Transcript: Đôi Cánh Người Xuất Gia

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:23

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên chư Hòa thượng, chư Tôn Thiền đức Tăng, Ni. Kính thưa các vị đại diện chính quyền. Kính thưa các vị Phật tử, các vị khách quý về trong cái đạo tràng an cư kiết hạ này. Nãy giờ nghe giới thiệu rồi đâm ra con mắc cỡ, cái lúng túng hết hết nói được.

[0:35]Thôi thì con con có xin có vài lời tâm sự chút xíu. Hôm rồi tự nhiên có cái ông ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, ông hẹn lên trên chùa thăm. Thì chùa chúng con ở trên núi, cái ông buổi sáng ông dắt một đoàn khoảng 40 người. Hầu hết là những cái Việt kiều hoặc là những vị cán bộ, những quan chức mà ở các lãnh sự các nước về trong cái đợt này. Thì ông theo lệnh của trên nữa, ông mới về Tây Ninh ông làm cái đại lễ cầu siêu, mà cái từ "đại lễ cầu siêu" này là chính Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đặt ra. Phải gọi là "đại lễ cầu siêu" để về Tây Ninh làm cái lễ cho mấy vạn chiến sĩ của ta đã mất trong cái cuộc chiến Campuchia dai dẳng.

[1:24]Mà chính vì có cuộc chiến Campuchia đó mà nhân dân Campuchia được bình yên, được hạnh phúc như ngày hôm nay và Tổ quốc Việt Nam ta cũng được bình yên theo, nên cái sự mà liên đới giữa các nước láng giềng anh em với Việt Nam ta thật là mật thiết. Thì nhân cái dịp mà ông về chính ông đứng ra ông tổ chức cái lễ đại lễ cầu siêu cho chiến sĩ đó cùng có Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và rất nhiều các doanh nghiệp, các vị cán bộ, rồi sẵn ông mới hẹn ông lên núi ông thăm trên chùa. Khi ông đến thì ông giới thiệu đôi điều về Phật học. Thì ra ông cũng là một người rất là mộ đạo Phật. Khi ông nói chuyện với quý thầy, ông xưng "con" rất là đàng

[2:06]hoàng, mặc dù ông là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, quan chức rất là lớn, có cái bằng Tiến sĩ và biết rất nhiều ngoại ngữ. Khi mà hỏi khi mà ông yêu cầu là các vị trong đoàn đi theo ông cứ phải đặt những câu hỏi về Phật pháp để cho chúng con trả lời thì ông thì nhiều vị hỏi những câu này câu kia ban đầu về Phật học, nhưng mà sau có một ông, ông làm cái chức gì cũng lớn á, cái gì cũng Tổng cục trưởng gì đó trong Bộ Ngoại giao, con không nhớ rõ. Ông đứng lên ông hỏi câu này, đây là một cái câu mà rất là lớn. Ông hỏi: "Thưa Thượng tọa, theo Thượng tọa thì khi nào Phật giáo sẽ trở thành quốc đạo của Việt Nam?".

[2:46]Chúng ta nên biết rằng những cái vị mà quan chức lớn không có câu hỏi nào các vị hỏi chơi, không có cái lời nói nào các vị nói thừa, mà không có cái lời nào phát biểu ra mà không được lệnh, nó không có tư tưởng cá nhân. Những vị mà họ làm lớn rồi họ không có được quyền có cái nói năng mà tự ý được. Thì cái cái ông Tổng cục trưởng ông hỏi một câu nói rất là lớn: "Khi nào thì đạo Phật có thể trở thành quốc đạo Việt Nam?". Ngay cái câu này nhiều khi chính Tăng, Ni chúng ta không dám nghĩ tới. Bởi vì ta biết là Việt Nam mình là quốc gia đa tôn giáo và Nhà nước lúc nào cũng phải dè dặt để giữ cái đoàn kết toàn dân.

[3:28]Ví dụ như là những các dân tộc anh em phải sống hòa bình, hòa hợp với nhau, rồi các tôn giáo cũng phải sống hòa bình, hòa hợp, đoàn kết với nhau tạo thành cái khối đại đoàn kết toàn dân. Việc mà ví dụ như Nhà nước bày tỏ thiên vị một tôn giáo nào thì có thể nó gây ra cái sự bất ổn cho nên Nhà nước rất là dè dặt. Vậy mà một ông quan chức lớn dám hỏi một cái câu rất là quan trọng đối với vận mệnh của đất nước: "Khi nào thì đạo Phật trở thành quốc đạo Việt Nam?". Nếu mà chúng ta hiểu được cái ý nghĩa câu nói này chúng ta sẽ hết sức là xúc động. Thì lúc đó chúng con mới trả lời thế này. Chúng tôi nói:

[4:11]Có ba yếu tố để có thể tuyên bố Đạo Phật là quốc đạo của Việt Nam. Yếu tố thứ nhất là trước hết là những nhà lãnh đạo Việt Nam phải xác nhận rằng Phật giáo là cái hướng đi tâm linh của thế giới trong tương lai. Đúng là trên thế giới có nhiều tôn giáo và hiện nay có một cái thuận lợi là các tôn giáo đều tham khảo lẫn nhau chứ cũng ít có cái tôn giáo nào mà muốn độc tôn, cứ đóng cửa mình lại, không cần biết đến tôn giáo khác. Cái may mắn hiện nay là nhờ các phương tiện truyền thông rộng rãi nên các tôn giáo đã mạnh dạn tham khảo lẫn nhau. Ví dụ như người trong đạo Phật ta cũng đọc các sách của Kitô giáo,

[4:58]ta cũng đọc các sách của Hồi giáo để xem các tôn giáo bạn hay chỗ nào. Và ngược lại các tôn giáo bạn cũng đọc sách của đạo Phật để xem đạo Phật là hay chỗ nào. Chính vì có cái sự tham khảo lẫn nhau qua lại như vậy mà các tôn giáo đã lần lần gần lại với nhau. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai nữa là trong cái cuộc mà đụng chạm, đối chiếu, cọ xát đó thì các nhà khoa học, các nhà tri thức và các nhà tôn giáo trên thế giới đều cảm nhận một điều rằng: Đạo Phật thực sự là một tôn giáo ưu việt, một cái hướng đi tâm linh chân chính cho loài người ở mai sau. Mà đây là điều mà được tuyên bố bởi rất nhiều nhà

[5:44]tri thức, xã hội, chính khách nổi tiếng của thế giới, chứ không phải chỉ là cái lời tự khen của những người trong đạo Phật của chúng ta với nhau. Thì cái điều này phải được chính những nhà lãnh đạo Việt Nam nhìn nhận, xác nhận rõ ràng: Trong nhiều chiều hướng đi tâm linh hiện nay thì đạo Phật là hướng đi tâm linh chân chính nhất và sự thật là có thể dẫn đạo cho thế giới mai sau. Đó là thứ nhất. Yếu tố thứ hai để có thể đưa đến một đạo Phật quốc đạo là những đệ tử Phật gồm cả người xuất gia lẫn người tại gia phải ứng dụng đạo lý đạo Phật để tạo thành một cuộc sống đẹp trong cái đời sống của mình.

[6:26]Tức là bản thân mình thì đạo đức hoàn chỉnh và đóng góp được rất nhiều điều tốt đẹp trong cái cộng đồng mà mình đang sống, từ gia đình cho đến làng, xã, phường, khóm, vân vân. Mà rõ ràng là mọi người nhìn vào đều thấy rằng những đệ tử của Phật đã thể hiện được cái cuộc sống hết sức là tốt đời đẹp đạo. Đó là yếu tố thứ hai. Và yếu tố thứ ba thì nó lại liên quan đến chính trị là cái nước Việt Nam ta là dải đất hình cong chữ S rất là mỏng như một người thiếu nữ ẻo lả. Cho nên hai cái nước anh em bên cạnh ta là Lào và Campuchia thành ba nước mà gắn liền một khối có quan hệ vận mệnh mật thiết với nhau.

[7:13]Hễ Lào và Campuchia mà có gì trục trặc thì Việt Nam ta bất ổn liền. Nên vì vậy là cái vận mệnh của Lào và Campuchia nó gắn liền với vận mệnh của Việt Nam ta. Mà trong bối cảnh này thì Việt Nam ta như là một nước đàn anh thật sự. Thật sự, ta không có nói ngoa. Rõ ràng trong ba nước Việt - Miên - Lào thì Việt Nam là đàn anh. Mình là đàn anh nhưng mà hai nước đàn em của mình, Lào và Campuchia, họ đã tuyên bố Phật giáo là quốc đạo từ lâu, tuyên bố chính thức trong Hiến pháp. Nhưng mình là đàn anh mình không tuyên bố được, chưa tuyên bố. Và chính vì vậy nó có một cái khoảng cách giữa anh và em. Cái người em thấy cái ông anh này ổng chưa xem đạo Phật là quốc đạo,

[7:54]thì như vậy trong cái cái quan điểm nó có một cái khoảng cách nào đó. Và chính vì có cái khoảng cách đó nên cái sự liên kết giữa ba nước Việt - Miên - Lào chưa phải là một cái điều thật sự tốt đẹp. Nên đây cũng là một cái nhu cầu, một cái áp lực của xã hội, của chính trị, của tình thế mà ta không thể đi khác được. Buộc ta cũng phải tuyên bố Phật giáo là quốc đạo tại Việt Nam. Đó là ba yếu tố. Tức là, một: là sự nhận định của những nhà lãnh đạo; thứ hai: là sự thể hiện trong đời sống của những người đệ tử Phật; thứ ba: là tình thế chính trị ba nước Việt - Miên - Lào, ta không thể làm khác được.

[8:33]Khi mà chúng tôi trả lời như vậy thì những vị khách ở trong đoàn họ hết sức là vui mừng, họ vỗ tay và họ nói rằng đúng như vậy. Mà họ mong rằng ở cấp trên cũng nhận định được như vậy để sớm tuyên bố đạo Phật là quốc đạo của Việt Nam. Ta nghe vậy ta có vui mừng không ạ?

[8:53]Ông Thứ trưởng ổng rất là vui mừng, ổng nói ổng sẽ về ổng báo cáo lên cấp trên những cái điều này. Và hy vọng rằng cái việc đó sẽ sẽ đến sớm. Thì trong cái mùa hạ này cũng như là nhiều cái mùa hạ trước thì chúng tôi không có được cái may mắn là ở yên mà cứ thường phải đi nơi này nơi kia để để giảng bài. Thì vừa rồi chúng tôi được cái Phật tử ở Hà Giang, biên giới phía Bắc á, mời ra. Thì ở Hà Giang không có chùa, không có Phật giáo, không sư, không Tăng, không có gì hết. Khi đến giảng thì được bố trí đến giảng tại Nhà văn hóa của tỉnh, thì có các vị quan chức họ sắp xếp, tức là bên cán bộ của Nhà nước

[9:37]họ sắp xếp cái buổi giảng đó chứ không có Phật giáo. Thì họ vừa mới thành lập một cái Hội Phật tử. Cái chữ "Hội Phật tử" nó cũng không đúng với Hiến chương Giáo hội lắm, nhưng mà tạm thời họ chưa biết họ lập như vậy. Lập cái Hội Phật tử cách đó mới 20 ngày. Là bà vợ của ông Bí thư Tỉnh á, bả làm Hội phó. Bả là người dân tộc Tày. Ta nghe nói người dân tộc Tày ta có hình dung nó như thế nào không ạ? Ta nghe dân tộc Tày ta tưởng họ đen, họ xấu hả? Dạ không, họ đẹp hơn con gái Nha Mân của ta.

[10:12]và hiền lành thông minh hơn người Kinh mình. Ta ngạc nhiên như vậy. Mà bà là bà bà vợ của ông Bí thư Tỉnh và bà được đi học rất là sớm, mà được đào tạo chuyên nghiệp. Con người rất là giỏi, có kiến thức và rất là điềm đạm, rất là đạo đức. À bà sắp xếp mọi cái việc như vậy. Thì khi mà giảng ở cái nhà văn hóa đó cho các Phật tử á và cán bộ chúng tôi có nói điều này. Tôi nói khi về Hà Giang là một cái đất mà có 22 dân tộc cùng sinh sống, ngoài người Kinh ra còn có người Tày, người Mông, người ồ nhiều tên không nhớ nổi. Đúng rồi. Nhiều lắm. Rồi khi ta đến cái chợ phiên ở Quản Bạ ta sẽ thấy vào buổi sáng sớm cứ một tuần

[10:53]như vậy có cái chợ phiên và người của dân tộc các buôn làng họ đi cả suốt đêm băng cả những cánh rừng để họ về đó họ mặc đồ dân tộc họ rất là đẹp. Họ mang theo một con gà, dắt theo con chó, bưng theo con heo hay là một gánh bắp gì đó ra đổi, đổi rồi họ lấy tiền họ lại mua cái hàng khác họ đem về. Có khi ra để ăn tô phở, tô phở người Kinh. Thì cái khung cảnh rất là vui, rất là nhiều cái dân tộc anh em nhau như vậy thì chúng tôi có nói là đất Hà Giang này đất của 22 dân tộc. Và nhìn 22 dân tộc sống hòa bình bên nhau chúng ta nghĩ đến đất nước của chúng ta đã được hòa bình, đã được thống nhất. Nhưng mà chưa thống nhất thật sự. Vì sao vậy?

[11:32]Bởi vì ta đã thống nhất được cái hình hành chính nà, ta thống nhất được luật pháp, hiến pháp, à tiền tệ, về lãnh đạo, vân vân. Nhưng mà tâm linh ta chưa thống nhất. Mỗi một dân tộc có một cái tín ngưỡng riêng. Và chính vì có cái tín ngưỡng riêng này nên nó thật sự là ta chưa thống nhất trong tấm lòng của chúng ta. Nên muốn thống nhất một dân tộc thì ngoài tất cả những việc mà hành chính, đất nước, tổ quốc, hành chính, tiền tệ, luật pháp hết rồi ta phải thống nhất về tâm linh nữa. Nhưng mà giữa cái muôn vàn tâm linh như thế, giữa nhiều cái hướng đi tâm linh đó thì ta lấy cái tâm linh nào để làm cái tâm linh chung cho dân tộc ta?

[12:11]Thì nói có hai cái tâm linh có thể dùng làm cái tâm linh chung cho cả dân tộc ta. Thứ nhất là truyền thuyết về cội nguồn của ta là con Rồng cháu Tiên. Cái truyền thuyết về con Rồng cháu Tiên này là một cái hướng đi tâm linh rất là đẹp, rất là hay mà nào giờ ta cứ lơ, ta không khai thác. Nhiều khi nói đến ta cứ nghĩ giống như là chuyện mê tín. Nói làm gì có chuyện mà Rồng lấy Tiên đẻ ra 100 trứng, không ai tin rồi cứ nghĩ như là chuyện mơ hồ thần thoại không ai muốn nhắc tới nhiều, nhắc tới nhắc sơ sơ. Nhưng mà không ngờ rằng đó là chuyện có thật và đó là một câu chuyện rất đẹp, một chuyện tâm linh rất đẹp.

[12:47]Nếu ta khai thác, ta đào sâu sẽ biết đây là một cái cội nguồn tâm linh của cả dân tộc ta. Chúng tôi cũng nói rằng tại sao cả thế giới phải học về cái cái chuyện mà cội nguồn lập quốc của dân tộc Do Thái, mắc mớ gì phải học? Mà học qua Thánh kinh, qua Thánh kinh Ki-tô. Tức là từ đầu tiên chỉ là một nhóm người Do Thái làm nô lệ cho Ai Cập. Tức là Ai Cập họ bắt dân Do Thái làm nô lệ cho họ để xây kim tự tháp. Rồi sau đó mới có một cái ông gọi là Mô-sê đó. Ông mới bức xúc quá ông mới bí mật, sau đó là ông vừa vận động với chính quyền của Ai Cập mà vừa liên kết được các người Do Thái rồi họ trốn đi.

[13:27]Họ bỏ khỏi cái đất nước Ai Cập họ lang thang, họ trốn vào trong sa mạc. Trốn vào trong sa mạc và họ đi tìm một mảnh đất để họ lập quốc và mảnh đất đó họ gọi là mảnh đất hứa. Thì trên đường đi như vậy đi suốt 40 năm mới tìm ra được cái mảnh đất Do Thái mà họ lập quốc, họ phải băng qua cả một sa mạc và trên đường đi đó nhiều người chết và nhiều trẻ em được sinh ra, cái tinh thần họ kiên cường để họ tìm được cái mảnh đất hứa của họ để họ lập quốc gia Do Thái. Cái câu chuyện nó như vậy thôi, vậy mà cả thế giới phải học. Chứ còn cái chuyện mà một con Rồng thần là Lạc Long Quân từ phương Bắc khi đi về đến đất Việt Nam ở phần Kinh Bắc của ta gặp mẹ Âu Cơ là một nàng tiên.

[14:06]Nàng tiên thì nàng tiên rất là đẹp nhưng sự thật là không có tuổi vì bà cực đẹp và cực trẻ không biết tuổi bà là bao nhiêu. Bà là một cái nữ chúa ở cái vùng đó, các bộ tộc hằng năm đều đem quà về tặng bà, tôn sùng bà như là một nữ chúa. Nhưng mà bà không thật sự là vua, tại vì bà sống như hiền lành không có bày ra cái uy quyền lãnh đạo nhưng mà thần thông phép lạ đều đầy đủ hết. Thì khi mà Lạc Long Quân gặp bà như vậy thì hai người yêu nhau, lấy nhau và sinh ra theo truyền thuyết là 100 người con. Cái câu chuyện nó không đơn giản như vậy, khi ta đào sâu rồi ta sẽ thấy rất nhiều điều đẹp ở trong đó nữa.

[14:45]Và đó cũng là lý do tại sao mà ở ngoài Bắc ta hay có tục lệ thờ Mẫu. Ở trong Nam thì không có, ít, nhưng ngoài Bắc lại có tục lệ thờ Mẫu. Nhưng vì cái thờ Mẫu ngoài Bắc không định hình lại được đâm ra cái Mẫu thành mê tín. Chứ sự thật là cái tâm thức thờ Mẫu ở ngoài Bắc chính từ cái sự tôn sùng mẹ Âu Cơ từ ngàn xưa để lại. Nhưng mà bây giờ là không định hướng được cái ta đi lạc luôn và nghe rất giống như là mê tín. Thì cái việc mà truyền thuyết mà cha là Rồng mẹ là Tiên làm truyền thuyết tâm linh rất đẹp có thể làm cái nguồn tâm linh cho dân tộc ta. Và một cái nguồn tâm linh thứ hai nữa đó là Phật giáo mà tổ tiên ta

[15:26]đã sáng suốt chọn lựa cho dân tộc ta từ suốt mấy nghìn năm qua. Hai nguồn tâm linh này: một là truyền thuyết cội nguồn của ta, hai là Phật giáo này có thể tạo thành một cái tâm linh chung cho toàn dân tộc ta, đoàn kết hết tất cả mọi dân tộc anh em lại trong cái sự thống nhất chung lại. Lúc đó ta mới thật sự là thống nhất đất nước của mình. Khi chúng tôi nói câu này mọi người cũng hết sức là cảm động và các vị cán bộ nghe cũng hết sức là hài lòng, đồng ý. Nên nãy giờ thì chúng con cũng xin được nói qua sơ sơ cái cái việc làm một chút xíu, tại nãy nghe ông thầy ông quảng cáo quá. Mà nãy thầy nói hơi dư và lại hơi thiếu.

[16:05]Chưa giảng được hơn 1000 bài, chỉ 800 mấy. Nhưng mà thầy thiếu cái là thầy nói soạn được 30 bài nhạc, không, 80 mấy bài rồi. Có

[16:18]một bài thơ của Hòa thượng Mãn Giác là lúc xưa lúc còn trẻ Hòa thượng lấy bút hiệu là Huyền Không, bài "Nhớ chùa" mà trong đó có hai câu cực kỳ nổi tiếng mà ta luôn luôn trích dẫn là: "Mái chùa che chở hồn dân tộc, nếp sống muôn đời của tổ tông". Quý thầy cô nhớ chưa hả? Nhớ? Trong bài đó "Nhớ chùa" đó, tức là "Từ thuở ra đi vắng bóng chùa, đường đời đã nhọc chuyện hơn thua. Trong tôi bừng dậy niềm chua xót, xao xuyến mơ về lại cảnh xưa". Tức là cái bài thơ rất là hay. Thì mới vừa rồi là chúng tôi cũng vừa phổ nhạc xong. Không biết lát nữa nếu có duyên thì mở nghe. Anh Bảo Chấn ảnh phối rồi ca sĩ lời hát cũng rất là hay.

[16:58]Bây giờ thì thôi chúng con xin được phép đi vào đề tài để làm việc ngày hôm nay trong cái trường hạ này. Đó là cái tựa đề là bài hôm nay là bài "Đôi cánh của người xuất gia". Đôi cánh của người xuất gia. Một con chim muốn bay thì nó phải có đủ hai cánh chứ một cánh không bay được. Có đủ hai cánh mới bay. Người xuất gia ta cũng vậy, ta bay đi vào trong bầu trời tâm linh, ta bay trong bầu trời Phật giáo, ta xây dựng được Phật pháp cho thế gian này thì ta cũng phải có cái đôi cánh. Mà một lát ta mới thấy là không có một đôi mà sự thật ta sẽ có rất nhiều đôi. Cái đôi thứ nhất là thế này, nó là cái sự đối lập giữa hai cái vấn đề:

[17:40]một là cái thúc liễm tu hành, tránh duyên và cái ngược lại là cái tiếp duyên để giáo hóa. Người tu nào cũng bị day dứt, trăn trở, mâu thuẫn giữa hai cái này cả, hai cái đối lập này. Một bên là cái yêu cầu ta phải thúc liễm tránh duyên để tu, bởi vì nếu mà ta buông theo duyên trần tâm ta loạn lên, ta không có chiến thắng với được những cái vô minh, tham, sân, si của mình. Bắt buộc là vậy, ta phải tránh duyên. Đi bước ra mà đi theo chuyện đời cái là cái tập khí ta sống lên liền. Nghe người đời họ nói về cái chuyện làm ăn của họ cái ta bị chú tâm theo hoặc là nghe người đời họ nói những chuyện hơn thua, danh lợi của họ cái ta bị động tâm theo,

[18:23]tập khí ta trỗi dậy, cho nên ta tránh duyên là ở trong chùa ngay như mùa hạ ta vậy, giữ gìn trong giới luật rồi khi Phật tử đến chỉ chào hỏi chút xíu, xá cái rồi tránh đi chỗ khác chứ không có tiếp chuyện nhiều. Các vị thiền chủ và trong ban giám hạ, những vị cũng không cho phép những tăng ni sinh được đi tiếp xúc nhiều. Ba tháng là thật sự là thúc liễm. Mà thúc liễm trong ba tháng để cho ta quen với sự thúc liễm cả suốt năm. Suốt năm ta nhớ trong đầu ta một cái ấn tượng rằng cái người xuất gia là cái người phải tránh duyên, tránh cái duyên trần chứ không thể mà theo sát, cọ xát, bám sát theo cái duyên trần của thế tục được.

[19:04]Ví dụ như bây giờ có một người Phật tử họ đến: "Dạ thưa thầy, con có chuyện buồn". Thì với tư cách cái ông thầy cái buộc lòng mình phải lắng nghe để mình giãi bày, nói: "À đâu con nói thầy nghe chuyện gì?". Bắt đầu cái người đó kể: "Con yêu người đó, người đó mới đầu hứa yêu con rồi sau mấy năm cái không yêu nữa rồi thế này thế kia con buồn quá rồi con tính tự giận mà con nghĩ lại bỏ cha mẹ, bây giờ cha mẹ con làm ăn...". Họ kể một lát nó thành một trường thiên tiểu thuyết mình nghe xong muốn điên luôn. Mà bây giờ mình không lịch sự nói: "Thôi thôi mệt quá rồi, thôi đừng nói nữa" thì mít lòng người ta.

[19:35]Mà nghe thì thế này mình muốn điên hoặc là muốn điên hoặc là mình chạy theo rồi tập khí sống lại. Cho nên vì vậy mà cái người tu mình đối với cái chuyện thế gian ta có cái khoảng cách nào đó để có cái sự thúc liễm tránh duyên mà tu, không còn cách nào khác. Đó là đôi cánh thứ nhất. Nên cái bản lĩnh đầu tiên của người xuất gia là biết tránh duyên, cắt duyên. Nên ta cứ nhìn một người thầy tu thôi. Ta đi vào chùa cái ta thấy một người Phật tử vào gặp ông thầy, cái đứng chắp tay xá chào thầy, thầy xá chào lại, mà trong cái ông thầy ổng xá chào lại rồi người Phật tử hỏi vài câu, thầy ổng đáp vài câu, ta biết ngay ông thầy này đã có bản

[20:15]lĩnh tránh duyên hay chưa, hay là ổng còn mê duyên đời, biết liền. Đó là, ví dụ như ông thầy ổng sẽ lịch sự ổng chào lại, ổng hỏi vài câu, nhưng mà ta thấy ánh mắt ổng rất là dè dặt, ổng có cái khoảng cách, ta biết ngay ông thầy này ổng ổng tránh duyên, ổng người thúc liễm tu hành. Còn thấy mắt ổng cái sáng rỡ lên cái hỏi tới hỏi tới: "Sao con, lúc này con khỏe không?" Hỏi dần dần, người ta nói một cái ổng hỏi thêm câu thứ hai, người ta trả lời câu thứ hai ổng hỏi thêm câu thứ ba. Tức là qua trung gian cái người Phật tử ổng đi sâu vào thế gian luôn, thì biết ông thầy này chưa có bản lĩnh tránh duyên. Ta nhìn biết liền.

[20:46]Nên cái quan trọng cái người tu này cái bản lĩnh là cắt duyên trần. Nghĩa là cái chùa đã là một cái lãnh địa riêng của mình rồi, chùa là một lãnh địa riêng, mà người nào bước vào đây rồi là họ phải có bổn phận không được làm ô uế cửa thiền, hà hà. Mặc dầu bây giờ thì chùa ta bị bao vây bởi nhà thế tục chật hết, nhưng mà khuôn viên chùa vẫn là một cái lãnh địa riêng ta, một cái vương quốc riêng, một cái cõi Tịnh độ riêng của ta, mà ngày đêm chư thiên Hộ pháp thường hay hộ trì. Thì người Phật tử vừa bước vào cổng chùa, tự nhiên họ phải được cái ý thức điều đó, không được đem chuyện thế tục vào đây.

[21:24]Có thể họ có những cái bức xúc, những cái tâm lý gì đó mong được giải bày, nhưng không có nghĩa là đem cái chuyện đời bỏ vào trong chùa, làm cho đầy chùa, làm cho ô uế thiền môn, đại khái mình nói như vậy, làm cho nặng nề cửa thiền. Nhưng mà cái quan trọng là cái người tu ở trong chùa đừng rước cái chuyện thế tục vào, mà phải có cái bản lĩnh gạt chuyện thế tục ra ngoài. Nghĩa là mọi người đem chuyện thế tục vào đây họ khuấy, tại họ đủ tâm sự mà, nhưng mà ông thầy phải hóa giải cho tiêu liền. Ví dụ bây giờ nói: "Thưa thầy, con có đứa con gái, giờ nó ưng cái thằng đó, mà tụi con thấy tuổi nó không có hợp nhau.

[22:05]Giờ thầy, mà cái thằng kia kìa, con thấy tuổi nó mới hợp, gia đình người ta đàng hoàng, mà tuổi nó hợp, còn ở đây không được. Giờ thầy tính sao?" Thì mình là ông thầy mình không thể trả lời là: "Ờ thôi, cái tuổi này hợp mình lấy tuổi này đi, đừng lấy tuổi kia." Chết liền! Tại vì người thầy tu không bao giờ được trả lời cái kiểu mà xúi người ta làm đám cưới. Thầy tu chỉ được trả lời một câu là: "Đừng làm đám cưới." Đúng không ạ? Thầy tu chỉ được trả lời có một câu á. Giờ hỏi: "Thưa thầy, bây giờ hai tuổi này thầy tính sao?" Nói thì ông thầy chỉ còn nước trả lời câu này: "Không có tuổi nào hạp hết đó con à,

[22:41]con về con nói hai đứa ba đứa đi tu hết giùm thầy nha." Không, vậy là xong. Nghĩa là ai mà đem chuyện đời vô là mình xóa tan, đem chuyện đời vô là xóa tan trong chùa, chứ không có mà dắt người ta đi vô đời luôn. Tại vì nếu mà mình xúi người ta đi vào đời cái chính mình bị nghiệp hoàn tục, mà nếu kiếp này không hoàn tục, kiếp sau cũng sẽ bị, bị vướng hôn nhân liền. Cho nên là ông thầy tu không bao giờ xúi ai đi vào hôn nhân, mà chỉ hễ có xúi là chỉ xúi đi tu thôi. Cho nên quý Phật tử mà hễ thật sự mà muốn chuyện hôn nhân, xin đừng bao giờ vô chùa hỏi. Tại vì chỉ được trả lời cái câu là không, không bao giờ, không bao giờ.

[23:16]Thì cái bản lĩnh của ông thầy là xóa tan những chuyện thế gian hết, đó gọi là bản lĩnh mà cắt duyên á. Mà ngay khi từ đầu ta bước vào chùa tu là những bộ luật, những cái giới luật đã dạy ta những điều đó rất là nhiều. Nhưng mà chỉ có một điều là cái tập khí thế tục nó cứ tiềm tàng tiềm tàng trong lòng ta, tại vì chúng ta chưa phải chứng Thánh. Cho nên những cái tập khí thế tục nó cứ tiềm tàng tiềm tàng, nó cứ lôi ta, làm cho ta dính vào chuyện thế tục. Cho nên cái ông thầy tu là phải có bản lĩnh cắt đứt cái duyên, cắt đứt duyên trần. Dĩ nhiên là chưa cắt được hết, nhưng mà lúc nào cũng tác ý ở trong đầu mình là phải cắt đứt duyên trần, vậy đó.

[23:54]Nghĩa là Phật tử mà nói chuyện dông dài quá là phải kêu người ta hướng về cái tu, chứ mình không đi sâu vào đời để giải thích, đó là một cái. Nhưng mà cái chuyện ngược lại là trách nhiệm là phải tiếp duyên mà giáo hóa chúng sinh, chứ không thể là ông thầy tu mà chỉ biết tu mà không giáo hóa chúng sinh, giống như con chim mà có một cánh không bay được. Nhưng mà tiếp duyên giáo hóa, giáo hóa thì phải tiếp duyên, thì phải tiếp xúc, tiếp xúc phải gặp gỡ, phải biết chuyện này chuyện kia, và thật sự là phải biết rất nhiều chuyện trên cuộc đời. Hai cái điều này mâu thuẫn nhau, đối lập nhau ngay trong tâm hồn của người tu.

[24:31]Nên ta thấy có một số là Tăng Ni trẻ thành lập một cái đội ngũ gọi là đội ngũ hoằng pháp trẻ. Dùng cái chữ hoằng pháp là ta biết ngay là những người này rất là năng nổ, nhiệt tình để mà đi giáo hóa chúng sinh, mà giáo hóa là phải tiếp duyên. Nhưng tiếc rằng chỉ có một cánh, các vị này không có cái bản lĩnh tránh duyên thúc liễm, mà chỉ hoàn toàn hướng ra ngoài, hướng vào thế tục để gọi là đi hoằng pháp, nhưng rồi không ngờ kết quả không nhiều. Kết quả không nhiều bởi vì khi đến mình hoằng pháp người ta mà cái phẩm cách, cái nhân cách, cái oai nghiêm mình không có, nó hiện ra đời không, cái người ta cứ ngờ ngợ ngờ ngợ trong lòng, nói:

[25:09]"Mấy người này không biết tu hành có đàng hoàng không?" Miệng thì mình nói thao thao như nước chảy như mây trôi mà người ta không tin, thua, giáo hóa không thành công, bởi vì con chim có một cánh à. Thì ngược lại cũng vậy, cái người không chịu tiếp duyên giáo hóa mà cứ chỉ ru rú ở trong chùa tu, thì cũng con chim chỉ có một cái cánh, không bay được. Mà bây giờ con chim có đôi cánh, đó là vừa có thúc liễm tránh duyên mà vẫn phải tiếp duyên giáo hóa. Đây là một cái mâu thuẫn, nhưng mà cái mâu thuẫn này nếu giải quyết được thì nó thành một đôi cánh đẹp để cái người tu sĩ đó bay bổng lên trên bầu trời tâm linh.

[25:44]Ta mới có công đức để tu hành, ta mới đóng góp được cho đạo cho đời, cái công đức đó mới trở lại vào trong tâm linh ta để ta mới nhiếp được tâm vào trong thiền định, vì thiếu phước không ai nhiếp được tâm hết. Cho nên cái đôi cánh này nó nằm hai phía ngược nhau, nhưng làm con chim bay lên. Nhưng cái bản lĩnh của ta là làm sao giữa hai cái ngược nhau đó mà ta cân bằng nó lại được, cân đối lại được. Khi mà ta tiếp duyên giáo hóa thì lúc nào cũng phải nhớ còn phải thúc liễm tránh duyên. Khi ta thúc liễm tránh duyên thì không bao giờ quên cái bản hoài độ sinh. Hai cái đó luôn luôn đi song song song song thì mới thành đôi cánh của người tu,

[26:24]còn thiếu một trong hai cái này, người tu ta ta không bay được, như vậy. Nhưng mà ta vừa nói cái mà tiếp duyên để giáo hóa, thì trong cái tiếp duyên để giáo hóa buộc ta phải biết rất nhiều chuyện của cuộc đời. Vì cái người tu ngày hôm nay á, ta không thể làm thầy của thiên hạ mà cái kiến thức mình kém hơn thiên hạ. Cái khó là như vậy. Vì Phật tử cũng có nhiều hạng, có những Phật tử họ chỉ cần thầy có cái đức thôi, tức là họ có thể họ là tiến sĩ, họ là cử nhân, họ thạc sĩ, họ rất giỏi, nhưng họ sẽ chấp nhận quỳ xuống trước một ông thầy vì biết rằng ông thầy này đức độ cao siêu mặc dầu vị thầy này chỉ là vị thầy nhà quê.

[27:05]Nhưng mà do là cái người Phật tử đó họ họ ý thức cao quá, nên họ không đem kiến thức ra họ so sánh. Ví dụ như họ biết rằng bằng cấp họ rất cao, nhưng không bao giờ họ so sánh được với cái đức độ của ông thầy nhà quê này. Một ông Hòa thượng già sống trong cái ngôi chùa đơn sơ, nhưng mà cái công phu tu hành rất là dày, cái đạo đức sáng ngời, mặc dù họ có vừa đi học nước ngoài về tiến sĩ họ gặp vị thầy họ vẫn phải quỳ xuống, thì đó là cái người Phật tử rất có căn lành, rất có ý thức. Nhưng mà còn có những Phật tử không được như vậy, nhất là cái lớp trẻ trẻ mới lên, là khi gặp ông thầy nói qua vài ba câu thấy kiến thức

[27:40]ông thầy này không nhiều, thì cứ trong đầu cứ nghĩ ông thầy này thua mình nữa rồi làm sao làm thầy mình, cái bỏ đi. Nên Phật tử có hai hạng, người đời họ có hai hạng. Cho nên cái giáo hóa đó nếu may mắn mà ta gặp những người Phật tử có ý thức, thực sự ta chỉ cần tu dưỡng cái đức thôi là nhiếp phục được họ, giáo hóa được họ. Nhưng mà gặp phải cái hạng Phật tử mà cứng đầu, mà tự cao, thì đòi hỏi ta phải có kiến thức, ta cũng phải biết, nói đâu trúng tim đen tới đó nó mới sợ, mới chịu nghe lời. Nhưng mà để mà nói cho trúng tim đen nó thì mình cũng phải biết rất nhiều chuyện của cuộc đời. Chính vì vậy mà ta thấy trong cái mười

[28:19]danh hiệu của Phật, nó có danh hiệu là Thế Gian Giải, biết hết chuyện thế gian, biết hết chuyện thế gian, nghĩa là Đức Phật của chúng ta là một người biết hết mọi điều trong chuyện trong thế gian này. Biết hết mọi điều trong thế gian đến nỗi nó có một chi tiết rất nhỏ này mà cũng thuộc là Thế Gian Giải. Nói thật sự ra mười danh hiệu của Phật ta giảng hoài không hết đâu. Vì có một điều thế này: ví dụ khi Đức Phật đắc đạo xong thì tất cả mọi đường đi nước bước trên thế gian này Đức Phật nắm trong lòng bàn tay. Không bao giờ có chuyện một vị Phật đi mà phải hỏi đường, chúng ta nhớ chuyện đó. Ví dụ như khi có một gia chủ đến:

[28:56]"Con thỉnh Thế Tôn ngày mai đến nhà con để thọ trai", Đức Phật im lặng nhận lời, Ngài không hỏi đường. Và sáng hôm sau, khi mà mặt trời đã lên, chim đã hót, Đức Phật mới đắp y mang bát cùng với một số tỳ kheo, chư Tăng rời khỏi tinh xá đi thọ trai, và đi về tới ngay căn nhà đó luôn, các đệ tử cứ việc đi theo Phật và Phật cứ đi thẳng một đường không bao giờ hỏi đường. Bởi vì sao? Bởi vì tất cả mọi nẻo đường thế gian Đức Phật đã biết hết khi mà Ngài vừa thành Phật. Đó là cái chuyện nẻo đường, đường đi nước bước thôi. Còn vô số điều khác trong tâm lý, trong cuộc sống, trong xã hội, trong nhân văn, trong khoa học Đức Phật biết hết.

[29:37]Và chính vì vậy mà Ngài độ hết được tất cả mọi người. Thì chúng ta ngày nay cũng vậy, nó cũng đòi hỏi là chúng ta phải có một kiến thức trong chừng mực nào đó hiểu về cuộc đời thì ta mới dạy cuộc đời được. Nhưng mà để hiểu về cuộc đời thì nhiều khi chúng ta phải mất thời gian học hỏi nhiều quá. Mà chính mất thời gian học hỏi nhiều quá, ta lại không thúc liễm để nhiếp được tâm vào trong Định. Là ta lại mất cái phần tâm linh. Nghĩa là ta được cái kiến thức thì ta lại mất cái tâm linh giác ngộ. Mà nếu ta đi sâu trong cái tâm linh giác ngộ thì đành phải thiếu kiến thức. Cho nên giữa hai cái này cũng lại là một cái mâu thuẫn lần nữa.

[30:14]Cái mâu thuẫn lần nữa để cho một vị Tăng có thể vừa tu mà vừa giáo hóa được chúng sinh. Làm sao ta thúc liễm để khai mở được tâm linh giác ngộ mà vẫn không thiếu kiến thức thế gian. Nên có một số nhiều khi nhất là những tăng ni ở thành phố á họ lại chọn cái thứ hai, đi vào kiến thức thế gian cho rộng, bằng này cấp kia để có thể là gọi là đi giáo hóa, nhưng sự thực giáo hóa lại không thành công vì thiếu cái tâm linh giác ngộ. Còn nhiều khi một vị Thầy nhà quê nào đó ở trong xó trong sỉnh á, tâm linh giác ngộ rất là sáng nhưng mà lại không có cơ duyên tiếp xúc để giáo hóa thì đạo Phật cũng coi như mình không đóng góp được gì.

[30:54]Cho nên vì vậy cái sự cân đối giữa hai điều này làm cho chúng ta phải hết sức là ray rứt, là trăn trở và cố gắng. Thì cái điều này khi chúng tôi nêu điều này ra, chúng tôi không đưa ra một công thức để cho tăng ni, những vị tăng ni trẻ là phải làm theo như thế nào. Chúng tôi chỉ gợi ý và chính các vị phải là người tự mình tìm ra hướng đi. Vì chính mình tự mình tìm ra hướng đi mới là cái thực chất của mình. Còn chúng tôi đưa ra công thức thì nó là cái công thức của căn cơ của chúng tôi, nó khác. Còn mỗi vị phải tùy theo căn cơ của mình tìm ra một hướng đi. Hướng đi đó làm sao vừa có thể thúc liễm,

[31:37]tránh duyên để tu hành mà vừa có thể tiếp duyên để giáo hóa một cách tự tại. Vừa có thể khai mở được tâm linh giác ngộ của mình mà vừa vẫn có thể tiếp nhận được kiến thức của thế gian để sau này giáo hóa chúng sinh. Thì việc cân đối giữa hai cái điều mâu thuẫn này với nhau là cái bản lĩnh của mỗi người, chứ chúng tôi không làm thay được, chúng tôi cũng không đưa ra một công thức chung chung được. Tại vì bản lĩnh của mỗi người, cái trí tuệ của mỗi người, căn cơ tu tập của mỗi người. Ví dụ như chúng tôi là người không được may mắn học hành nhiều, cũng gọi là dốt á. Cho nên chúng tôi đành phải đi cái con đường mà phù hợp với mình.

[32:15]Phải ráng tu, rồi học chút chút, rồi vừa tu vừa học chút chút, vậy thôi. Rồi sau đó cái tùy duyên mà giáo hóa. Như vậy thì coi như là phần mình lại là thấy tạm, tạm ổn. Nhưng mà có những vị khác họ lại có cái duyên là họ tu rất là sâu nhưng mà sau đó họ tiếp nhận kiến thức thế gian rất là mạnh thì họ lại mở mang giáo hóa sẽ lớn hơn rất là nhiều. Hoặc là có những vị có cái duyên học được nhiều trường Phật học, tiếp nhận được những luồng cướng... kiến thức rất là lớn rồi sau đó họ mới đóng cửa nhập thất luôn mấy năm, thế họ cân đối luôn được cả hai bên, vừa là kiến thức mà vừa là cái tâm linh rồi họ mới bước ra họ đi giáo hóa cũng rất là thành công, vân vân.

[32:53]Thì mỗi người sẽ có cái bản lĩnh riêng của mình, hướng đi riêng của mình để cân đối hai cái mâu thuẫn này: một bên là tâm linh giác ngộ, một bên là kiến thức phổ thông; nha, một bên là sự tránh duyên để thúc liễm, một bên là tiếp duyên để giáo hóa. Mỗi vị tự mình mình cân đối điều này, nha. Rồi một cái đôi cánh khác của người xuất gia nữa là cái này. Người xuất gia nào cũng phải lệ thuộc vào sự giúp đỡ của của Phật tử. Tại người đi tu rồi mình không có làm kinh tế ra tiền được. Lâu lâu có chùa làm nhang, làm tương bán nhưng mà không biết có lời không ta? Thầy không làm Thầy cũng không biết nữa.

[33:33]Ở đây có vị nào làm tương, làm nhang không? Có lời không hả? Lời không ta? Không biết lời không ta? Tại thường thường á theo nguyên tắc là làm tương, nhang sống lây lất. Tại vì hồi lúc mà trước kia chúng tôi đi xuất gia đó, có ghé mấy chùa đó cũng làm nhang. Có ghé ở chùa cũng làm nhang mấy tháng thử, làm mà ngồi se từng cây nhang, ngồi nghĩ, "Cha! Se cây nhang này không biết chừng nào mới đủ bữa cơm ăn?" Nên trong lòng mà khi xuất gia rồi cái ấn tượng à, "Cha! Cái nghề làm nhang chắc không khá nổi." Nhưng mà chùa không có làm gì thanh cao hơn được là đành phải làm nhang, làm tương bán, không biết sao.

[34:06]Nhưng mà trên tổng quát là hầu hết cái người xuất gia ta không làm ra được kinh tế mà cái sự sống của ta là do Phật tử giúp đỡ. Nhưng ta dùng cái chữ là "cúng dường". Vì vậy nói thẳng câu là ta lệ thuộc vào cái sự giúp đỡ tài vật của Phật tử, không cách nào khác. Ta dùng hẳn chữ "lệ thuộc". Hễ Phật tử không cúng thì đói. Nói thẳng một câu vậy. Nhưng mà chính vì mà nếu Phật tử không cúng thì đói mà ta cầu cạnh cái sự cúng dường thì ta mất liền cái thiên chức của mình. Nhưng mà không phải là vì sợ đói mình trở thành cầu cạnh. Đây lại là một cái bản lĩnh lần nữa. Đây là một cái điều mà nó gọi là ngược đời. Ngược đời là vì sao?

[34:52]Vì theo thói đời, theo thói thường, theo thông lệ, ai giúp ta, tự nhiên ta khuất phục trước người đó. Đó là quy luật. Đó là quy luật của nghiệp báo và của tâm lý. Khi ta nhận cái sự giúp đỡ của ai, ta trở nên lệ thuộc về đời sống, về tâm lý, về mệnh lệnh. Chỉ có ông thầy tu mới ngược lại là lệ thuộc về vật chất nhưng mà vẫn đòi làm thầy người ta, vẫn dạy bảo người ta. Đây là cái chuyện ngược đời. Nhưng mà chỉ có ông thầy tu nào có bản lĩnh tu hành á thì mới làm chuyện ngược đời này được. Còn nếu mà người nào không có bản lĩnh tu hành thì ta sẽ theo thói đời. Theo thói đời là sao? Nghĩa là ai giúp ta nhiều thì ta chìu lụy,

[35:46]ta bị hệ lụy tình cảm với người đó liền, ta bị chìu lụy trong ân nghĩa với người đó liền. Đó là thói đời. Còn cái ngược đời của thầy tu là cái người giúp ta nhưng ta không có bị lệ thuộc về tình cảm. Như khi mà ông Cấp Cô Độc ổng mua cả một cái khoảng vườn lớn của Thái tử Kỳ-đà, ổng phải đem vàng ổng trải lên cúng dường miếng đất như vậy mà Đức Phật chỉ nhận lời bằng cái gì? Sự im lặng. Không nở một nụ cười nữa. Chỉ im lặng và được gọi là sự nhận lời. Và sau đó là ngài Xá-lợi-phất với Mục-kiền-liên trông coi hướng dẫn ông cái việc cất cái tinh xá đó thích hợp cho chư Tăng ở. Công đức của ông Cấp Cô Độc thì rất là vô lượng, thầy không nói hết được.

[36:33]Nhưng mà cái bản lĩnh của Đức Phật thì thôi ta cũng không so sánh được, nhưng ta học Đức Phật cái bản lĩnh đó là ta nhận cái sự cúng dường giúp đỡ của Phật tử nhưng ta không hệ lụy về tình cảm với Phật tử, tức là đi ngược lại với hẳn với cái tâm lý của thế gian. Nhưng mà muốn được có cái bản lĩnh này thì đòi hỏi chính ta phải tu hành nhất mực. Cái người mà trong tâm linh cạn cợt, yếu ớt thì ai cho ta tiền, ta khuất phục trước người đó liền. Chỉ có khi nào cái tâm linh của ta nó cao lớn vòi vọi thì cái người đó đem cho ta 5 tỷ đồng, 10 tỷ đồng, 100 tỷ đồng chất một đống trước mặt, mình vẫn tỉnh bơ, không hề động tâm. Bởi vì sao?

[37:19]Bởi vì mình không hề tham cái số tiền đó, mình không hề dùng một đồng đó cho cá nhân mình. Ví dụ họ có đem chất lên 100 tỷ đồng, nói thật con số thật lớn luôn, lòng mình không mảy may xao động vì biết rằng là đem cho mình một gánh nặng, một gánh nợ mà mình phải dùng từng đồng đó chính xác đúng cho Phật pháp mà thôi, không hề lấy ra một đồng nhỏ dùng cho cá nhân mình. Cho nên vì vậy, dù cái họ giúp đỡ lớn cỡ nào, ta vẫn bình thản, vẫn bình thản và vẫn đứng ở tư cách mình làm thầy của họ, chứ không phải là mình là người chịu ơn của họ. Còn nếu lòng ta không có bản lĩnh tu hành sâu xa, cái tham, cái sân của mình còn nhiều, khi người ta đến người ta bưng đống tiền,

[38:02]gói tiền để trước mặt mình một cái rồi là lòng xao động liền, mình cảm thấy mình chịu ơn người ta nặng nề liền. Và bị khuất phục trước tình cảm, rồi sau đó cái người đó họ có thể chi phối, họ điều khiển cái cuộc sống của mình luôn. Và nếu mình là một người có vị trí quan trọng trong Phật pháp, họ sẽ thông qua mình, họ thọc tay vào trong Phật pháp, họ điều khiển chuyện chùa, chuyện Giáo hội luôn. Nhưng vì vậy mà cái người tu sĩ ta phải tránh được cái điều này. Rõ ràng là ta không tránh được cái thực tế là ta nhờ sự giúp đỡ của Phật tử, ta không chối bỏ được, bởi vì nếu chối bỏ ta phải tự mình làm

[38:39]kinh tế, mà tự mình làm kinh tế với những cái hơn thua, thành bại của thị trường, ta sẽ không còn tâm trí và thời gian để tu tập. Phải buộc là thôi để cho Phật tử cực khổ, Phật tử phải bươn chải, phải làm ăn, phải vất vả, phải hơn thua, phải chắt chiu từng đồng cúng dường cho ta để ta tu. Nghĩa là cái sự vất vả đổ hết cho Phật tử, còn phần ta không bị những cái vất vả đó, nhưng bù lại ta phải hết sức cố gắng tu hành. Một người Phật tử đem đến 50 ngàn, 100 ngàn để trước mặt ta, nhiều khi ta thấy thường, nhưng đâu biết rằng mồ hôi nước mắt của họ, vất vả nằm trong từng cái tờ giấy tiền đó. Đem đến một bao gạo, ta tưởng dễ, không có đâu.

[39:27]Vì nhiều khi, nhất là những vị mà tu lâu á, cả một đời nhận sự cúng dường của biết bao nhiêu người cái riết coi thường. Đâu biết rằng cái tâm lý coi thường đó là chuẩn bị cho mình kiếp sau làm trâu làm ngựa để đền bù lại. Cho nên, tu càng lâu mà cái trí tuệ càng sáng thì càng lúc càng thấy nặng nề cái ân nghĩa của người Phật tử khi giúp đỡ cúng dường ta. Mà cái người mà cúng dường càng ít á càng làm cho ta xót xa. Nhiều khi gặp một bà già bả móc ra một tờ 20 ngàn. 20 ngàn giờ mua được cái gì ta? Chưa bao giờ ra chợ mua cũng không biết 20 ngàn mua được gì nữa. 20 ngàn, cây cà rem hả? Thì bả cúng 20 ngàn, bả đưa 20 ngàn, mình cầm 20 ngàn muốn rớt nước

[40:14]mắt liền, vì biết bà rất là nghèo, không làm gì ra tiền chắc ai cũng mới cho bà đây, mà bà không dùng, bà đem lại đây cho mình. Thấy rớt nước mắt liền và thấy cái ân nghĩa rất là nặng, thấy rất là thương. Thì cái cái ân nghĩa đó, mình biết là cái gánh nặng họ đã chịu để cho chư Tăng được sống một đời nhẹ nhàng thanh thản để dồn sức tu hành mà khai mở tâm linh. Tuy nhiên, cái ân nghĩa nặng thì nặng, nhưng không bao giờ ta để cho tình cảm mình bị hệ lụy. Là người đó càng cúng dường người đó càng phải ráng tu, chứ không phải là họ càng cúng dường họ lại càng bày đặt có ý kiến vô trong chùa, không có được á.

[40:53]Càng cúng dường thì mình càng khuyên họ phải ráng tu. Cái mình khuyên họ ráng tu là chính mình đền ơn cho cái sự cúng dường của họ, chứ không phải là chiều họ lấy tình cảm mà gọi là đền ơn, không có, mà ta có cái bản lĩnh. Họ cúng bao nhiêu thì cúng, ta chỉ đền họ lại một điều bằng sự tu hành. Để có được điều đó, chính ta phải tu hành rất là rất là nghiêm túc. Ta dùng cái chữ tu hành nghiêm túc thôi, chứ ta chưa dám nói là thánh. Vì sao vậy? Bởi vì để chứng được thánh quả là cái con đường rất là lâu xa, mà chúng sinh thời mạt pháp này, hầu hết chúng ta không đủ phước để chứng thánh quả, chỉ một số rất ít người có phước chứng thánh quả đang rải rác

[41:37]đâu đó mà nhiều khi ta cũng chưa có cơ duyên để được tiếp xúc gặp gỡ. Còn phần chúng ta, chúng ta có duyên với Phật pháp tu hành, nhưng đừng nghĩ rằng ta dễ chứng thánh quả trong nay mai. Một trong những điều mà làm ta tổn phước là ta có cảm giác rằng mình sẽ chứng được thánh quả trong nay mai, chỉ cần ý nghĩ đó thôi là vĩnh viễn ta không chứng được thánh quả nào cả. Chỉ cần ý nghĩ đó thôi. Nhưng vì vậy, cái người tu mà trong cái khiêm tốn là mình tu tinh tấn, đúng mực nhưng biết rằng đây là gieo nhân, chứ không phải để gặt quả, thì người đó không bị tổn phước. Vậy đó mà tâm linh người đó ổn định, phát triển dần dần.

[42:22]Còn cái người nào mà khi bắt chéo chân lên ngồi, nhiếp tâm và cứ nghĩ rằng mình tu này để đạt được kết quả, thì người đó không đạt được kết quả gì nữa. Mà đây là tâm lý của hầu hết tất cả mọi người chúng ta bị. Như chúng tôi cũng vậy, 30 năm tu hành là 30 năm bị ý nghĩ đó, cứ phải sám hối. Cứ mỗi giờ ngồi thiền là mình cứ nghĩ rằng mình ngồi để đạt được kết quả, bao nhiêu phước đức mất hết. Sau này mới biết rằng ý nghĩ đó sai thì phải sám hối, chỉ biết rằng cứ mỗi giờ ngồi thiền của mình là mỗi giờ mình gieo nhân và gieo nhân cho đúng thôi, còn cái quả không biết. Cái quả là chuyện của trời đất, chuyện của Phật pháp,

[43:00]chuyện của nhân quả, chứ không phải là chuyện của mình, còn mình chỉ tu nghiêm túc trong từng phút từng giây, chỉ là để gieo nhân mà thôi. Còn cái ta sai lầm á, sai lầm là do ta nghĩ à mỗi khi ta ngồi tu là ta sẽ được một kết quả, ý nghĩ đó ta hết phước luôn. Thì khi cái việc mà ta tinh tấn tu hành trong cái khiêm tốn, trong cái đúng hướng, làm cho ta có cái bản lĩnh để khi mà ta nhận được cái sự cúng dường giúp đỡ của Phật tử, dù ít dù nhiều, ta đều trân trọng, biết ơn, nhưng không bao giờ hệ lụy về tình cảm. Đó là đôi cánh của người xuất gia một lần nữa. Cái điều thứ ba nữa, nó có một cái mâu thuẫn đối lập nữa

[43:41]mà người xuất gia ta cũng phải xử lý nữa, đó là: Không vướng mắc thế tục, nhưng không lầm lẫn chuyện đời. Không vướng mắc thế tục là sao? Nghĩa là khi mà cái chuyện danh lợi, hơn thua, thành bại ở đời, ta không bận tâm, hoàn toàn không bận tâm. Thậm chí lọt vào trong đạo cũng có những điều tương tự như vậy, ví dụ như ngay trong chùa thôi. Rồi khi ông thầy ổng muốn chọn một người đệ tử để lên làm tri sự thì trong lòng ta lập tức có ý nghĩ so sánh mình với ông sư huynh mình liền. Nói phải chi thầy ổng chọn mình làm tri sự hay hơn chứ ông sư huynh mình ổng yếu quá. Ý nghĩ đó là thuộc về thế tục liền, nó vẫn có cái hơn thua của

[44:24]thế tục mặc dù là chuyện trong chùa, nhưng ngay lập tức đó là chuyện của thế tục, hơn thua, thành bại, tham vọng. Hoặc là ngay trong giáo hội cũng vậy, ở trong giáo hội rồi ta muốn nghĩ rằng ta phải có một cái chức gì trong giáo hội, xin thưa ngay đó là tham vọng của thế gian liền. Cái người tu những điều này phải rũ cho sạch. Ví dụ trách nhiệm đưa tới thì ta làm, làm hết sức mình để phục vụ cho đạo pháp, cho chúng sinh. Nhưng mà không phải duyên, buông liền, không bao giờ bận tâm. Thì đó là không vướng mắc thế tục. Đó là chuyện trong đạo đó mà ta còn không ham, thì huống hồ là những chuyện mà giàu sang của thế gian,

[45:01]danh lợi của thế gian, hoàn toàn không vướng bận trong lòng mình. Thì đó là không vướng mắc chuyện đời. Nhưng mà không lầm lẫn chuyện đời, nghĩa là sao? Chuyện đời nhìn liếc mắt qua biết hết. Chuyện đời liếc mắt qua biết hết. Là khi một người đó họ có nói rằng là đứa con con học không ngoan, học không giỏi, biết tại sao liền. Hoặc là nói là lúc này gia đình con không hạnh phúc, nghe qua biết tại sao liền. Nói thưa thầy không biết sao là hai năm nay cái việc làm ăn của con sa sút, nghe thoáng thoáng biết lý do tại sao liền. Tức là cái người tu mình vậy là không lầm lẫn chuyện đời, biết rõ chuyện đời, nhiều khi biết chuyện đời còn hơn cả người

[45:39]cư sĩ, mặc dù trong tâm không vướng mắc chuyện đời. Đây là cái bản lĩnh rất là lớn đó. Mà tại sao ta có thể biết rõ chuyện thế tục như vậy? Bởi vì mình có bản lĩnh tu hành và mình có cái đạo lý của Phật dạy, trong đó cái luật nhân quả là chi phối hết. Hỏi tại sao mà con của con này nó học không tiến bộ nữa, thì biết ngay là nó tổn phước á. Khi nó không có phước thì nó học không giỏi nữa. Mà những lý do gì mà làm cho nó bị tổn phước? Là lúc này nó ít đi chùa. Mà tại sao nó ít đi chùa? Bởi vì nó dành thời gian nó đi chơi chuyện khác, mà lúc này cái chuyện gì mà làm cho nó chơi nhiều nhất? Game. Đó, thấy ông thầy rất là giỏi.

[46:20]Thầy ta không hề lầm lẫn chuyện đời, thầy biết ngay. Thầy nói câu chơi game, chính xác luôn. Ta thêm tràng pháo tay nữa, đúng một vị thầy tuyệt vời.

[46:32]Nghĩa là nghe nói con con lúc này học sa sút, ông thầy ổng nói liền: "Nó mắc chơi game, bắt nó vô chùa, lạy Phật sám hối, thầy nhắc cho nó bỏ chơi game". Hoặc là nói là: "Lúc này gia đình con không hạnh phúc", tại sao không hạnh phúc? Hoặc là nói sao lúc này con làm ăn nó là nó sa sút? Vì sao ạ? Vì phước mình bị giảm ha. Phước bị giảm là do một cái nhân nào của hiện tại, hoặc là do một cái nhân nào của quá khứ, đến cái lúc cái thời vận, cái thời điểm nó ứng với cái nhân quả nó hiện ra. Cho nên, khi ông thầy nắm nhân quả thôi, hoặc là vừa rồi trong một vài năm qua quý Phật tử đã gieo cái nhân gì sai lầm,

[47:09]có tiền sống phí phạm, xài những điều sai lầm mới mau hết phước à, hoặc là trong quá khứ, trong cái thời điểm ứng với quá khứ, rớt vào lúc này ở quá khứ ta phạm cái sai lầm nên bây giờ trả quả cái làm ăn nó sa sút. Thì cũng nhân quả thôi, phân tích ra, kêu Phật tử phải sám hối, phải tiết kiệm, phải chịu cực, chịu khổ lại và đi qua cái khó khăn này, trong lúc đó làm phước lại, vân vân, thì từ từ sẽ phục hồi lại, đó. Những cái điều theo nhân quả nói thì sơ sài, nhưng mà đi vào không sai, không sai. Ví dụ như có một cái chuyện ở Trà Vinh, có một cái bà đó, bả giàu có, thì khi bả tắm bả không tắm bằng

[47:47]cái nước như mình tắm, mà bả mua những cái chai nước khoáng để uống bả tắm thôi. Thì kết quả là bây giờ nhà cửa cầm cố bán luôn, không còn nhà để ở luôn, hết tiền luôn, vì xài phí, xài bậy. Nó nhân quả là vậy. Thường thường á là do ta xài tiền sai lầm nên ta hết phước, chỉ vậy thôi. Thì ta cứ dí vào chỗ đó, ta hỏi Phật tử chỗ đó, tìm ra chỗ đó rồi từ từ ta chỉnh đốn lại nhân quả cho họ, giúp họ vượt qua được cái khó khăn. Nắm cái nhân quả là ta nắm hết chuyện thế tục. Nên cái người tu vậy, không vướng vào chuyện đời, nhưng mà không lầm lẫn chuyện đời. Chuyện gì cũng vậy, nghe liếc qua là biết liền.

[48:26]Cộng thêm cái trực giác của sự tu hành á, à ta ở trong chùa, ta thúc liễm trong cái sự thanh tịnh, vậy chớ mà việc gì ta cũng biết hết, việc gì ta cũng biết. Như có một ông Thượng tọa, ông Thượng tọa cũng làm giảng sư, cũng bằng tuổi với chúng tôi nhưng mà ông tu từ nhỏ, ông hiền lành á, thì ông không có tu Thiền, cũng gọi là một người cũng chẳng có gì đắc đạo, nhưng mà chuyện gì cũng biết. Phật tử bước vô nói chuyện chút xíu là ông biết tỏng tòng tong trong tâm, trong hồn, trong đời sống, nhắc nhở đâu đúng đó. Mà ông không phải là người đắc đạo, mà đó là cái trực giác tự nhiên của một người thúc liễm quá lâu trong chùa, tự nó phát ra.

[49:02]Nên thành ra là người không biết gì chuyện đời, mà sự thật là chuyện gì của người ta cũng biết á. Chuyện gì cũng biết. Đặc biệt như vậy. Nên vì vậy là ta nói cái người tu là không vướng mắc chuyện đời, mà chính vì không vướng mắc chuyện đời mà ta tu hành tinh tấn, không ngờ ta lại rất sáng chuyện đời để có thể là khuyên bảo cho Phật tử tu hành, làm ăn đúng hướng, là cái cái hay như vậy. Rồi một cái đôi cánh của người xuất gia hiện nay nữa là thế này: cái thời đây là thời mạt pháp. Cái thời mạt pháp là cái thời mà chúng sinh thiếu phước. Ngay cả chúng ta là những người xuất gia tu hành, nhưng sự thực phước mình cũng không có nhiều như là những vị đệ tử Phật đời xưa.

[49:45]Những vị đó, nhiều khi nghe một câu kệ có thể chứng được vào Thánh quả; còn ta tụng không biết bao nhiêu bản kinh, ngồi nhiếp tâm, thiền định, niệm Phật không biết bao nhiêu ngày đêm, nhưng mà sự thật là Thánh quả vẫn chưa đặt chân vào được. Nên nói rằng hễ nói thời mạt pháp là chúng sinh ta bị thiếu phước á. Chính vì thiếu phước nên ta phải hết sức cố gắng là gây tạo công đức để bù lại, hết sức gây tạo công đức. Không có một người tu nào mà được quyền lơ là, coi thường cái việc gây tạo công đức. Nghĩa là ta gây tạo công đức từng cái việc nhỏ trong chùa, từng cái việc công quả nhỏ trong chùa: nhặt một chiếc lá rơi, rửa một cái mâm chén ăn xong,

[50:28]là lau quét chánh điện, quét mạng nhện, sửa soạn bàn ghế cho mọi người nghe Pháp, hoặc là quét dọn chánh điện cho mọi người lên tụng kinh. Nghĩa là từng việc nho nhỏ, nho nhỏ gì đều ráng siêng làm để bòn mót từng chút cái công đức một. Mà mỗi công đức nó giống như một hạt bụi thôi, mà ta phải tích lũy nó thành cả cái núi vậy đó, ta mới có thể chứng được đạo quả. Nhưng cái việc mà bòn mót gây tạo công đức từng chút như vậy, nó làm ta bận rộn hoặc là bận tâm. Nghĩa là ví dụ như bây giờ Hòa thượng ta tổ chức một cái buổi đi làm từ thiện, là đi thăm cái nhà dưỡng lão, cái trại mồ côi. Thế là Tăng Ni ta phải sắp xếp, ta phải đi vận động Phật tử

[51:07]xin tiền, ta phải đến gặp từng người Phật tử, ta nói: "À bây giờ Hòa thượng Trưởng ban với các vị trong Ban Trị sự Giáo hội tổ chức đi làm công tác từ thiện, thì bây giờ quý Phật tử ủng hộ." Mình phải đến gặp, mình phải thuyết phục, mình phải trình bày để cho Phật tử đóng tiền. Rồi cái đống tiền mình mới đem lên nộp cho bên Giáo hội, các vị đó mới tổng kết được cái số tiền có rồi mới tính toán, rồi mới liên hệ với bên chính quyền để chính quyền mới giới thiệu: "À bên đây có trại mồ côi, bên kia có trại dưỡng lão." Rồi ngày đó bắt đầu mới mời chính quyền, rồi sắp xếp xe đi đến thăm, mua quà, gói quà, rồi tới nơi thăm hỏi ân cần, làm việc vân vân.

[51:42]Nghĩa là một buổi làm từ thiện là rất là nhiều việc. Mà ta chỉ bỏ công thôi, còn của là thực sự cũng là của Phật tử à. Nhưng mà ta bỏ công thôi. Nhưng mà để cái bỏ công đó mà cho Phật tử họ chịu bỏ của ra, góp vào cái công tác từ thiện, ta mất rất nhiều thời gian, rất nhiều công sức, rất nhiều cái tâm trí của mình. Thành thử khi làm như vậy thì nó thành cái là bận rộn hay là bận tâm. Bận tâm, bận rộn không tu được. Thì như vậy giữa cái làm phước, tạo công đức để tu, chính việc đó đã phá cái việc tu, nó đã chỏi lại cái việc tu, nó mâu thuẫn lại, mà không thể không làm. Không làm ta không phước, thì ta không tu luôn.

[52:20]Hoặc là bây giờ nói là đang cái mùa nhập hạ, thì có một vị mới phát tâm là: "À hôm nay các chùa Phước Hưng, chùa Phước Huệ có chư Tăng Ni an cư kiết hạ nghiêm trang thanh tịnh, nên các vị đó mới tổ chức cho Phật tử đi cúng dường trường hạ để lấy phước." Thì muốn như vậy, cái vị đó cũng phải đi vận động Phật tử, nói: "Bây giờ trong cái mùa an cư kiết hạ, chư Tăng thúc liễm tu hành như vậy mà ta cúng dường được vào những lúc đó, phước ta rất là lớn, mà cũng là hỗ trợ để cho chư Tăng tu học. Khi chư Tăng, chư Ni mà tu học nghiêm túc như vậy thì các vị sau này đứng lên, đạo lực lớn lên làm cây cao bóng cả che mát cho chúng ta.

[52:58]Các vị đó giữ gìn Phật pháp, phát triển Phật pháp, giáo hóa độ sinh, và cái lợi là con cháu ta được lợi. Ta thì được sự giáo dục của các vị Hòa thượng, các vị Hòa thượng đã qua rồi, nhưng mà con cháu ta sẽ được giáo dục bởi những vị Tăng Ni trẻ hiện nay. Cho nên, cúng dường cho các vị Tăng Ni trẻ hiện nay đang tu chính là lo cho con cháu ta đời sau." Thì ta thuyết phục được như vậy, Phật tử nghe xuôi tai mới góp tiền lại cúng dường. Thì như vậy đâu có dễ. Cũng phải đi thuyết phục người này người kia, rồi tổ chức gói quà, liên lạc bên trường hạ nơi các vị trong cái Ban Quản hạ, các vị mới sắp xếp thời gian:

[53:33]"Ờ thôi ngày trước là bận, ngày sau bận rồi có ngày này rảnh thì mời quý vị tới." Thì ta tới thuê xe chở hàng, chở đồ, chở người tới, rồi tác bạch cúng dường, làm đủ hết, rất là bận rộn. Nhiều chuyện, cái bận rộn nó cũng là bận tâm, mà cái bận tâm nó, nó đi ngược lại cái cái nhiếp tâm tu hành của ta. Mà trong khi ta gây tạo công đức để tu, nhưng mà chính cái gây tạo công đức đó nó cũng ngược lại với cái việc thúc liễm tu hành. Hai cái ngược nhau mà không bỏ được. Chúng ta thấy trong đời tu á, nó có những cái mâu thuẫn mà luôn luôn tồn tại. Hai cái đối lập ngược với nhau, nhưng mà đều cần phải có thì mới tu được, thiếu một cái không tu được.

[54:11]Ta cần phải tu, phải nhiếp tâm, nhưng mà để nhiếp tâm được có công đức, mà để làm công đức thì lại bận tâm. Nên cái bận tâm để lo cho cái việc nhiếp tâm, hai cái như ngược nhau vậy, nhưng mà phải làm. Như vậy phải làm sao? Vì vậy, Tăng Ni của ta là trong cái thời mạt pháp này, trong cái thời mà ta công đức ít này, ta phải làm rất nhiều công đức này, thì phải luôn luôn giữ chánh niệm trong đời sống, trong tất cả mọi công việc. Ta dùng cái chữ là "giữ chánh niệm trong tứ oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi", nhưng mà thực sự là phải hiểu thế này: trong mọi công việc làm. Tại không phải là ta đi, ta im lặng; ta đứng thì im lặng; ngồi im lặng;

[54:53]nằm im lặng, mà lúc đó ta đang nói, đang tính trong đầu á. Những cái công việc Phật sự phải làm được, phải miệng ta phải nói, tâm ta phải tính. Thế nên đi, đứng, nằm, ngồi mà đang nói, đang tính. Như vậy ta phải giữ chánh niệm, ta phải tu trong khi đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang tính và đang nói. Phải giữ được chánh niệm. Vậy giữ chánh niệm bằng cách nào trong khi mà hành, trụ, tọa, ngọa, thuyết và tư? Thuyết là nói và tư là nghĩ. Không phải là bốn oai nghi đâu, còn hai cái bí mật nữa. Nghĩa là luôn luôn ta bận tâm như vậy, hành, trụ, tọa, ngọa, thuyết, tư, giữ luôn chánh niệm chặt chẽ luôn. Giữ cách nào?

[55:32]Thì mỗi vị sẽ có một cái công phu của mình. Mỗi vị sẽ có một cái công phu của mình. Ví dụ cái người niệm Phật thì dù là hành, trụ, tọa, ngọa, thuyết, tư cũng phải luôn luôn niệm Phật. Phải không ạ? Còn cái người mà họ tu Thiền thì họ hành, trụ, tọa, ngọa, thuyết, tư, họ phải giữ cái công phu đó. Nhưng mà cái khó là thế này: hễ tư rồi thì không giữ được chánh niệm. Tư tức là suy nghĩ, mà muốn thuyết thì phải tư, muốn hành thì phải tư. Có suy nghĩ rồi thì ta mới có hành động, có suy nghĩ rồi ta mới có lời nói, mà hễ đã có suy nghĩ rồi, mất chánh niệm. Mà mất chánh niệm rồi thì cái việc mà bận tâm của ta thì trở thành động tâm luôn.

[56:16]Mà hễ bận tâm thành động tâm rồi, ta không nhiếp tâm. Mà không nhiếp tâm rồi thì ta lại rời xa cái sự tâm linh giác ngộ. Đây là cái khó. Nên vì vậy, cái này thì sự thật là chúng tôi không dám đưa ra một ý kiến vì sợ đụng chạm tới pháp môn. Vì mỗi người sẽ có một cái pháp môn của mình. Nhưng mà vì chỗ này nó khó quá. Chỗ khó là giữ chánh niệm trong mọi oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, trong khi nói và cả trong khi suy nghĩ, thậm chí Tăng Ni sinh phải trong khi học. Tức là vừa giở cuốn sách ra đọc cái tài liệu, rồi phải lấy viết ra để viết cái bài tiểu luận. Đi mình học ở Phật học mà mình phải viết tiểu luận,

[56:53]rồi phải tra cứu sách vở hết, mở lên Internet để vô trong đó tìm tư liệu, vậy mà vẫn phải giữ chánh niệm. Vì nếu mà ta không có cái bản lĩnh giữ chánh niệm trong khi hành, trụ, tọa, ngọa, thuyết, tư, học, đọc, viết thì ta chỉ được cái vỏ ngoài thôi, còn cái tâm linh ta không khai sáng được. Có một cái cách của Phật dạy ngày xưa để ta giữ được chánh niệm trong mọi thời khóa, trong mọi oai nghi, trong mọi công việc, đó là biết rõ toàn thân, quán thân vô thường. Ngày xưa Đức Phật dạy trong bài Kinh Thân Hành Niệm là một vị Tỳ kheo lúc nào cũng biết rõ từ tóc... rồi tới da, tới gân, tới xương, tới móng tay, móng chân, tức là biết rõ toàn thân mình.

[57:42]Và biết cái thân này là vô thường, là ngày đêm biến dịch, thay đổi, lúc nào đó sẽ bệnh, sẽ chết. Chết rồi nó sẽ mục, sẽ rữa, cả xương cũng thành bụi bay luôn. Là Phật dạy tất cả các tỳ kheo phải quán điều này. Mà quán điều này, chúng ta mới ban đầu á là phải ngồi yên mới quán mới thấm. Rồi mỗi ngày cứ phải ngồi quán như vậy, khi nó thấm quen rồi, thì sau này không mất thời gian nhiều, mà lúc nào cũng thường biết rõ toàn thân, biết thân vô thường. Tức là khi ta không tiếp xúc với ai, ta đi kinh hành dọc theo cái lối đi dưới bóng cây, hoặc là ta ngồi tĩnh tâm, hoặc là ta làm công việc gì đó yên lặng,

[58:26]ta nhớ là biết toàn thân và biết thân vô thường. Đến khi quen rồi, thì miệng ta nói chuyện với khách, nhưng mà ta vẫn bí mật biết rõ toàn thân mình. Rồi khi quen rồi, nhiều khi mở cái tài liệu ra học, đọc để tìm cái ý nghĩa trong đó, mà vẫn chia ra một cái tâm để biết rõ toàn thân của mình. Đó gọi là giữ được chánh niệm trong mọi oai nghi, trong mọi công việc. Và khi mà ta biết toàn thân của mình như vậy, biết thân vô thường như vậy, chánh niệm tự nhiên nó xuất hiện. Cái hiện tượng mà chánh niệm nó xuất hiện á, là bắt đầu tâm ta thấy nó rỗng, nó sáng. Cái tâm nó rỗng, nó sáng ra, thì nó chỉ là dấu hiệu bước đầu,

[59:07]nhưng sự thật ra còn cách con đường giác ngộ rất là xa, mà nhiều khi ta tưởng lầm là ta chuẩn bị chứng được một cái thiền gì. Nhưng sự thật không phải. Khi mà chánh niệm bắt đầu xuất hiện, tâm ta bỗng nhiên rỗng sáng, là nhờ ta thường biết rõ toàn thân, biết thân vô thường. Từ từ bỗng nhiên tâm rỗng sáng. Đó là dấu hiệu chánh niệm tỉnh giác bắt đầu xuất hiện. Cái chánh niệm tỉnh giác này, nó xuất hiện mà ta nuôi dưỡng được thường xuyên, qua 20 30 năm, không gián đoạn, thì ta mới từ từ phá được những triền cái. Mà nếu ta phá được luôn cái triền cái nghi, thì ta bằng một thiền sư triệt ngộ của hồi xưa.

[59:47]Trong những cuốn sách mà thiền sư Trung Hoa mà ta đọc á, cái hiện tượng mà vị đó triệt ngộ, đốn ngộ, đó là phá được triền cái nghi mà Phật đã dạy. Chứ chưa có phải là nhập được Sơ thiền nha. Còn cái người mà nhập được Sơ thiền, thì đã tương đương với tam quả A-na-hàm. Nhớ như vậy. Tam quả A-na-hàm là nó kéo dài từ Sơ thiền cho tới Tam thiền. Còn Tứ thiền là chuẩn bị vào A-la-hán rồi. Nhớ như vậy. Cái tam quả cái khoảng kéo rất là dài, từ Sơ thiền cho tới Tam thiền. Còn khoảng trước Sơ thiền là trong cái khoảng chánh niệm tỉnh giác này nó có rất nhiều giai đoạn, và trong đó sơ quả, nhị quả nó đi qua trong đó.

[1:00:26]Nó là sơ quả thánh, nhị quả thánh nó đi qua trong cái quãng của chánh niệm tỉnh giác, lúc ta phá được năm triền cái. Cái đoạn này hôm nay chúng ta không nói nhiều, tại vì rất là phức tạp. Cái việc mà đối chiếu giữa cái sự đốn ngộ của thiền tông, Tứ thiền và Tứ quả, nó là một sự đối chiếu rất là chuyên sâu. Có lẽ một lúc nào khác có duyên thì ta sẽ nói về đề tài này. Để cái người tu ta không có lầm. Nghĩa là khi ta tu mà ta đạt được cái mức độ nào của tâm, thì ta biết rằng mình đang ở mức độ nào, mà không bị ảo tưởng, không bị ảo tưởng trở thành cái tăng thượng mạn. Cái tăng thượng mạn là gì? Tăng thượng mạn là cái là ta ở trình độ thấp, nhưng ta tưởng ta ở trình độ cao.

[1:01:08]Cho nên ta không có lỗi, ta không có lỗi là cố ý gian dối, ta không có có lỗi cố ý xưng thánh như là trong cái tội bốn trọng giới là có cái tội đại vọng ngữ. Tội, trong cái tứ trọng giới có cái tội đại vọng ngữ là dối xưng thánh, biết mình không phải thánh mà dám xưng mình là thánh, đó là tội đại vọng ngữ. Còn cái người tăng thượng mạn thì không bị cái lỗi đại vọng ngữ này mà chỉ là hiểu lầm. Nghĩa là khi mình tu vừa tiến được, cái mình tưởng mình đã cao, tưởng lầm thôi, nhưng quả báo vẫn phải chịu. Quả báo vẫn phải chịu là sao? Là sẽ bị đọa rất là nặng, rất kéo rất là dài, cái công phu tu hành trì trệ rất là lâu để trả cái quả báo là ta tưởng mình đã cao.

[1:01:52]Mà tại sao ta tưởng mình đã cao? Bởi vì ta không có được cái thước đo để đi. Ta đi tới đâu mà ta không biết mình đã đến đâu. Ta cứ tưởng ví dụ từ Sài Gòn đi xuống Sa Đéc, nghĩa là đâu mới tới Long An, ai gọi nói: "Đi tới đâu rồi?", "Dạ, gần tới Sa Đéc rồi" thì người đó có thể không bao giờ tới Sa Đéc được nữa. Chỉ khi nào mà tới cầu Mỹ Thuận rồi thì mới biết à gần tới rồi, đúng không ạ? Nhưng mà tới Long An chưa phải. Cũng vậy, khi mà ta thường biết rõ toàn thân, thường biết thân này vô thường trong khi ta ngồi bắt chân kiết già, trong khi ta đi, ta đứng, ta nằm, trong khi ta nói chuyện, trong khi ta làm việc, trong khi ta học hành,

[1:02:28]vẫn luôn luôn biết rõ toàn thân, luôn luôn biết thân này vô thường. Đến lúc mà chín muồi rồi là tâm ta xuất hiện trạng thái gọi là rỗng sáng. Cái rỗng sáng đó là dấu hiệu của chánh niệm tỉnh giác đã bắt đầu xuất hiện, nhưng mà bắt đầu xuất hiện chưa có nghĩa là đi sâu, cũng chưa có nghĩa là được gì cả. Nhưng mà do vì là từ nào giờ ta chưa từng được trạng thái này, cho nên khi vừa bắt đầu được cái trạng thái là rỗng sáng, cái ta tưởng mình đã cao, có nhiều người tưởng mình đã được là kiến tánh đốn ngộ. Và cái hiểu lầm này làm ta bị tổn phước rất là nặng, rồi ta bị trì trệ nhiều khi 50 kiếp luôn,

[1:03:04]không tiến được nữa chỉ vì cái lỗi tăng thượng mạn. Cái lỗi tăng thượng mạn này sự thật không phải lỗi của ta, nhưng mà ta vẫn phải chịu quả báo. Cho nên vì vậy là trong cái thời mạt pháp này, khi mà ta rất thiếu công đức, buộc ta phải gây tạo công đức một cách siêng năng. Nhưng mà gây tạo công đức một cách siêng năng, buộc ta phải bận tâm bận trí. Nhưng mà để hóa giải cái bận tâm bận trí này buộc ta phải giữ chánh niệm thường xuyên. Mà cái chánh niệm thường xuyên chính là cái gì? Chính là cái luôn luôn biết rõ toàn thân, biết thân này vô thường. Và ta coi chừng một cái hệ quả của nó, là khi ta thường xuyên biết rõ toàn thân,

[1:03:42]biết thân này vô thường, bỗng nhiên nó xuất hiện trạng thái rỗng sáng, thì cẩn thận, chưa là gì hết. Phải biết rằng còn rất là, rất là thấp. Nhờ vậy mà ta không bị tổn phước, nhờ như vậy mà ta vẫn bình thản tiếp tục tu hành, tiếp tục gây tạo công đức ờ mà không bị loạn. Đó là cái, cái khó cái thứ tư mà ta vừa nêu ra trong cái thời mạt pháp này vậy. Một cái điều nữa, một cái điều khó của người xuất gia nữa là người xuất gia phải giữ giới luật mà không được chấp nguyên tắc. Trong cái sơ quả Tu-đà-hoàn á, Đức Phật có dạy thế này: Khi một người mà chứng được sơ quả Tu-đà-hoàn thì người đó phá được ba kiết sử.

[1:04:24]Ba kiết sử tức là ba cái điều xấu trong tâm. Cái điều xấu thứ nhất á là nghi. Nghi là cái người nghi tức gọi là cái người không có lập trường tu hành, không có lý tưởng tu hành, và không có đủ lòng kính tin Tam bảo. Cái người như vậy gọi là nghi, có bị cái kiết sử nghi ở trong tâm. Không có lập trường tu hành, không lý tưởng giác ngộ, không kính tin Tam bảo. Còn cái người mà họ chứng quả Tu-đà-hoàn á thì họ phá tan cái nghi liền. Thì ngay lập tức trong tâm họ tràn đầy ba điều đó. Tức là kiên định lập trường tu hành, tràn đầy cái lý tưởng giác ngộ, và tuyệt đối kính tin Tam bảo. Ngay lập tức họ xuất hiện ba điều đó liền khi một người

[1:05:04]chứng quả Tu-đà-hoàn, phá được cái nghi này. Cái kiết sử thứ hai nữa là thân kiến. Thân kiến, đời xưa gọi là thân kiến, đời nay ta dịch là chữ ích kỷ. Nghĩa là cái người mà chưa chứng quả Tu-đà-hoàn á thì có thể còn bị cái ích kỷ, họ sống vẫn nghĩ cho mình nhiều hơn nghĩ cho người khác. Nhưng mà khi một vị mà chứng thánh quả Tu-đà-hoàn thì lập tức cái thân kiến nó tan, bỗng nhiên họ yêu thương mọi người, họ sống rất vị tha. Có thể họ chưa thành tựu được tứ vô lượng tâm là yêu thương tràn ngập tất cả chúng sinh trong pháp giới, nhưng trong cái cuộc sống gần gũi hiện tại, họ luôn luôn sống vì người khác, lo cho người khác trước, lo cho mình sau.

[1:05:45]Hễ ta muốn nhìn coi biết người nào chứng quả Tu-đà-hoàn chưa, cứ nhìn cái đó thôi. Cái người nào mà lo cho người khác trước, lo cho mình sau, coi chừng người đó chứng quả Tu-đà-hoàn rồi. Nghĩa là khi mà có một người Phật tử mà đem đến đôi dép đẹp cúng, ổng vừa cầm cái đôi dép ổng mừng, ổng vui vẻ ổng cám ơn Phật tử xong, thì trong đầu ổng nghĩ: "Không biết trong chùa này có ai dép hư?". Chứ không bao giờ nghĩ đến chuyện cầm đôi dép đó mình mang trước, không có. Cái đầu cứ như vậy, cứ nghĩ người khác trước và nghĩ cho mình sau. Rồi cái ví dụ trong cái mùa hạ khi Phật tử mà đem vải tới cúng, thì ví dụ như chư tăng mình an cư ở đây được có 80 người,

[1:06:20]nhưng mà cái người Phật tử họ chỉ có khả năng là cúng được 20 cái xấp vải, thì khi vừa nhận 20 xấp vải rồi trong đầu nghĩ nè: "Ủa, cái người nào là 20 người nào mà y áo cũ rách trước?", chứ không nghĩ rằng à mình là người quản hạ, quản trường hạ thì mình phải ưu tiên được một xấp trước. Đó là cái tuổi đạo cao là phải đi trước, còn cái tuổi đạo thấp thì phải tính sau, không nghĩ như vậy. Mà cứ nghĩ trước coi cái người nào y áo cũ rách cho trước. Tức là cái người phá được cái thân kiến, phá được ích kỷ, tự nhiên cứ sống vị tha. Đó là cái kiết sử thứ hai mà phá được. Cái kiết sử thứ ba mà phá được á, là phá được cái giới cấm thủ.

[1:07:00]Cái chữ giới cấm thủ là cái từ ngày xưa, cái từ bây giờ ta phải dịch cái này là cố chấp về nguyên tắc. Cứ đưa ra luật lệ, nguyên tắc mà bắt bẻ nhau thì người này chưa chứng Tu-đà-hoàn. Người này còn bị cái giới cấm thủ chi phối. Cho nên vì vậy là cái người chư tăng á trong cái thời đại mà ngày hôm nay mọi việc nó trở nên nó cởi mở, nó rộng rãi thì buộc ta phải giữ giới luật cho kỹ, nhưng mà lại cũng không được chấp nguyên tắc. Ví dụ, ví dụ như bây giờ, hôm nay là ngày mà chư tăng tụng giới. Thì trong cái nguyên tắc tụng giới của chư tăng thì cư sĩ không được nghe. Đó là nguyên tắc. Rồi đến bắt đầu cái chư tăng tụng giới thì lúc đó

[1:07:45]khi mà bắt đầu là chặn hết cửa lại, cổng chùa lại không cho ai vô, nhưng mà ngay lúc đó đổ xuống ba xe, mỗi xe 50 người đổ xuống để viếng chùa. Mà lúc đó mình chấp nguyên tắc là nói: "Không, nay chư tăng tụng giới, đi, chỗ khác không có tiếp" thì lúc đó mình bị phạm cái giới cấm thủ, cố chấp nguyên tắc. Nên cái người mà không bị giới cấm thủ lúc đó mình phải linh động giải quyết liền. Linh động giải quyết làm sao? Ba xe 150 người này họ phải đi một đoạn đường rất là dài, và có lòng thương chùa, yêu quý trường hạ chư Tăng mới đến đây. Ta không thể mà nói lý do là vì chư Tăng tụng giới không ai được bước vô trong sân chùa được.

[1:08:23]Lúc đó phải tìm cách giải quyết liền, giải quyết làm sao để chư Tăng vẫn được tụng giới thanh tịnh, Phật tử vẫn được thăm chùa, vẫn được cúng dường trai tăng mà không nghe giới. Mà nếu có nghe loáng thoáng cũng chẳng sao, cũng không gì nghiêm trọng, chứ không có chấp quá nghiêm ngặt, vân vân. Đó là một trong muôn một thôi, nhiều cái như vậy, nhiều cái nhiều cái mà trong đời sống rồi ta sẽ thấy luôn luôn ta phải cân đối giữa cái à giới luật nhưng có bị giới cấm thủ hay không. Từng chút ta phải xét, chứ còn mà cứ căn luật ra thì hầu hết ta bị rơi vào giới cấm thủ. Mà khi rơi vào giới cấm thủ rồi thì nó có cái quả báo ngược lại của nó.

[1:09:00]Cái người nào mà hay đem luật ra bắt bẻ người khác thì thường chính những người đó sẽ phạm giới trước, hoàn tục trước. Bị phạm cái giới cấm thủ, thường là như vậy. Vì vậy, cái người mà giữ giới đúng á thì lại rất cẩn thận ở trung dung.

[1:09:21]Trong hoàn cảnh nào nên giữ cái gì, trong hoàn cảnh nào nên lỏng ra cái gì, khai, trì, giá, phạm rất là cẩn thận, rất là cẩn thận. Bởi vì cái mà phá được giới cấm thủ nó thuộc là một cái trí tuệ của một bậc Tu Đà Hoàn. Nếu ta nói phá được cái nghi, nó là cái lập trường của một vị Tu Đà Hoàn, phá được cái thân kiến, nó là cái đạo đức của một vị Tu Đà Hoàn, thì phá được cái giới cấm thủ nó là cái trí tuệ của một bậc Tu Đà Hoàn. Thì dĩ nhiên, ở đây không ai dám xưng mình là đã chứng quả Tu Đà Hoàn, nhưng ta phải học cái trí tuệ của một bậc Tu Đà Hoàn. Đó là giữ giới nghiêm túc nhưng mà lại không phạm vào giới cấm thủ.

[1:10:02]Tức là không có cố chấp nguyên tắc để rồi cản đường mà gây khó chịu cho cho người khác. Nên vừa có cái gì nghiêm túc mà vừa có cái gì bao dung. Đây là trí tuệ của một bậc Tu Đà Hoàn. Hồi nãy chúng ta vừa mới nói rằng có thể nói rằng trong tất cả chúng ta ngồi đây không ai dám xưng mình là chứng Tu Đà Hoàn. Đó là cái câu nói trên nguyên tắc. Nhưng mà sự thật, đã có những vị ngồi trong đây chứng Tu Đà Hoàn từ kiếp trước. Nhưng mà biểu hiện những vị đó rất là bình thường, tại cái vị Tu Đà Hoàn là bị cái đó. Trong các quả thánh thì cái quả Tu Đà Hoàn là cái quả mà tội nghiệp nhất. Đó là một cái người mà đã có lý tưởng tu hành vững vàng của kiếp này hết

[1:10:45]kiếp khác, nhưng là một con người chưa đủ trí tuệ để biết hết mọi điều trên đời, nên thường phạm sai lầm và cứ phải bị tái sinh để trả nghiệp. Vị đó rất có đạo đức, rất thương người, tạo được nhiều phước, nên thường hưởng được những phước rất lớn. Ở vào những ngôi vị lớn, nhưng trong những ngôi vị lớn đó cũng không đủ trí tuệ để xử lý hết mọi điều cho đúng, nên cũng phạm sai lầm rồi phải bị tái sinh để trả quả báo của mình. Nhưng mà tuyệt đối như Phật nói, một vị Tu Đà Hoàn dù có phạm sai lầm, dù phải trả quả báo, không bao giờ đọa vào ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu có trả quả gì cũng chỉ ở thân người mà trả, nhưng phải trả.

[1:11:26]Đó là cái cực khổ của một vị Tu Đà Hoàn. Nên vì vậy, nhiều khi đời trước cái vị này đã chứng Tu Đà Hoàn, nhưng cái đời này trở lại là một vị tăng, ni, vị xuất gia. Ngồi lẫn trong chúng ta, chúng ta không biết. Nhưng mà sự thật người này đã là một vị Tu Đà Hoàn từ ba kiếp trước. Chỉ đời này, nếu ta thấy vị đó là một người có lý tưởng tu hành vững vàng, sống đời sống vị tha, trong cái công việc xử lý có cái trung dung nhẹ nhàng, coi chừng vị này là vị Tu Đà Hoàn tái lai. Đang trên con đường tu tập và trả nghiệp để tiến dần đến giác ngộ cao siêu. Nên, nhưng mà vị đó cũng không xưng mình là Tu Đà Hoàn, để cũng quên mất không nhớ.

[1:12:05]Chỉ biết trong tâm mình nó có những cái điều đó. Trong tâm mình có một điều là lý tưởng tu hành vững chắc. Trong tâm mình có một điều là rất vị tha, yêu thương con người. Và trong tâm mình có một cái trí tuệ trung dung, không chấp bên nào. Chỉ biết vậy thôi chứ không biết mình đã từng là Tu Đà Hoàn. Nhưng mà vị đó cũng trở lại, có khi làm cư sĩ tu, có khi làm người xuất gia tu. Nên khi ta nói là mọi người chúng ta ngồi đây không ai dám xưng mình là Tu Đà Hoàn, thật sự nhiều khi có những vị nào đó đã là Tu Đà Hoàn đang ngồi lẫn trong đây mà ta không biết, cũng chừng. Ví dụ các vị hòa thượng của ta, đến cái giờ phút này

[1:12:40]đứng vững làm cái trụ cột, làm cái cội cây bồ đề mà che mát cho tăng, ni chúng ta ở đây, biết đâu các vị cũng đã từng chứng vào trong thánh vị, các vị trở lại và cũng là trên cái con đường đi đến giác ngộ, vừa tạo thêm công đức mà vừa trả những quả báo của mình để bồi đắp, đóng góp thêm cho cho Phật đạo. Có thể như vậy, có thể chúng ta cho tràng pháo tay tán thán công đức các vị nha.

[1:13:09]Người xuất gia ta còn bị một cái điều khó này nữa là lúc nào ta cũng phải tinh tấn tu hành nhưng không được vội vã. Nhưng mà giữa cái tinh tấn và cái vội vã nó cách nhau có sợi đường tơ. Ta trật một cái cái ta bước qua chỗ vội vã liền. Mà ta không vội vã, ta sợ vội vã cái ta trở thành cái dãi đãi, tu tàn tàn liền. Cho nên phải làm sao tinh tấn mà không vội vã. Thì cái chỗ này nó không có công thức. Ví dụ có người đó họ ngồi thiền được một tiếng đồng hồ, đó là người tinh tấn. Nhưng có người khác họ ngồi 3 tiếng thì mới là vừa sức họ gọi là tinh tấn, còn ngồi một tiếng đối với người đó là dãi đãi.

[1:13:49]Còn cái người kia một tiếng là đã tinh tấn rồi, nửa tiếng mới là dãi đãi. Cho nên ở đây ta không đưa ra một công thức cố định như thế nào mới là tinh tấn, như thế nào mới là dãi đãi, như thế nào mới là vội vã, ta không đưa ra được. Mà nó lệ thuộc vào căn cơ riêng của từng người, cái sức khỏe riêng, căn tính riêng, mọi cái hoàn cảnh riêng của ta. Nên chỉ đây là hoàn toàn tự mình xét lấy mình thôi, chứ còn không ai kiểm tra mình được. Phật cũng chỉ là gia hộ ta thôi, chứ còn đây phải tự mình đánh giá lấy mình là hãy mình tu đến mức này gọi là tinh tấn mà bước thêm chút nữa thành ra vội vã mà dưới mức đó là dãi đãi.

[1:14:27]Thì cái chỗ mà ta ép cái tu của ta đến cái mức để làm sao mà nó nằm ở trung gian, không có dãi đãi, không vội vã thì đúng chỗ tinh tấn. Thì chỗ này tự mình biết thôi chứ không ai đánh giá giùm mình được. Và ở đây bằng trí tuệ, bằng cái nhiệt tâm, bằng cái hoài bão, lý tưởng của mình, bằng cái trí tuệ mình biết thôi. Ví dụ bây giờ mình lạy Phật, mình phát nguyện là mỗi ngày mình lạy Hồng danh 108 lạy, thì như vậy là vừa là tinh tấn. Nhưng có người nói: "Không, tôi phải phát nguyện một ngày lạy 500 lạy." thì coi chừng bắt đầu nó bước qua cái ham hố, vội vã. Nhưng có người ngày nói: "Thôi, tôi ngày tôi lạy chừng 10 lạy." Người này ở dãi đãi.

[1:15:11]Nhưng mà cái khoảng là ở chỗ nào mới là vừa mức của mình chứ không bắt chước người khác được. Nói nghe cái vị đó ngày ổng lạy 500 lạy, mình bắt chước, không ngờ mình bắt chước, mình rơi vào cái là ép, là vội vã. Còn hoặc là mình thấy người kia nói: "Không, tôi lạy ngày 10 lạy, 15 lạy là đủ sức tu." Cái mình bắt chước cái mình rơi vào dãi đãi. Trong khi cái người khác họ không dãi đãi, mình bắt chước họ mình dãi đãi. Người khác họ không vội vã hấp tấp, mình bắt chước họ mình trở thành vội vã hấp tấp. Thì ở đây là cái rất là khó, cái rất là khó, chúng ta phải tự mình xét lấy căn tánh của mình rất là nhiều.

[1:15:46]Ví dụ khi mình ngồi thiền, rồi khi tụng kinh, khi lễ Phật, rồi khi học học kinh điển, rồi khi tiếp duyên, khi làm những việc Phật sự, khi công quả trong chùa. Thì những cái việc đó ta cân đối, cân đối thế nào để cho nó vừa trong cái tinh tấn mà không vội vã, mà không cứng ngắc. Không cứng ngắc là sao? Không cứng ngắc là nói là: "Không, tôi nha, 1 giờ ngồi thiền, 1 giờ công quả, 1 giờ học, 1 giờ tụng kinh, 1 giờ lễ Phật là ngày nào cũng phăng phắc, phăng phắc như vậy." thì nó lại là cố chấp nguyên tắc. Nó có cái linh động đó. Ví dụ nhiều khi gặp việc ngày hôm nay mình phải đi suốt ngày để làm Phật sự mà không hề được lễ Phật, không hề được đọc một bản kinh.

[1:16:25]Nhưng đó là đúng, ngày hôm đó cái duyên của ngày hôm đó thì đúng mức. Nhưng qua ngày hôm sau mà đòi phải đi làm công tác 10 ngày nữa thì lại là sai. Không, qua ngày hôm sau thì phải ngồi thiền, phải tụng kinh, phải lễ Phật, phải tụng giới, phải đọc kinh bản, vân vân, thì đó mới là tinh tấn. Rồi qua bữa khác thì lại là cái điều lệ trong trường, trong chùa mình đưa ra, ngày đó phải tịnh khẩu, không tiếp ai hết, không làm gì hết, cứ trong chánh điện mà cứ chỉ có cái ngồi thiền với lễ Phật thôi, không cả tụng kinh, không được đọc kinh bản, không được gì hết. Thì ngày hôm đó mới là đúng, thì ta theo cái đó thì mới là đúng ngày hôm đó.

[1:17:01]Mà khác đi lại không phải. Cho nên vì vậy cái mà công phu tu hành của ta để gọi là không rơi vào dãi đãi, không rơi vào cái dằn ép vội vã, mà đúng mức tinh tấn sự thật là nó rất là linh động. Mà tùy hoàn cảnh ta, tùy cái khung cảnh lúc đó, tùy quy luật lúc đó, tùy cái thời khóa và tùy căn tánh của ta nữa, tùy căn cơ của ta, không ai bắt chước ai được. Ví dụ như bây giờ ta thấy có một vị tôn túc, ngồi ổng niệm Phật suốt 3 tiếng, ngày nào ổng cũng giữ nghiêm túc lạy Phật, niệm Phật, tính nắn, điềm đạm, ít có tiếp xúc, ít nói chuyện. Ai Phật tử tới gặp ổng chỉ xá, cười cười, ổng lảng đi chỗ khác ổng tu, thì đối với ổng vậy là vừa, tại căn cơ ổng vậy.

[1:17:42]Cái mình thấy vậy bắt đầu mình bắt chước nha. Bữa nào mình cũng phải đeo cái xâu chuỗi vô, mặc áo tràng, đi tới đi lui nghiêm túc, gặp ai cũng xá thôi, chào chào, giả bộ lảng đi chỗ khác, y vậy cũng ngồi. Nhưng được một tuần sau, mình bứt chịu không nổi. Tại vì đó không phải căn cơ của mình, mà căn cơ của mình là phải hầu các vị lớn, phụ giúp việc các vị lớn để lấy công bồi đức. Chứ không có bắt chước được cái vị mà họ đã thuần thục, mà họ như vị thánh tái lai, họ đang trong giai đoạn mà họ nghiêm mật để chuẩn bị mà đạt được thánh quả. Còn mình là hạng mà sơ cơ, đang bồi công lập đức khác, cái tinh tấn của họ không phải cái tinh tấn của mình.

[1:18:17]Mà mình bắt chước mình rơi vào chỗ vội vã liền. Mà nếu mình coi thường họ, mình mang tội mình rơi vào cái dãi đãi liền. Cho nên vì vậy, cái mà để được cái mức tu hành nó nằm ở chỗ cái trung gian là không dãi đãi, không vội vã, đúng mức tinh tấn đúng mức tinh tấn, đó là cái bản lĩnh, cái trí tuệ của ta. Mà không có công thức chung, không có công thức chung. Tuy nhiên trong đó ta có một điều là ta cố gắng tùy thuận được với cái thời khóa chung của cả chùa ta. Đó là chùa ta tu như thế nào, thầy ta dạy thế nào, ta cố gắng nương theo, nương theo như vậy. Còn đến lúc mà nó bộc phát lớn lên, cái duyên đến lúc rồi thì

[1:18:55]tự nhiên nó sẽ có cái thay đổi thì cái đó là tính sau, vậy. Các anh cán bộ nghe rồi cũng muốn đi tu không ạ?

[1:19:07]Thôi thì ta nói một cái ý nữa thế này là khi ta về cái cái Sa Đéc này là cái nôi của Phật giáo thật sự. Rất nhiều vị tăng tài của Phật giáo miền Nam là từ nơi Sa Đéc này đi ra. Sa Đéc này là cái nơi cái lò, cái nôi mà cung cấp nhiều vị tăng tài cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thì khi mà ta đi về đây, nhất là những vị miền Bắc vào đây, thấy hạnh phúc á, thấy chư tăng đông vầy, tinh tấn tu tập, đoàn kết, hòa hợp. Chứ còn nếu mà ta bước ra ngoài miền Bắc, những vùng mà Tây Bắc, Việt Bắc, đi không thấy một bóng chư tăng nào. Nhưng Phật tử lại cứ tự lập chỗ tu với nhau. Có một lần mà chúng tôi đến cái chỗ đó cái Phật tử tự xây lên cái

[1:19:49]thiền đường thờ Phật, họ tự tụ tập lại mấy trăm người để tu. Mà nghe thầy nào tới là cũng mừng, băng đĩa của thầy nào là cũng lấy về nghe, tu đủ thứ hầm bà lằng hết trơn. Vì không có thầy hướng dẫn, thấy rất là tội, chứ không có được như ta ở đây là bước ra ngoài ngõ chút xíu, đi chút xíu là gặp tăng ni ấm cúng như thế này. Thì cái cái hình ảnh mà chư tăng ni tinh tấn tu hành là cái hình ảnh đẹp tỏa vào trong cái cuộc đời, làm ấm áp lòng người. Vì vậy, khi mà một người chúng ta đã khoác lên người cái áo cà sa, đã phủi đi cái mớ tóc của thế tục thì dù muốn dù không, chúng ta trở thành một cái cũng giống như là một cái cái ánh sao trời soi rọi đường đi cho nhân thế.

[1:20:37]Dù muốn dù không, chúng ta trở thành điểm tựa tâm linh của bao nhiêu con người, chúng ta trở thành cái tấm gương của bao nhiêu người cư sĩ khác. Nên cái việc mà giữ gìn cái hình ảnh đẹp đó là một cái bổn phận của chúng ta. Trong cái việc mà giữ gìn cái hình ảnh đó cho đẹp cho chư tăng đó, để mãi mãi chư tăng là những ánh sao trời mà soi bước trong đêm để bao nhiêu con người được đi theo con đường giác ngộ thì cái bổn phận đó hết sức là thiêng liêng. Mà để được như vậy thì ta cần một điều là đoàn kết. Nhưng mà đoàn kết là cái gì? Đoàn kết là cái gì? Đoàn kết không thể chỉ là một cái lời nói suông:

[1:21:19]"À tôi đoàn kết lắm, chư tăng tôi đoàn kết." Cái lời nói suông nó không là sự đoàn kết, mà nó như thế này mới gọi là đoàn kết: là trong tâm tưởng, trong lời nói và trong hành động chư tăng ủng hộ lẫn nhau. Ủng hộ lẫn nhau mới gọi là đoàn kết, chứ còn nếu nói đoàn kết thì chưa phải là đoàn kết, mà phải là ủng hộ lẫn nhau.

[1:21:44]Ủng hộ lẫn nhau là sao? Nghĩa là từ việc nhỏ ở trong chùa, ví dụ như là thấy rằng cái người huynh đệ mình lên quét chánh điện là dưới này mình xách bộ đồ mình đi giặt. Tại ổng mắc lo quét chánh điện, mình xách bộ đồ mình đi giặt, đó gọi là ủng hộ lẫn nhau từ ở trong chùa. Rồi khi lớn hơn chút nữa là khi mà thấy bên chùa bên kia có cái đám giỗ là bên chùa bên đây mình đã chạy qua hỏi: "Bây giờ tôi phụ được cái gì? Bên đó thiếu gì? Hay là Phật tử đi chùa bên đây qua cái sân chùa tôi đậu xe." Đó gọi là ủng hộ lẫn nhau, tức là hai chùa với nhau. Hoặc là nói trên công việc của giáo hội, nghĩa là cái vị đó ổng làm Trưởng

[1:22:20]ban Hoằng pháp, còn mình thì biết giảng sơ sơ mà mình không làm Trưởng ban Hoằng pháp, nhưng mà mình ủng hộ cái việc làm Phật sự của cái vị đó. Thì chính gọi là trong thâm sâu tâm hồn mình ủng hộ nhau. Ai hỏi tới cái vị nào trong Ban Trị sự mình mở miệng mình ca ngợi, còn hễ làm được cái gì để giúp cho Ban Trị sự làm việc cho tốt thì làm liền. Nên ba cái nghiệp: thân, khẩu, ý đều ủng hộ nhau. Trong ý luôn luôn ủng hộ, ai làm được việc là ủng hộ, không bao giờ đố kỵ, ganh tị. Trong lời nói ai hỏi tới, mình luôn luôn khen ngợi, ủng hộ, nói một câu tốt đẹp để cho vị đó làm được việc. Và trong hành động, làm bất cứ được việc gì để giúp đỡ cho chư

[1:22:59]tăng làm nên việc thì ta làm liền, không nệ công, nệ sức. Thì phải có cái gọi là thân, khẩu, ý ủng hộ lẫn nhau thì ta được gọi là chư tăng hòa hợp, đoàn kết. Chứ hòa hợp, đoàn kết không phải là chỉ là một khẩu hiệu suông mà phải gọi là chữ ủng hộ lẫn nhau. Thì chúng tôi mong rằng là trong khắp bầu trời Phật giáo này, các vị tăng ni nghĩa là những vị đệ tử xuất gia của Đức Phật luôn luôn ủng hộ lẫn nhau trong tu hành cũng như trong làm Phật sự để làm thành một cái đạo Phật tốt đẹp, thành một ánh mặt trời lúc bình minh đang lên cho mọi người đón chào, trở thành những ánh sao trời rực rỡ trong đêm để cho chúng

[1:23:40]sinh được dõi bước đi theo, thành những tấm gương sáng, những cội bồ đề, cây cao bóng cả để cho chúng sinh được che mát. Và thế gian này nhờ như vậy bớt đi rất nhiều đau khổ, những giọt nước mắt thôi rơi, thêm nhiều những nụ cười, thêm nhiều những hạnh phúc. Chúng con xin kính chúc cho chư tôn đức tăng ni trong cái mùa hạ này được nhiều công đức lành, thắng duyên tu tập vượt bậc để mãi mãi làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:24:45]Mái chùa

[1:24:51]che chở hồn dân tộc.

[1:25:03]Từ thuở ra đi vắng bóng chùa, đường đời đã nhọc chuyện hơn thua.

[1:25:15]Trong tôi bừng dậy niềm chua xót,

[1:25:21]xao xuyến mơ về lại cảnh xưa.

[1:25:29]Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng,

[1:25:36]có con đường đỏ chạy lang thang.

[1:25:43]Có hàng tre đợi hoàng hôn xuống, im lặng chùa tôi ngập nắng vàng.

[1:25:56]Có những cây mai sống trọn đời, bên hàng tùng bách mãi xanh tươi.

[1:26:10]Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa,

[1:26:16]Đức Phật từ bi miệng mỉm cười.

[1:26:26]Tôi nhớ làm sao những buổi chiều, lời kinh giải thoát vọng cao siêu.

[1:26:38]Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi, cầu nguyện dân làng sống mến yêu.

[1:26:49]Vì vậy làng tôi sống thái bình, sớm khuya gần gũi tiếng chuông kinh.

[1:26:59]Sắn khoai gạo bắp nuôi dân sống, xây dựng tương lai xứ sở mình.

[1:27:17]Mỗi tối dân quê đón gió lành, khắp chùa rào rạt ánh trăng thanh. Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi, an ủi dân hiền mọi mái tranh. Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào, thôn trên xóm dưới dạ nao nao. Dân làng tắm gội lên chùa lễ...

[1:27:42]Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào.

[1:27:53]Biết đến bao giờ trở lại quê,

[1:28:01]vẩn vơ lòng gửi nhớ nhung về. Tang thương dẫu có bao nhiêu nữa,

[1:28:15]cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê.

[1:28:26]Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng, ra đi ai chẳng nhớ chùa chung.

[1:28:40]Mái chùa che chở hồn dân tộc, nếp sống muôn đời của tổ tông.

[1:28:56]Biết đến bao giờ trở lại quê,

[1:29:03]vẩn vơ lòng gửi nhớ nhung về.

[1:29:10]Tang thương dẫu có bao nhiêu nữa,

[1:29:18]cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê.

[1:29:28]Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng, ra đi ai chẳng nhớ chùa chung.

[1:29:43]Mái chùa che chở hồn dân tộc,

[1:29:50]nếp sống muôn đời của tổ tông.