Transcript: Kinh Nikaya 02 - Kinh Pháp Môn Căn Bản

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:33:36

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Hôm nay học cái bài kinh Pháp Môn Căn Bản. Mà tôi dặn thầy thầy trong Ban Giám hiệu nói là tôi dặn trước rồi đánh máy ra phổ biến cho mỗi người một bản. Nhưng tới chừng tôi về thì hỏi thì không ai có hết, cho nên là thành ra rất là khó học. Nikaya khó lắm. Mà cái bản kinh nó cô đọng nếu mà không đọc trước thì rất là khó nghe, nghe không nổi.

[0:36]Hồi cái thời mà tôi học đó là ông thầy tôi ổng báo trước cái tựa kinh thế là chúng tôi phải tự ngồi thức đêm thức hôm mà chép từng bài. Hồi đó phương tiện đánh máy không có, không có đánh máy, không có photo, không có gì hết trơn, không có vi tính. Lúc nào cũng phải ngồi mà chép từng bài từng bài. Thức đêm thức hôm. Cái tôi thấy huynh đệ cực quá, tôi xin phép cái tôi chạy đi tôi nhờ cư sĩ họ đánh máy được một mớ chia nhau học cho đỡ ngồi viết thức đêm thức hôm cực. Hồi đó học cực lắm. Mấy cái bài Nikaya, nhất là mấy bài Trường Bộ kinh dài thăm thẳm chiều trôi. Quý thầy chưa có nghe rồi... Hôm nay chúng ta học cái bài số một

[1:24]trong Trung Bộ kinh một luôn, là bài Pháp Môn Căn Bản, kinh Pháp Môn Căn Bản:

[1:32]Mūlapariyāya Sutta. Cái chữ Mūla này nghĩa là gốc hay là căn bản. Còn cái pariyāya này là phương pháp mà dịch là pháp môn. Còn sutta là kinh, tức là kinh Pháp Môn Căn Bản, bản dịch cũng rất là sát như vậy. Thì trong kinh Nikaya cái bài đầu tiên này, bài cực kỳ cô đọng, khô khan nên chúng ta học kinh Nikaya này chúng ta phải học với một thái độ hết sức là chăm chú, nhớ. Lơ lơ là không nghe nổi đâu. Quý cư sĩ mà ngồi nghe kinh này là một bữa là ngán, bữa sau là trốn hết, không nghe nổi nữa. Tôi nói thật. Vì kinh này chỉ dùng cho những người mà chuyên sâu nghiên cứu về Phật pháp. Chỉ quý thầy, quý cô quyết tâm theo đuổi Phật học thì mới dám vào Nikaya này,

[2:25]hoặc là cư sĩ mà phải là người quyết tâm lắm chứ không, vô không nổi. Ngay cả tăng ni sinh mà học viện cao cấp mà nghe tới giờ học Nikaya cũng ngán luôn chứ đừng có nói là người khác, mà là tăng ni sinh cao cấp rồi đó. Đó là môn chính đó mà cũng sợ luôn đó. Nên những bài kinh mà khô khan như vậy nếu mình không quyết tâm là đọc không được. Nên thường là phải chuẩn bị bài vở trước. Bài này á không phải là bài Đức Phật giảng đầu tiên, không biết là ngài giảng vào lúc nào. Nhưng mà khi kết tập thì các vị trưởng lão, tôn túc, các vị A-la-hán đã thấy cái tầm mức quan trọng của nó như thế nào đó mà kết tập nó vào bài số một của Trung Bộ kinh số một.

[3:13]Mà trong toàn bộ kinh tạng Nikaya thì Trung Bộ kinh là bộ kinh quan trọng nhất, chủ yếu nhất. Mọi tư tưởng quan trọng của đạo Phật đều nằm ở ba cuốn Trung Bộ kinh. Mà riêng bài kinh này là được xếp vào bài thứ nhất. Thì chúng ta phải đánh giá rằng: bài này nó có một cái gì nó đặc biệt gì đó nên các vị trưởng lão A-la-hán đã xếp nó vào bài đầu tiên mà đặt cho cái tên là Pháp Môn Căn Bản. Cái tên thì Phật đặt ra, nhưng mà sắp xếp bài kinh nào trước, bài kinh nào sau thì do các vị trưởng lão về sau chứ không phải là bài kinh Phật nói ban đầu. Thì ở đây chúng ta nghe một cái đoạn, chứ đúng ra thì tôi không có đọc lại bản kinh

[4:01]này, tại đọc nghe khô lắm, đọc lát là từ từ chúng ta như là đi về miền Cực Lạc hết nếu mà nghe. "Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại tụ lạc Ukkattha, trong rừng Subhaga, dưới gốc cây Sa-la vương, tại chỗ ngồi ấy. Tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: "Này các Tỳ-kheo". - "Bạch Thế Tôn". Những Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi pháp môn căn bản tất cả pháp. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói". - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Những Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:" Mấy thầy nghe nha. "Này các Tỳ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu ít nghe,

[4:49]không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không được thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; tưởng tri địa đại là địa đại."

[5:07]Chúng ta bắt gặp một cái từ, từ này sẽ gặp mãi trong các kinh: "tưởng tri", sañjānāti. Sañ- này là nó lấy phân nửa của chữ sañña là tưởng, uẩn tưởng á. Jānāti này là hiểu biết. Jānāti này nó giống như chữ know của tiếng Anh á. Tức là người phàm phu này "tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, nó nghĩ đến địa đại, nghĩ đến tự ngã đối chiếu với địa đại, nghĩ đến tự ngã như là địa đại, nó nghĩ: "Địa đại là của ta", dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại." Ai hiểu đoạn này?

[5:56]Những cái đoạn như thế này nhiều khi khó không thua gì bài chú Đại Bi Đà-ra-ni, đọc xong nghe không biết gì hết trơn. Kinh Nikaya vậy đó, nên cái người không quyết tâm không học nổi kinh này. Rồi sau đó bắt đầu Phật nói về thủy đại, cái đoạn văn y như vậy. Rồi phong đại rồi hỏa đại, đoạn văn y lại nghĩa là thế này: "Nó tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, nó nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến tự ngã đối chiếu với thủy đại..." Lặp lại y như vậy hết. "Vì sao như vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại." Rồi bắt đầu tới hỏa đại, phong đại cũng lặp y như vậy hết. Nhưng chưa hết, bắt đầu nói là

[6:36]"tưởng tri sinh vật" rồi đoạn văn lặp như vậy, rồi "tưởng tri chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Quang Âm thiên, Biến Tịnh thiên, Quảng Quả thiên, Chúa tể, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, sở kiến, sở văn, sở tư niệm, sở tri, đồng nhất, sai biệt, tất cả, Niết-bàn". Mỗi một phạm trù đó đều được lặp lại với một đoạn văn y như vậy. Không biết ngày xưa sao mà Đức Phật kiên nhẫn đọc lại mỗi một cái phạm trù đó, Đức Phật đều lặp lại cái đoạn đó hết. Là vì nó tưởng tri tất cả là tất cả, vì tưởng tri tất cả là tất cả nên nó nghĩ đến tất cả, nghĩ đến đối chiếu tự ngã như là tất cả, nghĩ:

[7:18]"Này tất cả là của ta". Vì sao vậy? Rồi nó dục hỷ tất cả. Vì sao vậy? Ta nói người này chưa liễu tri tất cả. Mỗi một phạm trù đều được một đoạn văn đó lặp lại hết như vậy. Mà thời xưa Phật nói vậy rồi các vị hiểu rồi, đời này mình nghe mình chưa hiểu. Đoạn văn như vậy. Rồi sau đó đến cái đoạn thứ hai. Đến qua hết cái đoạn mà như mấy chục cái khái niệm như vậy, bắt đầu Phật mới nói đến: "Này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an ổn khỏi khổ ách, vị ấy thắng tri địa đại là địa đại." Chúng ta gặp thêm chữ "thắng tri". Đây là những từ mà chúng ta sẽ gặp mãi:

[8:04]abhijānāti. Abhi- này là siêu việt, vượt lên hơn. Jānāti cũng là biết. Cái biết vượt lên hơn gọi là thắng tri. Còn cái kia là cái biết mà có cái tưởng tượng ở trong trỏng gọi là sañjānāti. Rồi, "Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ tự ngã đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ tự ngã như là địa đại, đã không nghĩ: "Địa đại là của ta", không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại." Chúng ta có một cái từ nữa: dục hỷ. Ở đây là "có thể liễu tri địa đại". Tức là cái người này không phải là người chứng đạo,

[8:55]nhưng mà nhờ thắng tri nên có thể liễu tri: parijānāti. Biết biết rõ, biết xong, biết rõ đó, chữ pari- nghĩa là biết rõ, là rõ ràng. Đó là ba cái từ. Còn từ chúng ta sẽ gặp nữa là từ "tuệ tri" nữa, nhưng mà bài này thì không có, không gặp như vậy. Rồi Đức Phật lặp lại hết mấy chục cái phạm trù đó với cái vị gọi là Tỳ-kheo hữu học mà có thể liễu tri được những khái niệm hết, từ địa đại, phong đại, vật chất tới chư Thiên, tới thiền định, tới triết học rồi tới Niết-bàn luôn, lặp lại. Sau đó Đức Phật bắt đầu lại lặp lại với một vị A-la-hán: "Lại nữa, này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn,

[9:40]các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, vị ấy thắng tri địa đại là địa đại." Bắt đầu cũng lặp lại nữa: "Vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ tự ngã đối chiếu với từ đại, với địa đại, không nghĩ tự ngã như là địa đại, không nghĩ: "Địa đại là của ta", không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri địa đại." Rồi Đức Phật bắt đầu lặp lại hết mấy chục cái phạm trù đó với vị A-la-hán này. Rồi cuối cùng Đức Phật lại lặp lại cái điều này với Phật, với chính Phật: "Này các Tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại.

[10:25]Vì thắng tri địa đại là địa đại, Ngài không nghĩ đến địa đại..." Cũng lặp lại nữa. Cho nên cái bài kinh như vậy cái đoạn văn mà trùng lấp như vậy nó cũng được gần mấy trăm, vài tới hai trăm lần lặp đi lặp lại. Nghĩa là nguyên cái bản kinh gốc của kinh tạng mà viết bằng chữ Pāḷi đó thì cái đoạn mà lặp đi lặp lại: "Vì không nghĩ đối chiếu với tự ngã, không nghĩ tự ngã, dục hỷ" đó, đoạn lặp đi lặp lại mấy trăm lần. Mà chính Phật lặp đi lặp lại trong một lần Phật giảng nên những người ngồi nghe nhớ hết luôn. Đó là cách mà Phật buộc người khác nghe bài kinh có thể ghi nhớ được là cái thủ thuật để thay thế mà sách, chữ viết hay là băng cassette để ghi.

[11:09]Đó là cái thủ thuật của Phật. Tuy nhiên trong cái thời đại chúng ta bây giờ mà nếu đọc một đoạn văn như vậy mình đọc không nổi. Thứ nhất là vừa tối nghĩa, không hiểu mà vừa đoạn văn lặp đi lặp lại mãi thì nghe không chịu nổi, không chịu nổi. Đầu tiên thì Đức Phật nói là kẻ phàm phu đã tưởng tri, Phật nói là cái đã tưởng tri tất cả những vấn đề đó từ vật chất lên tới các cõi trời, cho tới các cõi thiền định, cho tới các khái niệm triết học và cho tới Niết bàn luôn là người phàm phu biết về những điều đó, biết với tưởng tượng. Cái biết này đã đưa đến sai lầm, đọa lạc, đắm nhiễm. Cái thứ hai là vị hữu học.

[11:58]Hữu học thì người này chưa chứng đạo, nhưng mà đã có cần cầu vô thượng Bồ đề nên người này thắng tri, biết, biết cách gì đó, biết đúng. Biết đúng về những vấn đề đó, về vật chất là gì, về chúng sinh là gì, về cõi trời là gì, về các cõi thiền định là gì, cho tới Niết bàn là gì, thì người này biết được, cho nên người này có thể chứng đạo được, có thể liễu tri. Kế nữa là các vị A La Hán cũng thắng tri, biết đúng như thế nào. Rồi cuối cùng là Phật cũng là thắng tri. Mới là bài kinh thì chúng ta không nghe giải thích tưởng tri là gì, thắng tri là gì. Ngài chỉ nói cô đọng như vậy mà lặp đi lặp lại cái đoạn đó suốt mấy trăm lần.

[12:48]Rồi chỉ như vậy, mấy đoạn như vậy rồi cuối cùng bài kinh ghi rằng: Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các tỳ kheo hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn. Tuy nhiên theo cái hệ thống mà Nam truyền ghi trong truyện tích Nikaya thì nói rằng các tỳ kheo ấy không hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn, không hoan hỷ. Nhưng mình cứ theo nguyên tắc, tới đụng cái chữ không hoan hỷ mà nói: Ủa, sao Phật giảng mà không hoan hỷ? Nên mình mới gạch bỏ cái chữ không đó mà luôn luôn cứ nói là hễ Phật giảng thì các vị tỳ kheo đều hoan hỷ, chứ còn thực tế mà sử ghi lại là không hoan hỷ. Sao kỳ lạ vậy? Ở đây nó có cái vấn đề, ở đây nó có cái nguyên nhân lớn của cái bài kinh này.

[13:41]Nguyên nhân lớn là vào cái thời đó, lúc đó là Tăng đoàn phát triển cũng đã đông. Uy tín của đạo Phật, của Đức Phật đã lan truyền khá rộng. Nhiều vị đã xuất gia theo Phật vì thấy ảnh hưởng của Phật lớn quá, quần chúng họ quá mến mộ đi, quần chúng quá mến mộ. Khi mà Phật đi truyền đạo như vậy có những cái vùng rộng lớn theo Phật sạch sẽ hết luôn, theo hết luôn. Ví dụ như hồi đó thì dân chúng không đông như bây giờ, nhưng mà ví dụ như một cái thị trấn như thế này, như Long An, cái Đức Phật Ngài du hóa đến đó, Ngài ôm bình bát đến đó Ngài khất thực, rồi gặp ai đó Ngài thuyết pháp, ai hỏi Ngài thuyết pháp, người này đồn người kia, người kia đồn người nọ.

[14:24]Rồi cái uy đức của Ngài, hoặc là có đôi khi Ngài sử dụng thần thông, hoặc là những trí tuệ siêu việt, sự hiền lành, sự từ bi của Ngài, cái đồn lan không thể tưởng được, nhiều khi cả cái Long An đi theo Ngài hết trơn. Nên đi qua nơi này qua nơi kia như vậy thì người ta cúng dường Phật cũng như là những đệ tử của Ngài rất là trọng hậu. Do lý do đó, nhiều người đã xuất gia theo đạo Phật vì cái sự mến mộ của quần chúng. Rồi khi xuất gia như vậy, họ không có thật tâm tu hành tìm sự giải thoát. Họ cũng hiểu mọi điều, họ cũng nghe Phật giảng hết bài kinh này tới bài kinh kia, rồi họ trên đường đi khất thực, gặp người này người kia họ cũng có nói chuyện đạo,

[15:08]nhưng mà nói với cái tâm khoe khoang, với tâm kiêu mạn, khoe khoang và kiêu mạn.

[15:17]Thì cái việc này lần lần nó trở thành phổ biến trong chư Tăng lắm. Ngoại trừ những vị Thánh tăng thật tu, có thật chứng, thì những vị đó cái tâm rất là thuần thục, vừa tự tu mà vừa có thể thuyết pháp cho mọi người rất là ổn định. Nhưng có một số vị tỳ kheo thì khi bàn luận hoặc là nói chuyện với các du sĩ ngoại đạo, các Sa môn ngoại đạo, hoặc khi nói chuyện với các cư sĩ tại gia, hoặc là khi bàn luận đạo lý với huynh đệ lẫn nhau, thì trong cách nói đã lộ cái vẻ kiêu mạn và khoe khoang về những vấn đề của giáo pháp. Nghĩa là những vấn đề đó hoặc là họ nói về thân con người như thế nào, hoặc họ nói về các chúng

[16:03]sinh khác như thế nào, hoặc họ nói về cõi trời, nói về các cái định, nói về các triết học, nói về Niết bàn, nói nói rất là ngon lành, nhưng mà trong cái cách nói đó không có khiêm tốn, vẻ khoe khoang quá, nên cái bệnh này bắt đầu thành trầm trọng, thành trầm trọng. Và Đức Phật phải giảng bài kinh này để trừ cái bệnh đó trong Tăng chúng. Bây giờ chúng ta có bệnh đó không? Có không? Có rất nhiều. Thứ nhất là Thiền, từ lúc mà Thiền tông xuất hiện á thì cái bệnh này phổ biến dữ lắm, là gặp nhau cứ hay nói thiền ngữ, nói lý thiền. Tôi hồi đó tôi học thiền tôi cũng mắc cái bệnh này. Thấy ai học thiền cũng mắc cái bệnh đó, là mình thích nói để chứng

[16:49]tỏ rằng mình đã đạt lý, mình hiểu đạo sâu, thành ra một cái bệnh. Bây giờ nhiều người cũng bị lắm. Bây giờ thì cái bệnh quý thầy cũng bị, mà cư sĩ cũng bị. Nhiều người cư sĩ học thiền được một thời gian là khi gặp ai cũng đem lý thiền ra nói, thì trong cái cách nói không khiêm cung, không khiêm cung. Ví dụ như một người đó khi mà nói: "Có nghe pháp này nghe pháp kia không?", thế thì cái người cư sĩ nói: "Thì tâm mình là tất cả, bày đặt đi lung tung nghe." Đó. "Tâm mình là đủ rồi, ở đây có hết." Đó, cái cách nói như vậy nó lộ cái vẻ ngã mạn ra liền. Mà cái nấc nữa mà họ hiền lành thêm chút nữa thì họ nói:

[17:34]"Thì biết ba chữ tham, sân, si tu được rồi, biết chi nhiều." Đó. Nghĩa là tự cho mình là có cái gì đó đủ rồi, không cần phải thêm, không cần phải thêm nữa. Thì cái cách nói đó cũng là một cái ngã mạn. Ở trong phạm trù hôm nay nói thì chúng ta không nghe nói tới cái chữ tham, sân, si, nhưng mà thời bây giờ là có nè. Ví dụ như có người nào đó nói: "À, tôi chỉ cần biết cái tham, sân, si này tôi tu đủ rồi." Thì có lẽ Phật sẽ giảng một bài tưởng tri: "Kẻ phàm phu tưởng tri tham, sân, si nên không có biết rõ, cho nên đã đối chiếu tự ngã với tham, sân, si; sân, si tự ngã; rồi dục, hỷ gì đó rồi. Ta nói kẻ này chưa liễu tri tham,

[18:15]sân, si." Nghĩa là nếu mà ai mà nói đó Phật cũng sẽ trả lời kiểu đó. Còn chỉ có những vị nào mà chân tình, chân thành tu học, khiêm tốn tu học thì ta nói người này thắng tri tham, sân, si. Đó, nghĩa là hễ mình đề cập tới một cái gì mà mình cho mình biết rồi thì Phật quở là: Các ngươi chỉ mới tưởng tri điều đó thôi, các ngươi chưa hề thắng tri điều đó. Nên từ đây về sau, hoặc là mình hoặc người khác mà nói biết một điều gì trong Phật pháp mà mình thấy cái giọng mà kênh kiệu thì mình biết đây đây là thuộc loại người mà Phật quở là tưởng tri, tưởng tri. Phải không? Thí dụ như là một lúc nào đó mình nói chuyện về nhân quả với ai, thì cái người cư sĩ họ nói:

[19:00]"Thì nhân nào quả đó, chuyện nó rõ ràng có gì đâu mà bàn cãi." Hễ mình nghe cách nói kiêu mạn là mình biết rồi, đây là tưởng tri. Còn người nào mà cũng nói về nhân quả mà nói với một sự khiêm tốn, lắng nghe, sâu sắc, thì nói người này có thể thắng tri. Quan trọng tưởng tri không phải tưởng tri, thắng tri không phải thắng tri, mà coi chừng cái này, để thành cái gì. Khi định nghĩa cho đúng á thì tưởng tri có nghĩa là biết mà biết có tưởng tượng trong đó, biết mà trong cái tâm loạn động, biết mà còn tham, sân, si trong đó thì Phật gọi là tưởng tri. Như vậy cái biết mà có tưởng tượng là cái biết chưa thấu đáo, không có tới đâu.

[19:43]Tuy nhiên thật ra cái ngấm ngầm mà Phật muốn quở là cái này nè, cái kiêu mạn. Còn cái người thắng tri mà được cho là biết rõ đó, cái biết vượt hơn á, thì đây là một cách để định nghĩa. Nhưng sự thật cái thâm ý của Phật không phải chỗ đó mà ở cái chỗ là không có cái này. Hễ khi mình học hiểu một điều gì, mình hiểu biết đến điều gì, mà trong cái hiểu biết đó mình không thấy mình hay, mình kín đáo thì có thể là mình thắng tri. Mình không có thêm cái của mình vô trỏng, có cái dè dặt, không chủ quan, không áp đặt, không quyết định cho mình đúng thì có thể được gọi là thắng tri. Còn khi mình biết mà nhìn thấy thái độ mà nói nghe kênh

[20:28]kiệu, mặt kênh kênh đời quá thì người này tưởng tri. Nên từ đây về sau bất cứ vấn đề gì, quý Phật tử nhớ, hễ bàn luận về đạo lý, để mình coi cách nói của mình với cách nói người kia, coi nhìn có kênh đời hay không. Nếu kênh đời là tưởng tri, mà không kênh đời là có thể thắng tri và có thể liễu tri. Thì như vậy ở đây là bài kinh này nó nhằm triệt phục một cái bệnh cực kỳ quan trọng của người tu là bệnh kiêu mạn và nói, nói dóc, khoe khoang. Đó.

[21:05]Cái bệnh này rất là phổ biến. Thời xưa đó Đức Phật dùng cái phương tiện của bài kinh này, bài kinh Pháp môn căn bản này để trị cái bệnh này là để giúp cho một vị tỳ kheo dễ chứng đạo. Còn thời bây giờ, cái bài kinh này khi mình hiểu bài kinh này thì giúp cho mọi người đỡ bị thối đọa, đỡ bị đọa lạc. Hai cái niệm khác nhau. Thời xưa đó là vấn đề chứng ngộ nó dễ lắm. Thời đó gặp Đức Phật, người ta tu người ta chứng ào ào hết trơn. Vị chứng A La Hán, vị chứng A Na Hàm gì đó, Tu Đà Hoàn rất là lẹ làng. Mà nếu bị kiêu mạn thì không dễ chứng ngộ đâu, cái đường chứng ngộ bị cắt, bị đóng lại. Nên Đức Phật dạy bài kinh này

[21:55]phá cái kiêu mạn, giúp cho người ta dễ dàng chứng ngộ trở lại. Mà tại sao thời đó người ta dễ chứng ngộ? Bởi vì người ta được gặp Phật. Cái oai đức của Phật quá vĩ đại đi. Cái từ bi, trí tuệ, thần dụng của Phật vời vợi nên gặp Đức Phật rồi không ai sống bình thường được hết, tự nhiên người ta bị thôi thúc, bị khuyến tấn, tự nhiên xuất hiện sự quyết tâm mạnh mẽ phải tu hành. Cho nên người ta dễ chứng ngộ. Còn chúng ta ngày nay mình thiếu phước, mình không gặp được Phật nên mình tu lơi lơi, tu lơi lơi. Ông thầy nào mà nói giảng pháp nghe vui vui tai thì đi nghe cho vui, còn không thì thôi ở nhà ngủ.

[22:41]Nghĩa là mình không quyết tâm trong cái sự tu hành, trong Phật pháp. Còn thời xưa, hình ảnh của Đức Phật quá rực rỡ, quá thôi thúc, quá lôi cuốn, cho nên người ta tu mạnh lắm, mạnh mẽ lắm và dễ chứng ngộ. Còn cái thời mình bây giờ mình không có quyết tâm đó nên mình khó chứng ngộ, mà chỉ cần cái kiêu mạn khởi lên cái mình đọa liền. Đọa lạc liền. Nên người xưa đó, diệt cái kiêu mạn là để chứng ngộ cho mau chút. Mình thời nay đó, diệt cái kiêu mạn để đừng đọa lạc thôi, chứ không có hy vọng chứng ngộ lắm. Đó là cái cái đáng buồn cho chúng ta ngày hôm nay. Đáng buồn. Tuy nhiên nói vậy thì nói, nhưng nếu mà hôm nay

[23:25]chúng ta đủ công đức, con đường đi chân chính, căn bản, kỹ lưỡng với quyết tâm mạnh mẽ thì mình cũng có thể chứng được chứ không phải không. Thời nay vẫn có người chứng chứ không phải là không hoàn toàn. Ở đây, cái vấn đề mà chúng ta để ý điều này nữa, trong cái công thức mà Phật nói á là khi mà người đó đối chiếu tự ngã với địa đại, người ấy phát sinh ra cái dục hỷ địa đại. Dục hỷ là ham ưa, đắm luyến, đắm nhiễm, ham thích. Còn cái người mà thắng tri, biết rõ thì không còn dục hỷ địa đại. Nên ở đây cái biết đúng và không đúng thì cái hệ quả của nó là thế này, cái kết quả nó là mình có đắm nhiễm hay không đắm nhiễm.

[24:19]Nếu biết sai mình sẽ đắm nhiễm và biết đúng mình vượt ra khỏi đắm nhiễm. Đó là cái công thức quan trọng của sự tu hành. Ngoài cái việc mà cái bí mật, cái thâm ý của Phật trong cái việc mà trừ diệt kiêu mạn, Phật đưa ra một cái công thức rất là gọn, rất là đơn giản là biết đúng hay không đúng để xuất hiện cái đắm nhiễm hay không đắm nhiễm. Đó là cái công thức của bài kinh này, bài Pháp Môn Căn Bản. Nên từ đây về sau, đối với tất cả mọi vấn đề của Phật pháp hoặc là đối với tất cả những vấn đề của thế gian, chúng ta làm sao phải thắng tri được nó thì chúng ta mới vượt ra khỏi cái dục hỷ. Yếu chỉ của bài kinh này nằm ở chỗ này.

[25:08]Nhưng mà thế nào mới gọi là thắng tri thì từng vấn đề nó khác nhau. Từng vấn đề khác nhau, không có giống nhau. Chỗ này đòi hỏi chúng ta phải có cái sự học hỏi, có trí tuệ, có tu hành dữ lắm mới có thể được có thắng tri này. Còn nếu không thì chúng ta sẽ không đạt được cái này, cái yếu chỉ của bài kinh. Giờ qua từng cái vấn đề, nói sơ sơ từng cái vấn đề được liệt kê, thì ở đây đầu tiên Phật nói là địa đại, thủy đại, phong đại, hỏa đại. Đó là cái gì? Tứ đại, cộng lại tứ đại đúng hơn. Mà tứ đại là cái gì? Dịch ra đất, nước, gió, lửa.

[25:56]Có nghĩa là cái thân vật chất này, nghĩa là Phật nói về cái thân vật chất này. Thì ở đây, bây giờ mình thử tưởng tượng mình nêu cái vấn đề căn bản này trước là nơi cái thân vật chất này, mình hiểu về nó như thế nào mà thành tưởng tri? Mình hiểu về nó như thế nào để gọi là thắng tri? Bây giờ ai hiểu, nói nghe coi. Mình phải đối chiếu lại với nội tâm mình, tại một lát nữa nhiều vấn đề đưa ra nữa. Đó. Mình hiểu về nó như thế nào thì thành tưởng tri mà hiểu về nó như thế nào thành thắng tri? Ai giơ tay lên? Giơ tay lên nửa nửa cũng được.

[26:39]Mô Phật, bạch Thầy. Nếu chúng ta hiểu thân này với cách là tưởng tri thì thân mình sẽ còn tham đắm vào tất cả chuyện của thế gian. Còn nếu mà hiểu với cái thắng tri thì chúng ta sẽ là người vượt qua được cái dục nhiễm. Hết rồi hả? Thí dụ như chúng ta hiểu thân này là tứ đại do duyên hợp, giả tạm, nó không thật, nó là từ kiếp trước vô minh mà sanh ra thì nó sẽ chịu sự biến hoại, vô thường. Nếu hiểu được vậy thì chúng ta sẽ là thắng tri. Còn ngược lại là tưởng tri. Cảm ơn thầy. Còn ai nữa không? A Di Đà Phật, bạch Thầy. Theo con nghĩ tưởng tri là ví dụ như mình tưởng ra một cái gì đó rồi mình chấp vào nó và mình đi theo nó là mình sẽ bị đọa lạc ạ.

[27:42]Nếu mình biết thắng tri là mình vượt qua được cái tưởng tượng của mình ở một cái thế giới nào đó thì mình không sẽ không bị đọa lạc nữa. Cảm ơn thầy. A Di Đà Phật, kính bạch Thầy. Theo cái hiểu của con là cái tưởng tri có nghĩa là mình chấp thân này là thường còn với lại mình chấp ngã. Còn như cái thắng tri là mình quán chiếu thấy nó là huyễn giả do nhân duyên hòa hợp. A Di Đà Phật.

[28:14]Nói chung là quý thầy đều có câu trả lời tốt, rất là tốt. Bởi vì tôi hỏi bất ngờ cho nên quý thầy không có thời gian để mà suy tư thêm, chứ nếu có thời gian có lẽ quý thầy cũng sẽ trả lời cái câu này cũng hay lắm chứ không phải không. Thì ở đây mình cứ nhìn lại cái thân mình, mình nhìn thật sự ở đây nó có hai cái lớp chứ không phải không. Thứ nhất là hiểu, hiểu sai, hiểu mà tưởng tượng về nó gọi là tưởng tri của người phàm phu hoàn toàn không biết đạo lý. Và cái trường hợp thứ hai của một người đã biết đạo lý vẫn bị rơi vào tưởng tri, rất là lạ. Bây giờ chúng ta nói trước là cái người phàm phu hoàn toàn không biết đạo lý

[28:58]mà hiểu biết về cái thân của mình thì đúng là như quý thầy nói là người này sẽ thấy rằng thân này là thường còn, thân này là đáng yêu, đáng quý, phải không? Thân này vô cùng đáng quý, nên người ta thích sống và lo tô điểm mãi cho cái thân này, đã xem cái thân này là cái cứu cánh để tô điểm, thay vì là chúng ta có nhiều điều phải lo hơn về vấn đề tinh thần. Ví dụ một người sống trên đời thì mình phải biết hướng về cái giá trị đạo đức, tinh thần, tâm linh để thăng hoa sau cái chết này. Nhưng mà một người không hiểu điều đó, trong cái cuộc sống thực tại trước mắt chỉ thấy cái thân này là quý, là cần thiết, nên đã lo cho nó quá đáng.

[29:43]Ví dụ như ăn vừa đủ ngon thôi thì ăn vừa đủ no, cần thiết thôi thì lại phải ăn thật ngon, phải cung phụng nó nhiều miếng ngon vật lạ, vân vân. Hoặc là chỉ cần sạch là được rồi, nhưng mà chưa đủ, mình phải xịt thêm nhiều loại nước hoa gì đó để tô điểm cho nó. Với cái hình hài như vậy là đã đẹp trai, đẹp gái lắm rồi, chưa đủ, phải thêm chút môi son má hồng... Rồi phải bơm bơm vô gì thêm cho con người đủ thứ chuyện hết trơn. Quần áo thì lụa là, mượt mà đủ loại. Đó là cái gọi là là chúng ta đã hiểu về cái thân này một cách sai lầm theo kiểu hoàn toàn phàm phu, lo cho nó quá nên bị mất công đức, mà gọi là dục hỷ cái thân á, đắm nhiễm về thân nhiều quá.

[30:28]Đó là cái người hoàn toàn không biết đạo lý. Còn bây giờ một người biết đạo lý, tức là nói được như quý thầy lúc nãy, nghĩa là ai hỏi tới thì cũng nói: "Ôi thân vô thường, rồi thân là duyên hợp, giả tạm", thế đó. Nói được, nói được nhưng vẫn bị gọi là tưởng tri, vì sao?

[30:51]Vì sao vậy? Vì sao là cũng hiểu được như vậy mà vẫn bị gọi là tưởng tri?

[31:02]Nghĩa là hồi nãy chúng ta nói đó, cái người mà hiểu không đúng thì dục hỷ, nhưng mà ở đây chúng ta hiểu điều này. Trong thâm sâu chúng ta, chúng ta có cái chấp thân mãnh liệt, khủng khiếp, cái chấp thân mạnh lắm. Bây giờ mình ngồi bình thường như thế này thì nghe trong kinh Phật nói thân này giả tạm là mình đồng ý, vì mình có thiện căn với Phật pháp. Kiếp trước mình cũng từng nghe đạo lý tu hành rồi, nên ngày hôm nay nghe lặp lại Phật nói thân này giả tạm mình tin liền. Đó là thiện căn đó, chứ không có thiện căn không tin câu này nha, không có tin à. Cho nên ở đây mà ai mà ngồi đây nghe nói thân này giả tạm mà tin

[31:41]mà chấp nhận, người này có thiện căn đời trước trong Phật pháp. Còn người thường không nghe câu này, không chịu, bỏ ra đi liền. Tuy nhiên, biết là một chuyện, còn cái chấp thân trong chúng ta nó khủng khiếp, dễ sợ lắm, rất là mạnh. Nhưng bình thường mình ngồi thế này thì nghe mình gật đầu, mình đang nghe hoan hỷ. Nhưng mà đang ngồi nghe thân này giả tạm nè, đang hoan hỷ nè, bỗng có người phía sau mình lấy cái kim đâm họ lén chích vô cái mông mình một cái. Ngồi đằng sau họ phá mình, họ làm một cái thì lúc đó mình mới thấy cái chấp thân nó khởi lên. Tâm mình nghĩa là trừng lên, mình bốc rần rần rần rần những cảm

[32:18]giác, mình cự nự, mình sân hận, mình giận, mình bực bội. Vì tại sao người ta phá mình như vậy? Ai mà nghịch ngợm như vậy? Thì lúc đó cái cảm giác trong lòng mình nó khởi rần rần lên. Người mà tỉ như có tu á thì dằn dằn ép được, chỉ lườm một cái, không được giỡn, để tôi ngồi nghe pháp. Còn mà cái người không có tu á thì có thể là xảy ra nhiều chuyện vui hơn chút nữa, lôi nhau ra ngoài sân làm cái gì ngoài đó đó, chút nữa. Đó. Là chúng ta thấy mình hiểu được thân này giả tạm, nhưng cái chấp thân bên trong không có hết, không có hết. Chấp thân nó mạnh, nên sau này chúng ta sẽ học tới bài Tứ Niệm Xứ.

[32:59]Bài Tứ Niệm Xứ quan trọng lắm, chúng ta sẽ thấy Phật giải quyết cái vấn đề chấp thân này dữ dội lắm. Ngài giải quyết triệt để luôn. Chúng ta mới thấy cái trí tuệ của Phật. Thường thường á mình học Phật pháp á mình cứ mong học lên cho cao cao cao, nhưng mà không ngờ là những cái căn bản mới quan trọng mà những cái căn bản sâu sắc nằm trong Nikaya. Nên Đức Phật mà nói về những phương pháp để mà giải quyết cái chấp thân này Ngài nói kỹ lắm, nói rất là hay. Nên càng tu càng học rồi mình mới kính trọng trí tuệ của Phật, Ngài chu đáo quá sức. Mà mình bây giờ mình vội vàng, hấp tấp, nông nổi nghe không được cái chấp thân.

[33:38]Nhưng bây giờ nãy giờ chúng ta nói về thân này là vô thường. Mình nói trong cái vội vã, nói trong cái không sâu sắc, trong đó nó lẫn tham sân si, động loạn, chưa chín muồi và tưởng tượng. Nên coi vậy chấp thân không hết. Nên tuy mình nói được mà vẫn bị gọi là tưởng tri. Đây là chỗ mà Phật quở những Tỳ-kheo lặp lại cái lời của Phật mà bên trong rỗng, đi khoe khoang, tranh hơn với người ta mà bên trong rỗng. Giống như bây giờ khi một người Phật tử vào chùa, quý thầy mình cũng có thể thuyết pháp, giải thích cho quý Phật tử nghe về giáo lý. Thì khi mà nói tới thân thì cũng nói thân này vô thường được, cũng nói được.

[34:23]Mình học được lời dạy của Phật mình nói được, nhưng mà trong cái cách nói của mình á mình hiểu về cái chữ vô thường này cũng không hết, không thấm, không kỹ nữa, nên cái lời nói mình nó hời hợt, người ta nghe nó không thấm tại vì chính mình chưa thấm. Vậy chừng nào mình mới có thể thấm được? Phải thực hành, phải cần cầu vô thượng Bồ-đề. Là một Tỳ-kheo hữu học, phải cần cầu vô thượng Bồ-đề, phải quán chiếu điều đó một cách chín chắn, sâu sắc. Thì lúc đó lần lần mới hiểu, à vô thường là như vậy, cái cảm nhận nó sâu sắc như vậy thì mới gọi là thắng tri. Như bây giờ đi, chúng ta ngồi đây mình cũng nghĩ à mình biết thân này

[35:07]vô thường, hư giả, ai cũng biết, nhưng mà nếu cái người nào đó năm tháng liên tiếp ngồi thiền lặng lẽ thấy thân vô thường thì hiểu cái chữ vô thường nó khác, hiểu cái nghĩa thân này vô thường hiểu khác hoàn toàn, hiểu một cách sâu sắc, thấu đáo và an tịnh, tâm hồn an tịnh. Lúc đó những cái căn bản, cái chấp thân nó mất, nó kéo theo một loạt những cái chấp khác trong tâm mất theo luôn. Cả cái sự ích kỷ cũng lắng nhẹ xuống luôn, cả những cái tham lam, cả những cái sân cũng lắng theo luôn nơi cái quán thân vô thường đó. Thì người đó hiểu cái ý nghĩa thân vô thường một cách rất là thấu đáo và tâm thanh tịnh thì người đó gọi là thắng tri.

[35:51]Nên như vậy cái thắng tri này nó hai nghĩa. Một cái á là mình hiểu đúng đạo lý, đó là một, và thứ hai là phải quán sát sâu sắc lâu ngày để nó thấm sâu, kỹ vào trong lòng mình. Như vậy cái tưởng tri mà Phật quở nó có cả hai ý nghĩa, phải không? Một là hiểu sai đạo lý để rồi đưa đến sự đắm nhiễm của thế gian. Hai là hiểu đúng đạo lý mà hiểu quá hời hợt, chưa có thực hành, hai ý nghĩa. Quý thầy nhớ ghi chép nha để làm bài nha. Tại vì những điều này tôi không có ghi trong cái dàn bài này. Rồi cái khái niệm kế tiếp, Đức Phật nói về sinh vật, là vị ấy tưởng tri sinh vật là sinh vật. Vì tưởng tri sinh vật là sinh vật nên vị ấy

[36:41]nghĩa là nghĩ đến sinh vật, nghĩ đến tự ngã đối chiếu với sinh vật, nghĩ đến tự ngã như là sinh vật, nghĩ sinh vật là của ta, nên dục hỷ sinh vật. Tại sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri sinh vật. Sinh vật này thì ý nghĩa nó cũng khá trùng với chữ sinh vật bây giờ, là cũng trời, trăng, mây, nước, núi non, con người, thú vật, đủ thứ hết. Thì khi mình hiểu về cái đó như thế nào mà để đạt được cái sự an tịnh tâm hồn, đạt được sự giải thoát không đắm nhiễm. Còn nếu mình hiểu về các ngoại vật đó một cách như thế nào rồi tâm hồn mình bị ràng buộc, bị đắm nhiễm, đó gọi là tưởng tri hay là thắng tri về ngoại vật,

[37:26]về các sinh vật, trời, trăng, mây, nước, về con người này kia nọ. Nên vấn đề này lớn, cái này có một chữ một chứ vấn đề này lớn lắm. Vấn đề phải giảng cả bài, một hai bài. Nhưng mà thôi hôm nay chúng ta cũng nói qua, nói phớt phớt qua một chút. Thí dụ là thế này. Thí dụ một người mà tưởng tri cái cây đi, nhìn cái cây bên ngoài gọi là tưởng tri á thì mình hiểu về nó như thế nào? Cái mình thấy à cái cây này đối với mình như thế nào? Có cần thiết cho mình hay không? Có lợi cho mình hay không hay là cái cây làm mình bực dọc, đáng ghét? Nên mình đối chiếu với tự ngã. Hoặc là mình nhìn qua bên kia hàng xóm,

[38:04]có một người bên hàng xóm mình hiểu về họ như thế nào thì mới là đúng? Mà hiểu về họ như thế nào mới là sai? Hoặc là trong cuộc sống mình nhìn lẫn nhau như thế này, khi mình nhìn thấy một con người thì mình hiểu về con người như thế nào để gọi là có cái an tịnh, có trí tuệ, có giải thoát? Hoặc là mình nhìn lẫn nhau hiểu nhau như thế nào rồi cuối cùng hoặc là đắm nhiễm, hoặc là sân hận, ích kỷ? Nên cái mà thái độ nhìn một con người như thế nào là cả một triết lý lớn. Hôm nay chúng ta chưa nói, nhưng chúng ta cũng sẽ nói qua khái quát. Vậy quý thầy cho tôi biết khi mình nhìn một con người thì mình thấy được điều gì?

[38:48]Khi mình nhìn một

[39:13]con người mình thấy được điều gì? Dạ thưa thầy, theo con thì khi mình tiếp xúc và nhìn đối diện với người trẻ ở vấn đề nếu phát sinh một cái cảm ứng gì thì lúc đó ta phải xem lại mình, cảm thấy mình có lỗi với người. Cảm ơn. Có ai có ý kiến gì thêm? Chà, ghê ta. Đó, cư sĩ nè. Con kính bạch thầy, xin cho con nói, khi mà con nhìn một người đối diện thì với hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là một người có thể là chưa biết đạo nhiều, và một người là đã biết đạo nhiều, hiểu sâu giáo lý. Trường hợp thứ nhất, nếu đó là một người thường chưa biết đạo nhiều thì con có một cái cảm nhận con người này với một cái thân tứ đại

[39:50]sanh diệt và trong phần sâu trong cái phần tứ đại đó có một cái sự chuyển biến, một cái dòng tâm thức mà có thể phải cái dòng tâm thức này dẫn con người đến một cái sanh tử luân hồi. Là tại vì khi mà một người chưa biết đạo thì người đó không có ổn định được cái dòng tâm thức của người đó mà phải miên man, miên man sống với nhận thức. Còn nếu đối diện với con là một người có tu, thí dụ như quý thầy đang học trường cao bản Phật học hoặc những vị chư Tăng mà con hướng theo học và con cảm nhận đó là một bậc minh sư, thì con có một cái cảm nhận là cũng với cái thân tứ đại vô thường sinh diệt này, nhưng mà trong đó cái dòng tâm thức

[40:39]có một cái sự suy hoài biến đổi, có một chiều hướng đi lên và cái chiều hướng đó tùy theo cái sự tu tập của một vị thầy đang theo học hay là một vị minh sư. Dạ thưa thầy, con hết ý kiến. Nghe sao giống tưởng tri quá, nhiều thứ quá.

[41:01]Vậy coi như mình nhìn đơn giản lại một chút, nhìn đơn giản lại một chút. Thứ nhất, là mình nhìn người này có thân tứ đại này giả, phải không? Đồng ý không? Đồng ý. Mà nơi thân tứ đại này giả cho nên cái hình hài bên ngoài không quan trọng. Thì nhờ như vậy, thì mình nhìn thấy một người đẹp trai như quý thầy hay là xấu như tôi không quan trọng nữa, không còn hơn thua. Hình hài bên ngoài không quan trọng. Rồi bắt đầu đi sâu vào nội tâm của họ thì người này có thể thiện, có thể ác, phải không? Thì cái thiện, cái ác này là cái nếu có đạo lý thì người này từ từ sẽ tăng trưởng được thiện pháp, nếu không có đạo lý thì thiện pháp sẽ từ từ mất.

[41:45]Và cái thứ ba nữa đi vào sâu hơn nữa thì mỗi người đều có cái tâm, đều có con đường để đi đến sự giác ngộ, giải thoát, ai cũng giống nhau hết, ai cũng đều có cái điều đó hết. Đây là chỗ để mình hy vọng, chỗ để mình thương yêu và tôn trọng con người. Nên nhìn qua ba lớp như vậy, cái lớp thứ nhất cái thân, hình hài này thì có đẹp, có xấu. Cái lớp thứ hai là vào tâm thức người này thì có thiện, có ác hoặc là lẫn lộn. Và cái lớp thứ ba là ai cũng có khả năng để đi đến giác ngộ. Và khi nhìn luôn cho tới cái thứ ba này thì mình thương yêu và tôn trọng con người được. Dù hai lớp kia có thể còn có cái nhiều khiếm khuyết. Phải không?

[42:28]Hai cái lớp đầu, cái lớp tâm thức bên ngoài và cái lớp hình hài bên ngoài nữa có thể còn có những khiếm khuyết. Nhưng mà ở cái tận cùng cái tâm sâu bên trong, người ta đều có thể đi đến giác ngộ. Đó, đó là khi mình nhìn về con người như vậy. Khi mình nhìn thấy ai mình cũng nhìn như vậy á, thì lòng mình thanh thản, lòng thanh thản bớt lại. Hoặc là mình nhìn mây, trời, trăng, sao, cây, cỏ, núi non vậy, mình không có nghĩ là những cái điều đó vì mình mà phải xuất hiện, mà nó là do nhân duyên, tất cả là do nhân duyên. Nên không có cái đưa vào đó cái ước muốn, đưa vào đó nỗi phiền muộn của mình, đưa vào đó cái niềm vui của mình.

[43:12]Có nhiều người vậy, khi mình nhìn trời trăng mây nước vậy thì làm thơ. Làm thơ thì sao? Vì thấy cái cảnh đó nó vui như thế, nó buồn như thế là đã đưa cái nỗi buồn hoặc là cái niềm vui của mình vào trong trời đất. Nhưng mà ở đây cái người mà thắng tri thì không bị cái thành kiến, cái tâm trạng nó như vậy mà thanh thản, thấy mọi chuyện đều là cái nhân duyên gì đó, theo cái dòng sinh diệt gì đó. Giờ mình nghe nói tại sao một người tu mà đặt cái vấn đề là biết, tưởng tri về cõi trời để bị Phật quở, rồi lại nói tới cái người thắng tri về cõi trời, biết rõ về cõi trời, Phật khen. Tại sao vậy? Mình nghe đoạn này mình hơi khó hiểu.

[44:00]Cái lý do là khung cảnh của mình ngày hôm nay với thời Phật khác nhau. Vào thời Đức Phật á, cái chuyện cõi trời là cái chuyện bình thường giống như người ta ăn cơm, uống nước vào cái thời đó. Những kinh điển Veda trước đó cũng hay nói về cõi trời. Rồi cái tín ngưỡng của dân gian cũng hay nói về cõi trời. Rồi khi mà Đức Phật xuất hiện thì rất nhiều chư thiên ở trên trời xuống đảnh lễ, học hỏi, cúng dường Phật. Nhiều vị thiên tử đã xuống gặp gỡ, thưa hỏi các vị A-la-hán, nên lúc đó cái sự giao tiếp giữa con người và cõi trời nó hơi nhiều. Nên cái việc mà hiểu biết về cõi trời hay nói về cõi trời nó có vẻ bình thường lúc đó.

[44:48]Nhưng mà bây giờ mà đi đâu mình gặp ai mình cũng hay nói về ông trời ổng qua ổng vầy, ông trời qua ổng kia cái thì người ta nói mình sao? Người ta nói mình hư một vài con ốc. Người ta nói vậy. Nhưng mà thời xưa thì không phải vậy, bình thường. Nên mình đọc đoạn kinh này mình phải đối chiếu lại với cái tâm tình, cái khung cảnh của con người vào thời đó mình mới hiểu được hết. Thế thì tại sao là thời xưa con người có vẻ là có cái lưu thông giao tiếp với cõi trời nhiều như vậy mà thời bây giờ không có? Ủa, tại sao vậy? Tại sao?

[45:30]Thì mình cũng không biết tại sao. Nhưng chỉ có cái điều thế này là thật ra cái sự giao tiếp đó nó đến bây giờ vẫn giống vậy, không hoàn toàn không gì khác hết trơn. Tức là ngày xưa cõi trời đối với cõi người như thế nào thì ngày nay cũng y như vậy. Nhưng mà mình lại ít gặp, ít biết. Mình không biết, không đặt vấn đề. Rồi khoa học luôn luôn muốn tìm cách giải thích mọi việc theo cái chiều hướng khoa học, vật lý, nên mà ai nói cái gì mà siêu hình, thần bí thì đều bị chê, nên con người không muốn nói tới nữa. Chứ còn thật sự cái sự liên quan giữa cõi người và cõi trời thì chưa bao giờ là hết, chưa bao giờ gián đoạn, đến bây giờ cũng như vậy, không khác chút nào.

[46:16]Nhưng mà cái việc hiểu biết về cõi trời nó hơi khó. Đây là cả vấn đề lớn, sau này có dịp thì chúng ta sẽ triển khai nếu mình học tới bài kinh nào mà nói về chư thiên á. Những vị mà ở thế gian làm được nhiều việc phước, tâm địa tốt đẹp, khi chết thì về một cõi nào đó, có cái chỗ rất là an lành.

[46:42]Nhưng mà nó nhiều chỗ lắm, nhiều chỗ chứ không phải một chỗ. Trong đạo Phật mình hay kể ra nhiều cái cõi trời là vậy. Có khi cái vị đó cái phước họ chưa đủ hoàn toàn để lên cái cõi trời siêu việt như là cõi Đao Lợi hay cõi Đâu Suất. Nhưng mà có tu hành tốt thì tự nhiên lúc chết rồi thấy mình ở trong một cái chùa vô cùng tốt đẹp, đẹp lắm, mọi điều được như ý, nó cũng gọi là cõi trời. Vô đó để tu học tiếp ở trong trỏng. Còn những vị nào mà chứng được thiền định kìa thì mới lên cõi trời Đao Lợi hay Đâu Suất. Đó là cõi của những vị thánh. Còn hoặc là vị nào mà mà có công lao lớn đối với loài người mà không có tu tập thiền định,

[47:28]không có hướng về giải thoát thì thường chết làm vị thần. Vị thần đó mình gọi là Dạ Xoa, hay Asura đó, mà thường gọi là Dạ Xoa. Đúng đó gọi là Dạ Xoa tướng quân á, những vị thần ở trong cái cõi vô hình đầy uy lực, có uy lực, có thần thông. Thì giữa cái cõi đó với cõi mình nó có hai điều hơi trái ngược nhau một chút là ở cái cõi siêu hình, cõi trời đó thì người ta biết tùm lum chuyện hết, biết hết mọi chuyện, nhưng mà không làm được gì nhiều. Còn ở cõi mình á thì không biết gì hết, nhưng mà làm được nhiều việc. Hai cõi mình và cõi họ ngược nhau một chút. Như bây giờ chúng ta ở đây vậy, mình muốn làm phước điều gì rất là dễ làm.

[48:12]Bây giờ mình chạy xuống mình nấu cơm đại chúng cũng làm thành cái công quả, cái phước. Thấy ai bệnh mình đi mình giặt quần áo giùm người ta cũng làm cái phước. Rồi mình chạy đi lo cho đại chúng, lo việc gì cho chùa đều thành cái phước hết, nhúc nhích chút xíu gì thành phước hết. Hoặc là quý cư sĩ cũng vậy, muốn làm phước gì, mình phụ quý thầy, quý cô hoặc là bố thí cho người nghèo hoặc là lũ lụt miền Trung mình làm gì đều thành phước hết, nó dễ làm. Đó là cõi người mình. Nhưng mà biết thì không biết gì hết, không biết. Thí dụ như khi mình khởi lên một tâm niệm thì mình không biết là cái tâm niệm đó nó nó

[48:46]sai, nó đúng thế nào, mình nhìn không ra hết. Hoặc là cái nhân của cái tâm đó sẽ đưa mình đi về đâu, mình không biết, không biết. Hoặc là khi mình gặp một người nào đó đến với mình nói chuyện, mình không biết cái nhân duyên của mình với người đó ở kiếp xưa như thế nào. Và cái cuộc giao tiếp này nó sẽ dẫn cái liên hệ giữa mình với người đó sẽ đi về chỗ nào tốt hay xấu, mình không biết, không biết. Gặp rồi có nói chuyện vui, hợp duyên, hợp ý thì nói chuyện thôi chứ không biết là hậu quả hoặc là cái nguyên nhân xa của nó như thế nào, không biết. Nhưng ở cõi trời thì biết hết. Những vị mà họ họ ở thế giới siêu hình, họ nhìn điều đó họ biết hết.

[49:22]Mình nhúc nhích trong tâm mình chút xíu họ biết liền, biết còn hơn mình biết. Có những cái lỗi sâu kín trong tâm mình mình không biết, họ biết liền. Mình chưa thấy, họ thấy liền. Rồi cái nhân quả mình sẽ đi về đâu, sẽ gặp chuyện gì, mình không biết nhưng mà người khuất mặt họ biết hết, họ biết nhiều hơn mình. Họ biết nhân duyên, nhiều khi biết kiếp này kiếp kia nữa. Nhưng chỉ có cái họ làm không được nhiều, làm rất ít. Và thường thì họ biết tội phước rất rõ nên họ thích làm phước mà ít làm được, không làm được nhiều. Đó là cái khổ tâm của cái người ở cõi trời, cái cõi siêu hình á. Cõi trời thì họ an lạc quá thì có thể họ cũng yên,

[50:03]nhưng mà ai cũng bị cái thôi thúc muốn làm phước mà ít làm được. Và ví dụ, tôi nói ví dụ như một lần nào đó cái mình đi có việc gì gấp phải đi về chùa mà đi qua con sông hết đò, trời chiều hết đò. Mà việc thì gấp, cái mình đứng mình cầu trời khấn Phật quá chừng. Lát tự nhiên có cái ông nào ổng chèo ghe tới ổng cho mình quá giang qua sông. Mình mới ngạc nhiên tại sao linh như vậy. Thì đây là cái việc làm phước của chư thiên. Khi mình đứng ở bờ sông mình thiết tha muốn về chùa, mình cầu nguyện, mà giờ đó thì đúng thật là không còn đò đi qua nữa. Nhưng mà chợt có cái ông đó, thì công việc ổng ổng phải qua cái bên kia

[50:45]sông để mà mượn cái rựa, cái phãng gì cho ngày mai đi làm đồng á. Mai mới cần chứ bây giờ cũng không cần. Nhưng mà chợt đúng lúc đó ổng khởi cái tâm lên là phải mượn bây giờ cho chắc ăn. Là đó cái ý của ổng khởi lên không phải của ổng mà của chư thiên tác động vào. Người trong vô hình, do nghe cái lời cầu nguyện của mình nên tác động vào tâm của ổng, của ông nông dân này. Thế là ổng chống ghe ra ổng đi một cách tự nhiên như là chính ý nghĩ của ổng. Nhưng không ngờ đó là cái tác động vô hình của chư thiên. Thế ổng chèo qua gặp mình cái mình quơ tay, quơ chân rồi xin quá giang, thế là ổng ghé vô ổng rước mình đi qua sông.

[51:22]Mình nói thiệt, linh thiệt á, chư thiên linh thiệt. Nhưng mà đó là chư thiên họ biết làm phước. Thì như vậy giữa cái việc của ổng nông chèo ghe, cái công ổng chèo ghe đưa mình qua sông với cái công của chư thiên mà tác động vào tâm để ổng làm việc đó thì phước ai lớn? Phước này lớn... thì cũng không biết phải không? Mình không dám so sánh, nhưng mà trên cái vật chất mình qua sông được là nhờ ông chèo ghe nên công ổng cực lắm, cũng là phước lớn. Còn chư thiên ổng dùng thần thông tác động một cái cái là cái người kia xách ghe đi liền, coi vậy chứ nó dễ, phước cũng không nhiều nữa. Cho nên cái người chư thiên họ muốn làm phước lắm mà họ khó làm.

[52:03]Nên có nhiều người nôn quá rồi cái bắt đầu nhập đồng bậy bạ. Thấy ai có duyên cái mình tới nhập đồng để mà cho chữa bệnh, cho uống thuốc đồ làm tùm lum rồi tới bữa công an bắt cái nhảy mất nữa, cứ vậy hoài. Là những người đó họ nôn làm phước quá rồi làm bậy đó, chứ đúng ra không được phép như vậy. Nên thường là người ta hay trợ duyên bí mật cho người sống để làm phước thì lúc đó người ta hưởng được một phần phước, một phần. Nếu cái phước đó mười phần thì cái người mà vô hình mà tác động vào tâm để người kia làm hưởng được một à, còn cái công lao của người sống được chín phần phước. Đó vậy đó. Cũng giống như tôi hay nói chuyện này:

[52:43]có vài người Phật tử hay đưa băng của tôi giảng cho người này người kia nghe, rồi hay kể lại tôi khoe, nói: "Thưa Thầy, con đưa băng cho cái nhà đó, cái nhà đó người ta hai vợ chồng hay gây lộn luôn, họ nghe băng tự nhiên bây giờ họ sống hiền lành với nhau." Thì tôi nghe tôi mừng, tôi mới khen nói: "Vậy là chia đôi phước với Thầy." Nhưng mà đêm tôi ngồi thiền tôi thấy không phải. Trong cái việc mà đưa băng đó lại tôi được có một phần phước à, tiền cò có một phần à. Cái người mà đưa băng đó mới được chín phần phước luôn. Vì khi đưa băng cực khổ lắm, phải không? Phải thuyết phục, phải năn nỉ, phải dụ đủ cách người ta mới nghe.

[53:19]Còn tôi giảng lần xong rồi đâu biết gì nữa. Nên mình chỉ được hưởng huê hồng có một phần phước à, cái người đưa băng mới được chín phần. Thì cái ảnh hưởng của chư thiên mà tác động đến con người để con người làm phước cũng vậy đó, họ chỉ được một phần phước, loài người mình mới được được chín phần. Đó. Thì chư thiên nó nhiều vấn đề lắm, còn phức tạp, còn vô số vô số những vấn đề mà mình nói cho đã thì mình cũng chỉ mới tưởng tri. Vì mình đâu có đủ thần thông để biết hết mọi điều của cõi Trời, phải không? Còn những vị mà A-la-hán, những vị thánh thì họ mới thắng tri, vì họ tiếp xúc rất nhiều với cõi Trời, có khi họ dùng thần thông lên đó đi

[54:01]đi về về rất là tự tại, nên họ biết rất rõ về cõi Trời nên gọi là thắng tri. Nãy giờ mình nói nãy giờ đó cũng gọi là tưởng tri, đó kiểu nó vậy. Rồi trong cõi Trời có nhiều nhiều mức độ là Phạm Thiên, Quang Âm Thiên, Biến Tịnh Thiên, Quảng Quả Thiên, là trong bài kinh ngài nêu ra những cõi Trời như vậy. Thì những cõi Trời đó đều có cái mức độ vi diệu khác nhau, mà đều là những vị thánh, chứng đạo, thần thông, cái sức định cũng cao lắm mới lên được những cõi Trời đó, chứ không phải dễ. Còn người mà làm phước nhiều, tâm tốt thì ở cõi Trời thấp thấp à. Người nào phải vừa là làm phước nhiều nè, tâm tốt nè, có sức định nè, mới lên mấy cõi Trời cao.

[54:50]Trong Nikaya không có khái niệm cõi Cực Lạc Tây Phương nha, nhớ giùm đó. Chỉ có cõi Trời, tu thật tốt là về cõi Trời, vì cõi Trời là cõi thánh. Nhớ, cõi Trời là cõi thánh. Đừng có nghĩ cõi Trời là phàm phu chúng sinh luân hồi sanh tử nha, đừng coi thường. Dĩ nhiên cõi Trời chưa phải là tuyệt đối thoát ra ngoài sinh tử, nhưng phải hiểu đó là những vị thánh. Bây giờ mình lấy cõi Trời thấp thôi, như cõi Trời Tứ Thiên Vương, cõi Trời Đế Thích, mình khảo sát mà nếu mình gặp một vị thiên tử được sinh lên cõi Trời Tam Thập Tam là cõi Trời Đế Thích đó, mình lấy lý lịch của vị đó mình tra cứu, mình xét hết là mình cúi đầu đảnh lễ liền.

[55:34]Lúc mà sống trước khi sinh lên cõi Trời, vị đó quá thánh thiện, quá tuyệt vời. Thiệt vậy đó. Rồi trong đây cũng nói tiếp về những khái niệm về những cõi định, những trạng thái định là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Thì những cái trạng thái định này đến bây giờ vẫn còn là cái thách đố của chúng ta. Vì Đức Phật đã vắng xa, những vị A-la-hán lần lượt ra đi, thì bây giờ không ai giám định, không ai xác định được cái định nào là Không vô biên xứ, định nào là Thức vô biên xứ. Bây giờ không còn ai giám định hết. Thì bây giờ mấy thiền sư vậy, các thiền sư khi chứng được cái mức

[56:15]độ tâm thức gì đó, thì tự mình đặt ra một cái tên mới luôn. Nên có người thì đặt ra tên mới là ai đề phá được Tổ sư quan, phá được Trùng quan, phá được Lao quan, cũng đặt ra những cái tên mới gì đó. Còn Đức Phật, Đức Phật nhìn vào tâm, Đức Phật xác định liền: "À, đây là thiền, đây là Không vô biên xứ nè, à, đây là Thức vô biên xứ nè." Ngài đặt tên như vậy, nhưng mà khi Đức Phật không còn, thì khi các thiền sư chứng được là tự đặt ra những cái tên khác, tự đặt ra những cái từng mức khác nào đó của mình. Đó là lý do mà các luận của các tổ hay các thiền sư không còn ăn khớp với kinh của Phật nữa, là không có Phật giám định, xác định nên không ai biết.

[57:01]Hoặc là mình nói về tứ quả đi, sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả, thì đời nay ví dụ mình chứng một cái quả gì đó, không có Phật xác định nên mình cũng không biết đó là quả gì, không biết. Rồi thôi cái nhiều khi mình hiểu lầm, mình mới chứng thấp rồi tưởng mình đã triệt ngộ xong xuôi, nó thành ra cái lỗi tăng thượng mạn rất là uổng, mà nhiều vị bị lắm. Cái mà tăng thượng mạn, chứng được một ít mà đã tưởng mình xong, nhiều lắm từ xưa tới nay trong suốt lịch sử của đạo Phật, nhất là bên Thiền tông. Mà đó cũng là lý do mà các vị thiền sư cứ sinh lên sinh xuống hoài. Không biết tôi có kể chuyện về ông Tô Đông Pha chưa kìa?

[57:46]Có chưa? Ngũ Tổ Sư Giới kể chưa? Hả? Chưa hả? Chưa. Thì trước kia có một vị gọi là Ngũ Tổ Sư Giới. Cái núi này núi tên Ngũ Tổ, chùa Ngũ Tổ, còn cái vị thiền sư đó tên là Sư Giới, cái chữ đầu là Sư, nên cái Sư này nó không phải là mạo từ mà cái Sư này là cái họ, còn cái hai cái tên là Sư Giới. Rồi nếu mình nói nữa thì ông Sư Sư Giới thì Sư này mới là mạo từ. Thì ngài đạt được cái mức độ ngộ trong Thiền tông rất là đặc biệt, sâu sắc. Nhiều vị thiền sư tới gặp ngài đối đáp qua lại không lại, cái trí tuệ của ngài sắc bén như vậy, phải gọi là ngài là long tượng của một đời cái thời đó, Ngũ Tổ Sư Giới.

[58:33]Tới chừng ngài chết thì ngài đầu thai lại làm ông Tô Đông Pha. Quý thầy biết chuyện ông Tô Đông Pha? Ổng mấy vợ? Chưa tới tám bà. Thì nhiều người ngạc nhiên lắm, nhiều người nói tại sao một vị thiền sư đời trước lẫy lừng như vậy mà đời sau tái sinh làm một ông quan, thi ca lãng mạn, quan trường lận đận khi thăng khi giáng đủ điều, học Phật thì rất là sâu sắc, mà có tới bảy bà vợ? Câu chuyện kể như vậy. Mà ngài là bạn của thiền sư Phật Ấn, Liễu Nguyên Phật Ấn. Đó, nhiều người họ thắc mắc hoài và bên Thiền tông không trả lời câu này, luôn luôn tránh né. Còn bên Tịnh Độ tông thì luôn luôn lấy chuyện này ra để giễu cợt.

[59:19]Bên Tịnh Độ tông thì nói: "À, chúng tôi niệm Phật thuần thục khi chết sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc không có thối lui, ở đó học với Phật A Di Đà cho tới ngày nào thành Phật, chứng đạo gì đó, chứ không như bên các ông, một thiền sư lừng lẫy như thế này mà qua đời sau trở thành một cái người cái mức độ thấp hơn, mức độ tâm chứng thấp hơn, làm người cư sĩ, lận đận hơn, rơi vào tình trường đồ mệt mỏi hơn." Họ hay công kích như vậy. Còn bên Thiền tông thì tôi không nghe các vị khác trả lời. Khi mà mình lắng nghe hai bên nói chuyện nhau thì bên đây mình nghe bên đây công kích mà không nghe bên đây trả lời thì mình không biết sao.

[1:00:03]Sở dĩ mà biết Tô Đông Pha là Ngũ Tổ Sư Giới là vì có một cái chuyện lần đó ở cái vùng đó đó có ba người đêm đó cùng nằm mơ thấy Ngũ Tổ Sư Giới tới thăm. Thì ba người đó cùng tới chỗ đó chờ thì gặp ông Tô Đông Pha tới. Ba người cùng kể cái giấc mơ đó ra, hợp nhau, thì ông Tô Đông Pha ổng cũng tính ra đó thì ổng 49 tuổi mà Ngũ Tổ Sư Giới mất được 50 năm, ăn khớp. Đồng thời là ổng cũng nói là hồi ổng bảy, tám tuổi ổng thường nằm mơ thấy ổng là tăng ở cái chùa của Ngũ Tổ Sư Giới đã từng ở. Nghĩa là nhiều điều ăn khớp, chuyện được ghi lại nên người ta kết luận như vậy và bên Tịnh Độ tông hay giễu cợt điều đó.

[1:00:45]Thì chúng ta thấy á các mức độ thiền định hay các mức độ quả chứng nó như thế nào mới là tột cao để không bị thối lui thì chúng ta không biết. Mà chúng ta thấy các thiền sư thời đó tâm các ngài thanh thản, tự tại, thiền ngữ sắc bén, vậy mà rơi vào cái lỗi tăng thượng mạn gì đó, tưởng mình đã là bằng Phật, bằng Tổ gì đó, để rồi qua kiếp sau bị quả báo là trở lại làm một ông quan lận đận trong tình trường và quan trường như Tô Đông Pha. Nhưng mà sau này lớn về già chút thì ông viết nhiều bài về Phật pháp hay lắm. Do kiến giải đời xưa từng là thiền sư nên nhiều bài của ông về Phật pháp tuyệt vời, cũng độc đáo.

[1:01:30]Giờ có nhiều cái người cư sĩ giỏi ghê lắm. Nhiều người cư sĩ mà tâm linh còn giỏi hơn quý thầy nữa. Tôi đã từng gặp. Mình phải biết người này từng là tăng ở kiếp trước. Nhưng mà chỉ có cái là mắc cái lỗi tăng thượng mạn, là chứng một ít mà tưởng rằng đã nhiều. Nên bây giờ không được làm tăng nữa. Quý thầy phải nhớ được làm tăng là một cái phước. Mình mất phước là rớt ra ngoài liền, hoặc là rớt ra ngay trong kiếp này, hoặc là rớt ra ngay trong kiếp sau. Nên khi được làm tăng phải ráng giữ gìn cái phước của mình, nhất là đừng bao giờ thấy mình là cao, thấy mình là hay, lúc nào cũng nghĩ mình còn thấp, còn dở.

[1:02:10]Vậy đó mà làm tăng được hoài. Kiếp sau cũng còn tiếp tục làm tăng. Còn nếu đời này mà mình có cái gì đó kiêu mạn, thấy mình hơn, hoặc đời này gãy, hoặc đời sau không được làm tăng nữa, rất là uổng. Như tôi thấy bản thân tôi cũng vậy, tôi rất là lo sợ. Thì thường lúc nào mình cũng cũng tu ba cái tâm căn bản. Quý thầy nhớ ba tâm căn bản không? Nhất là gì? Hai? Ba? Thì tôi cũng vậy. Thì những điều mà tôi nói với quý thầy thì tôi cũng ráng hết sức là thực hành. Như cái tâm khiêm hạ vậy, lúc nào cũng cố gắng thấy mình là là dở, là kém. Vậy mà không dễ. Như trường hợp bây giờ tôi gặp các cư sĩ bày tỏ cái lòng

[1:02:58]hâm mộ tôi, tôi không động tâm, tôi thấy bình thường. Thì mình lúc nào cũng ráng giữ. Hay gặp như quý thầy là học trò của tôi thì quý thầy có cái tôn trọng tôi thì tôi cũng thấy bình thường, thì mình không động tâm. Nhưng mà có khi trường hợp tôi gặp quý thầy nào đó, những thầy nào đó nhiều khi tuổi đời lớn hơn tôi, tuổi đạo lớn hơn tôi mà vẫn kính phục tôi, tôi thấy bản ngã mình tăng lên, tôi thấy mình xuất hiện kiêu mạn liền. Nó sâu kín xuất hiện từ từ. Tại vì trường hợp nó đặc biệt, phải không? Đó, như quý thầy tôn trọng tôi vì quý thầy đi sau tôi, học với tôi nên mình thấy nó bình thường. Nhưng mà trường hợp cái người đi trước mình mà kính

[1:03:42]phục mình, tự nhiên mình thấy mình ngon liền. Những cái đó nó nó thầm kín ghê gớm lắm. Mà lúc đó, nếu mà không có Phật gia hộ, mình không vượt qua nổi cái kiêu mạn, cái tự hào này, và một ngày nào đó sẽ gãy liền, một ngày nào đó sự nghiệp tu hành gãy liền. Đây là điều rất là đáng sợ. Cho nên trong cái việc tu này chúng ta không bao giờ dám chủ quan với tất cả những điều gì mình đã biết, chỉ nhớ mình đang còn tưởng tri. Mình lúc nào cũng cầu cái sự gia hộ của chư Phật để giữ một đời tu hành cho nó chính chắn, sâu sắc, ổn định. Bây giờ chúng ta nghe nói tới cái khái niệm sở kiến, sở văn. Khi một vị tỳ kheo mà ít gần gũi các bậc Thánh thì tưởng tri về sở kiến, sở văn.

[1:04:33]Sở kiến, sở văn là gì? Hả? Thực ra sở kiến là thấy, văn là nghe. Nhưng cả hai này gộp lại đều là có nghĩa là cái này, là cái gì? Knowledge. Kiến thức. Những điều mình đã học được, sở kiến, sở văn có nghĩa là kiến thức. Mình nói tiếng Tây, tiếng u đồ chút cho nó vui. Thì thường á người phàm phu á, chủ quan thì luôn luôn cho những điều gì mình đã biết là là đúng rồi. Đó gọi là tưởng tri, không thấy hết về nó. Chỉ có những vị nào mà tinh tấn tu tập, chân thành tu tập, khiêm tốn tu tập, mình mà đã biết được những cái hiểu biết của mình nào giờ coi vậy chớ không có chắc. Chắc lúc nào? Nên dễ dàng thoát ra khỏi những thành kiến.

[1:05:31]Còn người cố chấp tưởng rằng cái hiểu mình hiểu biết là đúng, ai nói khác là sai, là chống liền thì người đó là cố chấp và đầy thành kiến. Người này không thể tiến đạo được. Nên cái người hiểu biết á, cái người mà gọi là được cái thắng tri á là chân thành tu tập á, đối với những điều mình đã hiểu biết luôn luôn có sự dè dặt. Một ngày nào đó mình sẽ bất ngờ phát hiện nó là sai. Đây là điều ghê gớm như vậy. Mà người nào có cái tâm chờ đợi điều đó, đó là người thắng tri, hiểu được những cái điều mình đã hiểu là không chắc ăn gì hết. Chúng ta thấy như từ cái thời mà khoa học của Newton mà bước qua cái thời khoa

[1:06:12]học của Einstein là một bước thay đổi rất là rất là đột ngột, kỳ lạ. Nên ban đầu ông Einstein ổng đưa ra cái thuyết tương đối, nhiều người không hiểu, chống đối ổng, nói ổng sai nữa. Nhưng mãi đến bây giờ thì cái thuyết tương đối của Einstein là nền tảng vững chắc cho bao nhiêu cái kỹ thuật không gian, cái việc bắn tên lửa đi vào quỹ đạo cũng phải dựa vào những cái thuyết của tương đối của Einstein. Vì nó quá đúng! Nhưng hồi ông mới đưa ra, người ta chống và nói ổng sai. Vì ta nghĩ rằng cái điều người ta đã hiểu biết trước đó là đúng, đúng không thể thay đổi được, nhưng không ngờ nó vẫn sai. Nên vì vậy, do cái kinh nghiệm đó thì chúng ta thấy cũng vậy,

[1:06:57]những điều chúng ta hiểu biết được trong cuộc đời, hiểu biết được trong Phật pháp, đừng bao giờ mình tin tuyệt đối về nó, hãy chừa cho nó một cái khoảng trống để rút lui. Lúc nào đó, bất ngờ mình phát hiện điều mình hiểu nào giờ trật lất hết, trật lất hết. Hiểu như vậy dè dặt. Mình hiểu về Phật pháp, hiểu về con người. Ngay cả có nhiều cái giáo lý, nhiều cái pháp môn mình thấy nó quá tuyệt vời, coi chừng năm năm sau mình mới phát hiện nó là tà kiến. Cái đó mới đau. Có những pháp môn mà mình đem một đời mình tôn thờ, một ngày nào đó giật mình nhìn ra nó là tà kiến. Rất là nguy hiểm. Đó, những cái đối với cái sở kiến, sở văn là hết sức là dè dặt, cẩn thận.

[1:07:45]Cũng vậy, những điều mà quý thầy, quý Phật tử nghe tôi nói nãy giờ là thuộc về sở kiến, sở văn, phải chừa một khoảng để rút lui. Coi chừng năm năm sau phát ngờ: "Ơ, ông đó hồi đó ổng nói bậy." Thì lúc đó mình không hụt hẫng, không hụt hẫng. Phải cẩn thận hết mọi điều là vậy đó. Ai nói gì nói, mình tôn trọng, nghe hợp lý mình chấp nhận, nhưng mà trong tận cùng phải luôn luôn dè chừng một điều: lúc nào đó phải có một cái phát hiện gì mới, mới thấy rằng điều này vẫn còn nông cạn, chưa phải thật sự là sâu sắc. Cái người mà hiểu biết điều đó là vậy. Nên cái bài mà Phật dạy chúng ta ngày hôm nay siêu việt,

[1:08:24]nói thì gọn mà phân tích ra không cùng cái bài Pháp Môn Căn Bản này. Giữa cái tưởng tri và thắng tri này, đem hai cái này đối chiếu lại toàn bộ với mọi cái vấn đề khác trong đạo lý, chúng ta thấy nó quá mênh mông, vĩ đại. Rồi bây giờ có khái niệm nữa là đồng nhất và sai biệt. Thì người phàm phu á thấy cái gì mà giống là giống, cái gì khác là khác. Nhưng một vị Thánh thì không thấy như vậy, không thấy như vậy. Coi chừng ở trong cái khác biệt nó có cái giống nhau, mà coi chừng trong cái giống nhau nó có điều khác biệt ở trỏng. Quý thầy đồng ý điều này không? Đồng ý không? Phải không? Chưa chắc rằng cái khác nhau là đã khác hoàn toàn, vẫn còn có những điểm giống.

[1:09:09]Hoặc là những cái giống thiệt giống coi chừng khác tùm lum trỏng. Ví dụ: Ví dụ bây giờ mình nói Thiên Chúa giáo với đạo Phật là khác, phải không? Nhưng mình tưởng khác hết, không có, coi chừng trong đó nhiều giáo lý giống nhau lắm. Hoặc bây giờ mình nói là: ở bên đây chùa này đạo Phật, chùa kia đạo Phật là giống nhau, giống hết gì? Hổng chắc đâu. Tới chừng tìm hiểu ra trỏng, tu khác nhau tùm lum trỏng á. Nên cuộc đời nó vậy, nó là những cái hai mặt khác biệt rất là nhiều giữa cái khác và cái giống nhau. Nó không có đơn giản như là mình hiểu, như là mình tưởng tri. Nhưng mình phải thắng tri về nó.

[1:09:44]Trong Trung Quán Luận á, ngài Long Thọ ngài nói về những cái điều mà mình kết luận một chiều không được, ngài nói hay lắm, ngài nói hay. Như trong cái Bát Bất đầu tiên, ngài nói mọi vật trên đời bất sinh bất diệt.

[1:10:00]Thường thường á chúng ta đều hiểu mọi vật trên đời đều là có sinh diệt, là có bắt đầu xuất hiện và có tới lúc biến mất, chấm dứt. Ai cũng hiểu như vậy hết. Phải không? Đó là khái niệm, quan niệm thông thường. Nói con người sẽ sinh ra, rồi một ngày nào đó sẽ chết đi. Hoặc là mọi vật như cái quạt máy đã được chế ra, ngày nào đó nó sẽ hư, tàn hoại, quăng mất. Đó là sinh diệt, lẽ vô thường của cuộc đời. Nhưng mà ngài Long Thọ ngài nói: mọi việc trên đời không hề sinh ra và không hề mất đi. Như vậy cái hiểu biết trước rằng mọi việc trên đời đều sinh diệt, giờ so sánh với cái hiểu biết mới là không sinh không diệt, mình nghe ngạc nhiên.

[1:10:44]Rất là lạ, nhưng mà ngài lý luận cực kỳ hợp lý, không thể chối cãi được. Ví dụ bây giờ mình thấy ở đằng sau chùa mình có cái cây đu đủ có cái trái đu đủ chín. Thì từ lúc mà nó mọc ra là nó gì? Nó là cái trái đó là nó xanh, phải không? Vào một buổi trưa hè oi bức nóng nực, đợi cả chùa đi ngủ hết, mình leo lên mình hái xuống đem vô ăn thì nó là nó là diệt. Thì mình hiểu như vậy, trên mọi đời đều có sinh có diệt hết, nhưng mà ngài Long Thọ ngài chứng minh lát nó chưa hề sinh ra cũng như không bao giờ mất đi. Ghê gớm như vậy. Tuy nhiên hôm nay chúng ta không có thì giờ để giải thích cái câu nói của ngài Long Thọ.

[1:11:28]Sau này không biết khi nào có duyên hay không. Tôi thấy thấy không hy vọng là có duyên, vì còn mấy môn nữa làm hết thì không thì giờ với quý thầy nữa. Khi nào mà có duyên á, tôi sẽ giảng cái Trung Quán Luận cho quý thầy thấy tại sao ngài nói là trái đu đủ nó mọc ra từ từ á mà ngài nói nó không có sinh ra. Rồi đợi cả chùa đi ngủ mình hái xuống mình ăn mà các ngài cũng nói nó không hề mất đi. Lúc đó là khi có cái duyên đó rồi mình sẽ sẽ bàn, chứng minh với nhau. Thôi bây giờ tạm thời mình thấy là có những cái điều như vậy. Nào giờ mình đã hiểu như vậy, mai mốt coi chừng cái mình đã hiểu là trật. Rất là lạ.

[1:12:06]Như ngài Long Thọ ngài nói mình đi thế này, đi mà không có gì để đi. Hôm trước tôi nói này chưa kìa? Ờ mình đi thì mình thấy là có đi nè, phải không? Đi rõ ràng đi qua đi lại. Vậy mà ngài chứng minh ngài nói lát là không có cái gì đi hết. Nghe chới với. Rồi ngài lý luận thế này: khi mà chưa đi thì dĩ nhiên là không có cái đi, phải không? Đồng ý không? Đồng ý. Đi rồi thì cũng không có cái đi. Phải không? Đồng ý chưa? Đồng ý chớ, phải không? Đi rồi mà, đâu còn có cái đi nữa. Và khi đang đi cũng không có cái đi.

[1:12:48]Đọc Trung Quán Luận tới đó ai cũng té ngửa. Sau này thì khi nào có duyên thì chúng ta sẽ trao đổi thêm về nó. Phải nói quá độc đáo mình không ngờ được là 600 năm sau Phật Niết bàn lại có một luận sư vĩ đại như vậy. Nói những điều nghe chừng như vô lý mà cực kỳ là hợp lý. Nói ngài cực kỳ siêu việt, ngài Long Thọ, một luận sư của Đại thừa. Ngài mở ra cả một cái hệ thống giáo lý Đại thừa mà vẫn trung thành với giáo lý Nguyên thủy. Nhiều người sau này hiểu Đại thừa một cách chống lại giáo lý Nguyên thủy, đó là hiểu sai. Riêng ngài Long Thọ, ngài mở ra giáo lý Đại thừa mà vẫn tôn trọng được giáo lý Nguyên thủy.

[1:13:33]Ngài Long Thọ rất là độc đáo. Rồi bây giờ chúng ta gặp cái khái niệm là sở tư niệm, sở tư niệm.

[1:13:44]Sở tư niệm là những điều mình suy nghĩ, những điều mình suy nghĩ. Thì những điều mình suy nghĩ thường là mình chấp vào nó và cho nó là đúng khi mình suy luận như vậy. Nhưng mà thực sự là nhiều khi nó sai và đa phần nó sai. Cho nên mình cẩn thận là đừng có tin vào những điều mình suy nghĩ. Cái cuối cùng là Niết bàn. Niết bàn là khái niệm tuyệt đối rồi phải không? Là cái mục đích cuối cùng mà người tu đạo Phật thường hướng về. Đó, đó là Niết bàn. Thì ở đây, cái người phàm phu đó nói về Niết bàn, hiểu về Niết bàn hiểu sai, hiểu trật bậy luôn, hiểu trật lất luôn, là do tưởng tri, không có chứng. Nói về Niết bàn là hư vô, hư không,

[1:14:29]thế này thế kia thì nói trật hết vì chỉ là tưởng tri. Chỉ có bậc Thánh chứng ngộ mới thắng tri Niết bàn. Người này vì chứng được Niết bàn nên biết Niết bàn như thế nào. Thì đây là chỗ chúng ta đừng có đụng tới cái Niết bàn. Chúng ta biết đây là cái cứu cánh giải thoát. Nhưng mà đừng bao giờ chủ quan, kiêu mạn cho mình đã hiểu nhiều về nó. Đừng có khi nói chuyện với huynh đệ mà bày đặt giảng về Phật tánh, chơn tâm đồ một cách quá đáng thì nó sẽ thành rơi vào lỗi kiêu mạn, khoe khoang. Vì sao? Vì mình mới chỉ là tưởng tri thôi, chưa có phải là thắng tri, chưa phải là liễu tri Niết bàn. Đây là điều mà Phật dặn, vì thời đó chắc có nhiều người cũng nổ,

[1:15:14]cũng đem Niết bàn ra giảng tùm lum, nên Phật mới giảng bài này để rầy. Thì chúng ta bây giờ cũng vậy, mình cũng đừng có đừng có đừng nổ nữa. Ở đây chúng ta sẽ gặp vài bài vài cái từ liên quan tới văn học Nikaya. Ví dụ cái từ là "đã đặt gánh nặng xuống", ha? Này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành đã thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, nghĩa là gì?

[1:15:48]Đã đặt gánh nặng xuống.

[1:15:51]Dạ thưa thầy, theo con hiểu thì thấy như đã đặt gánh nặng xuống tức là đã đạt được một cái trạng thái xả ly cái ngã chấp về thân, tâm... Biết ngay thế nào cũng tưởng tri. Đa số vậy đó, mình dựa vào câu đó cái mình hay lý luận, chứ mình không ngờ nó là một cảm giác có thật. Khi mà một người họ chứng đạo hay họ ngộ đạo, ngay lúc đó họ mình bây giờ nè, mình đang thấy cái thân mình tâm mình bình thường như vậy phải không? Nhưng mà nếu mà bất ngờ mình chứng đạo thử một cái, hay mình ngộ đạo thử một cái, tự nhiên mình thấy mình không có giống như vậy nữa, mà giống như nó mất tiêu luôn, nó nhẹ bổng như hư vô luôn.

[1:16:33]Mình mới hay: "À, từ trước tới giờ mình đeo cái thân tâm này nặng ngàn cân cơ". Nên các thiền sư hay nói câu là khi ngộ đạo rồi nói à "trút bỏ được gánh nặng ngàn cân", thì cái câu này nó không phải hàm cái ý lý luận, triết lý gì hết, mà hàm cái ý cảm giác có thật. Là khi một người ngộ đạo, tự nhiên họ rỗng toát ra một cái, họ thấy mất tiêu luôn cái thân tâm như hư vô luôn, mới hay là nào giờ là rất là nặng nề. Mà mình không biết, còn mình đang sống bình thường phàm phu, mình không hay rằng mình đang nặng nề cả ngàn cân đâu. Chỉ khi mà người ta bất ngờ mình chứng ngộ một cái mới hay là nào giờ mình đang trong trạng thái là ngàn cân, cảm giác nặng nề.

[1:17:11]Một cái cảm giác có thật và khi tan vỡ là cảm giác có thật. Nên khi nói "đã đặt gánh nặng xuống" hay là "trút bỏ được gánh nặng ngàn cân" là một cảm giác có thật của người chứng đạo, chứ mình không cần phải lý luận. Nên tôi đặt cái câu hỏi này để thử thầy cho vui thôi. Biết thế nào cũng tưởng tri, cũng lý luận à. Có một cái từ nữa: "Các việc nên làm đã được làm" là làm việc gì? Khi một vị chứng đạo nói rằng các việc nên làm đã được làm. Việc gì? Thì làm giới hạnh đã đã thuần thục phải không? Đạo đức đã viên mãn. Các bậc tầng bậc thiền định đã chứng nhập. Các kiết sử đã phá vỡ. Cái ngã chấp đã đã tiêu diệt.

[1:18:01]Đó là những việc cần phải làm đã làm xong. Mà làm những việc đó cực lắm, không phải dễ. Cho nên cái câu mà nói "những việc làm đã làm xong", cái câu nói đó vĩ đại lắm, vinh quang lắm mà không dễ nói. Nên thời Đức Phật có nhiều vị A-la-hán khi chứng đạo rồi, các ngài nói lên cái câu này là: "Ba minh ta chứng được, lời Phật dạy làm xong". Cái câu đó gọn nhưng mà vô cùng vĩ đại. Cả một đời tu hành, cả cái công đức vô lượng kiếp nào đó mới có thể gọi là "lời Phật dạy làm xong". Câu đó nói đơn giản chứ vĩ đại lắm, vinh quang lắm. Mình bây giờ mình không biết kiếp nào mình mới có thể thốt lên câu đó được:

[1:18:47]"Lời Phật dạy làm xong". Hi vọng, hi vọng là chúng ta có duyên với nhau ở đây, một kiếp nào đó mình có thể gặp nhau mà nghe nhau nói cái câu này: "Ba minh ta chứng được, lời Phật dạy làm xong". Còn kiếp này thôi ráng tu. Rồi ừm có cái từ là "không thấy các bậc Thánh", như là nói rằng có một Tỳ-kheo phàm phu, ít nghe, không được thấy các bậc Thánh. "Thấy" nghĩa là gì? Hả?

[1:19:21]Trong tiếng Anh nó là "see" là thấy đó, nhưng mà phải coi... Ví dụ như cái "come to see" là gì?

[1:19:30]Học tiếng Anh rồi.

[1:19:34]Đến thăm, "come to see" ờ đến thăm. Cho nên cái chữ "thấy" ở đây, cái tiếng Pāli với như chữ Nho hay là tiếng Anh nó giống nhau, là đến gặp gỡ, đến thăm hỏi, đến thưa hỏi, tới học hỏi. Cho nên người này không thấy bậc Thánh, tức là người này chưa gặp Thánh để học hỏi. Ha, nên cái từ vậy đó, là "không thấy các bậc Thánh" là không được thân cận, gần gũi để học hỏi với các bậc Thánh, mà chúng ta là phải phải như vậy. Nên có những từ phải giải thích. Hoặc cái từ là: "Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói, này các Tỳ-kheo." Thì "khéo tác ý" là gì? Nhiều người cứ quan niệm rằng tu theo đạo Phật là tâm phải giữ như hư vô.

[1:20:17]Quan niệm này sai. Cái đúng là thế nào? Đúng là tu theo đạo Phật là phải tác ý đúng lúc, từng tình huống, tùy tình huống mà có cái tác ý thích hợp, đó gọi là tu theo đạo Phật. Thường á, đa phần trong đời sống thường thì mình giữ tâm thanh tịnh, đó là tác ý đúng. Nhưng khi gặp một người khốn khổ, mình phải khởi tâm xót xa, đó là tác ý đúng. Khi gặp một vị Thánh, mình phải khởi tâm kính trọng, đó là tác ý đúng. Khi nghe giảng, mình phải có cái tác ý chăm chú lắng nghe, đối chiếu với cái mình đã hiểu, đối chiếu với phiền não tự thân, tìm cho ra cái sai cái đúng của mình, đối chiếu với lời dạy của vị thầy.

[1:21:00]Đó là tác ý đúng. Chứ không phải lúc nào cũng giữ tâm trơ trơ hư vô mà gọi là đúng. Nhớ giùm điều đó. Nhiều người cứ nói tu theo đạo Phật lúc nào cũng phải giữ tâm thanh tịnh, hiểu như vậy là sai. Nên ở đây Phật nói rất rõ: "Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói." Nhớ cái chữ khéo tác ý đó.

[1:21:24]Rồi cái chữ Tỳ-kheo hữu học, hữu là gì? Hữu là có, ở đây mình đừng phải dịch nghĩa là còn, còn phải học hỏi. Là vị này chưa chứng đạo, là chưa tự mình hiểu biết hết mọi điều, mà còn phải có những cái gút mắt không tự mình giải quyết được, phải đến gặp thầy, gặp các vị thánh để thưa hỏi, thì gọi là người này còn phải học. Cái chữ hữu học mình phải đừng dịch là có học mà là còn phải học, thì người này chưa tự mình giải quyết được cái chân lý, đạo lý. Ngược lại với hữu học là vô học chứ không phải là thất học nha, khác à. Thì vô học là không còn cần phải học nữa. Vì sao như vậy? Vì vị này đã chứng ngộ, tự có cái tuệ giải thoát.

[1:22:16]Nơi cái tuệ giải thoát này thì khi vị này gặp bất cứ tình huống nào đều trong tâm mình giải quyết sáng bén được hết, giải quyết, hiểu được nó hết, nên gọi là tuệ giải thoát. Sau này các thiền sư gọi là cái gì? Trí vô sư, là không cần thầy mà tự trong tâm mình phát sáng ra hết giải quyết được tất cả mọi đạo lý. Thì người này có cái trí vô sư hoặc là có cái tuệ giải thoát gọi là một vị A-la-hán vô học, không còn cần phải học nữa. Đó, chúng ta phân biệt hữu học và vô học là vậy. Học một từ nữa chúng ta nghe là: Vị này đã tận trừ hữu kiết sử.

[1:22:55]Hữu là gì?

[1:22:58]Chỗ này không phải là có đâu. Chữ hữu này đó nghĩa là cái cõi để mình sinh về hoặc là cái sức mạnh của nghiệp đưa mình đến tái sinh. Chữ hữu này là trong mười hai nhân duyên á. Ái sinh thủ, thủ sinh hữu, nhớ không? Thì đây là hữu này là của mười hai nhân duyên, hữu này là cái cõi để mình phải tái sinh tới hoặc là cái nghiệp lực thúc đẩy mình phải tái sinh. Còn kiết sử, kiết là kết nối tùm lum trong tâm, sử là sai sử, cái sức mạnh của những khuynh hướng ở trong tâm mình, những khuynh hướng xấu ở trong tâm mình, và những cái khuynh hướng xấu trong tâm này nó có mười cái là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến.

[1:23:41]Mười cái này sau này mình sẽ nói về nó. Thì cái mười kiết sử này nó là cái sức mạnh thúc đẩy mình đi vào tái sinh. Thì một vị Tỳ-kheo chứng A-la-hán là người đã tận trừ hữu kiết sử, là diệt sạch được cái kiết sử mà thúc đẩy mình đi tái sinh. Đó, đây là những cái từ của Nikaya mình biết qua một chút. Thì học cái bài kinh này thì chúng ta rút lại vài điều: Là chúng ta cố gắng khiêm tốn, ít nói, ít khoe để đừng bị kiêu mạn vì đó là thâm ý của Phật. Điều nữa là chúng ta cố gắng thực hành thuần thục các cái pháp của Phật dạy, ví dụ như là quán thân này là vô thường, hư giả như hồi nãy quý thầy đã nói

[1:24:28]được, thì mình phải thực hành sâu sắc để đạt được cái thắng tri chứ không còn là chỉ nói trên đầu môi chót lưỡi mà còn bị là tưởng tri. Đó, chúng ta thực hành thật sự. Rồi chúng ta cũng biết rằng đối với mọi điều mà mình đã học đã hiểu, luôn luôn dè dặt với nó, không bao giờ quả quyết một cách quyết liệt là điều mình đã biết đã học là thật sự là đúng, chừa một chỗ để rút lại. Rồi trong cái thực hành đó, chúng ta để ý thêm một điều mà tôi cũng thường hay nhắc, là cái công đức bí mật chi phối ở phía sau. Ví dụ như khi chúng ta quán cái thân này là vô thường, quán thân tứ đại này là vô thường, là hư giả

[1:25:12]thì phải hiểu rằng phải có công đức bí mật giúp đỡ phía sau chúng ta mới quán được. Nếu không có công đức, chúng ta sẽ không quán được. Nếu không có công đức á, khi mình ngồi thiền á, cái vọng tưởng nó dẫn mình đi, mình không nhớ được cái thân này là vô thường. Còn nếu mình có công đức, tự nhiên mình ngồi đó lúc nào mình cũng nhớ thân này là vô thường, nên từ từ cái chấp thân biến mất, từ từ tâm vào định dần dần. Chính cái công đức đã bí mật giúp cho tâm mình trụ lại nơi cái đề mục mà mình tu tập. Mà công đức là gì? Công đức thì nhiều vấn đề: Trước hết là chúng ta phải tôn kính Phật, tôn kính các bậc thánh, chúng ta phải thương

[1:25:57]yêu, giúp đỡ tất cả chúng sinh chung quanh mình, những huynh đệ chung quanh mình, chúng ta phải giữ tâm khiêm hạ thật là kỹ lưỡng, nguyện một đời tận tụy vì Phật pháp. Công đức nghĩa là thực hành ba chục bài tâm lý đạo đức. Rồi lần lần chúng ta còn sẽ học một số bài kinh Nikaya tới nữa, tôi sẽ cố gắng giới thiệu một số cũng như tôi sẽ tặng những bài kinh về Nikaya mà tôi đã giảng trước kia, tôi sẽ tặng để quý thầy tham khảo lại. Và cái cách học là vài ngày khi tôi về tôi soạn tôi chọn cái bài nào thích hợp để giảng á thì tôi sẽ gọi điện, quý thầy phải làm sao mà khi ngồi học trước đó quý thầy đã có một

[1:26:40]bài kinh trước mặt, đọc trước chứ không thể mà đến lớp mà chưa đọc trước bài kinh. Vì học Nikaya nó khác với những bài khác, những bài khác là tôi đến tôi giới thiệu từ đầu, nhưng mà riêng Nikaya, quý thầy phải có cái bài đó đọc trước rồi mới nghe giảng, vì nó khô khan và khó hiểu lắm. Phải chuyên sâu, phải quyết tâm mới học Nikaya được. Lần sau thì chúng ta sẽ thấy là hơn phân nửa cư sĩ không còn ngồi đây nữa. Nghe ngán rồi, nghe bữa nay là ớn rồi, không nghe nữa. Đúng không? Nghe bữa nay là nghe bài kinh Nikaya là ớn hồn rồi, khô khan quá. Nên phải là người quyết tâm lắm mới theo đuổi Nikaya

[1:27:22]mà học lâu dài được, chứ thường là mình bị ngán. Còn cái bài tập hôm nay là tôi ra đề là: Viết lại bài kinh cho dễ hiểu hơn với cách hành văn hiện nay.

[1:27:34]Không, cái bài kinh này ngắn lắm, có mấy trang à. Thì quý thầy sau khi mà đọc lại đọc tới đọc lui bài đó, rồi nghe lại cái băng nay tôi giảng cộng với cái mình đã ghi note, bắt đầu ngồi viết lại bài kinh viết theo, nghĩa là người khác họ đọc cái bài kinh này họ hiểu liền, họ dễ hiểu và họ có thể thích đến nỗi phải đem tụng luôn vì nó quá hay và quá dễ hiểu như vậy. Đó là quý thầy cố gắng viết lại bằng cái giọng văn ngày hôm nay. Là tại sao tôi cho cái bài này? Để cho quý thầy quen với cái khái niệm là đọc cái văn cổ như vậy mình phải hiểu ra cái văn mới như thế này liền để sau này mình nghiên cứu Nikaya cho nó dễ, là mình làm bài thứ nhất như vậy.

[1:28:12]Nếu mà chưa được tôi sẽ cho tiếp làm vài bài nữa cũng giống như vậy cho nó quen. Mà đây cũng là cái ước mơ của tôi. Ước mơ lúc nào đó hoặc là tôi rảnh hoặc là có vị nào mà phát tâm viết lại toàn bộ Nikaya theo lối hành văn mới bây giờ hết cho mọi người dễ nghiên cứu. Chứ còn như cái đoạn văn mà hồi nãy tôi đọc quý thầy nghe á gần giống như là Đại Bi Tâm Đà La Ni Thần Chú vậy, nghe không hiểu, phải người quyết tâm mới học được. Thôi thì giờ cũng đã hết, chúc quý thầy sức khỏe được an vui, tu học tiến bộ. Lúc nào đó bất ngờ tôi kiểm tra thiền định lại nữa nha, lại làm bài thiền định, bắt ngồi thiền lại không có được bỏ nha.

[1:29:05]Hò

[1:29:09]ơ...

[1:29:24]Cha mẹ nuôi con

[1:29:30]biển hồ lai láng.

[1:29:37]Con nuôi cha mẹ

[1:29:41]tính tháng tính ngày.

[1:29:48]Mẹ già như trái chín cây,

[1:29:56]sớm còn tối mất biết ngày, biết ngày rụng nao.

[1:30:22]Mẹ hiền trăm tuổi tóc sương, lo con tám chục năm trường chưa phai.

[1:30:34]Mẹ hiền trĩu nặng hai tay, nuôi con dẫu phải đắng cay ngậm ngùi.

[1:30:45]Mẹ hiền áo vá rách vai, cho con ấm ngọt lớn khôn bằng người.

[1:30:55]Mẹ hiền giây phút tử sinh, thương yêu ánh mắt dõi hình bóng con. Hò ơ...

[1:31:05]Mẹ hiền như nải

[1:31:09]chuối cau, xôi nếp

[1:31:46]mật, chén chè kẹo thơm. Mẹ hiền sáng tỏa bóng trăng, thiêng liêng êm dịu thiết tha trọn đời.

[1:32:02]Mẹ hiền suối biếc vô tư, mát trong trong lành lắng sâu ngọt ngào.

[1:32:13]Mẹ hiền như đóa hồng tươi, cho con sắc thắm rạng ngời nắng xuân.

[1:32:27]Hò ơ...

[1:32:37]Nước sông kia tưới ruộng lúa này, hạt thóc nhỏ có cấy mới lên.

[1:32:48]Từ phàm phu cho đến thánh hiền, hiếu ân cha mẹ mới nên, mới nên thân này.

[1:33:06]Hò ơ...