Transcript: Kinh Nikaya 27 - Kinh Bổn Sanh Lasaka Tissa

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:04:48

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên, bậc Đạo Sư đã kể lại về Trưởng lão Losaka. Ai là Trưởng lão Losaka? Một người ở xứ Kosala, con của một người đánh cá, một tai ương cho gia đình, một Tỷ-kheo không nhận được. Từ chỗ được sinh vào mạng chung, nó đầu thai vào bụng vợ người đánh cá trong một làng đánh cá gồm một ngàn gia đình ở Kosala. Trong ngày nó đầu thai, ngàn gia đình ấy với lưới cầm tay đi đánh cá trên sông, trên hồ, không bắt được một con cá nhỏ nào. Nghe câu chuyện để mình thấy cái diễn biến của nhân quả. Từ ngày đó trở đi, những người đánh cá gặp những điều tổn hại. Khi nó còn ở trong thai, làng của chúng bị lửa đốt bảy lần, vua xử phạt bảy lần.

[0:59]Như vậy, toàn dân của chúng rơi vào túng thiếu, chúng suy nghĩ: Trước kia chúng ta không có như vậy, nay chúng ta gặp điều tổn hại. Như vậy chúng ta phải có một người có số đen. Chúng ta hãy chia thành hai nhóm, mỗi nhóm năm trăm gia đình. Và nhóm nào có người có số đen, nhóm ấy sẽ bị tổn hại, nhóm kia được hưng thịnh. Và cứ thế, chúng chia nhóm ấy làm hai, chia làm hai nữa, làm hai nữa. Như vậy, cuối cùng chúng chia cho đến khi chỉ còn lại một gia đình ấy. Tìm được kẻ có số đen ở trong gia đình ấy, chúng liền tống đuổi đi. Người mẹ phải tìm sống một cách khó nhọc một manh hai. Khi thai chín muồi, sanh được đứa con trai.

[1:43]Đứa bé được sanh trong đời sống cuối cùng, do đó không thể bị giết hại. Như ngọn đèn trong cái ghè, điều kiện để thành A-la-hán cháy đỏ trong tim của nó. Người mẹ nuôi dưỡng nó, tập nó chạy tới, chạy vòng khi nó đã đi được, đặt trong tay nó một bát để xin, bảo nó đi vào nhà này rồi bỏ nó một chốn. Từ đó nó sống một mình, tìm đồ ăn tại chỗ này, nằm ngủ tại chỗ khác, không tắm, không săn sóc thân mình, tìm sống một cách cực khổ, chẳng khác con quỷ ăn bùn. Nó từ từ lớn lên được bảy tuổi, lượm từng miếng cơm nguội mà ăn như con quạ tại cửa nhà. Chỗ đó đồ ăn đến từ các nồi cơm được rửa. Một hôm, Tướng quân Chánh pháp Xá-lợi-phất đang đi khất thực

[2:34]ở Xá-vệ, thấy đứa bé, suy nghĩ không biết đứa bé đáng thương hại này ở làng nào, khởi lòng từ bi đối với nó và gọi: "Hãy đến đây!". Đứa bé đến đảnh lễ Trưởng lão và đứng lại. Trưởng lão hỏi: "Con sống ở làng nào? Cha mẹ ở đâu?". "Thưa Tôn giả, con sống không nơi nương tựa. Cha mẹ vì con sống quá mệt mỏi nên bỏ rơi con mà trốn đi." "Con có muốn xuất gia không?" "Thưa Tôn giả, con muốn xuất gia. Nhưng ai sẽ xuất gia cho một kẻ khốn khổ như con?" "Ta sẽ xuất gia cho." Lành thay vị xuất gia cho con. Trưởng lão cho nó ăn các món ăn lại có nước và lại mềm, dắt nó đến tinh xá, tự tay tắm, xuất gia và khi tuổi đầy đủ, trao đại giới cho nó.

[3:18]Khi trưởng thành nó được gọi là Trưởng lão Losaka Tissa. Trưởng lão Losaka Tissa ít được công đức, ít nhận được đồ cúng dường. Truyền thuyết nói rằng, dầu cho một hủ to lớn đựng đầy súp đường, tuy vậy, bụng Trưởng lão không được no đủ, chỉ ăn vừa đủ để nuôi mạng sống. Một muỗng cháo đổ vào bát của Trưởng lão nhìn như tràn đầy tận tắc. Những người cho nghĩ rằng, một bát đã đầy tràn, nên không cho nữa, để dành cháo cho người sau. Khi cháo được đổ vào bình bát Trưởng lão, người ta nói, cháo trong đĩa của người cúng cũng như biến mất. Các bữa ăn cúng khác cũng lại như vậy. Trưởng lão sau một thời gian,

[3:59]thiền quán được tăng trưởng, chứng quả A-la-hán tối thượng. Ngài vẫn được đồ cúng dường ít ôi. Thọ hành Trưởng lão dần dần giảm thiểu và ngày nhập Niết-bàn đã đến. Tướng quân Chánh pháp hướng tâm đến, biết ngày Trưởng lão nhập Niết-bàn, nghĩ rằng: "Trưởng lão Losaka Tissa hôm nay sẽ nhập Niết-bàn. Ta sẽ khuyên người ta cúng dường Trưởng lão đồ ăn như ý muốn lần cuối." Tôn giả Xá-lợi-phất đưa Trưởng lão vào thành Xá-vệ khất thực. Xá-lợi-phất và Losaka Tissa, dầu đưa tay cho nhiều người ở Xá-vệ, cũng không nhận được cho đến một muỗng cháo. Xá-lợi-phất bảo Losaka Tissa về trước ngồi tại phòng họp,

[4:38]rồi những đồ ăn nhận được đem về cho Losaka Tissa. Những ai được Xá-lợi-phất giao đồ ăn đem về đều quên trao cho Losaka Tissa và tự mình ăn đồ ăn ấy. Khi Trưởng lão Xá-lợi-phất đứng dậy và đi về Tinh xá, Losaka Tissa đi đến đảnh lễ. Trưởng lão dừng lại quay lưng hỏi: "Này hiền giả, hiền giả có được đồ ăn không?" "Thưa Tôn giả, con sẽ nhận được, tức là chưa." Trưởng lão Xá-lợi-phất bàng hoàng nhìn giờ, thời gian đã quá. Trưởng lão nói: "Này hiền giả, hãy ngồi ở đây." Trưởng lão khiến Losaka Tissa ngồi xuống trong phòng họp, rồi dùng thần lực đi đến trú xứ Kosala. Nhà vua cho người lấy bát của Trưởng lão, bỏ đầy bát cả bốn loại bánh ngọt và nói:

[5:21]"Đây là bữa ăn phi thời." Trưởng lão cầm bát đi về và nói: "Này hiền giả Tissa, hãy ăn bốn loại bánh ngọt này." Nói xong, Ngài cầm bát và đứng. Nhưng Losaka Tissa hổ thẹn vì lòng kính trọng không dám ăn. Trưởng lão nói với Losaka Tissa: "Này hiền giả, hãy ăn. Ta cầm bình bát này đứng vậy, hiền giả ngồi mà ăn. Nếu tay ta rời bình bát này, thời không còn vật nào nữa." Rồi trong khi bậc Tối Thượng Chủ, Tướng quân Chánh pháp đứng cầm bát, Tôn giả Losaka Tissa ăn bốn loại bánh ngọt. Do thần thông lực của bậc thánh, của Xá-lợi-phất bánh ấy không biến mất. Khi ấy, Trưởng lão Losaka Tissa được ăn như ý muốn, đã no bụng.

[6:03]Ngày hôm ấy, Losaka Tissa nhập Niết-bàn không có dư y. Bậc Chánh Đẳng Giác đứng một bên và chứng kiến thân được hỏa táng, các xá-lợi được thu nhận và điện tháp được dựng lên trên. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo đang ngồi họp tại pháp đường hỏi: "Này các hiền giả, Losaka Tissa ít công đức, ít nhận đồ cúng dường. Do ít công đức, ít nhận đồ cúng dường như vậy, tại sao lại được thắng phước?" Bậc Đạo Sư đến hỏi. Các Tỷ-kheo báo cáo câu chuyện ấy, bậc Đạo Sư nói: "Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy do tự mình làm nên không được cúng dường cho mình mà chứng được thắng pháp. Vì ý thối trước do làm chướng ngại người khác

[6:44]được cúng dường nên ít được cúng dường. Do chú tâm thiền quán vô thường, vô ngã nên được quả, chứng được thắng pháp." Nói vậy xong, bậc Đạo Sư kể câu chuyện quá khứ:

[6:57]Trong thời Đức Phật, ngài Losaka Tissa hết phúc một cách kỳ lạ, không bao giờ được no đủ, kể từ lúc vào thai trong bụng mẹ là đã bất hạnh cho tới cái ngày mà nhập Niết-bàn. Đây Đức Phật kể câu chuyện tiền thân của ngài. Hơi dài, kể cho quý vị nghe. Nghe một chuyện cổ tích cũng vui, đỡ buồn ngủ. Thuở ấy, trong thời Bậc Chánh Đẳng Giác Ca-diếp, có một Tỷ-kheo sống ở một ngôi làng nhỏ, được một vị điền chủ ủng hộ, hộ trì. Tỷ-kheo ấy tính tình bộc trực, hồn nhiên, giữ giới, chuyên tu tập thiền quán. Lại cũng có một Trưởng lão đã lậu tận, các lậu hoặc sống bình đẳng với các bậc đồng phạm hạnh. Vị này trước chưa bao giờ, nay mới đi đến ngôi

[7:42]làng của người điền chủ đã ủng hộ Tỷ-kheo ấy. Người điền chủ hoan hỷ với cử chỉ của Trưởng lão, cầm lấy bình bát, mời vào nhà, cung kính mời ăn, nghe thuyết bài pháp ngắn, đảnh lễ Trưởng lão và thưa: "Thưa Tôn giả, hãy đi đến ngôi tịnh xá bậc đầu tiên của chúng tôi. Chúng tôi vào buổi chiều sẽ đến viếng thăm Ngài." Trưởng lão đi đến ngôi tịnh xá, đảnh lễ Trưởng lão trụ trì và sau khi xin phép, ngồi xuống một bên. Ngài trò chuyện thân mật, hỏi thăm Trưởng lão: "Thưa hiền giả, hiền giả được đồ ăn chưa?" "Thưa, được rồi." "Được tại đâu?" "Tại nhà người chủ trong làng của Tôn giả gần đây." Sau khi nói vậy, Trưởng lão hỏi chỗ sàn tọa của

[8:21]mình, sửa soạn, cất đặt y bát và ngồi xuống, thọ hưởng lạc về thiền, lạc về quả. Vào buổi chiều, người điền chủ ấy đem theo bông hoa, đèn và dầu đi đến tịnh xá, đảnh lễ vị trụ trì và hỏi: "Thưa Tôn giả, có vị Trưởng lão khách đã đến chưa?" Sau khi được biết đã đến rồi, người điền chủ đi đến vị Trưởng lão khách đảnh lễ, ngồi xuống một bên nghe thuyết pháp. Vào buổi chiều mát, người điền chủ đảnh lễ điện Phật, cây bồ-đề, thắp đèn, mời hai vị đến nhà rồi ra đi. Trưởng lão trụ trì suy nghĩ: "Điền chủ này đã bị phân tán. Nếu Tỷ-kheo này trú ở tịnh xá này, điền chủ ấy không còn để ý đến ta một chút nào nữa." Trưởng lão trụ trì tâm tư không được vui, suy nghĩ:

[9:06]"Ta phải làm thế nào để vị ấy không ở được trong tịnh xá này?" Đến giờ hầu thăm thì khi Trưởng lão khách đến, Trưởng lão trụ trì không nói gì. Vì Trưởng lão khách đoạn phần các lậu hoặc biết được ý định của Trưởng lão trụ trì, nghĩ rằng: "Trưởng lão này không biết ta không bao giờ gây trở ngại cho gia đình hay cho đồng chúng vị ấy", liền đi về chỗ ở của mình, hưởng thọ lạc về thiền và lạc về quả. Trưởng lão trụ trì ngày hôm sau, sau khi đánh nhẹ cái chuông phòng, thức dậy, phòng dậy khách trọ, rồi lấy móng tay gõ nhẹ nơi cửa, đi đến nhà người điền chủ. Người điền chủ cầm lấy bát vị ấy, mời ngồi trên chỗ đã soạn sẵn và hỏi Trưởng lão khách ở đâu?

[9:48]"Tôi không biết tin tức bạn của ngài. Tôi đã đánh chuông, gõ cửa nhưng không thể đánh thức vị ấy dậy. Hôm qua sau khi ăn phần mỹ vị nơi nhà của ngài, chưa có thể tiêu hóa được. Do vậy nay đang còn ngủ." Ai có thể ngờ ngài có thể có những sự kiện như vậy.

[10:05]Vị trưởng lão đã đoạn tận các lậu hoặc, nghĩ rằng: "Thời gian y thực của mình đã đến", sửa soạn thân mình tử tế, cầm y bát, bay lên hư không và đi đến chỗ khác. Người đệ tử ấy, sau khi cúng dường cơm và sữa với sâm-tô, mật và đường, sau khi thoa bát với bột thơm, đổ đầy bát và thưa: "Thưa Tôn giả, trưởng lão ấy đi đường mệt, hãy đem đồ ăn này về cho vị ấy", rồi đưa bát cho trưởng lão trụ trì. Vị này không thể từ chối, cầm bát đi và suy nghĩ: "Nếu Tỳ-kheo ấy uống cơm sữa này, có ai cắn cổ đuổi đi, nó sẽ không đi. Nhưng nếu ta cho người khác cơm sữa này, việc ta làm sẽ bị bại lộ. Nếu ta đổ xuống nước, sâm-tô sẽ nổi lên trên mặt nước và bị lộ.

[10:48]Nếu ta quăng trên đất, loài quạ sẽ tụ họp lại và sẽ bị thấy. Nên ta quăng món ăn này ở đâu?" Đang suy tìm như vậy, vị ấy thấy một đám ruộng đã bị đốt, Tỳ-kheo ấy bới các than đỏ lên, quăng đồ ăn tại đấy, lấy than đỏ che đậy lên trên rồi đi về tịnh xá. Không thấy Tỳ-kheo khách ở đâu, Tỳ-kheo trụ trì suy nghĩ: "Chắc Tỳ-kheo ấy đã đoạn tận các lậu hoặc, biết được ý định của ta, đã đi chỗ khác. Ôi, ta vì nhân duyên cái bụng, đã làm một việc không thích đáng!" Do vậy, sầu muộn khởi lên và từ đấy, vị Tỳ-kheo trụ trì như một con quỷ ma, không bao lâu mà chung, sanh vào địa ngục. Trong nhiều trăm ngàn năm, nó bị nấu ở địa ngục.

[11:30]Do sức mạnh chín muồi, nó bị sanh năm trăm năm liên tục làm con dạ-xoa, không được ăn đầy bụng dù chỉ một ngày. Chỉ có một ngày nó được ăn no bụng với đồ phế diễm của bào thai. Rồi trong năm trăm đời, nó sanh làm chó. Khi ấy, chỉ có một ngày nó được ăn no bụng với cơm được mửa ra. Còn thời gian còn lại, nó không bao giờ được nửa đầy bụng. Từ thế mạng chó, mạng chung nó sanh ra một gia đình nghèo đói trong một làng ở nước Ca-si. Từ khi nó sanh ra, gia đình càng trở nên nghèo đói cùng cực. Nó không bao giờ được một nửa tô nước cháo trôi vào bụng. Nó được đặt tên là Mittavindaka. Cha mẹ nó không thể chịu khổ vì đói, đánh đuổi nó đi:

[12:12]"Thôi đi, con số đen bất hạnh kia!" Không nơi nương tựa, nó đi lang thang và đến tại Ba-la-nại. Lúc bấy giờ, Bồ-tát được sanh làm vị giáo sư có tiếng khắp các phương và đang dạy nghề cho năm trăm thanh niên. Lúc ấy, dân ở Ba-la-nại cho tiền những người nghèo đói và cho chúng học nghề. Mittavindaka học nghề không tiền với Bồ-tát, nhưng tánh nó độc ác, khó dạy, hay đánh bậy, hay đi lang thang. Được Bồ-tát khuyên dạy, nó vẫn không nghe theo. Vì có nó, tiền đề của Bồ-tát trở thành thích hoi. Nó gây lộn với các thanh niên, không nghe lời khuyên, trốn đi, lang thang đây đó, tới một làng biên địa làm thuê sanh sống.

[12:53]Tại đấy, nó sống với một người đàn bà nghèo khổ và sinh được hai đứa con. Người trong làng thuê nó dạy cho họ biết thế nào là thiện, thế nào là ác và cho nó một cái chòi để sống tại cửa làng. Do Mittavindaka, dân chúng ở làng biên địa ấy bị vua xử phạt bảy lần, nhà của họ bị cháy bảy lần, hồ chứa nước bị cạn bảy lần, họ suy nghĩ: "Trước khi Mittavindaka đến đây, chúng ta không có như vầy. Từ khi nó đến, chúng ta bị tổn hại." Họ đánh đuổi nó đi. Nó đem con ra đi đến một chỗ khác, vào khu rừng do phi nhân ngự trị. Tại đấy, các phi nhân giết, ăn thịt con và vợ nó. Nó trốn thoát khỏi chỗ ấy, đi lang thang chỗ này

[13:34]chỗ kia, đến một bến tàu tên là Gambhira. Đúng vào ngày một chiếc tàu mở đường hàng thủy, nó trở thành người làm thuê trên tàu. Khi chiếc tàu đi trên mặt biển được bảy ngày, đến ngày thứ bảy, tàu đứng lại như bị mắc cạn. Chúng bốc thăm ai là con người số đen bất hạnh, bảy lần thẻ rơi vào Mittavindaka. Chúng cho nó một cái bè tre, bắt tay nó quăng xuống biển rồi tàu bỏ đi. Mittavindaka leo lên bè tre, trôi trên mặt biển. Do quả giữ giới trong thời Đức Phật Ca-diếp Chánh Đẳng Giác trên mặt biển, do quả giữ giới trong thời Đức Phật Ca-diếp Chánh Đẳng Giác, nó trôi trên mặt biển gặp một lâu đài bằng pha lê, nó gặp được bốn tiên nữ.

[14:16]Với chúng, nó sống trong bảy ngày hưởng các hạnh phúc. Các loài quỷ ở lâu đài hưởng hạnh phúc trong bảy ngày, sau bảy ngày chúng phải đi để chịu đau khổ. Lúc ra đi, chúng nói với nó hãy đợi ở đây cho đến khi chúng về. Chúng đi rồi, Mittavindaka lại leo lên bè tre đi chỗ khác và gặp được tám tiên nữ ở trong lâu đài bằng bạc. Từ đấy nó đi nữa, gặp được mười sáu tiên nữ ở trong mười sáu lâu đài bằng vàng. Không nói gì với chúng, nó lại bỏ đi và thấy một thành dạ-xoa ở giữa hòn đảo. Tại đấy có một nữ dạ-xoa sống dưới hình thức con dê. Mittavindaka không biết nó là nữ dạ-xoa, nắm lấy chân con dê để...

[14:51]dê ấy để ăn thịt. Con dạ-xoa nữ ấy với uy lực của mình, nhấc bổng nó lên và quăng nó. Nó bị quăng ngang qua biển, rơi xuống một bụi gai tại một cái hào khu nước, lăn tròn rồi đứng dậy. Lúc bấy giờ, tại cái hào ấy, bọn trộm thường đến giết dê của vua. Các người chăn dê đứng núp rình bắt trộm. Mittavindaka sau khi lăn tròn đứng dậy trên đất, thấy các con dê liền nghĩ: "Ta bắt chân con dê trên hòn đảo biển bị ném quăng rơi tại đây. Nếu nay ta lại bắt lấy chân một con dê, thời nó sẽ quăng ta đến chỗ các tiên nữ ở trong lâu đài trên mặt biển, lại bờ bên kia." Khi tác ý bất chánh như vậy, nó liền nắm chân một con dê.

[15:30]Con dê bị nắm liền kêu lên. Các người chăn dê từ nhiều chỗ núp chạy đến bắt nó và nói: "Đây là đứa ăn trộm đã bắt các con dê của nhà vua từ trước tới nay!" Chúng đánh nó, trói nó và dẫn nó đến trước mặt vua. Lúc bấy giờ, Bồ-tát với năm trăm thanh niên vây quanh, đang tắm gội để đi tắm. Thấy Mittavindaka, nhận được nó, Bồ-tát nói với các người ấy: "Này các bạn thân, đây là đệ tử của tôi, sao lại bắt nó?" Các người ấy nói: "Thưa Tôn giả, đây là đứa ăn trộm dê, nó bắt chân một con dê nên chúng tôi bắt nó." "Hãy giao nó cho chúng tôi, để làm người hầu việc. Nó sẽ dựa vào chúng tôi để sống." "Thưa vâng, tôn giả." Họ thả nó và đi.

[16:10]Bồ-tát mới nói: "Này Mittavindaka, từ trước đến nay, ngươi sống ở đâu?" Nó kể lại tất cả công việc nó làm. Bồ-tát nói: "Vì không nghe lời những người muốn mình hạnh phúc nên phải chịu khổ như vậy." Nói xong, Bồ-tát nói lên bài kệ này: "Với người muốn mình tốt, với người thương tưởng mình, cứng đầu không nghe lời, sẽ gặp điều sầu muộn, chẳng khác Mittaka nắm chặt chân con dê." Lúc bấy giờ, cả vị giáo sư và Mittavindaka đi theo việc của mình. Bậc Đạo Sư nói: "Này các Tỳ-kheo, chính Losaka này tự làm mình được ít sự cúng dường và phải chịu thống khổ." Sau khi nói pháp thoại này xong, Bậc Đạo Sư kết hợp hai câu chuyện và nhận diện tiền thân như sau:

[16:52]"Lúc bấy giờ Mittavindaka là Trưởng lão Losaka Tissa, vị giáo sư được tiếng bốn phương." Bài kinh này nói về nhân quả. Bây giờ chúng ta phân tích. Ở đây chúng ta nghe bài kinh đó xong, mình thấy cái nhân gì để làm cho Trưởng lão Losaka Tissa?

[17:12]Nếu mình nói trên cái hành động á, là vì không muốn cho người khác được cúng dường, nên mình không bao giờ được người ta cúng dường. Cho nên đây là cái tâm đố kỵ vậy đó. Trong đời sống cũng vậy, chúng ta rất dễ khởi cái tâm niệm đó, dù ngay cả người tu hành. Nhiều khi mình thấy một cái chùa bên cạnh mình, hoặc là mình thấy một vị Tỳ-kheo huynh đệ của mình, có được nhiều người yêu ái, tự nhiên mình có cái gì đó không muốn, không thích. Một cái không muốn, không thích rất nhỏ trong lòng mình, cũng đã trở thành một cái quả báo xấu là ngày sau này mình không được điều đó. Còn nếu khi mình thấy người này muốn giúp đỡ người kia,

[17:59]mình có cái tâm tùy hỉ, tán thán, để cho họ được điều đó luôn, thì mình được cái phước là sau này dễ được cúng dường. Hoặc là mình thấy một vị nào đó tu hành chân chính, rồi mình khuyến khích những người khác để cúng dường cái vị đó, thì mình cũng được cái phước là dễ nhận được sự cúng dường. Rồi thêm cái này nữa: Sở dĩ mà Trưởng lão Losaka Tissa bị quả báo quá nặng là bởi vì ngài đã xúc phạm đến một bậc A-la-hán. Nếu mà cái vị Tỳ-kheo khách kia là một người thường, không phải là người A-la-hán, thì Trưởng lão Losaka không bị quả báo quá nặng là đọa địa ngục mấy trăm ngàn năm, đọa làm quỷ đói, đọa làm chó, đọa làm người khốn khổ bao nhiêu kiếp.

[18:53]Không phải không đến nỗi như vậy. Chỉ vì xúc phạm đến bậc Thánh Tăng, cho nên quả báo của nó là khủng khiếp. Ở đây chúng ta thấy cái nhân quả là một điều gì mà chúng ta bày tỏ được cái sự cung kính đối với cái bậc Thánh, thì cái phước nó lớn gấp bội lần cái điều cung kính chúng ta biểu lộ đối với một người bình thường. Đó là cái nhân quả thực sự như vậy. Tuy nhiên, ở đây không phải là vì mình cung kính người khác để mình đi tìm cái phước, mà mình cung kính người khác bởi vì sao? Nó có hai mặt: một là mọi người đều đáng kính, và thứ hai là mình thấy mình nhỏ bé. Chính cái quan trọng cái thứ hai là cái mình thấy mình nhỏ bé

[19:49]để mà mình tu được cái hạnh gì? Khiêm hạ. Chứ chính cái mà cung kính tất cả mọi người, nó thành được cái hạnh cho mình. Mà cái hạnh thì nó mới là cái lớn. Chứ mình không phải là vì đi tìm cái phước mà mình lựa người này cung kính mà mình lựa người kia không cung kính. Đó là phải chỉnh mình trước. Đối với những bậc thánh dù chỉ là một cái danh hiệu, dù chỉ là nghe qua cái tiếng tăm mà mình vẫn biểu lộ được sự cung kính thì cái phước của mình là vô lượng. Tại vì thế này, với cái phước đó giúp cho mình thăng tiến trên con đường tu hành rất là xa. Ví dụ tôi ví dụ thế này, cách ở đây đến vài cây số nào đó có một vị chân tu đắc đạo.

[20:45]Mình nghe danh tiếng vị đó mình khởi lòng kính trọng, mình có tìm hiểu và có tán thán. Dù mình không gặp vị đó, chưa từng đảnh lễ, chưa từng cúng dường, nhưng mà với cái tâm niệm thôi đã khiến mình được cái phước vô hạn. Huống hồ là mình được đến tận nơi học hỏi, cung kính, cúng dường. Nhưng mà nếu mà làm được điều đó đúng chánh pháp thì đường tu hành của mình rất là suôn sẻ. Nhưng mình rất dễ bị kẹt ở chỗ này: ví dụ nơi đó có một vị chân tu đắc đạo, mình có nghe thế nhưng mình lại không tin. Mình không tin mà mình không biết. Có khi là thế này, mình nghe lời một người khác công kích mà mình tin theo cái lời của người công kích.

[21:34]Cái người công kích á thì vĩnh viễn là không thể đắc đạo được rồi. Mà mình nghe theo, mình cũng bị lây cái nghiệp đó để cho con đường tu hành của mình ngập tràn sóng gió. Nó chỉ với cái tâm niệm đó. Bây giờ chuyện nó rất thường, thí dụ như là tôi nói với Tôn sư chúng ta đi, Tôn sư Hoàng Đạt lập nên một hệ phái Khất sĩ phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng rất là rộng trong cái nền Phật giáo Việt Nam như thế này. Nhưng mà ví dụ như những người là đệ tử, tín đồ của hệ phái Khất sĩ thì đối với đấng Tôn sư không có gì phải thất đức. Nhưng những người ở các hệ phái khác như bên Bắc Tông hay là bên Theravada,

[22:21]nghe nói tới Tôn sư họ không kính, không tin và đôi khi họ bài xích nữa. Và có một lần, tôi được gặp một cuốn... đọc một cuốn sách, trong đó có một vị viết về cái sử Phật giáo Việt Nam thì có đề cập đến hệ phái Khất sĩ và Tôn sư. Trong đó, ông ta viết với ý hơi công kích. Tôi không biết gì về tác giả, nhưng sau khi đọc xong cái đoạn đó rồi, tôi đánh giá là: vị này sẽ thê thảm. Tại vì công kích cả một bậc đáng kính mà viết thành sách và in ra rất nhiều nơi để nhiều người cùng đọc. Tôi thấy vị này... vị này thê thảm rồi. Không biết kiếp nào tan. Quả nhiên vậy. Sau này khi mà tôi được biết nhiều người thuật lại

[23:04]về cái vị đó, thì thấy cuộc đời vị đó thê thảm. Suốt đời còn lại, do cái quả báo... Trước đó là học vị như vậy, thế này thế kia cho nên có chút phước, nhưng không có một đệ tử nào. Sống nói chung là cô độc, và danh tiếng bị tổn giảm, vân vân thế này thế kia, cho đến khi mất đi. Giờ mất rồi, mà tôi nghĩ rằng chưa hết, cái quả báo nó còn kéo dài lại trong kiếp sau chưa chắc gỡ lại được. Nó nguy hiểm như vậy. Thì chúng ta cũng vậy, mình có cái tâm là khách quan, luôn luôn hy vọng...

[23:45]Có cái tâm hơi lạc quan nữa, là luôn luôn hy vọng cuộc đời này có nhiều người tốt để cho... để cho chúng sinh có nơi nương tựa, bớt đau khổ. Trên thế giới này hiện nay là khoảng sáu tỷ người, nhưng mà chúng ta thấy có được bao nhiêu người chân tu đắc đạo? Không bao nhiêu. Nhưng mà mình có một cái sợ: vừa nghe một người nào đó tu hành có cái phong thần đặc biệt, mình không muốn tin, không muốn chấp nhận là mình hơi công kích. Đó là cái tâm lý chung, cái tâm đố kỵ bí mật bên trong mình rất thường hay bị. Và như vậy thì cái chuyện gì xảy ra? Phước mình bị mất, công đức tổn giảm, nhiều đời nhiều kiếp tu khó thành công bởi vì mình không

[24:32]có biết cung kính, không chấp nhận được cái hạnh tu của một người nào đó. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, nó có những điểm thế này: là cách Phật đã xa, có một số người tu hành được một số kết quả đặc biệt, là họ có kết quả chứ không phải không, nhưng mà chưa hoàn toàn viên mãn. Họ có được một số sự đặc thù trong tâm, có được ngộ, có thể nói về chân tâm, Phật tánh thao thao, có thể hiểu được thiền ngữ, có thể ngồi thiền được mấy ngày, vân vân, là có kết quả rất là cụ thể. Rồi nhưng mà vì chưa phải là hoàn toàn viên mãn, cho nên tà kiến chưa dứt. Nó cũng bị như vậy. Rồi khi mình được tiếp xúc với những vị đó,

[25:21]mình cũng nghe nói vị này tu hành đặc biệt, nhưng mà mình thấy cái đời sống của vị đó hoặc là biểu lộ những cái sơ suất trong cử chỉ, trong cái hạnh, cái mình không tin, mình phủ nhận cái công phu tu hành của người đó luôn. Và điều đó cũng là điều tổn phước. Cho nên ở đây chúng ta cần cái gì? Cần cái này: Cái ưu điểm mình biết là ưu điểm, cái nhược điểm mình biết là nhược điểm. Nên đòi hỏi mình phải có một cái chánh kiến rất là vững. Điều này chúng ta khó, khó biết được. Ví dụ như người đó tu hành được cái công phu đặc biệt thì mình phải công nhận vị này được công phu đặc biệt. Mình phải chấp nhận điều đó, không được chối cãi thì mình mới có phước.

[26:06]Còn những cái sơ suất của vị đó trong lời ăn tiếng nói hay trong là cái cử chỉ có những cái sơ suất, thì mình biết rằng là thì bởi vì vị này chưa hoàn toàn viên mãn, chứ không phải vì những cái sơ suất đó mà mình phủ nhận luôn cái công phu của vị đó. Mình cần có cái nhận thức khách quan như vậy. Và lòng mình luôn luôn có một cái lạc quan, hy vọng, mong mỏi cho mọi người đều tiến tu, được tu, có những kết quả cụ thể đặc biệt. Luôn luôn lòng mình phải có cái niềm mong ước đó. Chứ mình có cái tâm đố kỵ kỳ lạ lắm: Mình cũng tu hành như người ta, có khi mình tu trước người ta nữa. Nhưng mà nghe người ta tu sau mình có những

[26:48]điều đặc biệt cái mình thấy khó chịu. Rồi người ta được nhiều người khác biết tới, tới lui, cung kính cúng dường, cái mình cảm thấy có một sự bực bội, khó chịu, cái tâm đố kỵ bí mật thế là hại làm mình tổn phước vô cùng. Ở đây trong bài kinh chúng ta nghe nói ngày Điền chủ là một người thế thì Tỳ kheo trụ trì cái ngôi Tinh xá trong làng là một người tánh tình hồn nhiên, bộc trực dữ dắn, đâu phải là người xấu, thấy không? Một cái người hồn nhiên, bộc trực dữ dái, trụ trì một ngôi Tinh xá thì đủ để làm chỗ nương tựa cho những người dân trong làng rồi, cái điều đó rất tốt. Nhưng mà cái đố kỵ bên trong chưa được đốt sạch,

[27:35]khi đụng chuyện đố kỵ được khởi lên, phá tan sạch, gây cái nghiệp khủng khiếp cho mình, không biết bao nhiêu là đời là kiếp. Chúng ta đây cũng vậy. Chúng ta ngày giờ cũng là những người sống trong chùa bình yên, ngày đêm an vui với câu kinh, tiếng kệ, tới đúng giờ, đúng khắc thì mình cất chân lên mình tọa thiền, như là vị Tỳ kheo trụ trì Tinh xá vậy. Cũng luôn luôn chú tâm vào việc quán tu tập vô thường, vô ngã, chứ không phải là người không biết tu thiền, không phải là người không biết kinh kệ. Đó, nhưng mà cái đố kỵ còn nằm bên trong rất là lớn. Chúng ta cũng vậy. Đọc bài kinh này rồi chúng ta phải sợ nó dữ lắm.

[28:19]Chúng ta đang còn cái tâm đố kỵ bên trong để sẵn sàng thúc đẩy chúng ta gây một cái nghiệp khủng khiếp nào đó khi có dịp. Nếu từ bây giờ mà chúng ta không có cẩn thận kiểm soát, thì cái điều đó coi chừng có thể xảy ra. Chúng ta cũng là những người hồn nhiên, bộc trực dữ dắn, không có thua gì cái vị Tỳ kheo trụ trì Tinh xá đâu. Nhưng mà ngày nào đó, bất ngờ trong huynh đệ mình có một người tu tiến, có một cái sở đắc nào đó, nhiều người tôn tụng, ngưỡng kính, nhưng mà mình nghe người ta khen, mình chống đối: "Người đó tu sau, không có cái gì đặc biệt." Chỉ cần một câu nói đó thôi thì đủ để cho mọi công hạnh tu hành của mình dừng lại, không tiến được nữa.

[29:08]Mà chưa hết, là trong trường hợp mà chúng ta công kích những người đáng kính quá đáng, thì cái phước xuất gia của chúng ta sẽ chấm dứt rất sớm và chúng ta phải hoàn tục. Người mà hoàn tục có nhiều cái nguyên nhân, có rất nhiều nguyên nhân cho một người mà phải bị hoàn tục, không được tiếp tục làm người xuất gia. Có nhiều nguyên nhân lắm, nhưng trong đó có một nguyên nhân thế này là không cung kính người đáng kính, mà đôi khi còn công kích. Tôi đã gặp những người như vậy rồi, và có người ra đời, có người phải tàn phế vì chính mình phạm những cái mà mình nói xấu người khác. Còn những cái chuyện đó, còn

[30:00]nhiều chuyện tế nhị mấy ngài nói như vậy đó. Thì cái bài kinh này nó có nhiều cái để chúng ta phân tích về đêm hôm hết, nhưng mà cái điều mà coi thiết tha nhất

[30:13]để chúng ta trao đổi ở đây là chúng ta đừng nghĩ rằng mình đã hoàn chỉnh. Dù chúng ta thấy mình vẫn đang giữ giới, vẫn đang bình yên, vẫn đang tinh tấn tu hành, nhưng còn cái đố kỵ bí mật bên trong chúng ta chưa khám phá được thì một ngày nào đó sự nghiệp chúng ta tan vỡ. Bây giờ muốn để đối trị với cái tâm đố kỵ này, chúng ta phải làm sao? Phải biết đối trị cái tâm đố kỵ nó nằm trong lòng mình.

[30:46]Thứ nhất là tùy hỷ trước, thật lòng mà tùy hỷ. Tùy hỷ tức là vui theo. Khi mình thấy ai có cái công hạnh tu hành tốt, tức là họ gieo được cái nhân tốt bằng cái việc là làm phước, giữ giới, tọa thiền, vân vân, đó là những cái cái nhân tốt, mình vui mừng như chính mình làm để mình không còn cái đố kỵ, gọi là tùy hỷ.

[31:14]Rồi những ai mà được hưởng cái quả tốt, tức là ngày xưa họ đã gieo nhân, bây giờ họ hưởng quả, như là họ được nhiều vật chất, giàu sang, địa vị, danh tiếng, chứng đạo, vân vân, mình cũng tùy hỷ vui theo, tán thán, vui mừng trong lòng. Tức là mình tùy hỷ, vui mừng khi thấy người đó gieo được nhân tốt hay là hưởng được quả tốt. Tùy hỷ, đó là cái cách thứ nhất để mà diệt được cái tâm đố kỵ của mình. Cái cách thứ hai để diệt tâm đố kỵ là luôn luôn mong mỏi cầu nguyện cho tất cả mọi người đều hơn mình.

[32:00]Ví dụ như thế này, khi chúng ta ngồi trong lớp thế này thì khi làm bài có người điểm ít, người điểm nhiều, mà sự thật điểm số không chính xác đâu, tại vì tôi chấm bài tôi biết, nhiều khi mình có cái cảm tính á, chấm bài đầu thì khác, chấm qua mấy bài sau cái cái mà cái quy định về điểm số trong đầu mình nó không còn chính xác nữa, cho nên cái điểm số nó tương đối thôi. Mà có cái này, là mình luôn luôn mong mỏi cho huynh đệ của mình giỏi hơn mình, được điểm cao hơn mình, có trí tuệ hơn mình. Rồi trong đời sống tu hành trong chùa cũng vậy, mình cũng luôn mong mỏi huynh đệ mình giữ giới tinh nghiêm hơn

[32:37]mình, tọa thiền mau chóng đắc ngộ được nhanh hơn mình, rồi mình cũng mong mỏi cho huynh đệ mình được thầy yêu, được bạn mến hơn mình, mong mỏi cho họ được những cái việc ưu tiên, nhẹ nhàng, có nhiều thời gian để tu hơn mình, mình chấp nhận làm những việc cực khổ để cho huynh đệ mình có thời giờ tu. Những cái tâm niệm mà muốn cho mọi người hơn mình là diệt trừ được tâm đố kỵ.

[33:06]Mà cái điều mong mỏi đó mình phải làm bằng cách nào? Bằng cái lời phát nguyện mỗi đêm mỗi ngày. Ví dụ như khi mỗi đêm mình lạy Phật tụng kinh thì cuối cái thời kinh, mình khẽ thốt lên một lời nguyện, ước thầm trong lòng mình là: Cầu nguyện cho tất cả huynh đệ con đều tu tiến hơn con. Chỉ cần cái lời nguyện mỗi đêm như vậy là lòng đố kỵ của mình nó tiêu liền. Sau này khi huynh đệ mình được nhiều điều tốt đẹp, mình rất là vui mừng, bởi vì mình đã hằng đêm mình cầu nguyện điều đó. Đêm nay ráng làm được không? Về phòng cầu cho huynh đệ hơn mình, nhưng mà khuya dậy đem cái lộn ngược lại, mình hơn huynh đệ.

[33:52]Bây giờ hỏi nha: Tại sao khi đứa bé sinh ra thì cả làng gặp điều bất hạnh? Bởi vì nếu mà theo luật nhân quả đó thì ai làm gì thì nấy chịu, nhưng mà tại sao là cái nghiệp của đứa bé mà cả làng phải chịu điều bất hạnh: là đánh cá không có một con cá nào, vua xử phạt bảy lần, nhà cháy bảy lần, hồ nước cạn bảy lần? Tại sao? Đồng thanh... Ai ai có câu trả lời không nè? Cộng nghiệp. Cộng nghiệp nghĩa là sao? Nghĩa là nghiệp đứa bé lây qua hả? Nên chỗ này dễ hiểu lầm không? Nên khi cái câu chuyện mà thuật ra vậy, đứng về đa số là bị vướng, bị hiểu lầm, cứ tưởng là nghiệp đứa bé nó nặng quá rồi cái nó lây qua cả làng, như vậy rồi nó nó sai cái nhân quả.

[34:48]Đây nè, nghe cho kỹ để ý nha, là những người dân trong làng đó đều có cái nghiệp xấu hết, đều có nghiệp xấu, nhưng mà cái nghiệp xấu đó nó chưa có trổ ra thành quả hết, mà nó đợi đúng đứa bé đó ra, sự xuất hiện của đứa bé kích thích cái nghiệp xấu của những người kia trổ ra luôn. Để chi vậy? Để khiến rằng họ nghĩ cái bất hạnh của đứa bé nó lây cho họ, họ mới đuổi đi để đứa bé đó tiếp tục chịu khốn khổ. Tức là cái nghiệp đứa bé đó là bị cái gì? Bị người ta phải đuổi ra khỏi làng để đi lang thang. Mà muốn cho người ta đuổi khỏi làng để đi lang thang thì làm sao? Người ta phải đổ thừa mình là người gieo rắc bất hạnh.

[35:34]Mà phải làm sao để người ta đổ thừa mình gieo rắc bất hạnh? Bởi vì tự nhiên người ta đổ xui ra. Nhưng mà cái đổ xui của người ta là do ai? Do cái nghiệp người ta hết. Nhưng nó lại trổ đúng cái lúc có đứa bé để cho đứa bé bị bị mang tiếng. Hiểu không? Nghe kỹ chỗ này. Sai một ly, là sai nghìn dặm á. Đúng vậy, mình dùng cái chữ cộng nghiệp hồi nãy nè, nó không giống như cái cô của Út Hạnh nói, không phải cộng nghiệp là do nghiệp đứa bé lây qua, mà cộng nghiệp tức là trong cái làng đó họ có cái nghiệp xấu chung với nhau. Nhưng cái chung này chưa chắc là họ cùng làm một lúc nha, có thể cả làng đó ngày xưa không làm chung một nghiệp xấu đâu,

[36:23]mỗi người làm việc xấu nhưng mà tụ họp lại chung trong một cái làng đó. Ví dụ như là khi mà một chiếc xe đi trên đường bị lật, nhiều người bị thương, có người bị chết, thì chúng ta đừng nghĩ rằng là ngày xưa tất cả những hành khách trên xe đó cùng làm chung một nghiệp xấu để rồi đến ngày hôm nay cùng chịu chung một tai nạn. Cái nhân quả nó không có phải như vậy. Nó có thể là những người đó làm những việc xấu đời trước riêng rẽ, nhưng mà đến kiếp đó bị tai nạn, họ rủ nhau lên chung một chiếc xe, cho nên cái cộng nhân và cái cộng quả là khác nhau. Có những người làm chung một cái nghiệp ác lúc đó,

[37:06]nhưng mà khi trả quả trả riêng rẽ hết chứ không phải là trả chung một lúc. Rồi có trường hợp họ làm những cái nghiệp ác riêng rẽ nhau hết, nhưng mà đôi khi là trả chung một lần, cho nên chỗ này không cố định, không cố định. Ví dụ thế này, ví dụ như ở trong làng có ông đó hôm bữa đó ổng giết con chó, đè con chó ra ổng cắt cổ, thì ở quanh làng đó mấy ông cũng là sư phụ nhậu, cứ lơ tơ mơ lại đứng chơi chỉ: Cắt chỗ này cho nó chết lẹ, cắt chỗ kia lấy máu, mổ bụng chỗ này. Nói chi vậy? Nói để hy vọng có công á lát ông kia ổng cho ăn cái đùi, ổng rủ mời nhậu. Thì như vậy đã thành nghiệp chung chưa? Thành không? Thành rồi phải không?

[37:47]Tức là người chủ động giết, bao nhiêu người tùy hỷ hùa theo là thành chung một nghiệp. Nhưng mà khi trả thì chưa chắc là ba, bốn người đó bị trả một lần, mà mỗi người trả một chỗ. Cho nên cộng nhân chưa chắc đem lại cái cộng quả, còn cái cộng quả chưa chắc xuất phát từ cái cộng nhân. Cái một người trong chiến tranh họ bị trái mìn nổ tung chết ba bốn người cùng lúc, không phải là ngày xưa họ gieo cùng cái nghiệp. Mà ngày xưa họ gieo cái nghiệp rải rác rải rác, nhưng mà gặp nhau lại, hễ tránh nhau cái là cái quả trổ ra. Thì cái làng Đát-cát này cũng vậy. Có khi là dân làng cũng gieo lung tung chỗ hết trơn nhưng mà tụ trong một cái làng.

[38:29]Rồi đứa bé có số phải bị đuổi, đứa bé sinh ra là cái nghiệp của họ trổ ra. Khiến đứa bé phải bị đuổi ra khỏi làng. Chứ không phải là cái nghiệp của đứa bé làm mà làng bị hưởng nha. Không phải, tế nhị.

[38:45]Cái trường hợp đó là cộng nhân mà sinh ra cộng quả. Tức là cái lúc mà họ gieo nhân cùng lúc, đến lúc họ gặt quả cùng lúc. Đây là như Sư dạy nói đó, là có trường hợp cộng nhân sinh ra cộng quả, nhưng cũng có những trường hợp mà cộng nhân nó không ra cộng quả. Tức là cái luật nhân quả thế này nó hơi rộng rãi. Trong bài kinh này mình thấy có một điểm thế này. Là khi mà qua bao nhiêu kiếp làm thú, lên làm người tên là Mittavindaka nhưng tánh nó độc ác, khó dạy, hay đánh đập, hay đi lang thang, được Bồ Tát khuyên dạy nó vẫn không nghe theo. Là thường á, khi một người mà từ thú ra làm người thì mình thấy cái tâm của họ không thuần. Không thuần.

[39:36]Cái dung mạo của họ cũng đặc biệt. Mình biết rằng người này chưa phải là người từ kiếp trước. Mình nhìn chỗ này. Bởi vì sao? Bởi vì thú vật thường sống theo bản năng chứ không có cái tư duy cùng tiết chế để kiểm soát mình, để uốn nắn cái tâm hồn của mình, mà chỉ sống theo bản năng là khi đói thì ăn, khi giận thì sủa, thì la. Đó, như vậy. Còn loài người thì có cái lý trí để tự điều tiết, sửa mình. Nên ví dụ chúng ta thấy một người này mà cái tâm hạnh họ thuần hậu, chất phác, có lý trí, biết rằng họ vẫn tiếp tục làm người. Còn cái người mà họ không có trí tuệ lắm mà ươn bướng, sống theo bản năng, ít nghe lời ai thì thường là thú.

[40:28]Tuy nhiên, điều này có ngoại lệ. Điều này có ngoại lệ là thế này. Có những con thú mà thuộc loại hiền lành, có trực giác mạnh, khi nó lên làm người cũng là một người đặc biệt. Nhất là những con thú đó có làm được một số công đức khi nó làm thú. Ví dụ như bây giờ hiện tượng cá heo. Cá heo là loài cá rất thông minh. Thông minh mà cái thông minh của cá heo là bằng trực giác chứ không phải bằng tư duy. Ví dụ như là một cái người mà xuống giỡn với cá heo dưới hồ đó thì cá heo nó biết được tâm người đó hiền. Nó giỡn theo cái ý muốn của mình. Hoặc là những trên ghe trên sông người ta đi người ta kêu cá heo lại đua đó,

[41:12]kêu cá gược cá gược, tự nhiên nó nổi hàng đoàn hàng đoàn đua theo ghe liền. Thì nó biết, nó nhận được cái thông tin đó không phải bằng cái tiếng kêu mà bằng cái tư tưởng. Có những loài thú nó có trực giác mạnh. Rồi có những loài cá heo mà người ta luyện để cứu người ở nơi các bãi biển. Thì cá heo vậy đó, nó cứ bơi lòn vòng lòn vòng ở những cái bãi biển cho du khách tắm. Nếu trường hợp gặp người chết đuối là tới nó vớt đem vô bờ liền. Được huấn luyện như vậy. Thì tuy là thú mà nó có hai đặc tính: là có làm phước và có trực giác thông minh. Nên những cái con cá đó mà sinh làm người cũng là những

[41:46]người có phước và rất rất có trực giác mạnh. Đời này chúng ta gặp những người như vậy họ tự nhiên có cái trực giác mạnh lắm, có thể coi bói được. Nhất là những thầy bói á, mình đừng có tưởng là họ chỉ bình thường như mình, nhiều khi mình nói họ là mê tín dị đoan, sự thực không phải, họ có cái trực giác bẩm sinh. Chứ không do tu luyện, nhiều khi mình tu luyện gần chết vậy chứ chưa có trực giác. Còn mấy bà thầy bói hút thuốc phì phèo, tay năm bảy cái nhẫn, thế mà không biết bả kiếp con gì lên mà có trực giác mạnh, coi bói nói đâu trúng đó. Trường hợp đó có. Họ bình thường rất là tầm thường, không biết tu biết hành gì hết,

[42:25]nhưng mà nhìn người ta có cái trực giác đoán được quá khứ, vị lai. Nó không phải do xuất phát từ sự tu tập, mà nhiều khi nó từ một cái kiếp thú mà con thú đó có trực giác. Những loại chim mà có trực giác, những loài cá có trực giác rồi thành người nó cũng có được cái đặc tính đó, nhưng cái hạnh của họ vẫn là người tầm thường. Còn những trường hợp như là những con chó mà được huấn luyện để làm lợi ích cho chủ, những con chó mà ở trong chùa mà giữ được chùa cũng thành công đức lớn. Hoặc là những con cá heo được huấn luyện để giúp người ở nơi sông, nơi hồ, nơi biển thì cũng thành cái phước. Như vậy, thú thành người thì thường là những người có tâm hạnh

[43:08]tầm thường, thấp kém nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ. Ở đây sư mấy cô có nghe trường hợp mà người ta đang khuyến khích đẻ ở dưới nước? Có nghe có đọc mấy bài báo nói về việc đẻ dưới nước chưa? Nghĩa là cái giáo sư ở Liên Xô ổng nghiên cứu rằng khi một người đàn bà mà mà sinh đẻ đó, nếu đem lên sinh đẻ dưới nước, mình nghe mình ngạc nhiên ha? Thì ổng chứng minh đầy đủ hết, rồi nhiều người thực hiện mà thành công. Là để ngâm mình dưới nước mà đẻ con ra. Cái nghiệp nó rớt lại nó báo hiệu đó, đó là cái báo hiệu của những con cá, đặc biệt là nó thành người thì tự nhiên khiến phải đẻ dưới nước để,

[43:51]đó là một cái dấu hiệu kỳ lại mà mình không tinh ý mình không để ý. Cái người mà có cái tinh ý về luật nhân quả, nghe trường hợp đó biết liền. Biết trường hợp đây là cái khoa học phát sinh để ghi lại cái dấu hiệu cho những con cá này. Không cần chỉ bên Thiên Chúa, phần bên Thiên Chúa thì không hiểu nổi, nhưng mà mình là Phật tử mình đọc mình biết liền. Là Chúa Giê-su, trước khi Chúa Giê-su ra đời thì đạo Do Thái tu theo kinh Cựu Ước. Đến khi Chúa Giê-su ra đời thì Chúa mới dạy, những lời dạy của Chúa được ghi lại thành cuốn gọi là Phúc Âm. Phúc Âm nằm trong phần Tân Ước. Sau khi những nhà tôn giáo nghiên cứu thì thấy

[44:40]rằng cái giáo lý Cựu Ước rất là cực đoan, khắt khe, đặt niềm tin nơi Chúa Trời Giê-hô-va một cách như là giống như người cuồng quái. Người Do Thái họ cực đoan. Nhiều phái Pha-ri-si, Sa-đu-xê mà thờ cái đạo Do Thái cực đoan. Đến bây giờ vẫn còn phái đó. Nhưng khi Chúa Giê-su ra đời, Chúa, những lời dạy của Chúa, Chúa lái những cái lời dạy trong Cựu Ước lại, nó rất gần với đạo Phật. Ví dụ như người ta không biết gọi là gì? Như là Chúa hay nói là: "Nước Trời rất gần, Nước Trời rất gần". Lúc đó là người Do Thái bị người La Mã đô hộ. Họ nghe Chúa nói: "Nước Trời rất gần", họ nghĩ rằng Chúa Giê-su chắc sắp sửa

[45:27]lãnh đạo dân Do Thái đánh đuổi người La Mã giành độc lập cho Do Thái và xây dựng Do Thái thành nước thiên đường. Thì có một người mới đến hỏi: "Thưa ngài, tôi nghe những lời dạy của ngài rất là chí lý. Thế ngài nói: 'Nước Trời rất gần, Nước Trời rất gần', nghĩa là chừng nào mới xảy ra?". Ý là nói chừng nào Chúa mới bắt đầu khởi nghĩa. Chúa Giê-su mới trả lời: "Ta nói Nước Trời rất gần, có nghĩa là không ở bên này, không ở bên kia mà ngay trong chính ngươi". Thì mình thấy cái lời dạy đó gần đạo Phật không? Rất là gần, phải không? Rồi khi mà Chúa bị đóng đinh trên thập giá giống như một bản án tử hình, từ sáng tới chiều ngài chết.

[46:09]Thấy ngài tắt thở rồi đem xuống chôn ngoài đá, mấy ngày sau ngài sống lại rồi ngài biến mất. Có một nhà học giả ổng đi tìm tất cả những cái di tích ở bên Ấn Độ và Tây Tạng, ổng mới viết thuyết, ổng khẳng định rằng khi Chúa Giê-su mà

[46:27]phục sinh lại đã trốn sang Ấn Độ sống suốt phần đời còn lại. Và ổng tìm ra cái ngôi mộ luôn, chứng minh, ổng tìm chứng trong các tàng thư của Ấn Độ và tàng thư của Tây Tạng. Có một chuyện này. Có một chuyện kể lại ở Peru năm một ngàn năm trăm năm mấy đó, năm sáu trăm mấy, có thánh Martin de Porres là một vị thánh da đen của Peru.

[46:53]Vị thánh này có thần thông ghê sợ, chữa bệnh chớp nhoáng. Ổng phân thân ra khắp thế giới. Ổng vẫn sống ở Peru mà người bên Phi Châu thấy ổng, người bên Trung Hoa thấy ổng, người bên Nhật Bản thấy ổng. Và rất là nhiều chuyện thần thông. Khi ổng bị bệnh nặng gần chết thì những cái những đệ tu bên Thiên Chúa mới đứng chung quanh mới tụng kinh. Ổng mới nằm ổng ổng mệt mỏi, ổng thở. Lúc đó tụng kinh tới cái câu này: "Khi ấy, Ngôi thứ hai trên Trời xuống làm người ở cùng chúng tôi". Đọc tới câu đó xong là thánh Martin de Porres tắt thở liền. Người Thiên Chúa họ đọc cái chuyện kể lại họ không hiểu gì hết, nhưng mình hiểu liền.

[47:31]Ngôi thứ hai là tượng trưng cho Chúa Giê-su. Ngôi thứ nhất là Chúa Trời, Ngôi thứ hai là Chúa Giê-su, Ngôi thứ ba là Đức Thánh Thần. Khi ấy Ngôi thứ hai ở trên Trời xuống làm người ở cùng chúng tôi. Nghe câu đó thánh Martin de Porres chết liền. Là muốn nói điều gì?

[47:47]Muốn nói điều gì? Sư thấy không? Hồi nãy nghe đẻ dưới nước biết cá làm người, bây giờ nghe câu này phải hiểu. Nghe cái dấu gì ở nơi mình? Tức là ngài là sự trở lại của Chúa Giê-su. Cho nên ngài tu đâu có bao nhiêu mà thần thông tuyệt vời. Đó là những cái dấu hiệu như vậy. Bây giờ trở lại vấn đề trong bài kinh là khi một người mà muốn thay đổi cái cõi để mình đến thì mình phải đổi cái gì? Ví dụ như con thú mà muốn lên làm người thì nó phải có điều kiện để cho tâm của nó không có sống theo bản năng, được huấn luyện, có làm công đức thì rất dễ làm người.

[48:33]Bây giờ con người mình cũng vậy, ví dụ mình muốn về một nơi mà hạnh phúc hơn, an lạc hơn... Chung quanh mình là những người cao thượng, đạo đức, một cuộc đời tu hành dễ dàng thì mình phải thay đổi cái gì trước? Phải đổi nội tâm trước. Ví dụ như chính cái nội tâm á, nó quy định cái cõi giới mình đến. Ví dụ như là tôi được sống ở đây với mấy sư, mấy cô, là tôi biết đời trước chắc tôi cũng có ráng sửa tâm tôi một chút, đời này may mắn mới gặp được ngồi đây mà gặp mấy sư, mấy cô. Chớ nếu mà đời trước mà hơi cà chớn, chắc giờ này không được trông thấy mấy sư, mấy cô mà hiền lành, thanh tịnh, nghiêm trang như vầy đâu.

[49:16]Có một đoạn trong bài kinh này là thế này, là: "Do cái quả giữ giới trong thời Đức Phật Ca Diếp nên Mittavindaka hưởng lạc thú với các tiên nữ trên đảo." Kỳ lạ! Tại sao cái nhân giữ giới nó phát sinh ra cái quả hưởng lạc thú? Tại sao? Như thế này: khi một người giữ giới thì người đó có làm lợi gì cho người chung quanh không? Mình giữ giới cho bản thân mình thì có làm lợi gì cho người chung quanh không? Vậy chớ lại là làm lợi. Chính cái người giữ giới gây được niềm tin cho những người khác, làm họ tin đạo, phụng sự đạo, cho tình huynh đệ. Cho nên đó cũng cái phước làm lợi cho chúng sinh, chưa phải bằng lời nói.

[50:04]Ví dụ như tôi có thể là mình đi giảng, mình làm lợi ích chúng sinh bằng lời nói, nhưng mà rủi mà tôi cà chớn thì hại cũng bấy, hại thêm. Còn cái vị đó họ không cần nói, họ chỉ giữ giới thanh tịnh, không cần nói, đủ để thuyết phục người khác. Cho nên giữ giới cái phước lớn như vậy. Nhưng mà qua nhiều đời làm ngạ quỷ, súc sinh, cái tâm và cái mục đích nó hướng về giải thoát hết. Cho nên cái quả báo nó đi lạc qua cái bên thế gian. Cho nên chúng ta gieo một cái nhân mà tùy cái tâm của mình đặt chỗ nào, cái quả nó sẽ đi đến chỗ đó. Ví dụ như là chúng ta đắp một con đường để đi vào chùa thôi, rồi mình có cái nguyện là:

[50:46]"Con nguyện nhờ công đức đắp đường này để cho Tăng Ni đi qua lại, con được cái phước giác ngộ, giải thoát." Tức là một cái một việc làm thế gian, một cái nhân một cái phước thế gian nhưng mình hướng về quả báo xuất thế gian thì sau này nó sẽ đi về quả báo đó. Còn một người cất một cái chùa, rõ ràng là gieo cái nhân xuất thế gian, nhưng mà phát nguyện: "Đời sau cho con làm công chúa." Thí dụ công chúa đi, thì ừ quả báo sẽ đi lạc qua hướng kia, lạc qua thế gian do cái tâm hướng. Cũng vậy, do cái nhân giữ giới

[51:22]nhưng mà qua nhiều đời kiếp á mất cái cái mục tiêu giải thoát, cho nên cái quả báo nó nó lạc qua bên lạc thú thế gian. Đây là chúng ta để ý, cho nên từ đây chúng ta một cái việc công đức nào, nhớ hồi hướng về cho kết quả vô thượng Bồ-đề hết. Thứ hai nữa, khi mà cái phước cái giữ giới nó đi lạc qua bên lạc thú hết rồi, thì cái quả vị A-la-hán đời này do đâu mà có? Quả vị A-la-hán mà của Trưởng lão Losakatissa trong đời Đức Phật Thích Ca do đâu mà có? Khi mà cái phước quá khứ của phước cái phước giữ giới cũ nó chạy lạc qua bên bên lạc thú thế gian hết rồi, thì cái phước ở đâu để mà ngài chứng được quả A-la-hán trong đời Đức Phật Thích Ca?

[52:07]Tại vì ví dụ trong một kiếp đó không đủ để cho mình chứng ngộ. Nếu bắt đầu tu một kiếp đó thì không bao giờ đủ để mình chứng. Cái người mà đời đó đều đắc ngộ, phải biết rằng họ nhân từ những kiếp trước. Ví dụ như đời Đức Phật Ca Diếp ha, thì ngài đã từng phát tâm tu hành rồi, đã từng giữ giới. Nhưng mà qua nhiều kiếp đọa trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cái mục tiêu lu mờ, nên nó mới quả báo giữ giới nó mới lạc qua điều mà hướng cái hưởng cái lạc thú với các tiên nữ. Thì cái nhân đó nó còn khuyết, sơ trúng, nhưng không đủ để đời Phật Thích Ca ngài đắc A-la-hán. Ngay cả chúng ta ngồi đây cũng vậy.

[52:47]Thì trong đời Đức Phật Ca Diếp mình cũng có mặt, chứ đâu phải là mình không có mặt? Thấy không? Mình tới giờ này mình cũng chưa giải thoát. Mấy sư cô quên cái chỗ này: lúc đó Phật Thích Ca đang làm Bồ tát, là vị giáo sư mà hướng dẫn dạy ngài với 500 thanh niên. Nhớ không? Đó! Đó là cái duyên của Trưởng lão với Phật Thích Ca. Và cứ nhiều kiếp nữa, nhiều kiếp nữa, đời đời do cái tâm từ bi mà Đức Phật không có bỏ chúng sinh á, thế là Mittavindaka mỗi lần đầu thai lại cứ gặp Bồ tát Thiện Tuệ, ngài dạy mỗi lần ngài một chút, mỗi kiếp ngài dạy thêm một chút, cho tới cái ngày dạy thiền quấy, và ngài lại hướng tâm về giải thoát.

[53:26]Đến cái đời mà Bồ tát Thiện Tuệ đó ra đời để làm Phật Thích Ca thì tất cả những đệ tử mà ngài, những người có duyên mà ngài đã giáo hóa trong bao nhiêu kiếp mà ngài làm Bồ tát á, thì lúc đó cũng ra đời để chứng A-la-hán với ngài. Đó, chúng ta để ý, đây là cái hạnh Bồ tát. Cho nên qua cái bài kinh này nó có thêm cái nhân quả của Bồ tát vào đó nữa. Nghĩa là một ngài ra đời làm Phật có rất đông đệ tử chứng đạo, bởi vì những kiếp xưa khi còn là Bồ tát đã giáo hóa rất nhiều chúng sinh, chuẩn bị cho họ cái ngày đó, cái ngày khi mình ra đời thành Phật thì họ cũng ra đời chứng đạo thành A-la-hán hết. Đó là như vậy.

[54:06]Cho nên nhân duyên một vị Phật vĩ đại, ghê gớm, chứ không phải chuyện thường đâu. Chuẩn bị cho ngày mình thành Phật quả là chuẩn bị trong vô lượng kiếp. Còn ngày nay chúng ta chưa có sự chuẩn bị đó, bởi vì mình đang tu. Khi nào mình bắt đầu có cái đắc đạo rồi á, ngày đó mình biết nhân biết quả hết, biết chúng sinh nào cần giúp, chúng sinh nào cần dạy, thì từ đó bắt đầu mới đi trong luân hồi để dạy, giáo hóa chúng sinh mãi. Đó là như vậy. Cho đến cái ngày mà mình tuyên bố ra đời để thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì tất cả những người kia họ đủ chín muồi để chứng đạo hết. Luôn luôn một vị Phật ra đời là có rất nhiều đệ tử đắc đạo là

[54:44]như vậy, là sự chuẩn bị lớn lao trong nhiều kiếp luân hồi. Chúng ta nhớ cái đoạn đó, ngài nói đó: "Vị giáo sư danh tiếng bốn phương tăm tiếng." Cái phước để đắc đạo là tu đúng, mình phát tâm đúng. Dù có Phật hay không có Phật, miễn mình tu đúng đường, phát tâm đúng đường thì đều đắc đạo. Trường hợp Trưởng lão Losakatissa là một người không có khả năng tu, không có cái hướng tâm thì phải nhờ người giáo dục. Thì cái người mà đứng ra làm việc giáo dục đó, hướng dẫn đó là Bồ tát, Bồ tát Thiện Tuệ, tiền thân của Đức Thích Ca. Còn người mà mặc dầu không có Phật, nhưng được học lời dạy của Phật, thực hành theo lời dạy của Phật, hướng tâm đúng thì vẫn giác ngộ như thường.

[55:34]Chuyện đó chuyện bình thường, đâu có gì. Nhưng riêng trường hợp Trưởng lão Losakatissa và rất nhiều chúng sinh khác, cái khởi điểm và sự hướng dẫn, dìu dắt qua nhiều kiếp thì may mắn là được Đức Phật trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt. Mà chúng ta nhìn vào đoạn kinh này để hiểu rằng: là sự chuẩn bị ra đời của Đức Phật là sự chuẩn bị của nhiều kiếp, mà ngài ra đời để ngài thành Phật thì không phải là ngang cái đời của ngài hết. Cái ảnh hưởng qua lời dạy của ngài, lợi ích cho chúng sinh còn dài dài sau khi ngài nhập Niết bàn nữa. Bởi vì sao? Bởi vì khi mà từ cái lúc ngài làm Bồ tát cho đến lúc thành Phật,

[56:17]ngài đã giúp cho chúng sinh gieo cái duyên giải thoát rất nhiều. Có người trước khi ngài làm Phật đã giác ngộ, gọi là những vị Độc Giác Phật. Có người cũng nhờ sự gieo duyên của ngài, đến khi ngài ra đời làm Phật, người đó đắc đạo, giải thoát. Có người sau khi ngài nhập diệt mới đủ nhân duyên để giải thoát. Nhưng tất cả những điều đó đều là sự chuẩn bị của ngài từ nhiều kiếp trước. Đời đó họ ra đời làm vị Bích Chi Phật, nhưng mà đều do cái nhân từ một kiếp nào trước kia hết. Như chúng ta sẽ nghe đọc lại trong những cái Bổn Sanh hay này nọ hoặc là những kinh, Đức Phật vẫn thọ ký cho những người này,

[56:59]người kia là đời nào đó sẽ ra đời làm Bích Chi Phật, lúc đó không có Phật. Nhưng mà sao? Bởi vì đã gieo nhân với Phật Thích Ca rồi, gieo một cái nhân gì đó rồi. Khi Phật nhập diệt, mà người đó cái nhân đủ để đi đến lúc đó, có thể không còn Phật pháp nữa, nhưng vẫn đủ sức tự mình giác ngộ. Nhưng mà không phải là kiếp đó, cái nhân đã gieo từ đời Đức Phật nào, chứ không có tự nhiên. Luôn luôn xuất phát từ một bậc đắc đạo nào đó để thành một ngọn lửa nó nối tiếp, nối tiếp. Mình trong một kiếp nào đó nếu mình có cái phước làm Bích Chi Phật thì trong một kiếp xa xưa mình đã từng gặp một vị Thánh nào đó,

[57:37]hoặc là gặp Phật, hoặc là một vị A-la-hán nào đó để mình gieo cái nhân duyên đó. Sau này khi cái sự hướng dẫn không còn nữa, nhưng cái phước mình còn thì đến lúc đó vẫn phải ra đời giác ngộ. Như là trường hợp cái câu nói này, là: "Như ngọn đèn trong chiếc ghè, điều kiện để thành A-la-hán chói đỏ trong tim của nó." Nghĩa là đứa bé đó ra cái kiếp cuối cùng này phải trả cái quả báo cho mà đã làm từ thời Đức Phật Ca Diếp, nhưng mà cái nhân để thành A-la-hán đã đủ thì không ai có thể làm hại đứa bé này được và bắt buộc phải chứng A-la-hán. Cái câu hồi nãy trong kinh mình nói đó. Hoặc là Tôn giả Bạc-câu-la á, còn trong chữ

[58:20]Pali là Bakkula, Tôn giả cũng vậy, cũng là người ra đời mà điều kiện để thành A-la-hán đã chói đỏ trong tim của ngài, nên ngài khi mà cái người mẹ quăng ngài dưới sông, con cá mập nó đớp ngài, nuốt vô bụng, không chết. Đi qua cái làng khác có người đánh cá vớt lên, mổ bụng ra, ẵm đứa bé ra sống. Trường hợp Tôn giả Bakkula. Đấy, ngài sống sung sướng suốt một đời, đến 80 tuổi mới gặp Phật pháp xuất gia. Xuất gia 7 ngày sau chứng A-la-hán. Cho nên đọc những bài kinh như thế chúng ta mới thấy: một người ra đời mà được chứng đạo, đó là cái quả báo được chuẩn bị nhiều kiếp, không có chuyện tự nhiên.

[59:00]Dù cho người đó là ra đời để tức là được là quả báo trong đồ hàng, đều có báu A-la-hán, được A-la-hán hay là thành Bích Chi Phật, luôn luôn đều có cái nhân xa xôi từ những kiếp trước.

[59:13]Mình bây giờ mình không biết có nhân hay không, cứ ráng tu. Lỡ có nhân thì qua ngày mai, mốt nó đắc đạo; còn chưa đủ nhân thì cuối đời đắc đạo hoặc kiếp sau đắc đạo, không lo, gieo cái nhân trước. Còn quả nó đến thì tự nó đến. Một chuyện nữa đức là tại sao mà khi người ta đổ cháo vào bát của tôn giả thì cái cái bát thấy như đầy tràn cái không đổ nữa, mặc dù không có múc một muỗng nữa. Thấy đầy cháo rồi người ta người ta để lại. Nên là tôn giả luôn luôn được ăn rất ít, cho nên chết rất sớm. Lúc ngài Xá Lợi Phất tới là già rồi, hai hàng lông mi rớt. Mà đến khi ngài nhập Niết bàn thì chừng là ngài Xá Lợi Phất nhìn

[59:54]đến, mới biết rằng ngài mất rất sớm là do thiếu ăn trầm trọng. Suy dinh dưỡng trầm trọng nữa kìa. Thọ hành lần lần giảm thiểu. Thọ mạng bị ảnh hưởng bởi thức ăn quá thiếu thốn. Ngài đã đắc A-la-hán, tuy mà nó không ảnh hưởng tới cái nghiệp. Tại sao mà cái ảo ảnh nó xuất hiện?

[1:00:14]Cái đó là do phước, do nghiệp của mỗi người tạo ra cái ảo ảnh đó. Trên đời này chúng ta gặp rất nhiều trường hợp đó, là có nhiều thầy đó khiến phật tử đêm nằm mơ cứ thấy là cái vị sư, vị cô đó tới khuyên tu hành này kia nọ, cái hết sức là tin tưởng rồi cúng dường mỏi tay luôn. Đó là những cái cái ảo ảnh trong giấc mơ mà do cái phước của cái vị thầy, vị cô đó khiến cho người phật tử thấy giấc mơ như vậy. Chứ không phải là do vị thầy, cô đó linh thiêng mà tạo ra giấc mơ cho người ta, không phải như thế. Như trường hợp bản thân tôi cũng bị nữa. Tôi kể câu chuyện nghe mắc cười mà nhiều trường hợp xảy ra trùng hợp chứ không phải một lần.

[1:00:53]Có một người phật tử quy y với tôi đó, buôn bán ngoài chợ. Bữa này nó có cái món hàng mua món hàng để bán lại cái người ta trả giá thấp, bị lỗ, giận, tức quá này. Cái người mua vừa mới chê, vừa mới trả giá chê xong rồi bỏ đi, cái ngồi thấy ghê, không biết vái ai, vái tôi. Thì cái người mà chê quay trở lại khen món hàng đó mua giá rất cao, được lời. Cái chạy lên kể lại cho tôi nghe. Thầy vô tâm vô niệm không biết là lúc thầy ngủ hay làm gì thầy không biết nha, đổ thừa thầy. Đó mà không biết làm sao. Cứ như cái ác bị như vậy, thì tôi mới giải thích thế này: từ xưa đến giờ vẫn có nhiều trường hợp tương tự như vậy xảy ra,

[1:01:35]mà hoàn toàn không phải là do cái hay của cái người thầy, người cô đó. Mà cái này là cái làm hư đạo. Nên sau này mình coi có những vị giáo chủ xuất hiện theo kiểu này, họ hoàn toàn không có thần thông gì hết. Nhưng mà cái phước của họ khiến cho người đệ tử vái tên họ cái mua may bán đắt, đêm nằm mơ cứ thấy ông thầy tới ban cho con phước lành, xé ra được tiền bay, tin ông thầy mình như ông thần. Rồi cái đồn đồn đồn đồn ra thành cả một cái giáo phái, rồi ngài trở thành một cái giáo chủ mới, rồi đi lạc vào tà kiến hết trơn. Không còn biết dựa vào nhân quả, biết tu nữa. Đó, trường hợp đó rất nhiều.

[1:02:12]Cho nên như bên Mỹ có cô gì như đây cũng xưng ngôi theo kiểu đó đó. Mà đó là cái kiểu làm hư đạo, mà bản thân tôi cũng bị, mà tôi vội vàng đính chính liền. Nói hoàn toàn thầy không biết gì hết, thầy vô tội. Thầy không có khen cái này. Cái đó là cái hên xui may rủi, cái trúng đắc thời rồi. Chứ vậy thôi, hoàn toàn không phải vậy. Mà hên xui là do nhân quả của chính mình. Nhưng mà còn có những vị thấy nghi là người ta kể, nghe đệ tử kể chuyện dường như tự đắc, à ờ thấy thầy đó. Tạo một cái hư danh. Cho nên ở đây chính cái phước nghiệp tạo nên ảo ảnh, giấc mộng mà có nhiều giáo chủ đã trở thành huyền thoại là

[1:02:53]do những kiểu ảo ảnh như thế này, chứ không phải là có thật. Cho nên chúng ta hiểu được đúng những sự thật đó. Chúng ta để ý thêm một vài cái chi tiết nhỏ nhỏ trong bài kinh này mà thấy thú vị. Ví dụ như là Trưởng lão Xá Lợi Phất rất là thương, từ từ xa tới Sa-kê-ta ngài thấy cuối cùng ngài có ngài đi xin ăn, đi xin giùm cho mà xin không được. Tôn giả người ta ghét tới độ mà người ta gặp hai ngài người ta không chào nữa. Trong Thinh Văn nghe, không thèm chào nữa. Rồi ngài kêu để chờ để đưa cháo đi thì quăng qua quăng lại, tới lúc ngài đích thân xin về cầm cái bát đến, nhờ thần lực mới giữ cái bát lại, chứ ngài buông tay ra biến mất.

[1:03:35]Cũng biết là cái nghiệp cuối cùng phải trả trước khi mà nhập Niết bàn, phải trả cho hết nghiệp của mình. Đó là tại sao mà Phật cũng hay bị bệnh khi mà trước khi nhập Niết bàn. Tôn giả Xá Lợi Phất cũng bị bệnh thê thảm trước khi nhập Niết bàn. Ngài Mục Kiền Liên bị đánh rồi mới thấy nhập Niết bàn vậy. Những nghiệp xót xót xót xót từ trong nhiều kiếp nó dồn vô trả hết để vào Vô Dư Niết Bàn rồi.

[1:03:59]Đây là muốn nói là cái lòng từ bi của một vị thầy, của một vị A-la-hán. Nhưng vị A-la-hán không phải là một người hờ hững với chúng sinh mà là một người sống từ bi thương yêu tất cả mọi người. Thêm hình ảnh này để chúng ta hiểu, đừng bao giờ nghĩ A-la-hán là khô tình, không phải. Là người tràn ngập lòng từ bi, coi còn nhiều. Nguyện đem công đức này hướng về

[1:04:30]khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.