Transcript: Kinh Nikaya 22 - Kinh Gopaka Moggallana

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:12:49

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Sau khi Đức Phật nhập diệt một thời gian, lúc đó là tôn giả A-nan-đa đang đi giáo hóa khắp nơi. Tình hình lịch sử Ấn Độ bắt đầu thay đổi. Vua A-xà-thế đang có căng thẳng với vua Pajjota nên xây một cái thành để chuẩn bị chiến đấu. Lúc đó tôn giả buổi sáng đắp y cầm bát đi vào thành Vương Xá để khất thực. Giờ còn sớm nên tôn giả A-nan-đa mới đi đến Bà-la-môn Gopaka Moggallana để chơi. Thời đó thì những vị Bà-la-môn với đạo Phật cũng có cái tình giao hảo tốt chứ không có phân biệt. Khi mà chào hỏi nhau xong thì Bà-la-môn Gopaka mới hỏi câu này: "Thưa tôn giả, có thể có chăng một vị Tỳ-kheo thành tựu một cách trọn

[0:54]vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà tôn giả Gotama, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác thành tựu?" Khi mà Đức Phật còn tại tiền á thì cái ranh giới giữa Phật và A-la-hán không có rõ ràng, không có xác định. Phật nói là Phật được tam minh lục thông, các vị A-la-hán cũng được tam minh lục thông, không có phân biệt. Và mọi việc coi như ai đã giải thoát là bình đẳng, không có hơn kém. Nhưng chợt ông Bà-la-môn này ổng có cái nghi vấn về sự sai biệt giữa Phật quả và A-la-hán quả. Sau này bên Đại thừa khai thác cái này rất là triệt để, làm cho đạo Phật càng lúc càng bị phân hóa là do do sau này. Chúng ta xem bài kinh này chúng ta sẽ thấy cái sự khác

[1:34]biệt nó như thế nào, trong chừng mức nào thôi. Ngài A-nan trả lời: "Không thể có một vị Tỳ-kheo, này Bà-la-môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói, là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và nay các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành (tùy hành tức là làm theo) và sẽ thành tựu những pháp ấy về sau." Ngài A-nan nói như vậy thôi, chúng ta nhớ ghi cái nốt này cho kỹ.

[2:16]Cái điểm mà Đức Phật hơn một vị A-la-hán là Đức Phật sáng tạo ra được con đường, còn những vị A-la-hán đi theo con đường đó mà được giải thoát. Đây là điểm khác biệt duy nhất mà ngài A-nan xác nhận, ngoài ra ngài không xác nhận một điểm nào khác nữa. Chúng ta để ý điểm này cho kỹ nha, để mai mốt mình dần dần mình học tới những cái những bài về Đại thừa nguyên thủy mình không có bị lúng túng. Sau này có ai muốn chia rẽ đạo Phật không chia rẽ được do mình đã nắm vững bài kinh này. Sau khi câu trả lời đó xong thì có đại thần Vassakāra đến, ừm, ổng đến ổng tham gia. Ổng nói chuyện ổng hỏi lại câu chuyện hồi nãy.

[2:57]Rồi đó ổng mới nói thế này: "Thưa tôn giả A-nan-đa, có một vị Tỳ-kheo nào mà được tôn giả Gotama (tức là Phật sắp đặt) vị này sau khi ta diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi và các ngươi sẽ y chỉ vị này?" Đó là cái đại thần ổng hỏi. Ngài A-nan trả lời: "Này Bà-la-môn, không có một vị Tỳ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác sắp đặt vị này sau khi ta diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi và chúng tôi nay sẽ y chỉ vị này." Đây là bài kinh nó đặt ra một cái sự thật kinh ngạc. Nào giờ những vị sư theo Bắc tông Đại thừa thì tin theo truyền thuyết của 33 vị tổ Thiền tông

[3:43]là sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài truyền trao y bát cho ngài Ca-diếp. Như vậy ngài Ca-diếp là người mà thống lãnh tăng đoàn, được Đức Phật xác nhận nhiệm vụ mà mọi đệ tử Phật phải nương tựa vị đó như là một vị tổ kế tiếp. Nhưng trong bài kinh này ngài A-nan phủ nhận điều đó, hoàn toàn Đức Phật không chỉ định ai để thay ngài thống lãnh tăng đoàn. Chúng ta để ý cái lịch sử này. "Thưa tôn giả A-nan-đa, có một vị Tỳ-kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận bầu lên là sắp đặt vị này sau khi Thế Tôn diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho chúng ta?" Ngài A-nan trả lời: "Không có một vị Tỳ-kheo nào, này Bà-la-môn,

[4:25]được chúng Tăng thỏa thuận bầu lên với số đông là để cho chúng Tăng nương tựa." Đức Phật không chỉ định, chúng Tăng cũng không bầu lên, nên sau Phật không có người kế thừa về vấn đề lãnh đạo tăng đoàn. Đây là một bạn để ý, nên chúng ta học bài kinh này quan trọng về sử lắm. Lúc đó ông này ổng mới thắc mắc: "Và như vậy là không có chỗ nương tựa, thưa tôn giả. Vậy do nhân gì mà quý vị có thể sống rất hòa hợp?" "Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa, này Bà-la-môn. Chúng tôi có chỗ nương tựa và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi." Vậy thứ nhất á là nói rằng cái sự sai biệt giữa Đức Phật với A-la-hán

[5:05]là Đức Phật là người sáng tạo, A-la-hán là người đi theo. Rồi nói ý thứ hai là Đức Phật không chỉ định một vị Tỳ-kheo nào thay ngài để thống lãnh tăng đoàn. Thứ ba là chư Tăng cũng không bầu lên một vị nào để lãnh đạo tăng đoàn. Thứ tư nhưng mà có một chỗ nương tựa rất là trừu tượng là Pháp, ừm. Rồi ông đó mới hỏi là: "Pháp là chỗ nương tựa như thế nào?" Ừm, ở đây ông mới trả lời: "Này Bà-la-môn, Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đã thiết lập học pháp, đã tuyên bố giới bổn Pāṭimokkha cho các vị Tỳ-kheo. Trong những ngày Bố-tát, chúng tôi sống gần ở chung một thôn điền, tất cả chúng tôi hội họp với nhau tại một chỗ.

[5:51]Sau khi tụ họp, chúng tôi hỏi những gì đã xảy ra cho mỗi một người. Nếu trong khi hỏi nhau như vậy, có một Tỳ-kheo phạm tội, phạm giới, chúng tôi bảo vị ấy làm đúng pháp, đúng lời dạy. Thật vậy, không phải các tôn giả xử sự chúng tôi, chính Pháp đã xử sự chúng tôi." "Thưa tôn giả, có vị Tỳ-kheo nào mà nay quý vị cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, sau khi cung kính, tôn trọng quý vị nương tựa?" Trả lời cái đoạn sau này chúng ta xem: "Này Bà-la-môn, có mười khả hỷ pháp (trong kinh văn thì ghi là mười khả hỷ pháp mà cái đoạn sau thì đếm có chín cái à, thiếu mất một cái, chúng ta cùng nhau để ý nè)

[6:32]được Thế Tôn, bậc Tri giả, Kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác tuyên bố. Giữa chúng tôi, vị nào có đầy đủ mười pháp này, chúng tôi sẽ cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường vị ấy. Sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú nương tựa vị ấy. Thế nào là mười? Ở đây, này Bà-la-môn, vị Tỳ-kheo (nhớ nè, ghi số nè) thứ nhất: có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, sau khi thọ trì, học tập trong các học pháp." Thứ nhất là thọ trì giới bổn.

[7:14]Thứ nhất là giới ha. Thứ hai: "Là bậc Đa văn, thọ trì những điều đã nghe, cất chứa những điều đã nghe. Những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện với nghĩa, với văn, nói lên phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Những pháp ấy đều được nghe nhiều, được thọ trì, được lời nói làm cho quen thuộc, được ý tư niệm, được chánh kiến khéo ngộ nhập." Cái câu văn hơi xưa, lát từ từ mình giải thích, kiên nhẫn. Đó ý thứ hai là là gì? Là bậc học nhiều, hiểu biết nhiều. Thứ ba: "Vị ấy biết đủ đối với các vật thực dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh." Thứ ba là có cái tinh thần biết đủ.

[7:55]Thứ tư nè: "Vị ấy là người tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, chứng được bốn Thiền, thuần trí, an trú hiện tại lạc." Thứ tư là người có thể xuất nhập định dễ dàng, an trú được Sơ thiền tới Tứ thiền dễ dàng. Đây là tiêu chuẩn quan trọng lắm. Thứ năm: "Vị ấy thực hiện các loại thần thông sai biệt: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền, ngồi kiết già đi trên hư không như chim có cánh.

[8:34]Với bàn tay vị ấy chạm và rờ mặt trăng và rờ mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi trời." Thứ năm là thần túc thông. Thứ sáu là tha tâm thông nè: "Sau khi đi sâu vào tâm chúng sinh, tâm loài người với tâm của mình, vị ấy được biết như sau: tâm có tham biết tâm có tham, tâm không tham biết tâm không tham, tâm có sân biết tâm có sân, tâm không sân biết tâm không sân, tâm có si biết tâm có si, tâm không si biết tâm không si, tâm chuyên chú biết tâm chuyên chú, tâm tán loạn biết tâm tán loạn, tâm đại hành biết tâm đại hành, tâm không phải đại hành biết không

[9:14]phải đại hành, tâm chưa vô thượng biết tâm chưa vô thượng, tâm vô thượng biết tâm đã vô thượng, tâm thiền định biết tâm thiền định, tâm không thiền định biết tâm không thiền định, tâm giải thoát biết tâm giải thoát, tâm không giải thoát biết tâm không giải thoát." Thứ sáu là tha tâm thông ha. Thứ bảy nè: "Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời cho tới vô lượng đời." Thứ bảy là túc mạng thông. Thứ tám nè: "Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sinh. Vị ấy biết chúng sinh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do

[9:54]hành nghiệp của chúng." Vậy thứ tám là thiên nhãn thông. Số 9 này á là Lậu Tận thông nè. Cho nên ở đây nói mười khả hỷ pháp mà bài kinh ghi thiếu một cái thông là Thiên Nhĩ thông, nhưng mình hiểu được rồi. "Với sự đoạn diệt các lậu hoặc, sau khi với thượng trí đã chứng ngộ chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát." Đó là đủ chín pháp, còn cái Thiên Nhĩ thông nữa mới đủ mười, mà trong kinh văn ghi sót một cái. "Này Bà-la-môn, mười pháp khả hỷ này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác nói lên giữa chúng tôi. Vị nào có đầy đủ mười pháp này,

[10:36]chúng tôi nay cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường vị ấy; sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy."

[10:46]Cái đoạn sau nói về thiền định, chúng ta đọc hết đi ha rồi giảng sau. Như vậy, chúng ta đọc qua bài kinh này thấy rằng là Đức Phật nhập diệt đã lâu bài kinh này mới được kiết tập. Có lẽ là Tôn giả A-nan-đa đã chứng ngộ và ngài đi vân du giáo hóa. Những chỗ này thì thời Đức Phật còn tại tiền ngài cũng đã từng đi đây đi kia, ngài đã biết nhiều người, quen nhiều người. Tựa bài kinh này lấy theo vị Bà-la-môn làm bạn mà ngài đến thăm. Chúng ta sống trong cái thời đại này cách Phật là hơn 2.500 năm, nên giáo pháp Đức Phật để lại đã bắt đầu có cái sự phân hóa, đã có sự giải thích sai biệt. Những gì mà chúng ta hiểu ngày hôm nay chưa chắc đúng với ý Phật ngày xưa.

[11:37]Kinh điển kiết tập để lại nó đã có sự xen tạp, đã có sự thêm thắt. Thật là khó trong ngày hôm nay mà chúng ta xác nhận cái gì là đúng với chánh pháp hay không đúng với chánh pháp. Càng lúc trong đạo Phật tà kiến càng xen vô càng lúc càng nhiều. Nhiều người mang hình thức đạo Phật mà đôi khi vẫn làm cái việc ngoài đạo Phật, chúng ta thấy nhan nhản trước mắt. Như bây giờ có những bài kinh mà không phải đạo Phật mà trong các chùa đôi khi cũng trì tụng, ví dụ như bài Địa Mẫu, vân vân. Thì cách Phật quá xa, cái người ban đầu mở đường không còn, về sau mỗi người cứ theo cái cái uy tín, cái ảnh hưởng của mình,

[12:18]thêm cái ý kiến của mình vào, đạo Phật càng lúc càng phân hóa. Sự phân hóa nó cực độ khi đến lúc mà Đại thừa và Tiểu thừa xuất hiện, các bộ phái xuất hiện. Lúc trước á thì chỉ có một đạo Phật, về sau phân thành hai bộ phái là Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Rồi trong Thượng Tọa bộ phân ra thành 11 bộ phái, Đại Chúng bộ phân thành 9 bộ phái, thành 20 bộ phái. Mỗi bộ phái giải thích giáo lý của đạo Phật theo ý mình dần dần, dần dần. Sau này thì những vị luận sư nổi tiếng như ngài Mã Minh, Long Thọ mới xiển dương một giáo lý mới mà mình gọi là Đại thừa đó. Lần lần lúc đó kinh Đại thừa mới xuất hiện,

[12:57]chứ trước thời Đức Phật không có kinh Đại thừa. Rồi cái nhân cách của Phật với các vị A-la-hán cũng được xác định, phân biệt rất là chi tiết. Có những vị như là bên Nguyên thủy đó thì xác nhận theo kinh nói rằng A-la-hán với Phật tương đương, chỉ có là Phật là người mở đường, A-la-hán là người đi theo, chứ sự sai biệt không có. Nhưng bên Đại thừa thì chê quả vị A-la-hán là còn rất là thấp, mà quả vị Phật mới là cao rồi lần lần thần thoại hóa cái địa vị của Phật, hình ảnh của Phật. Dần dần đạo Phật từ từ một đạo giác ngộ, giải thoát đang trở thành một đạo thần quyền, có thể ban phúc, giáng họa.

[13:43]Đó đây là cái điểm mà rất gần giữa cái đạo Phật và ngoại đạo. Có một lần Hòa thượng Minh Châu viết lời tựa trong cái cuốn Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa: "Đại thừa Phật giáo với ngoại đạo cách nhau có một đường tơ kẽ tóc mà các nhà Đại thừa thì sẵn sàng bước qua." Hòa thượng trách rất là nặng, trách rất là nặng. Thật ra là cái tâm huyết của Hòa thượng quá thiết tha thôi. Trong bây giờ mình không có đề cập nhiều, chưa phải lúc. Sau này khi mà chúng ta học tới Sử Phật giáo, chúng ta sẽ phân tích kỹ từ đâu mà sự phân hóa nó quá cô đọng. Hôm nay mình chỉ dựa bài kinh này để mình nắm lại cái ý gốc đạo Phật ban đầu mà mình không đi quá xa nữa.

[14:30]Trong rất nhiều bài kinh, Đức Phật vẫn gọi mình là một vị A-la-hán có đủ tam minh lục thông như các vị vị A-la-hán khác. Ví dụ như khi khen ngài Ca-diếp, Đức Phật nói: "Ca-diếp được tam minh, Ta cũng được tam minh; Ca-diếp được lục thông, Ta cũng được lục thông." Như vậy A-la-hán với ngài ngài thấy không có sai biệt. Trên bản thể giải thoát chỉ có một, không có hai, ba. Đức Phật là người mà Phật gọi là Như Lai không có đôi bàn tay nắm lại, những gì Phật dạy dạy hết, làm sao cho đệ tử mình bằng được mình chứ không có thua sút mình. Nên cái bản thể Niết-bàn mà Đức Phật chứng được ngài cũng hướng dẫn cho các vị đệ tử mình trong thời đó chứng được hết.

[15:13]Nhưng mà khác nhau giữa Phật với vị A-la-hán là thế này, là cái phước sai biệt trong nhiều kiếp. Cho nên Đức Phật đủ phước đủ phước để làm một vị giáo chủ mở ra một tôn giáo mới mà oai đức của ngài tồn tại mãi mãi khiến cho chúng sinh sau này khiến cho đệ tử sau này luôn luôn được phước của ngài mà được cúng dường. Như ngày hôm nay chúng ta ngồi đây tu hành rồi được tín đồ cúng dường là nhờ phước của ai? Nhờ mình thờ Phật, thấy có Phật thờ mới vô cúng, chứ không thờ Phật sợ mình cũng chắc tín đồ đi ngang rồi đi luôn. Nên đó là một sự thật, là phước của Phật lớn chẳng những là phủ trùm trong cuộc đời của ngài mà còn để

[16:00]lại nhiều đời để cho những đệ tử ngài vĩnh viễn được cúng dường. Cái oai đức của ngài làm cho cái đạo giải thoát càng ngày càng lan truyền mà những người đi theo thừa hưởng ân đức của ngài càng lúc càng phát triển về tuệ giác, được giải thoát. Với cái phước nữa là cái trí thiền xảo của ngài về lý luận, về tổ chức ngài vượt hơn đệ tử ngài không bằng được. Như là những hệ thống kinh điển để lại mà chúng ta xem qua nói lên cái trí tuệ siêu việt của ngài mà những đệ tử cũng chứng A-la-hán khó thể nào mà lập được một hệ thống giáo pháp như vậy. Đôi khi có một vài đệ tử giỏi như ngài Ca-chiên-diên, ngài Phú-lâu-na, ngài Ưu-ba-ly, ngài Xá-lợi-phất,

[16:47]vân vân, lý luận rất giỏi, có thể thuyết được những bài pháp dài, tuy nhiên vẫn chưa đủ để bằng Phật, mặc dầu là những bài pháp của các vị đó Đức Phật khen ngợi. Rồi tài tổ chức thống lãnh tăng đoàn sắp xếp mọi việc nhìn trước nhìn sau vậy thì cái này là cái mà Đức Phật vượt hẳn, các tỳ-kheo đệ tử không bằng được, mặc dầu trên bản thể Niết-bàn đồng với Phật. Nhớ nha, trên cái bản thể Niết-bàn thì Phật và các vị A-la-hán đồng nhau.

[17:19]Bây giờ sẵn đây chúng ta phân tích những cái hiểu lầm mà giữa Nguyên thủy và Đại thừa nào giờ cứ tiếp tục cắn đắng với nhau. Như có một lý thuyết nói rằng bậc A-la-hán á chứng được vô ngã mà không chứng được vô pháp. Quý sư đã nghe điều này chưa? Nghe chưa? Nói là A-la-hán chỉ được vô ngã chứ chưa có hết được cái chấp pháp, hết chấp ngã chứ không hết chấp pháp. Cái câu này đúng hay sai?

[17:52]Đúng hay sai ai biết?

[17:56]Xung phong trả lời đi.

[18:01]Không có là sư đừng có mặc cảm như vậy. Đơn giản lắm, mình phải hiểu để mình không lầm đường đi. Nó như thế này: bản ngã là cái ta phải không? Ví dụ như là tôi ngồi đây thì tôi biết mình là cái ta nè, tôi nhìn mọi vật, mọi cái pháp bên ngoài, nó là gì? Là đối tượng, là vạn pháp phải không? Như vậy là có cái ta để nhận thức được cái vạn pháp bên ngoài. Rồi ví dụ như sư, sư tự nhận mình là ta, sư nhìn ra bên ngoài vạn pháp, sư nhìn tôi, nhìn các sư khác thì đó là vạn pháp bên ngoài. Thì như vậy cái ngã với cái pháp á nó do đối nhau mà lập một cách tương đối. Bây giờ tôi nhìn sư thôi, tôi nhìn sư thì tôi là ngã mà sư là gì?

[18:45]Sư là pháp, phải không? Đối với tôi thì sư là pháp, nhưng mà ngược lại, sư nhìn tôi thì sư là ngã mà tôi là gì? Tôi là pháp của sư, phải không? Phải không? Rõ ràng, cái là đối tượng mà mình nhận biết bên ngoài thì nó là pháp của mình. Ví dụ như là cũng lấy bức tranh trên này, tôi nhìn bức tranh này thì tôi là ngã và bức tranh này là pháp đối với tôi, phải không?

[19:14]Quý sư cũng vậy, quý sư nhìn bức tranh này thì lúc đó cái bức tranh này là pháp đối với quý sư. Như vậy cái vạn pháp là gì? Là cái đối tượng bên ngoài mà mình nhận thức. Còn cái người nhận thức á, người đó là ngã. Còn cái đối tượng được nhận thức á, cái đó là pháp. Hiểu không? Dễ chứ gì? Đâu có gì đâu khó. Rồi bây giờ hỏi câu này nữa nè: ví dụ như bây giờ con mắt tôi nhìn bàn tay nè, cái nào là ngã, cái nào là pháp? Ừ, con mắt là ngã, phải không? Mà cái bàn tay là đối tượng được nhìn nên nó là là pháp. Bây giờ tôi lấy bàn tay tôi rờ con mắt nè, cái nào là ngã, cái nào là pháp? Bàn tay là ngã, mà con mắt trở thành cái bị rờ nên nó là pháp.

[20:01]Nên cái đối tượng bị nhận thức á, cái đó là pháp; còn cái mà nhận thức, cái chủ thể nhận thức, cái đó là là ngã. Phải không? Mấy cô hiểu không? Ví dụ như bây giờ mình nhìn vạn hữu bên ngoài nè, thì cái người nhìn nè là là gì? Ngã. Còn cái đối tượng vạn pháp bên ngoài, cái đối tượng bên ngoài mà mình thấy biết được, đó là gì? Pháp, phải không?

[20:29]Bây giờ vậy, ví dụ như là tôi búng ngón tay, thì tôi nghe cái tiếng ngón tay búng nè, thì cái nào là ngã, cái nào là pháp?

[20:42]Cái tai nghe là là ngã, cái ngón tay búng phát ra tiếng bị nghe là là pháp. Giờ tôi lấy cái tay tôi rờ cái tai nè, cái nào là ngã, cái nào là pháp? Cái tay nè, cái tay rờ nè là ngã, nó nhận thức; còn cái tai nè, bị rờ là cái pháp, đối tượng bị bị nhận thức. Đối tượng bị nhận thức là pháp, còn cái chủ thể nhận thức là là ngã. Đúng chưa? Giờ tôi thí dụ với sư nè, tôi nhìn sư, ai là ngã, ai là pháp? Đúng.

[21:21]Bây giờ sư nhìn tôi thì ai ngã, ai pháp?

[21:26]Đúng rồi, như vậy là hiểu rồi. Phải không? Cũng tôi với sư thôi mà lật ngược đi lật ngược lại thì ngã pháp nó khác nhau. Hiểu rồi vậy ha? Có ai chưa hiểu không? Bây giờ bắt đầu hỏi nè: Trong hai cái ngã pháp, nếu thiếu một cái, nó còn được gọi là ngã và pháp hay không?

[21:48]Ví dụ như là tôi nhìn sư ha thì tôi là ngã mà sư là pháp. Bây giờ có mình sư à, không có tôi nữa thì bây giờ còn nói ngã nói pháp không? Đúng rồi, vậy là sư giác ngộ rồi đó.

[22:03]Ví dụ như là tôi nhìn vạn hữu bên ngoài ha thì tôi là ngã, vạn hữu là pháp. Bây giờ không có tôi nữa thì ai ngã, ai pháp có không? Còn nói ngã nói pháp không? Còn không? Dám lại còn lắm á. Nên ở đây chúng ta phải hiểu thế này: ngã và pháp là hai cái đối nhau mà lập, hai cái đối nhau mà lập. Nếu thiếu một cái thì cái kia biến mất. Nhớ điều đó. Thiếu một cái thì cái kia biến mất. Ví dụ như là cây phấn là màu màu trắng ha, bảng là màu màu đen. Cái này nó đậm, cái cái kia nó trắng. Mình phân biệt được giữa trắng đen là bởi vì nó có hai cái màu, phải không? Vì nếu chỉ có một cái bảng này thôi không có màu phấn

[22:52]trắng nữa thì còn có sự phân biệt trắng đen không? Còn không? Chấm dứt. Nếu trong thế gian này hoàn toàn không có màu trắng nữa thì người ta cũng không nói màu đen là tối nữa. Bởi vì nó có sự so sánh, nó có cái sự đối đãi với nhau. Nó có sự so sánh, đối đãi mới lập thành pháp, thành ngã. Nếu không có sự so sánh đối đãi thì ngã pháp biến mất. Cho nên hễ một người tu mà chấm dứt được chấp ngã thì ngay đó còn chấp pháp không? Không còn chấp pháp, nhớ điều đó. Cho nên ai nói rằng hết chấp ngã nhưng còn chấp pháp thì phải biết người này sao? Thứ nhất là chưa thân chứng, thứ hai là cạn cợt trên lý luận.

[23:38]Nhớ điều này. Mình muốn nói là hồ đồ đó nhưng mà thôi nói nặng quá. Nên hễ người nào mà nói là hết chấp ngã nhưng có thể còn chấp pháp thì người đó thứ nhất là chưa thân chứng, thứ hai là còn cạn cợt trên lý luận. Mà chính điều đó gây cho đạo Phật một sự chia rẽ trầm trọng, biến thành Tiểu thừa, Đại thừa. Nên từ đây chúng ta hiểu điều này, chúng ta chấm dứt sự chia rẽ đó. Bây giờ ta nói tiếp. Có người nói rằng: Bậc A-la-hán tu được giải thoát, vô ngã mà không có đại bi như Bồ Tát. Phải không? Có nghe câu đó chưa? Thường nghe, phải không? Nói A-la-hán là chứng Tiểu thừa, là cây khô, mộng lép, không có lòng đại bi như là Bồ Tát.

[24:26]Nghe chưa? Quý vị có nghe chưa? Nghe rồi, phải không? Thì câu đó sai chỗ nào? Trả lời đi. Nghiên cứu trả lời đi.

[24:39]Ai biết chỗ sai chỗ nào? Nói rằng vị A-la-hán giải thoát nhưng mà vẫn không có lòng đại bi, nên phải tu đại bi nữa mới thành Bồ Tát, mới thành Phật.

[24:54]Thôi để tôi nói luôn nghe. Nó như thế này: Cái người giải thoát tức là người hết chấp ngã, phải không? Vô ngã. Người vô ngã là còn ích kỷ không? Mà người hết ích kỷ tức là gì? Tức là tâm vị tha tràn đầy rồi chứ gì nữa, phải không? Họ sống trên đời này không ích kỷ, họ không sống vì họ nữa thì tức là họ sống vì ai? Tức là vì mọi người, phải không? Mà họ sống vì mọi người đó, mình gọi họ là cái gì? Phải là đại bi không? Nên họ không nói là đại bi, chỉ nói là vô ngã thôi. Mà tức là đại bi rồi. Giống như bàn tay, mình nói lưng cũng là bàn tay mà nói lòng bàn tay cũng là bàn tay. Mình nói bên đây là vô ngã, bên đây là đại bi.

[25:38]Cũng là một bàn tay. Cũng là một sự chứng ngộ đó thôi, cũng là một sự giải thoát đó thôi. Nói ở khía cạnh này mình gọi là vô ngã, nói ở khía cạnh khác mình gọi là đại bi. Chớ nó không có tách rời nhau. Chứ đừng có hiểu cái nghĩa mà giải thoát vô ngã mà chưa có đại bi. Đây là một lời hiểu lầm lần nữa. Vì một người đã vô ngã, hết ích kỷ là người đó không sống cho họ nữa, mà chỉ sống trên đời này là vì lợi ích tất cả chúng sinh thôi. Nhớ điều đó. Thêm câu nữa. Nói A-la-hán tu hết vô minh, chớ không có cái trí tuệ như Bồ Tát, đúng không?

[26:17]Sai là sao? Ừ. Đúng rồi. Vậy mình có cần phân biệt Bồ Tát, A-la-hán nữa không từ đây? Thôi chấm dứt nghỉ nghe, về nghỉ khỏe đừng có phân biệt Bồ Tát, A-la-hán nữa, mệt quá. Cho nên nói hết bóng tối nghĩa là gì? Là ánh sáng đã cùng chiếu, phải không? Nói hết vô minh tức là gì? Trí tuệ đã tràn đầy. Nó chỉ nói một câu này mình phải hiểu câu kia. Nói không có chấp ngã, biết rằng tức là không có chấp pháp. Nói không chấp ngã, phải hiểu tức là đầy đủ đại bi. Nói hết vô minh, phải hiểu là trí tuệ đã viên mãn. Nó vậy thôi. Một lát rồi mình giải thích cho từng cái thông, để cho quý sư phân biệt được những cái thần nhãn là

[27:07]gì mà thiên nhãn là gì, khác nhau như thế nào. Sau này mình nghe người tu thiền mà họ đạt được cái tuệ nhãn, họ thấy chuyện này thấy chuyện kia, là mình biết họ đang ở mức độ nào, không có lầm. Đừng tưởng là họ đắc đạo này kia nọ. Bây giờ mình nói tiếp qua bài kinh: Phật không có chỉ định người kế tục Ngài để lãnh đạo Tăng đoàn. Đây là một nghi vấn lớn đối với truyền thuyết 33 vị Tổ Thiền tông. Quý sư đọc 33 vị Tổ chưa? Đọc chưa? Chưa đọc hả? Vậy là sao đủ đa văn? Trong 10 khả hỷ pháp nó phải có một cái là đa văn. Chưa đọc hả? Quý sư biết Tổ Đạt Ma chưa? Ừ. Tổ Minh Đăng Quang là tổ gần đây, đúng rồi.

[27:52]Nhưng mà Tổ Đạt Ma. Còn ví dụ như Tổ Ca Diếp, A Nan rồi ngài Long Thọ, Mã Minh này nọ? Quý sư cũng chưa nghiên cứu qua hả? À. Dạ, dạ. Vậy là sư có nghiên cứu. Thì truyền thuyết của Thiền tông như thế này: Sau khi Đức Phật nhập diệt, Ngài mới trao y bát cho ngài Ca Diếp làm tổ thứ nhất, truyền đến ngài A Nan thứ hai, ngài Thương Na Hòa Tu, ngài Ưu Ba Cúc Đa, lần lần lần lần tới ngài Mã Minh, Long Thọ, Thế Thân, vân vân. Dài dài cho tới ngài Bát Nhã Đa La, rồi tới cái ngài

[28:28]Bồ Đề Đạt Ma. Ngài sang Trung Hoa truyền lại tới ngài Huệ Khả, vân vân, dần dần và tới ngài Huệ Năng là y bát chấm dứt, không truyền nữa, thành ra 33 vị tổ. Thì truyền thuyết của Thiền tông á, tin chắc rằng Thiền tông là chánh tông của đạo Phật, được truyền thừa y bát. Nên tông phái đó là tông phái cốt tủy của đạo Phật. Có cuốn sách dày nói về 33 vị tổ, về những lời ấn chứng, vân vân. Thì bên Bắc tông ai cũng tin điều đó hết, Bắc tông Đại thừa ai cũng tin điều đó. Nhưng mà các học giả thì lần lần họ đặt nghi vấn, họ thấy thứ nhất là do bài kinh này, bài kinh Cù-mặc Mục-kiền-liên này, cho nên ngài A Nan xác nhận Đức Phật không

[29:09]có chỉ định ai thay Ngài lãnh đạo Tăng đoàn. Thứ hai nữa là truyền thuyết về 33 vị tổ Thiền tông không hề có trước khi ngài Thần Hội viết cuốn Đạo Thống Sử. Sau này đó, ngài Thần Hội là đệ tử của ngài Huệ Năng, ổng mới viết cuốn Đạo Thống Sử dựng thành lịch sử 33 vị tổ Thiền tông, chứ còn trước kia chưa hề có một tài liệu nào nói về 33 vị tổ. Nên ở đây có một sự nghi ngờ. Các học giả nghiên cứu về sử Phật giáo, họ mới nghi rằng chính ngài Thần Hội là người tạo ra cái huyền thoại về 33 vị tổ, chứ thực sự không có cái 33 vị tổ. Với trong lịch sử của ngài Cưu-ma-la-thập, ngài mà dịch kinh rất nhiều á, có một đoạn kể:

[29:55]Ngài đến ngôi chùa đó, ngài chiêm bái cái bát của Phật được thờ trong cái ngôi chùa đó. Cái bát còn truyền lại. Như vậy cái bát nó không do một người nào giữ hết, không do một vị tổ nào giữ hết mà ngài Cưu-ma-la-thập còn đến chiêm bái được. Thứ ba nữa là trong những cái tài liệu, những bộ luận mà những vị nổi tiếng như là Mã Minh, Long Thọ ngài viết á, thì không bao giờ đề cập tới Thiền tông. Mà theo truyền thuyết thì hai vị đó là hai vị tổ lớn, tổ thứ 12, tổ thứ 14 của Thiền tông. Nhưng mà những cuốn sách của hai vị đó không bao giờ đề cập tới y bát truyền thừa, không bao giờ đề cập tới Thiền tông.

[30:33]Cho nên truyền thuyết về 33 vị tổ bây giờ đang bắt đầu bị nghi ngờ. Tuy nhiên, những vị Bắc tông Đại thừa thì thì không dám đặt nghi vấn, sợ mang tội. Còn mình là người học, mình phải nghiên cứu cho ra hết, phải đặt thẳng vấn đề, không có nể nang nữa. Bởi vì sau này, có khi là chúng ta tiếp xúc với những người ngoại quốc, mà những người nước ngoài họ nghiên cứu Phật giáo kỹ lắm. Những cái đó mà mình không biết, mình cứ cả tin, họ sẽ đánh giá mình không nghiên cứu tới nơi. Họ chê á. Mà chê như vậy là mấy sư coi như là người tu theo đạo Phật chớ nghiên cứu không có kỹ. Nên mấy cái vấn đề này mình phải biết.

[31:10]Ở đây cái bài kinh này nói rằng: "Vì ai là người mà để cho các chư Tăng nương tựa?" Nói: "Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi. Chính Pháp xử lý chúng tôi. Nghĩa là chúng tôi cứ căn cứ theo Pháp á, ai làm đúng theo Pháp thì thôi, ai sai theo Pháp thì thì ra sám hối trước chúng. Nói vậy, chớ không có một người nào mà có cái uy quyền tuyệt đối, uy quyền thống lãnh như là một giáo hoàng để chúng tôi phải sợ hãi, chúng tôi phải tuân phục. Đây là tính chất khác mà đạo Phật khác với các tôn giáo khác. Có vẻ hơi tự do, dễ dãi, tuy nhiên nó có một cái gì nó thảnh thơi, giải thoát. Đây cũng là ưu điểm mà cũng là khuyết điểm của đạo Phật.

[31:54]Cái khuyết điểm là do không có một tổ chức kỹ lưỡng cho nên Phật giáo dễ bị phân hóa, dễ bị tư tưởng bên ngoài xâm nhập. Có những người nhiều khi lợi dụng hình thức đạo Phật để làm những cái gì theo ý họ. Đây là cái khuyết điểm của đạo Phật do không có một cái tổ chức kỹ lưỡng. Nhưng cái ưu điểm của đạo Phật là gì? Là phát huy cái cái năng lực cá nhân con người để con người ta vươn được tới cái sự giải thoát trọn vẹn của chính mình mà không phải sợ không có nô lệ, không lệ thuộc. Đó, người ta đến với đạo bằng một sự tự giác và phát huy hết năng lực của mình trong sự tu hành đó. Nên đôi khi nó có một vài cái cái lập dị vượt bậc mà vẫn được chấp nhận.

[32:40]Thí dụ như là trong cái thời đó chúng ta phải tụng kinh, phải kinh hành, nhưng có một người ổng ngồi thiền cái ổng được định cái ổng ngồi luôn, ổng không có dậy tụng kinh hay đi kinh hành với người khác thì đạo Phật vẫn chấp nhận. Bởi vì nó phát huy được cái năng lực người ta trong cái sự tu hành tốt cứ để người ta. Chứ còn nếu mà có một sự gò bó thì mình buộc người ta à giờ giấc, quy củ phải đúng. Như vậy vô tình kềm chế bớt những người mà họ có cái khả năng đặc biệt. Đó, nên nó có cái hay, cái u của nó. Chư Tăng hòa hợp theo giáo pháp và giới luật. Do cùng thống nhất một giáo pháp, một giới luật nên chúng ta có cái sự hòa hợp với nhau mà không tranh cãi.

[33:22]Mình sống người am này người cốc kia nhưng mà tới ngày Bố-tát tập trung lại để tụng lên giới bổn, sống hòa hợp thương yêu, không có cái sự đố kỵ, xích mích, ganh tị. Nên trong Phật giáo ngày nay, chư Tăng ngày nay mà chúng ta thấy có cái sự chia rẽ, phân hóa là gì? Là không có thực hiện ngày Bố-tát nữa. Không có thực hiện là ví dụ như trong một cái vùng rộng lớn thế này đến ngày Bố-tát chư Tăng tụ về cùng tụng một cái giới luật, một cái giới bổn, một giáo pháp, nó tạo nên cái sự hòa hợp thật sự. Còn ở đây mỗi người đóng khung lên một cái cảnh sinh hoạt riêng, không biết người đó có giữ đúng giáo pháp đạo Phật

[33:57]hay không nữa, nên đạo Phật lần lần bị chia rẽ.

[34:03]Kính trọng người có đủ mười khả hỷ pháp.

[34:08]Cái điểm này rất là hay. Là ở đây không nói tới cái người đó là tu lâu hay tu mau, người đó già hay trẻ, không nói tới người đó là thuộc giai cấp dòng tộc nào, có bằng cấp gì, không nói là người đó có cái chức vụ gì trong giáo hội, hoàn toàn không nói. Miễn người đó đủ mười pháp khả hỷ đều đáng cho chúng Tăng nương tựa. Có khi người đó còn rất trẻ, có khi người đó không phải từ một giai cấp đặc biệt, có khi người đó không có một cái chức gì đặc biệt trong giáo hội. Còn thường thì chúng ta làm sao? Chúng ta nương tựa vào những người mà có cái hào nhoáng, có cái uy quyền bên ngoài chứ chúng ta không có dựa vào

[34:50]cái tâm linh, cái cái năng lực giác ngộ thật sự của cái vị đó. Ở đây, điều mà ngài A-nan nói á, cái chỗ mà nương tựa là chỗ cho chúng tôi nương tựa một người, giờ chúng ta phân tích lại từng điểm: Thứ nhất là: "Sống chế ngự theo giới luật", cái này thì quý sư tương đối khá vững ha, thì Thượng tọa Trụ trì ở đây thường hay dạy thì mình lướt qua, không nói. Thứ hai: "Là bậc Đa văn", học nhiều để biết nhiều. Có một số pháp môn tu thiền phản đối vấn đề học nhiều, đa văn. Quý sư thấy đúng hay sai? Đúng hay sai? Quý sư có nghe qua chưa? Có những pháp môn tu thiền á mà phản đối học nhiều, nói học nhiều là loạn tâm.

[35:41]Điều đó đúng hay sai? Đúng hay sai? Ở

[35:49]đây là một tiêu chuẩn trong mười khả hỷ pháp là người đó phải học rộng biết nhiều. Tức là biết kinh điển á, biết con đường mình phải đi đó. Ví dụ như chúng ta nói tu thiền thôi, thì người đó phải biết rất vững về con đường mình đi, biết rất vững về phương pháp, mọi cái nguy hiểm sẽ gặp phải trên con đường tu. Ví dụ chúng ta nghe một người tu thiền bị điên phải biết lý do tại sao họ điên, có thể giải thích cho họ, có thể hóa giải cho họ. Ví dụ như mình nói người tu thiền bỗng nhiên họ bị nhức đầu, mất ngủ, mình phải biết lý do tại sao, hoặc là họ ngồi bỗng nhiên người họ nặng trịch, mắt họ hoa lên, mình phải biết lý do tại sao,

[36:25]hoặc họ ngồi cả người họ cứ bị rung rung lắc lắc, phải biết tại sao. Rồi những cái mức định tiến tới đâu hay họ đạt được cái định nào định nào, mình cũng phải biết để mình hướng dẫn họ, để cho chính mình tu và hướng dẫn người khác. Như vậy, mình nói nội cái tu thiền thôi, phải biết rất vững rất nhiều vấn đề mới có thể tu và hướng dẫn người khác tu, chứ chưa nói tới những vấn đề khác á. Mà muốn biết được những điều đó phải làm sao? Phải kiếm thầy học cho kỹ, kiếm những bậc chân sư, xem trong kinh điển, chứ chúng ta không thể tu mù, chứ không thể là dựa vào một cái câu thoại đầu nào đó, ghim vào trong đó,

[37:00]buông hết mọi cái, thành một người ngơ ngơ ngác ngác, quên mất luật nhân quả, như vậy không phải là đạo Phật, vô tình chúng ta tiêu hủy đạo Phật. Bởi vì một cái lâu đài đạo Phật đặt trên rất nhiều cái chân móng, đặt trên rất nhiều cái chân móng. Mỗi chân móng là một yếu tố vững chắc: Giới luật, đức hạnh, trí tuệ, nhân quả, nghiệp báo, đủ thứ hết, từ bi, Tứ như ý túc, Tứ vô lượng tâm, Tứ niệm xứ, rất nhiều cái yếu tố mới cấu thành được cái lâu đài thiền định giải thoát của đạo Phật. Mà chúng ta phải biết cho hết, chứ không thể biết một cách hời hợt, ít ỏi mà cho rằng đủ để tu, không phải như vậy.

[37:35]Nhưng nó có cái lỗi chỗ này, có cái lỗi là người biết nhiều mà tự thị, khoe khoang và không thực hành thì thành cái lỗi. Còn người biết, biết để quay lại sửa mình, tiến tu thì rất là tốt. Mà cần phải biết. Nên ở đây, Đa văn là một trong mười khả hỷ pháp mà ngài A-nan tán thán. Thứ ba: "Là vị ấy biết đủ đối với các vật dụng" như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

[38:07]Chúng ta không khước từ được những cái gì xa hoa, phù phiếm, sang trọng, ai cúng gì nhận hết, cúng gì nhận hết là bắt đầu đánh mất đạo Phật. Cho nên, khi mà được người tín đồ đến cúng dường á, chúng ta nên có cái tỉnh giác chọn lọc. Tỉnh giác chọn lọc là như thế này: Thứ nhất đánh giá là: "Cái này có rất cần thiết đối với đời sống của chùa, của tịnh xá mình hay không? Có rất cần thiết hay không?" Thứ hai là: "Cái này nó có quá sang trọng hay không?" Chúng ta thấy khi nào mà cái này nó không sang trọng lắm, cái này nó cần thiết đối với chùa thì chấp nhận, mình có thể nhận sự cúng dường cho tín đồ có phước.

[38:48]Còn thấy mà nó không cần thiết lắm, mình nên tiết kiệm, từ chối hoặc là thấy nó quá sang trọng thì thôi cũng khước từ để giữ được cái thanh bần, cái đơn giản của đạo. Nó nó giữ được hay hơn. Chứ như tôi hôm nay mà được mấy Phật tử cưng cưng mà cho đi xe hơi giảng, tôi cũng không thích lắm. Đi xe hơi giảng, nói người ta không nghe, nói không linh. Thôi từ đây về sau chúng ta nhớ điều đó, thôi mình học bài kinh này rồi mình để ý, sau này khi mà được sự cúng dường á, mình để ý chọn lọc lại. Người biết khước từ là người biết tu. Nhớ! Biết khước từ là người biết tu. Không phải ai cúng gì nhận nấy là coi đó là cái phước

[39:28]của mình, rồi mình cảm thấy tự hào, vẻ vang, nói: "À, mình tu có phước", không phải, mình làm mất đạo. Chính những người biết khước từ là người biết tu. Thứ tư: "Người ấy tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, chứng được bốn Thiền, thuần trí, an trú hiện tại lạc." Đây là mấu chốt quan trọng nhất. Nói gì nói trời nói đất gì nhưng phải nhiếp được tâm vào định cái đã. Mà cho đủ bốn cái định này, đủ bốn mức Thiền này.

[40:01]Để đợi tới bài kinh Sa-môn Quả, tôi sẽ giải thích kỹ bốn Thiền, cái bài đó nói về cái cái pháp tu chánh niệm chánh định rất là kỹ. Nên thôi đợi tới ngày đó rồi mình học luôn. Hôm nay thì thôi mình lướt qua để qua cái ý khác, sợ không có đủ thì giờ. Lần sau mình học bài kinh Sa-môn Quả nha, quý sư quý cô lấy ra đọc trước nha. Như vậy cái yếu tố thứ bốn là làm sao phải tu nhiếp tâm cho vào định cho được. Đây quý sư nhiếp tâm vào định được chưa? Được chưa? Chưa này là chưa đủ mười khả hỷ pháp. Ráng. Ráng tinh tấn tu thiền. Mình nói trời nói đất gì, đạo Phật tức là thiền. Đạo Phật tức là là tâm thanh tịnh.

[40:47]Trong đời sống hằng ngày, mình chưa giữ được tâm thanh tịnh hay mình chưa thể ngồi những giây phút thiền định để lắng tâm vào sâu trong sự bất động thì mình còn đứng ngoài hàng rào đạo Phật xa lắm. Nên chúng ta cố gắng, cố gắng tu thiền. Thứ năm: Vị ấy hiện được thần thông. Trong đây hồi nãy mình đọc rồi, mình không cần đọc lại, tức là một thân hóa ra nhiều thân nè, đi trên mặt nước nè, độn thổ nè, đi xuyên qua vách đá nè, bay lên hư không nè, lấy tay rờ mặt trời mặt trăng, bay lên cõi trời, đó gọi là Thần túc thông. Thì những cái này là sau khi đắc đạo mới có. Rồi Tha tâm thông,

[41:29]Thiên nhãn thông, Túc mạng thông, Lậu tận thông. Thì chúng ta giải thích một cái thông, Thiên nhãn thông, để phân biệt. Ví dụ như có một người ngồi thiền, tâm họ được vào định, chợt họ động niệm, họ muốn biết cái chuyện cách đây là một ngàn cây số, ví dụ như là họ ngồi ở núi này tu, cái họ muốn biết ở núi kia một người huynh đệ của mình đang làm gì. Trong cái định đó cái chợt nó hiện ra một vầng hào quang sáng như cái màn ảnh á, rồi cái hình ảnh của cái người huynh đệ của họ ở núi kia làm gì hiện ra trước mắt. Hiện ra như hình ảnh cine. Đó là Thần nhãn chứ không phải là Thiên nhãn. Thấy được cái cảnh ở rất xa, nhưng đó là Thần nhãn.

[42:15]Có người tu cũng vậy, ông nọ ổng bỏ vợ bỏ con, ổng đi về núi Châu Đốc ổng tu. Khi ổng nhiếp tâm vào định, ổng chợt động niệm không biết vợ con ở nhà làm gì, thì ngay lúc đó trong tâm ổng hiện ra cái hình ảnh vợ con đang trong nhà đi ra đi vô buôn bán lăng xăng lăng xăng, ổng thấy rõ. Đó là Thần nhãn. Tức là thấy hình ảnh nó hiện ra trước mắt mình như trên cái màn ảnh cine. Còn Thiên nhãn là thế này: Thiên nhãn là thế này: Khi một vị đó nhập định vào tận trong bản thể Niết Bàn, diệt... bản ngã chấm dứt hoàn toàn. Nhớ nghe. Thiên nhãn chỉ có được khi người đó đạt đến một bản thể tuyệt đối, bằng như Phật.

[42:58]Bản ngã biến mất hoàn toàn. Thì trong cái bản thể đó, vị đó muốn thấy một điều gì, ví dụ như vị đó muốn thấy trong cái khu rừng rậm Phi châu đang là cái gì ở trúng? Thì ngay lúc đó, vị ấy lập tức đồng nhất với khu rừng đó. Tự mình như là khu rừng đó, biết rõ thấy rõ trong khu rừng đó có sinh vật gì sinh sống, có rừng rậm, suối, sông, cá sấu, cọp beo, sư tử, núi non như thế nào, biết hết. Đó là cái biết cảm ứng chứ không phải là cái thấy. Nói là Thiên nhãn không phải là nó thấy bằng cái hình ảnh như là Thần nhãn, mà nó là cái biết cảm ứng, biết rất rõ. Biết còn hơn chính cái cái cái người ở nơi đó biết nữa.

[43:43]Ví dụ như người đó muốn biết cái Hỏa tinh, trên Hỏa tinh này có người hay không, vị đó nhập định vào trong bản thể tuyệt đối, hướng tâm về Hỏa tinh thì vị đó tự mình đồng nhất với Hỏa tinh, vị đó trở thành Hỏa tinh. Vị đó biết trên đó có cái gì hết, biết rất rõ. Nó là cái cảm ứng, chứ nó không phải là cái biết mà có ngã có pháp như hồi nãy mình nói. Nó không còn, cái biết này nó có cái là nó không còn có chủ thể nhận thức và đối tượng bị nhận thức nữa, mà ở đây chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức trở thành duy nhất.

[44:18]Chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức trở thành duy nhất. Đây là cái biết của người đắc đạo. Đây là cái biết của Thiên nhãn thông, Tha tâm thông. Lặp lại: Chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức trở thành duy nhất.

[44:39]Chỗ này hơi khó hiểu, cái cảnh giới này hơi khó hiểu. Quý sư, quý cô ráng lắng tâm nghe cho kỹ lại. Bây giờ, như thế này: Hồi thời Đức Phật, hồi thời Đức Phật đó thì cái chữ thiên có nghĩa là cao nhất. Sau này mình mới đặt ra thêm cái gì? Phật nhãn, Pháp nhãn, Huệ nhãn. Đó là thời lý luận Đại thừa sau này, còn thời đó Đức Phật dùng cái chữ Thiên nhãn là cao nhất. Tại người Ấn Độ họ họ chỉ hiểu ông trời là cao nhất thôi, nên Ngài cũng bình dân Ngài cũng dùng ờ Thiên nhãn là cao nhất. Sau này mình mới đặt ra thêm là sau Phật nhập diệt mấy trăm năm sau á, sáu trăm năm sau mới có lý luận Đại thừa mới phát triển thêm,

[45:23]à Thiên nhãn còn dở nè, phải Huệ nhãn nè, Pháp nhãn nè, Phật nhãn nè. Phải! Tại Đức Phật Ngài chỉ dùng chữ Thiên nhãn là cái mà Phật thấy. Tại vì chính Phật Ngài cũng nói là Ngài có Thiên nhãn thông mà, chứ Ngài không nói Ngài là Phật nhãn thông. Cái chữ Phật nó hàm cái ý là người đã giác ngộ thôi, còn cái khả năng mà thấy xuyên suốt á, Ngài gọi là cái cao nhất Ngài gọi là Thiên nhãn thông, chứ không có cao hơn nữa. Thiên nhĩ thông. Đó. Nên thời đó cái chữ thiên là hàm nghĩa cao nhất. Còn chư thiên á, nếu có, nếu có chư thiên mà chưa đắc đạo á thì cũng giống như Thần nhãn thôi. Hồi nãy mình định nghĩa kiểu Thần nhãn,

[46:00]tức là thấy một cảnh gì ở xa, biết cảnh gì ở xa thì nó cũng là một cái hiện ở trước mắt như trên một màn ảnh cine. Luôn luôn như vậy. Còn cái biết mà không còn đối tượng, không còn chủ thể, cái biết vô ngã, cái biết mà người biết và đối tượng bị biết trở thành duy nhất mà biết vô lượng trong pháp giới, trong vũ trụ, bất cứ hành tinh nào muốn biết là đều biết thì đó là Thiên nhãn. Thì mình gọi là cái biết của Phật, cái thấy của A La Hán. Chỉ có một cái đó là cao nhất. Còn nếu mà chưa đắc đạo, chưa đạt được cái bản thể tuyệt đối đó thì không thể đạt được cái thấy biết đó. Bây giờ, giờ mình nói tới Tha tâm thông để hiểu thêm cái Thiên nhãn.

[46:40]Ví dụ như một người tu thiền tâm được định trong chừng mức nào đó nhưng chưa đắc đạo hoàn toàn, khi họ đến trước mặt mình á, mình nghĩ gì họ biết liền. Mình nghĩ gì họ biết liền. Đây quý sư có biết ra chưa? Được chưa? Chưa. Có bị ai biết mình cái đó chưa? Có gặp vị nào mà họ biết được tâm mình chưa? Có những người họ được định, mình ngồi trước mặt họ, mình động tâm họ biết mình nghĩ cái gì liền. Nhưng cái đó phải Tha tâm thông chưa? Có phải Tha tâm thông? Cái đó chưa phải Tha tâm thông. Tha tâm thông là thế này: Ví dụ một vị A La Hán ở đây, ổng muốn biết tâm của một cái ông ông tổng thống nào đó ở bên một cái nước xa xôi cách

[47:23]đây là mấy ngàn cây số, ở đây vị đó nhập định vào trong bản thể tuyệt đối, bản ngã Ngài chấm dứt thì ngay lập tức Ngài trở thành duy nhất với cái ông tổng thống đó. Thì trong tâm ông đó có bao nhiêu vấn đề gì Ngài biết hết. Biết ông đó còn hơn chính ổng biết ổng nữa. Đó là Tha tâm thông đó. Như vậy cái biết trong bản thể á nó không phải là một cái biết như mình thường, mà mình gọi nó là cái cảm ứng đó, cái biết cảm ứng. Cái mà người biết đồng nhất với cái người bị biết luôn, đồng nhất với đối tượng bị biết luôn, mà biết rõ cái người kia còn hơn chính người đó biết họ nữa. Cả những tâm niệm sâu kín, bí mật mà nhiều khi người đó không

[48:05]tự biết được mình thì vị A La Hán biết tuốt luốt hết. Đó là cái cái thông đó, cái lục thông của A La Hán hay của Phật đó. Quý sư, quý cô hiểu không? Cảm nhận được chưa? Hiểu không? Vậy là giỏi lắm rồi đó, gần đắc đạo rồi đó. Bây giờ mình nói về Túc mạng thông nè để hiểu thêm vấn đề này. Thấy được kiếp trước kiếp sau thì không phải là vị ấy tự thấy một kiếp của mình đâu, có thể thấy được của người khác nữa. Bằng cách này: Ví dụ như là một vị A La Hán muốn biết kiếp trước của của sư cô nhà nhà đó thì vị đó nhập định vào trong bản thể, vị ấy hướng tâm về những kiếp trước của sư cô này và vị ấy trở thành duy nhất với sư cô này

[48:55]luôn thì vô lượng những kiếp trước của sư cô này phơi bày hết trong bản thể đó. Vô lượng cái dòng thời gian vô tận như vậy thì phơi bày lòi ra hết lòi ra hết, đã từng sinh ra những kiếp nào, với tên tuổi gì, cha mẹ là ai, dòng tộc là gì, từ từ phơi bày phơi bày hết, làm những cái hành nghiệp gì hành nghiệp gì, làm gì biết hết biết hết. Vì đã trở thành duy nhất với đối tượng bị biết. Đó là cái lục thông của A La Hán. Hiểu chưa? Nên từ đây mà ví dụ có một người tu thiền nói à: "Tôi biết được kiếp trước ông này, tôi soi căn ông kia." thì mình khoan nói ông đó là A La Hán nghe. Tại vì cái biết đó nó là một cái biết ít ỏi,

[49:33]ngắn ngủi, có giới hạn và còn có phân biệt là ngã và pháp, còn có người biết và đối tượng bị biết. Biết ít ít, biết chút chút, biết mò mò thì chưa phải là A La Hán. Còn ở đây có ai là A La Hán thì nói cho biết nha. Đừng có làm thinh. Trong cái bài kinh này nhắc chúng ta một điều là đừng bao giờ mà thần tượng một người nào quá đáng khi người đó chưa đủ mười khả hỷ pháp. Bởi vì chưa đủ mười khả hỷ pháp thì người này chưa thật sự viên mãn sự chứng ngộ, không biết ổng rớt lúc nào. Cho nên mình quý kính, giúp đỡ để cho vị đó tu, nhưng mà theo bài kinh này, người mà mình đặt lòng tin tuyệt đối được phải là người có đủ mười khả hỷ pháp.

[50:20]Còn tất cả thì mình cung kính, tôn trọng, vậy thôi. Nhưng đặt niềm tin tuyệt đối thì không nên, dù bất cứ vị nào trên cuộc đời này. Để đề phòng gì? Đề phòng thần tượng sụp đổ.

[50:34]Chúng ta đọc đoạn kinh tiếp này nha. Lúc đó là Bà-la-môn Vassakara mới hỏi tôn giả Ananda, à đang trú ở đâu thì ngài nói ngài trú ở Trúc Lâm. Thì ổng mới khen ở Trúc Lâm là yên ổn, thích hợp cho việc thiền định. Thì ổng Bà-la-môn ổng nói thế này: "Và chư vị tôn giả là những vị tu thiền, tánh thiên về thiền định. Thưa tôn giả Ananda, một thời tôn giả Gotama ở tại Vesali Đại Lâm, ở Trùng Các giảng đường, tôn giả Gotama đã dùng nhiều phương tiện để nói về thiền định luận. Tôn giả Gotama thật là vị tu thiền, tánh thiên về thiền định, và tôn giả Gotama tán thán tất cả thiền định." Nhưng mà ổng Bà-la-môn ổng nói rằng Phật

[51:21]tán thán tất cả thiền định thì ngài Anan phản đối, ngài nói không. Thế Tôn không tán thán tất cả thiền định. Và cái thiền định nào mà vì Thế Tôn không tán thán? Ở đây: "Một số vị sống với tâm thấm nhuần tham dục, bị tham dục chi phối và không như thật biết sự giải thoát khỏi tham dục đã được khởi lên. Vị ấy lấy tham dục làm đối tượng tối hậu, thiền tu, thiền tư, thiền định, thiền nhập. Vị ấy sống với tâm thấm nhuần sân hận, bị sân hận chi phối và không như thật biết sự giải thoát khỏi sân hận đã được khởi lên. Vị ấy lấy sân hận làm đối tượng tối hậu, thiền tu, thiền tư, thiền định, thiền nhập.

[52:01]Vị ấy sống với tâm thấm nhuần hôn trầm, thụy miên, vân vân, trạo hối, vân vân, nghi hoặc, vân vân. Và vị ấy lấy những cái trạo hối, nghi hoặc như vậy làm đối tượng để tu thiền. Và Thế Tôn không tán thán các loại thiền định như vậy." Chúng ta nghe thiền mà có các loại thiền sân hận, tham dục lạ quá ha, có không? Có, để mình định nghĩa cho nghe để biết nè. Để sau này mình nghe nói ai tu thiền, tu thiền chứ nhưng mình biết loại nào. Tham dục tức là muốn thôi. Là ví dụ như khi mình ngồi thiền, chợt người đó có cái mục đích, không phải chợt đâu, ví dụ cái pháp môn người đó nó có cái mục đích là được xuất hồn, muốn được xuất hồn để về cõi trời.

[52:44]Ừ, thì đó là một loại gì? Loại tham. Hoặc có người ngồi thiền muốn phát hào quang, ha, sao ngồi cho gương mặt sáng bóng, ngồi ban ban đêm hào quang tỏa ra cho mọi người thấy, đỉnh đầu sao ngồi một thời gian cho nhục kế nó nổi lên giống Phật, đó là gì? Tham. Như vậy người đó lấy tham làm đối tượng để tu thiền thì thiền này Phật không xài. Rồi, có vị lấy sân làm đối tượng để tu thiền là loại thiền nào? Là loại thiền của mấy ông thầy bùa đó. Ví dụ như mấy ổng luyện một cái hình nhân để tên ai trong đó rồi cái ngồi đó nguyền rủa. Nguyện cho tên đó gì đó Nguyễn Thị B gì đó ai này đó phải chết này nọ, phải đau phải đớn, phải đau bụng này kia nọ,

[53:20]nguyện cho nó gì đó, cứ ngồi lâm râm lâm râm ngồi nói hoài nguyền rủa người bên kia họ đau thiệt nha, có chứ không phải không. Đó cũng là một lối nhiếp tâm đó, cũng là một loại thiền đó, nhưng mà lấy sân hận làm gì? Làm đối tượng để tu, lấy sự ác độc làm đối tượng. Như là giận ai đó nhất là mấy cái mấy cô mà ở ngoài mà giận giận ai cái lại ém thầy bùa đó, cái ổng vẽ hình người đó lên, vẽ tên cái ổng ngậm nước miếng ổng "chết mày chết mày, đau mày đau", thiệt, bên kia là mình cứ ôm đầu ôm bụng mà lăn vậy đó. Có thiệt chứ không phải không. Cái sức mạnh của tâm nó vượt không gian nó tác động vào người ta.

[53:52]Mà đó là thiền lấy sân hận làm đối tượng. Lấy thụy miên làm đối tượng là gì? Lấy hôn trầm thụy miên làm đối tượng để tu là gì? Tức là vì đó nhiếp tâm mà cái biết nó tắt mất đi. Thường á, khi mình ngồi thiền cái biết nó phải sáng tỉnh. Tâm mình không suy nghĩ nhưng phải còn cái biết, cái biết rất sáng. Người nào mà buông cái biết là điên liền, có thể điên liền. Chưa điên thì cũng sắp điên, mà không điên, chưa điên thì cũng rơi vào tình trạng là lấy thụy miên làm đối tượng. Có người đó ổng ngồi suốt một đêm đó, hỏi ổng có biết không? Nói không. Mà ngồi bất động, kiết già đàng hoàng. Hỏi biết? Không biết gì hết.

[54:28]Tâm thì không suy nghĩ nhưng không biết gì hết, thì người này gọi là lấy hôn trầm thụy miên làm đối tượng để tu thiền, lạc vào đường tà. Đó. Bây giờ cái người mà lấy trạo hối làm đối tượng. Trạo hối là cái động lăng xăng, có thể là nhúc tay nhúc chân hay là cứ suy nghĩ lăng nhăng lăng nhăng hoài. Thì người đó ngồi thiền sao? Ngồi thiền bắt đầu đặt một vấn đề để tư duy. Ví dụ như ngày hôm nay mình ngồi mình tư duy về vô thường, cái ngồi vô thường, cứ ngồi suy nghĩ suy nghĩ, hoặc là người đó, vô thường thì vậy chứ mà nó dễ giải thoát, lần lần mình nhàm chán tâm mình vào định. Nhưng có người ngồi tư duy về vấn đề về dịch số,

[55:09]ngồi suy nghĩ à quẻ này thiên địa bĩ hay là ngồi lấy cái quẻ này quẻ kia cứ ngồi đó mà suy nghĩ về những quẻ lý số đó cũng là lấy trạo hối làm đối tượng để tu. Nên là ngoại đạo mới thôi. Hoặc là người đó lấy nghi hoặc làm đối tượng để tu. Cái này ai đây? Ai lấy nghi hoặc làm đối tượng để tu? Mình đặt một câu hỏi đó, cứ ngồi mà hỏi hoài hỏi hoài cho tới ngày đắc đạo. Này người lấy nghi hoặc làm đối tượng để tu. Cái này Phật cũng không Phật cũng không có tán thán. Chên người tán thán, đừng có lấy sân hận làm đối tượng để tu nữa, phải không? Cái Phật tán thán loại định thế này: mình biết rất rõ nhưng tâm mút vào thanh tịnh từ từ

[55:51]bình thản, sống một cuộc đời nhẹ nhàng hiền lành với mọi người, nhưng cái biết thì rất là rõ ràng. Đó, ngài định nghĩa Tứ thiền. Loại thiền định nào Thế Tôn tán thán? "Ở đây này Bà-la-môn, vị tỳ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ. Diệt tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm, chứng và trú thiền thứ ba, thiền thứ tư. Này Bà-la-môn, loại thiền như vậy vị Thế Tôn ấy tán thán." Ở đây là đoạn cuối kinh thì Bà-la-môn ổng khen ngợi, ổng từ giã ổng ra đi.

[56:30]Bài kinh này tới đây thì hết. Về phần Tứ thiền thì lần tới chúng ta sẽ học trong bài kinh Sa-môn Quả. Ha, bây giờ thì mình nói sơ thôi. Nhắc lại cái tham dục một chút nè. Ví dụ như là chúng ta tu để thành cái gì? Mấy sư, quý cô trả lời, chúng ta tu để thành cái gì? Sư, thưa sư, sư tu để thành? Dạ, mời. Dạ, cảm ơn à cảm ơn sư. Sư, mời sư, sư tu để thành? Dạ, cảm ơn sư. Mời sư, sư, sư trả lời cho mọi người nghe, sư tu để thành gì? Hay. Hay. Chính cái người mà có ý đó là khôn nhất đó. Sư cô, sư tu để thành gì? Thưa sư cô.

[57:27]Hay, mấy sư mấy cô đây hiểu hết, không ai bị mắc bẫy hết trơn. Chứ chúng ta dễ, chúng ta dễ có một mục đích đầy tham vọng trong sự tu hành, ví dụ như là nói tu để thành Phật. Hồi xưa Đức Phật á, ổng không có muốn muốn thành Phật nên ổng thành Phật, còn mình muốn thành Phật cái mình thành gì? Thành gì? Ma, đúng rồi. Với lại có cái này nữa lạ lắm. Như mình thấy một vị đó một vị thiền sư đó tu, ngộ đạo, nhập định, nổi tiếng, được nhiều người cung kính cúng dường thì mình cũng muốn tu mà không phải mình đi tìm mục đích giải thoát, mà mình cái ẩn ý thật sự đi tìm cái danh vọng, đi tìm cái sự kính trọng của mọi người.

[58:05]Cái tham vọng nó nằm sâu kín trong tâm hồn mà nhiều khi chính mình không biết. Cái thể hiện ra bên ngoài là gì? Là một sự tinh tấn tu hành, nghe nó chuẩn mực, nó đạo mạo, đàng hoàng, cao thượng lắm, nhưng mà thầm kín bên trong là một cái khát khao danh vọng, cái danh vọng của một người đắc đạo. Mà cái đó là cái nguy hiểm, nó sẽ tiêu diệt mình đó. Nó sẽ hiện ra những cái ảo ảnh trong cái cơn thiền định để làm mình điên. Rồi có một lần tôi quen một vị sư đó, nghe vị sư đó tâm sự lại cái quá trình tu của mình, tôi rất là thương xót mà lúc đó là hết gỡ rồi, tại vì vị đó đã phát điên rồi. Vị đó về cái núi cấm tu, nhập được định,

[58:44]tu rất là tốt, có thể ngồi từ sáng tới chiều bất động, thấy biết được một số vấn đề. Nhưng trong tâm luôn luôn khát khao đắc đạo để được nổi bật như các vị thánh ngày xưa. Do cái tâm khát khao đó nó thầm kín quá, cái nó hiện thành những ảo ảnh. Vị đó thấy Phật hiện ra xoa đầu khen: "À, con đắc được Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội." Thấy chư thiên nữ hiện ra mang hoa tới cúng dường, đủ thứ rồi phát điên luôn. Những cái tham vọng thầm kín mà mình không biết được. Đức Phật ngày xưa vậy, khi mà ngài từ giã tất cả, ngài khước từ cả thế gian để đi tu, ngài không có ý nghĩ là ngài tìm một cái địa vị tối cao, mà ngài chỉ đi tìm sự giải thoát thôi, sự giải thoát thanh tịnh.

[59:23]Và đúng là mà khi ngài được rồi đó thì người ta mới gọi ngài là gì đó? Là Phật, là Thế Tôn, là người ta gọi gì đó gọi. Còn chính ngài ngài không có mục đích danh vọng. Chúng ta cũng vậy, như nãy quý sư quý cô trình bày những mục đích của mình rất là chân chính. Thứ nhất là thấy được cái dở của mình, thấy cái quấy của mình, đó là người khôn nhất trong sự tu hành. Người khôn nhất là người đi tìm cái lỗi của mình suốt đời. Đó là người chín chắn nhất. Bởi vì khi thấy được lỗi mình thì nó là con đường để đi tới giải thoát. Như vậy sư nói là giải thoát thì con đường nó đi cũng là con đường mà thấy lỗi trước hết.

[59:55]Mà như lần trước mình nói người thấy lỗi được mình là người gì? Người sao? Người có trí tuệ, phải không? Hôm trước mình đã nói đó, người mà xoay được vô trong lòng mình á, thấy được những cái tâm niệm xấu xa thầm kín nhất của mình á, đó là người có trí. Còn người không có trí không thấy được điều đó, chính mình còn những cái dở mà mình không biết được, nên cái hạnh mình không có. Nên cái con đường đi hay nhất là như sư nói là đi tìm cái dở của mình suốt cuộc đời, người này sẽ giải thoát. Vì khi mình có mục đích tham vọng khởi lên cái mình cũng thấy luôn cái mình chấm dứt, mình dập tắt được liền.

[1:00:33]À quý sư có bao giờ gặp những vị mà họ tu đắc lực, ví dụ tu Mật tông, hay là họ luyện khí công, họ luyện bùa, họ có năng lực có khả năng nha, giống như là có một phần thần thông vậy đó, nhưng mà họ rất nóng nảy. Quý sư có gặp chưa? Quý sư, quý cô gặp chưa? Có chứ? Nhất là mấy ông tu Mật tông rõ lắm. Biết tại sao không? Đây cũng là loại mà lấy sân hận làm đối tượng để tu đó. Nó từ cái ngã nó phát sinh ra hết. Từ một bản ngã thôi. Nó có rồi nó phát sinh cái gì? Tham vọng nè, sân hận nè, nghi ngờ nè, đủ thứ hết trơn á, tự cao nè, từ cái bản ngã thôi. Thì ví dụ như một người mà họ luyện luyện công,

[1:01:19]họ ngồi họ gồng cái thân của họ, họ tập trung cái gì trên thân của họ, có cái mục đích gì thuộc về thế gian á, thì cái ngã nó từ từ từ từ được củng cố. Mà cái ngã được củng cố rồi thì cái gì nó tăng lên? Tham vọng tăng lên, cái tự cao tăng lên, cái nóng nảy nó cũng tăng lên, cái sân hận tăng lên. Nên khi mà chúng ta luyện công á, cái người mà luyện công á đúng là con dao hai lưỡi. Họ có được định, họ được một số năng lực, nhưng cái ngã sẽ tăng lên và nó đi xa với sự giải thoát. Đó, nên tại sao Đức Phật không có tán thán những phương pháp luyện công đó là vậy. Ngài chỉ thuần giúp cho mình một cái trí quán

[1:01:56]để mình thấy cái thân tâm này hư dối thôi, để mình cởi bỏ cái bản ngã, tìm được sự giải thoát. Đó, cái cái khác nhau trong các loại thiền giữa đạo Phật với ngoại đạo là như vậy á, chúng ta để ý. Nên trên cái các số điểm căn bản này á, quý sư sau này mình có nghe ai mà nói thiền, cũng nói thiền, nói đạo dữ lắm, nhưng mình biết này đúng chánh pháp hay không đúng, không đúng nó thuộc cái loại nào loại nào, lấy cái gì làm đối tượng để tu. Giờ chúng ta ghi cái câu hỏi để làm bài nha. Thế nào là chỗ nương tựa chân chính của người đệ tử Phật?

[1:02:33]Thế nào là chỗ nương tựa chân chính của người đệ tử Phật?

[1:02:46]Thế nào là chỗ nương tựa chân chính của người đệ tử Phật?

[1:02:53]Có ai hỏi gì không?

[1:03:28]Có ai hỏi gì không trước khi chúng ta nghỉ?

[1:03:42]Kính bạch sư, ngoại đạo có đắc các bậc thiền định như trong Phật pháp hay không? Bây giờ trước hết mình phải định nghĩa ngoại đạo cái đã. Tại nhiều khi hình thức bên ngoài họ ngoại đạo, bên trong họ đạo Phật. Hình thức mình đạo Phật mà bên trong mình ngoại đạo tuốt luốt à. Nó không có cố định. Cái quan trọng là nếu một người đó mình không biết mang nhãn hiệu của tôn giáo nào, mà họ tin được nhân quả, họ giữ gìn được giới hạnh, họ hiểu được cái giáo lý Tứ diệu đế, họ nhiếp tâm vào thiền, thì cái thiền đó giống đạo Phật, mặc dù họ không mang nhãn hiệu đạo Phật. Còn nếu không như vậy, họ vẫn nhiếp tâm được vào định,

[1:04:27]nhiếp tâm được vào lại, nhưng sâu kín bên trong nó có những mục đích khác, những khái niệm khác, thì không bao giờ đạt được sự giải thoát giống như đạo Phật. Mặc dù họ có năng lực rất lớn, có sức định rất sâu, đôi khi sâu hơn cả những người tu của đạo Phật, nhưng vẫn không phải là đạo Phật. Ví dụ như là một vị tu yogi đó, yoga đó, họ có thể ngồi giữa núi tuyết cả mùa đông, họ có thể bay trên hư không, đi trên mặt nước, giống như cái thần thông của một vị A-la-hán mà Phật nói. Nhưng mà nếu vị đó không có con đường để dập tắt được cái chấp ngã của mình, không có cái mục đích đạt được sự giải thoát khỏi

[1:05:14]luân hồi, thì vị đó chỉ được cái định đó rồi thôi. Nếu mà vị đó có cái tâm tự kiêu nữa thì kiếp sau sẽ mất cái quả vị đó, mất cái sức định đó, trở thành một người có cái năng lực phi thường giữa cuộc đời thôi, chứ không bằng kiếp trước của mình. Rồi có cái năng lực ví dụ như là đưa bàn tay chữa bệnh, thôi miên, đi xuyên qua vách, làm một số việc như bây giờ mà trên báo chí hay đăng đó. Như có những người bẩm sinh như bà Dzhuna đó, đưa bàn tay chữa được bệnh. Có những nhà khí công Trung Quốc mà đi xuyên qua bức tường này nọ đó. Đó, là những người đời trước có tu, được định rất sâu trong rừng, trong núi đó, nhưng mà nếu mà có cái tâm tự

[1:05:49]kiêu, tự hào thì đời sau cái sức định nó giảm bớt, giảm bớt dần dần, chứ không đi tới giải thoát được. Chỉ đi đến giải thoát khi người nào có đầy đủ giáo pháp của Đức Phật, hiểu về Tứ diệu đế căn bản trước. Nên tại sao mà ngài Đức Phật nói phải đa văn là vậy đó. Mình phải hiểu được. Cho nên cũng nhiếp tâm vào định, mà nếu không nắm vững con đường của đạo Phật thì cái định nó sẽ đưa mình đi qua một cái nẻo khác. Ví dụ như những người tu thiền xuất hồn, nếu không định đâu có xuất hồn được, phải có định, nhưng rồi để xuất hồn mà thôi.

[1:06:38]À thưa sư, cái như thế này: Cái sơ thiền á nó nó rất dễ đạt được trên cái căn bản tu tập á giữa đạo Phật và những cái phương pháp tập luyện khác là vị đó có thể được cái tâm yên ổn, nói như thế này nữa nè: Nếu mà cái phương pháp tu của cái bên ngoại đạo phái đó đó, nó không có mục đích quá nặng, ví dụ như nãy nói thầy bùa ha, cái mục đích nó quá nặng đi, hoặc là nói ông đó ổng luyện một cái gì cầu cho nó phát hào quang đó, một cái đối tượng quá nặng đó, thì nó quá xa đạo Phật. Nhưng có một cái phương pháp nào đó mà họ không có những đối tượng nó quá nặng, cái lối tu nó rất nhẹ nhàng nhẹ nhàng,

[1:07:19]khá giống đạo Phật, rồi trong đời sống của họ là một người có đức hạnh, tại vì dứt năm triền cái phải là người có đức hạnh, phải không? Thì như vậy nó nó có nó có khác đạo Phật lắm không? Mặc dù họ là ngoại đạo á, nhưng mà đời sống của họ là đời sống có đức hạnh, không sân hận, không tham dục, không trạo cử, không nghi hối, vân vân, thì mình họ không cần mang nhãn hiệu đạo Phật, nhưng họ phải là người đáng kính không? Có giống mình không? Thì họ có quyền dứt năm triền cái để nhập sơ thiền, phải không? Họ không cần mang nhãn hiệu đạo Phật, nhưng họ có cái đức hạnh giống như Đức Phật nói, dứt được năm triền cái như lời Phật dạy,

[1:07:52]thì đáng để được sơ thiền, có gì đâu sai, phải không? Dứt năm triền cái phải là người có đức hạnh rồi, nên họ được quyền nhập sơ thiền, mặc dù họ không mang nhãn hiệu đạo Phật. Trừ trường hợp năm triền cái là cái người mà có cái đối tượng để tu đó, ví dụ như ông thầy bùa ếm bùa người ta, ổng luyện khí công để phát lực, luyện cái gì gì đó thì nó nó không tắt được năm triền cái, mặc dù được năng lực hay được cái sức định nào đó, không phải sơ thiền. Ai hỏi gì nữa không? Pháp chấp, ừ. Họ có cái hiểu lầm thế này: Một bậc A-la-hán á, khi không còn thấy có ta nữa nhưng vẫn còn thấy có các pháp thế gian, còn thấy có vạn hữu. Nhưng mà điều đó sai.

[1:08:33]Sai là vì thế này: Khi một vị A-la-hán nhập định vào trong bản thể tuyệt đối, bản ngã chấm dứt á, thì ngay đó các ngài không còn thấy có cái sai biệt giữa ta và vạn pháp nữa, mà tất cả chỉ là một sự thanh tịnh tuyệt đối. Sự thanh tịnh tuyệt đối nó không có nghĩa là vạn pháp chấm dứt hết, bởi vì nếu nói là tắt hết vạn pháp thì đó là không tưởng, đạo Phật rơi vào hư vô. Để chúng ta nói thêm cái điểm này về về bản thể tuyệt đối như thế này: Ví dụ như chúng ta nói à Trái Đất và Mặt Trời ha, cách nhau là mấy tỷ cây số, mấy tỷ cây số, thì trong cái không gian này đó, hai cái vị trí đó nó cách xa nhau phải không?

[1:09:12]Nhưng trong bản thể Niết-bàn hai cái đó nằm một chỗ. Tại vì trong đó nó không có khái niệm không gian. Nó nằm một chỗ nhưng mà nó có lộn với nhau không? Không lẫn lộn với nhau. Ví dụ như là tôi và sư là hai người khác nhau, nhưng khi một người nào đó nhập vào trong, ví dụ như sư đắc đạo, sư nhập vào trong bản thể, thì sư và tôi là còn có hai nữa không? Thành một à. Nhưng mà có lẫn lộn không? Lại không lẫn lộn. Lạ vậy á, nhớ, nó khác nhau chỗ này. Tất cả vạn hữu trở thành duy nhất mà vẫn không lẫn lộn với nhau, đó là Niết-bàn. Ví dụ điểm nữa, ví dụ như Đức Phật sống cách đây 2500 năm, mình bây giờ sống ở điểm này, hai thời điểm nó có cách nhau không?

[1:09:55]Nếu mình nhìn theo cái dòng thời gian thì nó sai biệt phải không? Nhưng trong bản thể Niết-bàn sao? Hai đó nằm một chỗ. Thời điểm này và thời điểm Đức Phật nằm một chỗ trong Niết-bàn, nhưng mà có lộn với nhau không? Không lẫn lộn với nhau. Thời Đức Phật vẫn là thời Đức Phật, thời này vẫn là thời này, nhưng vẫn nằm với nhau chung một chỗ trong bản thể Niết-bàn tuyệt đối. Hiểu không? Hiểu, hiểu cho vui thôi chứ không thấy nổi đâu, chừng nào chứng mới thấy. Cho nên ở đây đó, cái vô ngã vô pháp là vậy, không còn thấy có ta nên chan hòa được với tất cả vạn hữu, nhưng mà vạn hữu vẫn không lẫn lộn, cái nào cũng ra cái đó.

[1:10:32]Nên đạo Phật mới gọi là trí, chứ nếu lẫn lộn thì tu thành mờ mịt rồi, phải không? Tu thành hư vô rồi. Nên cái hay của bản thể Niết-bàn của đạo Phật, cái chỗ giải thoát là như vậy. Nó không còn ngã, còn pháp nữa, tất cả chung đồng lại thành một, nhưng mà không phải là hư vô mờ mịt, lộn xộn, mà cái nào vẫn ra cái đó, không có lẫn lộn với nhau. Đó là bản thể Niết-bàn. Ai hỏi gì nữa không? Vẫn có thể không?

[1:11:00]Vẫn có thể thôi, nếu ông là người có đạo đức rất sâu, ha, ông nhiếp vào định đến cái ngày nào cái định nó phá được cái ngã ông thì ông đắc đạo, ông giải thoát. Cái làm sao? Thực hành không thực hành điều gì? Khác về ngoại cảnh. Bây giờ ừ trên đà thứ nhất á, thầy sẽ giải thích trên lý thuyết. Thứ hai, thầy sẽ nhận xét ông đó. Trên lý thuyết á, ông ta vẫn có thể đắc đạo như thường. Nếu ông ta giữ được giới, phải không? Ăn chay trường, giữ được đạo đức, nhiếp vào định được và cái định nó sâu mãi sâu mãi cho tới cái ngày nó phá tan được bản ngã thì ông giải thoát. Đó là trên lý thuyết. Nhưng trên thực tế, ông này đang có cái cao ngạo ngầm ở trong,

[1:11:45]thầy biết liền, có cao ngạo ngầm ở trong, cho nên sẽ không được gì. Bởi vì cái người mà thật sự đó, tu có cái khiêm tốn, mà khi có cái khiêm tốn mình không cần phải làm gì khác với ai hết á, không có cần phải làm khác người ta. Ví dụ người ta đến chùa lễ Phật mình vẫn đến lễ được, người ta đọc kinh mình vẫn đọc được, có cần phải làm khác người ta. Mà để chứng tỏ rằng à tôi khác tôi khác, chính cái tôi khác tôi khác nó là một cái hoa cọng âm ỉ rất là lớn ở trong á, nên không đi đâu xa được đâu. Làm coi dữ vậy chứ đi không xa, tại chính cái tự cao ngấm ngầm này nó phá. Còn một người thật sự khiêm tốn rồi họ sống nhẹ

[1:12:18]nhàng, không có làm gì khác biệt lắm đâu. Tùy duyên cạo tóc thì cạo, không có duyên thì để tóc để, nhưng mà bên trong họ rất là đàng hoàng khiêm tốn, không làm cho khác. Còn lúc nào cũng chứng tỏ muốn mình coi như được là khác thì biết rằng cái ngã đang quậy trong nhiều lắm.

[1:12:35]Lúc đó ngã pháp còn không còn, lấy đâu đạo Phật với ngoại đạo. Cuối cùng tất cả chỉ là danh từ rỗng thôi, chân lý không có tên. Thôi, giờ mình nghỉ ha.