Transcript: Thanh Niên Với Việc Học - TT. Thích Đức Thiện

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 43:24

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:44]Hôm nay thì như trong các cái bài phát biểu của chư Tôn đức, Hòa thượng Thích Thiện Duyên. Và chúng ta cũng phải rất là tri ân công đức ngài, ngài là năm nay 87 tuổi, gần 90 tuổi mà ngài cũng mới bay từ Đà Nẵng, tức là đi từ Quảng Nam, Đà Nẵng ra để mà tham dự động viên với các bạn trong hội trại thanh niên Phật tử lần thứ nhất năm 2015 tổ chức tại đây. Và trong những bài phát biểu của Hòa thượng Phó Thường trực, hay là những bài phát biểu của ông Giáo sư Tiến sĩ Phạm Dũng - Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ, và đặc biệt là những cái phát biểu và tâm sự của anh Nguyễn Phi

[1:27]Long là Bí thư Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam thì đều thấy rằng là một cái sự gửi gắm, một cái niềm tin trông cậy, một cái niềm tin vào thế hệ trẻ và vào đặc biệt là vào các bạn trong hội trại ngày hôm nay. Bởi lẽ rằng là tương lai của đất nước, của dân tộc và tương lai của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, của Phật giáo Việt Nam thì cũng trông chờ một cái phần lớn ở cái sức trẻ của các bạn, ở cái niềm tin và trách nhiệm của các bạn. Và muốn có đáp ứng được những cái sự mong đợi đó, thì trước hết các bạn thanh niên, sinh viên, các bạn thanh niên Phật tử, thế hệ trẻ chúng ta

[2:16]thì trước hết chúng ta thấy là cái nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là nhiệm vụ học. Cho nên là Ban Tổ chức ở đây thì Thượng tọa Thanh Điện và Thượng tọa Chân Quang đã cũng đã chọn một cái chủ đề là cái chủ đề về cái việc học tập. Học tập thì chúng ta biết là công việc suốt đời. Và như các bạn biết đấy, thì trong cái cuộc đời của mình thì chia ra những cái quãng thời gian của cuộc đời khác nhau và chúng ta đang ở cái quãng đầu tiên của cuộc đời khi mà chúng ta được sinh ra, chúng ta lớn lên và đến trường thì cái vai trò xã hội của chúng ta hiện nay chính là cái vai trò học tập, vai trò học tập. Và để rồi khi chúng ta trưởng thành có cái sự nghiệp thì chúng ta chuyển sang

[3:06]một cái vai trò xã hội khác là những cái vai trò xã hội cống hiến, phục vụ và có trách nhiệm với gia đình, với những người xung quanh và với xã hội, và để rồi chúng ta sẽ sang một cái giai đoạn tiếp theo nữa của cuộc đời xế chiều bên kia thì chúng ta lại có những cái trải nghiệm khác. Và dù ở giai đoạn nào thì chúng ta sống làm sao đó và học tập làm sao đó để mà có ích cho xã hội, cho mình và cho xã hội. Thế thì đối với chúng ta hiện nay á là cái vai trò của chúng ta là vai trò học tập, vai trò học tập. Chúng ta lớn lên thì đều phải học tập và làm cái gì thì chúng ta cũng đều phải học, cái gì cũng phải học.

[3:50]Không có cái gì là không học cả, cho dù những cái bản năng tự nhiên bẩm sinh thì cũng phải trải qua những cái kỹ năng, những cái kỹ năng học tập để mà chúng ta rèn luyện để có được cái kỹ năng tốt nhất. Thế thì với thanh niên của chúng ta, việc học tập là một cái việc rất là quan trọng. Và đối với thanh niên Phật tử thì cái việc học tập còn quan trọng hơn. Bởi lẽ với chúng ta thì học tập có thể nói là ở hai cái cái lĩnh vực khác nhau, cũng có thể nói là hai cái hình thức khác nhau. Chúng ta nói đến học tập á là chúng ta nghĩ rằng là cái việc mà chúng ta học những cái kiến thức, những cái tri thức chung của nhân loại, đấy là chúng ta học tập dưới mái trường.

[4:39]Khi mà chúng ta lớn lên, chúng ta được cha mẹ dạy dỗ, sau đó thì đưa chúng ta cắp sách đến trường, và chúng ta được thầy cô trao truyền những cái kiến thức, những cái căn bản, những cái kiến thức, những cái tri thức căn bản. Đấy là cái gọi là cái học tập của chúng ta ở trong cái mái trường, học tập về kiến thức xã hội, về nhân loại. Còn đối với Phật tử chúng ta á, thì ngoài cái chuyện học tập đó thì chúng ta còn học Phật. Chúng ta còn học Phật. Và cái khác của chúng ta á là học Phật cho nên là chúng ta nói chúng ta là những thanh niên Phật tử, là thanh niên Phật tử. Bởi vậy chúng ta nói đến học ở đây á là chúng ta có

[5:20]học dưới mái trường phổ thông những cái kiến thức, những tri thức chung của nhân loại và học Phật. Đấy thì chúng ta nhớ là nói đến học của chúng ta á là chúng ta có thể nói là chia ra làm hai cái cái cái sự phân loại như vậy. Vậy thì trước hết á là nói về cái học tập phổ thông thì cái trách nhiệm của chúng ta á là chúng ta phải có cái trách nhiệm làm sao đó để mà chúng ta trang bị cho mình những cái kiến thức căn bản. Không chỉ đủ những kiến thức căn bản mà còn phải vượt lên trên thế nữa, đấy để chúng ta có cái sự sáng tạo. Thế và học tập của chúng ta á thì là cái sự nghiệp mà chúng ta là cái công việc học tập suốt đời,

[6:12]chứ không phải là chỉ dừng lại khi mà chúng ta cắp sách đến trường hay là dưới

[6:20]cái hướng dẫn của thầy cô mà chúng ta chỉ nghĩ rằng là lúc đầu á chỉ là đi học để chúng ta

[6:28]lấy đủ điểm để mà lên lớp rồi thì chúng ta trải qua những cái thứ tự từ cái lớp mầm non rồi đến những cái lớp học phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, rồi thì cao đẳng, đại học, vân vân. Đấy chúng ta trang bị những kiến thức chỉ có khi á là chỉ là nghĩ là chúng ta học để mà để mà mà mà đủ cái kiến thức hay là đủ cái điểm để mà chúng ta lên lớp. Và hiện nay á thì cái vấn đề học tập đó đang là một cái vấn đề mà cũng có rất nhiều mà chúng ta cần phải bàn tính đến. Vậy thì khi mà chúng ta là một thanh niên Phật tử rồi thì chúng ta phải hiểu rằng là bên cạnh cái việc mà chúng ta trang bị kiến thức đủ một cái

[7:12]một cái hành trang căn bản để cho mình những cái kỹ năng cho mình, những kiến thức căn bản, rồi thì chúng ta phải có cái trách nhiệm làm sao đó để chúng ta có thể giúp đỡ được cho những người xung quanh. Tức là phải có cái kiến thức làm sao không phải đủ cho mình mà phải làm sao hướng dẫn được cho người xung quanh. Có như vậy thì mới là những cái suy nghĩ của những người mà thanh niên Phật tử trong cái quá trình học tập đối với dưới mái trường phổ thông. Thì tại sao lại nói như vậy? Bởi vì là chúng ta biết đấy là để mà có được cái nghề nghiệp, có được cái đóng góp cho xã hội thì mỗi chúng ta tùy theo cái nhân duyên, cái sở thích của mình thì sẽ trang

[7:59]bị cho mình những cái kiến thức nghề nghiệp khác nhau. Và để có những cái kiến thức nghề nghiệp đó thì chúng ta cũng phải trải qua những cái kiến thức căn bản. Chúng ta biết đấy là dưới mái trường phổ thông chúng ta thì chúng ta trước hết đấy là chúng ta phải học

[8:20]những cái nét chữ cơ bản. Thế rồi thì học những cái bài học đầu tiên và chúng ta cũng phải học những cái phép tính đầu tiên trong những môn khoa học tự nhiên, khoa học cơ bản. Và chúng ta cũng phải học những bài thơ, bài văn đầu tiên để mà chúng ta có những cái kiến thức căn bản về cái khoa học xã hội. Và tất cả những cái đó nó tạo cho chúng ta những cái căn bản về tri thức để cho chúng ta có được cái điều kiện, nhân duyên để mà chúng ta trở lại được với những cái tri thức căn bản vốn có ở trong mình. Ở đây tại sao á là tôi muốn đề cập đến, nói đến cái cụm từ gọi là kiến thức căn bản, tri thức căn bản vốn có ở trong mình?

[9:10]Bởi vì dưới cái nhìn của đạo Phật thì chúng ta có nhân duyên ở cái kiếp này, nhưng mà đồng thời đó là chúng ta cũng có nhân duyên ở trong nhiều kiếp trước. Cái việc mà chúng ta tập trung ở trong cái hội trại ngày hôm nay tại cái mảnh đất đầy hết sức có ý nghĩa này cũng là một cái điều hết sức nhân duyên từ trong vô lượng kiếp. Và vốn chúng ta á có những cái kiến thức căn bản, những tri thức căn bản vốn có ở trong mỗi chúng ta. Nhưng bởi vì á là do mỗi người có một cái nghiệp khác nhau, thế cho nên á là cái vô minh nó che lấp và những kiến thức căn bản đó nó bị che đậy, ẩn sâu ở trong mỗi chúng ta.

[9:57]Ẩn sâu trong mỗi chúng ta mà nói theo như cái thuật ngữ của Duy thức học á là nó ẩn sâu ở trong tàng thức, trong A lại da thức của mỗi chúng ta. Bởi vậy cho nên á là cái việc học tập của chúng ta phải cần có một cái sự cần cù, cần có một cái sự chịu khó, và mỗi chúng ta đều phải căn bản theo những cái thứ bậc để xây dựng cho mình những cái nền tảng, những cái nền móng vững chắc để cho mỗi chúng ta có thể phát huy được những cái tri thức vốn có ở trong mình đó và cộng với cái sự sáng tạo. Nếu chúng ta tu, chúng ta có trí tuệ thì chúng ta sẽ có cái sáng tạo. Nhưng mà trước hết á là chúng ta phải cần cù,

[10:42]chịu khó, học tập, thu lượm những kiến thức. Chúng ta không thể nói rằng không không cần cù mà có được, mà chúng ta phải cần cù chịu khó, phải mài dùi kinh sử. Đấy, phải đọc nhiều những cái trang sách, những cái cuốn sách khác nhau, qua đó chúng ta mới có sự tích lũy, mới có sự tích tụ những cái kiến thức, những cái tri thức chung của nhân loại mà những tri thức đó vốn có từ trong nhiều đời nhiều kiếp. Những phát minh khoa học vĩ đại thực ra á là sự khai minh, khai phá ra những cái điều mà vốn chúng ta để sâu ở trong cái tiềm thức của mình. Thế cho nên á là nói về học tập của chúng ta, ở đây đa số các bạn trại sinh ngồi đây

[11:28]đều là dưới mái trường, dù chắc có một số ít thì các bạn cũng đã có công việc, nhưng mà tôi tin tưởng rằng đa số các bạn đang tiếp tục với cái sự nghiệp dùi mài kinh sử. Cho nên á là chúng ta cần phải có một sự cần cù, một sự cần cù bên cạnh cái sự sáng tạo. Cái đó là hai cái điều kiện cần và đủ để mà mỗi chúng ta tích lũy cho mình những cái kiến thức, và chúng ta càng tích lũy nhiều kiến thức thì chúng ta càng có những kinh nghiệm phong phú trong đời sống của mình. Cái đó cũng là một cái kinh nghiệm từ bản thân của chúng tôi. Từ bản thân của chúng tôi và có thể nói rằng á là chúng tôi thì cũng như các bạn, có một cái

[12:12]quãng thời gian rất dài là học sinh, là sinh viên trong cái sự nghiệp học tập. Tôi thì thưa các bạn thì vốn trước kia cũng là một sinh viên đại học, tôi tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Bởi vậy cho nên á cái cuộc đời học sinh, sinh viên nó rất là dài, và sau đó thì là dưới mái trường Phật giáo lại tiếp tục cũng lại học từ đầu, từ những cái nét chữ đầu tiên, từ những cái câu kinh đầu tiên, bởi vậy cho nên là cái quãng thời gian học tập rất là dài. Và chính cái quãng thời gian học tập dài đó nhìn lại mình mới thấy rằng cái sự dùi mài, cái sự cần cù, cái sự chịu khó là cái điều kiện đầu tiên trước những cái gì chúng ta gọi là cái sự sáng tạo.

[12:58]Sự sáng tạo là cần thiết, tuy nhiên nó được phát huy khi mà chúng ta có cái sự cần cù. Và càng tích lũy nhiều kiến thức, càng học đọc nhiều sách vở thì chúng ta càng cảm thấy một cái sự phong phú trong cái đời sống tu tập của mình, trong cái nhìn của mình về xã hội, về sự vật hiện tượng, về những cái mối quan hệ xung quanh và chiếu lại trong cái đời sống tu tập của mình nó thực sự có ý nghĩa và vô cùng phong phú. Bởi vậy cho nên á là tôi muốn mong muốn trong hôm nay là khuyên các bạn: Chúng ta phải cần cù chịu khó, dành nhiều thời gian cho cái sự nghiệp học tập của mình và luôn luôn phải khẳng định rằng học tập là sự nghiệp suốt đời.

[13:43]Chúng ta học tập là sự nghiệp suốt đời. Hiện nay chúng ta đang có cái phong trào gọi là xã hội học tập, xã hội học tập. Học tập sự nghiệp suốt đời chúng ta á là học tập trong sách vở, dưới mái trường, thu thập những kiến thức căn bản từ những cái dấu cộng, dấu trừ, dấu nhân, dấu chia cho tới những cái dãy số hay những cái bất đẳng thức, rồi thì những cái phương trình, rồi tuyến tính, và những cái hệ không gian, từ những cái kiến thức đó để cho chúng ta có được cái tư duy logic. Mà chính cái tư duy logic đó là đưa chúng ta trở về để chúng ta phát huy những cái tri thức mà như thầy nói vốn có ở trong chúng ta

[14:24]đã tích lũy từ trong nhiều đời kiếp, từ trong nhiều đời nhiều kiếp. Bởi vậy cho nên á ở trong đạo Phật cái học thuyết về kiếp, học thuyết về luân hồi, học thuyết về nhân quả đấy là những cái học thuyết mà chân lý. Và thực tế trong cuộc sống cũng chỉ ra cho nhiều như vậy. Không phải bỗng dưng có những trẻ em mà có khi mới 3 tuổi đã nói được tiếng Anh hay là đã làm được những phép tính, bởi cái đó là gì? Cái đó là lúc đó cái màn vô minh nó bị xé toang, và những cái tri thức, những cái căn bản nó vốn có như thầy nói được phát huy ra. Nhưng mà nếu như mà chúng ta tiếp tục có cái sự trong sáng để mà đập

[15:11]tan, xé toang cái màn vô minh đó thì chúng ta phát huy được. Nhưng mà chỉ một sự xao nhãng thôi, mà trong đạo Phật nói là trong những cái sát-na thôi, những cái phần rất nhỏ của giây mà chúng ta xao nhãng thì cái màn vô minh đó nó lại bao phủ và những cái tri thức đó nó vẫn nằm yên trong sâu thẳm mà chúng ta không phát huy được, không phát huy ra được. Thế cho nên á là cái việc học tập đối với chúng ta á là một cái việc hết sức là quan trọng đối với mỗi chúng ta, nhất là thế hệ trẻ, nhất thế hệ trẻ. Và cái cần cù chịu khó ấy của chúng ta á là cái hết sức quan trọng, và tiếp theo là cái sự sáng tạo.

[15:52]Như thầy vừa đề cập á là đối với thanh niên Phật tử thì cái việc học tập không chỉ là cái việc thu lượm những cái kiến thức, những tri thức về khoa học cơ bản, khoa học xã hội và những khoa học khác, mà chúng ta á là còn phải học Phật. Vậy thì cái sự khác biệt giữa một người Phật tử trong học tập, giữa học dưới mái trường tích tụ kiến thức với học Phật có gì khác nhau? Nói học Phật á thì cũng có cái sự khác, sự khác, có sự giống và có cái sự khác với cái học tập xã hội. Học tập xã hội á là như thầy vừa nói là cái sự kiền cần cù, chúng ta thuộc lòng những cái công thức, chúng ta thuộc lòng những cái thành phần nguyên tố hóa học,

[16:41]chúng ta thành học thuộc lòng những cái hóa trị của những nguyên tố cơ bản, chúng ta thuộc lòng những cái bài thơ, thuộc lòng những cái bài lịch sử. Nhưng mà đối với học Phật thì bên cạnh cái thuộc lòng đó thì phải có cái sự tu tập, cái sự trải nghiệm. Đấy, có như vậy thì cái việc học của chúng ta nó mới có ý nghĩa. Và cái học Phật là cái căn bản khác. Nếu như ấy học cái tri thức ở bên ngoài của chúng ta, phấn đấu những cái thành tích, những cái bằng khen, những cái giấy khen là vừa để chứng minh cho chúng ta những cái nấc thang trình độ căn bản, đồng thời cái học đó nó tự nhiên đem đến cho chúng ta một cái niềm tự hào,

[17:34]một cái chạy theo một cái danh, một cái danh vọng, một cái mà cái đó nó chính xuất phát từ cái bản ngã của mỗi chúng ta. Khi mà sinh viên thanh sinh viên thì chúng ta phải phấn đấu học tập, phải ganh đua trong học tập và phải phấn đấu những cái thang điểm tuyệt đối và phấn đấu để có những cái vòng nguyệt quế và phấn đấu những cái thành tích để mà chúng ta chiến thắng, hay là phấn đấu có những cái tấm bằng để chúng ta có cái niềm tự hào. Cái sự phấn đấu và cái sự ganh đua đó không có gì sai. Tuy nhiên thì đối với người học Phật, phải nhìn nhận cái đó làm sao đó để đối với cái gì nó có đem lại cái lợi ích cho cái sự tu tập của mình.

[18:30]Cái sự phấn đấu mà chúng ta nhìn trong dưới ánh sáng của đạo Phật để đem lại những cái tri thức căn bản để chúng ta phát huy trong đời sống của chúng ta, trong sự tu tập của chúng ta, nó không có gì sai. Nhưng cái sự phấn đấu ganh đua để mà chúng ta luôn luôn nghĩ rằng chúng ta tự hào hơn bạn, chúng ta bằng mọi cách chúng ta ganh đua trở nên một cái sự ganh ghét, một cái sự đố kỵ ấy thì cái đó nó đi ngược với cái người tu tập của người Phật tử của chúng ta với cái sự tu hành của đạo Phật. Bởi vì cái căn bản nhất trong đạo Phật, một cái một cái triết lý căn bản nhất trong đạo Phật đó là cái triết lý về sự vô ngã.

[19:13]Và chính cái triết lý về sự vô ngã này nó cho chúng ta thấy cái sự khác biệt giữa cái học Phật với cái học phổ thông của chúng ta. Bước đầu của sự học Phật cũng là một cái sự thu thập những kiến thức, tích lũy những cái kiến thức. Chúng ta phải học trong kinh, đấy học những trong những cái cuốn sách của các thầy, học các thầy, học về pháp số, học về tất cả những cái thuật ngữ, những cái định nghĩa để cho chúng ta hiểu khi chúng ta đọc vào kinh như một cái quá trình học tập bình thường ngoài xã hội. Tuy nhiên thì chúng ta phải thấy là những cái học tập đó để chúng ta áp dụng vào trong cái đời sống tu tập.

[19:54]Nhưng mà đến học Phật để mà chúng ta thấy cái sự hơn người khác thì cái đó lại là cái sự quan niệm sai trong học tập, trong học Phật. Bởi vì cái căn bản trong đạo Phật là cái triết lý về sự vô ngã. Chúng ta học để chúng ta hiểu được cái sự vô ngã, chứ không phải chúng ta học để chúng ta thấy mình hơn người và như vậy cái ngã của mình nó sẽ được lớn hơn. Và khi mà cái ngã lớn hơn thì chúng ta lại vướng vào cái vòng chấp ngã đó, bởi vì cái sự ý thức về cái ngã là đem đến cái sự khổ đau trong cuộc đời của chúng ta. Mọi cái đều bắt đầu từ ý thức về cái ngã, mọi cái đều khởi về ý thức về cái ngã. Và chút nữa đây á thì Thượng tọa Bửu Chánh

[20:41]sẽ nói rõ hơn về những cái đó trong cái quá trình mà tu và và hoằng pháp. Ở đây á, trong cái cái cái cái cái chủ đề về học tập, đấy thì thầy muốn đưa ra cho mọi người một cái khái niệm căn bản, đấy, về cái học, cái sự khác biệt giữa học Phật và những cái quá trình học tập thông thường mà chúng ta đang thực hiện là học dưới mái trường phổ thông và ngoài xã hội. Đấy, thì cái học căn bản, học Phật đó là cái sự khác biệt căn bản, đó là làm sao á là chúng ta hiểu rõ về bản chất của cái ngã, bởi vì căn bản của đạo Phật là sự vô ngã và Đức Phật, cái sự sáng tạo của Đức Phật chính là cái học thuyết về sự vô ngã.

[21:35]Chúng ta biết rồi, Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, giáo chủ của chúng ta là một nhân vật lịch sử, và đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ đó. Với các tôn giáo khác thì vị giáo chủ thường là một đấng siêu nhiên, giấu vô hình, nhưng mà đạo Phật giáo chủ chúng ta là nhân vật lịch sử, Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là một nhân vật lịch sử. Cuộc đời của Ngài sinh ra, lớn lên, học tập, trưởng thành, đi tìm đạo, giác ngộ, thành đạo và hoằng pháp giáo hóa chúng sinh, đưa đến con đường của sự diệt khổ. Đấy, là một nhân vật lịch sử và một cái phát minh vĩ đại cho nhân loại, đó chính là học thuyết về vô ngã và học thuyết về sự duyên khởi

[22:26]là cái học thuyết vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại mà tổng kết cho đến ngày nay. Chính vì là một học thuyết vĩ đại, cho nên Liên Hợp Quốc mới lấy ngày tam hợp của Đức Phật: ngày Đức Phật Đản sinh, ngày Đức Phật Thành đạo, ngày Đức Phật Nhập Niết bàn là ngày tôn giáo thế giới, lễ hội tôn giáo thế giới. Đấy chính là một cái sự khẳng định, minh chứng về cái học thuyết của Đức Phật, về học thuyết về vô ngã, học thuyết về duyên khởi là một học thuyết vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Và cái đó khi ở đây nếu có bạn nào học về triết học thì cũng thấy rằng cái đó là một cái sự khác biệt căn bản giữa đạo Phật với các

[23:09]tư tưởng triết học khác trong lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ. Phật giáo và Kỳ Na giáo là hai cái tư tưởng triết học căn bản của học thuyết về vô ngã, còn tất cả những học thuyết khác, từ những học thuyết về cổ đại sớm hơn, có thể sớm hơn đạo Phật, những học thuyết về Bà La Môn, về Áo nghĩa thư, tức là Upanishad, về học thuyết sau này trở thành tôn giáo gọi Hinduism, tức là Ấn Độ giáo, và các học thuyết khác tôn giáo của Ấn Độ đều là các học thuyết về hữu ngã. Và căn bản Đức Phật nhìn ra thấy ánh sáng con đường diệt khổ ở chỗ là tất cả các trường phái triết học và tôn giáo trước đó là đi theo cái tư tưởng hữu ngã,

[23:54]cho nên là không căn bản đưa ra được con đường để dẫn đến sự giải thoát và tiêu diệt cái nguyên nhân dẫn đến cái sự khổ đau. Mà chỉ có dưới ánh sáng của cái giáo lý vô ngã duyên khởi, đó mới là con đường để mà cho con người đạt đến cái sự an lạc đích thực, cái sự giải thoát mà không chỉ giải thoát một cách vĩ đại đến cái sự Niết bàn mà còn giải thoát tại những cái giây phút hiện tại mà mỗi chúng ta đang hiện diện. Hôm nay á, ở tại cái mảnh đất mà chúng ta thấy là tổ chức hội trại, chúng ta cũng rất tự hào. Ở đây mảnh đất này không biết Ban tổ chức có một cái ý hay không, nhưng mà đã tổ chức một cái hội trại thanh niên

[24:46]Phật tử mà tại mảnh đất hết sức là có ý nghĩa. Mảnh đất nơi đây, chúng ta biết rồi, trong bài phát biểu của Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Dũng có nói về một vị anh hùng dân tộc mà không chỉ là một anh hùng dân tộc mà còn là một vị thánh, một vị tứ bất tử. Thánh Gióng là một trong tứ bất tử trong trong lịch sử dân tộc của chúng ta. Qua đó để thấy rằng là tuổi trẻ là chúng ta phải nuôi một cái chí rất lớn, là chúng ta phải học tập, và học tập để mà nuôi một cái chí lớn. Và hôm nay ở cái mảnh đất này, chúng ta cũng phải thấy là một cái mảnh đất mà vô cùng, hết sức là có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

[25:35]Nơi đây chính là nơi mà một vị quốc sư,

[25:42]quốc sư của chúng ta từ thời Tiền Lý, Lý Nam Đế, đó là Quốc sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu. Ngài đã tu hành tại đây, giác ngộ, chứng ngộ theo con đường của Đức Phật và trở thành một vị quốc sư hộ quốc, dựng nước. Cho nên là cái hội trại của chúng ta hôm nay á là vô cùng có ý nghĩa, vô cùng có ý nghĩa. Đấy, lần đầu tiên nhưng vô cùng có ý nghĩa. Thánh Gióng là biểu tượng sức mạnh của dân tộc mà Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam có cái biểu tượng của Thánh Gióng, có cái giải thưởng Thánh Gióng, và chúng ta ở đây truy cập vào có cái mạng Cổng Thánh Gióng. Đấy cái biểu tượng của thế hệ trẻ, của cái sức trẻ, biểu tượng của cái hào khí

[26:29]dân tộc, của tinh thần kiên cường, bất khuất, nhưng mà đồng thời lại gắn với Khuông Việt, đại sư Khuông Việt Quốc sư Ngô Chân Lưu hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc. "Khuông Việt" tức là phù nước Việt, và ý chí, sức trẻ của thanh niên Phật tử chúng ta là không phải chỉ học, có kiến thức, có tri thức để nắm bắt được những cái khoa học kỹ thuật đỉnh cao của nhân loại mà chúng ta còn phải học Phật để chúng ta có con đường giải thoát và học Phật theo như tinh thần của ngài Khuông Việt Ngô Chân Lưu là hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc. Đấy.

[27:11]Tôi thấy là hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc mà tiếng vỗ tay nó chưa mạnh lắm, chưa dài lắm. Vâng! Đấy, nó phải như thế, vâng, nó phải như thế. Nó phải như thế thì chúng ta thấy rằng là cái trách nhiệm của người thanh niên Phật tử của chúng ta, cái trong cái hội trại này, đấy, bên cạnh chúng ta trao đổi với nhau học tập này, tu tập này, học tập, tu tập này, hộ đạo, hộ quốc này, đấy chính là cái tinh thần ở cái mảnh đất này, mảnh đất Sóc Sơn, mảnh đất rất là linh thiêng này. Và hy vọng rằng là mỗi chúng ta khi trở về, mỗi người sẽ mang trong mình những cái hào khí của dân tộc với cái tư tưởng

[27:58]là luôn luôn vươn lên, đấy, và cộng với cái tinh thần của đạo Phật Việt Nam: hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc, tinh thần nhập thế để mà chúng ta có những cái hành động thiết thực. Và mỗi chúng ta phải thấm nhuần cái khí thiêng ở cái nơi mà mảnh đất linh thiêng đền Sóc ở đây, và chúng ta phải thấm nhuần được cái tinh thần Phật pháp trong suốt hơn 1.000 năm lịch sử tại cái mảnh đất này. Mỗi chúng ta sẽ mang về ngoài kiến thức, tri thức với cái tinh thần và mỗi chúng ta mang một cái chút đất thiêng ở nơi đây về để làm một cái tâm nguyện để chúng ta phấn đấu, để chúng ta tiếp tục mang đến cái hội trại sau nữa những cái tinh

[28:43]thần đó và cái tinh thần tinh thần của Phật giáo Việt Nam. Thế thì hôm nay á cũng rất muốn trao đổi dài với các bạn, nhưng mà cái thời gian của Ban tổ chức thì cũng không cho phép nhiều, thế cho nên là trước hết á là tôi trao đổi với các bạn căn bản về cái khái niệm về cái việc học ở ngoài xã hội với cái việc học Phật. Và nhắc nhở các bạn đấy ghi nhớ là chúng ta về nhà chúng ta muốn quên cái gì thì quên, nhưng mà phải đọng lại rằng cái việc học Phật ấy, đấy, là phải trên nhớ được cái tinh thần căn bản của đạo Phật đó là cái cái tinh thần vô ngã. Và nếu như á mà mỗi một cái suy nghĩ của chúng ta

[29:31]để mà cái ngã của mình nó nhen nhóm, nó phát triển thì là chúng ta còn chưa đúng với tinh thần học Phật. Nhưng mà trở lại thực tế, chúng ta nói căn bản là như vậy, nhưng để mà mỗi chúng ta luôn luôn ý thức về cái sự vô ngã của mình nó là một cái điều khó vô cùng. Nhưng mà khó không có nghĩa là chúng ta không làm được. Chúng ta phải luôn luôn là chúng ta ý thức về việc đó. Mỗi khi à nó hiện lên thì mỗi chúng ta lại phải à nghĩ, à phải nhớ về những cái điều Phật dạy để mà chúng ta dẹp bỏ cái ngã sang một bên. Bởi vì ấy là cái việc mà mỗi chúng ta hiện nay ấy vốn có trong mình ý thức về cái đó, mà không phải bây giờ, mà từ trong trong trong trong nhiều cái kiếp khác nhau,

[30:25]hay là trong cái quá trình của mình thì à luôn luôn có hình ảnh của cái ngã đó. Và mỗi chúng ta hiện nay á thì à mình cố tình là dẹp bỏ cái ngã nhưng mà nó luôn luôn à à nổi lên ở trong mỗi cái suy nghĩ của mình, mỗi cái lời nói của mình, những cái hành động của mình, mỗi cái việc làm của mình. Và để mà à trở lại như vậy thì chúng ta phải à chúng ta phải chịu khó tu tập à để mà à thực hành. Có cái sự thực hành đó thì chúng ta mới ừ dẹp bỏ được cái ngã. Và trong quá trình th- thực hành đó, ấy thì chúng ta học Phật thì chúng ta học những cái gì? À dưới cái giáo lý của cái vô ngã thì chúng ta học những cái gì?

[31:08]Thì trước hết á là chúng ta cũng phải học những cái căn bản: căn bản về giáo lý, căn bản về những cái học thuyết về Tứ Diệu Đế. Chúng ta phải hiểu về à bốn chân lý của cái sự khổ thì chúng ta mới à mới có cái niềm tin để mà chúng ta đi đến cái sự giải thoát. Ở đây nói về Tứ Diệu Đế thì chúng ta biết rồi. Ấy về à khái niệm đó ờ là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế, à những cái sự thật về cái sự khổ, những cái nguyên nhân ờ đem đến cái sự khổ đó, ờ và cái con đường sự khổ và một cái xác thực xác quyết là chúng ta có thể dẹp bỏ, tiêu diệt được cái sự khổ đau đến cái sự giải thoát Niết Bàn, đó là một chân lý.

[31:58]Mà chân lý đó đã được Đức Phật à Giáo chủ của chúng ta là chỉ rất rõ trong cái quá trình tu tập ừ của Ngài để mà tìm ra cái sự giác ngộ. Cho nên là chúng ta học tập, đầu tiên chúng ta cũng phải học tập từ những cái sự căn bản. Thế và khi mà chúng ta học tập có sự căn bản đó thì chúng ta à xác lập cho mình một cái con đường. À thì ở trong à kinh điển ấy thì Đức Phật cũng dạy là cái con đường Bát Chánh Đạo là cái con đường căn bản để cho mỗi người Phật tử à của chúng ta à đi đến cái sự giải thoát. Và à một cái giáo lý căn bản nữa để cho mỗi chúng ta có cái niềm tin của mình trong sự giải thoát, đó là mỗi người học Phật của chúng ta phải biết tin vào cái nhân quả.

[32:52]Nếu như á mà mỗi chúng ta chỉ có một sự nghi ngờ về cái học thuyết nhân quả thôi thì chúng ta sẽ không thể đến được với đạo Phật. Cho nên á là học Phật đấy là chúng ta phải có cái xác quyết niềm tin vào cái học thuyết nhân quả. Có vậy thì trên con đường Bát Chánh Đạo của chúng ta à chúng ta mới có thể đi đến sự giải thoát. Phải có cái sự chánh kiến, phải có sự nhìn nhận đúng, có tư duy đúng, à tư duy logic. Và cái tư duy logic đó có đúng hay không á thì là chúng ta phải biết tin vào cái nhân quả, học thuyết nhân quả. Bởi vì không tin vào học thuyết nhân quả thì chúng ta sẽ như một con tàu đi trệch cái đường ray.

[33:33]À nhằm tới đích đấy nhưng mà nó sẽ bị trệch cái đường ray. Và như vậy á không tin vào học thuyết nhân quả là chúng ta à sẽ không đến được cái đích của mình. Cho bởi vậy cho nên á là học tập à trong đạo Phật là chúng ta á phải luôn luôn thực hành trong cái đời sống của mình. Và có thực hành như vậy thì chúng ta mới thấy được cái cái cái cái cái cái sự à thực tiễn của giáo lý. Và từ cái thực tiễn của giáo lý, mà chúng ta mới thấy được cái sự mầu nhiệm ở trong đó. Cái sự mầu nhiệm ở đây nó không phải ở một cái gì đó ờ cao siêu hay là không phải một cái gì đó huyền bí, mà cái sự mầu nhiệm đó nó chính ở trong cái thực tiễn của mình.

[34:18]Mình không phải học để mình biết, không phải học để mà mình à thấy hơn so với người khác, mà mình phải học để mình thực hành trong cái cái đời sống của mình. Bởi vậy cho nên á là cái học phậ- học Phật nó phải luôn luôn đi đôi với cái thực tiễn, tức là à học à đi đôi với à với hành. Cho nên đạo Phật á có thể nói là một cái tôn giáo gọi là đến để mà thấy. À chúng ta không chỉ nghe nói, à không chỉ đọc à một cuốn sách thấy những khái niệm, thấy những học thuyết như vậy, và chúng ta nghe như vậy mà chúng ta phải thực hành. Và có thực hành thì chúng ta mới thấy được. Cho nên đạo Phật là một cái tôn giáo nhấn mạnh đến cái sự thực

[34:58]tiễn và học phải gắn liền với quá trình tu tập à thực tiễn. Vì giáo lý của đạo Phật thì như các bạn đã biết thì trong kinh điển có rất nhiều. Đạo Phật có thể nói là một tôn giáo mà có nhiều kinh điển nhất, kinh điển đồ sộ nhất, và có nhiều con đường để đến với cái mục đích. Nhưng mà chúng ta chỉ có một mục đích duy nhất đó là cái sự giải thoát, sự giác ngộ, sự an lạc, sự hạnh phúc, mặc dù chúng ta có nhiều con đường khác nhau. Giáo lý căn bản của Đức Phật chứa đựng trong kinh điển Nikaya, tức là kinh điển A-hàm mà Thượng tọa Bửu Chánh đây là một chuyên gia về à kinh điển A-hàm. Kinh điển A-hàm là kinh điển ờ à à căn bản

[35:43]mà đầu tiên viết cho Phật giáo Nguyên thủy, tức là trường phái Theravada. Còn kinh điển Đại thừa là cái bộ kinh điển viết cho cái tư tưởng Phật giáo phát triển, nâng Phật giáo từ những cái nền tảng căn bản à đạo đức, à lối sống, đời sống thực hành lên trở thành một cái học thuyết, một cái tư tưởng triết học, và có rất nhiều các cái bộ kinh điển khác nhau. Rất nhiều bộ kinh điển khác nhau. Và nếu như một người học Phật mà không trang bị cho mình đủ cái kiến thức căn bản từ những cái khái niệm, những cái pháp số, những cái định nghĩa, ờ những cái nội hàm à trong kinh điển à A-hàm, trong kinh điển à Nikaya

[36:38]thì chúng ta rất dễ bị lạc lối. À từ những cái cái khái niệm về vô ngã, những cái khái niệm về à học thuyết về Tứ Diệu Đế, à chân lý về sự khổ, những cái học thuyết về Bát Chánh Đạo, con đường dẫn đến diệt khổ, dẫn đến sự giải thoát giác ngộ, học thuyết về nhân quả, học thuyết về sự chứng ngộ à Niết Bàn, A-la-hán, à vân vân, chứa đựng trong những bộ kinh điển Nikaya, chúng ta cần phải học để xây dựng cho mình những cái nền móng căn bản, vững chắc. Và sau đó thì chúng ta sẽ tiếp cận đến với những cái tư tưởng học thuyết mang tính triết học như là những tư tưởng về học thuyết về triết học tính Không,

[37:23]triết học tính Không trong các cái bộ kinh điển Đại thừa hay học thuyết về lý tưởng Bồ-tát để đưa chúng ta đến à nhìn nhận về những cái hiện tượng về vũ trụ, vũ trụ quan và thế giới quan, và đưa chúng ta đến ờ một cái tinh thần Phật giáo nhập thế. Những cái tư tưởng về à triết học về duy thức học, những khái niệm về A-lại-da thức, ờ về à những cái tư duy logic của à à à trong tư duy của triết học Phật giáo, trong duy thức học, để cho chúng ta có những cái suy nghĩ ờ về cái sự vật hiện tượng, giải thích về sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh của chúng ta, hiểu về à cái sự vô ngã nhưng mà trong một cái thế giới hữu ngã.

[38:14]Đấy là một cái tư duy biện chứng gọi là biện chứng pháp mà chúng ta tư duy triết học của chúng ta gọi là tư duy z- gọi là biện chứng học trong triết học à duy vật à biện à duy vật à ờ biện chứng, duy vật lịch sử ờ trong cái hệ tư tưởng ờ chủ nghĩa Mác - Lênin. Đấy thì học Phật đấy là chúng ta thấy là chúng ta phải có cái thứ bậc như vậy, phải có thứ bậc như vậy. Và với người học Phật thì phải thấy rằng là Phật giáo dù có nhiều các cái bộ kinh điển khác nhau, cho nên là cái việc học của chúng ta á nó là một cái việc gì đó không phải chỉ ở đời này, kiếp này mà con ở còn ở đời sau và kiếp sau nữa.

[38:59]Và tuy nhiên ấy cái cái kinh điển đồ sộ như vậy nhưng mà có nhiều con đường đến như vậy nhưng mà mỗi chúng ta tùy theo cái điều kiện nhân duyên của mình, tùy theo cái duyên của mình ờ chúng ta có những cách tiếp cận khác nhau. Nhưng mà dù cách tiếp cận nào đi chăng nữa thì chúng ta cũng phải quán triệt một trong những tinh thần căn bản nữa là cái tinh thần tùy duyên phương tiện, tùy duyên phương tiện. Bên cạnh cái giáo lý vô ngã, chúng ta phải quán triệt cái tinh thần từ tùy duyên phương tiện. Có quán triệt tinh thần tùy duyên phương tiện như vậy, chúng ta mới nhìn ra được cái tính thống nhất trong kinh điển Phật giáo.

[39:43]Đức Phật tùy theo cái ờ mỗi cái một cái nhân duyên, một cái hoàn cảnh lịch sử, một cái điều kiện, một cái pháp hội khác nhau thì Đức Phật thuyết ra một cái bộ kinh khác nhau. Cho nên chúng ta phải có cái tinh thần phương tiện, phải có cái tư duy, cái lối nhìn phương tiện để chúng ta hiểu được cái tính thống nhất của đạo Phật. Ở bộ kinh này, đạo Phật nói về vị Phật này; ở bộ kinh kia, đạo Phật nói về vị Phật khác, nhưng nó không nằm một cái tính, tức là một cái Như Lai, Như Lai Phật, Phật tính, đó là cái sự bình đẳng à bình đẳng và cái tính thống nhất trong kinh điển của Phật giáo. Nếu như chúng ta học Phật chúng ta không quán triệt

[40:31]đó, nếu chúng ta nói bộ kinh này khác bộ kinh kia, cao hơn bộ kinh kia, thấp hơn bộ kinh kia là chúng ta phỉ báng Bởi vì đạo Phật là sự vô ngã. Nhưng vì cách tiếp cận khác nhau, Đức Phật thuyết ra những cách đến khác nhau. Đức Phật nói rằng ở nơi này chúng ta có thể đi được xe đạp đến Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, ở nơi kia chúng ta có thể đi máy bay. Hòa thượng Thiện Duyên phải bay bằng máy bay, nhưng mà Thượng tọa Bửu Chánh bay bằng máy bay, nhưng mà Thượng tọa Minh Quang thì đi bộ vì Thượng tọa đang giảng ở Học viện, còn Thầy Đức Thiện thì đi bằng ô tô. Nhưng mục tiêu cuối cùng đến Học viện Phật giáo tại Sóc Sơn.

[41:09]Chứ không phải chúng tôi cao hơn, đi bằng máy bay cao hơn hay là đi bằng ô tô không bằng đi bộ. Cho nên đấy là chúng ta phải học Phật, chúng ta phải có quan điểm đó thì chúng ta mới thấy được tính thống nhất trong đạo, không thấy được cái sự mâu thuẫn trong trong Phật giáo. Đức Phật phải đưa ra những hình ảnh, tức là Ngài phương tiện, tùy duyên và phương tiện, mà đạo Phật dùng hai thuật ngữ là khế lý, khế cơ. Khế lý, khế cơ tức là tùy theo cái trình độ của mỗi một à mỗi một đối tượng khác nhau để mà Đức Phật đưa ra những cái thuyết giảng khác nhau. Với các bạn thanh niên, sinh viên hôm nay thì chúng ta nói như vậy,

[41:49]nhưng mà với các cụ mà bảy, tám mươi tuổi thì chúng ta không thể nói thế được. Chúng ta phải nhấn mạnh về niềm tin. Bởi vì niềm tin đem chúng ta sức mạnh. Chúng ta học Phật, học đúng là để chúng ta củng cố niềm tin của mình. Mà nếu như chúng ta học Phật, chúng ta thấy niềm tin của mình dao động là học chưa đúng, chưa có phương pháp đúng. Học Phật làm sao đó chúng ta thấy được cái niềm tin của mình ngày càng vững chắc hơn, ngày càng ý nghĩa sâu sắc hơn, niềm tin của mình vững chắc hơn vào niềm tin vào vào vào Đức Phật, niềm tin vào con đường trong sáng của đạo Phật, và niềm tin rằng chắc chắn là chúng ta sẽ đến sự giải

[42:32]thoát, chúng ta sẽ gọi có giải thoát ở trong cái phút giây này, phút giây sau, trong suốt cuộc đời của mình và cho nhiều kiếp nữa. Không phải một mình chúng ta có sự giải thoát, mà những người xung quanh của chúng ta cũng có sự giải thoát. Đấy là cái sự học Phật. Cho nên kết luận lại, các bạn chỉ cần đọng lại trong trong trong trong đầu các bạn một cái từ: vô ngã, học Phật vô ngã, học Phật tùy duyên phương tiện và không có kinh nào xung đột, mâu thuẫn với kinh nào. Mỗi kinh đều đem đến cho chúng ta ở một cái mức độ giải thoát khác nhau, cuối cùng để chúng ta đi đến sự giải thoát.