vô sanh pháp nhẫn. Muôn ức triệu người là nhiêu? Gom hết cả cái Trái Đất mình lại vào thời gian đó mới được nhiêu đó người.

[7:25]Mà thật ra không có, ngay cả trong cái cái thời giảng kinh nó có đông nhất thì cũng chỉ một số người trong cái cư dân đó thôi, chứ không bao giờ nhiều được. Mà nhưng mà tính ra thì cái tỉ lệ mà chứng quả từ Tu Đà Hoàn trong cư sĩ và trong các tỳ kheo cũng rất là đông. Còn các vị A La Hán thì cũng rất là nhiều, nên sự thật là cái mật độ mà nói là đắc đạo chính xác chỉ có thời Đức Phật thôi. Về sau cái mật độ đó giảm dần, loãng dần. Càng về sau nữa thì cái việc mà chứng quả thánh lại dường như bắt đầu không có, ừ người ta chỉ chứng thiền thôi. Và khi chứng được thiền, người ta cứ tưởng rằng người ta đã đắc đạo.

[8:12]Đây là một cái lầm rất là lớn. Nếu mà ta chưa hiểu kỹ về cái sự khác nhau giữa chứng thiền và chứng thánh, ta có thể bị ngoại đạo dẫn dụ mà không hay. Tại vì sao? Tại vì ngoại đạo họ cũng có tu thiền, cũng có định tâm, cũng có thần thông, cũng nói nghe rất đã tai, y như trong đạo Phật về cái chứng thiền. Chỉ có người nào chứng quả thánh trong đạo Phật thì lời nói mới bắt đầu chuẩn mực, mới bắt đầu giống với Đức Phật ngày xưa. Hai cái đó rất là khác nhau. Cho nên khi ta đến với đạo Phật, khi mà nghe nói tu hành mà nhất là người có chiều sâu mà bước vào tu thiền thì phải cố gắng làm sao hiểu cho rõ hai cái chứng khác nhau:

[9:02]một cái chứng thiền và một cái chứng thánh. Cái điều mà khác nhau giữa chứng thiền và chứng thánh thầy cũng đã nói rất nhiều trong những bài giảng trước kia, đúng không ạ? Nhớ không ạ? Quên rồi. Giờ nhắc sơ sơ lại một chút thôi để ta có khái niệm, vì ta đi vào cái bài bài giảng hôm nay nó liên quan tới điều đó. Người chứng thiền là người được định tâm, tâm được thanh tịnh, không suy nghĩ, và cái sự định tâm đó nó vào ở cái tầng tâm thức rất sâu. Chứ không phải là khi ta dừng suy nghĩ là lúc đó ta đã chứng thiền, khác nhau rất xa nha. Nên nhiều khi ta ngồi thiền thấy mình tâm mình được yên rồi nghĩ mình chứng, đó là sai.

[9:51]Nó phải trình cho thầy của mình, bậc thầy nào mà rất có kinh nghiệm, còn mình tự mình đánh giá đều bị đánh giá cao hơn cái vị trí của mình. Tất cả chúng sinh bị tổn phước ở cái chỗ là tự đánh giá mình. Khi mình tu đạt đến cái mức độ nào đó, tâm được yên tĩnh, cái cảm giác trạng thái của tâm rất là vi diệu đặc biệt và mình hay tự phong thánh cho mình, làm cho mình bị tổn phước. Rất nhiều người sau đó bị điên là vậy, vì tự phong thánh cho mình. Có nhiều cái câu hỏi lên mà thầy cứ gạt ngang hoài, nói: "Cái kiểu nói như vầy là tụi con tự phong thánh cho tụi con, không có đúng đâu." Thiền cái gọi là cái sự chứng

[10:38]ngộ trong đạo Phật vĩ đại lắm, không đơn giản. Không đơn giản như trong một thời thiền mình đạt được cái trạng thái nào đó rồi thì cứ nghĩ rằng mình đã chứng đắc một cái gì rồi, không có đâu. Nó sâu xa hơn rất là nhiều. Cái đẳng cấp giữa phàm phu và thánh quả trong đạo Phật cách nhau rất là xa. Nên khi ta ngồi thiền đạt được một số trạng thái gì đó thanh tịnh, vi diệu, sáng suốt, đặc biệt, kỳ lạ thì đừng nghĩ rằng mình đã chứng cái gì. Đó chỉ là mới bước vào, nhiều khi đặt chân mé cửa chưa lọt được vào trong nhà mà đã là những trạng thái như vậy. Thì phải phân biệt giữa cái chứng thiền và chứng

[11:19]thánh cho rõ khi ta bắt đầu vào cái tu thiền. Thì chứng thiền thì tâm mình được thanh tịnh, được định, có thần thông. Và nếu người nào mà có căn cơ thì ta được tăng trưởng thêm một số đạo đức, vì thiền định, cái sự định tâm nó cũng hỗ trợ cho đạo đức rất là lớn. Nhưng mà cái đạo đức của người chứng thiền nó cũng không sâu lắm, nhớ giùm như vậy. Nên ta thấy một người có thể ngồi thiền được 5 tiếng đồng hồ, 7 tiếng đồng hồ, 1 ngày, 2 ngày, nhưng mà nếu đạo đức họ không sâu thẳm thì biết rằng họ chỉ chứng được thiền, không phải chứng được thánh. Vì cái người chứng thiền họ không có thành tựu được cái đạo đức cực kỳ thánh thiện,

[12:08]mà họ chỉ được cái tâm thanh tịnh, tự tại, đặc biệt là ở cái chỗ tự tại. Họ có cái cảm giác họ rất là tự tại, an nhiên, bất cần, không ham muốn. Đây, đây là cái dấu hiệu của người chứng thiền, là ta để ý vậy. Mình tu đến một giai đoạn bất cần hết, không cần gì nữa: tiền bạc, gia đình, danh vọng, không cần gì nữa. Đó là dấu hiệu của một nội tâm an tĩnh, đó, chứng được một ít thiền, bất cần. Có giết họ cũng chẳng sợ, nhưng điều đó không có nghĩa là chứng thánh. Họ rất tự tại. Nên cái người mà bày tỏ cái sự tự tại nhiều chừng nào thì biết rằng người này là người đi thiên về con đường chứng chứng thiền, không phải chứng thánh.

[12:59]Còn cái chứng thánh trong đạo Phật, họ cũng được cái sự thanh tịnh nội tâm, cũng được cái an nhiên tự tại trong nội tâm, nhưng đặc biệt đạo đức họ rất cao vời, rất cao vời, rất sâu, sâu thẳm luôn á. Ví dụ nói về lòng từ bi thì cái từ bi của người chứng thánh họ đạt tới cái chỗ vi diệu, vi tế, sâu thẳm, cái tình yêu thương tràn ngập, sâu sắc lắm và thương người một cách sâu đậm. Nên vì vậy nếu mình nhìn nhiều khi giống như họ là người hay bận tâm, nhưng mà đó là của cái đạo đức. Rồi cái có những cái tình cảm cao thượng, họ giữ được những tình cảm cao thượng chứ không có phớt đời, không có bất cần như cái người chứng thiền,

[13:45]và họ có trách nhiệm với cuộc đời, với chúng sinh. Đó là dấu hiệu của người mà chứng thánh. Nó nhiều lắm, nên trong kinh Đức Phật hay nói về những cái mình diệt trừ tham, sân, si, diệt trừ những cái mạn, kiêu mạn, những cái hoài nghi, những cái tật đố, những cái ích kỷ, đó đều là những cái khái niệm về đạo đức mà một người chứng thánh họ phải hoá giải được, diệt trừ được. Còn ta nghe các thiền sư hay nói những cái điều mà tự tại, ta hay dùng chữ là ở trên mây á, nói trên mây: không cần cái này, bất cần cái kia, không đến, không đi, không tới, không lui, cái gì cũng không hết, nghe rất nghe như cao siêu,

[14:26]nhưng chỉ nằm trong cái khái niệm là tự tại, bất cần, vị người đã chứng thiền. Còn cái người nào mà mình nghe nói nhiều về cái giống như Đức Phật nói: diệt tham, diệt sân, diệt si, phát triển lòng từ bi, không có sân, không có tật đố, không có kiêu mạn, người đó đi về con đường chứng thánh, vì đang khai thác, phát triển, tăng trưởng được cái đạo đức. Hai cái đó khác nhau. Và chứng thiền thì ta có bốn tầng bậc, thấy không? Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền và các tầng mức định. Còn thánh thì ta có bốn thánh quả. Nên Đức Phật hay nói hay nói ví dụ về giống như cái biển. Cái biển là sâu dần dần chứ không có đột ngột mà sâu.

[15:13]Coi vậy chứ nhiều khi cũng gặp vực á, ở ngoài biển khơi cũng có những cái vực. Nhưng mà tuy nhiên ở nơi cái bãi bãi biển là do cái sóng nó đánh vỗ vào bờ, nó cứ vỗ vào bờ cho nên nó lấy cát, lấy đá rồi nó nó lấp dần, lấp dần. Vì vậy ở cái vùng nước gần bờ của biển luôn luôn là cứ thoai thoải, đó là nguyên tắc. Còn ra xa ngoài kia đó, không có sóng có thể nó có những cái vực, có những cái vực, à vực cái đó là ngoài khơi, ngoài khơi xa. Khi khi ra khỏi thềm lục địa ta sẽ có những cái vực, ví dụ như Biển Đông của mình vậy. Cái thềm lục địa của ta cũng trải dài tới mấy trăm cây số, cả ngàn cây số nhưng nước không có sâu, tối đa 100 mét.

[15:55]Nhưng mà qua khỏi qua khỏi cái thềm lục địa Việt Nam rồi cái độ sâu của biển ngoài đó một hơn 1000 mét, không có neo tàu được, không có cái neo, không có sợi dây xích neo nào mà thả từ trên tàu xuống 1000 mét xuống tới đáy biển để giữ cái tàu hết. Cho nên thường là tàu đi qua vùng đó đi luôn, không bao giờ đứng được. Còn đứng là cứ lênh đênh lênh đênh vì không có neo được tàu vì sâu quá. Còn ở gần bờ thì luôn luôn bờ bờ biển nguyên tắc của bờ biển là luôn luôn thoai thoải vì sóng đánh tất cả cát, đá, núi, vách gì nó đánh dần dần dần dần xuống, thành thử làm bờ biển thoai thoải. Và Đức Phật hay nói: "Chánh pháp của Ta cũng vậy, cũng giống như bờ biển,

[16:37]không có cái đột ngột mà phải thoai thoải sâu dần." Cũng vậy, một người tu chứng trong đạo Phật là không có cái đột ngột một cái là chứng cao siêu mà phải luôn luôn chứng từ từ từng bước. Cái câu này thì ta mới nghe mới ngược với những cái câu chuyện trong cái lịch sử của Tăng đoàn, vì có những người chưa tu gì gặp Phật, nhiều khi qua một bài pháp rồi chứng A-la-hán liền. Một là Hoàng hậu Khema, vợ của vua Bimbisara. Bà cực đẹp. Vua Bimbisara thì là chứng quả Tu-đà-hoàn nên ông rất là mộ đạo, lúc nào cũng thuyết phục các bà vợ của mình đi nghe pháp. Nhưng riêng bà Khema thì không chịu đi, nói sàng qua sàng lại trốn ở nhà.

[17:26]Mà ổng thì ổng rất thương bà, vì bà là người có đạo đức, có trí tuệ mà có nhan sắc, đẹp lắm. Nên đến một lần đó ông năn nỉ quá, thôi bà cũng chiều bà đi. Đi bà cũng ngồi cũng ngượng ngượng ngạo ngạo. Thế là Đức Phật mới dùng thần thông, dùng trí tuệ thuyết một bài pháp. Sau bài pháp bà ngồi bà chứng A-la-hán ngay đó luôn. Mà nguyên tắc, đây là nguyên tắc, một người chứng A-la-hán rồi: một là phải nhập Niết-bàn liền, hai phải xuất gia liền, không được mang hình tướng thế gian. Đó là điều tuyệt đối cấm kỵ. Mà cái luật đó ai đưa ra? Không ai đưa ra hết, người chứng A-la-hán tự biết liền. Vì sao vậy?

[18:09]Vì cái quả vị A-la-hán là quả vị thánh tuyệt đối. Nếu mà người đó mang hình thức cư sĩ

[18:18]sẽ làm cho thế gian này hiểu lầm. Chỉ cần ánh mắt mình nhìn một vị A La Hán không kính trọng thì có thể đủ để mình đọa súc sinh.

[18:31]Sợ đến như vậy. Ở các vị Thánh khác thì không đến nỗi, nhưng riêng vị A La Hán, chỉ cần mình nhìn phớt qua mà mình không có khởi cái tâm kính trọng, đời mình tiêu, chứ chưa cần nói gì nhiều. Ví dụ như trong đây mà có một người mà A La Hán là nguyên hội trường mình tiêu hết rồi đó, đọa hết, vì nãy giờ không ai nhìn người đó với cái tâm kính trọng cả. Nên vì vậy, một vị A La Hán họ cũng tự biết liền, hồi chứng xong họ tự biết liền, một họ phải đi khỏi thế gian này, nhập Niết bàn, hai là phải mang hình tướng tu sĩ cao quý, để cho khi người ta nhìn thấy hình tướng đó, người ta không được coi thường.

[19:10]Nên khi bà ngồi ngay đó bà ngồi nghe pháp xong bà chứng A La Hán liền, Đức Phật mới quay qua nói với vua Bình Sa liền, Khema đã chứng A La Hán, một, nhập Niết bàn, hai, xuất gia. Vua Bình Sa ổng thì ổng vẫn còn tâm phàm phu mà, mới chứng Tu đà hoàn, nói: "Chà, đừng đừng nhập Niết bàn, đừng nhập", tại nghĩ Niết bàn là chết rồi, nói: "Đừng nhập, đừng nhập, thôi xuất gia đi", ổng đồng ý thì Đức Phật nói một tiếng: "Thiện lai tỳ kheo ni", bà biến hình thành người tỳ kheo liền, tóc mất liền, đắp y cà sa lên liền, tại lúc đó bà có thần thông rồi. Thì đây là một chuyện mà mình nghe rất là kỳ lạ, trước đó chưa tu, chưa phát tâm,

[19:45]chưa quy y, chưa bất cứ điều gì hết, qua một thời pháp chứng đạo liền. Một trường hợp thứ hai là lúc đó lại ở nước Kosala, một vị tướng quân rất có công với vua Ba Tư Nặc, ờ đánh giữ gìn cái biên giới ở phía Tây, chứ biên giới phía Đông thì yên, biên giới phía Tây rất là rắc rối, Ấn Độ nhiều nước mà nó tràn qua tới Phi Châu, nhiều nước phức tạp, cứ đánh lấn chiếm thì ông là người có công. Thì lần đó đánh thắng một trận lớn về thì vua Ba Tư Nặc mới ban thưởng cho ông 7 ngày yến tiệc. Ờ trong 7 ngày yến tiệc đó, ông đem theo một cái cô vợ trẻ mà ổng thương nhất. Ờ mấy ông đó nhiều vợ lắm. Thì trong đó có cái cô vợ trẻ có cái duyên nợ gì đó mà ông ông thương nhất.

[20:32]Lúc nào cũng ngồi bên cạnh ổng để để hưởng nghe ca, nhạc, ăn yến tiệc, tức là enjoy fully, hoàn toàn là hưởng thụ, không có một chút gì tu hành. Thì hôm đó Đức Phật đi đâu về cái ngài Đức Phật mỉm cười. Cái ngài A Nan mới nói: "Dạ, Thế Tôn không bao giờ mỉm cười vô cớ, chắc có sắp chuyện gì xảy ra?" Đức Phật mới nói: "Rồi, ông sẽ thấy." Thì lúc đó cái chuyện là cái cô vợ thì chắc không phải vợ chánh đâu, vợ bé, đang ngồi bên cạnh để mà xem yến tiệc, hưởng thụ, vui chơi với ông ông ông tướng đó, bỗng nhiên lên cơn đột quỵ tim chết liền. Trời ơi, thì ổng ổng quá đau khổ, đau khổ than khóc và khi mà nghe nói có Đức Phật ở đó thì ông cũng cũng biết về

[21:25]Đức Phật, vì thời đó ai cũng biết về Đức Phật, ổng đến ổng khóc lóc. Và Đức Phật giảng cho ổng nghe một bài pháp rất ngắn, xong bài pháp ngắn ổng chứng A La Hán, dễ giận. Mình tu thấy mồ không có chứng, ổng nghe bài pháp ổng chứng. Và chứng xong thì cũng vậy, cũng chỉ có hai con đường, một xuất gia và hai là nhập Niết bàn, ổng chọn con đường nhập Niết bàn. Ngay đó ổng hiện hình lên giữa hư không, tự biến lửa ra là thiêu xác mình luôn, nhập Niết bàn luôn. Đó là một trong những những trường hợp mà mình nghĩa là chứng rất là cao siêu mà nghe rất là đột ngột. Đó là những câu chuyện vào thời Đức Phật.

[22:02]Còn sau thời Đức Phật, ở lịch sử các thiền sư thì ta cũng nghe như vậy. Ta cũng nghe những câu chuyện mà đến hỏi đạo, ngài hét cho một cái, đánh cho một cái, nói một câu gì bỗng nhiên ngộ đạo, thành thiền sư. À! Thế là mình cứ đi tìm cái đó, đi tìm một người nào mà có thể tát mình cái mình ngộ đạo, hay là mắng mình cái mình ngộ đạo, thì mình cứ đi tìm, đi gọi là đi hành cước á, cứ đi lang thang hết cái cái thiền viện này tới thiền đường kia, tới thiền sư nọ để đi hỏi, tại vì biết đâu hên hên có ông nào tát mình cái mình ngộ đạo mình thành thiền sư. Cái đó là cái bệnh của một cái thời đại kéo rất là dài của cái Thiền tông Trung Hoa.

[22:44]Cứ đi hành cước, ăn rồi là cứ xách gói đi, đi cho hết phước thì thôi. Nhưng mà có một vài người thì cũng thành công, nhưng mà rất nhiều người đánh hoài, tát hoài cũng trơ trơ ở đó ra chả ngộ gì cả, thấy vậy. Rất là khó lòng điều đó. Bây giờ nghe những câu chuyện đó vậy, hoặc là ví dụ người ta nghe cái câu chuyện là ngài ngài Trần Tôn Túc vậy, ngài Vân Môn ngài hỏi đạo, ngài Trần Tôn Túc không trả lời mà đuổi ra, ông kia cứ nấn ná nấn ná nấn ná, ông thò chân vô ổng này ổng đóng cái cửa rập một cái gãy chân luôn mà ngay đó ngộ đạo luôn. Và ngài bị tật suốt đời, bị gãy chân rồi không có lành được.

[23:21]Hồi đó không có chấn thương chỉnh hình như bây giờ nên ngài đi cà nhắc suốt đời, nhưng là tổ một cái phái thiền, tông Vân Môn, ngài chứng đạo, ngộ thiền của ngài rất là cao siêu. Đó là một trường hợp. Rồi rất nhiều trường hợp kỳ lạ vậy, hoặc là như là Hòa thượng Thủy Lão lại gặp Mã Tổ, hỏi: "Đại ý của Phật pháp là gì?" Cái ngài Mã Tổ: "Ta già rồi, ngươi ngồi nói xa quá hỏi ta, ngươi mau lại gần gần hỏi." Ông kia tưởng thiệt, cái lại gần nói: "Bạch Hòa thượng, đại ý của Phật pháp là gì?" Ngài vừa ngồi vừa tầm chân, ngài đá cho ông kia lộn nhào, cái ông ngộ đạo. Thế từ đó rất nhiều người lên đường đi tìm các thiền sư nói:

[24:04]"Ở đây có ai cần tát, đá mà ngộ đạo, lại đây lát nữa thầy có cái gậy nè." Không ngộ ráng chịu nha, đánh thì bên đây bổn phận đây, còn không ngộ hay ngộ thì bên đó không biết à, tôi không biết à. Đại khái vậy. Mà nên ta nghe nhiều cái câu chuyện được tập hợp lại như vậy, ta có cảm giác là dễ chứng à và ta tu với cái tâm trạng là không khó chứng, đây là cái tâm sai lầm, tổn phước ngay từ bắt đầu tu. Nghĩ rằng dễ tu dễ chứng, cái niệm nó xuất hiện trong tâm ta, ta đã bị tổn phước ngay từ đầu, mà đã tổn phước rồi rất khó tu. Nên hôm nay ta ngồi nói chuyện với nhau để gỡ cái cái ý niệm là dễ tu khỏi tâm mình.

[24:53]Tại vì trước đây thầy có có một người đệ tử họ bỏ thầy đi, phản, gọi là phản á, bỏ, phản bỏ đi mà nói xấu dữ lắm. Tìm hiểu ra lý do tại sao, nói bởi vì ở chỗ khác có một người hứa là nếu qua bên đó tu bảo đảm 6 tháng đắc đạo. Thì đã hơn 10 năm rồi không không thấy đắc gì. Điều này nghe xong biết tội nghiệp liền, biết lầm quá rồi. Và cái người nào đưa ra cái kỳ hạn 6 tháng đắc đạo cũng rất là ác. Chả ai 6 tháng đắc đạo được. Mà mang cái tâm niệm là dễ tu dễ chứng như vậy làm người ta tổn phước nặng nề. Vậy ta tu rồi chừng nào đắc đạo? Ai biết? Giơ tay lên. Thời gian nó không có ý nghĩa lắm, tại vì cái căn cơ mỗi người mỗi khác nhau.

[25:48]Mình ngồi đây trong cái pháp hội này, chứ cái bề dày những kiếp trước mình đã tu coi vậy chúng ta khác nhau nhiều. Ví dụ bây giờ nói về thời gian thôi, chúng ta khác nhau. Giờ có người ở đây mình đã gặp Phật pháp 10 kiếp rồi, có người ngồi đây đã gặp Phật pháp 30 kiếp rồi, có người 28 kiếp, người 37 kiếp. Ta ngồi đây chứ khác nhau về cái thời gian mà ta đã được gặp Phật pháp khác nhau. Mà bây giờ, cùng một thời gian gặp Phật pháp, cái sự tinh tấn của mỗi người chúng ta vẫn khác nhau. Ví dụ như có người gặp Phật pháp 10 năm, hai người đó cùng gặp Phật pháp đã 10 năm, nhưng mà cái người bên A, ông A này á có lần ổng

[26:32]bán sạch căn nhà ổng, ổng làm công đức, ổng cúng dường, ổng làm những công đức và tu hành rất tinh tấn, còn ông kia cũng đã gặp Phật pháp 10 kiếp rồi, nhưng bữa thì nhậu, bữa thì tu, bữa thì tu, bữa thì nhậu, hai cái 10 năm đó cũng sao? Cũng hoàn toàn giá trị khác nhau. Nên vì vậy, bây giờ để ấn định một thời gian xác định là bao nhiêu kiếp hoặc bao nhiêu năm tu đắc đạo, con số đó không chính xác tí nào.

[27:00]Thời gian là một tham số, nhưng trong thời gian đó ta làm được những công đức gì, ta tu hành tinh tấn ra sao là một tham số khác. Nên cái con số thời gian thực sự không đủ ý nghĩa để xác định cái việc ta sẽ đắc đạo hay không. Vậy ta xác định chỗ nào sẽ đắc đạo là chính xác nhất?

[27:25]Hồi xưa á, ở nước mình, giống như một số nước Á Đông vậy đó, là tuyển quan lại bằng cách thi, đúng không ạ? Ừ, thi tú tài, thi cử nhân, thi tiến sĩ, thi đình, thi hội, đại khái là như vậy. Người nào mà thi đình, thi tiến sĩ giỏi nhất thì gọi là gì? Trạng nguyên, à thám hoa, bảng nhãn, đó là như vậy. Vậy học ở đâu đi thi? Học đâu thây kệ, kiếm ông thầy đồ nào đó học kệ, sách đâu cũng kệ, nhưng mà khi mà triều đình tuyên bố mở khoa thi thì vác lều, vác chõng tự những miền quê mà đi, tự túc mà đi, lội bộ mà đi. Bao nhiêu đường xa vạn dặm gì cứ tự mà đi. Rồi cái vào cái trường thi mới đăng ký, đăng ký và đến ngày vào thi thì

[28:18]tự mình giăng cái lều ra chui trong đó mà nằm mà viết chứ đâu có bàn ghế như vầy. Cứ trải ra một cái chiếu, khi người ta phát giấy, phát viết rồi thì cứ viết làm bài rồi nằm vùi ở đó, viết viết nằm không à chứ không có viết ngồi, thời đó như vậy. Rồi đem vô chấm, hễ chấm được thì đậu, đậu rồi thì có khi cho làm quan. Đại khái là như vậy, học ở đâu không cần biết, miễn thi thôi. Giống như bây giờ mấy cái kỳ thi mà tiếng Anh cũng vậy, IELTS hay là TOEIC gì cũng vậy, học đâu kệ, thi đậu thì cấp bằng. Cái này cũng có cái hay là tự xoay xở làm gì há, làm gì đó. Thì trong đạo Phật cũng vậy, tu sao đó tu không biết, miễn đắc đạo thì thôi.

[29:04]Nhưng mà cái tiêu chuẩn nào để được gọi là đắc đạo? Dấu hiệu nào, tính chất nào, đặc điểm nào để cho biết rằng người đó đã tới lúc phải đắc đạo? Cái chìa khóa nằm ở chỗ này. Mình hiểu điều này rồi sau này mình có ít bị bị người ta gạt. Đây, chìa khóa nằm ở chỗ này nha. Chừng nào cái công hạnh của người đó cảm động cả đất trời thì đó mới là lúc người đó bắt đầu có thể được chứng đạo.

[29:41]Cảm động được đất trời.

[29:49]Chúng sinh thì người biết người không, nhưng trong cái thế giới chư thiên, quỷ thần, trong thế giới vô hình họ biết hết. Và chư thiên yêu mến, quỷ thần kính trọng, đó là dấu hiệu người đó đã tới lúc chín muồi có thể đắc đạo. Chứ không có khơi khơi tự nhiên có người tu bỗng nhiên ổng đắc đạo. Vì chỉ có con mắt phàm phu chúng ta thì ta không biết tâm người ra sao, à không biết người đó công hạnh thế nào, nhưng ở trong cái thế giới siêu hình của chư thiên họ biết cả. Mà để có thể đủ công đức để chứng đạo, thì cái dấu hiệu nằm ở chỗ cái trái tim, cái tình cảm của quỷ thần, của trời đất, của chư thiên, cảm động được cả đất trời.

[30:40]Đó là dấu hiệu của một người có thể chứng đạo, cái dấu hiệu này. Nhưng làm sao biết một người tu mà cảm động cả đất trời? Hỏi ai? Đất trời đã cảm động ổng chưa? Kiếm ai mà hỏi, hả? Kiếm ai mà hỏi? Ví dụ mình nhìn thấy một ông thầy mình thương quá, mình không biết ông này ổng ngợ gần đắc đạo chưa đắc đạo, giờ mình kiếm ai hỏi coi không biết ông này ổng cảm động đất trời chưa. Mới có cảm động có một mình mình à, còn đất trời chưa thấy cảm động thì vẫn chưa phải là dấu hiệu đắc đạo. Nên có một người nào đó mà họ xưng họ đắc cái gì á, nhớ đừng tin. Vì sao? Vì những cái công hạnh của họ chưa cảm động cả đất trời,

[31:27]chỉ có mình cái miệng họ nói à, tự họ xưng này xưng kia, nên ta đừng tin. Và thế nào để có thể gọi là cảm động đất trời? Gồm ba yếu tố: Một, là cái nội tâm đạo đức của họ tới chỗ gần như không còn lỗi lầm,

[31:47]sâu dày. Mà cái chỗ không còn lỗi lầm bạn nghe ta sẽ dễ bị hiểu lầm là hổng có gì. Không phải. Cái không lỗi lầm này á nó là bề dày của sự thánh thiện, và của những cái tình cảm cao thượng. Ví dụ như lòng tôn kính Phật của người này đạt được tới mức tuyệt đối, lòng yêu thương của người này đối với chúng sinh là vô hạn, và cái sự khiêm hạ của người này là giữ chặt tột cùng, ba cái tâm hạnh căn bản. Ngoài ra, trong cái ứng xử với mọi người từng li từng tí

[32:27]luôn luôn hợp lý, luôn luôn là đúng nhất. Ta nhớ như vậy. Trong một tình huống luôn có nhiều cách ứng xử ờ khác nhau. À.

[32:45]Ví dụ như bây giờ thầy nói mình đang ngồi nghe pháp, có một người ăn xin đi vô, họ chẳng biết phép tắc gì họ đi xông xổng xông xổng vô luôn tới ngay đây, họ xin luôn ông giảng sư luôn. Thấy mọi người ngồi nghe, đang chăm chú nghe họ vô tới ngay bàn giảng sư họ xòe tay họ đưa cái lon họ xin tiền, giờ ta ứng xử làm sao? Mỗi người có một giải pháp nói trong lòng mình nói thầy nghe coi.

[33:14]Thấy không, trong đầu mỗi người là nghĩ tùm lum hết trơn á. Đơn giản nhất là ông bảo vệ cua túm cổ nó lôi ra cho tao. Đó một lối ứng xử, thấy không? Ờ một lô một người khác lên thì nhẹ nhàng năn nỉ, thôi giờ ờ ông vui lòng đi ra đang là buổi thuyết pháp nha. Ông kia nói: Cho tôi tiền rồi tôi mới đi. Xong rồi đó, rồi đó giằng co giằng co, đó cũng là một lối ứng xử. Thì ở đây, cái người mà họ có cái trí tuệ chứng thánh gọi là cảm động trời đất họ sẽ có lối ứng xử hợp lý nhất. Thầy vừa dùng chữ hợp lý nhất, mà cái gì là hợp lý nhất thầy cũng không biết nữa, tại thầy cũng chưa thấy ông nào vô đây xin cả.

[33:51]Đang ngồi giảng chưa bị ông nào vô đây ngồi xin. À, thấy nhớ như vậy, trong cuộc đời của chúng ta mỗi một ngày, mỗi một giờ ta đều gặp rất nhiều tình huống phải ứng xử, đúng không ạ? Mà trong đó cái người mà họ chứng thánh á hoặc sắp chứng thánh, họ là người đưa ra một cái sự ứng xử hợp lý nhất, thông minh nhất, đạo đức nhất. Đó. Dễ không? Không dễ. Tất cả những điều đó làm thành cái đạo đức sâu dày thánh thiện của một người mà đã tới lúc chín muồi sắp được chứng quả thánh. Những cái con người đó là ta gần họ ta cảm nghe một cái sự ấm áp. Nó khác với một con người mà khi gần họ ta chỉ cảm nghe một cái sự yên tâm.

[34:49]Cái vấn đề yên tâm, khổ tâm là một bài pháp khác, có lẽ là tháng sau không biết thầy giảng ở đâu đây. Thầy sẽ giảng về đề tài làm cho chúng sinh bận tâm, làm chúng sinh khổ tâm, làm chúng sinh yên tâm. Ví dụ một người bây giờ họ không làm gì lỗi lầm, tâm họ được thanh tịnh theo kiểu chứng thiền, ta ngồi gần họ hoặc ta giao tiếp với họ thì ta được một cái cảm giác là bình yên, yên tâm. Thì người đó họ không làm gì sai, không xao động, họ thanh thản, họ tự tại, nên mình ở gần họ mình cũng được cái bình yên lây. Nhưng mà còn cái người mà họ có cái dấu hiệu của sự chứng thánh á, ta gần họ ta hạnh phúc.

[35:36]Dù nhiều khi họ chưa nói lời nào, nhìn thấy mặt họ thôi là đã thấy hạnh phúc, thấy có một sự ấm áp liền. Nên bây giờ là từ hôm nay ta để ý cái dấu hiệu này, ta sẽ đi khắp cùng trời cuối đất đi tìm cái con người đó, cái con người mà khi gặp mặt một cái mình thấy lòng mình hạnh phúc, ấm cúng liền. Rồi sau khi biết cho thầy địa chỉ, thầy cũng đi tìm luôn nha. Biết ơn. Đó là cái dấu hiệu. Cái dấu hiệu thứ hai của cái người mà chín muồi để chứng quả thánh á là cái sự cống hiến của họ đối với cuộc đời một cách thực tế, cụ thể, chứ không có nói miệng, không có tư duy, mà là hành động tác động thực tế vào cuộc sống,

[36:26]vào ý nghĩ của người khác, đem lại lợi ích thực tế cho chúng sinh, và làm rất nhiều.

[36:37]Ta có thể dùng cái chữ là không bao giờ dừng nghỉ, không bao giờ có giới hạn. Cái tâm họ yêu thương, tâm phụng sự của họ là tuyệt đối vô giới hạn. Không bao giờ có cái chữ đủ rồi, mà chỉ có cái chữ gì? Như thế vẫn chưa đủ, ờ đó, thuộc bài đó. Như thế vẫn chưa đủ.

[37:03]À ví dụ bây giờ vậy, họ cũng không phải là người giàu, không phải là người giàu vô hạn để có thể là có tiền nhiều, số tiền họ có cũng vừa chừng, nhưng mà rất thích bố thí, rất thích giúp người. Mà vì lý do là không phải là tiền vô hạn, cho nên cái số tiền giúp cũng phải cân đối dữ lắm. À hôm nay cho người này đồng này là phải tính cái số tiền này còn lại là để dùng vào những việc nào, không bao giờ nghĩ gì cho mình. À. Rồi dĩ nhiên là đồng tiền thì cũng phải đi làm mới có, vừa phải đi làm kiếm tiền hoặc là người thầy tu thì cũng nhờ sự cúng dường, nhưng mà cái số tiền đó không bao giờ nghĩ là của mình để dùng cho mình, lúc nào cũng cố gắng dùng cái

[37:46]đó cho một ai đó, một chùa nào đó, một ông thầy nào đó, một trường hợp khổ đau nào đó, một cái điều gì cần thiết hợp lý nào đó, cứ cân đối mà mà sử dụng mà giúp đỡ, đối xử tử tế mọi người, và không bao giờ có chữ đủ rồi. Không bao giờ. Mãi mãi hết kiếp này và những kiếp khác không bao giờ có cái chữ: À, cái ông đó hả? Ô, bữa hôm trước trời ơi ông nghèo quá, tôi cho ổng 10 triệu á rồi. Nói: Ủa vậy không cho nữa? Thôi được rồi, 10 triệu được rồi, ổng sống được. Không bao giờ có chữ đó. Không bao giờ có chữ: Ô, ông đó phần ổng 10 triệu được rồi. Không bao giờ. Tại vì không có khả năng cho nữa thì thôi, chứ nếu còn cho được, cho nữa.

[38:33]Mà tại sao không có khả năng cho nữa? Vì còn phải cho người khác, vì còn những trường hợp khác cần phải chia sẻ. Chứ không bao giờ nói cho một chúng sinh một số lượng nào đó là đủ rồi, không. Cái lòng họ yêu thương mọi người là vô hạn, không có cái chữ đủ rồi. Chỉ vì khả năng hạn chế thì thôi, cân đối trong cái trường hợp đó nhiêu đó nhiêu đó thì thôi, ví dụ vậy. Ví dụ như thầy vậy, bây giờ mà bắt thầy mà điều tra moi ra, ví dụ bắt thầy moi móc ra hết từ gót chân cho tới đầu tóc có thể là cũng ra được một số tiền nào đó, nhưng mà thầy không thể đem thầy cho hết được, phải không? Vì thầy còn đệ tử mình, còn vì chùa,

[39:16]nhà chưa xây, chưa xong, nơi này đạo tràng, chỗ này, nơi cơ sở kia quá nhiều việc, nên đầu phải tính toán, giúp ai cái gì một phần rồi phải cân đối lại điều đó nó đã hợp lý chưa. À và nhiều khi thấy có những trường hợp thấy tiêu hơi rộng à vì trong trường hợp nó vậy, cái duyên đời xưa nó như vậy, thì cứ tiêu. Có trường hợp ít hơn, nhưng trong đầu vậy không bao giờ giữ cái gì là cho mình và cũng không bao giờ giúp ai một điều gì mà nói đủ rồi cả, không bao giờ. Đó. Mà cái sự cống hiến, hy sinh, phụng sự cho đời là vô hạn, chỉ vì không có khả năng để làm mãi làm mãi thôi, nhưng mà không bao giờ dừng lại.

[40:03]Cái cái cái công sức, cái sự cống hiến, sự phụng sự là vô tận. Và cái thứ ba là cái sự yêu thích thiền định và tinh tấn, miệt mài, kiên trì,

[40:18]Nghiện. Ngoài đời người ta nghiện game, trong đây nghiện thiền, rất yêu thích thiền. Đó là cái dấu hiệu của người mà họ chín muồi để đến được cái quả thánh. Có thể ta thấy họ làm đủ thứ việc hết trơn, à thấy họ xuất hiện chỗ này làm việc chỗ kia, nhưng mà thẳm sâu trong cái tâm hồn họ, cái điều mà họ thích nhất vẫn là ngồi thiền. Đó cái dấu hiệu đó là dấu hiệu đúng. Chứ còn ví dụ như à tu hành họ ờ nói "Tôi tôi thích làm từ thiện". Thì thích làm từ thiện tốt rồi đó, nhưng mà nghe kỹ một lát không bao giờ nói tới thiền thì người này vẫn là sai. Vẫn không phải là dấu hiệu của một sự chứng thánh.

[40:59]À hoặc nói "Tôi tu đạo Phật, tôi thích nhất là giới luật". À nghiêm trì giới luật là điều tuyệt vời, là chỗ dựa cho chúng sinh, làm cho người ta tin tưởng vào cái phẩm hạnh của thầy tu. Mình cũng lắng nghe, nghe một lát không bao giờ có cái dấu hiệu là thích thiền thì người này cũng không phải là cái dấu hiệu chín muồi của sự chứng thánh. Vì vậy, cuối cùng vẫn phải là rất yêu thích thiền định. Đó mới là dấu hiệu của sự chứng thánh. Mà vì sao vậy? Vì họ cũng đã nhiếp tâm gì được rồi. Khi một người đã nhiếp tâm gì được rồi thì luôn luôn sinh ra một cái tâm lý, một cái hiệu ứng tự nhiên là rất yêu thích thiền, rất là ghiền.

[41:41]Nhưng mà đây là chỗ khác nhau giữa cái người chứng thiền và chứng thánh. Cái người chứng thiền ghiền thiền, bỏ hết mọi việc để thiền, có thể vào trong rừng sâu, vào non cao, vào trong thất vắng cứ ngồi miệt mài vì rất thích thiền, tuyệt vời quá. Nhưng mà cái người chứng thánh á cũng rất thích thiền, nhưng luôn luôn cân đối, chia sẻ cái thời gian của mình, cái khả năng của mình, cái tài sản của mình để mà giúp đời, phụng sự cho Phật pháp, hóa độ chúng sinh. Đó là cái dấu hiệu khác nhau như vậy. Và ba cái điều đó: thứ nhất là

[42:28]mới nói xong cái quên liền nhe. Đạo đức, đúng không ạ, sâu dày. Thứ hai: công lao, phụng sự, cống hiến. Thứ ba: yêu thích thiền định. Ba cái điều này đủ để cảm động cả trời đất thì người này đã đi tới giai đoạn mà chín muồi của quả thánh.

[42:58]Vậy bây giờ ta tự đánh giá mình, mình đã tới giai đoạn chín muồi của quả thánh chưa? Hả, có ai rồi giơ tay lên cho thầy biết cho thầy khen thưởng? Hử? Có ai ở đây mà trời đất cảm động chưa cà?

[43:21]Và điều đó ta cũng đánh giá người khác ha. Ví dụ ta nghe đó là ồ có ông thầy đó ổng đắc quả, ừ mình có thể từ xa mình đánh giá. Mà nếu mình không rõ mình cứ tới gần, tiếp xúc, xem đã cảm động trời đất chưa. Chớ còn cứ nghe xưng nghe đồn đừng tin. Vì có ba loại thánh: một loại thánh thật, đúng là chứng thánh thật; hai là thánh đồn, đồn mà đồn cái kiểu có kỹ thuật, có phương pháp, có tổ chức, có mánh lới; ba là loại thánh đồn nhưng mà do hiểu lầm đồn, tức là ông này ổng chưa chứng gì hết nhưng mà cứ miệng người này truyền qua người kia đồn thành thử ra là thánh này thánh thánh thánh tin đồn. Mà cái thứ hai mới sợ là thánh tin đồn có tổ chức.

[44:21]Một tổ chức chính trị nào đó họ muốn dựng một nhân vật lên, nhân vật tâm linh để thu hút quần chúng và họ thả cái tin đồn ra rất có phương pháp, rất có bài bản, rất có kỹ thuật. Dùng đĩa, dùng phim, clip đồ đủ cách dàn dựng để làm cho quần chúng tin rằng cái người kia đắc đạo thật. Đó là loại tin đồn có tổ chức, rất đáng sợ. Họ có tiền bạc rất là nhiều, có kỹ thuật, có phương tiện để gây nên một tin đồn. Và người ta có một cái câu nói như thế này: "Chuyện gì không có thật, nhưng nếu được lặp đi lặp lại, đồn qua đồn lại rất nhiều lần thì nó sẽ trở thành sự thật." Đó là một cái điều đau lòng cho cái cuộc đời này.

[45:13]Là có những điều dối trá, nhưng mà miễn làm sao đồn đãi, thổi phồng, tâng bốc thế nào cho người ta tin và nhiều người tin rồi chuyện không có thật trở thành sự thật. Nên có những điều mà ta biết về cuộc đời, có những điều mà ta biết về lịch sử, nhiều khi không đúng sự thật, nhưng đã được ghi chép, được nhiều người chấp nhận và nó trở thành sự thật, ai cũng chấp nhận. Nhưng mà rồi sao? Hoàn toàn chả có thật gì cả, hoàn toàn chả có thật. Nên ta nhớ ba loại thánh: một loại thánh thật, người này đắc quả thật; một loại thánh tin đồn có tổ chức; và một loại thánh tin đồn do hiểu lầm. Hồi lúc thầy mới lên núi người ta cũng đồn thầy là đắc đạo.

[46:04]Tại thấy ở trên núi thì nghĩ là đắc đạo, mọi người rất dễ tin. Phải bao nhiêu năm rồi thầy mới gỡ nó ra được thì nói thầy chả đắc đạo gì cả nha. Thầy do ở dưới đồng bằng không mua nổi căn nhà, cho nên mới lên núi giá đất nó rẻ, mua kiếm chỗ ở thôi chớ không có gì cao siêu. Rất là lâu rồi người ta mới hết tin thầy là đắc đạo. Ta nhớ điều này:

[46:30]đa phần cái người tu thiền á ta hay tập trung ở yếu tố thứ ba là miệt mài thiền định nha. Cứ thấy người nào mà ngồi mãi ngồi mãi ngồi mãi vậy rằng cho rằng cái người đó là có dấu hiệu đắc đạo, nhưng không đúng đâu. Nó phải đủ ba yếu tố cảm động cả đất trời: một là đạo đức sâu dày, hai là cái công đức đối với đời rất là lớn, và thứ ba nữa là cái sự tinh tấn trong thiền định. Mà ba cái này nó mâu thuẫn nhau. Ba cái mâu thuẫn, ví dụ bây giờ cái công đức đóng góp cho đời rất là lớn thì thời gian đâu nữa mà ngồi thiền? Ừ, hai cái đó nó xung đột nhau. Và làm sao đó làm không biết, phải làm sao cả đầy đủ ba cái luôn:

[47:13]đạo đức rất sâu dày, sự cống hiến với đời rất là lớn lao và cái sự thiền định rất tinh tấn. Làm sao đó làm, miễn ba cái đó đầy đủ hết, viên mãn hết thì mới cảm động được cả đất trời. Chứ còn đừng có cãi, đừng ngồi nói trời ơi thầy nói làm sao vậy, đã lo tu thiền rồi làm sao mà đi làm phước, làm phước này là phước hữu lậu, còn ta tu thiền là phước vô lậu. Nói là mất một cái thì không chứng đạo thì không biết vô lậu hữu lậu gì tôi không biết, mà thiếu một cái không chứng à. Ba cái đó thiếu một cái không chứng đạo. Đạo đức, công đức và thiền định, ba cái đó thiếu một cái không chứng. Vậy thôi, làm gì đó làm.

[47:51]Thế nên nó xung đột với nhau vậy để ta chia thời gian ra như vậy mà đủ để cảm động cả đất trời thì ta phải thực hiện ba điều này trong bao lâu? Trong mấy năm thì được? Ba năm được không? Vậy mấy năm?

[48:15]Thôi trả giá cao cao chút, 30 năm nha. Chịu chưa? Chưa chịu nữa hả? Sao mắc quá vậy trời? Nên để hiểu điều này đó ta mới thấy rằng cái thời gian là con số không có ý nghĩa lắm. Cái công hạnh mới là ý nghĩa chớ thời gian không có ý nghĩa. Vì cùng tu với nhau 100 năm nhưng một người họ tích lũy ba cái công đức đó rất lớn, mà một người 100 năm cứ bữa đực bữa cái. Cái từ "bữa đực bữa cái" này không biết trong dân gian thì phải nhỉ? Tức là bữa âm bữa dương, bữa có bữa không. Nè, bữa có bữa không, bữa âm bữa dương, còn cái người dân quê mình nói bữa đực bữa cái. Thì cái người đó cái 100 năm của người đó không có giá trị

[49:00]bằng 100 năm của một người mà tinh tấn, khác nhau. Mà cái giá trị nằm ở chỗ là gì? Cảm động được cả đất trời. Đó là cái thước đo mà cái sự cảm động của đất trời á dễ thấy hay khó thấy?

[49:18]Dễ thấy hay khó thấy?

[49:24]Dễ thấy hay khó thấy? Ai nói khó giơ tay lên?

[49:32]La dữ lắm mà tới chừng kêu giơ tay không ai dám giơ. Ai nói dễ thấy giơ tay lên?

[49:39]Có những người không giơ tay cái nào cả là sao ta?

[49:44]Đây câu trả lời của thầy không khó thấy. Thầy không nói dễ thấy mà thầy nói không khó thấy. Phải không ạ? Vì thực sự cái người mà họ tu hành ba cái điều đó sâu dày, đạo đức sâu dày, công đức sâu dày, thiền định tinh tấn thì không khó để nhận ra phải không ạ? Mình có thể cảm nhận được. Chứ không phải là không. Trái đất này bây giờ rất là hẹp, cũng không phải là quá mênh mông, xa xôi, hoang vắng để mà không ai biết ai. Cái ngày nay là như vậy. Cái trong cái thời đại mà kỹ thuật về thông tin nó rất là mạnh thì không phải là dễ giấu. Hồi xưa còn không giấu được mà. Ta nhớ như vậy, một cái người mà

[50:30]tu hành mà cảm động quả đất trời thì đừng có nói chuyện mà loài người không biết. Vì ta nhớ yếu tố thứ hai là yếu tố gì? Công đức cho đời. Cho đời tức là cho ai? Cho con người chứ cho ai thì làm gì mà không biết. Đúng không ạ? Nhưng có chuyện có một cái thiền sư lâu quá thầy đọc quên tên hơn 40 năm rồi thầy cũng quên cái cái tên thiền sư là gì. Là ổng cũng tu cũng ít có phô trương nhưng ổng là người đắc đạo. Rồi ổng cứ lặng lẽ ổng tu trong chùa vậy, nhưng mà có lẽ là ngài tu cũng đúng. Lần đó cái ngài đi có việc gì đó ngài mới đi ra khỏi chùa đi đâu hơi xa. Lúc đi ngang cái làng á ngài nghe tiếng khóc thảm thiết.

[51:17]Dừng lại.

[51:21]Ngài mới vào cái nhà thầy ngài hỏi: "Chuyện gì vậy?" Ngài nhìn cái nhà rất là nghèo. Thì những người trong nhà nói: "Dạ, cha con chết mà tụi con không có tiền để mua được cái quan tài. Quá đau khổ, làm con mà không báo hiếu được cho cha." Lúc đó ngài đem theo tiền á ngài tính đi mua cái gì ở trong làng về cho chùa á, ngài ngồi ngài móc móc móc túi ra ngài đưa hết luôn ngài nói: "Thôi đi mua cái hòm cho cha." Rồi ngài quay về chùa lại tại vì hết tiền. Thế ngài nào giờ người ta cũng được cúng dường ngài một số tiền nào đó bữa đó định làm việc gì đó cho chùa mà ngài thấy cái tình cảnh không nỡ mà chỉ vậy thôi, chỉ vậy thôi.

[52:04]Chỉ là việc là rút tiền ra cho cái người nghèo mua một cái quan tài để chôn cha mà đồn cái rác ra cả cái vùng tràn ngập liền người ta kéo về liền. Kéo về tới chừng nghe ngài giảng mới phát hiện ra gì? Ổng đắc đạo, ổng là một thiền sư đắc đạo, giảng rất hay, rất sâu sắc. Giảng nghĩa là đạo lý của một người đắc đạo từ đó nổi tiếng tràn ngập tràn ngập càng lúc càng nổi ra luôn. Thì rõ ràng là cái việc mà ngài cho tiền để mua cái quan tài là giúp gì? Giúp đời thì làm sao mà không ai biết phải không ạ? Nên thầy vừa nói cái ba cái công hạnh, đạo đức, công đức và thiền định mà đủ để cảm động cả trời đất thì hỏi có dễ thấy không?

[52:52]Thực sự là không khó thấy đâu, không khó thấy. Ta vẫn cảm nhận được hết à. Ta vẫn cảm nhận được hết. Nhiều khi ta đến với một người như vậy hoặc là ở từ xa ta đã vẫn có cảm nhận được. Và bây giờ nói thầy nói ở từ xa cảm nhận tức là nghe tin đồn. Nghe tin đồn thì rơi vào hai trường hợp mà ba loại thánh mà có hai hai loại thánh sau là tin đồn là không đúng á. Thì làm sao? Nói coi vậy chớ mình vẫn có cái trực giác. Ví dụ mình nghe tin một cái người đó đắc đạo, mình vừa nghe xong mà lòng mình thấy lấn cấn, không yên tâm là coi chừng không phải. Còn mình nghe tin một vị thánh thật sự mà nghe thấy dễ chịu

[53:35]liền, cảm giác dễ chịu liền coi chừng tin đồn đó đúng rồi. Đúng không ạ? Đó, mình chỉ nhìn nơi mình thôi, ờ nhìn nơi mình thôi là vì à ví dụ bây giờ nghe đồn thầy Chân Quang rất giàu, mình nghe mình lấn cấn liền là biết không phải, ổng này rất nghèo nha nhớ như vậy.

[53:57]Còn mình nghe mà nói ông thầy Chân Quang ổng ổng rất nghèo, mình nghe mình thấy dễ chịu liền, đúng ông này ổng rất là nghèo. Mặc dù nghe từ xa không có gặp mặt nhưng bỗng nhiên cái cảm giác ban đầu khi mình nghe cái tin đó là trực giác nó hiện ra liền. Nhưng mà nghe người ta nói vài câu nữa bắt đầu nó khác á. Cái sợ nhất là câu thứ hai, câu thứ ba. À mới đầu mình nghe nói cái ông thầy đó đắc đạo mình hơi lấn cấn, nhưng mà người ta nói thêm: "Ồ ngài cao siêu mà có phép." Bắt đầu cái lấn cấn nó mất đi, từ từ cái mình cũng tin theo. Thì cái câu thứ hai, câu thứ ba là ta đã bị tác động tâm lý. Còn cái câu đầu tiên á vừa nói ông thầy đó đắc đạo mình

[54:34]nghe cái cảm giác đầu tiên là trực giác nó đúng đấy. Cũng giống như trong cuộc đời này khi ta nhìn ai at the first sight nhìn ngay cái nhìn đầu tiên, ta biết về người đó liền, đúng không ạ? Biết liền. Ta biết người đó tốt, xấu liền. Nhưng khi mà tiếp xúc một lát, mình mới bị người đó lừa. Người đó cười tươi bắt đầu nói chuyện ngọt ngào, cái cảm giác ban đầu cái ta bị bỏ qua, ta tin theo cái cách người đó đối xử. Người đó ồ cái ánh mắt người dịu dàng, lời nói ngọt ngào, lễ độ, cái mình tin người đó tốt rồi mới bị lừa. Còn lúc đầu tiên chưa gặp nhau, chưa giao tiếp cái gì hết chỉ bằng ánh mắt nhìn, ta thường ta biết người đó tốt, xấu liền.

[55:18]Đúng không ạ? Nhất là phụ nữ, phụ nữ giỏi cái này lắm, phụ nữ có cái trực giác này mạnh hơn người nam. Nhưng mà nhớ cái at the first sight, cái cảm giác đầu tiên rất đáng sợ. Nói: "Vậy thưa thầy, rất nhiều cuộc tình love at the first sight rồi break up, tan vỡ cả thì sao?" Cái đó là bị nghiệp nó lừa. Mình gặp phải của nợ ở đời trước trở lại. Mình gặp phải của nợ đời trước cái mình gặp cái là mình yêu liền, love at the first sight, yêu ngay cái cái nhìn đầu tiên, sau đó ly tan vỡ là bởi vì gặp của nợ. Còn đây mình không nói gặp cái của nợ nha, mà mình chỉ bằng cái thanh thản nhìn cái người đầu tiên mình biết người đó tốt, xấu liền. Đúng không ạ?

[56:09]Thì cũng vậy, khi ta nói một cái người mà cái công hạnh người đó cảm động cả đất trời thì thực sự ta cũng nhận ra một phần nào. Ta không nhận ra bằng chư thiên nhận nhưng cũng nhận một phần nào. Kìa khi ta nghe công hạnh tu hành của ai cao siêu tự nhiên mình cũng tin được một phần nào hay là mình cũng không tin một phần nào, có cái đó chứ không phải là không. Có một cái dấu hiệu thế này, có một cái dấu hiệu về cái đạo đức á tức là yếu tố đầu tiên đạo đức phải sâu dày. Đạo đức sâu dày đến mức độ nào? Như nãy thầy có nói sơ sơ vậy, lòng tôn kính Phật vô biên, lòng yêu thương chúng sinh vô hạn. Nhưng mà nó có một cái yếu tố này rất là tế nhị mà rất là khó.

[56:59]Không còn một lỗi lầm nào.

[57:03]Cái này rất là khó, đúng không ạ? Vì thường thường tất cả chúng ta ai cũng có một cái lỗi gì đó

[57:12]mà tu hành đạo đức đến cái mức độ không còn lỗi lầm gì thì mới làm cảm động cả đất trời. Khó vô cùng và thầy trở lại cái ví dụ như thầy đang ngồi giảng có một ông ăn mày ổng vô tới đây ổng xòe cái cái lon lên ổng đưa trên bàn giảng sư ổng xin tiền luôn. À và ta ứng xử thế nào để trong cái ứng xử này không còn một chút lỗi lầm nào. Đó là hợp lý nhất. Không phải dễ. Và rất nhiều trường hợp khác trong cuộc đời này đều như vậy. Gặp ông bảo vệ đơn giản vô thọt cổ kéo ra liền. Trong đó gói bao nhiêu lỗi lầm. Hoặc là một người nói ngọt ngào để đưa ổng đi ra, ổng dằn dai không chịu ra, nói: "Cho tiền tôi mới đi." Trong cái đó coi chừng cũng có ẩn chứa lỗi lầm.

[58:03]Hoặc là bây giờ vậy, cha mẹ thương con cái à thấy nó nó đang cùng với nó đang mình đang đi ra cửa đứng nhìn ngoài cửa đi chơi. À cái một cái đoàn đua xe họ chạy ngang. À thì ông cha mới: "Vô con, ngồi đó rủi nó lạc tay lái tông nguy chết bây giờ." Bà mẹ mới nói: "Kệ chớ để nó đứng coi chút mà anh không có gì đâu." Cái câu nói của bà vợ đó cũng ẩn chứa một số lỗi lầm. Nên thầy không phân tích. Nhưng đó đó rất nhiều cái đối xử của chúng ta, những chuyện nhỏ nhỏ chút chút trong cuộc đời coi vậy chớ vẫn ẩn chứa cái bất hợp lý, vẫn mà bất hợp lý tức là lỗi lầm. Và đó là điều làm cho cái đạo đức của chúng ta

[58:53]không đạt đến cái sự hoàn hảo, thánh thiện. Còn một bậc chứng đạo những cái việc nhỏ nhất, lặt vặt nhất đều xử sự đều xử lý cực kỳ hợp lý trong đường tơ kẽ tóc, đến như vậy.

[59:13]Nên khi ta nói là cái người mà đạt đến cái đạo đức không còn chút lỗi lầm, ta phải hiểu rằng cái câu đó vĩ đại vô cùng, không đơn giản. Bây giờ khi mà thầy nói câu này, rất nhiều người ngồi trong đây cũng đang nghĩ mình cũng không có lỗi gì. Đúng không ạ? Rất nhiều người đang nghĩ thầm trong tâm: Mình nào giờ cũng chẳng có lỗi gì, làm ăn rất lương thiện, tuân thủ luật pháp, không tổn hại ai, mỗi ngày làm việc đều đặn, mình cũng không lỗi gì, dường như mình cũng đang đạt được cái yêu cầu này. Đúng không? Không. Vì sao? Vì rất nhiều việc nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ trong suốt một ngày ta đã xử lý không đạt được đến cái mức độ là

[1:00:07]hoàn thiện, trọn vẹn, vẫn còn một chút cái bất hợp lý nào đó mà mình không nhìn ra. Nhưng mà không đủ để kết tội, có vi phạm luật pháp đâu, có hại gì ai đâu mà nói rằng mình còn có lỗi, phải không ạ? Nhưng mà đến mức độ tinh vi của đạo đức thì những điều ta đối xử trong cuộc đời đó, ta ứng xử trong một ngày đó còn rất nhiều điều bất hợp lý. Nên cái câu nói mà cái đạo đức của ta đạt đến cái mức độ không còn một lỗi lầm nào, ta phải hiểu rằng điều này rất vĩ đại, rất lớn lao, không có dễ chút nào. Không dễ câu nói, bởi trong kinh Phật cái khó hiểu trong kinh Phật là ở chỗ này. Một câu nói nghe đơn giản nhưng mà ẩn chứa cái công hạnh trong đó cực kỳ lớn lao.

[1:00:58]Nên khi ta đọc kinh Phật mà ta đọc lướt lướt qua, nhiều khi hiểu không hết ý, ta sẽ không thấy được cái cái sự thiêng liêng trong từng lời pháp của Phật dạy. Nên Đức Phật nói trong kinh Nikaya vậy: Ta nhìn thấy một chúng sinh nào mà vẫn còn hắc pháp, hắc pháp tức là còn lỗi lầm á, thì ta biết người này chưa thể đắc đạo trọn vẹn. Khi ta nhìn thấy một chúng sinh nào mà không còn hắc pháp, tức là không còn lỗi lầm, ta biết chúng sinh này sẽ được đắc đạo trọn vẹn. Nên khi ta nói rằng mình cái đạo đức của mình đến chỗ mức độ mà không còn một chút lỗi lầm, cảm động được cả đất trời. Chứ còn như mình hiện nay mình khi mà như thầy nói câu

[1:01:46]này, rất nhiều người trong cái ý nghĩ trong đầu mình nghĩ mình cũng là người không có lỗi lầm gì. Đúng không ạ? Nhưng có cảm động đất trời chưa? Chưa. Tại vì khi mà cảm động đất trời á, mình nhờ trời đất chuyện gì, trời đất sẽ làm cho mình chuyện đó, gọi là cảm động đất trời.

[1:02:09]Mình cầu cái điều gì, cái điều đó hiện ra, chư Thiên ứng liền vì cảm động, vì thương mình. Không đơn giản đâu. Dạ. Nhưng mà rất ít cầu, cái người mà họ đạt được cái trình độ đạo đức như vậy, thường họ không có cầu, họ thuận tự nhiên nhiều hơn. Chỉ trong trường hợp bất đắc dĩ nào quá thì mới cầu, chứ không có đụng chuyện cầu, đụng chút cầu, không có cầu. Thường cố gắng tự sức mình mà làm, à như vậy. Đấy, đó là cái cái cái cái điều ta để ý về cái không còn chút lỗi lầm này. Chừng bao lâu mình sẽ đạt được cái trình độ là hết lỗi lầm? Hử? Mấy năm? Ba năm nha? Ba năm. Bởi tại sao một vị A-la-hán khi họ chứng đạo rồi,

[1:03:00]họ nhìn ngược lại cái vô số kiếp quá khứ, họ sợ luân hồi liền, họ sợ liền. Tại luân hồi quá kinh khủng, quá ngang trái, quá đau khổ. Còn mình không thấy nhìn kiếp quá khứ, mình chỉ nhìn kiếp này nên mình còn lì lắm, lì lắm, chưa chịu tu. Thấy đời vẫn còn đáng yêu lắm, chưa không biết được cái kinh khủng của luân hồi sinh tử là gì.

[1:03:30]Thầy nói ví dụ đơn giản một chuyện này thôi, mà mình sẽ thấy sợ. Cái bà đó bả nói: "Sao ông chồng con ổng kỳ khôi quá thầy ơi! Chồng con ổng ngung ngẳng ổng nói không nghe, thế này thế kia, chướng ôn chịu không nổi ổng luôn á." Nhưng mà nếu nghĩa là khi bả than quá rồi, ơn trên cho nằm mơ thấy giấc mơ thấy tiền kiếp ổng là con chó trong nhà,

[1:03:59]té ra là kiếp sau mình lấy con chó. Nhưng con chó đã vừa thành người, nên những cái nhân tính nó không chưa đầy đủ, nhưng mình nợ cái gì đó phải lấy nó, chỉ là lấy một con chó. Bởi nhìn lại ngược lại vô lượng kiếp luân hồi, mình thấy vô số những chuyện ngang trái kiểu đó đó, thấy sợ liền, thấy chán liền, thấy chán luân hồi sinh tử liền. Mà nhiều chuyện còn ghê nữa, thầy không muốn kể. Nhiều chuyện kể rồi sợ liền, rất là chán cái luân hồi sinh tử này, sợ lắm.

[1:04:35]Bây giờ nói về cái công phu thiền định, nghĩa là yêu thích thiền định, miệt mài thiền định, tinh tấn thiền định, thì vui lòng đúng phương pháp. À. Vì nếu ta tinh tấn mà sai phương pháp thì cũng sao? Không có kết quả. Nha, phải đúng phương pháp. Nhưng mà hiện nay trên thế giới dạy thiền rất là nhiều, rất là nhiều phương pháp. Và ai nói nghe xuôi tai thì ta đi theo, ai nói nghe hấp dẫn thì ta cho rằng phương pháp thiền đó đúng rồi ta đi theo, nhưng chưa chắc đâu. Vì sao? Vì cái cái người thầy mà ta được học về thiền á không phải Đức Phật, không phải chứng quả A-la-hán,

[1:05:24]mà không biết ổng có đi đúng lời Phật dạy hay không nữa. Và đây nếu là một ông thầy đã không chứng quả mà lại không đi theo đúng lời Phật dạy nữa thì chắc chắn rằng cái thiền mà ổng dạy cho ta sai hoàn toàn. Nhưng ổng khéo nói quá, ổng khéo nói quá làm cho ta bị thuyết phục rồi ta đi theo, ta thực hành. Càng đi theo, càng thực hành càng sai đường. Mà ông bà mình đã nói rằng sai một ly đi một... một gì? Không dám đâu. Sai một ly đi 100 dặm liền. Nên cái thiền nó đòi đúng trong gì? Trong một sợi tơ, trong 1/1000 của milimét, chính xác đến như vậy. Chứ không phải là thôi miễn có ngồi là được rồi. "Ồ!

[1:06:17]Ở đây ngồi thiền quá đông quá ha, thích quá ha! Trời ơi, ồ cái trường này con nít đồ học thiền hết. Qua kia, ồ! Bắt đầu trong cái trại tù, ồ các tù nhân ngồi thiền ở trỏng thích quá ha!" Không biết có bao nhiêu người đã sai không phải một ly đâu, mà sai tới mấy thước á, và cái kết cuộc là gì? Chẳng có kết quả gì. Do đó, khi ta nói đến cái yếu tố thứ ba của một người yêu thích thiền định, miệt mài thiền định, tinh tấn thiền định, ta yêu cầu thêm một yếu tố quan trọng là đúng phương pháp. Đúng đến mức độ gì? Đúng chính xác tuyệt đối. Vì thiền là một môn khoa học, mà đã là khoa học rồi thì không có chuyện nói cho phép sai số, không có cho phép.

[1:07:07]Nghĩa là 2 + 3 bắt buộc phải là 5, chứ không có chuyện 2 + 3 thôi nó 4,9 cũng được, không có chuyện đó. Không có chuyện 2 + 3 là bằng 4,9 mà phải tuyệt đối bằng 5. Thiền cũng như vậy, vì thiền là một môn khoa học. Nên vì thế, khi ta học thiền, hãy cố gắng đi tìm một cái phương pháp thiền đúng nhất, đúng với ý của Phật nhất. Nhớ như vậy. Mà biết ở đâu mà đúng với phương pháp của Phật nhất?

[1:07:45]Ai cũng nói mình đúng. Ông thầy nào dạy thiền cũng nói mình đúng nhất cả. Vậy đó, nên tùy duyên nghiệp của ta. Ta mắc nợ ông thầy nào, có duyên với ông thầy nào ta đi theo ông thầy đó. Ổng sai, thầy trò sai chung cho vui. Còn ổng đúng thì thầy trò cùng đúng. Nói không lẽ buông xuôi như vậy? Nếu không muốn buông xuôi thì phải chuyển nghiệp. Ví dụ mình mắc nợ một ông thầy ổng dạy sai nhưng mình phải đi tìm con đường đúng. Bằng cách gì để chuyển nghiệp đó? Cầu Phật. Cầu Phật thôi, chứ cái này không chuyển được. Chúng ta không có dùng cái tài của mình để tìm biết một vị minh sư nào đúng hay sai được, phải cầu Phật, xin Phật thôi.

[1:08:35]Xin Phật gia hộ cho con gặp được ông thầy đẹp trai, mập mạp nha, dạ, dạy đúng phương pháp. Còn ông ốm ốm, xấu xấu ngồi lải nhải nói là không chơi, nghen.

[1:08:50]Mà trong cái đúng đó, trong cái đúng đó nó có vài tiêu chuẩn để ta xác định: Thứ nhất là hướng về vô ngã, à. Tu gì tu phải hướng về vô ngã, đó là cái đúng đầu tiên. Còn tu mà không hướng về vô ngã, tu mà làm cho bản ngã tăng thêm thì ta vui lòng tránh rất là xa. Vì càng tu càng kiêu mạn thì cuộc đời mình tan vỡ, tâm hồn mình tan vỡ. Cái kiêu mạn nó do hai điều nó xuất hiện. Một là do ông thầy ổng bơm cho mình. Ổng cung cấp cho mình những lý thuyết làm cho mình thấy rằng hễ mình tu thiền là mình cao siêu. Tức là mới tu, chưa tu đã thấy mình ngon lành. Kiêu mạn bởi cái lý thuyết. Hai là khi mình tu thiền có kết quả.

[1:09:49]Nên khi tu thiền có kết quả tự tâm kiêu mạn xuất hiện liền khỏi cần ai bơm. Và đây là cái điều rất là khó khăn. Tu thì phải mong cái ngày cho có kết quả. Tu thì phải cho đến cái ngày tâm được thanh tịnh, có trí tuệ và thậm chí có thần thông. Nhưng mà cái ngày đó đến thì kiêu mạn cũng xuất hiện đi theo. Và hễ có kiêu mạn nó vô hình nó gặm nhấm cái tâm hồn mình cho tới khi tan vỡ hết tâm hồn mình. Thì đây là điều rất là khó. Nên không, cái này hôm nay thì ta không có thời gian để nói, nhưng mà nhớ giùm cái tiêu chuẩn ban đầu để một cái môn thiền gọi là đúng là tu để đi tìm vô ngã, nhớ. Đó là cái tiêu chuẩn ban đầu quan trọng nhất.

[1:10:36]Còn ta nghe thiền mà không đi tìm vô ngã thì cẩn thận lại liền. Ví dụ: tu để thấy mình rất quan trọng, sai liền; tu để đi tìm quyền năng thần thông, sai liền; tu để có thể xuất hồn đi tìm các cảnh giới trên cao, sai liền.

[1:10:57]Cái mục tiêu đó là mục tiêu sai lầm. Những điều đó nó sẽ xuất hiện nhưng không phải mục tiêu. Mà lấy nó làm mục tiêu làm cho bản ngã mình tăng trưởng là sai liền. Nên phải cố gắng nhắm vào mục tiêu vô ngã. Càng tu bản ngã càng mỏng nhẹ. Còn hết bản ngã hoàn toàn thì đã là A-la-hán rồi. Nhưng mà quan trọng là khi ta chưa phải là A-la-hán, khi ta chưa phải là cao siêu thì bản ngã phải càng lúc càng bớt đi dần, bớt đi dần. Vì khi bản ngã bớt đi dần, bớt đi dần thì đạo đức tăng trưởng dần, tăng trưởng dần. Con người đó rất dễ thương. Những người mà tu tập để hướng về vô ngã thì cái cảm nhận đầu tiên ta sẽ thấy thế này:

[1:11:45]gần con người đó rất dễ chịu.

[1:11:49]Quơ tay không đụng họ tại họ không có tồn tại trong cái thế giới này. Còn con người mới tới gần là đã đụng, đã cấn rồi, rất là khó chịu vì bản ngã họ lớn quá. Mới lại gặp mình, nhìn mình cười mỉm một cái là mình đã khó chịu rồi, vì sao? Vì trong cái nụ cười mỉm đó đầy cái ý tự cao, khoe khoang, khinh người. Chỉ cần mỉm cười thôi đã khác rồi phải không ạ? Chỉ cần cái mỉm cười đã lộ ra một cái tâm nó ra. Bản ngã lớn quá mình ở gần chịu không nổi. Còn cái người nào mình ở gần mà quơ tay tìm họ không thấy, bản ngã họ mất rồi không thấy, rất dễ chịu, rất dễ chịu. Nên phải lấy cái mục tiêu vô ngã làm cái định hướng.

[1:12:34]Cái thứ hai: biết toàn thân. À. Tại sao phải biết toàn thân?

[1:12:46]Nói tại trong kinh Phật dạy: "Cảm giác toàn thân tôi thở vào, cảm giác toàn thân tôi thở ra." Mới nói: "Tại sao Phật dạy?" Bởi vì Phật là một nhà khoa học. Trong cái cảm giác toàn thân đó nó có cái lý do lý do khoa học, lý do triết học, lý do đạo học trong cái cảm giác toàn thân đó rất thú vị.

[1:13:16]Lý do khoa học của cái việc biết toàn thân là gì? Cái này mà phân tích ra mất một buổi nữa.

[1:13:27]Ở đây chúng ta đọc cái nền tảng đạo đức chưa cà? Cái bộ Nền tảng đạo đức năm quyển đọc chưa? Nhìn mặt ngơ ngơ này biết chưa đọc á. Cố gắng tìm đọc đi nha. Trong đó có một bài là bài Ôm lấy niềm đau.

[1:13:46]Trong cái bài đó có câu chuyện và có cái lý giải: Cái điều gì làm ta đau khổ thì ta ôm lấy nó luôn,

[1:13:56]đừng trốn nó thì mới hết đau khổ. Ta đau khổ bởi vì ta tìm cách tránh đau khổ. À. Còn ta đối diện với ôm nó luôn thì đau khổ sẽ hết. Đó là nguyên tắc bí quyết. Bí quyết này rất khoa học và rất đạo học.

[1:14:20]Ví dụ nói làm sao bây giờ nói ví dụ, ví dụ bây giờ một lát nữa chúng ta bước ra tới sân

[1:14:28]à có một người chỉ mặt ta: "Mày là đồ con chó." Tức không? Nhục nhã không? Mắc cỡ không? Đau khổ không? Phải không ạ? Trời, bao nhiêu người mình cũng danh giá lắm chớ, tu hành đàng hoàng lắm chớ mà ra sân trước mặt đông người chỉ: "Mày là đồ con chó." Thì khi đó ta có mấy cách để xử lý cái trường hợp này?

[1:14:57]Một là mình nhào vô mình dọng vô mặt nó để cho nó đừng chửi mình nữa, đó là cách xử lý thứ nhất. Cách xử lý khác là làm sao? Lật đật bỏ đi cho xa, tránh cái thằng đó chắc nó điên nó chửi tui vậy, bỏ đi cho xa để tránh cái câu chửi bới đó, cách xử lý thứ hai. Cách xử lý thứ ba: ôm lấy niềm đau. Đứng đó lắng nghe và nhìn nó, nuốt từng lời,

[1:15:25]được không?

[1:15:33]Vỗ tay chứ chưa hiểu đâu, tại vì chưa ứng dụng thử, chưa thấy cái hay của nó. Nha. Thầy cũng chúc cho quý Phật tử à chiều nay về nhà hay ngày mai được người ta chửi.

[1:15:48]Và lúc đó thực hành cái công phu ôm lấy niềm đau, ha. Và khi người ta chửi mình, người ta sừng sộ, nhục nhã, hạ nhục mình, cứ ngồi đó mỉm cười nhìn người ta, lắng nghe, nuốt từng lời rồi sẽ thấy cái giá trị của công phu ôm lấy niềm đau. Nó hay đến cỡ nào, tự nhiên mọi đau khổ biến mất, mọi oan trái biến mất, rất là hay. Chúc cho quý Phật tử được chửi.

[1:16:22]Thì cũng vậy, cái thân ta là một cái gì? Sự đau khổ. Mới Lão Tử có nói trong Đạo Đức Kinh đó: "Ta đau khổ vì ta có thân, nếu ta không có thân này thì ta không có đau khổ." Hồi xưa thầy đọc cái câu này thầy cũng không hiểu lắm. Lúc mới đi tu thầy trong lúc rảnh thì mới lấy cuốn Đạo Đức Kinh của Lão Tử ra thầy học, để học chữ Nho đó, tập viết chữ Nho vừa học nghĩa lý trong đó. Thì ổng nói: "Ta hữu hoạn ừ ừ vì ta hữu thân, nhược ngã vô thân, ngã hữu hà hoạn." Đại khái là như vậy, cái chữ Nho đại khái là như vậy. Cái ừm thầy không hiểu lắm, nhưng mà tu lâu lần lần rồi mới hiểu và những điều này Phật đã dạy:

[1:17:07]Khi ta thân này là vô thường, đúng không ạ? Thân này là vô thường, thân này là tạm bợ, thân này là nhơ nhớp. Vâng. Thì Phật dạy ta biết toàn thân chính là đúng cái công thức gì? Ôm lấy niềm đau đầu tiên.

[1:17:28]Đó là ý nghĩa của đạo học, còn ý nghĩa khoa học là gì? Ý nghĩa khoa học của việc biết toàn thân là gì trong cái tu thiền? Thôi, lần sau đi nha. Giống như phim nhiều tập á, chừa chừa chút để cho hấp dẫn.

[1:17:49]Ta nói trở lại nè, hôm nay ta nói về với nhau với nhau là: Tu đến chừng nào thì đắc đạo, phải không ạ? Và cái câu trả lời của chúng ta là là chừng nào? Là ba, ba năm, phải không ạ? Không dám đâu.

[1:18:05]Tu chừng nào mà đất trời cảm động bởi vì ba yếu tố: Một là đạo đức sâu dày, hai là công đức vô hạn, ba là miệt mài tinh tấn thiền định, à. Cái yếu tố thứ hai á nó xuất phát từ yếu tố thứ nhất. Khi ta đạo đức quá, tự nhiên ta lúc nào cũng thiết tha cống hiến, phụng sự, đúng không ạ? Nhưng có phải chúng ta luôn luôn có khả năng để mà cống hiến, phụng sự làm phước không? Có không? Không. Thứ nhất: không có tiền, mình không nhiều tiền. Thứ hai: cũng phải mình luôn luôn có thời gian. Thứ ba: không phải mình luôn luôn có sức khỏe. Nên vì vậy, tâm ta yêu thương mọi người rất muốn làm phước nhưng không phải là luôn luôn có cơ hội.

[1:18:55]Nên vì thế, cái người hiểu đạo rình rập từng chút cơ hội để mà làm phước giúp đời, tử tế, cống hiến, từng chút một, từng chút một nho nhỏ, không để sót một cơ hội nào vụt qua khỏi cuộc đời mình. Đó. Mà phải có cái tâm lắm mới không bị vụt cơ hội. Còn người không có tâm, vụt cơ hội đi ra liền.

[1:19:26]Rất nhiều cơ hội đến để cho ta làm phước nhưng ta đã để vụt rất nhiều cơ hội trong cuộc đời mình. Cho đến khi mình có đạo đức và có trí tuệ, ta mới phát hiện rằng rất nhiều cơ hội trên cuộc đời để ta làm phước. Như vậy. Rồi, cảm ơn quý vị đã lắng nghe nha.