[0:01]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:16]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:30]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:44]Chúng con xin cung thỉnh Thượng tọa Pháp sư an tọa. Xin mời toàn thể đạo tràng an tọa.
[0:52]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa đại chúng, hôm nay ta nghe tiếp cái loạt bài về Bồ Tát Đại Thừa. Tức là trong đạo Phật, trong lịch sử phát triển của đạo Phật, nó có một cái hiện tượng lạ là sự xuất hiện của Phật giáo Đại Thừa. Đây là điều khá lạ. Từ một đạo Phật nguyên bản ban đầu, sau này có người gọi là nguyên chất, rồi có người dịch là nguyên thủy, nhưng mà từ một cái đạo Phật nguyên bản ban đầu của Đức Phật dạy qua vài trăm năm, bắt đầu từ 200 năm,
[1:36]thì xuất hiện những cái biến đổi. Đầu tiên là cái kinh Kim Cang mà ta đã học, kinh Kim Cang. Rồi kinh Hoa Nghiêm, rồi đến khoảng 500 năm sau, 600 năm sau cho đến thời kỳ của ngài Mã Minh, Long Thọ thì xuất hiện cái tư tưởng Đại Thừa chính thức, rõ ràng và rất là mạnh mẽ, bắt đầu gây thành một sự xung đột giữa những người thích trung thành với cái Phật giáo nguyên bản ở buổi đầu với những người mà chấp nhận cái Phật giáo Đại Thừa cải cách.
[2:20]Và cái sự xung đột đó kéo rất là dài cho tới ngày hôm nay luôn. Và hai cái đạo Phật, một cái đạo Phật trung thành với Phật giáo nguyên bản và một đạo Phật đi theo con đường phát triển Đại Thừa đã có nhiều giai đoạn không nhìn mặt nhau, coi nhau như là ngoại đạo, đại khái như vậy, có những lúc gay gắt đến như vậy. Nhưng mà chỉ may mắn là trong đất nước Việt Nam ta, dưới sự vận động của Nhà nước Việt Nam,
[2:53]thì Nhà nước bằng cái sự khéo léo, thuyết phục của mình, mời tất cả những tông phái mà tưởng chừng như là không nhìn mặt nhau đó cùng ngồi lại với nhau để thành lập một Giáo hội chung. Đây cũng cái điều đặc biệt nhất thế giới nha, thế giới chưa có chuyện này. Thế giới thì hễ mà không vui với nhau thì thôi đi kiếm chỗ khác, không có chơi với nhau. Nhưng ở Việt Nam thì Nhà nước lại mời được. Thế là các vị ngồi lại với nhau, nói chuyện với nhau, bỏ qua hết những cái xung đột, những cái khác biệt để mà cùng xây dựng một đạo Phật chung. Nên khi mà ta bước vào những cái hội nghị, những đại hội, những lễ hội, người ta sẽ thấy là
[3:40]nhiều vị tôn túc của các tông phái cùng có mặt mà rất vui vẻ với nhau. Thì vui vẻ là họ cứ cố gắng vì cái tinh thần của đạo Phật Việt Nam như vậy, nhưng thẳm sâu trong lòng thì mỗi người chắc là vẫn còn giữ cái quan điểm tông phái riêng của mình, mặc dù không chống báng nhau nữa, nhưng mà chấp nhận nhau vậy thôi. Tuy nhiên, cái sự hòa hợp của Phật giáo Việt Nam lần lần nó tạo nên cái điều kỳ diệu. Kỳ diệu, lạ là thế này, là như ta biết chùa Hoằng Pháp là chuyên về Tịnh độ, phải không ạ? Chuyên Tịnh độ niệm Phật A Di Đà. Thì bên Nam tông Nguyên thủy thì không bao giờ chấp nhận chuyện đó. Bên Nam tông Nguyên thủy nói rằng là cái Phật Thích Ca là vị Phật lịch sử có thật.
[4:34]Còn Phật Di Đà là huyền thoại, ai đặt ra á, mà bây giờ cạnh tranh với Đức Phật lịch sử có thật, kỳ quá, ha? Mới là Phật Thích Ca mới là có lịch sử, có ngày sinh, nơi sinh, có cha, có mẹ. Còn Phật Di Đà chỉ là truyện kể, mà bây giờ người ta quên Phật Thích Ca, chỉ biết Phật Di Đà thôi. Cho nên đạo Phật như vậy là mất gốc. Mà cái lối tu á thì cũng vậy. Tức là, ví dụ như Đức Phật Thích Ca, ngài xuất hiện giữa đời, nhưng mà không bao giờ ngài kêu ai là cứ kêu tên ngài, mà ngài gọi mọi người, gọi chúng sinh là phải sao? Phải thực hành Bát Chánh Đạo, hiểu biết về Tứ Diệu Đế để mà giải thoát. Còn cái kia đó, cứ lấy tên ông Phật ra làm pháp
[5:16]môn tu, đơn giản quá, nó không có sâu sắc. Cho nên hai bên không chấp nhận nhau. Vậy mà không biết tại sao có một lần ngày vía Di Đà, tức là ngày 17 tháng 11, thì chùa Hoằng Pháp lại mời Thượng tọa Bửu Chánh, là một vị sư cũng có danh tiếng ở Nam tông Nguyên thủy về giảng. Thì đây là một chuyện nhỏ ít ai để ý, nhưng mà sự thật đó là một điều, điều rất lớn của Phật giáo Việt Nam, là các tông phái hòa hợp, hoan hỷ, vui vẻ đến cái mức độ mà mà mâu thuẫn tột độ cũng biến thành cái sự hoan hỷ, an lạc, là chấp nhận nhau luôn, cũng rất là lạ. Nên đây là cái bài học từ Phật giáo Việt Nam cũng là điều đáng cho Phật giáo thế giới nên suy nghĩ lại.
[6:06]Đó là ta dẹp một cái sự khác biệt để có thể chấp nhận nhau, mà rồi từ từ ta sẽ thấy được cái hay của nhau. Đó cái là quan trọng về lâu về dài. Còn mà cái sự mà vào cái thời sau Đức Phật bắt đầu mà xuất hiện cái khuynh hướng Đại Thừa là vì thế này. Có những điều Đức Phật không nói mà những vị sau họ tu họ thấy có, họ nói ra.
[6:37]Ta nói ví dụ như là Thiền tông thôi, Thiền tông thiền sư ổng chứng cái gì đó không biết thì ổng nói ra những điều, ổng nói ra những điều mà hồi xưa Phật không nói. Ví dụ ổng nói là ổng thấy có cái chân tâm, ổng thấy có cái Phật tánh nơi mỗi chúng sinh, mà làm cho người ta ngộ được cái đó rồi thì người ta có đường tu, người ta thành Phật, người ta giác ngộ. Và trong cái thấy cái Phật tánh chân tâm đó, họ thấy những điều rất là lạ. Thấy lạ ví dụ như là con kiến nó nuốt cái mất con voi. Họ thấy những cái điều đó. Họ thấy một cái biển rơi rớt vào trong một cái giọt nước, họ thấy rất là lạ. Mà sao Phật không nói?
[7:23]Thời Nguyên thủy Phật không nói, mà khi các vị mà họ ngộ đạo, họ thấy cái đó có, họ thấy nó sờ sờ, mà tại sao Phật không nói? Hoặc là ví dụ như hỏi: "Làm sao hiểu được ý tổ sư?", ông này lại ổng nắm tay ông kia ổng nhéo một cái. Nói: "Ý tổ sư. Ủa, sao kỳ, hồi xưa Phật đâu có giảng mà đi nhéo tay người ta?" Đâu có ai hỏi Phật đạo lý, Phật lại nhéo tay một cái, mà bây giờ ông thiền sư hễ là ai hỏi đạo ổng lại nắm tay ổng nhéo một cái, nó nó lạ quá. Nhưng mà các thiền sư thì họ thấy sờ sờ, họ thấy này rõ quá, cho nên họ nói ra mà thành ra một cái gì khác hẳn luôn với cái đạo Phật nguyên bản. Thì cái chỗ này nó là một cái kẽ hở mấy ngàn năm qua không giải quyết được.
[8:12]Nhưng ngày hôm nay, nơi chùa Từ Tân này, chúng ta giải quyết được cho xong luôn, không có để nó rạn nứt nữa.
[8:22]Phật không nói vì Phật thấy không cần phải nói. Đây chúng ta so sánh chút xíu, sau này thầy sẽ nói kỹ thêm về điều này, hôm nay thầy nói một chút thôi. Ví dụ, khi một thiền sư ổng ngộ đạo một cái thì ổng thấy rằng mọi cử động của ổng đều là từ cái chân tâm lưu xuất, nó là một cái diệu dụng. Co tay, đưa chân về nó không phải ngẫu nhiên nữa, mà trong đó nó tràn đầy sự tỉnh giác, sự chủ động, co tay hay duỗi tay. Nên ông Bàng Long Uẩn ổng nói rằng: "Cái thần thông là gì? Là gánh nước bửa củi." Thì mình nói: "Ủa, gánh nước bửa củi thì ai không biết gánh nước bửa củi? Người nào không biết gánh nước bửa củi, mà tại sao qua tới ông Bàng Long Uẩn
[9:08]á thì ổng nói gánh nước bửa củi chính là thần thông?" Hoặc thiền sư nói: "Duỗi tay ngươi có thấy Phật không?" Hỏi: "Thế nào là Phật? Thế nào là là Phật quá khứ?", ổng lại duỗi tay ra. Người kia không ngộ, mới nói: "Ngươi đi ra, ngươi chưa đủ căn cơ." Tức là cái hành động của một thiền sư khi mà ổng co tay duỗi chân, mọi cái hành động nhúc nhích nhúc nhích vậy nó tràn đầy sự tỉnh giác, biết rõ và thấy từ nơi tâm mình lưu xuất một cách chủ động. Nên ngài Quy Sơn mới hỏi ngài Ngưỡng Sơn: "Ngươi đến đây, ngươi là Sa-di có chủ hay không chủ?" Ngài Ngưỡng Sơn bước đi qua từ Đông qua Tây, đứng yên, cái ngài Quy Sơn chấp nhận cho vào chúng
[9:50]liền, tức là chú Sa-di này đã ngộ đạo. Rồi sau này ngài Ngưỡng Sơn là nối pháp ngài Quy Sơn, lập thành tổ một cái tông là tông Quy Ngưỡng. Những vị đó đắc đạo cao siêu, thần thông phi thường, nhưng mà cái hỏi có chủ hay không, ngài bước đi qua. Thì cái việc mà bước qua bước lại mình cả ngày mình bước hoài chứ gì. Nhưng mà tại sao ngài bước một cái ngài Quy Sơn chấp nhận là ngài đã ngộ đạo? Bởi vì trong cái tỉnh giác của ngài, trong cái sức ngộ của ngài, ngài thấy rõ mỗi co tay bước chân như vậy nè, nó đều là tràn ngập sự tỉnh giác, sự làm chủ. Còn ta quơ tay ta gãi đầu nãy giờ không biết. Hỏi:
[10:23]"Anh làm gì vậy?", "Không nhớ." Thật ra mình mới vừa gãi đầu mình không hay, có không à? Nhiều khi nó nó ngứa ngứa đâu mình gãi gãi, mình không để ý. Đó, tức là mọi động tác của ta ta không có kiểm soát, không có tỉnh giác. Còn thiền sư, nhúc nhích ngón tay ngón chân đều làm chủ, đều kiểm soát và cái đó nó tự động, chứ nó không phải là cố gắng. Như bây giờ ta nói là: "Làm cái gì biết cái đó nha!" Lúc đó là: "À, à, à." Phật dạy bắt đầu thấy không, mình đi cái mình ráng mình biết đi, mình làm cái mình ráng mình biết làm, mình xắt gọt cái mình ráng mình biết, là ráng biết. Còn khi một người ngộ đạo rồi, mọi động tác họ tự nó tràn ngập sự
[10:57]tỉnh giác, biết rõ và làm chủ trong từng sát-na, từng sát-na. Cái đó thì các thiền sư ngộ đạo họ thấy rõ quá, mà kinh Phật nói ít quá. Bởi vì trong kinh Phật chỉ nói câu thế này: "Một Tỳ-kheo khi đi biết đi, khi đứng biết đứng, khi ngồi biết ngồi, khi ăn, khi nhai, khi nuốt, khi đắp y, khi mang bát đều biết rõ." Cái câu mà nói, nhưng mà đối với các thiền sư, cái mà từng động tác biết rõ đó, đó là một diệu dụng kỳ lạ từ nơi tâm thanh tịnh lưu xuất ra, kiểm soát từng chút từng chút, nên các ngài không có động tác thừa. Và đó là một sự khác biệt. Nhưng mà tại sao các thiền sư thì xem đó là quan trọng,
[11:36]mà thời Đức Phật xem nó không quan trọng? Hoặc là ví dụ như cái câu nói là một thiền sư ổng ngộ đạo, rồi ổng nói câu này: "Rắn chết giữa đường thôi chớ đập, giỏ tre không đáy bỏ mang về." Mình nghe hiểu không ạ? Không. Nhưng mà người nào mà ngộ tới đúng cảnh giới ổng, hiểu ổng muốn nói cái gì. Mà bây giờ mình giảng ra thì phản bội các ngài, mà không nói thì cũng như không. Nói: "Đi lại nghe thầy giảng mà thầy nói ú a ú ớ, thầy lấp la lấp lửng, thầy úp úp mở mở, ghét dễ sợ luôn." Nhưng mà nói ra thì nó kỳ, nó phản bội, nhưng mà hổng nói thì cũng như không, nên tới chỗ này rất là khó. Đây: "Rắn chết giữa đường thôi chớ đập", tức nó chết rồi mắc công diệt nó làm chi.
[12:26]Giống như vọng tưởng của mình, ở cái mức độ mà khi cái sức ngộ ta cạn á thì mỗi cái vọng tưởng mình nó lôi kéo, nó làm mình chú ý vào đó, nó làm mê mờ tâm trí mình. Nhưng với cái người mà sức ngộ họ sâu rồi, cái vọng tưởng nó hết quan trọng, nó như con rắn chết rồi, chẳng hại ai được. Khởi lên rồi tự nó mất, khởi lên là tự nó mất, mà không cần phải diệt. Mà cái tâm lúc nó như cái thùng không đáy, tự nhiên người ta thấy tâm người ta rỗng thùng không đáy, nghĩa là một vọng tưởng có khởi lên rồi rơi mất vào trong hư vô, không cần diệt mà bị thấy rất rõ ràng. Vọng tưởng khởi lên là bị thấy, rồi nó tự nó tan biến luôn
[13:03]bởi cái sức giác chiếu, sức tỉnh giác họ vằng vặc vằng vặc trong tâm thì cái vọng tưởng như hạt bụi vừa ló lên thì bị cái sức chiếu giác đó phá tan, mất liền. Mà tâm của một vị hành giả đó như là cái thùng không đáy. Cho nên các thiền sư mới nói một câu lãng mạn: "Rắn chết giữa đường thôi chớ đập", gặp nó kệ nó, nó không hại ai được nữa. "Giỏ tre không đáy bỏ mang về", đã đã không đáy rồi bỏ vô làm cái gì mang về, người ta nói, nhưng mà ý là cái tâm như cái thùng không đáy và vọng tưởng không không quan trọng. Thì những cái câu đó là những cái những cái thấy, những kiến giải các thiền sư mà kinh Phật không có.
[13:42]Nên cái Thiền tông họ họ tự hào về điều này, về điều đặc biệt này và nói đây mới là cái lõi của đạo Phật, mới là sự truyền thừa chánh của đạo Phật. Hoặc là một thiền sư ổng ngộ đạo, ổng ngộ đến mức độ nào cái ổng thấy rằng cái lớn cái nhỏ không còn, không còn khác biệt nữa. Cho nên hỏi ổng: "Đạo là gì?", cái ổng nói là: "Con kiến nó nuốt con voi." Bởi vì ổng thấy cái nhỏ cái lớn hết rồi, không còn, không còn khác biệt nữa. Mình thì tâm mình thấy à cái nhà này là lớn, mình đây là nhỏ, cái hoa này lớn cái cái cái cái cục phấn này nhỏ. Đó là có lớn có nhỏ, mình tính toán à cái này dài hơn cái kia ngắn hơn.
[14:21]Nhưng mà khi đến một mức ngộ nào đó cái đó biến mất, tất cả bình đẳng mà các ngài thấy đó nó rõ ràng chứ không phải gượng ép, không phải suy luận. Nên các ngài nói ra nó lãng mạn, nó nhẹ nhàng. Nhưng mà tại sao Phật không nói? À, đây cái điểm mấu chốt ở chỗ này: bởi vì Phật thấy rằng những điều mà thấy được trong cảnh giới đó không quan trọng. Cái quan trọng mà Phật cần: hết tham, hết sân, hết si để mà có đạo đức, đó mới là gốc của sự giải thoát. Còn cái thấy lạ, những cái thấy rất là độc đáo trong cái sự chứng ngộ của tâm, trong cái thiền thanh tịnh của tâm, cái đó Phật cho rằng cũng không phải là cái gốc để mà
[15:07]ta hướng tới, mà cái gốc hướng tới vẫn là cái diệt tham, diệt sân, diệt si, diệt ích kỷ, diệt đố kỵ và hình thành cái đạo đức mới là cái quan trọng. Đây là chỗ khác nhau giữa Phật và thiền sư, và rõ ràng Phật sừng sững vượt hơn các thiền sư rất xa. Ví dụ cùng ngộ với nhau hết, cùng thấy những cái cảnh giới rất là lạ, cùng thấy những kiến giải rất là lạ, rồi đứng ngang đó thấy thích thú. Còn một người không thích thú vì biết rằng trong thẳm sâu mình không cẩn thận tham, dục, sân vẫn còn xuất hiện, không phải là hết. Nên ở chỗ này vào ngày xưa, lúc đó có hai thiền sư chơi thân với nhau: một thiền sư là Ngũ Tổ Sư Giới, một thiền sư bạn kể tên thì không nhớ lắm.
[15:58]Nhưng mà ngài Ngũ Tổ Sư Giới là cái người mà ngộ đạo mà ổng thấy nhiều cái điều rất là lạ và ai tới chạm cửa hỏi ổng là ổng trả lời không biết đường mà mà đối đáp, tức là lúc đó nổi tiếng như vậy. Mà ông bạn kia thì thầm lặng hơn. Hai vị thiền sư chơi chung với nhau đều ngộ đạo. Tới chừng ông Ngũ Tổ Sư Giới tịch thì cái ông bạn kia lật đật tịch theo vì một lý do rất là bí ẩn, bởi vì ông bạn kia mới chứng cao hơn mà diệt hết được tham sân si, còn cái ông Ngũ Tổ Sư Giới chưa, còn sót. Nên ông bạn kia lật đật theo để kèm ông bạn mình, bởi vì nếu mà không đi theo kèm ông kia trôi luôn, sẽ mất rất nhiều thời gian để tu tập trở lại.
[16:40]Thì Ngũ Tổ Sư Giới đầu thai lại làm ông Tô Đông Pha, một nhà thơ, một văn hào, một thi hào lớn của Trung Quốc. Còn cái ông bạn kia đầu thai lại làm ngài Liễu Nguyên Phật Ấn, xuất gia từ nhỏ luôn, sinh ra là hào quang song sáng cả nhà luôn. Rồi sau này thì cái duyên xưa Tô Đông Pha với ngài Phật Ấn gặp lại với nhau và cũng kết bạn với nhau rất là thân. Còn ông Tô Đông Pha thì phải bảy bà vợ, làm quan mà, làm văn tài đồ làm thơ văn sướt mướt, lận đận trong quan trường, khi thì lên chức khi thì xuống chức, khi bị đày chỗ này khi bị đày chỗ kia, rất là khổ sở. Rất là khổ sở ông Tô Đông Pha. Còn ngài Liễu Nguyên Phật Ấn thì ở trong chùa tu đắc đạo và giáo hóa,
[17:26]nhưng lúc nào cũng làm bạn Tô Đông Pha và nhắc nhở cho ổng tu. Đó, và lúc đó Tô Đông Pha cũng nói nhiều cái câu đạo lý trên cao, cứ bị ngài Phật Ấn Liễu Nguyên cứ bác, bác qua bác lại cho vui. Cho đến ngày sau này lớn tuổi rồi, vượt qua hết mọi cái cái danh lợi, thăng trầm cuộc đời rồi, ông Tô Đông Pha bắt đầu đi sâu vào thiền, chứng luôn A-na-hàm quả luôn. Thần thông rất nhiều. Đúng là ổng đi trong hơi thở rồi ổng chứng luôn trong cái thiền rất là cao. Lúc đó là ngài Phật Ấn mới buông ra mà ngài nhập diệt luôn. Ngài không cần theo, tại cái ông bạn của mình đã qua được cái ách nạn của tâm thức,
[18:05]của tâm chướng mà chứng đạo, mà chứng tới mức độ này không đọa trở lại nữa. Chứ còn ở kiếp trước, lúc còn là Ngũ Tổ Sư Giới, tuy là một thiền sư, có nhiều kiến giải độc đáo, nhưng mà vẫn còn sót tham sân si, sót cái tham dục bí mật ở trong, mà ngài Phật Ấn ổng nhìn thấy được. Ổng nhìn thấy được nên ổng theo để kèm ông này, để đừng có bị trôi thêm năm mười kiếp nữa, trở lại cho sớm. Đúng nhờ cái ông Phật Ấn ổng kèm mà ông Tô Đông Pha trong kiếp đó chứng trở lại luôn, giải thoát luôn. Bây giờ mấy ngàn năm qua thì chắc ở trên trời mấy vị đó chứng A-la-hán rồi ai biết. Nên ở đây vậy, là khi ta đọc về Phật giáo
[18:46]mà ta nghe ông thiền sư nói cái gì rất là lạ mà không thấy Phật nói, thì phải hiểu chỗ này: Phật không nói bởi vì Phật thấy nó không quan trọng. Cái mà Phật cần á là ta phải diệt được tham, sân, si, dục, nghi, mạn, ái, những yếu tố của đạo đức đó, tạo thành cái đạo đức sâu thẳm mới làm thánh được. Chứ còn mà ví dụ như mình chứng thiền, thấy những điều kỳ lạ trong cái cảnh giới của tâm đó, vẫn chưa chắc phải là thánh nha. Nên vì vậy, trong Nikaya có cái câu này: Chứng thiền và chứng thánh khác nhau. Có những người chứng thiền rất cao, chứng Tứ thiền, vẫn chưa phải là chứng thánh. Đây là điều mà không phải ai cũng hiểu được.
[19:29]Nên khi ta làm đệ tử của Phật, ta phải có cái niềm tin tuyệt đối thế này: không ai hơn Phật được. Gọi là Đấng Vô Thượng, không ai hơn Phật được. Trước Phật không thể hơn Phật, sau Phật không thể hơn Phật. Chỉ có Phật với Phật thì mới bằng nhau được thôi. Cho nên dù ta có kiến giải bằng trời, Dù có nói năng mà là có thể xô sông cạn biển cũng không thể nào bằng Phật được, phải hiểu điều đó cho chắc mà không lạc vào tà kiến. Còn nếu mà ta có một niệm nhỏ: Ồ, mình phát minh được cái này lạ quá, Phật chưa nói, cái này coi bộ hay hơn Phật à, chết liền. Phật chưa nói, Phật không nói bởi vì không cần phải nói,
[20:21]chứ không phải Phật chưa nói, Phật không nói mà mình nói rồi mình hay hơn Phật. Hiểu lầm cái đó là đọa chết. Cho nên khi mà nghiên cứu cả một lịch sử phát triển của đạo Phật, ta thấy có những kinh bản sau này nói những điều Phật chưa nói thì đừng nghĩ rằng hơn Phật, mà chỉ nghĩ rằng trong giai đoạn đó Phật chưa cần nói hoặc những điều đó không cần phải nói. Phải hiểu như vậy. Cho nên để mà hiểu được cái đạo Phật từ nguyên bản cho đến đạo Phật Đại thừa phát triển, ta phải có cái niềm tin từ ban đầu là không ai có thể hơn Phật được rồi mới nói tiếp, còn không là ta lầm chết là ta cứ tưởng có những người giỏi hơn Phật á.
[21:01]Nên sau này cũng vậy, như ngài Long Thọ, ngài Long Thọ xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ nhất, thứ hai của Dương lịch đó, tức là sau Phật khoảng 600 năm. Ngài giỏi kinh khiếp luôn. Sau này biết bao nhiêu truyền tích gán hết cho ngài, như là ngài thần thông xoay trời chuyển đất, hóa hiện mọi phép thần lực hết. Mà những sách ngài viết, những kinh luận ngài để lại tràn ngập tới bây giờ học không hiểu nổi. Tất cả những tông phái đều gán cho ngài Long Thọ là tổ của mình. Ví dụ Thiền tông cũng nói ngài Long Thọ là tổ thứ 14, Tịnh Độ tông cũng nói ngài Long Thọ là sơ tổ của mình, Mật tông cũng nói ngài Long Thọ là tổ của mình,
[21:39]thế là bao nhiêu cái tông đều nói ngài Long Thọ là tổ vì ngài giỏi quá. Rồi người ta xưng ngài là Đệ nhị Thích Ca, tạc tượng ngài để cái nhục kế trên đầu, nói ngài như Phật, tức là trước Phật kế tới là ngài, bởi vì ngài giỏi quá, giỏi khiếp luôn. Ừ cái sự mà siêu việt của ngài ta không thể nào phủ nhận được, ngài quá giỏi. Đúng là một vị Bồ tát tái lai mà chấn hưng đạo Phật trong cái giai đoạn đó mà cho đến ngày nay những cái luận bản của ngài để lại ta học ta vẫn chưa hiểu hết nổi. Ví dụ như ngài để lại cái luận bản là Trung Quán Luận. Trung Quán Luận ngài nói: Tất cả pháp trên đời này không sinh,
[22:17]không diệt, không vào, không ra, không lớn, không nhỏ, đại khái vậy. À những cái câu không không này thôi mình nghe mình cứ để nó đi. Ngài nói ví dụ, đó ví dụ cái ngài nói ví dụ cây lúa. Chưa bao giờ có cái chuyện mà gọi là cái hạt lúa mà gọi là nảy mầm lên cây gì hết trơn, không có. Mình nói: Ủa thấy rõ ràng cái hạt lúa nó nảy mầm lên cây mà sao ngài nói là không có? Ngài lý luận một lát cái mình cứng họng mình cãi không được. Mắt mình thì vẫn thấy cây lúa nó mọc mà ngài nói không có. Ngài cái lý luận dễ sợ như vậy. Ngài nói mọi chuyện trên đời ngài lý luận một lát cái mình ngỡ ngàng ra. Ngài phủ nhận gần hết mọi điều trên đời nhưng mà không phải là để phủ nhận sự hiện
[22:55]hữu của nó mà phủ nhận rằng là nó không phải là có quá thật như ta tưởng. Vậy đó. Mà cái mà không thấy nó quá thật như ta tưởng mình hiểu không nổi. Sau này có ngài Tăng Triệu ở Trung Hoa, ngài hiểu được cái lý đó, ngài nói là: Gió thổi bay núi mà chẳng động, trăng qua bầu trời mà chẳng đi. Mà trong Trung Quán thì ngài Long Thọ đã nói rằng: Không hề có sự đến, sự đi. Nói mình bước đi, nói: Dạ thấy con bước đi rõ ràng, đi từ đây tới kia. Mà ngài chứng minh lát ngài nói: Không có đi đâu hết trơn, đứng một chỗ à. Mình đọc lát mình không hiểu. Nên nhiều cái luận bản của ngài Long Thọ tới giờ này ta vẫn
[23:34]chưa hiểu hết, không phải là dễ, mà phải có tâm chứng và cực kỳ thông minh mới hiểu cái bản về Trung Quán Luận. Cho nên cái sự phát triển của Đại thừa là một điều kỳ lạ, vừa làm cho đạo Phật hay hơn mà làm khó hiểu hơn. Cho nên hôm nay ta học Đại thừa ta sẽ từ từ rất là dễ ngủ. Thầy thấy bắt đầu người ta ngủ rồi đó. Nghe thầy nói nãy giờ bắt đầu ngủ từ từ.
[24:02]Thứ nhất là gì, cảnh giới của thiền. Cảnh giới của thiền như thế nào, Phật ngày xưa không diễn tả, bây giờ thì các ngài bắt đầu diễn tả. Chính vì các ngài có diễn tả cảnh giới thiền cái ta tưởng là các ngài cao hơn tại ngày xưa Phật không nói. Phật chỉ nói đơn giản Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền là gì. Bây giờ nói Sơ thiền là gì, ai còn nhớ không? À lúc đó là sao, người đó hỷ lạc toàn thân, tỉnh giác toàn thân, còn tầm còn tứ, thân lúc đó như là nước nhão bột xà bông. Hiểu không ạ? Hiểu không? Hiểu được chết liền. Mình chứng tới thì thấy nó đúng như vậy, mà chứng chưa tới thì nói cái gì tự nhiên
[24:44]có thiền mà có nước xà bông trong này, nước xà bông tắm ở trỏng hay sao trời? Chứng tới thấy liền. Nhưng mà trước cái cảnh giới đó là cái cảnh chánh niệm tỉnh giác, ồ vô số kiến giải kỳ lạ mà các thiền sư sau này diễn tả rất là hay, mà không thấy Phật nói. Còn Phật diễn tả cái Sơ thiền nó sơ sài làm người ta cứ tưởng Sơ thiền nó thấp. Đâu có ngờ Sơ thiền mình tu 30 kiếp nữa chưa đụng tới được, nha. Thầy hẹn 30 kiếp nữa hả, ai chứng Sơ thiền khoe hay đi tìm thầy, thì lúc đó thầy thưởng cho chiếc Wave Trung Quốc. Giờ thầy để dành tới lúc đó thầy thưởng. 30 năm nữa ta chưa đụng tới Sơ thiền, nhưng mà trong kinh diễn tả Sơ thiền sơ sài.
[25:25]À lúc đó là toàn thân hỷ lạc, tỉnh giác, là còn tầm còn tứ, thân giống như nước xà bông tắm. Nhưng mà để được cái đó, 30 kiếp nữa tinh tấn tu hành. Mà ngang đó, nếu chứng, chứng A-na-hàm luôn, diệt dục luôn, chết sinh lên cõi trời Sắc giới luôn. Vĩ đại như vậy mà Phật nói sơ sơ à. Còn chưa chứng Sơ thiền, cái trong giai đoạn chánh niệm tỉnh giác thôi, chưa chứng Sơ thiền, trong giai đoạn chánh niệm tỉnh giác là cả một cái chiều sâu của chánh niệm tỉnh giác biết bao nhiêu kiến giải phi thường. Nếu ai mà chứng được chánh niệm tỉnh giác rồi có thể là thuyết pháp như mây như mưa, nói hết năm này qua tới năm kia không ngừng được.
[26:05]Tức là kiến giải đến mức độ như vậy mà vẫn chưa phải Sơ thiền. Còn Nhị thiền là gì? Đó là tâm thanh tịnh, không còn khởi niệm, cái niềm an lạc toàn thân, thân như là nước suối phun không bao giờ cạn. Hiểu không ạ? Hiểu được chết liền. Nhưng mà chứng tới đi rồi thấy Phật nói đúng. Mà Phật nói cứ sơ sơ vài điểm à. Trong khi cái Nhị thiền của người ta là vĩ đại, là che trời che đất mà đi được rồi, rờ một cái muốn tới Mặt Trăng, Mặt Trời. Vậy mà Phật cứ nói sơ sơ giống như cái vòi nước nó phun hoài không cạn. Những cái điều ấy. Cho nên vì vậy Phật nói ít quá, rồi về sau này người ta diễn tả những trạng thái
[26:47]thiền định nó cao quá, phong phú quá, người ta cứ tưởng đời sau hơn Phật. Đó là sự phát triển của Đại thừa. Cho nên ở đây, ta nói với nhau về Phật giáo Đại thừa thì phải hiểu một điều là khai thác một khía cạnh mà Phật chưa nói chứ không có hay hơn Phật. Phải chấp nhận cái tiền đề này rồi học tiếp Đại thừa mới không mang tội. Còn nếu không, ta mang tội giống như những người Đại thừa đã bị, giống như những người Nguyên thủy đã bị. Người Nguyên thủy bị tội sao? Chê kinh điển Đại thừa. Mà kinh điển Đại thừa thực sự được nói ra bởi những người chứng ngộ không phải tầm thường. Rồi Đại thừa chê Nguyên thủy,
[27:26]nói cái đó thấp cái này mới cao, tức là phỉ báng Phật. Kinh đó Phật nói mà sao cái vụ mà mà thấp hơn mình được? Cho nên hai bên này đều có những cái tội ngầm ngầm bao nhiêu ngàn năm qua, nhiều người đọa vì cái này mà không biết. Nên hôm nay ta nói về Phật giáo Đại thừa, ta nói tới Nguyên thủy để ta đừng khởi tâm khinh mạn mà chết quặt quà quặt quẹo. Có nghe chữ chết quặt quà quặt quẹo chưa? Ai dự khóa thiền thì nghe, nay thầy nhắc lại một chút. Vừa rồi có một cái cụ thiền sinh chết cũng bệnh rồi cũng, cụ chắc cũng chưa chứng gì cao nhưng mà được cái chết rất an lành. Thầy cũng vừa đi làm đám giỗ cho Hòa thượng Thiện Nhơn ở ngoài
[28:12]Bình Định về, Hòa thượng cũng được cái chết rất yên lành. Trước chết một, hai ngày đi từ giã mọi người, rồi sáng 6:30 ngồi trên băng ghế đá uống nước trà, hớp miếng nước trà, đặt cái tách nước trà xuống rồi ngã người đi liền. Là những cái chết rất an lành. Và thầy mới nói thế này, hôm qua thầy mới nói lúc mà thầy ghé Đà Lạt thầy thăm đạo tràng thầy cũng nói, về hôm qua thầy cũng nói lại, thầy nói: Thầy không mong rằng đệ tử của thầy chứng cái gì hay chết sinh về cõi nào vì cái đó không biết được. Chứng ở trong tâm mình mới biết, ở ngoài không biết; chết sinh về cõi nào, chết mất rồi, chết sinh đâu thầy cũng chả biết được.
[28:48]Nhưng cần cái thầy thấy rõ ràng, chết được an lành. Cần cái đó thôi, chứ thầy, còn chứng thầy không hứa, sinh vào cõi nào thầy không hứa, nhưng cần chết được an lành. Và thầy nói: Nếu đường lối của thầy là đúng, nếu đạo lý thầy dạy là đúng, thì đệ tử của thầy phải được cái chết an lành. Thầy nói như vậy.
[29:12]Mà cái chết an lành đó là dấu hiệu ta sống một đời đúng, suy nghĩ ta đúng, quan niệm ta đúng. Sợ nhất là quan niệm ta sai, suy nghĩ ta sai, chết quặt quà quặt quẹo à, chết không được à, chết rất khổ sở à. Mà ta quan niệm ta sai là gì? Suy nghĩ ta sai là gì? Thì nó có nhiều loại, nhưng trong đó có một loại nguy hiểm là hiểu lầm về Phật. Hiểu lầm về Phật, hiểu lầm về các vị thánh thì đó sợ nhất, sợ nhất. Sợ nhất là ví dụ ta bất kính đối với Bồ Tát Quán Thế Âm, ta nói: "Bồ Tát Quán Thế Âm không có trong lịch sử", cái lòng ta nói: "Ôi, cái bà điển hình tượng là dựng lên không có gì hết", chết liền.
[29:59]Hoặc là cái bất kính đối với Phật giáo nguyên bản, nói: "Ồ, kinh này thấp, cái này mới cao", chết liền. Đó là những quan niệm sai, làm ta tổn hết phước. Là dù ta cố gắng làm biết bao nhiêu công đức, nhưng chỉ vì quan niệm sai trong đầu, mình hết phước, tới chừng chết, chết không an lành, chết quặt quà quặt quẹo, chết rất khổ sở, mình khổ rồi người chung quanh mình khổ lây. Còn nếu mình tu đúng, suy nghĩ đúng, mình được cái chết an lành thì người chung quanh mình cũng hoan hỷ, cũng vui theo. Đó là cái kết quả một đời tu hành mà đúng, nên ta phải hiểu về Đại thừa là như vậy. Nên cái cảnh giới về thiền, có những điều Phật không nói,
[30:41]chưa nói, về sau này người ta nói ra, vì nói ra nên gọi là Đại thừa. Vì Phật không nói nhiều lắm nên gọi là Nguyên thủy, nhưng hai cái đó là một. Nhớ giùm thầy điều đó nha. Ví dụ sau này ta nói: "Ồ đây nè, ta nói những kiến giải mà bên kia không nói gì hết trơn, bên đó Tiểu thừa, bên đây Đại thừa", ta phải cản liền. Vì không nói vì Phật thấy không cần phải nói lắm. Cái Phật cần phải nói là diệt trừ tham sân si, còn những cảnh giới thú vị, lạ lùng trong thiền định thì thích nói thì nói, không thích thì thôi, không quan trọng lắm. Mà ví dụ như ồ ông thấy được kiến giải này cao siêu, nhưng anh hết kiêu mạn chưa?
[31:25]Nhiều khi anh chứng được rồi đó, thấy được rồi đó, nhưng mà lòng anh có kiêu mạn. Cái này mới nguy hiểm nè. Còn cái điều mà anh thích thú, anh thấy được khi anh chứng được thiền, ví dụ anh ngồi thiền suốt một đêm, có những cảnh giới rất lạ lùng, rất là hay, ra nói tùm lum ra, thực ra anh đang bị kiêu mạn. Thì cái anh thấy nó thú vị, nói ra nghe đã tai, nhưng anh đang bị kiêu mạn mà cái kiêu mạn này mới là nguy hiểm. Còn Phật, trừ cái kiêu mạn cái đã, còn cảnh giới anh thấy được trong thiền để lại, giấu không cần nói, không cho nói, mà mình tưởng là Tiểu thừa. Nhưng cái đó mới là gì? Cái đó mới là sâu sắc, lợi ích, cần thiết mà giúp chúng sinh.
[32:07]Nên cái chỗ này Đại thừa và Tiểu thừa hiểu lầm nhau. Hôm nay ta phải hiểu rõ điều đó, để thấy rằng có điều tự nhiên sao mới quá, lạ quá Phật không nói, vì Phật không cần nói. Còn những điều ta nói rất hay, tốt thôi, tăng thêm lý luận cho Phật giáo, tốt thôi, nhưng đừng nghĩ rằng hơn Đức Phật. Đó là một cái về thiền, cái thứ hai về thần thông. Trên lý luận thì nghe giống như thiền tổ sư, thiền Đại thừa rất cao siêu, nhưng trong thực tế kiểm chứng, tất cả những vị đó sau Phật, sau vị A La Hán rồi không có ai chứng thần thông bằng các vị A La Hán cả, mà Đức Phật đưa ra sáu thần thông làm cái thước đo. Nói:
[32:52]"Bây giờ chứng lý luận cao siêu thì không biết, thì không thể nào đo được, nhưng mà chỉ khi nào anh có đủ sáu thần thông này thì anh được gọi là một vị A La Hán", nên rất là hay như vậy. Rất là hay là Phật lấy cái thước đo bằng sáu hệ thần thông là điều đó ta kiểm chứng được. Còn lý luận thì ai nói cũng hay cả. Vào thời Đức Phật có bảy tám cái phái ngoại đạo nói đủ cái cũng hấp dẫn quần chúng và người ta theo cũng rất đông. Ví dụ như có một cái phái chủ trương là tất cả là định mệnh. Con người sinh ra đã được an bài, người ta phải đi qua những giai đoạn đó rồi từ từ cuối cùng cũng chứng, cũng giải thoát, vậy mà cũng thu hút được rất nhiều.
[33:37]Những tín đồ đó không làm gì hết, không cần làm bởi vì mọi việc đã an bài, cứ ăn ngủ, ngủ ăn đã đời rồi từ từ cái giải thoát. Cái lý luận vậy đó mà cũng có người nghe. Rồi có nhiều cái lý luận gọi là, Phật gọi là ngụy biện như con lươn, luồn lách như một con lươn. Nói thế giới thế này, nói thế giới này cũng có, thế giới này cũng không, thế giới này vừa có, thế giới này vừa không, nói qua nói lại cuối cùng không có gì hết trơn, không biết nói cái gì. Phật gọi là những cái giáo phái ngụy biện, luồn lách như con lươn, vậy mà cũng có người theo. Cho nên nói về lý luận cãi qua cãi lại thì cãi hoài không dứt, nhưng Phật đưa ra tiêu chuẩn:
[34:13]chừng nào anh có sáu thần thông này thì được gọi là thánh. Đầu tiên là gì? Túc mạng thông, nhớ lại được vô lượng kiếp mình chưa? Ở đây có ai nhớ được chưa? Nhớ được vô lượng kiếp, mà nếu mà nhớ được vô lượng kiếp thì như vậy có phải nhớ được cái kiếp đầu tiên mình bắt đầu luân hồi không ạ? Nhớ không? Phải nhớ tới đó. Và kiếp đầu tiên nó như thế nào? A La Hán mới biết, ta không biết được. Khủng khiếp lắm, bởi vì vô lượng kiếp luân hồi của ta chắc chắn nó đi song song với sự hình thành của vũ trụ, phải không ạ? Hình thành các thiên hà, việc tận thế, việc tái lập cuộc sống mới, những hành tinh tan vỡ,
[34:55]những ngôi sao tan biến thì nó song song với cái vô lượng kiếp của ta tái sinh hết. Nếu ta nhớ lại vô lượng kiếp của mình, ta cũng thấy được cái vũ trụ này bắt đầu thế nào, hoại diệt thế nào, diễn tiến thế nào hết, phải không ạ? Có ai thấy chưa? Chưa, và vì vậy đừng khoe mình là hơn A La Hán. Cái thứ hai là gì? Thiên nhãn thông, chẳng những nhớ vô lượng kiếp mình mà thấy hết bao nhiêu kiếp của người khác. Cần biết ai, biết sạch về người đó luôn, thấy được vô lượng kiếp của người đó luôn. Người đó đã tạo những hạnh nghiệp gì, tái sinh về đâu, rồi bây giờ tái sinh ở chỗ này như vậy là do những nhân quả gì, hồi xưa đã nói bậy một câu nào
[35:36]mà bây giờ đi cà nhắc, vân vân, tức là nhân quả biết rõ ràng hết. Và thấy cho tới thấu nhân quả thì mới gọi là thiên nhãn, còn thấy không thấu nhân quả không gọi là thiên nhãn. Như có một lần vậy, Đức Phật đến cái xứ Vesali á, rồi ngài được cung đón, ngài được đón tiếp hoành tráng, thì nhiều người mới ca ngợi là do cái oai đức của Phật, do sự chứng ngộ phi thường của Phật mà cảm hóa mọi người, mà khiến cho mọi người nghĩa là cung kính đón rước Phật cao siêu như vậy. Đức Phật phủ nhận, Đức Phật chỉ kể lại chuyện, Phật nói là: "Ngày nay mà trong cái khung cảnh hoành tráng này mà Phật được vua quan, dân dã đón tiếp như vậy bởi vì một nhân quả từ nhiều kiếp xưa.
[36:28]Lúc đó ngài là một người cha có mười con đi tu chứng A La Hán. Khi mà con ngài tịch rồi thì ngài đi tìm tới, ngài thương con quá chứ ngài không hiểu đạo, ngài thương con quá, ngài đi tìm tới cái tháp của con mình và ngài ở đó tới chết chỉ để quét dọn, trưng bày, trang trí cái cái tháp của con mình thôi. Nhưng không ngờ tháp đó là tháp của một vị A La Hán. Cho nên cái phước đó nó thành vô lượng. Sau này khi mà ngài tu, ngài chứng, ngài thành Bồ Tát chứng rồi, ngày hôm nay ngài thành Phật mà cái kết quả mà ngài được đón tiếp long trọng không ngờ bắt đầu từ một cái nhân ngày xưa ngài sống bên cạnh cái tháp của một vị A La Hán,
[37:05]dù đó là con mình, để trưng bày, dọn dẹp, cúng bái, thắp hương, thắp nhang như vậy, mà ngày nay phước thế." Nghĩa là ngài nói nói tới nhân quả. Mà khi mà ngài nói tới nhân quả, ta thấy Đức Phật sao? Công bằng, khách quan và khiêm tốn. Còn ví dụ khen Phật: "Ồ, ngài chứng ngộ cao siêu nên ai cũng kính trọng." Nếu ngài chấp nhận câu đó thì nó vừa không đúng nhân quả mà vừa không phải khiêm tốn. Cho nên ngài nhìn tới nhân quả nên rất khiêm tốn, chúng ta bây giờ cũng vậy. Ta nhìn vấn đề gì cũng nhìn cho tới nhân quả, đó mới là thiên nhãn. Ví dụ như nói: "Trời, anh giỏi quá ha, anh vượt qua bao nhiêu vòng thi để cuối cùng trở thành
[37:45]thủ khoa của khoa này." Nói vì giỏi quá ha, nếu mình chấp nhận à tại tôi giỏi cho nên tôi thủ khoa thì mình nhìn không tới nhân quả và kiêu mạn. Còn nếu mình mình nhìn tới nhân quả, nói: "Không phải, cái này là do cách đây 10 kiếp, à, thì lúc đó tôi là người mà thấy những cái người nào mà học á thì tôi đều hỗ trợ nuôi cơm, mua sách mua vở cho người ta học. Rồi hễ mà ai mà thi đậu thì tôi chạy tôi kiếm quà tôi tặng, lúc đó là cái thời đó còn nghèo thì tôi tặng cho họ một bó hoa, tôi tặng cho họ một cái ký khoai lang luộc mừng họ là là học giỏi." Thì cái chuyện rất sơ sài, nhưng mà qua 10 kiếp rồi ngày nay thành thủ khoa.
[38:29]Cái nhân quả nghĩa là thấy gì thấy tới nhân quả thì nó vừa gì? Nó vừa khách quan mà vừa khiêm tốn. Nên một vị A La Hán có thiên nhãn thông là nhìn suốt chúng sinh hết về nhân quả. Đau khổ cái này là tại sao? Anh hạnh phúc điều này là tại sao? Có nhân quả đó. Rồi cái thứ thứ ba là gì? Tha tâm thông, biết tâm của tất cả chúng sinh, hễ cần dù xa xôi tới đâu mà muốn biết tâm của chúng sinh, nhập định hướng về là tất cả tâm chúng sinh nó nằm trong tâm mình hết, biết rõ diễn biến và những tâm rất bí mật. Chính chúng sinh đó không biết, chính chúng ta không biết ta có những ý nghĩ bí mật gì, nhưng một vị A La Hán biết sạch sẽ ta hết.
[39:16]Nhiều khi, ví dụ như mình đi ngang cái chỗ đó cái mình tự nhiên mình vấp té, mình nói: “À, tại mình không cẩn thận.” Nhưng chỉ một vị A-la-hán mới biết rằng là trước khi mình vấp cái té đó, bởi vì có cái cô người mẫu cổ bước qua hồi nãy. Rớt vô tâm mình một cái động, mình không hay. Nó nhẹ nhàng, nó tự nhiên quá ta không hay. Nhưng lúc đó làm mình mất chánh niệm một chút xíu, cái đi mình vấp cái ngạch cửa. Có những cái bí mật trong tâm mà chúng ta không biết. Ví dụ như là ta gặp một người bạn đạo, cái ông thầy hỏi: “Sao, con thấy cô đó được không?” Nói: “Dạ, cô đó thì con thấy thì cũng được, nhưng mà thấy cũng còn vụng về quá,
[39:55]thấy làm này làm kia sao thấy nó chưa tiện, thấy việc đó nên thôi để con từ từ thầy ơi.” Thì ta nói trơn nghe rất khách quan, phải không ạ? Nhưng một vị A-la-hán mới nhìn sâu vào tâm ta mới biết tâm ta vừa mới xuất hiện sự đố kỵ bí mật với cái người huynh đệ vừa mới tới. Cái đố kỵ bí mật đó chính ta cũng không thấy, mà khi ta trình bày ông thầy ta, ông thầy ta cũng không thấy, tại ta kín đáo, ta khéo léo và nó sâu quá. Nhưng vị A-la-hán nằm tuốt trong lòng ta biết liền, ta vừa bị một cái đố kỵ bí mật chi phối nên ta vừa khen vừa chê, vừa chê vừa khen. Trong khen để lấy để cho nó có vẻ bình thường,
[40:31]nhưng chê mới là cái chính, vì cái đố kỵ đã xuất hiện trong tâm ta. Đó gọi là tha tâm thông. Hoặc là thiên nhĩ thông. Thiên nhĩ thông là vị đó có thể nghe tất cả mọi tiếng động, mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong pháp giới vũ trụ này. Khi cần nghe, âm thanh nào nghe hết. Muốn nghe âm thanh dưới đại dương, dưới cá nó nói gì với nhau biết hết. Muốn nghe trên trời chư thiên nói gì với nhau biết hết. Đó là thiên nhĩ thông. Thần túc thông: biến hoá, một thân biến thành nhiều thân, bay lên độn thổ gì cũng làm được hết trơn. Đó. Và cuối cùng là lậu tận thông: thấu suốt được cái vô minh, dứt được vô minh, gọi là lậu tận thông.
[41:14]Thì cái thước mà Phật đưa ra là cái sáu thần thông để tuyên bố một vị A-la-hán này thì cả trong Phật giáo Đại thừa chưa ai chứng được. Vậy đó. Mặc dù lý luận thì Phật giáo Đại thừa cả ngàn lần Phật giáo Nguyên thuỷ. Nếu ta xem cái bộ kinh Nguyên thuỷ nằm có một chồng vừa để trên tấm bàn này, thì Phật giáo Đại thừa phải để hết nguyên cái phòng này. Tức là về lý luận không á, Phật giáo Đại thừa gấp ngàn lần Phật giáo nguyên bản. Nhưng mà cái tiêu chuẩn mà sáu thần thông Phật đưa ra rồi, không ai qua nổi. Mặc dầu điều đó là của Phật giáo nguyên bản. Cho nên, khi ta học về Phật giáo Đại thừa, ta đừng có ảo tưởng là Phật giáo
[42:00]này cao hơn Phật giáo kia, đạo Phật này cao hơn đạo Phật kia, mà chỉ là được nói ở góc này như thế, được nói ở góc kia thì như thế khác. Vậy thôi. Nên hiểu cái sự bình đẳng mà mà ta học Đại thừa. Mặc dù Đại thừa thì mênh mông, kỳ vĩ, nhưng chưa bao giờ vượt ra khỏi đạo Phật Nguyên thuỷ, đạo Phật nguyên bản. Nhớ điều đó giùm thầy. Đó là nói về thần thông. Rồi nói về triết lý vậy. Nói về lý luận của Đại thừa kinh hồn luôn. Ví dụ như là trong Phật giáo Nguyên thuỷ, Phật nói là vô thường, thay đổi, cái gì cũng biến đổi, cái gì không tồn tại, căn bản là cái thân của ta. Thân của ta thì bất tịnh, à vô thường. Dễ hiểu không ạ? Dễ không? Dễ.
[42:52]Những điều rất dễ hiểu, cho nên chúng sinh ít học nhất nghe đó vẫn hiểu được. Nói bất tịnh là sao? Thì ngày đêm thân mình vẫn thường bài tiết ra những chất không sạch gì cả. Cơm mình ăn rất ngon, phải không, nuốt vào miệng rồi, ngon à, chưa vô tới bao tử ta nhã ra lại, ta mời người khác ăn, có ai dám ăn không? Vậy thân mình sạch hay là dơ? Nói nhiêu đó thôi, chưa nói nhiều. Nó chưa xuống sâu đó, xuống sâu thì càng lúc càng rùng rợn nữa. Rõ ràng là bất tịnh. Nhưng mà sao? Cái bất tịnh này nó được che đậy bởi cái gì? Bởi cái gì? Cái gì nó mỹ miều, đẹp đẽ, phết một chút gì? Kem mỹ phẩm Shiseido, phải không?
[43:41]Rồi nhuộm một tí tóc hơi vàng vàng, tim tím, ha. Cái lông mày được kẻ, ra môi son rồi tất cả nó được trang điểm chút xíu nó che đậy lại để cho đỡ khổ. Vì sao vậy? Nếu mà không che cái đó, nhìn chịu không nổi. Nhìn chịu không nổi. Ông đó thì râu ria tua tủa, ghèn đổ ra mới ngủ dậy, ngáp một cái mấy con ruồi bay qua nghe mùi rớt xuống chết tại chỗ liền, vân vân. Thì những cái điều đó nó dễ hiểu, vậy mà chúng sinh vẫn không hiểu. Thầy cười, có một lần thầy gặp một cái cô đó, trước đây cổ làm cái ngành an ninh tình báo. Ừm. Cái a mình nghe cái ngành đó thì mình cũng thấy lạ, chắc là hay lắm tại mình coi phim 007 rồi đó,
[44:19]rút súng bắn ì xèo hết rồi thấy rất là hay. Thì hỏi cổ, thì cổ nói ngày xưa cổ là quán quân bắn súng. Là lúc còn ở Việt Nam là bắn đâu trúng đó. Đi qua bên Liên Xô học là cũng là quán quân về bắn súng. À bây giờ thì già rồi thì không làm nữa, rất là hiền lành. Thì nghe thầy cũng tò mò, thầy cũng không biết cái thế giới tình báo như thế nào. Thầy mới hỏi, hỏi sơ sơ, thì cổ nói thế này: “Dạ, muốn để dụ một người thì cái công thức ấy người dễ mà: tiền, gái, chức, đem ba cái đó ra nhử thì thế nào cũng dụ được người ta.” Mà khi học ai cũng biết cả. Ví dụ cái người đó họ là người tình báo, họ biết điều đó rõ.
[45:02]Gái, tiền, chức đưa ra rồi, tức là cái mồi nhử. Nhưng mà thưa thầy, không ai thoát. Biết rồi đó mà vẫn không ai thoát. Thì bây giờ cũng vậy, trong cái học đạo trong tu hành ta cũng vậy. Ta đọc trong kinh Phật, Phật nói thân này là vô thường, bất tịnh, nghe biết mà? Biết, biết hết chứ không phải không á. Nhưng mà có một người một người rất bất tịnh vừa tới gặp ta ỏn ẻ, ỏng ẹo nói qua nói lại, thôi ta đành phải chấp nhận cái bất tịnh đó đi với ta suốt cuộc đời này. Thấy không? Biết rồi đó nhưng mà thoát không được. Vì sao vậy? Vì bản năng. Nó sâu hơn cái sức tu của ta. Cái sức tu của ta cạn quá, mà cái bản năng nó sâu hơn nên bứng không nổi.
[45:48]Biết thì biết chứ làm không nổi. Những điều Phật nói vô thường, bất tịnh đơn giản vậy mà không ai làm nổi. Như kỳ trước thầy nhớ có một người đưa cái câu hỏi lên, nói: “Con theo thầy 7 năm tập thiền, con cũng chứng được chánh niệm tỉnh giác phải không ạ? Nhưng mà con vẫn còn mắc cái tật làm đẹp. Cho nên con cứ bị giằng xé, một bên là biết thân này vô thường, một bên là cứ phải trang điểm, cuối cùng cái tâm thích làm đẹp nó thắng, nên con phải phết son, phết phấn một chút rồi mới đi ra ngoài đường. Thì giờ làm sao?” Thầy nói: “Vì cái chánh niệm tỉnh giác mà chứng được đó nó còn cạn, mà cái tâm thích làm đẹp nó nằm chìm sâu hơn.
[46:26]Cho nên đến ngày nào mà cái sức định của mình từ cái tỉnh giác nó sâu dần sâu dần, nó sâu qua khỏi cái cái tâm mà thích làm đẹp thì tự nhiên mình hết liền, tự nhiên mình nhìn thanh thản, không cần làm đẹp nữa.” Không cần làm đẹp đâu mà lúc đó nhìn vô thấy đẹp thiệt á, còn bây giờ mình phải ráng làm đẹp. Nên cái vô thường, cái bất tịnh Phật nói rất đơn giản, rất dễ hiểu, nhờ vậy chúng sinh dễ tu. Cứ thấy thân này rồi phải phải bệnh, phải già, phải chết, phải tan hoại, dễ hiểu vô cùng, dễ tu vô cùng. Cái thân này lại bất tịnh, dễ hiểu vô cùng, suy luận một lát là dễ hiểu. Nên bây giờ, ví dụ như ta nhìn thấy một người
[47:06]đẹp thì ai cũng bị hấp dẫn bởi cái đẹp đó. Vì sao vậy? Vì nó là bản năng, thẳm sâu trong lòng ta rất là mạnh. Nhưng mà với một người mà tu tốt á, cái cái trí tuệ từ từ từ từ nó nó đào gần đào gần tới cái bản năng đó, thì mình nhìn một cái người đẹp đó mình nhìn thấy thêm cái cái bất tịnh bên cạnh bên trong đó. Tự nó thấy chứ không phải cố gắng. Thì tự nhiên mình bớt ham muốn. Đây là điều mà cái ông đó ông đòi gả đứa con gái cho Phật á. Phật nói: “Thân này đầy những điều bất tịnh, ta không bao giờ muốn đụng đến dù chỉ đụng bằng ngón chân.” Nhớ không ạ? Lúc đó là Phật nói câu này là Phật nói một điều thật.
[47:43]Mà ai tu đúng rồi cũng thấy đúng như vậy. Nhưng mà sao? Không phải dễ. Vì cái bản năng lúc đó nó còn mạnh hơn, cái sức thiền của ta cạn hơn thì ta vẫn bị ham, bị thích, bị ái luyến. Đó là là như vậy. Nên vì vậy, những điều Phật nói là vô thường, bất tịnh ở thân nó dễ, sau này Đại thừa bắt đầu phát triển lên nó khác. Nói thân này là Không, Không. Cái chữ Không này cứ cãi nhau riết mấy ngàn năm qua của Đại thừa. Nói cái nhà này là Không, mà người nói: "Dạ, cái nhà con thấy sờ sờ sao thầy nói Không?" Nói: "Tại cái ngươi căn cơ chậm lụt, ngươi là căn cơ hạ liệt, cái nhà này nó là Không." "Sao con thấy nó có?" Thầy nói,
[48:34]ừ nói không giải thích mà Đại thừa cứ phủ nhận sạch, cái gì cũng Không, cái gì cũng Không hết. Nên có một lần có cái ông đó là à nhà ổng cũng đi học đạo Đại thừa, vợ thì làm cô giáo mà cô giáo thì lương ba cọc ba đồng mà, khổ lắm, phải nuôi ổng nữa, phải nuôi ổng mà nuôi đứa con nữa. Hỏi ổng sao không đi làm? Ổng nói: "Trên đời này cái gì cũng là Không, đi làm chi?" Vô nhà ổng thấy cái bàn nó gãy cái chân, nói: "Sao không sửa?" "Cái bàn này là Không, khỏi cần sửa." Đó, hiểu cái Không đó. Mà cũng không ai giộng ổng một cái thử coi ổng có thấy Không hay không, thấy chưa? Hồi lúc đó thầy nhớ có lần lúc đó thầy chưa đi tu,
[49:13]à thầy còn là cư sĩ, thầy hay đến chơi cái nhà của anh đó. Thì anh đó là ảnh nằm mơ mà ảnh thấy vị chư Thiên hiện ra chỉ dưới nền nhà ảnh có cái vật báu mà hiện ra lại bảy tám lần như vậy ảnh mới đào lên là thấy được cái tượng Phật Di Lặc lên, ảnh để lên bàn thờ ảnh thờ, thấy nó cũng hay lắm, thầy hay tới đó thầy chơi. Cái lần đó cái tới, cái anh đó mới nói: "Nè nè nè em à, có cái ông kia anh nói không lại, ổng nói cái đạo Phật gì cái gì cũng Không Không, kì quá à, anh nói không lại." Cái bữa đó khiến sao thầy lại thăm ảnh cái gặp cái ông đó. À ông đó ổng bị trặc chân cái gì đó, ổng đi cà nhắc cà nhắc lại nhờ anh này bó thuốc.
[49:49]Thì nghe nói cái gì cũng Không, cái bắt đầu ổng gặp thầy cái anh anh anh chủ nhà mới giới thiệu: "À, có thằng em nè, nó cũng là người à mộ đạo tu hành, thôi có gì anh em bàn luận đạo lý với nhau." Bắt đầu ổng liền, cái gì cũng Không liền, ổng cái gì cũng Không hết trơn. Ổng nói càng Không thì thầy cứ đem nhân quả thầy bẻ lại, thầy nhân quả thầy bẻ lại. Thầy nói tới một lát là ổng bí luôn, là bởi ổng phủ nhận cái gì cũng Không, nhà cũng Không, túi cũng Không, anh cũng Không, cái Không Không. Mình nói: "Vậy anh đau chân ở đâu ra?
[50:18]Cái nhân quả của anh." Rồi riết rồi cái vợ ổng chịu không nổi, bà mẹ vợ chịu không nổi luôn cái Không của ổng, cái Không người ta phủi thành vô trách nhiệm luôn. Nên cái Không của Đại thừa mà nếu hiểu trật một cái là cực kỳ mang tội. Cho nên sau này có vị Tổ mới nói đó: "Thà chấp có như núi Tu Di, đừng chấp không như hạt cải." Tại vì cái người mà họ nói cái gì cũng Không hết, cái thứ đó thiệt sống giữa đời thiệt cũng dễ giận vô cùng vậy đó. Kêu nó làm gì nó cũng không làm, cái gì cũng Không hết trơn, thành ra người vô trách nhiệm. Cho nên thà mà chấp có như núi Tu Di mà mình sống có yêu thương, có bổn phận, có đóng góp mà cuộc đời nó đẹp.
[50:55]Còn nói cái gì cũng Không hết cái mình trở thành người vô tích sự, vô trách nhiệm và ác độc mình không hay. Mình tưởng mình hiền, nhưng không ngờ mình đang vô trách nhiệm với cuộc đời. Mà vô trách nhiệm với cuộc đời trong khi mình vẫn ăn, vẫn uống thì đó đúng là ác, đúng là mình bóc lột người khác. Cho nên vì vậy mình đi đúng chừng mực, tin vào vào nhân quả, sống cống hiến, sống đóng góp, sống phụng sự, sống yêu thương, sống có trách nhiệm, vậy mà cuộc đời mình nó nó đẹp, nó đúng nhân, đúng quả. Cho nên cái chữ Không của Đại thừa cứ làm hoang mang. Biết bao nhiêu người giải thích về cái Không này. Hồi xưa Đức Phật nói vô thường,
[51:34]bất tịnh, dễ hiểu, dễ quá cái mình coi thường, cái mình đặt ra cái Không, mà Đại thừa là đặt ra cái Không, cái gì cũng Không hết trơn. Cho nên sau này khi mà thầy đọc lại các kinh Đại thừa, thầy đọc từ cái Bát Nhã, là: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không", thấy rằng năm uẩn, thân tâm năm uẩn này đều Không, "độ nhất thiết khổ ách", vượt qua hết mọi đau khổ. "Này Xá Lợi Tử ha, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị." Cái bài kinh đó là một thách đố muôn đời của mọi người. Cái gì cũng Không hết.
[52:11]Kinh Phật cũng Không luôn. "Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc, vô vô minh tận, vô... Tứ đế..." gì cũng Không hết trơn. Ha? Thách đố người ta cả kinh Phật cũng Không luôn. Sau này thầy mới bình tâm thầy đọc lại, đọc lại, đọc lại, cái Không này là cái gì? Vì nếu mà chấp nhận cái gì cũng Không hết, ta rơi vào gì? Ta rơi vào hư vô liền, ta sẽ đả phá, phủ nhận mọi cái có thật. Mà nó đang có mà ta phủ nhận nó thì ta là loại người gì? Một là ta điên, hai là ta mù, ba là ta ảo tưởng, không phải là sự thật.
[52:56]Sự thật như thế nào phải thấy đúng như vậy, đó mới là trí tuệ. Cho nên cái bài kinh Bát Nhã nó khủng khiếp lắm, mà bài kinh Bát Nhã nó là một bài kinh ngắn thôi. Ta đọc qua tới mà cái tạng kinh Đại Bát Nhã là 600 quyển còn mới kinh hồn nữa, gì cũng Không hết trơn, gì cũng Không hết. Trong đó một ngày thiên tử hỏi ngài Tu Bồ Đề: "Bạch Tôn giả Tu Bồ Đề, như vậy sau khi tu hành vất vả, một vị Bồ Tát chứng được đó là
[53:27]đạo Vô Thượng Bồ Đề phải không?" Ngài Tu Bồ Đề mới nói: "Nếu có một cái đạo, một cái sở chứng mà cao hơn Vô Thượng Bồ Đề này, ta cũng gọi cái đó là hư vô, là không, là không có thật." Nó lại phủ nhận sạch luôn cả cái quả chứng luôn. Hồi đó thầy đọc cái này thầy cứ thắc mắc hoài, thầy mới đem lên thầy hỏi Hòa thượng, thầy nói: "Trong cái kinh này nói câu này ghê quá, con con không hiểu nổi." Lên thì Hòa thượng gạt, Hòa thượng không cho tìm hiểu. Thầy cứ tự mình thầy mày mò thầy tìm, thầy hiểu và cả một thời gian đó hơn một năm thầy hiểu sai. Và thầy cũng mắc cái quả báo thê thảm vì cái hiểu sai chỗ Không này.
[54:06]Cho nên sau này thầy bình tĩnh thầy đọc lại, thầy mới nói cái Không này đúng là cực kỳ nguy hiểm. Nếu ta hiểu đúng thì ta thành Bồ Tát, mà ta hiểu sai thì ta thành giun, thành dế liền. Tại vì ta không đáng có mặt trên cuộc đời này nữa. Nếu cái gì ta cũng phủ nhận, ta bác hết, cái gì cũng Không Không hết thì quả báo ta sẽ thành giun, thành dế. Ta không xứng đáng có mặt trên cuộc đời này, không xứng đáng sống cùng với mọi người trong cuộc đời này. Nhưng nếu ta hiểu đúng là thành Bồ Tát liền. Hiểu đúng nó là gì? Không chấp công. Cố gắng làm mọi điều công đức mà không bao giờ chấp công của mình, ai hỏi tới cũng nói Không, phủ nhận cái công của mình mặc dù mình
[54:48]hết sức cố gắng làm, thì như vậy có phải Bồ Tát không ạ? Bồ Tát là phước vô lượng cho nên siêng năng làm vô số công đức, nhưng mà Bồ Tát vì đạo đức, vì vô ngã nên không bao giờ thấy mình có làm gì, không bao giờ chấp công, không bao giờ kể công, không bao giờ khoe công, người đó là Bồ Tát. Cho nên nếu ta học đúng cái hạnh Không này ta thành Bồ Tát liền, là sao? Việc thiện rất nhỏ không bao giờ từ nan, hễ làm được điều gì đều ráng làm. Ví dụ như bước vô chùa, mình đang ăn mặc cái đồ rất là đẹp, thầy kêu: "Con con con, vô quét cầu tiêu giùm thầy. Trời ơi, nãy giờ tụi nó đi tụi nó vệ sinh không ai dọn
[55:28]hết, dơ." Thì mình vô làm liền, không không có chấp nê cái sang, cái hèn, hễ làm gì được cho đời là làm. Khi làm cho vệ sinh sạch sẽ rồi, sau đó là cái bộ đồ mình nó cũng lấm lem từ trên tới dưới luôn, mà bộ đồ mới mua rất đẹp, thế là đành phải mượn đỡ ai bộ đồ xấu xấu mặc. Rồi có người họ vô nhà vệ sinh nói: "Chùa Từ Tân này văn minh quá ha, nhà vệ sinh đẹp, sạch quá ha. Ai dọn vậy cà? Có phải chị không?" Mình sao? Nói: "Dạ không." Không có, không có, mình lắc đầu, phủ nhận mặc dù mình làm. Thì cái mình lắc đầu Không đó chính là cái Không của Đại thừa. Chứ còn ví dụ nói: "Nè con con, vô quét nhà vệ sinh đi con." "Dạ, không dơ không sạch, khỏi quét."
[56:10]Thì cái thì đó không phải Đại thừa mà cái đó là mai mốt làm giun, làm dế. Còn phải đi quét, đi dọn cho sạch rồi ai hỏi mình có làm không, mình lắc đầu Không, thì cái Không sau khi làm được công đức đó là Không của Bồ Tát Đại thừa. Cho nên mình tu là chọn cái Không này nha. Hôm nay ta nói với nhau để vậy ta chọn cái Không này mà tu để thành Bồ Tát hết nha. Sau này thành Bồ Tát, mai mốt mà ai mà làm điều gì mà rồi sau đó lắc đầu, thầy sẽ khen người đó là là là Bồ Tát. Mà người đó gật đầu nhận mình là Bồ Tát thì sao? Đập cho mười cây, tham lắm.
[56:51]Lúc khi mà hiểu ra được điều này rồi thầy mới lật lại cái bộ Đại Bát Nhã thầy đọc lại, thì thầy nói: Trời ơi, đúng là Phật, các chư tổ, chư Bồ Tát đã nói hết rồi mà tại mình không chịu hiểu. Trong bộ Đại Bát Nhã, ngài Văn Thù Sư Lợi nói thế này: Vị Bồ Tát ha trải qua vô lượng kiếp số, độ vô lượng chúng sinh. Đó là khi thì hiện thân thành nhà quyền quý trưởng giả, thậm chí khi thì hiện tướng xuống địa ngục, thậm chí khi hiện thân thành súc sinh. Lúc nào chúng sinh ở trong cảnh nào thì đến với cảnh đó, đến với chúng sinh là bạn không mời mà hóa độ, nhưng vẫn không thấy có chúng sinh được độ. Thầy nói:
[57:31]Trời ơi, Phật nói rõ hết trơn rồi, chư tổ nói rõ hết trơn rồi. Tức là phải làm, phải không ạ? Phải độ chúng sinh mà sau đó thấy không thì đó mới là cái không của Đại thừa Bồ Tát. Còn người kia nè nè lại lại dạy nó nhìn thầy, không sạch không dơ, không tội không phước, khỏi cần dạy ai hết, thì cái đó phải Bồ Tát không? Cái đó không phải Bồ Tát, không phải cái không của Đại thừa, mà cái đó là gì? Là cái đồ làm biếng, nha. Như vậy, nếu ta chọn đúng cái không ta thành Bồ Tát, còn ta chọn sai cái không ta là cái đồ ăn hại.
[58:07]Nha, cẩn thận cái điều này. Hôm nay ta học về kinh điển Đại thừa, về Bồ Tát, những điều này phải hiểu rất rõ. Vì sau này ta sẽ gặp những người học Đại thừa cái kiểu kia, học Đại thừa để hiểu thành cái kẻ ăn hại, thì mình cứu người ta, giải thích cho người ta nghe. Cũng cái không mà nó tàn phá hết tất cả, rồi mình đọa thành giun thành dế, vì mình không xứng đáng sống trong cuộc đời này. Nhưng cũng cái không, mình làm thánh thật sự, vì cả một cuộc đời này từ ý nghĩ, lời nói, tay chân hành động đều cống hiến, đều phụng sự mà không bao giờ kể công, không bao giờ chấp công. Bồ Tát là là như vậy nha.
[58:46]Rồi một cái nữa mà Phật không nói nữa là cảnh giới Niết bàn.
[58:53]Cảnh giới Niết bàn là cái chỗ mà chứng của các vị A-la-hán, các vị Phật. Cái chỗ đó như thế nào? Phật nói thế này: Chỗ đó là chỗ hết khổ đau.
[59:07]Vậy mình hình dung ra được chưa ạ? Mình hình dung ra được cái chỗ hết khổ đau chưa? Diệt đế đó! Hỏi: Thế nào là Niết bàn? Đó là chỗ đã dập tắt, đó là chỗ hết khổ đau. Hiểu không ạ? Hình dung ra được không ạ? Hình dung ra được chết liền á! Mà mình nghe giống như không có gì, phải không ạ? Hết khổ đau chắc nó không có gì, bộ nó buồn quá! Chính vì nghĩ rằng cái Niết bàn nó buồn quá, mà các vị Đại thừa dựng ra không biết bao nhiêu lý luận về điều này để làm cho nó đẹp lên, làm cho nó đẹp lên, tại vì nói kiểu Phật nghe buồn quá không ai chịu tu. Mà đúng là mấy trăm năm sau thời Đức Phật nhập diệt rồi,
[59:51]người ta bỏ đạo Phật vì người ta không hiểu Niết bàn là gì. Thấy Niết bàn buồn quá! Hỏi thì các ngài chỉ nói: Đó là chỗ mà gánh nặng đã được đặt xuống, không còn tái sinh, khổ đau đã chấm dứt, đó là chỗ mà củi hết lửa tắt. Nghe cái gì cũng không không hết thì mình thấy nó gì? Sao trống trơn giống nhà mình quá, cũng nghèo không có gì trơn trọi, nhà mình giống Niết bàn quá! Nói: Sao nhà giống Niết bàn? Dạ, nhà em củi cũng hết lửa cũng tắt vì không có tiền mua đó, gạo cũng không có gì để nấu, nghe sao giống Niết bàn quá, củi hết lửa tắt, gánh nặng đã đặt xuống, dạ bởi vì em đi gánh nước mướn xong rồi cũng đặt xuống rồi không gánh nữa, nghe giống Niết bàn.
[1:00:29]Thấy buồn buồn quá, cái không hiểu người ta bỏ đạo Phật luôn. Lúc đó cái ngoại đạo phát triển lên, vì sao? Ngoại đạo mới nói: Mày đừng tu theo... mày tu theo tui, đừng tu theo Phật nữa. Tu theo tui là sao? Khi anh chết anh lên cõi trời. Trên cõi trời có gì? Gái đẹp, trai đẹp, trai đẹp hơn trai đẹp Ả Rập kỳ rồi về đây luôn. Ừ, gái đẹp, gái đẹp hơn hoa hậu luôn. Rượu muốn uống nhiêu cũng có, thịt muốn ăn nhiêu cũng có, tóc muốn kiểu nào trong ba giây hiện cái kiểu tóc đó ra, áo muốn đẹp cỡ nào hai giây hiện cái kiểu áo đó ra, à và đi không tốn tiền vé máy bay bởi vì bay không à, bay không. Nghe mê không ạ?
[1:01:10]Nghe diễn tả là bắt đầu mê rồi đó không? Hơn cái mà củi hết lửa tắt. Cái củi hết lửa tắt này nghe thấy giống nhà nghèo quá, không còn củi để nấu cơm. Mà nghe diễn tả cái cõi trời chết rồi nghe đã quá! Từ từ người ta bỏ đạo Phật, người ta theo ngoại đạo rất nhiều trong cái thời gian đó. Nên vì vậy, khi thấy mà cái vụ mà Niết bàn mà củi hết lửa tắt này cơ bộ nghe nó nó nó thảm quá, cái lật đật các vị mới lập ra cái Tịnh Độ tông. Nói: Nè nè nè nè, quay quay quay, về đạo Phật đây, niệm Phật Di Đà, chết về cõi Phật. Nói: Cõi Phật thì sao có gì hơn cõi trời? Hơn nhiều lắm! Hơn sao? Đất bằng vàng, kim cương.
[1:01:46]Đó là mình cạnh tranh, đây gọi là cạnh tranh với cõi trời đó, đó là tạo ra một cõi Phật cạnh tranh với cõi trời. Là trân châu, sa cừ, mã não, đó là chim trời bay, ánh sáng hào quang, lúc nào cũng mát mát như cái quạt phun sương này, không lạnh hơn, không nóng hơn, ha. Đó là ăn uống mọi thứ gì ngon nhất trong vũ trụ này là đều có ở cõi Phật hết, nghĩa là cạnh tranh. Giờ thì chưa thấy cái cõi nào cạnh tranh thêm với cõi Tịnh Độ, nhưng mà cũng là một sự cạnh tranh. Và khi người ta nghe mê quá, diễn tả được nhiều thứ quá, kinh Vô Lượng Thọ nè, kinh Di Đà rồi đó, cái người ta quay về đạo Phật, bắt đầu ngồi niệm Phật, nghĩa là để không mất tín đồ.
[1:02:22]Không mất tín đồ mà không dạy được gì nhiều, vì sao vậy? Cái người đó người ta không hiểu được nhiều, người ta chỉ cầu cái gì có hình tượng. Và ta phải hiểu rằng Tịnh Độ tông là một loại đối phó trong cái giai đoạn mà mà đạo Phật bị mất tín đồ do người ta không hiểu được Niết bàn. Nên đó là một hình thức để mà cạnh tranh với ngoại đạo và đối phó việc mất tín đồ. Nhưng mà có những vị trí thức họ không chấp nhận, họ nói cạnh tranh kiểu này làm cho giá trị đạo Phật bị bị thấp và bị sai lệch. Cho nên họ dựng lên một kiểu khác diễn tả cái Niết bàn của Phật lại. Nói Niết bàn của Phật là cái gì? Nói hãy tưởng tượng như là giữa hư không bao la vậy,
[1:03:02]một Đức Phật hiện trên cái tòa sen lơ lửng giữa bầu trời, ánh sáng đó chiếu trùm cả vũ trụ này, nha, không một góc nào mà ánh sáng nó không không chiếu tới. Ánh sáng đó chiếu tột cùng lên cõi trời Hữu Đảnh, Sắc Cứu Cánh. Ánh sáng đó chiếu tuột xuống dưới địa ngục Vô Gián, biết tất cả tội lỗi và sự đọa đày của chúng sinh, chiếu lên khắp cả mười phương ở các cõi Phật trong vũ trụ này, Phật đó đang làm gì, thành đạo thế nào, thuyết pháp ra sao. Đó cái ánh sáng từ chặng giữa chân mày của Đức Phật, từ cái nội tâm chứng ngộ đó, chiếu trùm cả vũ trụ. Nghe bắt đầu đã chưa ạ? Nghe đã rồi phải không ạ? Đó, bắt đầu diễn tả cái Niết bàn cái cao siêu của
[1:03:44]trí tuệ của thần lực là như vậy, cụ thể hơn. Mình nghe nói cái đạo này cơ bộ hay à, ngồi lơ lửng giữa hư không mà dòm thấy chiếu hết. Rồi sao? Rồi tất cả chư Bồ Tát ở các cõi nước chầu về đây để nghe pháp. Bồ Tát Diệu Âm đến không ai hay, khi mà hiện ra rực rỡ cả bầu trời, nhạc trời vang lừng lên, hào quang chiếu diệu, cõi đất rung động theo sáu cách. Nói động đất mà diễn tả động theo sáu cách này chỉ trong kinh Phật mới nói. Chứ còn ở ngoài đời động rắc, rung rung ầm ầm cái chết sạch mười ngàn người ở Liban, chỉ có rung rần rần rần thôi, còn trong đạo Phật rung theo sáu cách là rung làm sao? Bởi thầy nói hồi xưa không hiểu ai lý luận trong đạo Phật dễ sợ thiệt á.
[1:04:28]Khi mà bây giờ mà các nhà mà nghiên cứu về tâm chấn về cái địa chấn thì cũng chỉ biết nó lắc lắc một cái rồi là sập nhà chết người thôi. Còn ngày xưa trong đạo Phật là khi có điều gì vui mừng cõi đất rung theo sáu cách. Rung sáu cách là gì? Nhất là rung lên rung xuống, một cách; rung qua rung lại, cách thứ hai; rung xoáy cách thứ ba; rung rung là nhấp nhô nhấp nhô; rung theo kiểu lách cách rung theo kiểu rần rần, tới sáu cách không biết ai tưởng tượng thì bó tay luôn á. Thầy nói cái trí tuệ và sự tưởng tượng của những vị trong kinh Đại thừa mình bó tay thật á, quá siêu đi! Cho nên khi mà diễn tả kinh Đại thừa bởi những
[1:05:03]cái kiểu như vậy, mình choáng ngợp luôn. Mình nói đạo Phật vĩ đại quá, cái tâm chứng của Phật của Bồ Tát vĩ đại quá, vượt ngoài sức tưởng tượng của con người. Cho nên những người mà có trí tuệ bắt đầu chấp nhận cái đạo Phật này. Cái đạo Phật mà vĩ đại, vượt hơn những điều gì họ đã học đã hiểu, nên họ đi theo đạo Phật như vậy. Nên do đó, một bên là xuất hiện cái Tịnh Độ tông để độ cho những người không cần phải suy nghĩ nhiều để lôi họ về với đạo Phật. Và một bên, một hệ thống Đại thừa khác bày ra những cái điều mà Phật không nói. Ví dụ Niết bàn là gì? Ngày củi hết lửa tắt, không, bây giờ là hào quang chiếu rực
[1:05:46]cả vũ trụ hết, để mà độ những người trí tuệ, những người trí thức, những người hiểu biết mà họ về với đạo Phật. Cho nên hôm nay mà thầy nói luôn cả hai vậy thì mình chọn cái Đại thừa nào? Niệm Phật cầu vãng sanh cho nó dễ, hay là một cái đạo Phật mà ánh sáng chiếu khắp cả vũ trụ, chịu cái nào? Chịu cái nào? Chịu cái nào là tùy căn cơ của mình, tùy trí tuệ của mình. Nếu tâm mình đơn giản thì sao? Thì cứ mà thôi ráng chết về cõi Phật, không suy nghĩ nhiều. Còn nếu mà mình thuộc loại người phức tạp, biết suy nghĩ, có trí tuệ thì mình chọn cái loại mà gì, hào quang chiếu diệu cùng khắp vũ trụ. Đó nên là Đại thừa xuất hiện để mà gì,
[1:06:35]đáp ứng hết mọi cái tâm tình, mọi căn cơ của, của chúng sinh. Ừ và cái sự đáp ứng nó vĩ đại đến nỗi vào thời đại ngày hôm nay, vào thời đại mà máy vi tính, kỹ thuật cao thì vẫn còn giá trị, vẫn vượt ngoài cái suy nghĩ của con người luôn. Đến ngày hôm nay, con người dù trí thức cỡ nào, đọc lại các kinh bản Đại thừa vẫn choáng ngợp vì vẫn vượt hơn cái suy nghĩ của mình. Dù mình học tới tiến sĩ, nha. Dù mình có bao nhiêu bằng đại học, mà đọc lại kinh Đại thừa vẫn ngợp hết trơn, vẫn nể phục luôn. Nên cái trí tuệ, lý luận trong các kinh điển Đại thừa là thật là gọi là bất khả tư nghì. Mà đến nỗi mà Einstein phải thán phục,
[1:07:19]bây giờ khoa học có tiến đâu tiến, đạo Phật vẫn đi trước một bước. Bởi vì ổng cũng nghiên cứu ổng thấy như vậy. Cỡ như ông là con người cầm chìa khóa của vũ trụ,
[1:07:30]lập ra cái thuyết tương đối để giải thích những điều trong vũ trụ mênh mông, kỳ vĩ như vậy, mà đọc tới kinh Đại thừa của Phật ổng còn sợ, ổng vẫn bị choáng ngợp, nên buột miệng nói một câu, "Đạo Phật vẫn luôn đi trước khoa học." Ghê, dữ tợn như vậy. Thì đó là đạo Phật Đại thừa như vậy. Nên khi ta học tới đạo Phật Đại thừa thì ta phải đối diện với những cái tri thức cỡ này, lý luận cỡ này, cái trí tuệ cỡ này. Đó, và khi mà đọc mà ta thấy sợ thì ta biết căn cơ mình thấp. Thôi, mình quay về niệm Phật A Di Đà cho, cho xong. Còn nếu mà mình cảm thấy mình mình phấn khởi, mình cảm xúc, mình thích thú với những cái lý luận mà
[1:08:14]choáng ngợp, cả Einstein còn bị choáng ngợp, mà ngày hôm nay mình thích thú được thì mình thuộc loại hơi gì? Hơi hơi có căn cơ, hơi có trí tuệ một chút. Thầy nói một chút thôi, thầy nói nhiều chút là mắc công kiêu mạn à. Mắc công nói, "À tôi cũng bằng Einstein", hay là "Einstein choáng ngợp, xúc động, tôi cũng choáng ngợp, xúc động", là mai mốt ngu ráng chịu à, nha. Nên nói khiêm tốn lại thôi, nhưng phải hiểu rằng là cái trí tuệ, cái lý luận của Phật giáo Đại thừa khủng khiếp quá, khủng khiếp quá. Cái khủng khiếp thế nào? Cho tới thế kỷ 21 này, hơn 2.100 năm so với những lý luận Đại thừa tới ngày nay ta vẫn chưa theo kịp được cái lý luận
[1:08:57]của Phật giáo Đại thừa, ta vẫn chưa theo kịp nổi. Nói như vậy là phải Phật giáo Đại thừa hay hơn Phật giáo Nguyên thủy không? Không, bởi vì điều này Phật không nói, chưa nói, chưa cần phải nói, mà Phật muốn để cho người ta hiểu, tự hiểu, tự chứng. Giống như là có một vị A-la-hán sau khi chứng xong nói câu này, "Tâm ta nay sáng chói hơn nghìn ánh mặt trời." Câu này Phật không bao giờ nói rồi nha. Phật là giấu không nói, nhưng mà ngài A-la-hán ổng chứng ổng thấy cái ổng tuột ra ổng nói, "Tâm ta nay sáng chói hơn nghìn ánh mặt trời." Ông này là Đại thừa, ông này là theo cách Đại thừa là nói ra, lộ ra.
[1:09:37]Phật thì lại giấu, Phật thì "củi hết lửa tắt". Thì bây giờ ta nghe nói ủa Niết-bàn là gì? Cái người ta nói là "củi hết lửa tắt", Phật nói "củi hết lửa tắt", ông A-la-hán nói là "hơn ngàn ánh mặt trời", thì mình nói vậy ông A-la-hán này chắc hơn Phật à, phải không ạ? Nếu trên lý luận, ta nói, "Ủa, ông A-la-hán này bộ cao hơn Phật? Ổng chứng xong A-la-hán ổng thấy tâm ổng hơn ngàn ánh mặt trời, còn Phật chứng Niết-bàn, Phật nói củi hết lửa tắt." Hoặc là nói Phật chứng Niết-bàn nói, Phật nói, "À, ta đã thấy ngươi rồi hỡi cái người làm nhà. Từ nay ngươi không xây được nhà nữa." Tức là không có thợ hồ để xây nhà.
[1:10:14]Vậy Niết-bàn là cái chỗ mà không có thợ hồ để xây nhà, trong nhà thì củi hết lửa tắt không có gạo gì nấu. Nghe mà hiểu kiểu đó, mình nói sao mà nó buồn quá vậy nè? Phật nói gì buồn quá. Còn nghe ông A-la-hán ông nói, "Tâm ta nay sáng chói hơn nghìn ánh mặt trời." Ủa ông này hay hơn Phật à? Nhưng làm sao? Phật không muốn nói. Vì sao Phật không muốn nói? Vì sợ chúng sinh nghe rồi tưởng tượng rồi đem ra mà, mà nổ.
[1:10:41]Cho nên Phật phải giấu, nha. Vì Phật sợ chúng sinh cứ đi lý luận rồi bị tổn phước. Giống như hồi nãy khi mà thầy nói về các trạng thái của thiền sư, giống như thầy khoe thầy có chứng chưa ạ? Có không? Hơi hơi. Nghe thầy nói, "Ủa, ông này ổng có chứng sao ổng thấy ổng nói ủa giống thiền sư quá?" Đúng không ạ? Thì giống như khi mình khoe cái cao siêu của đạo Phật, hết 1/3 mình khoe cái của mình, giống như mình cũng chứng, hết phước luôn. Mà đây là cái mà Phật muốn tránh cho chúng sinh. À, Phật muốn tránh cho chúng sinh đừng nổ, cho nên hỏi Niết-bàn sao? Củi hết lửa tắt. Không có ai xây nhà nữa, nhưng mà để hiểu được cái củi hết lửa tắt,
[1:11:20]để hiểu được cái mà không ai xây nhà nữa thì mình phải sao? Tâm mình phải sáng chói hơn ngàn ánh mặt trời. Hai cái đó nó giống nhau. Cho nên cái kinh Đại thừa là cái bày ra, Phật muốn giấu thôi. Cái mà Phật muốn giấu thì trong kinh Đại thừa bày ra, mà tại sao phải bày ra cái Phật muốn giấu? Bởi vì không bày ra, người ta cứ tưởng đạo Phật là là buồn bã, buồn chán, sơ sài vậy thôi, hết gạo, tưởng như vậy. Nha. Sau Phật, những vị mà lãnh đạo tôn giáo, những vị lãnh đạo Phật giáo cũng đều tự nhận cho mình cái trách nhiệm là giáo hóa chúng sinh. Mà nếu giáo hóa chúng sinh không thành công, không thu hút được chúng sinh về thì mình sao, mình có, có tội với Phật.
[1:12:13]Cho nên khi mà thấy người ta bớt tới chùa, người ta bớt tìm hiểu đạo Phật là phải biết rằng mình đã có cái gì? Thiếu trách nhiệm. Cho nên vì vậy là các vị luôn luôn day dứt, trăn trở tìm cách nào để mà đem Phật pháp đến với chúng sinh. Là vậy. Nhưng mà mình nghĩ như vậy thì các đạo khác họ làm sao? Họ cũng nghĩ được như vậy. Và họ cũng tìm mọi cách. Mà ai có quần chúng đông, người đó thắng. Nói thắng làm sao? Người ta cúng nhiều, giàu, trở thành quyền lợi vật chất. Từ cái đạo lý là giá trị tinh thần, nhưng mà nếu mình khai thác thành công, thu hút được nhiều người, người ta cúng nhiều, thành ra quyền lợi vật, vật chất.
[1:12:56]Và chính quyền lợi vật chất này mới là động cơ thật sự của những người tu sĩ mà không chân chính. Nên người ta đem Phật pháp như một cái chiêu bài để mà thu hút cái lợi dưỡng, thành ra mất cái chân tu. Còn cái vị nào mà lòng trong sạch, thánh thiện, ráng tu hành cho tinh tấn rồi đem đạo lý giáo hóa, không bao giờ trong tâm nghĩ đến lợi dưỡng thì người đó là bậc chân, chân tu. Khác nhau như vậy thôi. Chứ còn nhìn vô rất giống nhau, vẫn đông đảo quần chúng. Nhưng mà cái thẳm sâu của sự chân chính nó nằm ở trong tâm của ông thầy mình khó đánh giá. Tại ngoài miệng nói, ông nào cũng nói hay giống nhau.
[1:13:42]Nhưng mà cái thẳm sâu trong tâm á, cái ông đó ổng tự hào vì Phật tử đông, tự hào vì có lợi dưỡng, tham đắm lợi dưỡng, hoặc là một ông không có điều đó, chỉ trọn lòng vì Phật pháp, vì chúng sinh. Hai cái đó trong tâm ổng, mình không biết đâu. Nhưng bên ngoài cứ na ná, nó giống nhau. Thì các tôn giáo và Phật giáo cũng đều đi trên con đường giống nhau như vậy cùng phát triển. Và đạo nào có cái sở trường gì thì đem cái đó ra mà mà bày tỏ, mà áp dụng.
[1:14:15]Ví dụ, có một cái đạo là bùa.
[1:14:20]Lại gặp ông thầy á, "Thưa thầy, vợ con bỏ con, buồn quá." Thì giờ nếu mà ai hỏi mình câu đó, mình nói làm sao? Nói làm sao? Nó có hai loại nói. Thật ra nó tới 10 loại nói lận. Khi người ta vừa than: "Dạ vợ con bỏ con, buồn quá", thì nó có 10 cái câu nói sau đó của ông thầy, nhưng bây giờ mình tạm thời mình đưa ra hai loại thôi. Cái ông thứ nhất nói câu này, "Vậy con có thấy lỗi con ở chỗ nào không?" Thấy không? Hỏi câu đó để tìm ra. Đó, đó là ông thầy dạy đạo chân chính. Còn một ông thầy, sau khi nghe nói như vậy, nói rằng, "Con đừng lo, thầy có cái bùa này kéo nó về con trong ba ngày." Hai câu.
[1:15:08]Thì trong hai câu đó, mình thích gặp ông thầy nào? Nghĩa là khi mình đến mình than: "Vợ con bỏ con", cái ông thầy ổng nói: "Con có thấy lỗi con không?", mình nghe khó chịu không? Tự ái liền chớ hả? Thấy khó chịu tự ái liền chớ. Nên ông thầy này mình không thích tới. Ông thầy mà khi tới ổng hỏi lỗi mình thì mình không thích tới. Nhưng mà cái ông thầy tới nói: "Con đừng lo, 3 ngày, con đếm tới ngày thứ ba là vợ con xách gói về liền. Đây bùa này con thấy gì không? Con mỗi ngày con đốt cái này con nuốt, hiểu không? Nuốt mà nó nó ói ra con con hứng con nuốt lại cho thầy", nói vậy đó, "thì linh liền không sao hết.
[1:15:39]Rồi con đứng con cứ đứng mà con réo con kêu vợ con ra là 3 ngày nó quay về". Thì mình thích ông nào? Thích ông thầy bùa hơn, thấy không? Bùa khỏe mà ổng không hỏi lỗi mình, thấy không? Chớ thực sự nếu mà nói lỗi ra thì sao? Nói... "Nhưng con có thấy lỗi không?", nói: "Con đối xử con cũng thương vợ con lắm chớ mà sao..." Nói: "Ờ có con có thương thiệt không?", nói: "Dạ thương thiệt". "Con ngồi gần thầy thầy thấy bốc mùi vậy mấy ngày con không tắm?", "Dạ nó mới một tháng à chớ chưa". Đó đó là một nguyên nhân rồi đó, thấy không? Một nguyên nhân rồi, coi còn nguyên nhân nào nữa, bị tra hỏi, con xét coi còn gì nữa không? Nói:
[1:16:12]"Nó đi mấy ngày rồi con buồn không?", nói: "Buồn". "Buồn mà sao con còn mập quá vậy?", nói: "Dạ con mất hết 5 ký chớ trước đây con tới 100 ký lận". "Như vậy con ăn hơi bị nhiều, có phải con ăn giành luôn của vợ con không?", nói: "Tại vợ con nó nhường rồi con ăn hết thôi chớ không đâu có gì". Như vậy thêm tật giành ăn với vợ. Thấy nếu mà xét lỗi ra thì cái ông này ổng quá chừng lỗi, bởi vợ mới chịu hết nổi bỏ đi, nhưng mà ổng không chịu thấy mà thích có cái bùa đưa cái trở về liền. Thì có một loại đạo họ phát triển theo kiểu đó, họ lôi tín đồ theo kiểu đó, không cần xét lỗi, không cần dạy đạo đức, không cần nói về nhân quả tội phước
[1:16:44]mà chỉ dùng một cái thần lực gì đó can thiệp vào để làm lợi cho người ta thôi. Mà chúng sinh rất mê cái loại này. Đến ngày nay chúng sinh còn mê không? Vẫn cực kỳ mê cái loại này. Không cần đạo đức, không thích nhân quả, không thích phấn đấu tạo phước, không thích phụng sự cống hiến mà chỉ cần có cái gì linh thiêng chộp về một cái cái mình thăng tiến được lợi ích. Cái tâm lý này triệu năm trước cũng có và 1 triệu năm sau vẫn tiếp tục như vậy. Trong khi có một cái đạo nói nhân quả, nói tội phước, mỗi lần đến: "Thưa thầy, xin thầy cho con cách nào để lên chức?", cái đầu mới hỏi: "Vậy trước kia con làm gì? Con phấn đấu ra sao?
[1:17:27]Con có phục vụ nhân dân tốt chưa?", ngồi hỏi ổng ví một lát nghe khổ quá, phải không? Mệt quá, ổng ví mà ổng bắt mình phải phục vụ nhân dân, bắt mình phải trung thành với Tổ quốc, nghe nó mệt quá. Ổng no cho mình cái bùa bỏ túi rồi lên chức nó khỏe hơn. Cứ cạnh tranh hoài và cái tỉ lệ bây giờ thầy hỏi nè, quý Phật tử nè, cái số người mà thích có cái đạo bùa về mình được lợi liền và cái số người mà thích phấn đấu, sửa mình, tạo phước để được có kết quả tốt thì tỉ lệ mấy với mấy? Hả?
[1:18:04]Phân nửa phân nửa không? Hả? Phân nửa phân nửa không? Có người ra giá 7-3. Có ai trả giá nào khác không?
[1:18:15]Theo thầy thì thầy thấy cái tỉ lệ như thế này: nếu mà cái người mà thích cái đạo bùa đó cho nhanh để lên chức á thì người đó là 9.900.999,99...9% người, thì còn cái người mà thích phấn đấu nhân
[1:18:31]quả tội phước để được cái quả báo tốt thì người đó 0,0000...1.
[1:18:40]Thì như vậy một cái đạo chân chính dạy người ta nhân quả tội phước thì tín đồ chỉ có 0,00001, còn cái ông kia ổng nói bùa ra có hết thì ủa ổng 99999 hết. Thì như vậy sao? Tín đồ bên nào đông? Bên bùa đông. Thì như vậy mấy thầy mình phải làm sao để có tín đồ đông? Cũng phải bùa. Và đó là Mật tông ra đời. Mật tông ra đời vì điều này. Mật tông ra đời là vì nè, cạnh tranh bùa với ngoại đạo. Ở đây thầy có câu thần chú nè con: "Úm ma ni bát mê hồng" gì đó, "Án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha", nghĩa là đây thầy có hết, thấy chưa. Con mà theo đây con tụng đúng như thầy là con thăng tiến lên ngon lành này kia nọ đó.
[1:19:29]Nên ủa trong đạo Phật cũng có cái này, mình đi theo cái này cũng vẫn khỏe. Và ta thấy đạo Phật bị pha trộn, bị biến đổi, biến thái vì tâm lý của chúng sinh ham lợi mà không muốn đóng góp. Chính vì chúng sinh ham lợi không muốn đóng góp mà đạo Phật phải bị biến đổi để chi? Để đáp ứng cái ham muốn của chúng sinh. Nhưng ông thầy Mật tông cũng hai loại: một loại á thì cứ dùng bùa ban phát rồi người ta theo mình ầm ầm, còn một ông thầy Mật tông chân chính thì cũng nói bùa, sau khi nói bùa xong rồi bắt đầu kêu người ta: "Nhưng mà cái bùa này nó sẽ không linh nếu con không xây được một cái cầu, cái bùa này nó sẽ không linh nếu con không xây được
[1:20:13]5 cái nhà tình thương này á, cho nên con lấy cái bùa này về rồi, con tụng rồi, con lên chức rồi con phải làm 10 cái nhà tình thương cái bùa này nó mới linh tiếp nha con". Đó là ông thầy Mật tông chân chính, đưa thần chú ra xong gài nhân quả vô liền, bắt phải tạo phước liền thì ông này là chân chính, ông thầy này ổng lại có phước. Còn cái loại mà chỉ tin vào thần chú rồi không nói tới nhân quả là ông thầy Mật tông này giống hệt ngoại đạo. Và đó cho thấy là đạo Phật đã bị biến đổi đó vì những gì? Vì thời cuộc, vì thời đại, vì tâm lý của chúng sinh. Là để muốn cho người ta theo đạo mà bắt đầu từ cái tham lam thì có hai cách:
[1:20:57]một là đánh vô cái tham lam, diệt cái tham lam đi để người ta đến với đạo; hai, cũng lợi dụng cái tham lam đó dắt người ta vào đạo rồi sửa dần dần cho người ta hết tham sau. Có mấy cách như vậy và đó là gì? Đại thừa Phật giáo. Đại thừa Phật giáo phải biến hóa, phải thích ứng, phải phù hợp với mọi hoàn cảnh, mọi tâm tình để cho đạo Phật tồn tại và và phát triển.
[1:21:22]Hôm nay ta nghe tới đây thôi.
[1:21:29]Thôi, sư chúc mọi người an lành, hẹn gặp lại ngày mốt.
[1:21:37]Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả,
[1:21:51]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.
[1:22:41]Mái chùa
[1:22:47]che chở hồn dân tộc.
[1:23:01]Từ thuở ra đi vắng bóng chùa, đường đời đã nhọc chuyện hơn thua.
[1:23:14]Trong tôi bừng dậy niềm chua xót, xao xuyến mơ về lại cảnh xưa.
[1:23:29]Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng,
[1:23:37]có con đường đỏ chạy lang thang,
[1:23:44]có hàng tre gợi hồn sông núi,
[1:23:51]im lặng chùa tôi ngập nắng vàng.
[1:23:58]Có những người sống trọn đời,
[1:24:06]bên hàng tùng bách mãi xanh tươi. Nhìn lên thoang phất hương trầm tỏa,
[1:24:20]Đức Phật từ bi mỉm miệng cười.
[1:24:31]Tôi nhớ làm sao những buổi chiều, lời kinh giải thoát vọng cao siêu.
[1:24:43]Nơi ngôi chùa cổ ngày hai buổi, cầu nguyện dân làng sống mến yêu.
[1:24:55]Vì vậy làng tôi sống thái bình, sớm khuya gần gũi tiếng chuông kinh.
[1:25:07]Sắn, khoai, gạo, bắp nuôi dân...