Transcript: Dẫn Nước Đẽo Cây - Pháp Cú 31

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:00:12

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:27]Hôm nay ta nghe tiếp bài Pháp Cú, cái tựa là "Dẫn Nước Đẽo Cây": "Người đào mương dẫn nước, kẻ uốn nắn cung tên, thợ đẽo cây khắc gỗ, bậc trí nhiếp tâm mình." Cái bài này là do cái câu chuyện tích thế này: Không biết tại sao mà ngài Xá Lợi Phất cứ hay độ được những đệ tử trẻ tuổi mà xuất sắc. Thì trong trường hợp này cũng vậy, ngài có một người Sa di cũng còn khá nhỏ tuổi theo ngài xuất gia. Một hôm là vào buổi sáng, cũng tới giờ đi khất thực, thì hai thầy trò cũng đi chung với cái đoàn của chư Tăng như vậy, đi vào, đi vào vào thành khất thực. Thì khi đi trên đường như vậy, ừm có lẽ là từ cái tịnh xá vào thành

[1:11]cũng có một cái khoảng xa xa, cho nên trên đường đi cái chú Sa di mới thấy có cái người đang đào mương để dẫn nước vô ruộng. Chú thấy nước nó chảy tự do ngoài sông mà người ta có thể đào nó để dẫn nó đi theo ý của mình. Thế tại sao con người ta không dẫn được cái tâm mình, trụ, nhiếp được tâm mình? Chú nghĩ như vậy. Đi một chút, cái chú thấy đến cái người mà họ sản xuất cái cung tên bán cho những người đi săn bắn hoặc là bán cho những người lính vậy đó, thì uốn nắn rồi hơ lửa nọ, bẻ uốn nó lại, cái chú mới ngồi nghĩ, rằng: "Cái vật vô tri như thế mà người ta còn uốn nắn nó cho nó thẳng để sử dụng cho mình, thế tại sao mình không làm chủ được tâm mình,

[1:53]uốn nắn được tâm mình để mà có thể chứng đạo được?" Rồi. Chú đi một lát nữa, cái chú thấy cái người thợ mộc đang làm cái vành bánh xe. Thì người này cưa, đục, đẽo gì đó. Chú đi qua, lặng lẽ đi qua đi sau thầy, chú mới nói là: "Cái vật vô tri như thế mà người ta khắc, đẽo, cưa, đục để làm cho nó trở nên một cái vật hữu dụng, thế tại sao mình không làm chủ được tâm mình, nhiếp phục được tâm mình để có thể chứng được A La Hán?" Chú nghĩ, gặp ba trường hợp bỗng nhiên chú sôi bùng bùng bùng lên. Lúc một cái quyết tâm gì kỳ lạ khởi lên trong lòng, và lúc đó chú chỉ muốn ngồi thiền, không muốn làm gì nữa.

[2:30]Thì cái chú này tới lúc mà nó cái ý niệm nó mạnh quá rồi, cái chú mới làm một việc mà đúng là gọi là hơi vô lễ. Chú mới: "Bạch sư phụ." Cái ngài Xá Lợi Phất mới dừng lại hỏi: "Gì vậy con?" "Dạ bạch sư phụ, ừm con muốn quay về tịnh xá. Sư phụ cầm cái bát giùm con, vô thành khất thực giùm con. Về, con quay về nhà có chuyện." Thật ra đó, đệ tử thì phải đi khất thực giùm thầy, ờ mà đây là bắt ông thầy đi khất thực giùm mình. Nhưng mà ngài Xá Lợi Phất thì ngài một bậc thánh đó, tâm ngài cực kỳ từ bi mênh mông nên ngài thương đệ tử và ngài hiểu cái ý chú. Hiểu cái ý chú là đang muốn tu, và ngài cũng thấy cái căn cơ của chú cũng đang rất là đặc biệt. Cái ngài mới nói:

[3:12]"Rồi, thôi vậy con cứ về. Đưa bát cho cho thầy." Cái ngài ôm luôn hai bình bát. Còn chú lạy thầy xong cái chú bỏ quay về tịnh xá liền, và ngài Xá Lợi Phất cứ lặng lẽ đi theo đoàn chư Tăng đi vào thành khất thực. Chú quay về phòng, chú bắt chân lên ngồi thiền, bắt chân lên ngồi thiền. Mà cái cơ duyên cũng tới luôn, bắt đầu chú nhiếp sâu vào những tầng bậc thiền định dần dần, dần dần. Tuy nhiên, để chứng đạo thì thời gian trong mấy tiếng đồng hồ nó không có đủ. Cái căn cơ của chú là không phải là chỉ ngồi một tiếng, hai tiếng mà đắc đạo được, mà thời gian nó phải ngồi sáu, bảy tiếng đồng hồ. Mà sáu, bảy tiếng đồng hồ thì chư Tăng đi khất thực đã

[3:49]về tới, ăn uống và sẽ ồn ào thì chú sẽ khó ngồi. Lúc đó Đức Phật thấy vậy. Đức Phật thấy được, Đức Phật mới dùng thần thông kéo dài cái ngày đó. Rồi Đức Phật cũng sợ chư Tăng là đi về làm ồn náo tịnh xá, cái Đức Phật hiện ra giữa đường. À gặp Phật, cái tất cả quỳ xuống đảnh lễ. Cái Phật mới đứng, Phật hỏi chuyện. Ừ, Phật mới hỏi chuyện là: "Hôm nay các ông đi khất thực có được đầy đủ không?" "Dạ bạch Thế Tôn, chúng con cũng được đầy đủ." "Rồi trên đường đi các ông có giữ được chánh niệm không?" Nói: "Bạch Thế Tôn, chúng con lúc nào cũng giữ được chánh niệm." "Các ông có nắm vững được cuộc đời là khổ, biết được nguyên nhân của khổ,

[4:33]biết được Niết bàn và con đường đưa đến Niết bàn không?" Và Phật hỏi lân la chuyện này chuyện kia suốt sáu tiếng đồng hồ. Lúc ở nhà chú đắc đạo. Chú đắc đạo rồi, cái Đức Phật mới mới đứng lên đi về tịnh xá. Các Tỳ kheo đi theo, mà các Tỳ kheo đi theo như vậy, đi vài bước chân là trời sụp tối liền. Tại vì cái thời gian không phải là thời gian thật. Thời gian mà hồi nãy nó chưa đúng ngọ là bởi vì Phật kéo dài ra. Phật kéo dài ra thôi, chứ sự thật là nó qua giờ mất tiêu rồi. Nhưng Phật dùng thần thông nó gây một cái ảo tưởng về thời gian, để cho cứ thấy như trưa và chưa phải là quá giờ ngọ, chư Tăng có thể thong thả được, không phải gấp rút về tịnh xá.

[5:11]Đến khi mà ở trong tịnh xá chú Sa di đắc đạo rồi, cái Đức Phật mới ở đây mới coi như đứng lên cùng với Tỳ kheo đi về, đi được vài bước trời sụp tối liền. Các Tỳ kheo mới ngạc nhiên hỏi: "Ủa, sao mới thấy trời giữa trưa đây bỗng nhiên mặt trời lặn cái ào, trời sụp tối liền?" Đi về tới nơi là tối. Đến chừng về, qua hôm sau rồi mọi người mới biết là có cái sự kiện là chú Sa di đã giao bát cho thầy mình đi khất thực giùm, rồi về nhà ngồi thiền và đắc đạo, rồi Phật đã kéo dài cái thời gian. Cái mọi người mới xôn xao xôn xao bàn như vậy. Xôn xao bàn như vậy thì Đức Phật mới trả lời là do công đức tu hành của cái chú Sa di đó đã tới lúc phải đắc đạo.

[5:51]Nhưng vì là chú không có đắc đạo trong cái trường hợp bình thường như mọi người, nên Phật phải hỗ trợ bằng cách là giữ yên cho chú ngồi thiền cho lâu để mà đủ cái sự chín muồi trong thiền định mà đắc đạo. Thế còn người khác nhiều khi cái duyên họ khác thì Phật không phải ra tay, nhưng lần này Phật phải can thiệp. Và Phật cũng khen ngợi cái cảm xúc của chú từ cái nhìn thấy cái người đào mương dẫn nước, thấy cái người uốn cái mũi tên, uốn cái vành cung, rồi thấy người thợ mộc khắc gỗ đẽo cây mà bỗng nhiên liên tưởng đến việc nhiếp tâm, làm chủ tâm để rồi khởi lên một cái ý chí mạnh mẽ tu tập mà quay về mà đắc đạo.

[6:29]Nên Phật đã nói cái bài kệ là: "Người đào mương dẫn nước, kẻ uốn nắn cung tên, thợ đẽo cây khắc gỗ, bậc trí nhiếp tâm mình." Cái bài kệ để khen cái chú Sa di đó. Hôm nay ta nghe lại, ta cũng cảm thấy rất là rất là cảm động. Giờ cái ta phân tích cái chuyện như thế này: Cái việc mà đắc đạo sự thật là có cái nhân duyên chứ không phải là khơi khơi mà ai muốn đắc đạo là đắc đạo được. Bổn phận của ta là tinh tấn tu tập đúng đường lối, đừng bao giờ là ép mình phải đắc đạo trong một kiếp này hay trong một năm này. Vì cái việc mà đắc đạo nó là cái quả nó chín muồi, lúc nào nó chín nó sẽ rụng. Còn ta là cứ gieo, trồng, cứ chăm bón, cứ làm cỏ, cứ tưới nước, bón phân.

[7:21]Đó là việc hiện nay ta đang làm như vậy. Khi ta quy y Phật, ta khởi lên lòng tôn kính Phật là ta đã gieo một cái hạt giống đắc đạo rồi. Nhưng mà từ cái lúc mà ta quy y Phật cho đến cái ngày ta đắc đạo thì vô số công đức ta phải làm. Chúng ta phải làm đó là: giữ gìn giới hạnh, giúp đỡ mọi người, tôn kính thầy tổ, làm việc bao nhiêu việc Phật sự, rồi tinh tấn tu tập thiền định, nghĩa là vô số chuyện vô số chuyện trong vô số kiếp như vậy. Đó. Thì đến cái ngày nào mà nhân duyên đắc đạo tới thì sẽ có những cái sự kiện gì đó xảy ra. Như có người đang tâm thanh tịnh, nghe một tiếng kêu, một tiếng động, chợt ngộ đạo.

[8:00]Có người nhiếp trong thiền định cả tháng trời rồi đắc đạo. Như chú Sa di này ngồi một ngày thì đắc đạo. Hoặc là có người chỉ nghe một câu Pháp rồi đắc đạo, vân vân. Rất là nhiều trường hợp. Mà lúc đó cái quả nó đã thật sự là là chín muồi, và cái quả đó nó thuộc về nhân quả, nghiệp báo chứ không phải là cái tham vọng, cái ước muốn, cái sự dằn ép của ta mà được. Còn ta chỉ cố gắng trong từng ngày, từng giờ, từng phút thực hiện đúng lời Phật dạy thì đó là là đủ rồi. Cái nhân duyên như vậy. Thì ở đây cái chú Sa di này, trước khi mà chú phát khởi lên cái lần thiền định quyết tâm trước khi đắc đạo thì chú bị liên tưởng.

[8:47]Cái yếu tố tâm lý gọi là liên tưởng: thấy sự việc này mà nghĩ đến sự việc kia. Thấy cái người đào mương dẫn nước mà lại cứ liên tưởng đến việc nhiếp tâm, thấy cái người uốn nắn cung tên liên tưởng tới việc nhiếp tâm, thấy người làm thợ mộc cũng liên tưởng tới việc nhiếp tâm. Liên tưởng đều dồn về một một mục tiêu một. Cái sự liên tưởng này là báo cho ta biết cái tâm thức của ta có gì bên trong, cái nghiệp của ta có gì bên trong. Và đây là một khoa học hẳn hoi chứ không phải là một chuyện ngẫu nhiên. Nhớ như vậy, cái liên tưởng của ta báo cho ta biết cái nghiệp thức của ta và nghiệp báo của ta.

[9:28]Tâm ta có cái gì, ta sẽ liên tưởng về điều đó. Nghiệp ta có cái gì, ta sẽ liên tưởng về điều đó. Ví dụ như một người sợ độ cao, cứ leo lên cao là chóng mặt, xây xẩm, phải đi xuống, có cái bệnh sợ độ cao. Thì coi chừng người này trong kiếp xưa đã từng rớt từ trên vực xuống rồi chăng? Nó có cái nghiệp thức nằm trong đó. Có một lần vậy, có một người vì người thanh niên, người nam gặp gặp thầy hỏi chứ, nói: "Thưa thầy..." Tại ông này ổng cũng không phải là đạo Phật, nói: "Thưa thầy, tôi có bị cái tâm lý mà tôi không biết tại sao mà tôi cứ nhìn cái ông bà già bảy, tám mươi tuổi tôi vẫn thấy rất nhỏ so với tôi.

[10:09]Tôi không hiểu tâm lý này." Lúc đó thầy mới trả lời: "Vì kiếp xưa anh tu làm tiên trường thọ, anh sống tới hai trăm tuổi, nên anh bây giờ cái người ông bà già bảy, tám mươi tuổi đối với anh vẫn còn là con nít." Cái người bạn đứng bên cạnh mới nói: "A, đúng rồi, ảnh tên là Nguyễn Thọ Trường." Nhưng cái nghiệp xưa nó rớt vô cái tên, và nó rớt lại trong tâm lý luôn. Thì cái cái mà sự liên tưởng đó, cái cái tâm thức của ta nó hiện ra như vậy. Và bên Trung Hoa vậy, với Việt Nam có cái khoa gọi là khoa đoán điềm qua những cái khẩu khí, hay là qua cái liên tưởng của mình để biết cái nghiệp thức của mình ra làm sao.

[10:47]Ví dụ bây giờ ta thấy một con cọp thì ta nghĩ cái gì? Bây giờ nghe nói một con cọp, ta nghĩ cái gì trong tâm mình? Rồi mọi người nói cho thầy nghe. Mỗi người sẽ nghĩ rất nhiều điều phải không? Tùy cái nghiệp thức của mình. Ví dụ như cái người thì nghĩ rằng con cọp là chúa tể sơn lâm, tượng trưng cho sức mạnh ha, tượng trưng cho cái gì dữ dằn, oai vệ, thì cái nghiệp thức của người đó là như vậy đó. Nghiệp thức người đó là như vậy. Còn có người mà thấy con cọp cái nghĩ tới cao hổ cốt, này mắc tiền lắm nha, bán được tiền đó, ăn vô khỏe bổ dữ lắm. Còn có người thấy con cọp nói: "Bộ da này mà làm áo là mặc vô là người ta sợ liền".

[11:27]Còn có người thấy con cọp cái nghĩ nói chứ: "Cái thịt của cọp mà mình để bỏ người đi tới nhà ai là chó không sủa, muốn lấy gì đó lấy". Tức là cũng con cọp thì mỗi người nghĩ trong đầu một thứ khác nhau và cái nghiệp thức nó báo cái liên tưởng đó là gì. Vậy nãy giờ ai nghĩ gì đâu thành thật khai báo thầy nghe coi. Cho nên để mà khám phá cái cái nghiệp thức và cái nghiệp báo của một đứa bé, ông bà ta có một cái phong tục rất là độc đáo là cái ngày mà đứa bé một năm tuổi á, thôi nôi đó, ta bày nhiều món đồ trên cái mâm cho nó bốc. Có người bốc cây viết, đúng lên là người thì rất là chính xác lớn lên người đó học giỏi.

[12:07]Có người bốc cuốn sách, đúng là học giỏi. Có người bốc cái lược, lớn lên điệu hạnh chịu không nổi luôn. Có người bốc cục xôi là thôi rồi biết ngay người này sẽ ra sao, vân vân, nhiều thứ như vậy. Rồi có người là chụp cuốn kinh, đứa bé có những đứa bé nó chụp cuốn kinh. Rồi có đứa thì nó không lấy cái gì hết, nó đi tìm cái gì khác ngoài cái mâm đó, thế là cha mẹ phải cuống cuồng đi tìm một thứ khác bỏ vô nó mới lấy. Tức là cái những cái món đồ trong mâm đó không đúng với cái nghiệp thức của nó, nó không chọn, không đúng với nghiệp báo của nó. Nên có một lần vậy, cái cái anh đó ảnh sinh ra đứa con thứ năm, thứ sáu gì đó không biết.

[12:46]Cái ảnh kể chuyện là cái ngày thôi nôi cũng bày đủ thứ cho đứa bé, mà cố ý là đưa mấy cái xôi đồ các thứ cho nó bốc mà nó cứ nhìn qua nhìn lại nó không chọn. Không lấy món nào hết, cái anh phải leo lên bàn thờ ảnh lấy cái cái xâu chuỗi bỏ xuống mâm thì nó chụp xâu chuỗi liền. Hoặc là ví dụ như là khi ta đứng nhìn bầu trời, cái mây nó bay đó, ta nhìn ta thấy hình thù này kia, phải không? Thì ta thấy cái hình gì á là nghiệp của ta cái đó. Còn cái người nhìn mây chỉ là mây, không thấy hình gì hết thì là cái gì? Thứ nhất là có thể người này không có lãng mạn, không có tâm hồn thi sĩ, nhìn thấy mây chỉ là mây.

[13:26]Hoặc là người này tâm thức đã đã thanh tịnh, không có tưởng tượng nữa, nó hai trường hợp. Còn mình nhìn thấy mây mình tưởng đủ thứ chuyện hết như em bé, thì tức là nghiệp thức mình còn còn mênh mang, còn cái cái cái cái nghiệp báo gì nó nó báo ra bên ngoài đó. Nên có một lần nọ, có một câu chuyện thầy thầy quên cái nhân tên nhân vật chính xác, cái ông thầy đồ ở ngoài miền Bắc á, ông dạy học trò, tới giờ đi về thì mưa, không về được, ông thầy ổng mới ứng khẩu làm một cái câu đối: "Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách" "Vũ", vũ là mưa đó. "Vũ vô kiềm tỏa" là mưa không hề ràng buộc ai, nhưng "năng lưu khách" vẫn có thể giữ khách lại, rất là hay.

[14:12]"Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách". Thì một người học trò giỏi trong đó ứng lên nói liền: "Sắc bất ba đào dị nịch nhân". Cái sắc đẹp nó không phải là sóng gió, nhưng làm chìm con người ta. Cái ông thầy nghe xong ổng phán một câu bói liền. Ổng nói: "Cái văn chương của anh sau này sẽ làm đến Trạng nguyên, nhưng anh sẽ chết vì gái". Tại anh không nói gì nói, bao nhiêu cái đối không đối, mà đem sắp cái "Sắc bất ba đào dị nịch nhân", tức là cái sắc đẹp nó không phải là sóng gió nhưng dìm chết người. Cái câu rất là xui, nhưng mà văn đối cực hay. Nói: "Cái văn này đúng là anh phải đỗ Trạng nguyên", mà đúng như vậy, sau này ổng đỗ Trạng nguyên,

[14:50]mà đúng là sau này cũng là bại liệt vì vì nữ sắc. Cái câu chuyện đó nó truyền đi từ rất là nhiều đời, cái thầy mới thấy tiếc. Cái một hôm cái cái học chữ Nho đó, cái thầy mới viết thầy sửa câu đối đó lại. Thầy mới viết một bên là: "Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách", câu thứ hai là: "Đạo bất ngôn từ khả giác nhân". Đạo không có ngôn từ, nhưng có thể làm cho người giác ngộ, như vậy sửa lại. Tức là: "Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách Đạo bất ngôn từ khả giác nhân". Lúc mà thầy viết hai câu đó lên trên bảng, thì mấy thầy hồi trong thầy ở trong chúng á, mấy thầy đi qua đi lại cũng có người trầm trồ. Nhưng ngay lúc đó là thầy chợt phát hiện,

[15:29]thầy chợt phát hiện là là sau này thầy có cái duyên độ chúng sinh, tại cái nó có cái điềm nó báo trong cái câu đó, nghiệp báo nghiệp thức nó hiện ra: "Đạo bất ngôn từ khả giác nhân", đạo không nói lời nào, không có nhiều ngôn từ, nhưng có thể làm cho người giác ngộ. Hoặc là Hoặc là cái chuyện về Lý Công Uẩn cũng vậy. Lúc đó là cái người mẹ của của Lý Công Uẩn là mang mang mang thai đứa con mình, còn cái người chồng thì đã rớt xuống giếng chết ở giữa rừng rồi, thì mới lết lết vô cái chùa của nhà sư sư Khánh Vân, vô đó xin tá túc. Tá túc rồi đêm đó bà sinh. Bà sinh rồi do là thiếu điều kiện về sinh sản,

[16:12]bà bệnh bà chết luôn, tức là chết trong khi sinh. Và cái trường hợp sản phụ chết trong khi sinh là khá nhiều vào thời xưa. Có nhiều ông chồng nuôi con mồ côi là vợ đã chết trong lúc sinh đứa con, cưng đứa con hơn vàng vì nó vừa là con mà nó như vừa là vợ luôn, cả tình thương yêu của vợ của con dồn hết cho con bé này, còn người vợ chết hi sinh luôn à. Cho nên rất là thương. Thì cái mẹ ông Lý Công Uẩn cũng vậy, chết trong khi sinh ông luôn. Thì khi nuôi thì ông Lý Khánh Vân mới thấy đứa bé này nó thiên tư dĩnh ngộ lạ quá, mà thấy mình không đủ sức dạy, mới đưa lên cho ông anh mình là nhà sư Vạn Hạnh dạy.

[16:48]Thì nhà sư Vạn Hạnh là ông này ông phải nói con người phi thường chứ không phải người phàm, ổng giỏi đủ thứ chuyện hết. Võ công cực giỏi, nho, y, lý, số, binh thư chiến trận, đạo lý, thiền định, cái gì cũng giỏi á. Nên thấy đứa bé giỏi quá nên ông truyền nghề hết. Và có một đêm bị phạt ngủ ngoài hiên, cái Lý Công Uẩn mới làm câu thơ: "Đêm khuya không dám dang chân ngủ Vì sợ non sông xã tắc xiêu". Và ngài đi ngang nghe một câu nói: "Thằng này khẩu khí thiên tử, lớn lên sẽ làm vua". Tại cái cực khổ của mình là cái muỗi cắn không ngủ được thì thôi, thì cứ nói là đêm khuya muỗi cắn không ngủ được đi,

[17:26]lại nói là tự nhiên bỗng nhiên liên tưởng đến cái chuyện non sông xã tắc. Cái cái nghiệp thức của người này là như thế, cái nghiệp báo đứa bé này như thế, sư Vạn Hạnh đoán liền: "Thằng bé này lớn lên làm vua", mà đúng là như vậy không trật được. Và ông dốc lòng truyền dạy, cho nên từ cái đời của Lý Công Uẩn, do lấy được nghề của sư Vạn Hạnh, nên dòng họ Lý cực giỏi luôn. Dòng họ Lý cực giỏi, giỏi đủ thứ mặt, nên đến khi mà nhà Trần nổi lên mà soán ngôi nhà Lý, những cái dòng tôn thất của nhà Lý mà chạy chạy trốn khỏi cái sự truy lùng của nhà Trần, của Trần Thủ Độ á, mà ta thấy đi vượt biển lên tới Hàn

[18:01]Quốc, có người đã làm tới tể tướng Hàn Quốc, có người đã từng làm tới vua của Hàn Quốc luôn, và đã giúp cho Hàn Quốc đánh bay quân Mông Cổ luôn. Cho nên trong cái th- giai đoạn đó, Việt Nam ta thắng Mông Cổ trên hai mặt trận: một là nhà Trần thắng Mông Cổ tại Việt Nam, hai là nhà Lý thắng Mông Cổ tại Hàn Quốc. Vì sao? Bởi vì từ Lý Công Uẩn quá giỏi mới truyền được những bản lĩnh đó cho con cháu của mình, giỏi mọi mặt, giỏi mọi mặt như vậy. Mà cái cái tâm thức nó báo ra ở cái câu nói là muỗi cắn vỗ đôm đốp không ngủ mà lại liên tưởng tới quốc gia xã tắc, cái nghiệp báo nghiệp thức nó nó nằm trong đó như vậy.

[18:40]Cho nên ví dụ như bây giờ mà ai tới chừng ăn cơm mà không đủ ăn á, mà mình giả bộ mình nói thay vì nói là cơm không đủ ăn, mình nói nhường nhịn lại cho đồng bào, xã tắc đồ ăn ví dụ nói, coi chừng nửa lớn mình cũng làm tổng thống hay chủ tịch gì không biết chừng nha, không biết. Cái nghiệp thức.

[19:00]Rồi khi mà có những cái liên tưởng như vậy, cái chú mới mới mới bỗng nhiên bị một sự thúc đẩy mãnh liệt là phải nhiếp tâm mình. Như lại cái những người kia họ đã lèo lái, uốn nắn, làm chủ được những vật vô tri như nước, như cái cây cung, như cái khúc gỗ thành những vật hữu dụng, mình phải làm chủ tâm mình. Thế là chú quyết tâm quay lại ngồi thiền. Cái quyết tâm nó khởi lên như vậy nó là nhân duyên đã tới lúc chín muồi. Rất giống với một cái người tham vọng dằng ép cũng như vậy. Có những người khi mà nghe người ta nói về những trường hợp tinh tấn tu hành đắc đạo, cũng hăm hở lên non cao, rừng sâu, vào am vắng để quyết tâm ngồi

[19:48]thiền, nhưng mà không hề đắc đạo, tại vì đó không phải là cái nhân duyên thực sự mà đó là một sự hăm hở. Một lúc nào đó thì cái hăm hở đó cũng rất có lợi chứ không phải không. Nó cũng là một cái bước tinh tấn, một cái duyên lành nó cộng thêm vào trong cái tiến trình tu tập của mình trong nhiều kiếp, nên cái hăm hở đó cũng rất là đáng quý chứ không phải là không. Nhưng mà nó không phải là cái sự phấn phát cuối cùng để đắc đạo như là cái chú Sa-di Pandita này, không phải như vậy. Cho nên trong trường hợp mà nếu ta bỗng nhiên trỗi dậy một cái sự phấn khởi, một sự hăm hở, muốn quyết tâm để mà hạ thủ công phu thì ta có điều kiện làm, cứ làm.

[20:32]Vì biết đâu có khi đó là nhân duyên đắc đạo đã tới lúc, hoặc có khi đó là một sự tinh tấn cộng thêm trong cái tiến trình tu tập của ta trong nhiều kiếp như vậy, nên cả hai đều đáng quý hết.

[20:49]Trong cái câu chuyện này thì ta thấy là

[20:54]Phật đã dùng thần thông kéo dài cái thời gian để giúp cho Sa-di Bandita chín muồi trong trong thiền định. Cho nên ta biết là Phật làm gì cũng được, nhưng mà Phật không có dùng thần thông bừa bãi. Ngài chỉ dùng thần thông à đúng nơi, đúng chỗ, đúng lúc, khi nào cần thôi, chứ không phải là để khoe khoang. Thì những vị thánh đều như vậy, những vị A-la-hán cũng vậy, các vị có thần thông vĩ đại. Nhưng mà có khi mình đánh á ngài không đỡ nữa, tại vì lúc đó cần không nên không nên đỡ. Một lát câu chuyện sau ta cũng sẽ nghe có một cái câu chuyện mà Phật không hề dùng thần thông để mà mà vượt qua khó khăn, à mà ngài chịu đựng.

[21:33]Nhưng trong trường hợp này thì ngài lại dùng thần thông kéo dài thời gian ra. Nên cái thời gian coi vậy chứ nó lại không có thật. Nên Phật muốn kéo là kéo, muốn dồn là dồn. Đúng là thời gian là một cái ảo giác thôi, ảo giác. Cho nên ta có nghe cái câu chuyện là có những người đi lạc vô cái động tiên á, ở vài ngày tới chừng trở về trần thế rồi thì đã qua mất bảy tám mươi năm, vì cái khái niệm thời gian nơi này nơi kia không có không có giống nhau, không có giống nhau. Thì cái điều này cũng cho ta thấy điều này, là khi mà cái chú Sa-di Bandita đó tới lúc đắc đạo, tới lúc phát khởi tâm tinh tấn tu

[22:10]hành thì động trời đất liền, Phật biết liền và Phật hỗ trợ liền. Nghĩa là gì? Nghĩa là tất cả chúng ta, khi chúng ta thật lòng tu hành, không bao giờ chúng ta cô đơn. Nhớ như vậy, không bao giờ ta cô đơn. Chỉ sợ ta giả tu thôi, ta tu vì háo danh, tu để khoe khoang, tu để nổ, tu để quảng cáo thì ta có thể cô đơn, ta bị thần thánh quay lưng ruồng bỏ. Còn nếu ta thật lòng tu hành vì lòng tôn kính Phật tuyệt đối, vì lòng thương yêu chúng sinh vô hạn, vì hiểu sâu sắc cái nỗi khổ của thế gian, vì khát khao tìm sự giác ngộ, giải thoát, vô ngã trọn vẹn mà ta tinh tấn tu hành, tu hành trong khiêm cung, tu hành trong kín đáo thì xin thưa không bao giờ chúng ta cô đơn.

[23:02]Lúc nào chư Phật, chư Bồ-tát cũng đang nhìn, đang ngó chúng ta, theo dõi chúng ta từng bước chân chúng ta đi, từng cái suy nghĩ chúng ta khởi lên trong đầu để mà kịp thời hỗ trợ. Những ai có kinh nghiệm tu hành đều sẽ thấy điều này. Lúc nào tới giờ đáng lẽ mình phải ngồi mà mình quên hay sao, sẽ có một cái gì đó xuất hiện để nhắc ta liền. Hoặc là ta có ý nghĩ gì sai lầm, tự nhiên có cái gì đó nhắc ta liền. Hoặc đôi khi ta có khó khăn gì đó, bỗng nhiên có cái cái gì đó xảy ra giúp ta vượt qua liền. Bởi vì sao? Bởi vì khi ta thật lòng tu hành thì ta là những đứa con ngoan của Phật. Mà là con ngoan của Phật thì lúc nào Phật cũng theo dõi, dìu dắt, che chở ta.

[23:49]Tuy ta không thấy Phật, nhưng mà tình thương yêu của chư Phật, chư Bồ-tát lúc nào cũng ban rải, cũng thấm nhuần trong cuộc đời của ta, trong trái tim ta. Chỉ vì ta không đủ sức để nhận ra điều đó thôi. Cũng giống như một người cha thương yêu đứa con mình lúc nào cũng thương yêu tràn đầy, nhưng đứa con sẽ khó nhận biết vì tình thương vốn là vô hình. Thì Phật cũng vậy, lúc nào cũng bên cạnh ta, cũng thương yêu ta, cũng che chở, soi sáng ta. Còn ta vì ta không đủ trí tuệ, ta không nhận ra được, nhưng ta hãy tin vào điều đó, hãy tin là ở trên kia, nơi cái cõi cao siêu đó, lúc nào chư Phật, chư Bồ-tát cũng đang nhìn

[24:31]vào trái tim ta, nhìn vào cuộc đời ta để dìu ta đi qua từng cái sóng gió, khó khăn trong cái sự tu tập. Cái phần còn lại chỉ là bổn phận của chính chúng ta. Hãy tinh tấn tu hành, hãy thương yêu con người, hãy sống vì mọi người, vì Phật pháp, vì chúng sinh. Đừng bao giờ mà mà chán nản, và biết rằng không bao giờ ta cô đơn, nhớ như vậy. Mình qua một câu chuyện khác chút. Bài kệ thế này: "Như đá tảng kiên cố, Không gió nào lay động, Cũng vậy giữa khen chê, Người trí không bận lòng." Sở dĩ có cái bài kệ này là vì lúc trong tinh xá có trường hợp này, có một Trưởng lão tên là Lakuntaka Bhaddiya. Ngài đắc đạo mà không ai biết.

[25:23]Mà có một cái nữa là tuy ngài đắc đạo nhưng mà ngài không có hiện ra cái uy như những người khác. Ta thấy rất là lạ, các bậc thánh không phải là ai đắc đạo rồi nhìn vô cũng đường bệ, cũng chiếu sáng. Có những người đắc đạo rồi mà ta nhìn vô ta thấy rất bình thường do cái phước vị đó không có đủ. Lạ lắm nha, chứng thì chứng mà cái uy vẫn là một cái chuyện khác. Rất là lạ. Thì cái Trưởng lão Bhaddiya này cũng vậy, ngài đắc đạo mà bên ngoài thì ngài không có uy lực hiện ra. Ngài cũng sềnh xoàng, tuềnh toàng vậy, cũng đi làm những việc bình thường như quét sân tinh xá rồi phục vụ mọi người. Thì lúc đó có nhiều người,

[26:03]mà kể cả những cư sĩ nữa không có biết, cứ xem thường ngài. Đôi khi rầy la, đôi khi trách mắng, đôi khi trêu cợt. Nhưng mà ngài lúc nào cũng vui vẻ, cũng cười, cũng hoan hỷ. Thì cứ cái thời gian dài như vậy, mọi người mới nhận ra là cái ông Trưởng lão này, ông Tỳ-kheo này có cái gì lạ lạ, có gì hay hay, là không bao giờ ổng giận ai. Dù ai trêu cợt, rồi có người khen có người chê, thấy ổng không bao giờ giận, lúc nào cũng vui. Bắt đầu họ mới mới hơi nể nể, lúc đó hơi nể nể. Thì cái chuyện đến tai Phật, thì lúc đó Phật mới không muốn cho mọi người xúc phạm đến một bậc thánh nữa, thì Phật mới nói bài kệ này để khen ngợi và ám chỉ

[26:45]cho mọi người biết rằng cái ông Trưởng lão mà coi tuềnh toàng, sềnh xoàng đó thật ra là đã là người đắc đạo, nên ngài mới nói cái bài kệ là: "Như đá tảng kiên cố, Không gió nào lay động, Cũng vậy giữa khen chê, Người trí không bận lòng." Cái chữ "người trí" này là người đã đắc đạo như vậy, ừ. Giờ ta phân tích chút. Đạo lực của người tu á được đo khi mà có cái lời khen chê. Còn nếu mà ta sống trên đời không ai khen chẳng ai chê thì ta không biết đạo lực mình tới đâu. Cho nên ta luôn luôn phải xem cái lời khen, tiếng chê như là cái thước đo đạo lực của mình, như là những cơ hội để lúc đó ta được thực hành cái lời Phật dạy.

[27:30]Nên lúc nào cũng mong sao cho có người khen mình, mong sao cho có người chê mình để thử xem sao. Để khi thấy cái người khen mình, mình xem lòng mình có có vui không, có mừng không. Còn khi thấy cái người chê mình, xem mình có phiền, có giận hay không, lúc nào cũng vậy. Nên mà nếu mà sống hết ngày này qua ngày kia mà không thấy ai khen ai chê mình phải năn nỉ người ta: "Nói anh khen tôi một tiếng đi mà." Đi năn nỉ người khen giùm tiếng để coi mình có mừng hay không. Còn không thấy ai chê, mình cũng lại năn nỉ: "Chê tôi một tiếng đi mà." Đi năn nỉ rồi "lát tôi đi bao ăn chè" ví dụ vậy, để người ta chê thử một tiếng coi mình có buồn, có giận hay không?

[28:06]Ví dụ bây giờ thì hầu hết là chúng ta chưa có ai đắc đạo, thì nên ta chưa có tự tại một cách tự nhiên được, nhưng mà ta phải tập bình thản trước khen chê.

[28:19]Dù chưa đắc đạo. Vì sao vậy? Vì đó là bổn phận. Nếu mà trước lời khen tiếng chê mà ta động tâm thì không phải riêng ta, không phải là riêng ta ta bận tâm mình đâu, mà ta làm phiền người chung quanh. Cho nên dù chưa đắc đạo, chưa đạt được sự tự tại, thản nhiên, nhưng mà ta phải tập bình thản trước lời khen tiếng chê để ta không trở thành cái người quậy chứ không gì hết trơn á. Ví dụ thế này, có một người nào đó khen chứ: "Trời ơi, hôm nay anh anh may đâu cái cái áo đẹp quá, anh tìm đâu được cái áo đẹp quá vậy nè, anh mặc thiệt là hợp á." Thế là năm ngày mình không thay cái áo đó ra khỏi người thì người chung

[29:04]quanh không ai chịu nổi, ta bị lừa á, nên sao ta làm phiền người chung quanh mình. Nên khi có ai khen ta mà ta mừng cái, ta sẽ làm phiền lòng người chung quanh mình. Thì đó là nói cái áo, còn nhiều thứ nữa, có nhiều thứ nữa. Nói là: "Ồ sao tôi ít thấy ai có cái dáng đi mà mà đẹp như anh nha, anh đi đẹp hơn người mẫu trên sàn catwalk á." Thế là tối ngày từ sáng đến tối mình thích mình đi hoài, đi đầu ngõ ra cuối ngõ, ngõ đi vô vô đi ra, qua hàng xóm thì đi hoài. Người ta không biết, ủa thằng này nó khùng hay sao mà nó cứ đi qua nhà tôi hay là nó rình gì nhà tôi. Mà sự thật là vì có cái người khen bậy,

[29:37]là do ta động tâm á, nên ta sẽ làm phiền người khác. Cho nên mà nếu người ta khen mình, mình không động tâm, mình sẽ không làm phiền ai hết. Cho nên ta phải đề phòng là ta thấy ồ khen thì tốt thôi sao? Không. Khen tốt, khen thì nó dễ gieo cái thiện cảm giữa người và người. Cái lời khen thì nó vô hại và nó làm cho con người ta dễ yêu mến nhau hơn, cho nên giá trị nó tích cực. Tuy nhiên vì ta đi sâu vào đạo nên ta phải đề phòng vì nó vẫn làm nó lừa gạt bản ngã ta, nó lừa gạt bản ngã ta rồi cái nó làm cho ta biến thành thủ phạm quấy rầy người khác, quấy rầy người khác. Ví dụ bây giờ mình gặp mấy người,

[30:14]tuần trước ổng kể lại câu chuyện là ổng có làm bài thơ được người ta khen. Tuần sau gặp ổng, ổng cũng kể lại câu chuyện ổng làm bài thơ được người ta khen. Mười năm sau gặp lại, ổng đem câu chuyện đó ổng kể lại nữa. Mình là mai mốt ổng mở câu chuyện đó là mình nói: "Thôi thôi thôi tôi nhớ, tôi thuộc bài đó quá rồi anh. Giờ anh sắp nói chữ nào tôi biết anh sắp nói chữ đó luôn á." Là vì mình cứ cứ nhớ nó nói hoài cái người ta cũng phiền. Là vì cái gì mình đã lỡ được khen cái cái mình nhớ chết luôn trong lòng mà tới khi mà hấp hối còn nhắc lại câu chuyện đó nữa. Không chịu chết cho rồi đi mà cứ còn phải nhắc cái câu chuyện người ta đã khen mình.

[30:43]Cứ ngồi thều thào nói không nổi nữa: "Hồi đó á có người á khen ba vậy vậy" cái rồi. Cứ làm phiền. Thì đó, thì cái ngược lại cái cái mà người ta chê cũng vậy, cái người ta chê cũng vậy. Người ta chê nói: "Coi cái thằng đó nó mặt mày nó bảnh bao mà sao nó nó nó đanh đá quá." Đanh đá quá, thế là mình mình mình phiền, mình giận lên là mình gặp ai mình cũng cằn nhằn, mình nhắc tới nhắc lui chuyện đó là mình làm phiền những người chung quanh mình. Rồi mình mình gặp ai mình cũng túm áo mình hỏi: "Tôi có đanh đá không? Tôi đanh đá không?" Gặp ai mình chộp áo mình hỏi: "Đanh đá không?" Người ta sợ quá nói:

[31:18]"Không không, không thấy anh đanh đá." Tới chừng mình buông áo ra rồi người ta mới chạy người ta nói: "Đúng là anh đanh đá thiệt á." Cho nên cái mà ta động tâm trước lời khen tiếng chê thì ngoài cái việc mà ta mất đạo lực của mình, ta làm bản ngã ta tăng trưởng, thì ta làm phiền người chung quanh mình. Do đó, cái việc mà ta giữ lòng mình bình thản trước lời khen tiếng chê cũng là một bổn phận để sống giữa đời cho được bình an, được bình an. Ví dụ, cái người khen ta, ta cảm ơn vì họ đã nghĩ tốt về ta, ta cảm ơn. Cũng phải cảm ơn cái lời khen một chút. Còn người chê ta, thì ví dụ nếu mình không cảm ơn cái

[31:53]lời chê đó thôi, mình cũng bình thản bỏ qua một bên. Vậy. Mới đầu xét chút xíu coi mình có đúng có cái lỗi đó hay không. Nếu có lỗi thì sửa, còn nếu không có lỗi thì thôi. Vậy đó. Rồi, chỉ trừ trường hợp người ta chê mình mà nó ảnh hưởng tới đại cuộc thì phải đính chính lại, phải đính chính. Ví dụ như mà cái người đó họ vào một cái cơ quan, họ tiếp nhận cái công việc ở cơ quan, họ làm việc tốt quá đi, uy tín họ tăng lên dần dần, họ được đề bạt lên chức này, chức kia, chức nọ, thì cái phước họ tăng lên thì cái lời khen nó làm sao? Nó cũng sẽ tăng lên. Thì xin thưa là cái đó là bài học về đạo khó lên dần dần.

[32:29]Ví dụ hồi trước thì người ta chỉ khen mình câu này: "Anh làm việc giỏi đó nha." Ta nói một câu. Là đó là đã là bài học đầu tiên đối với người Phật tử rồi đó. Nhưng sau này, khi mà mình hoàn thành những nhiệm vụ cực kỳ xuất sắc, đem lại những lợi ích lớn cho tập thể, cho cơ quan của mình, thì người ta viết nguyên một bài người ta ca ngợi chứ không phải một câu nữa. Không phải một câu là "anh làm việc giỏi" nữa, mà nói là: Kể từ khi có ông Nguyễn Văn X đó về đây là mọi chuyện đã thay đổi, là người nhân viên đã nhìn nhau với ánh mắt thiện cảm hơn, đã chia sẻ với nhau được những nỗi vui, nỗi buồn, tình đoàn kết trong công ty gắn bó,

[33:04]công ty đã vượt qua những khó khăn đi từ thắng lợi này... Họ làm nguyên một bài luôn. Thì lúc đó mình sao? Mình đọc bài đó làm sao? Làm sao? Mình đọc bài đó xong thì mình rụng rời tay chân. Rụng rời tay chân, nghĩa là một cái gì đó nó nó chiếm tâm hồn mình mạnh quá, rồi cái làm cho mình không điều khiển được tay chân mình nữa, mình buông thõng xuống gọi là rụng rời tay chân. Cái cảm giác đó rất rõ. Nếu mà có cái gì nó choáng, nó sốc, cái niềm vui quá lớn hay nỗi buồn quá nhiều hay cơn sợ quá mạnh, ta sẽ bị cái cảm giác gọi là rụng rời tay chân. Là đầu mình không điều khiển, tay chân nó buông lỏng

[33:36]rớt cái lịch bịch xuống dưới vậy đó, rớt vô vậy đó. Thì khi mà ta nghe à mới đầu người ta khen mình một câu là "anh làm việc giỏi quá", lúc mình mới gia nhập công ty, cho đến ngày mình lên làm giám đốc người ta viết nguyên bài mấy trang giấy để khen ngợi mình, lúc đó mình có thể bị rụng rời tay chân nếu mình không có tu tập. Thì ta phải hiểu thế này: khi cái phước mà nó tăng lên dần dần thì đương nhiên cái lời khen cũng sẽ cũng sẽ tăng lên dần dần, và đó là bài học khó dần dần cho người Phật tử. Cái người mà không phải tu theo đạo Phật thì thôi ta đành chịu, họ sẽ vui và họ được quyền vui vì họ đã cống hiến,

[34:10]họ đã xứng đáng với cái lời khen tặng đó, họ được quyền hạnh phúc. Nhưng mà bởi vì chúng ta là đệ tử Phật, ta buộc phải là sao? Là: "Cũng vậy, giữa khen chê, người trí không bận lòng." Cái ông giám đốc mà không phải đạo Phật á, thì ổng muốn vui, ổng mừng, ổng muốn rụng rời tay chân gì thì kệ ổng. Nhưng mà nếu mình là đứng ở vị trí đó, thì buộc mình phải theo lời Phật dạy là: "Cũng vậy, giữa khen chê, người trí không bận lòng." Người ta viết nguyên một bài, một xấp ca ngợi mình, đọc bài đó xong, lòng tỉnh thản nhiên, không động một chút cái vui mừng nào. Mặc dầu rất cảm ơn cái người viết bài, nhưng lòng bình thản như mặt nước hồ thu phẳng lặng.

[34:50]Phải tu tập cho được như vậy, phải tu tập cho được như vậy, mình mới có thể đi đến sự giác ngộ, giải thoát được. Rồi, cái lời chê cũng vậy. Ví dụ như khi một người cũng cái người đó thành đạt như thế, thì cái sự đố kỵ nó cũng tăng theo dần dần, phải không? Cái người thành công được nhiều người khen thì chắc chắn cũng sẽ có những người ganh tỵ và ta cũng sẽ chê, người ta nói này nói kia, đủ thứ chuyện hết. Thì cái lời chê nó cũng sẽ tăng dần lên theo cái uy tín của mình, theo cái thành công của mình. Nghĩa là càng thành công nhiều chừng nào, thì cái lời chê bai, cái lời ganh tị nó cũng tăng theo chừng nấy.

[35:26]Và đó cũng là gì? Cũng là bài học cho ta trên bước đường tu tập. Cái người thế gian không biết tu thì họ có thể đau khổ, phiền não vì cái lời chê. Nhưng cái người Phật tử ta, người đệ tử Phật ta thì xem cái lời chê là cơ hội để ta tu. Nghe cái lời chê đó, nhìn lại tâm mình như thế nào. Đó là cơ hội ngàn vàng á, chứ không phải là dễ tìm người chê mình đâu. Tại vì có cái thời đại mà xã hội càng văn minh thì người ta càng bớt chê bai lẫn nhau. Ta nhớ, đánh giá một xã hội văn minh hay không á, ta đi trong xã hội đó ta nghe người ta chê nhau nhiều hay không. Ta đi vào một cái làng, cái xóm gọi là khu phố văn hóa.

[36:07]Đó, bây giờ chúng ta cứ lấy khu phố văn hóa ra ta thử biết liền. Mình nói: "À, nghe nói cái khu phố anh đạt được khu phố văn hóa phải không? Rồi, tôi đi vô tôi kiểm tra." Anh nói: "Anh kiểm tra cái gì?" "Tôi chỉ kiểm tra là người ta có chê nhau nhiều hay ít thôi. Chuyện đó thì lại biết khu phố anh có văn hóa hay không, khỏi cần đánh giá cái điều khác." Ông nói: "Tiêu chuẩn khu phố văn hóa tôi là gồm những điều này: gia đình không có trẻ bỏ học, vợ chồng không cãi cọ này, không có ổ ma túy." Tôi nói: "Tôi không cần điều đó. Tôi chỉ cần điều trong khu phố anh người ta có hay chê nhau hay không. Nếu khu phố của anh mà người ta ít chê nhau,

[36:39]tôi công nhận khu phố anh là khu phố văn hóa." Ta nhớ điều đó. Khi xã hội mà văn minh lên dần dần, con người ta ít nói lời chê nhau. Còn mà đụng một chút chê nhau, đụng một chút chửi nhau là ta biết cái xã hội đó còn kém văn minh, con người đó còn kém văn hóa. Thì ở đây cũng vậy. Là ví dụ như bây giờ nếu cái xã hội ta mà còn kém văn minh thì ta thường xuyên nghe người này chê qua chê lại. Nhưng nếu một lúc nào đó xã hội ta văn minh cao lên rồi, ta khó tìm được cái tiếng chê, mà lúc đó tiếng chê rất là là quý hiếm, mua không ra. Mà ta rất cần cái lời chê để ta thử tâm mình, mà đi tìm không ra chứ không phải dễ.

[37:15]Lúc đó là ta sẽ nhờ cái người trung gian nói: "Anh lại anh thuê giùm cái người đó chê tui mấy câu thử." Mà có xi-nhê gì không? Không, bị mình thuê mình biết trước. Cái gì mình biết trước rồi nó không có thành công nữa. Mình thèm cái tiếng chê, cầu mong có ai chê mình để thử coi mình còn buồn hay không, mà không ai chê, đó là điều bất hạnh, đau khổ giữa cuộc đời. Người ta hỏi: "Sao anh ủ dột, mày chau, nhăn nhó, đau khổ giống như vừa bị dịch tả mới hết vậy?" Nói: "Xin thưa là bởi vì một tháng qua, hai tháng qua không ai chê tui hết. Tui cần cái lời chê để tôi đo cái cái sự tu hành của mình mà không có ai chê hết." Lúc đó sẽ có.

[37:51]Nên bây giờ mà hễ nghe được một lời chê bai, ta hãy mừng như là bắt được vàng. Hãy nhớ điều đó, hãy nhớ điều đó. Và tu mà được như vậy là ta là con cưng của Phật. Còn hễ nghe tới lời chê cái sợ, mình tránh né mất tiêu là chưa phải con cưng. Còn chừng nào mà nghe ở đâu chê mình là cứ lấn sấn tới đứng nghe hoài, nghe hoài là người đó giỏi. Nói: "Trời ơi, cái chỗ đó ổng chê ông quá chừng, ổng nói anh thế này thế kia." Mừng quá: "Đâu đâu, đưa tui tới." Để mà đứng ngoài nghe, mình đứng nghe lén. Chứ mình có mặt mình người ta không chê nữa. Có người ta chơi kỳ vậy, có mặt mình họ không chê. Nên buộc lòng mình phải giả dạng, đeo râu đeo đồ vô, đội mang mặt,

[38:25]đội mũ bảo hiểm mà che mỏm ra để đứng gần mà nghe người ta chửi mình cái gì. Nhờ như vậy mình mới tu tập được mà mà tiến bộ ha, nên cố gắng nha, như vậy.

[38:38]Đức Phật có nói câu này, ở trên đời này là: "Chẳng ai không được khen, chẳng ai không bị chê." Tất cả mọi người trên đời, kể cả Đức Phật. Đức Phật là bậc thầy của trời người, từ trên cõi trời đến vua cõi trời cũng mới xuống mà lạy Ngài, vua chúa cũng phải quy y với Ngài, mà vậy có nhiều người chống đối Phật cũng kinh hồn lắm chứ không phải không, và nói bậy bạ dữ lắm chứ không phải không. Thậm chí là cho cái người nữ gì độn bụng gì á, độn bụng lên mà mà để phao vu Đức Phật. Cho nên mới nói là mà trên đời này vậy, chẳng ai không được khen mà chẳng ai mà không bị chê. Ngay cả những cái tên mà nhiều khi nó khùng ba trợn

[39:17]nhất á, mình chịu hết nổi nhưng cũng có người khen nó, à, cũng có người khen, thử đi tìm rồi sẽ thấy. Cho nên là đừng bận tâm trước lời khen chê là vậy. Nhưng mà bây giờ ta chưa đắc đạo, mà ta muốn bình thản trước lời khen chê, thì ta phải lễ nguyện lễ Phật, phát nguyện mỗi ngày. Là ví dụ mình biết mình có cái tật dở là hễ ai khen cái mình mừng quá mình nhảy nhót, mình vỗ tay, mình đi kể tùm lum lên, hoặc là ai chê mình cái mình buồn bảy ngày bỏ ăn, mình biết mình có cái bệnh đó, mình phải lễ Phật mình sám hối. Nói: "Lạy Phật, con có cái bệnh là động tâm trước cái lời khen chê, và con biết đó là một cái cái tội.

[39:58]Con làm phiền người khác, làm cho bản ngã mình không có giảm trừ diệt được, rồi việc tu tập không tiến bộ, nên con xin sám hối cái lỗi này và xin trên Tam Bảo gia hộ cho con được bình thản trước những lời khen chê này." Mỗi ngày mình cứ nguyện như vậy, nguyện chừng năm hết à, mai mốt ai khen chê mình tỉnh queo, không có sao hết, phải không? Còn cái lời chê bai á, nhiều khi nó có mấy loại: thì nó chê bâng quơ khác, mà người ta công kích có tổ chức, có ý đồ, có mục tiêu thì nó lại khác nữa, cái điều đó. Thì á cái đó không phải phạm vi bài này, ta không nói. Còn cái người mà tu tập thiền định mà bắt đầu vào được sơ thiền thì hết, hết.

[40:40]Chứng được Sơ thiền rồi là hết. Chỉ tới Sơ thiền thôi là khen chê đã không bận lòng. Như vậy nha, thử coi. Nó tự nhiên thôi, lúc đó không còn kiềm chế gì nữa. Ai khen khen, tỉnh queo, ai chê chê, tỉnh queo. Tới chứng được Sơ thiền. Mà chưa đó là mình chưa nói tới Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Những cái bậc đó thì vĩ đại hơn nhiều. Nhưng mà ta vượt qua được chánh niệm tỉnh giác, diệt trừ được năm triền cái, chứng vào được Sơ thiền rồi là hết, hết động tâm với khen chê. Giờ ta qua cái bài khác. Cái kệ như thế này: "Như hồ nước sâu thẳm, trong sáng không vẩn đục, cũng vậy tâm người trí, nghe pháp hưởng tịnh lạc".

[41:20]Sở dĩ có cái bài kệ này là vì có cái câu chuyện thế này: là có một cái cô là của Cana, cô đi lấy chồng ở xa, cô về thăm mẹ. Mà mẹ là một người đệ tử Phật đã chứng quả Dự lưu. Thì cái người chồng mới thấy đi đã lâu, mới nhắn tin là kêu cổ về. Mà ngày xưa nhắn tin bằng cái gì? Ngày xưa thì không thể lấy cái máy Viettel ra bấm bấm chách chách chách chách chách chách kêu, nói: "Em về gấp, anh đã nhớ em tha thiết, khủng hoảng. Em phải có mặt đúng lúc 3:00 chiều nay tại đâu", phải không? Hồi hồi xưa không có cái Viettel, mobile phone gì hết. Cho nên là nhắn bằng cái người trung gian: "Nói anh đi đâu?", nói:

[41:57]"Tôi đi qua cái làng đó". "Rồi anh lại cái nhà đó anh nhắn vợ tôi nha, nói là về giùm chứ đi lâu quá". Thì cái người kia đi qua cái làng đó là mất mấy ngày, rồi từ từ mới tới. Rồi ông đó ổng lo công việc ổng xong mới đi tìm tới cái nhà đó ổng mới nhắn giùm, phải không? Nói qua miệng, mà ổng nói nhiều khi nó mất đâu mấy chữ nữa. Ổng nói là: "Nè, chỉ coi xong việc về nha, ổng nhắn về". Ổng nói câu đó rồi thì cái cô kia cũng không cần phải về nữa phải không, nghe cái câu nó nó bình thường, là nói đi nói lại mà. Cho nên khi mà nhận được tin chồng nhắn về, thì bà mẹ mới nói: "Ờ thôi, để mẹ làm ít bánh cho con đem về để làm quà,

[42:31]quà từ khi mà đi thăm mẹ mình đi về cũng phải có ít quà cho nhà chồng". Vậy, thì bà mới nấu bánh. Thì nấu chắc mất một ngày nữa. Nó nó từ từ nó rề rề. Khi nấu xong thì bà mới gói rồi đàng hoàng, bả chất lên bàn rồi chắc gói, lúc đó có bốn ông Tỳ kheo đi ngang. Một ông Tỳ kheo thứ nhất đi ngang trước cửa đứng ôm bình bát. Bà mẹ vì bả chứng Dự lưu nên bả lòng tôn kính Tăng rất là là là cao. Bả lật đật lấy mớ bánh đem ra bả cúng. Cái ông đó đi, ông thứ hai tới, bả lấy bánh cúng, tới ông thứ tư hết sạch bánh. Cái nói: "Thôi con ở lại ngày nữa đi mẹ nấu bánh khác". Thì đến khi mà nấu được cái đợt bánh cuối cùng để đem về mà không

[43:06]bị ai quấy rầy nữa, thì tin bên kia báo về cho biết là ông chồng đó lấy vợ khác, ổng nhắn là đừng về nữa, ổng lấy vợ khác rồi. Thì lúc đó bây giờ cổ đó cổ không biết đổ thừa ai bây giờ. Thì cổ đổ thừa ai? Đổ thừa ai? Không, mẹ mình thì mình thương mình mà nên không đổ, đi đổ thừa ai? Đi đổ thừa bốn ông Tỳ kheo. Tại mấy cái ông á, mấy ông làm tan vỡ hạnh phúc của cuộc đời tôi, phá hoại tất cả cuộc sống của tôi. Cái rồi ổng cổ cứ tru tréo, cổ chửi riết là không có ông Tỳ kheo nào dám bu tới cái nhà đó nữa. Mấy ông thầy Tỳ kheo mà nghe nói tới cái làng đó né đi qua chỗ khác hết. Cái chuyện đó tới tai Đức Phật. Cái Phật đích thân xuống thăm,

[43:45]tại vì trong nhà đó có một người chứng quả Dự lưu mà. Phật đích thân tới thăm, Phật mới hỏi: "Ta nghe nói là con có phiền gì cái chuyện của các Tỳ kheo đến đây khất thực gì đó, nói cho ta nghe". Thì cổ mới khóc, cổ mới kể lại. Nhưng mà lúc có Phật uy đức lớn quá cái cổ không dám tru tréo, chửi rủa, đổ thừa nữa. Cổ chỉ kể lại khóc khóc vậy thôi. Đức Phật mới khuyên, Đức Phật mới nói là: "Mọi chuyện trên đời đều có cái nhân duyên. Sở dĩ có chuyện này xảy ra bởi vì ngày xưa nó có cái nhân duyên đời xưa. Vào cái thời xưa đó, con là một người cái lòng cũng rất là tốt, cũng hay thích giúp người. Nhưng vì con không đủ sức giúp nên con mới vận động đi xin người ta.

[44:27]Thì con gặp đúng bốn cái ông Tỳ kheo này hồi xưa á, con đến con cứ xin hoài. Con cứ đi xin ông này để mà để cho người này, con xin ông này cho kia, mà cứ nhằm bốn ông đó con xin, con con làm phiền. Và vì con xin, bốn người kia cũng đã lỡ nhiều cái việc của cuộc đời của mình, bốn ổng cũng mất vợ luôn".

[44:46]Thì bây giờ á do cái là con làm việc phước mà vừa làm phước nhưng vừa làm phiền người ta. Nên đời này cũng sẽ như vậy. Nên cái bây giờ bốn ông Tỳ kheo đó thì sao? Ổng vô tư, ổng đi khất thực mà, đâu có biết chuyện gì. Giờ đổ thừa ổng, ổng trốn luôn. Bây giờ tại ổng mà người ta tan vỡ hạnh phúc gì đủ thứ chuyện, ổng trốn sạch. Sau khi cổ nghe ra thì cổ sám hối, xin sám hối với Phật, rồi Đức Phật thuyết một bài pháp, cổ chứng quả Dự lưu luôn. Cổ chứng quả Dự lưu rồi cái từ đó tâm cổ thay đổi, cổ cung kính Tam bảo lại giúp đỡ người, vì cũng không thèm về nhà chồng nữa tại lòng bình thản rồi, cái ở lại đó làm.

[45:21]Thì cái phước cổ tới, tự nhiên có một ông quý tộc tới xin cưới cổ, là thôi cho cổ tiền, bắt đầu ôi, từ sau đó cổ làm phước quá chừng luôn, mà không cần phải làm phiền ai nữa. Bây giờ tới lúc nó phát cái phước thật. Hồi xưa vừa làm phước vừa là vừa làm phiền. Cái câu chuyện nó là như vậy, nên là rồi có nhiều người mới hỏi về cái trường hợp cô này, cứ nói là: "Cổ dữ quá, bây giờ tụi con không dám đi qua tới nhà cổ khất thực mà sao bây giờ nghe nói là Phật lại thăm, thuyết pháp cổ chứng quả Dự lưu? Sao mà nó hai cái trường hợp trái ngược như vậy?". Đức Phật mới nói là: "Không phải đâu. Nó như một cái hồ nước sâu thẳm, trong sáng không vẩn đục,

[45:56]cũng vậy tâm người trí, nghe pháp hưởng tịnh lạc. Cái người tuy như vậy, trong cái lúc phiền não bất chợt á, bất ngờ thì người ta có cái phản ứng như thế. Nhưng mà sự thật là cô này có cái căn cơ, cũng có cái thiện tâm, có cái lòng tôn kính Tam bảo nó chìm ẩn sâu rồi. Nên hôm nay khi tới duyên, Phật đến thuyết pháp thì cô chứng được quả Dự lưu". Vậy, cái câu chuyện là như thế. Giờ ta phân tích chút xíu. Bây giờ cái việc mà cổ bị chồng bỏ, lỗi tại ai? Bây giờ mình đừng nói kiếp xưa, bây giờ nó lỗi tại ai?

[46:35]Bây giờ nói mà đổ thừa bốn Tỳ kheo, bốn Tỳ kheo có chịu không? Chịu không? Nói: "Không! Nói con đâu biết gì đâu. Sáng phải đi khất thực thì gặp nhà ai phải vô khất thực chứ. Bây giờ phải mà biết trước là cái bánh đó là là thông báo là cái nhà đó có bánh cho cô con gái đem về nhà chồng thì con đâu dám tới đứng đâu, đâu biết đâu, ngửa... bây giờ đổ thừa con đâu được", phải không? Ổng chối là thôi mất một người. Bây giờ đổ thừa là cái người mẹ là đáng lẽ cho con gái mình cái bánh là hứa đem về nhà chồng, tự nhiên gặp Tỳ kheo đi cúng ngang, thành thử làm tan vỡ hạnh phúc. Thì bà mẹ nói là: "Dạ không phải.

[47:09]Tại vì cái người mà chứng Dự lưu đó, cái lòng tôn kính Tam bảo rất là cao, gặp chư Tăng tức là cứ muốn cúng. Thì cái người mà chứng quả rồi thì họ phải xử sự như vậy, không thể làm khác được". Giờ bả cũng không chịu nhận lỗi luôn, thua. Còn ông chồng, đổ thừa ông chồng mới đó mà chưa chi người ta trễ trễ chút đi bỏ? Ông chồng nói: "Tôi đâu biết đâu, tại tôi thấy nhắn mấy lần không thấy về cái tôi tưởng bả bỏ tôi, tôi có cô hàng xóm cổ đứng cười hoài trước mặt tôi mấy năm nay, cổ chờ đợi tôi thì bây giờ là cơ hội thôi để tôi cưới cổ giùm chứ để cổ tội nghiệp, chứ tôi đâu có lỗi gì đâu". Tức là bây giờ đổ thừa thối lui rồi, không ai có lỗi hết.

[47:43]Thì còn cô Cana này hỏi tại lỗi cổ không? Cổ nói: "Con đâu có làm chuyện gì có lỗi đâu, tại cứ tại người này người kia". Giờ cổ cũng không có lỗi, cuối cùng cổ đổ thừa bốn ông Tỳ kheo. Tại sao cổ đổ thừa bốn Tỳ kheo?

[47:57]Thì ta phải hiểu cái tâm lý như thế này. Nếu một lúc nào đó ta bị người khác đổ thừa thì ta phải thông cảm, phải nhớ lại câu chuyện này mà ta thông cảm. Vì ta biết thế này: khi mà người ta đổ thừa mình là tại người ta kẹt quá, ta cần có một người người ta đổ thừa để cho người ta bớt đau khổ. Cho nên được đổ thừa là một hạnh phúc, vì lúc đó ta chia bớt cái nỗi buồn của người khác nha, chia bớt nỗi buồn. Như cô kia vậy đó. Cổ bây giờ lúc đó không biết, nếu mà đừng đổ thừa ai hết cổ sẽ không chịu nổi. Đổ thừa chồng thì yêu chồng quá làm sao đổ thừa chồng? Đổ thừa mẹ, mình kính mẹ quá làm sao đổ thừa?

[48:34]Thấy bốn ông Tỳ kheo đâu lạ ngắt đâu, đổ thừa liền, là cái lòng cổ vơi bớt, vơi bớt liền, thấy chưa? Cho nên vì vậy mà người ta kẹt quá, để giải tỏa bớt cái phiền muộn, đau khổ trong lòng nên người ta phải đổ thừa. Và nếu cái lỡ mà cái người người ta đổ thừa lại chính là mình thì ta hãy nhớ lại câu chuyện này và làm sao? Và xin hãy hoan hỷ, hạnh phúc, vì lúc đó ta có cơ hội để đưa vai mình vô gánh bớt giùm cái nỗi buồn của người của người khác, vậy đó. Tại vì trên đời này cũng thực sự như vậy, có những người họ là Đỗ mà tên là Văn Thừa, cho nên rất nhiều người như vậy, không bao giờ chịu nhận lỗi về mình mà cứ thích đổ thừa người khác.

[49:15]Là nếu mà phải gặp những người đó như vậy thì ta phải hiểu là lúc họ bế tắc, túng quẫn trong trong tâm lý và họ cần một người đổ thừa để cho họ họ họ đỡ cái cảm giác tội lỗi. Nên thôi ta cứ cứ thông cảm, đưa vai gánh giùm cái nỗi buồn cho họ, rồi lúc nào mà tiện, rảnh hãy phân tích lại cho họ họ nghe, cũng giống như Đức Phật vậy. Lúc đó là Đức Phật mới đến khuyên bảo, phân tích mới nói cho cô biết là vì: "Ngày xưa con cũng làm phiền người ta quá. Tuy có làm phước mà lại làm phiền. Bốn ông kia cũng vì con cứ xin hết cái này xin hết cái kia để giúp người nghèo, ổng cũng mất luôn bốn bà vợ của ổng rồi.

[49:51]Cho nên khi ta làm phước phải cẩn thận. Làm phước đừng làm phiền, hoặc là cái sự làm phiền rất là ít, rất là ít". Nhưng mà cô này cổ cũng có cái hay là nhờ nhân duyên Phật pháp sâu dày, cho nên sau này nghe nghe Phật thuyết pháp là chứng Dự lưu. Rồi cũng có được cái người mẹ chứng Dự lưu, nên nhờ vậy là cái duyên rất là hợp. Rồi cái phước đến khi nó phát ra thì tự nhiên có một ông chồng khác tốt hơn, giàu hơn, rồi để cổ được sống một đời thoải mái và làm được nhiều nhiều công đức, vậy. Cái câu mà Phật nói là "Như hồ nước sâu thẳm" là ý là nói là tâm cô là có sẵn cái thiện căn, cho nên nghe pháp mới đắc đạo như vậy,

[50:31]mặc dù trước đó một khoảnh khắc thì rất là phiền não, như vậy. Ta nghe câu kế tiếp: "Người hiền bỏ tất cả, không nói chuyện dục lạc, dù gặp lúc khổ vui, lòng thanh thản vô phiền". Cái bài kệ này Phật nói là một từ một cái chuyện nổi tiếng trong cuộc đời Đức Phật. Cái chuyện này rất là lạ, là lúc đó ở Veranja có một Bà-la-môn, ông mới thỉnh Phật và chư Tăng về nhập hạ ở cái vùng của ông. Thì ông hứa rõ ràng là ông sẽ chu cấp cho Phật và chư Tăng. Khi Phật và chư Tăng về ở an cư rồi thì bỗng nhiên vùng đó xảy ra cái nạn hạn hán, thiếu lương thực. Và cái ông Bà-la-môn đó như ổng bị ma ám, ổng quên Phật luôn, quên Phật luôn, không chu cấp nữa.

[51:21]Thì lúc đó là Phật và chư Tăng rơi vào tình trạng đói kém liền, không có ăn. Thì có một cái người họ làm nghề buôn ngựa, họ mới thấy tình cảnh của Phật như vậy, họ mới đem cái lúa mà để dành cho ngựa ăn á, đem đến cúng Phật và chư Tăng ăn đỡ, tức là ăn lay lắt cầm chừng chứ không có thức ăn gì khác, chỉ ăn... Cho nên là hễ mình nói tới cái nghiệp mà Phật phải trả trong đời, người ta thường hay nhắc tới hai sự kiện: một là kim thương, hai là mã mạch. Kim thương là có một lần Phật bị một cái cái đao vàng hiện ra cắt đứt chân Ngài.

[51:58]Và một lần, Ngài phải ăn lúa của ngựa mà không được cúng dường trong suốt ba tháng. Đây là một lần Phật trả nghiệp trong đời nên câu chuyện này trở thành cái tích rất là nổi tiếng, nổi tiếng vậy. Thì khi thấy cái tình cảnh khó khăn như vậy, Ngài Mục Kiền Liên mới đề nghị Phật là xin Phật để dời chư Tăng qua cái vùng Uttarakuru kia thì nơi đó đời sống còn thịnh vượng hơn. Mà việc mà Phật đổi từ vùng này qua vùng kia là 30 giây, không cần phải đi đâu, búng ngón tay cái là bay mất liền. Phật nói: "Không, cứ ở đây đủ ba tháng." Mà trong ba tháng cực kỳ khổ sở. Và trong ba tháng đó thì có những vị Tăng

[52:39]bị động tâm, cứ ngồi hay nói chuyện đói no, chuyện đời khổ, đời vui thế này thế kia. Và có những vị Tăng lòng bình thản theo Phật, không hề động, là Phật khổ khổ theo Phật, à Phật no no theo Phật, Phật đủ đủ theo Phật, không hề động tâm, lòng cực kỳ trung thành. Là như vậy. Thì khi qua ba tháng rồi, Đức Phật mới từ giã để đi về Xá-vệ lại. Thì ông Bà-la-môn tới giờ đó ổng mới nhớ Phật, ổng đến ổng xin lỗi. Thì xong rồi, thì Phật đi về Xá-vệ và đời sống trở lại bình thường nên là mọi người cúng dường, dâng cúng đầy đủ trở lại. Thì khi mà cái chuyện đó hỏi á thì Đức Phật mới cũng không nói gì, Ngài chỉ nói một bài kệ thôi:

[53:23]"Người hiền bỏ tất cả, không nói chuyện dục lạc, dù gặp lúc khổ vui, lòng thanh thản vô phiền." Tại vì Đức Phật nói như vậy là để khen những cái vị tỳ-kheo mà trong suốt ba tháng khó khăn đó lòng bình thản, an vui, trung thành theo Phật, và cũng để chê trách có những người lúc đó đã động tâm nói này nói kia, bàn chuyện đời khổ vui thế này thế kia, đời tu khổ vui, đời sống bên ngoài thế tục khổ vui thế này thế kia, đó là ý như vậy. Ở đây cái đoạn sử nổi tiếng này, hễ ai học lịch sử Phật đều phải nhớ cái đoạn này hết. Có một cái sự kiện làm ta để ý thế này, là lúc mà Ngài Mục Kiền Liên xin chuyển qua cái vùng là Uttarakuru

[54:03]nhưng mà Phật không cho, lúc đó cũng đã có những người chỉ trích Phật. Có người chỉ trích Phật là cố chấp. Tại sao Ngài phải cố chấp ở một chỗ an cư ba tháng để cho đệ tử Ngài đói như vậy? Cái lòng từ bi Ngài để đâu? Nhưng Phật không trả lời. Đến mức độ đức như Đức Phật thì làm gì có chuyện cố chấp, làm gì có chuyện không thương đệ tử, phải không? Nhưng mà vì một lý do cực kỳ bí mật mà chỉ Phật mới biết, và Phật buộc mọi người phải ở lại với Ngài như để trả một cái nghiệp gì đó. Vì nếu không có trả cái nghiệp đó, những người trong Tăng đoàn của Ngài cũng sẽ không chứng đạo được, chứ không phải là dễ.

[54:46]Cho nên con người ta phải có những lúc như vậy, đôi khi trong gian khổ, có lúc ta tránh để cho đỡ phiền, có lúc ta dấn thân, ta đối đầu với gian khổ đó để vừa rèn luyện cái bản lĩnh của mình mà cũng vừa để trả nghiệp. Thì cái ý gì của Phật á ta không hiểu nổi, nhưng đã có những người không hiểu Phật và chỉ trích Phật mà mang tội rất là nặng. Vì vậy, bảo đảm nhất là ta phải hiểu điều này: Đức Phật trí tuệ tuyệt đối, không điều gì Ngài không biết, không điều gì Ngài làm mà vô lý. Vì vậy, ta phải luôn luôn tùy thuận theo cái lời nói, việc làm của Phật để học được những điều cực kỳ sâu xa mà cái trí óc tầm thường của ta không thể hiểu nổi.

[55:36]Đừng bày đặt phê bình Phật, mang tội chết! Mang tội chết. Vì sao? Bởi vì Người là một đại dương mà ta như một giọt nước, Người là ngọn cao sơn mà ta chỉ là một hạt bụi. Nên đừng bao giờ có ý niệm gì phê bình Phật khi thấy cái việc làm của Phật không phù hợp với ý nghĩ của mình. Nếu thấy Phật làm điều gì đó mà khác với ý nghĩ của mình thì mình phải làm sao? Mình phải thay đổi cái ý nghĩ của mình để phù hợp với với việc làm của Phật, bởi vì Phật làm điều gì đó luôn luôn ẩn chứa một cái trí tuệ, một cái hiểu biết, một nguyên cớ sâu xa và hợp lý, còn ta chỉ là cát bụi dưới chân Ngài mà thôi. Thì đó là nói với Phật, bây giờ giữa tình thầy trò cũng vậy.

[56:26]Thì khi ta làm đệ tử một vị thầy, đôi khi cũng có những trường hợp đệ tử giỏi hơn thầy, bởi vì thầy mình chưa phải là Phật nên đôi khi cũng có đệ tử giỏi hơn thầy. Nhưng trong đa phần, đệ tử chưa bằng thầy, chưa bằng thầy nổi. Có những việc làm của ông thầy, người đệ tử không hiểu nổi. Không hiểu nổi mà thấy thầy làm khác mình, phê bình thầy, chỉ trích thầy, chê bai thầy, mang tội cũng rất nặng. Vừa mang cái tội phản bội, không trung thành, mà vừa kiêu mạn, tưởng mình giỏi hơn thầy. Đâu biết ông thầy mình trí tuệ ổng rất là sáng, ổng làm một việc lớn, việc nhỏ ổng cân nhắc rất kỹ, mình không thể hiểu nổi.

[57:07]Mà thầy mình đâu phải làm việc gì cũng kêu mình lại giải thích sâu xa. Mà giải thích sâu xa chưa chắc mình nghe tại vì mình còn cái ngang bướng trong lòng, cứ tưởng mình giỏi. Nên vì vậy, lúc nào ta cũng sống với cái tâm khiêm tốn và kính trọng người trên là bảo đảm bớt bị đọa. Ít bị đọa chút. Còn cứ mở miệng chê bai, chỉ trích cái người bình thường thôi cũng rất dễ mắc nghiệp, huống hồ người đó là những bậc vĩ đại như là sư phụ mình, như những vị Bồ Tát, như là Đức Phật chí tôn chí kính của ta. Vì vậy lúc nào ta cũng dè dặt khi nhận xét một người khác. Có những người vậy thầy thấy viết bài trên mạng lung tung,

[57:49]rồi gửi qua mail này qua mail kia, đôi khi phê bình đủ thứ chuyện mà nhìn mình biết cái người đó họ chủ quan, họ cứ tưởng là họ nhìn khéo thấy đó, nhìn đâu biết đó rồi viết bài phê bình tứ lung tung, không ngờ rằng đã gây nghiệp rất là nặng vì đã nhận định sai, phê bình sai. Nên nên chúng ta cần cái khiêm tốn rất là nhiều là vậy. Lúc nào cũng phải cố gắng lễ Phật, tập thương yêu con người, tập khiêm hạ và tinh tấn tu tập thiền định để lắng bớt cái tâm trí mình, cái bản ngã của mình, thì hy vọng nhờ những công đức đó mà ta nhìn vấn đề nó chuẩn xác hơn. Còn nếu mà ta không có những sự tu tập sâu dày như thế

[58:30]thì khi ta nhìn mọi vấn đề trên đời này thường là có lệch lạc, có thiếu sót. Mà nhìn lệch lạc, thiếu sót rồi, mình xử sự sai, mình dạy người khác sai, mình nhận định sai, chê khen sai và tạo thành nghiệp vây bủa cuộc đời mình ở kiếp này và những kiếp khác.

[58:52]Cái bài kệ Đức Phật nói cho ta nghe làm ta thấy có ba cái yếu tố của một bậc hiền triết, đạo hạnh, trí tuệ. Thứ nhất là buông xả, không mong cầu cá nhân của mình, là như những đệ tử tỳ-kheo của Ngài mà lúc đó không hề mong điều gì cho mình, cứ bình thản theo Phật thôi, Phật thế nào mình theo Phật thế đó. Thứ hai là không nói chuyện dục lạc thế gian, là không nói: "Ở ngoài đời giờ tôi mà ở ngoài đời giờ này chắc tôi cũng sướng hơn, giờ đi tu bữa nay không có gì ăn đói quá", vân vân, nói chuyện dục lạc thế gian. Còn cái người trí tuệ không nói chuyện dục lạc thế gian, lòng bình thản lắm. Thứ ba là bình thản trong nghịch cảnh cũng như trong lúc mà thuận lợi.

[59:37]Đó là ba cái dấu hiệu của một bậc hiền triết đạo hạnh. Ta nhắc lại, thứ nhất là buông xả, không mong cầu cá nhân; thứ hai, không nói chuyện dục lạc thế gian; và thứ ba là bình thản trong thuận cảnh cũng như trong trong nghịch cảnh. Kính chúc quý

[59:57]vị...