[0:09]Quý thầy đã nghe cái chữ tám muôn tế hạnh ở đâu chưa? Hả? Ở đâu? Trong những bài kinh tụng phải không? Rồi nói chữ ba nghìn oai nghi, tám muôn tế hạnh là nói cho ai?
[0:27]Ai? Cho Phật, cho chư đại Bồ Tát, cho các vị thánh tăng. Ở đây, thì người tu chúng ta, chúng ta học hai điều: một là cái oai nghi bên ngoài, hai là cái đạo đức bên trong. Oai nghi thì chúng ta học mấy thiên? Trong luật. Hai mươi bốn thiên oai nghi. Vậy mà trong kinh diễn tả về cái oai nghi của chư thánh là ba nghìn oai nghi. Còn cái đạo đức mình học được hôm giờ học được bao nhiêu bài? Hai mấy ba chục. Vậy. Bài này nữa là ba chục. Vậy mà chư thánh thì tới tám muôn tế hạnh. Tám muôn là nhiêu? Muôn, một muôn là mười ngàn. Tám muôn là tám chục ngàn cái tế hạnh, cái đạo đức như vậy á. Cho nên tính ra là mình còn thua xa những vị thánh dữ lắm.
[1:23]Nên cái bài học này á là bài học chấm dứt cái môn tâm lý đạo đức, nhưng mà thật ra lại là khởi đầu của một cuộc đời tu hành. Mà cũng không phải khởi đầu của một cuộc đời tu hành, mà là khởi đầu của của nhiều kiếp tu hành sắp tới. Cái bài này, bài tám muôn tế hạnh này. Nên tôi cũng hơi ác. Nói là cái bài chấm dứt cái môn tưởng được nghỉ, không phải. Đây là cái bài để chúng ta mở cái cửa ngõ, được gợi ý để chúng ta bước vào một cái đoạn đường mới, một cuộc đời mới, một cuộc tu dưỡng mới còn vất vả hơn ba chục cái bài học vừa rồi nữa. Vừa rồi học có mỗi bài một môn, ba chục bài, còn một bài này nó gom luôn tám chục ngàn cái đề tài đạo đức để
[2:14]nói sắp tới cho mình phấn đấu hết một kiếp này và tám chục ngàn kiếp nữa. Hơi cực. Thật ra thì đó là cái ý thứ nhất. Cái ý thứ hai là chúng ta học bài này cũng hơi có tính cách chiêm ngưỡng để chúng ta hiểu thêm về oai nghi và cái đạo đức của chư thánh. Đó. Chứ sự thực thì chúng ta không làm nổi hết như vậy. Tuy nhiên, chúng ta học bài này rồi chúng ta cứ cố gắng ứng dụng từng chút từng chút, mình mới thấy được cái vĩ đại, cái cao siêu của một vị thánh trong Phật pháp. Các vị thánh cũng đều như vậy. Bây giờ chúng ta nói cái oai nghi trước. Oai là oai đức, nghi là cái dung nghi, phải không, là mình dịch theo từ đó.
[3:02]Oai nghi tức là những cái cử chỉ ở bên ngoài mà những cử chỉ đó nó tạo thành, nó thể hiện được cái oai đức, cái sự đẹp đẽ, cái thanh thản của người tu hành.
[3:20]Chúng ta học hai mươi bốn thiên oai nghi, cũng dặn chúng ta điều này điều kia, nhưng mà khi mà diễn tả về cái oai nghi của một vị thánh chúng ta được nghe nói tới ba ngàn. Như vậy là ở đâu ra? Có bao giờ chúng ta nghe liệt kê từng cái oai nghi từng oai nghi để thành ba ngàn chưa? Chưa, phải không? Nên ở đây nó là trí tuệ tự xét tự biết để mình hiểu cái chữ ba nghìn oai nghi, chứ không phải là được liệt kê ở một cái văn bản nào hết. Mà chúng ta hiểu là thế này: chúng ta hiểu là với một cái nội tâm thanh tịnh, sáng suốt thì cái cử chỉ chúng ta được kiểm soát rất chặt chẽ. "Xin vui lòng đừng hút thuốc."
[4:05]Là cư sĩ chứ không phải quý thầy. Chúng ta kiểm soát cái oai nghi cử chỉ rất là kỹ lưỡng. Mà các oai nghi cử chỉ đó đó, tự nó được kiểm soát để tạo thành cái gì thanh tịnh, đĩnh đạc, đẹp đẽ. Nên mình nói, người tu mình coi vậy chứ cái vấn đề này vẫn là cái vấn đề tồn tại là mỹ thuật, mà nói xa hơn là nghệ thuật á. Thực ra những cái nghệ thuật này là do trí tuệ mà có. Do trí tuệ mà có những điều này. Cái người, ví dụ một người nghệ sĩ, họ nghiên cứu về mỹ thuật và nghệ thuật, chưa hẳn là họ là người có thiền định, có trí tuệ. Tuy họ cũng sâu sắc, vì việc sáng tạo đòi hỏi sâu sắc. Cái nghệ thuật á, cái yếu tố của nghệ thuật thì ở đây chúng ta không có
[4:56]giải thích, tôi sẽ giải thích cái này trong đề tài giảng cho cư sĩ. Ở đây thì mình chưa có dịp giải thích, nếu mai mốt có dịp thì chúng ta cũng nói qua. Nó phải có cái là cảm xúc, sáng tạo, và trong đó nó có cái mỹ thuật, cái đẹp ở trong đó, cái đẹp, cái hay ở trong đó. Chính cái đẹp, cái hay nó làm mình cảm xúc và thành sáng tạo, nên những người nghệ sĩ mà có sáng tạo thì họ cũng đều có cái trí tuệ gì đó ở trong đó, một phần. Tuy nhiên, chưa hẳn họ là người đạt được cái trí tuệ thiền định thanh tịnh. Còn một người mà đạt được cái trí tuệ thiền định thanh tịnh, luôn luôn họ có cái biểu hiện, khả năng về mỹ thuật và về nghệ thuật.
[5:44]Luôn luôn như vậy. Nên lý do tại sao mà các thiền sư hay làm thơ là vậy đó. Thì trong cái oai nghi cử chỉ cũng vậy, như bình thường á thì nếu mà tâm chúng ta không thanh tịnh á, chúng ta đi đứng là coi nó không có đẹp, nó xấu. Còn cái người mà đi đứng coi nó đẹp đẽ, nghiêm trang thì mình biết là người này nội tâm họ đàng hoàng, có đạo đức, có trí tuệ. Đó là cái oai nghi đó. Bao nhiêu oai nghi cũng đều do trí tuệ thiền định thanh tịnh mà làm. Ví dụ bây giờ là chúng ta đứng, một người tu mình đứng như vậy, mình tự mình biết mình đứng coi có đàng hoàng hay không. Thường á, mình không thể tự thấy mình,
[6:28]người ngoài họ đứng họ nhìn vô họ mới biết rằng mình đứng coi có đàng hoàng hay không. Nhưng mà khi tâm nó kiểm soát được thân thì nó biết được thân đang đứng một tư thế đàng hoàng hay không đàng hoàng, dù mình không nhìn trong gương. Ngồi cũng vậy, ví dụ như hoặc là mình đứng hai chân đều nhau như thế này, tự mình đang kiểm soát nó coi có đàng hoàng hay không, hoặc là mình đứng chân đưa ra chân đưa vào thế này, nhưng mình vẫn kiểm soát coi nó đang đàng hoàng hay không. Chứ còn mà tự nhiên đưa quá là coi chừng á, đưa quá là coi chừng á. Phải không? Hoặc là ngồi cũng vậy, ví dụ khi mà ngồi xổm đi, bình thường là chúng ta ngồi,
[7:02]ví dụ như mình ngồi xổm á, mà có kiểm soát nó vẫn khác ha. Có những trường hợp mình ngồi xổm ví dụ mình ngồi thế này, nhưng mà lúc đó mình đang kiểm soát thì nhìn vô vẫn thấy là tâm đang cảnh giác cái thân, chứ không có phải là không kiểm soát, nó khác. Cho nên cũng giống nhau như vậy, cũng ngồi giống nhau, đi đứng giống nhau, mà người có cái tâm họ sáng, kiểm soát được thân thì nó khác. Như bước đi cũng vậy, từng bước đi mà mình nhìn qua cái mình biết người đó đã sáng hay chưa. Nên có nhiều người hỏi tôi làm sao biết một người tu tâm thanh tịnh chưa thanh tịnh, tôi nói: "Dễ lắm, không cần thần thánh thần thông gì hết á,
[7:37]cứ nhìn họ đi đứng chút xíu biết à." Vì mình nhìn thấy họ ngồi, họ đi, họ đứng mà thấy họ kiểm soát được thân họ thì biết người này thanh tịnh, dù họ không cố ý kiểm soát. Đây là cái lạ nha. Cái mà cố ý kiểm soát là đi ra ngọn rồi. Ở đây họ không cố ý kiểm soát, họ giữ một cái pháp môn đúng, tâm được định, từ trong cái định đó nó toát ra một cái trí tuệ kiểm soát thân một cách rất tự nhiên. Cái kiểm soát thân là cái ngọn của sự tu tập của thiền định chứ không phải là cái gốc nha. Ai mà cứ tưởng là làm gì biết cái đó là trật á. Ví dụ như họ niệm Phật, biết niệm Phật thôi, vậy mà trong cái định đó nó phát
[8:17]ra một cái trí tuệ kiểm soát được thân, nên vẫn chỉ chăm chú niệm Phật thôi, vậy mà từng bước đi là đĩnh đạc, đĩnh đạc, nhẹ nhàng, tự mình biết liền. Đó là cái kiểm soát về thân. Có một lần hồi tôi còn ở trong chúng, tôi nhìn thấy thầy tôi ổng lạy Phật đẹp quá. Tôi mới đem tôi nói với một vị thầy khác, nói: "Sao con thấy thầy con mỗi lần ổng lạy Phật đẹp quá?" Ông thầy này ổng cũng có trí tuệ nên ổng nói nha: "Đó là do nội tâm thanh tịnh. Cái người mà tâm thanh tịnh, đi cầu cũng đẹp nữa." Ổng nói đúng á. Vì cái người mà họ có trí tuệ họ giữ oai nghi, ở cái chỗ vắng người họ vẫn tự biết cái thân họ
[8:56]là ở trong cái cử chỉ đàng hoàng hay không đàng hoàng. Đó. Rồi ví dụ như có cái việc gì đó mình phải chạy, có việc gì đó gấp rút mình cũng phải chạy, cái người mà mất hết chánh niệm đâm đầu chạy nó khác, mà người có chánh niệm mà chạy khác. Đó ví dụ như quý thầy tự nhiên mình đang học ở đây, chợt nghe dưới nhà bếp la lên: "Cháy nhà!" thì mình đâu có ngồi học được nữa, phải đâm đầu mà chạy xuống phụ, phải không? Nhưng mà cứ lặng lẽ nhìn bao nhiêu người chạy thì biết người nào có tu, không có tu liền. Có người nào mà tự nhiên chợt nhớ cái bộ đồ mình phơi sát nhà bếp, đâm hất người ta, không còn thấy, tối mắt tối mũi mà chạy thì biết rồi.
[9:32]Còn cái người trong cái mà nhanh nhẹn đó họ vẫn có một cái gì nó ung dung, đĩnh đạc, kiểm soát thân, thì biết người này là tâm rất là khá, trong lúc vội vàng mà vẫn biết được toàn thân mình. Đó, nó khác. Hoặc là tôi nói ví dụ như leo cây. Trong giới luật thì không có cho một tỳ-kheo leo cây. Vì cái leo cây là cái tư thế khó mà đàng hoàng lắm, phải không? Quý thầy có leo cây chưa? Cũng có hết nè. Níu nhánh này, vắt qua nhánh kia, chân gác qua gác lại, bò lên trườn xuống coi nó kỳ lắm. Mà nhất là cái thời xưa mà quấn mấy cái y vòng vòng á, leo lên lỡ sẩy nó rớt xuống một cái hổng biết đường đâu mà nhảy xuống mà chụp lại, nó cũng rất là khổ.
[10:09]Cho nên Đức Phật không cho leo cây. Rồi Ngài cấm, có một lần vị tỳ-kheo ổng bị cọp rượt ổng không dám leo cây, cái cọp ăn thịt mất. Cái Phật cũng chế lại, không cho leo cây nhưng mà nếu trường hợp bất đắc dĩ thì cứ leo, đó, hổng sao. Nên có cái, mà ở đây ví dụ bây giờ là chúng ta có việc phải leo cây chứ không lẽ là mỗi chuyện cái mình phải đi thuê người bên ngoài làm, hay là gọi cư sĩ? Đâu có ai sẵn đó cho mình nhờ. Giờ hái dừa hay là chặt cái nhánh gì ở trên cây, thôi quý thầy cũng mặc sà lỏn leo lên làm luôn, chứ sao giờ? Nhưng mà cái người mà có kiểm soát thân nó vẫn khác cái người không kiểm soát được thân.
[10:47]Tức là người có oai nghi vẫn khác cái người không có oai nghi. Thì lúc cũng leo, cũng víu, cũng chuyền cành vậy đó, mà cái người mà tâm họ tỉnh giác, thanh tịnh họ vẫn leo trong cái gì nó ung dung, đĩnh đạc, nó đẹp đẽ. Còn người mà không thì vẫn khác liền. Đó. Đó là cái oai nghi á. Bây giờ qua tới cái tế oai nghi. Oai nghi mà trong cái sâu sắc á, quý thầy hình dung ra được cái tế oai nghi là gì không?
[11:19]Ai biết được khá hay. Tế oai nghi là gì?
[11:26]Chúng ta có tế hạnh, nhưng mà cũng có cái tế oai nghi. Ai biết? Dạ thưa thầy, theo con cái tế trong oai nghi là có nghĩa là mọi ý tưởng và hành động chúng ta đều kiểm soát được trước khi nói và trước khi làm.
[11:45]Cảm ơn thầy. Chưa phải, chưa phải. Cái đó đi qua đạo đức rồi. Quý thầy chưa kinh nghiệm lắm. Chưa kinh nghiệm. Tế oai nghi là những cái cử chỉ nho nhỏ, nho nhỏ rất nhỏ nhưng mình kiểm soát được. Ví dụ như ánh mắt nhìn. Như cái ánh mắt của một người mà họ thanh tịnh, họ đưa đôi mắt họ nhìn mình thì trong cái đó mình thấy họ nhìn đúng nơi đúng chỗ, vừa đủ vừa phải, chứ không có cái nhìn trừng trừng lom lom mà nhìn những chỗ không nên nhìn vân vân là không nên. Nên họ có cái gì nó bình thản, trầm tĩnh cái nhìn. Mà không phải mắt chớp lia chớp lịa hoặc ngó liếc ngó ngoe cũng không phải. Nên cái đôi mắt cái nhìn nó cũng có cái oai nghi của nó.
[12:31]Ví dụ như là mình nói chuyện với một người thì thường chúng ta nói chuyện mình vẫn phải nhìn nhau phải không? Nhưng mà đôi mắt nó có phát ra điện, đôi mắt của ai nó cũng phát ra cái điện. Thì mà hai người cứ nhìn nhau chăm chăm mà nói chuyện hoài lát chịu được không? Không được. Quý thầy có bao giờ nói chuyện với ai mà hai người cứ nhìn nhau lom lom vậy mà nói chuyện? Có chưa? Có không? Mà không được. Người đạo mình nhìn chứ người đời mình nhìn lom lom nói chuyện coi chừng người ta, ta cho ăn bạt tai, rồi coi nó kỳ lắm, vì nó vẫn có cái phản kháng của hai luồng điện đó. Nên mình kiểu như thoáng lên nhìn người ta chút xíu rồi cái đưa mắt nhìn
[13:05]qua chỗ khác, trong khi miệng thì vẫn nói bình thường câu chuyện gì đó. Đó là cái khéo giữ cái ánh mắt nhìn đó. Hoặc là nhìn những chỗ đáng nhìn, khi mình nói chuyện với người ta cái người ta chợt mở bóp tiền ra thấy người ta rút xấp tiền ra đưa mắt nhìn chỗ khác liền, chứ không phải là người ta mở bóp rút tiền ra cứ nhìn lom lom vô xấp tiền coi bao nhiêu. Đó là không có phải, không phải. Nên có những cái là đáng nhìn hay không đáng nhìn là như vậy. Còn có những trường hợp có những trường hợp mà ví dụ như có người nào đó họ cố ý họ nhìn mình thật sâu vào mắt mình, mà trong trường hợp nào đó mà mình không thể tránh,
[13:40]mình vẫn phải nhìn lại, mà mình không có quay đi chỗ khác được thì lúc đó làm sao? Ai biết?
[13:51]Có những trường hợp như vậy, tự nhiên có cái chuyện gì đó người ta cứ nhìn lom lom mắt mình mà mình không thể quay chỗ khác vì lý do gì, thì mình cứ nhìn lại. Nhưng mà lúc đó tâm phải thả rỗng và bằng tâm từ bi nhìn lại, thì lúc đó cái ánh mắt người ta cái tia điện nó chiếu vào thì bị cái mắt mình nó bao dung nó mở rộng ra nó không có phản kháng lại, nên người ta nhìn người ta không có khó chịu. Quý thầy thử làm, lúc nào đó có ai nhìn mình lom lom, mình nhìn lại nhưng mà với cái tâm thương yêu mở rộng, không có phản kháng, chứ nếu mình nhìn bình thường á hai cái tia nhìn nó chạm nhau nó thành giống như phản kháng.
[14:27]Đó là cái nhìn cũng là cái oai nghi, mà là tế oai nghi. Hoặc là cái nụ cười cũng vậy, cũng là cái oai nghi mà là tế oai nghi. Có những trường hợp mình chỉ nở nụ cười nhẹ là vừa đủ trong cái câu chuyện đó. Ví dụ câu chuyện họ chỉ đáng cười hai mà mình cười mười, ha hả ha hả lên thì nó mất oai nghi, nó quá đáng. Có những lúc vậy mình chỉ nhếch mép nhẹ, có những lúc mình cười, mỉm cười không thấy răng, có những lúc mình nở nụ cười tươi thấy răng, rồi có những lúc cười bật thành tiếng vài cái. Tức là mình biết cái mức độ vui của câu chuyện, của khung cảnh đó và mình tặng mọi người một nụ cười thích hợp lúc đó.
[15:08]Biết kìm chế, biết kiểm soát, chứ không có mất tự chủ trong cái vui câu chuyện vui đó. Ví dụ ai nói câu chuyện khôi hài, câu chuyện đó thường không có gì đáng, mình cứ ha hả ha hả lên thì là mất oai nghi, mất oai nghi. Nên nó vừa phải, phải biết kìm chế. Nhưng mà lúc người ta nói chuyện vui, mặt mình cứ lạnh lùng hình sự thì cũng trật luôn. Cho nên ở đây nó có cái gì nó vừa chừng, nó thích hợp với mọi người. Hoặc có những lúc vậy, có những lúc mình ví dụ như một người Phật tử họ đến chùa
[15:42]mà không phải nhiệm vụ của mình tiếp, nhưng mình cũng phải có một cái chào người ta, chào tương đối nào đó thể hiện là cái lòng từ bi của quý thầy đối chung với các Phật tử hết. Nên tuy đi ngang không phải người mình quen, không phải bổn phận mình tiếp, nhưng gặp người Phật tử mình cũng khẽ cúi đầu nhẹ, mỉm nụ cười nhè nhẹ chút xíu rồi đi qua luôn, chứ không phải là nhiều khi đi vô gặp quý thầy không phải quen cái thì lơ lơ luôn, coi như người xa lạ, đó là sai lầm lớn. Nhiều chùa bị cái này lắm, rất nhiều. Vô những cái chùa mà có chúng đông vậy, ông thầy đó mà không quen với mình, cư sĩ khổ tâm ông thầy đó mà không quen với mình ổng hổng thèm ngó hổng thèm chào,
[16:22]ổng nói chứ, vô lạnh lùng, nên buồn buồn cứ kiếm ông thầy quen mà nói chuyện riết. Thành ra trong chùa cứ bị chia phe chia phái là vậy đó. Đó là cái oai nghi về cái nụ cười. Rồi còn nhiều cái oai nghi những cái cử chỉ chút chút chút chút nữa. Ví dụ như mấy ngón tay, nó có cái oai nghi của nó nữa. Mình mà không kiểm soát mấy ngón tay nó cứ mò tầm bậy tầm bạ. Ngồi nói chuyện người ta chứ cứ thò nắm xé tờ giấy này, ngắt cái kia rồi. Nên có một lần tôi gặp một ông tài xế lái xe, ổng nói, ổng kia than, một ông tài xế khác than cái nệm của ổng mà lót băng người ta ngồi nó cứ bị rách hoài. Ổng nói: "Anh chưa kinh nghiệm.
[17:01]Hễ cái băng ghế của tôi có nệm mà nó rách chút xíu là tôi dán kín liền. Vì người ta ngồi kỳ lắm, người ta ngồi cái mân mân người ta mò mò cái cái nệm mút người ta mò mò người ta cứ ngồi suốt chuyến đi người ta ngắt cục này, ngắt cục kia. Bữa nay rách một chút thì ngày mai làm một cục, rồi ngày mốt là tan hoang cái nệm hết trơn." Nên thì nó buồn cái tay đó, mấy ngón tay nó buồn vậy đó, ngón tay không được kiểm soát. Mà thường chúng ta bị đó, nó vì nó tế quá đi nên thường cái sự kiểm soát mình mình kiểm soát cái thô, mình không kiểm soát hết được mấy ngón tay. Nếu mình không kiểm soát cái nó đi lang thang
[17:31]tầm bậy tầm bạ nhiều khi coi cũng kỳ lắm. Mà mình kiểm soát thì mình biết làm gì cho nó đúng. Tôi nói ví dụ như quý thầy vậy, cũng ngồi chống tay mà nghe Pháp, nhưng mà có người chống coi đẹp, có người chống coi kỳ lắm. Hễ có kiểm soát thì coi nó đẹp, mà không có kiểm soát coi nó kỳ. Tôi nói ví dụ mình chống tay mà nếu mình mà không kiểm soát, buông đời luôn. Còn mà mình có kiểm soát á, thí dụ mình chống tay nhưng mà cái chống nó có kiểm soát thấy nó có gì chăm chú, có cái ung dung ở trong, có cái tỉnh táo, đàng hoàng ở trỏng, chứ nó khác cái người mà không kiểm soát. Đó là oai nghi. Nó từng chút từng chút những điểm rất là nhỏ,
[18:12]những điểm rất là nhỏ vậy đều là oai nghi hết. Thì như vậy quý thầy nhắm nếu đếm hết tất cả là được bao nhiêu oai nghi? Mấy ngàn? Mấy ngàn? Cho nên con số 3.000 cũng chỉ là con số tượng trưng thôi, chứ không có đếm được, phải không, không đếm được. Từng chút từng chút, từng cái lời ăn, từng tiếng nói, ngay cả cái âm thanh gọi là cái nghệ thuật cũng vậy nữa. Cái người mà họ có cái tỉnh giác kiểm soát á, họ điều chỉnh được cái âm thanh của mình vừa chừng vừa đủ nghe, êm ái, vừa đủ có cái gì đó, có thanh thản. Còn nếu mình nghe cái âm thanh một người mà mình thấy nó có những cái nốt cao thấp gì đó mà nó không có phù
[18:58]hợp hài hòa trong cái giọng nói của họ thì mình biết người này cũng chưa điều chỉnh được âm thanh của họ, chưa kiểm soát được tới cái âm thanh đó. Nên âm thanh cũng là một cái oai nghi. Mình chưa biết nói cái gì ở trỏng nhưng mà âm thanh cũng là một cái oai nghi đó. Ngoài cái ánh mắt, nụ cười, cử chỉ ngón tay ngón chân, xoay người nhìn ngó cũng đều là oai nghi, thì giọng nói là một cái oai nghi rất là tế. Nghe cái âm thanh một người đánh giá được cái đạo đức của người nào cỡ này. Ví dụ người nhìn bên ngoài mình thấy đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi vậy á, nhưng mà nếu trong âm thanh mình nghe những tiếng
[19:38]mà nốt dấu huyền, những tiếng dấu sắc, những tiếng dấu nặng, những tiếng dấu ngang, hỏi, ngã mà mình nghe nó không có phối hợp cân đối, một cái chỏi quá, một cái nó quá nó bạt hải quá thì biết người này đạo đức chưa kỹ, coi vậy chứ chưa kiểm soát được tâm và thân mình lắm. Nên giọng nói cũng là một oai nghi quan trọng. Nghe cái người nào mà giọng nói hay, hay mà hay đàng hoàng chứ đừng hay mà làm điệu, thì cũng là người rất là tốt. Nên ở đây có oai nghi 3.000 oai nghi là cái gì nó chân thật, từ cái nội tâm thanh tịnh nó toát ra, chứ không phải là làm dáng làm điệu. Nên tôi nhắc trước cái sợ quý thầy học xong coi 3.000 oai nghi bắt đầu khi
[20:17]bước ra khỏi lớp mà đi ẻo lả rồi kiểu rớt này nọ kia thì hỏi tại sao, ai? Nói: "Thầy Chân Quang ổng dạy vậy." Khổ tôi, tội nghiệp tôi. Nên kiểm soát tâm mình thôi, tự nhiên thân nó đẹp à nha. Chứ bây giờ mà cứ lo 3.000 oai nghi cái đi mà yểu điệu rồi thục nữ là không trúng. Bây giờ mình nói qua tới tám muôn tế hạnh. Thì tám muôn cũng vậy, nó tượng trưng cho cái con số rất là nhiều, rất là lớn mà khó thể đếm một cách cụ thể được, ha. Mà đó là đạo đức, cái đạo đức. Nó do cái tâm của một người rất là thanh tịnh, rất là sáng suốt, một cái trí tuệ vô cùng sắc bén kiểm soát được cái chấp ngã, cho nên phát thành vô lượng cái tế hạnh.
[21:06]Chúng ta phải nhớ. Cái quan trọng là cái này, chấp ngã. Một cái trí tuệ vô cùng sắc bén kiểm soát được chấp ngã thì mới tạo thành tế hạnh. Chữ "tế" có nghĩa là gì? Tế là nhỏ, phải không? Đó. Thì tế hạnh là những cái đạo đức rất là sâu sắc, nhỏ nhặt. Mà ở đây nè, chúng ta muốn hiểu thế nào là tế hạnh á, mình so sánh một chút với cái chữ là cư xử tế nhị. Quý thầy có nghe chữ cư xử tế nhị ở ngoài đời chưa? Nghe chưa? Cư xử tế nhị, quý thầy đã gặp ai gọi là người cư xử tế nhị trong cuộc đời chưa? Đã tiếp xúc với người như vậy chưa? Cư xử tế nhị. Cái người mà cư xử tế nhị á thì nó có những điểm thế này:
[21:57]Thứ nhất á là họ sáng ý lắm. Trong mỗi tình huống này họ đoán được tâm trạng của những người trước mặt mình và họ biết phải làm cái gì để không làm buồn lòng người khác. Họ biết như vậy, họ biết tinh tế lắm. Cái mức độ tinh tế nhiều chừng nào thì càng gọi là họ tế nhị chừng nấy. Và trong cuộc sống, cái tế nhị này với cái tế hạnh nó hơi khác nhau một chút nha. Lát rồi mình từ từ mình phân biệt. Cái tế nhị thì nó thuộc về cái cư xử, cái lịch sự mà không biết bên trong họ có đạo đức hay không. Chừng nào bên trong họ có đạo đức á thì mình gọi là tế hạnh. Còn nếu mà bên trong không có đạo đức thì mình
[22:38]chỉ gọi là lịch sự, văn minh, văn hóa thôi. Tuy nhiên, cái người mà tế nhị cũng đã là hay lắm rồi. Ở gần cái người tế nhị mình cũng dễ thở lắm, tại họ khéo lắm, họ khéo mà sâu sắc họ đoán được ý mình và không làm cái điều gì để mình buồn, và có thể đem cho mình những cái niềm vui bất ngờ. Cái người tế nhị. Nên dù chúng ta chưa đạt được cái tế hạnh, mình cũng phải ráng cư xử tế nhị với nhau trong cuộc sống này. Cái người cư xử tế nhị á họ nhận ra từng chút từng chút nơi con người mình và biết cái cách ứng xử thích hợp. Tôi nói ví dụ, ví dụ bây giờ khi mình đóng cửa phòng là nên đóng nhẹ hay đóng mạnh?
[23:22]Đóng nhẹ, phải không? Thì cái đó thuộc về oai nghi hay là đạo đức? Oai nghi. Tức là đóng cửa phòng, một người tu khi đóng cửa phòng cũng phải đóng một cách nhẹ nhàng, đó là oai nghi. Nhưng trong trường hợp nó thành đạo đức là thế này: ví dụ như trong phòng đang có vài người ngồi nói chuyện với mình, chợt mình có việc gì phải bước ra, mở cửa bước ra rồi đóng lại. Lúc đó mình đóng nhẹ lại, cái đó là thuộc về tế nhị cư xử. Là sao? Vì nếu lúc đó trong phòng còn người mà mình đóng cái rầm là mình biểu lộ điều gì? Một hoặc là bực bội giận hờn, hoặc là coi thường người ta, phải không? Đó, nên mình đóng một cách nhẹ nhàng để biểu lộ cái sự tôn trọng
[24:02]những người còn lại trong phòng, thì cái đó gọi là tế nhị. Nó vừa là oai nghi, vừa là tế nhị vì có con người ở trỏng. Còn chỉ với cái phòng không thôi thì đóng nhẹ nhàng gọi là oai nghi. Phong tục của Việt Nam mình có cái tục lệ là khi có khách ở trong nhà thì mình không được làm điều gì? Quét nhà, đúng rồi. Vì lúc đó mà mình quét nhà thì nó biểu lộ cái ý nghĩa gì? Đuổi người ta. Quý thầy cũng rành quá.
[24:30]Nhưng mà trong trường hợp mình phải quét nhà thì sao? Ừ, xin phép. Có những trường hợp khi người ta đến chơi mà lúc á gặp nhằm quý thầy ở thiên khánh của mình, cho nên rác quăng tùm lum, ví dụ vậy, ngủ dậy chưa xếp mùng xếp mền, ví dụ vậy. Nói đùa vậy thôi chứ không đến nỗi. Rác lại cái mình phải lật đật: "Thôi xin phép quét sơ sơ chút", quét đừng để dấy bụi. Đó. Thì trong trường hợp đó mình vẫn biểu lộ được sự tôn trọng. Tại cái quan trọng của cái cư xử tế nhị là biểu lộ sự tôn trọng người khác. Cái tế hạnh cũng vậy đó, cư xử tế nhị là như vậy. Trong cái cư xử tế nhị này đó, có khi nó là cái chân thành
[25:10]của đạo đức, có khi nó chỉ là một cái đãi bôi lịch sự bên ngoài theo cái phong tục tập quán của cái đất nước đó. Nếu chúng ta sang Nhật, sang Mỹ, sang Pháp, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều cái lối cư xử tế nhị như vậy lắm. Người ta đối xử với nhau tế nhị lắm. Mà nếu mình lơ sơ mình cứ tưởng lầm là chết á. Mình tưởng lầm mình tưởng người ta tốt với mình là chết. Không phải, đó chỉ là cái văn hóa. Khi họ nói với mình ngọt ngào, có khi họ giúp đỡ mình cái gì đó, nhưng mà có khi không phải là tốt đâu, không phải là thương yêu gì mình đâu. Mà nó chỉ là cái văn hóa của họ thôi. Có một lần tôi gọi điện thoại tìm một cái anh đó,
[25:48]thì tôi gọi lộn số cái nó lọt vào một cơ quan của một người nước ngoài nào đó, một cái công ty nào của Mỹ. Khi tôi gọi thì ông kia ổng mới nói là: "Ông đã lộn số rồi, you are in wrong number". Thì tôi vẫn hỏi khăng khăng cái người đó, ổng nói lần nữa: "You are in wrong number". Cái tôi mới đọc cái số của tôi lên thì ổng nói: "À, ông sai rồi, không phải số này". Thì tôi mới lật đật tôi xin lỗi, nói: "À, I'm sorry. Excuse me". Thì ổng nói cái, ổng mới trả lời bằng cái câu này: "You are welcome", nghĩa là gì? Không phải. Việt Nam mình dịch ra là: "Không có chi". Khi mà tôi xin lỗi thì ổng nói là:
[26:27]"You are welcome", tức là không có chi. Nhưng mà nếu dịch cái chữ "You are welcome" này ra từng nghĩa đó, nghĩa là: "Ông vẫn được đón tiếp đàng hoàng". Nghĩa là mình đi lộn nhà người ta vô mà mình xin lỗi đi ra. Xin lỗi rồi để đi ra, ổng nói: "Không sao, ông vẫn được đón tiếp dù rằng ông đã đi lộn nhà". Cái nguyên cái chữ này nó nghĩa là vậy đó. Nhưng mà trong lòng người ta có phải vậy không? Không. Miệng nói chơi thôi, nó nói thành thói quen thôi, "You are welcome", tức là không có chi trong tâm họ. Nên người Việt Nam mình hiểu thật sự cái ý đó, mình dịch là: "Không có chi". Chứ nếu mình dịch từng chữ từng chữ ra là cái lời nói rất lịch sự:
[27:00]"À, không sao, ông vẫn được đón tiếp dù ông đã đi lộn vào chỗ chúng tôi", như vậy đó. Hoặc là có cái chữ này: khi mình nói mà người ta không nghe, cái người ta nói cái chữ này: "Pardon". Nghĩa là gì? Hả? Không phải lặp lại. Pardon đây là: "Xin tha thứ cho tôi". Nguyên cái chữ nó như vậy đó. Khi mình nói câu gì người ta nghe không được, mà người ta không có đổ thừa tại mình nói giọng trật, mà người ta chỉ nói là tại người ta dở quá, người ta không nghe được, người ta xin tha thứ rằng: "Tôi đã không nghe được, vui lòng lặp lại". Cái chữ "vui lòng lặp lại" là cái ý phía sau. Cái Pardon á, xin vui lòng lặp lại. Thật ra nó là:
[27:34]"Xin tha thứ cho tôi", mà Việt Nam mình hiểu cái nghĩa thật sự nó chỉ là: "Xin lặp lại". Nhưng mà họ dùng cái chữ nguyên nghĩa nó rất là đàng hoàng: "Xin tha thứ cho tôi". Mà đó là cái văn hóa của họ chứ trong lòng không phải vậy, trong lòng không có xin tha thứ tha thiếc gì hết trơn á. Ở đây chỉ là lặp lại đi. Tôi nhớ có một cái đoạn phim, có cái anh chàng đó ừ là quái tính á, ảnh đi lên cái xe buýt. Cái ảnh đang ngồi thì thấy có một người phụ nữ da đen có mang đi lên, ảnh mới đứng dậy, ảnh mời bà ngồi xuống, nhường cái ghế cho bà. Thì ảnh vừa đứng lên chưa kịp tức là một thằng da đen đâu bước vô ngồi cái ghế của ảnh liền. Cái ảnh mới đàng hoàng nói:
[28:10]"Thưa ông, ghế này không phải của ông". Cái anh chàng da đen đó ảnh chửi tục. Tục lên, cái anh này mới: "Pardon?". Là: "Xin lỗi ông, ông lặp lại". Thằng kia chửi thêm tiếng nữa, thì cái anh chàng này ảnh mới lấy kiếng ảnh ra, ảnh đưa cho bà kia cầm giùm, ảnh tháo đồ ra ảnh đưa bà kia cầm giùm, ảnh oánh anh này một trận giần mình luôn. Nghĩa là vậy đó, cái chữ "Pardon" này đâu có tha thứ tha thiếc gì với ai hết trơn á, chuẩn bị oánh lộn mà nó cũng lịch sự: "Pardon" vậy đó. Nên có nhiều cái gọi là tế nhị cư xử, kỳ thực nó chỉ là văn hóa thôi. Ví dụ như ở đây có ai người miền Bắc không? Đây có không?
[28:48]À, ví dụ như người miền Bắc chúng ta vậy, có nhiều cái văn hóa cũng vậy, có nhiều cái phong tục trong cái lời nói, trong cái cư xử cũng rất là lịch sự, tế nhị. Như khi mình bước vào nhà một người miền Bắc, lúc họ ăn cơm họ làm sao? Thì làm sao? Thì họ mời mình liền, phải không? Hoặc ví dụ như họ đang ăn cơm, mình bước vô cái họ mời liền: "Á, mời anh ăn cơm, mời chị ăn cơm ạ!". Nhưng mà cái nồi hết sạch cơm rồi. Họ cũng chẳng lấy thêm cái chén, cái đũa nào nhưng miệng vẫn mời. Mời để mời chứ không phải mời thiệt. Mời để mời thiệt. Mà tôi hồi nhỏ đó, tôi hay bị hố mấy cái đó. Vô nhà chơi đó: "Ăn cơm cháu!".
[29:26]Dạ, lật đật nhảy vô ngồi, ngồi rồi không thấy chén đâu hết trơn, cái họ phải họ lật đật họ chạy đi kiếm chén cho mình. Tới chừng lớn lên rồi mới hiểu: "Quái! Nó là một cái văn hóa gì đó". Cho nên sau này tôi hay chọc mấy người miền Bắc. Ở như chùa vậy, mấy người miền Bắc họ lên chơi, cái tôi mời ăn cơm cái họ cũng từ chối tại họ hiểu cái kiểu mời ăn cơm theo kiểu của họ. Tôi nói: "Không, thầy mời theo kiểu miền Nam". Cái họ cười. Nên đó là cái văn hóa như vậy. Nên có những cái văn hóa mà nó nó tế nhị nhưng mà sự thực không phải. Nói ví dụ như bên Mỹ đi, họ khen một cái người này thì họ sợ cái người kế bên buồn.
[30:01]Cái đó gọi là cái tế nhị á. Ví dụ như là có hai cô bạn gái đi với nhau, cái người đàn ông họ mới khen một cô A là đẹp. Người đó nói: "Ừ, cô đẹp thật!". Nhưng mà họ sợ cái, vậy là cô B xấu gì? Họ nói quay sang nói: "Cô cũng rất là đẹp, nhưng mà cô kia quá đẹp". Cho nên vậy là huề, chứ không có khen cô kia rồi cô kia cổ hầm hầm. Đó gọi là cái tế nhị trong cư xử. Mà bên Tây phương nó thành cái văn hóa. Cái ga-lăng, cái lịch sự, cái tế nhị trong lời nói của họ. Nhưng mà người miền Nam mình thì thôi, thẳng ruột ngựa, phang đâu phang đó à, bất kể ai. Cho nên cái văn hóa người miền Nam cũng hơi dở, không có ấy.
[30:42]Nhưng mà được cái người miền Nam thì chân tình. Người miền Nam có cái chân tình là hiếu khách. Khách vào nhà, mình không tiếp thôi chứ tiếp rất là chân tình, muốn ai phải ăn no, đàng hoàng đâu đó thoải mái, nên cái hay như vậy. Đó là cái cư xử tế nhị. Bây giờ mà cho biến thành cái tế hạnh thì chỉ cần là lòng chân thành, thương yêu và tôn trọng con người. Thương yêu và tôn trọng. Là biến thành tế hạnh liền. Nó cũng là những cái sâu sắc trong cư xử, nhưng mà nó xuất phát từ cái lòng thương yêu và tôn trọng thật sự. Cái thương yêu nghĩa là gì? Thương yêu là là từ bi, phải không? Còn cái tôn trọng là gì? Khiêm hạ.
[31:27]Khi mình tôn trọng người khác tức là mình khiêm hạ. Nên là cũng quy về những cái đạo đức căn bản mà chúng ta đã học thôi, nha. Nhưng mà trong cái thương yêu và tôn trọng con người đó mà mình ứng dụng sâu sắc, sâu sắc không làm tổn thương cho mọi người. Thì cũng vậy, một người ở trong đạo mà khi họ có trí tuệ, tâm họ thanh tịnh, lòng họ tràn đầy cái sự thương yêu, tôn trọng người khác, thì họ sáng dữ lắm. Mình lại gần họ, mình sao họ biết hết trơn à. Biết hết. Nhưng họ không nói, nhưng mà theo cái họ biết như vậy, họ có cái đối xử thích hợp, đối xử thích hợp với mình. Lúc đó mình thuộc loại người như thế nào,
[32:07]mình cần cái gì, như thế nào, họ họ biết hết. Đó là do tâm họ sáng, nên cái ứng xử của họ với mình nó khéo léo, nhẹ nhàng, ân cần. Gọi là tế hạnh đó. Cư xử đối với nhau rất là sâu sắc. Mà ở đây chúng ta thấy tuy mình chưa có nói là mình đắc đạo gì hết á, mà chỉ nói mình có lòng từ bi thôi thì trí tuệ đã xuất hiện rồi. Chúng ta nhớ này: từ bi là nhân, mà trí tuệ là quả nha. Cái này tôi đã nói chưa cà? Tôi đã nói này chưa? Nhớ, từ bi là nhân mà trí tuệ là quả. Chúng ta đừng có nghĩ định là sinh huệ. Nếu không có cái từ bi, định vẫn không sinh được huệ. Nên ví dụ như một người ngồi thiền được định
[32:52]vẫn có thể rơi vào không ngơ, là chấp không đó, là vô ký á. Nhưng mà chỉ cần người này quán từ bi thương yêu chúng sinh là từ nơi cái định đó cái trí tuệ xuất hiện liền. Thì cũng vậy, trong cái cuộc sống này, khi mà chúng ta thương yêu mọi người, tự nhiên cái trí mình nó sáng lên. Ví dụ ai mình cũng thương như vậy, rồi trong lúc nào đó một người đến với mình, mình vẫn thương thì trong cái thương đó tự nhiên mình hiểu về họ rất nhiều. Chỉ khi nào chúng ta thương yêu, chúng ta mới được quyền hiểu về con người đó. Đây là cái luật của trời, của Phật đặt ra. Mình nói của trời, của Phật đặt ra sự thật nó là nhân quả.
[33:32]Chỉ khi mình thương yêu ai mình mới được quyền hiểu về người đó. Vì ông trời ổng đặt ra cái này cũng hay, chứ nếu mình không thương người ta, mình hiểu người ta cái mình hay nói bậy, mình hay chê bai, vì con người ai cũng có những cái nhược điểm hết. Nếu bây giờ ví dụ như tôi không thương ví dụ tôi không thương Thầy An Minh ví dụ vậy, tự nhiên tôi nhìn vô mà tôi lại biết hết về ổng, biết tỏng hết, hồi hôm qua ổng mới xuống bếp ăn vụng, ngày hôm kia ổng nói là hổng tắm, ví dụ vậy. Cái tôi nhìn tôi biết hết mà tôi thì không thương thì thế nào tôi cũng nói bậy nói bạ. Nhưng mà khi thương nó khác.
[34:05]Khi thương thì mình được quyền hiểu hết về con người đó nhưng hiểu trong cái thương yêu cái độ lượng. Và chính cái quan tâm đến người khác làm cho mình hiểu ra, hiểu người khác nhiều hơn để có cái cư xử thích hợp. Tôi hay ví dụ như như người Phật tử mà lên núi thăm chùa vậy. Thì khi một người lên như vậy thì tôi nhìn do lòng mình thương người cái người Phật tử mình hiểu, mình hiểu là à người này lên núi như vậy leo qua một đoạn đường cao rất là mệt, mồ hôi vã ra, đang khát nước. Trước hết là nước nè, khăn nè, rồi người đó đi vào cái giờ này chưa chắc là đã ăn được cơm. Rồi phải hỏi coi đã ăn cơm chưa, rồi mình nghĩ tới sau khi mệt nói chuyện
[34:47]rồi họ sẽ nghỉ ở đâu, tối có nghỉ lại hay không vân vân, mình sắp xếp. Tức là lòng mình toàn là những điều mình quan tâm về họ. Khi mình quan tâm tự nhiên mình mới có cái hiểu là họ ăn cơm chưa, ăn cơm mệt hay không mệt thế nào. Còn nếu mà mình không quan tâm thì mình thờ ơ với con người đó, mình không hiểu hết những cái người ta đang cần thiết. Nên chính cái thương yêu làm cho mình quan tâm, cái quan tâm làm cho mình có trí tuệ, mình hiểu nhiều về con người. Nên từ bi sinh ra trí tuệ là như vậy. Rồi trong cái cư xử tự nhiên nó sâu sắc, nó nhẹ nhàng đối xử với nhau á. Trong cái cuốn Cặn Bã Ký Sự của Bác Hai Như Sanh á, tôi thích cái câu chuyện này.
[35:25]Có lần đó bác đi ghe đi xe gì á, tàu hay xe gì đó, cái bác lấy chai dầu gió Kim nó xức. Nhìn thấy cái người phụ nữ có đứa con nhỏ cứ nhìn chăm chăm cái chai dầu rồi bác biết là người ta đang cần, bác xức xong bác bác đưa cho bả kêu bả xức. Bả mừng quá bả nói sáng giờ trong người bả ớn lạnh khó chịu mà hổng có miếng dầu nào hết. Bả xức xong bả trả lại. Thì bác mới mở nắp dầu ra bác xức thêm miếng cho bác nữa rồi bác mới đóng nắp dầu lại tặng bả luôn. Ở đây là tám muôn tế hạnh là chỗ này nè. Vì nếu lúc mà người ta vừa xức xong cái mình cho người ta luôn thì bác sợ tổn thương, người ta sẽ nghĩ là mình gớm,
[36:02]thấy người ta nghèo, lam lũ, dơ bẩn, nên mình hổng nhận nữa, hổng lấy lại nữa cho luôn, nghĩa là làm cho người ta bị tổn thương. Nên bác vẫn lấy lại xức lại cái nữa để người ta biết rằng mình cho là vì cái chân tình, vì cái ưu ái, quý mến, vì lòng tốt chứ không có cái mà sợ dơ, sợ lây Si-đa này nọ không có. Nên ở đây cái khéo vậy: giúp người ta mà vẫn không làm tổn thương người ta. Cái khéo của một bậc trí tuệ là như vậy đó. Ví dụ như bây giờ mình hễ mình có tiền mình cho một người. Hôm đó người ta kẹt, người ta kẹt cái gì đó cái cần 100 ngàn cái mình có 100 ngàn mình cho người ta. Người ta vừa đi khỏi cái mình đi rao khắp xóm luôn:
[36:45]"Tôi mới cho thằng đó 100 ngàn, mới cho 100 ngàn." Thì đó cho người ta 100 ngàn nhưng mất danh dự người ta luôn, làm mất danh dự người ta. Thì cái đó được mặt này mà mất mặt kia. Nên cái việc mà mình giúp đỡ người khác phải kín đáo là vậy đó. Cái giúp mà làm thinh không nói cho ai biết, đó gọi là tế hạnh. Vì mình thương yêu và tôn trọng con người. Còn khi mình làm được việc phước mà mình rao lên tùm lum ai cũng biết hết thì tội nghiệp người ta. Mà cái đó là vì mình, vì danh, vì lợi thôi. Nên khi các Phật tử mà đi làm việc thiện cũng vậy. Làm việc thiện có nhường gì đó mình cũng phải tôn trọng con người.
[37:19]Ví dụ mình cho người ta miếng gạo, miếng quần áo mà mình đày xách người ta nhiều quá, rồi qua năm cửa, bảy cửa, rồi đăng báo rêu rao tùm lum cái xứ đó nó nghèo quá nó khổ quá, dân nó nghèo quá, rồi giống như hạ nhục cái xứ đó luôn. Đó cũng là cái không có tốt. Nên ở đây làm phước phải có kín đáo, gọi là cái tế hạnh là như vậy. Thì cái tiêu chuẩn của cái vô số tế hạnh là chúng ta kiểm soát được cái tâm vị kỷ và biết rõ được cái luật nghiệp báo. Trong cái luật nghiệp báo và kiểm soát cái vị kỷ thì mình sẽ làm được những cái việc gì đó tốt cho con người trong những tình huống không có dễ làm. Cuộc đời chứ nhiều khi nó phức tạp.
[38:02]Tôi hay dẫn cái ví dụ là có nhiều khi vậy: Chùa tôi thì cũng nghèo, nghèo mà ai đồn tôi xây cái mả cho đệ tử hết trăm triệu, cười quá à! Nhiều cũng có người tin. Chùa tôi cũng nghèo mà nhiều khi gặp Tăng Ni lên cần giúp đỡ thì tôi vẫn san sẻ, giúp đỡ trong cái khả năng của mình chút ít. Nên đệ tử tôi biết à. Mấy người đệ tử mà không có giữ tiền thì không biết, tại vì trong chùa tôi bên Tăng người giữ tiền, bên Ni người giữ tiền chứ tôi tôi không có giữ. Nên có khi mà chi cho ai gì đó thì tôi bảo người đó xuất chi ra nên những người giữ tiền mới biết là tôi xài tiền như thế nào. Và biết tôi rộng rãi lắm.
[38:39]Nghèo chứ anh hùng lắm. Nhưng mà giúp cho Tăng Ni, giúp cho Tăng Ni dễ. Vì sao vậy? Vì tuy là mình lấy của thường trụ mình đem ra thập phương Tăng thì vẫn là Tăng, nó dễ, nó không có thành tội lắm, mình đỡ phải suy nghĩ. Nhưng có những trường hợp có những người cư sĩ mà cũng có cái tình với chùa, họ gặp khó khăn hay hoàn cảnh gì đó, mình không cầm lòng được mà lấy tiền chùa ra giúp cư sĩ phạm luật liền. Trong luật Tỳ-kheo hổng cho cái đó. Mà không giúp thì không được. Cho nên trong những tình huống khó xử đấy thì tôi mới suy nghĩ ra một cách để biện hộ việc làm của mình. Thứ nhất á là tôi nghĩ người này cũng từng có công, có công gì đó với Phật pháp.
[39:24]Tôi cũng ráng nghĩ ra, tìm cho ra được cái công lao của họ thì thôi, họ chắc cũng xứng đáng hưởng cái số tiền này, lấy số tiền tặng họ. Mà trong trường hợp mà cái người này cũng không có công lao gì lắm mà hổng giúp cũng hổng được thì tôi cứ biện minh ra lý do: thôi kệ, gieo duyên. Gieo duyên là để cho họ mắc nợ chùa, biết đâu mai mốt kiếp này hoặc như kiếp khác cái họ vô chùa họ công quả, rồi nhờ vậy cái họ được học Phật pháp, họ tu hành. Nghĩ như vậy. Nên cũng biện ra đủ cách rồi thôi cũng kêu đệ tử thôi lấy tiền cho họ. Cứ nghĩ vậy. Đây là những cái gọi là gọi là tế hạnh mà ở trong tâm á, mình suy nghĩ về nhân quả.
[40:00]Làm một việc phải biết nhân quả của nó. Biết phước tổn hay không tổn thế nào chứ không phải làm phước cầu phước đâu. Đừng có nghĩ luôn luôn bố thí là có phước nha, đừng nghĩ như vậy. Hôm trước có một lần tôi nói vậy: Có nhiều người cứ nói làm phước, nhưng mà nói làm phước mà cầu phước thì rất là nguy hiểm. Mình làm phước đừng cầu phước, mà có khi làm phước bị tổn phước nữa. Làm phước mà sai là bị tổn phước liền. Giúp một người nhưng mà chính bản thân mình tổn tan nát hết trơn luôn. Đó là trường hợp, ví dụ trường hợp này. Trường hợp lấy tiền chùa mà cho cư sĩ. Nên tôi cố gắng biện minh trong nhân quả
[40:35]để cho mình được yên tâm, nghĩa là mình không làm điều sai. Cái người kia cũng không đến nỗi quá tệ để cho mình mạnh dạn mà làm, chứ cũng là một cái tổn phước. Rồi một điều nữa là một cái tiêu chuẩn để tạo thành vô số tế hạnh nữa là cái tâm thanh tịnh trong thiền định. Bình thường mình không có chuyện gì để làm hết, không có chuyện gì để làm. Nhưng mà đụng việc một cái, khi có con người một cái là lòng từ bi xuất hiện liền và mình có những cái cư xử thích hợp liền. Ân cần, chu đáo liền. Mà cái ân cần, chu đáo trong từng cái việc nhỏ thì gọi là tế hạnh. Hồi lúc mà khoảng tôi mới thọ Tỳ-kheo thôi, tôi gặp một vài Phật tử,
[41:13]ngộ lắm, ngồi nói chuyện tôi một lát là lần sau họ đem lại đúng mấy cái món mình cần, những cái lặt vặt, cây viết, cái đôi dép gì đó mà đúng là cái mình đang thiếu. Thì ra là trong khi đến thăm họ đã quan sát cái nhà mình hết trong những điểm nhỏ nhỏ. Nên chính những cái tôi học được của những người cư sĩ nữ nhiều điều như vậy, mà trong cuộc sống tôi cũng ráng áp dụng như vậy. Khi mình đối diện với ai thì mình hay để ý cái nhu cầu cần thiết của họ từ những điều nhỏ nhỏ, nhỏ nhỏ. Nên những cái mà tôi nói... Sau này tôi gặp những cái người đàn ông mà họ cũng được như vậy nữa. Những người đàn ông mà họ khi mà họ tiếp xúc với ai họ biết cái người
[41:44]kia cần cái gì nhỏ nhỏ để họ họ giúp, tôi nể những người đó vô cùng. Tôi nói để ý quan tâm được đến những cái nhu cầu nhỏ nhỏ của người khác là người này đạo đức tốt lắm. Chúng ta nhớ cái trường hợp khi mà Đức Phật lần đầu tiên về thăm hoàng cung thì ngài mới đi vào thăm bà Da-du-đà-la, quý thầy nhớ cái đoạn chuyện đó không? Thì lúc đó là Đức Phật không cho ai đi theo hết, chỉ cho hai người đệ tử lớn đi theo, những vị đã đắc đạo, mà ngài biết là thế nào bà Da-du-đà-la sẽ không kềm chế được cái xúc động vì xa chồng, một người chồng mình quá thương quý bao nhiêu năm, bà sẽ ôm ngài, ngài biết trước.
[42:19]Đây cũng là những tình huống phức tạp. Ngài mới dặn mấy người hai người đệ tử, nói: "Các thầy để yên nếu Da-du-đà-la có ôm Như Lai". Rồi đi cùng ba người đi vào, mà đúng như vậy. Gặp ngài là bà ôm liền, ôm khóc liền, không chịu nổi bao nhiêu năm xa cách nhớ thương. Ngài vẫn đứng bình thản không có phản ứng nha, hai vị đệ tử đứng yên lặng một bên. Cái khung cảnh đó phải nói là những giờ phút rất là cảm động, rất là thiêng liêng, mà rất tế nhị, sâu sắc. Chứ nếu lúc đó Đức Phật giãy nảy: "Ê, đừng đụng tôi! Đừng đụng tôi!" thì bà có khi là cái thương yêu, thương nhớ nhiều năm có thể trở thành cái thù hận, bất mãn, phải không?
[42:55]Vì người nữ lúc đó họ cảm thấy bị xúc phạm, rồi có khi bà không đi tu. Chính vì lúc đó ngài đã để yên cho bà ôm mà sau này bà đi tu, vì bao nhiêu năm cái thương nhớ đó nó không bị ruồng rẫy, giống như cái thương nhớ đó vẫn được tôn trọng, vẫn được tôn trọng. Vì cái đó mà sau này bà đi tu. Chúng ta thấy đó là một cái tế hạnh mà Đức Phật xử cái đó hay lắm. Lúc đó không có mặt ai hết, chứ nếu mà trước đông đảo quá người mà để cho bà ôm thì cũng không được, phải không? Thì biết bao nhiêu người họ nghĩ bậy. Mà chỉ hai đi theo ngài hai người là hai đệ tử chứng đạo, biết rõ tâm của thầy mình, biết rõ tâm của thầy mình thanh tịnh nên không sao hết.
[43:33]Nên nên ngài xử sự mọi điều nó đẹp trong đẹp ngoài hết, rất là đắc đắc ý. Câu chuyện đó là một cái đẹp về Đức Phật, một trong những tế hạnh của Đức Phật. Có một trường hợp, một câu chuyện nữa là ngài hóa độ cho một Bà-la-môn nông dân. Lúc đó là ổng đang phát cơm cho những người thợ cày của ổng, Đức Phật cũng đứng đó đưa cái chờ đợi, ôm cái bát chờ đợi. Ổng không muốn cho, ổng nói: "Này Tôn giả, tôi cày ruộng nên tôi có ăn. Tôn giả cũng nên cày ruộng, Tôn giả sẽ có ăn". Thì cái đó là một câu xúc phạm. Như gặp mình là lúc đó mình mình mình nổi sân, mình bực mình bỏ đi, có lẽ không nói nhưng mà cũng buồn bã bỏ đi.
[44:09]Nhưng mà Đức Phật ngài tỉnh à, ngài lợi dụng cái đó ngài độ luôn. Ngài nói: "Như Lai cũng cày ruộng và Như Lai cũng có ăn". Nghĩa là ngài tùy thuận theo cái lý luận của họ chứ ngài không có chống. Cái ông kia mới nói: "Đâu, ngài nói ngài cày ruộng có ăn, tôi đâu có thấy luống cày, đâu thấy đôi bò, đâu thấy cái ách gì của ngài". Đức Phật mới nói, quý thầy nhớ đoạn đó không: "Như Lai cày trên miếng ruộng tâm của mình, đôi bò là sức mạnh của tinh tấn, cái ách là giới luật, cái ngọn roi là cái sự kiểm soát nội tâm". Nghĩa là ngài lý luận đoạn đó hay lắm. Nghe xong ông kia quá nể ngài, cái mới bày tỏ cái sự khâm phục á, rồi mới xin cúng dường thì lúc đó ngài lại từ chối.
[44:57]Ngài xử sự không có một điểm nào sơ hở, Đức Phật á. Ngài mới nói rằng: "Không được, vì mười đời Như Lai, ba đời Như Lai đều không bao giờ nhận cúng dường sau khi nói pháp, vì nó sẽ trở thành giống như là bán pháp mà ăn, đó là tà mạng. Nên lần khác". Và ngài ôm bát ngài đi chỗ khác ngài xin. Cư xử rất hay. Chứ nếu lúc đó nói xong người ta nể rồi người ta đổi tâm người ta cho mình, mình nhận thì rất tầm thường, rất tầm thường. Đó là tế hạnh nên ngài thật là hay. Có một lần tôi cũng bắt chước ngài được một chút. Hôm lần đó có cái chị đó thì chị hay lên núi chơi, tu tập, mà chị cũng ít có biết tôi giảng cái gì á, không nghe băng.
[45:38]Rồi sau chị mới sang Pháp thì lần cuối cùng chị lên thăm chùa để từ giã. Khi nói chuyện, chị mới lấy ra một cái bao thư tiền để cúng dường trước khi chị đi mà tôi biết chị nghèo, mà chị làm việc Phật pháp, làm việc thiện nhiều lắm, chị nghèo. Và tôi nhìn cái bao thư tôi đoán là ít nhất cũng phải năm trăm ngàn. Tôi thì cũng có cái tật tham tiền, nhưng mà trong cái hoàn cảnh đó tôi có cái cảm giác không tốt. Tôi mới nói thế này: "Thực ra thì thầy cũng tham tiền lắm, nhưng mà trong trường hợp chia tay như thế này, thầy có cảm giác là nếu thầy nhận cái tiền này, tự nhiên nó mất đi một chút tình trong cái buổi chia tay này.
[46:18]Cho nên chị cho phép thầy không nhận số tiền này vì thầy muốn giữ trọn vẹn cái tình cảm trong lúc chúng ta chia tay nhau như thế này". Vì tôi nói có vẻ nó hợp lý quá nên chị đành cất tiền lại, tiền lại. Và dường như đó cũng là một cái chút tế hạnh, chứ bình thường ai đưa nhiêu tôi cũng: "Mô Phật". Tôi cũng tội, tôi cũng tốt lắm, tôi cũng từ bi lắm, nhận liền. Có một lần nữa, lúc đó Đức Phật bắt đầu nổi tiếng và ngoại đạo họ ganh ghét thế họ muốn mưu hại ngài. Họ mới nhờ một cô gái cứ đi tới đi lui hoài nơi tịnh xá, mà khi đi tới đi lui đủ để cho gây ấn tượng nơi mọi người hết thì họ giết cô gái đó, họ đem xác họ chôn trong tịnh xá.
[47:03]Sau đó họ hô hoán lên là chư tăng tịnh xá đã làm bậy và giết người để bịt miệng. Làm làm rần rần rần lên. Thì bây giờ nếu mà chuyện đó xảy ra ở Thiên Khánh này quý Phật tử nghĩ sao? Không, tôi nói thật á. Quý Phật tử thử tưởng tượng một ngày nào đó tự nhiên người ta phát hiện xác chết một cô gái đẹp ở Long An được chôn vùi dập ở nơi trong cái khu chùa của Thiên Khánh này thì quý Phật tử nghĩ gì về quý thầy ở đây? Nghĩ gì? Phải nghĩ tương tự như vậy không? Phải không? Chắc là mấy ổng làm bậy rồi giết người bịt miệng. Luôn luôn như vậy. Thì cái việc đó nó nó nó nghiêm trọng, nó không phải gì nhỏ.
[47:44]Vậy mà Đức Phật tỉnh bơ, ngài không làm gì hết. Trong cái trường hợp đó ngài không thèm làm hết. Mấy Tỳ-kheo mới lo lắng, những vị Tỳ-kheo mà chưa đắc đạo mới lo lắng hỏi Phật. Phật nói: "Coi vậy chứ không có gì, ít bữa hết giờ". Ngài tỉnh bơ coi như không có chuyện gì, mà thiệt! Trong thời gian ngắn cái tự nhiên mọi người lại không tin, không tin là Đức Phật và chư tăng có làm điều gì sai trái dính líu gì với việc chết của cô gái. Hay như vậy! Mà đó là tế hạnh đó. Chứ lúc đó mình giãy nảy, mình đính chính tùm lum thì nó lại rối thêm chuyện ra. Nên ngài cứ làm thinh, ai nói gì nói, ai nghĩ gì đó nghĩ. Nên quý thầy nhớ:
[48:18]làm thinh. Chứ còn quý Phật tử mà mình nghe mấy đó mình dễ tin lắm, tánh mình dễ dễ nghe bậy lắm. Như bản thân tôi cũng vậy, nhiều khi tôi nghe người ta đồn về tôi mấy chuyện thiệt cũng động thiên đình luôn vậy đó, hết hồn luôn vậy, đừng có nói. Nghe mà nghe tôi cười lắc đầu luôn, không không thèm trả lời nữa. Nhiều khi mấy Phật tử về báo cáo lại: "Tôi nói con nghe người ta nói thầy vậy...", tôi cũng lắc đầu luôn, không có tiện kể lại cho quý Phật tử nghe, chứ nghe cũng động thiên đình nữa, mất công. Tôi hay nhắc mấy người đệ tử của tôi trên chùa có những cái nhỏ nhỏ, nhỏ nhỏ phải để ý. Ví dụ đi vào cái bàn ăn cơm, có người mình đang ăn dở chừng có người
[48:59]đi về trễ đến sau vào ngồi ăn thì mình cũng phải là không phải là không được ngồi yên lặng mà ăn tiếp, phải lên tiếng mời, nói: "À, mời sư huynh dùng cơm", chứ không được để người ta lặng lẽ vào ngồi ăn cơm, nó không có cái tình với nhau, không có cái quan tâm với nhau. Nó không phải là cái cư xử tế nhị, lịch sự mà nó là tế hạnh, nó là sự thương yêu, sự tôn trọng. Hoặc tôi nói như cái người đến ăn sau mà khi họ đến cái bàn, cái ghế họ ăn ở đó thiếu cái chén cái đũa họ phải đi lấy là tôi rầy cái người ngồi bên cạnh liền. Người ngồi bên cạnh phải biết là người đến sau đã thiếu chén thiếu đũa là mình phải
[49:32]đi lấy cho người đến sau, chứ không được để cái người đến sau tự họ đi lấy. Như vậy trong huynh đệ không có tình với nhau, không có thương nhau. Những cái chút chút đó gọi là tế hạnh, là vì mình thương yêu, tôn trọng mọi người một cách sâu sắc. Mà hễ cái gì cũng vậy, đạo đức luôn luôn là cực á. Chứ sống trên đời muốn nhàn muốn sướng thì mình trở thành ích kỷ, còn mình sống cuộc đời vị tha là vậy đó, luôn luôn cực khổ trong từng cái lời ăn, từng cái hành động, nhưng mình đem được cái niềm vui cho người, có tình thương yêu là có cái niềm vui. Rồi nó có những cái những cái trường hợp mà cái thái độ của mình á, ví dụ người tu thì phải nghiêm trang, phải không?
[50:13]Chứ người tu mà khề hề, khà hà nó không hay, phải nghiêm. Nhưng mà nghiêm hoài thì không khí nó căng thẳng, mà nếu mình hiền lành thì sao? Thì người ta qua mặt, người ta coi thường. Nên nó phải cân đối giữa hai cái đó. Như bản thân tôi cũng vậy ở trên chùa, tôi thường hay nghiêm với đệ tử. Rồi tôi xét lại coi tại sao, thì tôi thấy là dường như là vì đệ tử tôi chưa giỏi, tôi chưa có hài lòng mọi việc, nên tôi hay nghiêm nghiêm như là để buộc họ phải cố gắng thêm. Tuy nhiên mình cứ nghiêm hoài thì nó cũng nó cũng không có đúng với đạo, nên có những lúc thầy trò phải vui vẻ, khôi hài với nhau một chút, giống như vậy.
[50:50]Còn nếu người đệ tử mà giỏi, làm mọi việc cho mình mình hài lòng hết thì nó đỡ, không cần phải nghiêm khắc nữa. Thì sống với nhau bằng cái hiền lành, hoan hỷ là được rồi. Ở đây chúng ta thấy chúng sinh không thể nào hiểu hết được cái cư xử của một bậc thánh. Nên quý Phật tử, nhất là quý Phật tử á đừng bao giờ vội vã phê bình quý thầy. Vì có những điều mình không hiểu nổi. Đừng bao giờ mà lấy cái tâm lượng của mình, lấy cái trí óc của mình để nhận xét về một vị thầy nào hết. Khi một vị thầy, ví dụ họ có trí tuệ, họ làm việc, họ nói, họ nín, họ cười, thậm chí khi họ khóc á nó nằm trong sự kiểm soát của họ.
[51:30]Họ biết lúc đó phải làm cái gì, chứ không phải là đơn giản dễ hiểu. Không phải dễ hiểu như mình cứ đánh giá bên ngoài đâu. Nên tốt nhất vậy là người Phật tử nên khiêm tốn, đừng vội vã phê bình, không hiểu nổi đâu. Đó là mấy quý thầy thường thường, gặp mấy vị thánh nhân còn khủng khiếp nữa, không hiểu nổi. Có những vị thiền sư đắc đạo mà có những cái có những cái ngôn hạnh đến bây giờ không ai giải thích nổi. Ổng đắc đạo, ổng chết ngồi kiết già ổng tịch đàng hoàng, mà trong suốt cuộc sống thì ổng chỉ ăn thịt uống rượu không à. Đến bây giờ vẫn không giải thích được, mà không dám chê. Tại vì những việc khác ổng rất nghiêm túc.
[52:12]Ổng rầy mấy thầy rất nghiêm khắc, thiền định sâu sắc đàng hoàng, thiền ngữ đối đáp đâu đó, tịch ngồi kiết già tịch đàng hoàng, nhưng mà chỉ uống rượu thôi. Người ta không giải thích nổi. Nên có những điều mà mình phải dè dặt khi mình muốn phê phán ai một điều gì đó, cẩn thận. Chúng ta thấy một điều này nữa là mỗi đức hạnh á nó có nhiều nhánh rẽ, nhiều mức độ và có cái giao xen phối hợp lẫn nhau, rồi có những những cái mức độ sâu hay cạn, và có cái sự phối hợp với những đức hạnh khác. Nó chính cái phức tạp này mà chúng ta thấy tạo thành oai nghi tế hạnh là vậy đó. Nhiều lắm. Ta nói ví dụ như là lòng từ tức là lòng thương
[52:53]yêu chúng sinh nè, thì nó có ba cái nhánh rẽ. Ba nhánh rẽ gì? Thí dụ như khi mình thương chúng sinh, mình mới xót xa với cái nỗi đau khổ của họ, đó là bi. Mình thương yêu chúng sinh thì mình mới vui mừng trước cái hạnh phúc, trước cái thành công của họ, đó là hỷ. Mình có thương yêu chúng sinh thì mình mới có thể tha thứ được cái lỗi lầm của họ. Xả này không phải là bỏ đâu nha. Chữ xả là bỏ, nhưng mà chữ xả trong tứ vô lượng tâm phải dịch là tha thứ. Nhớ giùm vậy. Thì lòng từ này như vậy là nó có ba cái nhánh rẽ, phải không? Ba cái nhánh rẽ. Và nó có nhiều mức độ. Cái mức độ mà cạn á thì là tâm nguyện thôi,
[53:37]là con tâm nguyện con xin thương yêu tất cả chúng sinh, tâm nguyện thôi chứ ban ngày hớt bửa ra gặp người ta cũng gây lộn. Đó là mức độ cạn. Rồi bắt đầu mức độ thứ hai là ngồi quán hằng đêm, trải lòng thương yêu chúng sinh nó từ từ nó thành tựu dần dần, mức độ thứ hai. Mức độ thứ ba là tâm được vào định luôn, và trong cái định đó mình tu từ bi tam muội, trải lòng thương yêu tất cả chúng sinh, nhưng ngã chấp chưa hết. Và mức độ mà gọi là rốt ráo cuối cùng như chư Phật, chư A-la-hán á, ngã chấp biến mất thì lòng từ này biến thành tuyệt đối luôn. Nên như vậy chúng ta thấy là nó có cái mức độ sâu cạn khác nhau như vậy.
[54:12]Và qua tới sự phối hợp cũng vậy. Cũng cái lòng từ bi này nó phối hợp với cái hạnh chân thật là mình đã nói thật như thế nào, có những lúc nào không nói thật là vì lòng thương yêu chúng sinh. Hoặc cái từ bi này nó phối hợp với cái tâm bình đẳng. Đó là vì thương yêu chúng sinh mà mình đã đối xử bình đẳng người giàu cũng như người nghèo như thế nào như thế nào. Cái mà giàu nghèo khó lắm nha quý thầy. Hôm trước chúng ta học bài bình đẳng này rồi đó, nay tôi nhắc lại chút xíu. Sau này quý thầy lớn lên tiếp xúc với Phật tử nhớ cái điều này: đừng bao giờ trọng người giàu khinh người nghèo, phải lấy cái tâm mà mình thương yêu bình đẳng tất cả, nhớ điều đó.
[54:52]Rồi ví dụ cũng lòng từ bi này, mình phối hợp với cái vượt qua chính mình. Đó là mình thương yêu và mong cho những người đến sau họ giỏi hơn mình, nói lên được nhiều điều độc đáo hơn mình để cho Phật pháp được phát triển mãi. Đó chúng ta thấy, một cái tâm hạnh nhưng nó có cái phối hợp với những cái tâm hạnh đạo đức khác. Nên vừa là có những nhánh rẽ, vừa có nhiều mức độ và vừa phối hợp, cho nên tạo thành vô số vô số tế hạnh. Quý thầy đồng ý không? Đồng ý không? Làm thinh vậy? Chưa đồng ý hả? Ví dụ như là chúng ta phối hợp giữa cái hiền lành và cái kiên định. Cái hiền lành á là thường mình tùy thuận được với người khác,
[55:35]còn cái kiên định á là mình giữ vững lập trường của mình. Thì ở đây, có những khi mà chúng ta phải hiền lành, có những khi chúng ta phải kiên định. Thì tùy lúc như thế nào mà ứng xử cho đúng á, đó là cái trí tuệ của tế hạnh. Hoặc là chúng ta phối hợp giữa cái sâu sắc và buông xả. Sâu sắc là làm sao? Sâu sắc là tinh tế biết rõ người khác á. Bởi mình sống mấy người mà sâu gần mấy người sâu sắc mình mệt á. Nhúc nhích cái họ biết mình thuộc loại nào hết trơn. Mới nha răng cười cái họ biết mình thuộc loại là hời hợt hay kỹ lưỡng, thông minh hay ngu dốt họ biết hết trơn. Những người sâu sắc á, sống gần họ rầu á.
[56:14]Mình đi lơntơnlơntơn qua trước mặt họ nhìn cái tướng đi họ đánh giá liền: đi như vậy là ế chồng hay đi kia là sao ế vợ hay sao người này tu được người kia tu không được. Ngồi trước thầy Bình biết à, mình nhớt nhúng nhích cái là nhận ra được con người mình như thế nào liền. Đó là người sâu sắc á, nên gần mấy người đó mệt lắm. Nên ở đây, một cái vị thánh á họ biết mà như không biết gì hết. Họ biết hết về mình á, nhưng mà mình đến gần họ thoải mái lắm vì họ vẫn như không biết gì về mình. Đó là cái buông xả đó, biết mà buông, không có chấp cái biết của mình, vẫn có ưu ái thương yêu thôi. Chứ còn nếu mà mình cái người mà những vị thánh mà họ biết mà
[56:53]họ làm như họ biết luôn thì mình không dám tới gần nữa. Chỉ nghe tin ông đó ổng đắc đạo là mình trốn ba cây số liền, không dám lại gần. Tại nhúc nhích lại gần ổng cái ổng nói liền. Ổng nói: "Mới leo lên chánh điện bẻ chuối ăn." Là ổng biết liền. "Và khi đến đây, đã lấy lộn cái quần của người huynh đệ mặc lại đây." Giật mình nhớ lại. Nghĩa là cái gì ổng cũng biết hết trơn, cái mình không dám lại gần ổng nữa. Nhưng mà một vị thánh thì không có phải kiểu đó. Các ngài sâu sắc nhưng mà buông xả. Buông xả, biết mà như không biết gì hết. Ở đây là do cái tâm từ bi mà tâm thanh tịnh á, nên đó gọi là tế hạnh đó.
[57:27]Còn mình sao hễ mình biết cái gì cái mình bày cái biết mình ra, à nói tôi biết cái này, biết cái kia, là vì mình chưa được cái tế hạnh, chưa có cái kín đáo. Hoặc là mình phối hợp giữa cái nghiêm trang và cái hoan hỷ, phải không? Tự nhiên nghiêm trang quá, lúc nào cũng nghiêm trang, mặt cái giống hình sự, cái chùa nó nặng nề, Phật tử không dám tới chùa nữa. Nên phải có hoan hỷ ở trong, hoan hỷ vui vẻ ở trong. Nhưng mà lúc nào mình cũng hoan hỷ cà hề cà hà cái người ta giỡn mặt, người ta tới chùa người ta không có biết sợ. Hoặc là người tu thì phải khiêm hạ, nhưng mà khiêm hạ chứ không có hèn hạ, khúm núm.
[58:00]Những cái đó là những cái tế hạnh. Khi mình gặp người khác, mình vẫn có cái gì biết tôn trọng họ, nhưng mà không có cái khúm núm của một kẻ cầu cạnh một cái gì đó. Người ta mất tư cách vì người ta cầu cạnh rồi trở thành khúm núm và hèn hạ. Chúng ta nhớ một điều nữa là thiền định và đạo đức là không thể tách rời. Mình tu dưỡng đạo đức là làm cho thiền định nó phát triển, mà khi thiền định phát triển thì cái trí tuệ ở trong cái định nó làm cho đạo đức hoàn thiện thêm. Đó là hai cái không thể tách rời được. Có những người nghe nói về tu tập đạo đức họ phản đối, họ nói đạo đức chỉ là cái tương đối thôi, còn cái Phật tánh mới là tuyệt đối.
[58:44]Thì những người mà lý luận như vậy, họ không có kinh nghiệm tu hành. Bỏ đạo đức thì không bao giờ có thiền định. Mà nếu có nhờ phước đời trước mà có được chút định gì đó rồi sẽ tan mất hết, có khi tẩu hỏa luôn á. Nên tu tập thiền định thì phải này phải đi song song với đạo đức. Suốt cuộc đời chúng ta như vậy, hai cái thiền định và cái đạo đức là cái phải làm mãi mãi thôi, không bao giờ được thiên về một cái nào hết. Vì trong cái đạo đức nó có cái gọi là cuộc sống vị tha, mình sống vì mọi người khác. Những lúc vắng vẻ thanh tịnh thì mình ngồi thiền. Ngồi thiền để làm gì? Thiền định để làm gì vậy ai biết?
[59:23]Thật ra cả ba cái này đều là vì chúng sinh chứ không có vì mình đâu. Nếu mà mình nghĩ: "À tôi tu dưỡng đạo đức để cho nhân cách của tôi được thế này, cho tôi được thế kia" thì toàn là vì tôi, là vị kỷ, mình đi trật con đường của đạo Phật rồi. Hoặc là mình khi mình tinh tấn mình ngồi thiền, mình nghĩ mình để đắc đạo, sáng đạo thế này thế kia thì mình vì mình, không phải vì chúng sinh, trật con đường với đạo. Hoặc mình lo học hỏi giáo lý, ngày đêm học hỏi, nghĩ là để mình sau này được cái bằng có danh giá với người ta, đó là vì mình, vị kỷ, trật con đường của đạo Phật á. Làm bất cứ điều gì cũng chỉ vì chúng sinh, vì Phật pháp, không có được vì mình.
[1:00:02]Từng giờ phút ngồi thiền định trong yên lặng, trong vắng vẻ, trong cô đơn hiu quạnh không ai biết, cũng vì chúng sinh mà ngồi. Nhớ điều đó. Nên thiền định đó tức là đạo đức. Lúc nào đó quý thầy có duyên nhập thất thì cũng nhớ: nhập thất quyết liệt, tinh tấn là cũng vì chúng sinh mà nhập thất, chứ không có nghĩ là để mà được một cái gì cho nó nó vẻ vang, không phải như vậy. Cho nên khi vì chúng sinh mình tu không được gì mình cũng không có buồn, mà mình vì mình mình tu không được mình buồn à. Cứ từ từ mà làm, kiên nhẫn mà làm, nó vậy thôi. Mà làm sao đánh giá được cái sự tiến bộ của thiền định?
[1:00:39]Cứ nhìn cái đạo đức của một con người. Khi mình nhìn thấy cái người đó phát triển về đạo đức, cái tế hạnh càng lúc càng sâu, đạo đức nó đi tới chỗ tế, oai nghi đi tới chỗ tế luôn, biết người này cái định đã phát triển. Còn ví dụ thấy người đó ngồi nhiều, rồi là họ nói họ được định, nhưng mình thấy trong cái sự ứng xử với mọi người nó cạn cợt, hời hợt thì biết cái định đó không chắc ăn. Cái định đó có thể đổ vỡ vì nó không có biểu hiện ra đạo đức. Cái định thực sự nó phải biểu hiện ra đạo đức. Một điều nữa là chúng ta không bao giờ được tự mãn với những cái đạo đức có được. Bây giờ chúng ta tu có cả một đời này cũng chưa có tới đâu.
[1:01:23]Vì cái đạo đức mà đi tới hoàn thiện tới tuyệt đối thì là con đường rất là xa, không bao giờ được tự mãn. Và chúng ta phải chiêm ngưỡng đời sống của các vị thánh để mình học hỏi, mình bắt chước, hoặc là mình đọc qua những cái truyện cổ, truyện tích, hoặc là chiêm ngưỡng đời sống của Đức Phật, những bài kinh của Phật để mình học được từ cái tế hạnh, từ những cái điều đó như hồi nãy mà chúng tôi có có kể ra vài điều về Đức Phật đó là những cái nho nhỏ chút chút, chúng ta phải nghiền ngẫm, phải suy tư để cho thấm vào trong người mình, từ từ mình học. Vì cái tế hạnh nó là do thiền định mà có, cho nên nó không phải dễ đạt được.
[1:02:05]Nên chúng ta phải biết khi chúng ta học cái bài Tam Ngu Tế Hạnh này là học cho vô lượng kiếp về sau. Bây giờ thì quý thầy lấy vở ra ghi mấy cái đề bài. Cái nguyên tắc mà làm bài tập hết môn của môn Tâm lý đạo đức này như thế này, là chia lớp ra làm 4 nhóm, lựa người 4 người tương đối giỏi trong lớp làm 4 nhóm trưởng. Và bốc thăm, lớp trưởng đâu? Lớp trưởng của cả lớp đâu? Đồng chí, thì sau buổi học này cho họp lớp lại ha, để chia nhóm và bốc thăm cái đề. Bây giờ quý thầy chép đề hết nè. Ráng chép đề xong rồi tôi hướng dẫn cái cách làm. Thứ nhất, đề thứ nhất nè: "Làm cách nào để xây dựng đạo đức
[1:02:54]cho người xuất gia của Đạo Phật ở khắp mọi nơi?". Đó là đề thứ nhất, tôi lặp lại: "Làm cách nào để xây dựng đạo đức cho người xuất gia của Đạo Phật ở khắp mọi nơi?".
[1:03:11]Đề thứ hai: "Từ đạo đức của người xuất gia, từ đạo đức của người xuất gia, hãy vạch hướng xây dựng đạo đức cho người cư sĩ.
[1:03:23]Hãy vạch hướng xây dựng đạo đức cho người cư sĩ". Đề thứ ba, đề thứ ba này khó nhất đây: "Phân tích một số đường lối tu tập, phân tích một số đường lối tu tập và đề nghị cách bổ sung đạo đức cho mỗi đường lối đó, và đề nghị cách bổ sung đạo đức cho mỗi đường lối đó". Được chưa? Được chưa? "Phân tích một số đường lối tu tập và đề nghị cách bổ sung đạo đức cho mỗi đường lối đó". Đề thứ tư là đề dễ nhất nè: "Tập hợp những kinh nghiệm về việc tu dưỡng đạo đức.
[1:04:10]Tập hợp những kinh nghiệm về việc tu dưỡng đạo đức".
[1:04:19]Tôi nói qua từng đề một chút xíu. Tôi nói về đề thứ nhất một chút. Thật ra đó, Đạo Phật mình là một đạo mà phải nói là đề cao đạo đức. Đúng không? Người Tây phương họ cũng phải công nhận, không có một cái tôn giáo nào mà nói về đạo đức sâu sắc như Đạo Phật. Nhưng mà trong thực tế thì những người tu sĩ của Đạo Phật hiện đang rất kém đạo đức. Tôi nói câu này có lẽ nhiều người phiền lòng lắm. Nhưng mà tôi buộc phải nói, tới lúc phải nói rồi. Có những người họ xuất gia vào chùa xong bỏ chùa đi ra hoàn tục liền. Nói: "Vô chùa sống như địa ngục, chịu không nổi." Trong đó những cái hơn thua, ích kỷ, ganh tị, chỉ trích, công kích quá sức không chịu đựng nổi.
[1:05:04]Đó là điều đau lòng. Đó, đó là một cái tệ nó đang từ từ nó tràn ra khắp nơi hết. Mà nguyên nhân mất đạo đức tại sao? Chúng ta phải tìm ra trong cái bài này cho thấy. Mà phải xây dựng lại đạo đức như thế nào, đó là cái đề tài của bài này. Như chúng ta nói Đạo Phật là đạo của từ bi, ai cũng mở miệng nói là tứ vô lượng tâm là từ bi là đạo Đạo Phật. Nhưng những người tu chúng ta chưa một ngày tu tập từ bi. Đúng không? Không hề. Mở miệng ra nói Đạo Phật từ bi, nhưng chưa bao giờ mà ngồi lại thử rải lòng thương yêu chúng sinh như thế nào. Cả bao nhiêu năm, 10 năm đi tu, 20 năm đi tu, tụng hết kinh này tới kinh kia, chưa bao giờ ngồi yên lặng
[1:05:47]rải lòng thương yêu tất cả chúng sinh thử một bữa như thế nào. Chính vì vậy, người tu Đạo Phật nhiều khi không có từ bi. Mà trong khi cái từ bi đó, phải quán từ bi như vậy 10 năm, bắt đầu mình mới có cái lòng thương yêu đối với chúng sinh từ từ. 10 năm, chứ không phải là dễ một hai ngày mà nói rằng từ bi từ bi là mình có lòng thương người đâu. Lòng từ bi rất khó tu tập. Vậy mà 10 năm, 20 năm qua hoặc mình tụng kinh hoặc ngồi thiền, chưa hề rải tâm thương yêu thử. Hoặc Đạo Phật là đạo vô ngã, chưa một ngày mình quán cái vô ngã hay cái khiêm hạ như thế nào. Cho nên cuối cùng vẫn trở thành con người kiêu mạn.
[1:06:27]Kiêu mạn vì thấy mình là người xuất gia, mình hơn thiên hạ, hoặc thấy mình tu tinh tấn một chút mình hơn những người không không có tu. Nghĩa là làm được chút gì là kiêu mạn vì chút đó. Chính những điều đó, thiếu từ bi, thiếu khiêm hạ, bao nhiêu đạo đức khác đổ vỡ hết. Đó là cái bệnh dịch, nó lan từ nơi này lan sang nơi kia. Nên ở đây, chúng ta phải chung nhau cái lý tưởng là xây dựng lại đạo đức cho người xuất gia. Tôi thì sức khỏe yếu kém, không bao lâu rồi tôi nghĩ tôi cũng cũng chết. Có một bà thầy bói bả nói tôi sắp sửa, ở trên sắp sửa kêu về. Thì không biết có thiệt không, mà tôi thấy tôi ốm yếu chắc cũng sắp kêu thiệt.
[1:07:11]Cho nên tôi gửi gắm lại cái tâm huyết, cái ưu tư, cái trăn trở, cái lý tưởng của tôi về việc đắp lại cái nền đạo đức cho Đạo Phật, gửi gắm nơi quý thầy, quý cô, những người học trò rất là thương mến của tôi. Tôi nói tôi không nói đùa đâu, tôi thương quý thầy lắm. Và tôi mong là quý thầy sau này trở thành những vị tăng sĩ sáng giá, đạo đức vững vàng và tiếp tục đem cái đạo đức đó lan tràn, lan truyền khắp nơi, vực lại Đạo Phật. Để Đạo Phật có một cái giá trị thật sự. Người ta tìm đến mái chùa, ta gặp vị thầy, gặp vị cô, người ta thấy ấm áp, người ta thấy tin tưởng, người ta thấy mát mẻ. Người ta có niềm tin để tu tập.
[1:07:49]Tôi gửi những điều này lại cho quý thầy. Lỡ một mai ở trên kêu về thiệt. Cái đề thứ hai, nói về vạch cái hướng đạo đức cho người cư sĩ thì chúng ta phải hiểu người xuất gia là nhân mà cư sĩ là quả. Vì sao? Vì cư sĩ là đông hơn người xuất gia. Cái nhân luôn luôn nó ít hơn cái quả, đúng không? Thí dụ mình gieo một hạt lúa mình hốt được một một bựng lúa lận. Thì cũng vậy, từ một người xuất gia là cái nhân nó phải tạo ra một cái quả là vài ngàn người cư sĩ trở thành đạo đức tốt đẹp. Thì ở đây quý thầy phải vạch ra, ví dụ người xuất gia là có đạo đức rồi nè, bây giờ bắt đầu ứng dụng cái đó để dạy cho người cư sĩ đạo đức như thế nào.
[1:08:29]Làm sao cho người cư sĩ họ đạo đức từ cái em bé mới lọt lòng cho tới cụ già, cho tới những người thanh niên, những cái cách mà để xây dựng đạo đức cho người cư sĩ như thế nào. Và phải làm sao cho chính những người cư sĩ dạy dỗ lẫn nhau như thế nào. Thì những cái cách đó mình phải vạch ra từ bây giờ. Đó là đề thứ hai. Đề thứ ba nó khó hơn một chút nè, là quý thầy phải có cái nhận định về nhiều đường lối tu tập hiện nay trong Phật Pháp, có đường lối tu thiền, có đường lối tu Tịnh Độ. Thì dù đường lối nào thì đường, cái đạo đức vẫn là cái nền tảng. Vì nói ngộ được Phật tánh tuyệt đối, không biết, nhưng mà nếu anh sống lộ ra bên ngoài
[1:09:05]hơn thua, tham lam, ích kỷ, Phật tánh nó vô nghĩa. Nói cầu về Tây Phương Cực Lạc đâu không biết, nhưng mà nếu trong từng giây phút hiện tại này mình chưa thể thương yêu con người, chưa thể nhường nhịn, chưa thể hỷ xả thì không bảo đảm là có một Tây Phương Cực Lạc để cho mình về. Phải không? Cho nên, quý thầy phải có cái nhìn nhiều đường lối như vậy và mỗi cái đường lối đó phải đưa vào cái đạo đức bằng con ngõ nào, phải vạch ra. Đây là cái đề khó nhất trong ba đề bốn đề. Còn cái đề thứ tư là đề dễ nhất là chỉ đi phỏng vấn thôi. Là bản thân mình khi mình tu tập một cái tâm hạnh nào đó nó có những cái khó, cái thuận lợi gì mình ghi ra, rồi đi hỏi thêm.
[1:09:48]Lên mình gặp quý thầy lớn, nói: "Thưa quý thầy, ngày xưa quý thầy tu tập có những cái tâm hạnh nào khó làm và quý thầy đã làm được như thế nào? Có những lỗi nào quý thầy đã phạm và quý thầy đã vượt qua như thế nào? Xin kể cho chúng con biết." Rồi quý thầy lại đi hỏi nhau trong huynh đệ như vậy, và mình tập hợp được nhiều cái đó viết lại là thành cái luận văn. Cho nên cái đề thứ tư là dễ nhất, nó đỡ phải suy luận mà chỉ khéo dụ người ta kể thôi, khéo dụ người ta kể là được. Về cái cách làm á, cách làm bài á là khi mà chia nhóm ra rồi thì mỗi nhóm cứ kiếm chỗ mà họp với nhau, yêu cầu mọi người nêu ra những cái ý gì mà liên quan đến cái đề tài của mình.
[1:10:31]Thí dụ, "Đạo đức người xuất gia" nè, Ví dụ đạo đức của người xuất gia thì nó có bao nhiêu ý thì cứ kể lung tung lộn xộn đi, không cần sắp thứ tự. Ai thấy được cái ý gì cần nói là cứ kể ra. À nó có cái ý đó giơ tay lên "Tôi có cái ý đó." Mình ghi nói "Tôi có cái ý này phải nói, ý kia phải nói." Cứ liệt kê ra, và liệt kê như vậy trong một tuần luôn. Cứ một ngày mấy tiếng đồng hồ ngồi lại với nhau moi cho ra, tìm ra những cái ý, hết ý này tới ý kia, lung tung lộn xộn hết. Sau một tuần mà tìm ra ý rồi đó thì bắt đầu mình cho hai ngày để mà sắp những ý đó lại, cái nào là ý chính, cái nào ý phụ, cái nào ý trước, cái nào nói sau.
[1:11:09]Sau hai ngày sắp như vậy rồi đó, rồi những ngày còn lại bắt đầu phân công là người viết một đoạn, người viết một đoạn cái ý đó, cái ý đó người này viết, ý kia người kia viết. Rồi sau cùng tập hợp lại, bắt đầu cho vài ba người giỏi mới chỉnh văn lại hết cho nó thống nhất nguyên cái mạch văn. Cuối cùng là đi đánh máy computer đóng tập lại. Cho nên đây là làm một tập, một nhóm chỉ nộp một tập một chứ không có mỗi người một tập, là viết chung với nhau. Đây là tập cái tinh thần làm việc tập thể cho nó quen. Sau này quý thầy lớn biết phối hợp làm việc với nhau mà trong đó mình không có cái tranh giành cái vinh quang cá nhân, anh hùng cá nhân nữa.
[1:11:45]Biết hy sinh đóng góp tận tụy cho sự nghiệp chung. Đó mà cái làm bài tập nhóm này là bây giờ chúng ta đang thực hành đang tập dần dần cái đó. Lớn lên có thể là năm mười thầy, hai chục thầy ở chung một chùa vẫn tận tụy làm việc cho Phật pháp mà không có ai muốn giành hơn, không có ai muốn mình là người được nổi nhất, không ai muốn mình là người được Phật tử thương yêu nhất, bỏ hết, chỉ là tận tụy vì sự nghiệp chung thôi. Và từ bây giờ là từ những bài tập này chúng ta đang tập lại tinh thần đó. Chớ nào giờ quý thầy quý cô của mình thấy có tinh thần cá nhân á, đạo Phật tuy đông mà yếu xìu à, bởi vì chia rẽ.
[1:12:20]Chùa này chia rẽ chùa kia, thầy này chia rẽ thầy kia hết trơn. Bây giờ chúng ta phải tập vượt qua điều đó, đoàn kết lại, tập làm chung một công việc chung để mình quên đi cái ngã của mình mà tận tụy đóng góp cho sự nghiệp chung. Đó, nó là cái ý tôi như vậy. Nhớ nha, đánh máy vô computer, in ra, đóng tập lại đàng hoàng. Và bốn cái tập này nó sẽ là tim óc của quý thầy rất là vất vả, làm bài này một tháng, cực lắm không có dễ đâu. Làm hết mình đó. Thì lần sau, nghĩa là hai tuần nữa tôi trở lại, tôi không có giảng, hai tuần nữa tôi trở lại để tôi xem và tôi hướng dẫn thêm, góp ý thêm cho quý thầy.
[1:13:00]Rồi lại hai tuần sau nữa, nghĩa là một tháng sau nữa, thì tôi trở lại bắt đầu tôi giảng về những kinh Nikaya thì quý thầy sẽ nộp bài, sẽ nộp bài. Thì chỉ nộp có bốn tập thôi, nộp bốn tập thôi, nhưng bốn tập đó bao nhiêu là công lao đó, bao nhiêu là trí óc. Rất là khó. Nên những cái đề này nó không nằm trong những bài học đã qua mà nó đòi hỏi quý thầy phải có cái nhìn trong Phật pháp, suy luận, có những ưu tư trăn trở mới viết được bài này, chứ không có dựa vào bài học mà được. Phải nhìn trong cuộc sống thực tế, nhìn trong tình trạng Phật pháp hiện tại như thế nào mới làm được bài này. Là như vậy đó. Bây giờ có ai hỏi gì không?
[1:13:41]Ai có ý kiến gì không? Hôm nay cũng là ngày hết môn, cho nên quý thầy ai có hát gì thì hát.
[1:13:50]Trong lớp mình ai hát hay nhất? Thầy sư hát đi. Đây hả? Dạ vậy hả? Rồi, mời.
[1:14:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
[1:14:12]Mâu Ni Phật. Kính bạch Thầy, nhân dịp hôm nay là ngày học của cuối năm, thì được sự đề nghị của Thầy, con cũng đóng góp một bài hát để gọi là giúp vui trong cái buổi học cuối cùng này. Thì cái bài hát này từ bữa đi giao lưu á thì con không có hát, nhưng mà hôm nay thực sự ừm hoan hỷ của quý thầy trong lớp, thì con xin hát để tặng Thầy cùng toàn thể quý Phật tử ở trong lớp học này. Bài hát mang tên Vai hành lý anh mang, tôi cầm cương dắt ngựa.
[1:14:58]Ngẩng
[1:15:03]đầu nhìn trời cao chập chùng, lòng lo lắng không yên.
[1:15:12]Đường thỉnh kinh còn xa,
[1:15:17]không màng những hiểm nguy cất bước. Ngày tháng cùng ngắm trôi dần, ngọt bùi cay đắng đều qua.
[1:15:32]Biết đi hướng nào về đâu? Là la lá, là la lá la la la là. Thoáng thoáng nơi chân mây, sao tiếng u buồn. Thoáng thoáng nơi chân mây, tiếng sáo chơi vơi.
[1:15:59]Về Thiên Trúc còn quá xa, bao khó khăn luôn vượt qua.
[1:16:09]Là la lá, là la lá la la la là.
[1:16:17]Thoáng thoáng nơi chân mây, biết trôi phương nào? Thoáng thoáng nơi chân mây, sắc thu u buồn. Về Thiên Trúc còn quá xa, bao khó khăn
[1:16:36]luôn vượt qua.
[1:16:41]Về Thiên Trúc còn quá xa, lòng nguyện không lùi bước, khó khăn luôn vượt qua.
[1:16:59]Sư Đạo ấy, Sư Đạo ấy. Hả? Đưa mic ra đằng sau. Con xin a. Cầm đi. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thì à nhân dịp mà hôm nay là bài kết thúc môn Đạo đức, thì cái bài này đợt rồi đi giao lưu con cũng có hát, hôm nay con xin hát để tặng Thầy cùng với quý Phật tử. Bài hát mang tựa đề là Cát Bụi của nhạc sĩ Trần Quang Sơn, Trịnh Công Sơn.
[1:17:35]Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó. Trời đã ban cho, ta cám ơn trời dù sống thương đau. Mai kia chết rồi, trở về cát bụi giàu có như nhau. Nào ai biết trước số phận ngày sau, ông trời sẽ trao.
[1:18:06]Này lời hứa, này thủy chung, này tình yêu trót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi.
[1:18:16]Sẽ mất ngày sau như áng mây cuối trời. Sống trên đời này, tựa phù du có đây rồi lại mất. Cuộc sống mong manh, xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen. Mai kia chết rồi, trở về cát bụi giàu có như nhau. Nào ai nên nhớ cát bụi là ta, mai này chóng phai.
[1:18:50]Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó. Trời đã ban cho, ta cám ơn trời dù sống thương đau. Mai kia chết rồi, trở về cát bụi giàu có như nhau. Nào ai biết trước số phận ngày sau, ông trời sẽ trao. Này lời hứa, này thủy chung, Đem qua văn phòng đừng có đưa về. này tình yêu trót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi. Sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời. Sống trên đời này, tựa phù du có đây rồi lại mất. Cuộc sống mong manh, xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen. Mai kia chết rồi, trở về cát bụi giàu có như nhau. Nào ai nên nhớ cát bụi là ta, mai này chóng phai. Người nhớ cho, ta là cát bụi.
[1:20:03]Trở về cát bụi, xin người nhớ cho, người nhớ cho.
[1:20:45]Lời Phật như bóng mát che con nắng mùa hè. Lời Phật như chiếc nón che con khi trời mưa. Lời Phật như đóa hoa, cuộc đời vang tiếng ca.
[1:21:14]Lời Phật như áo ấm trong mùa đông giá lạnh. Lời Phật như ánh sáng trong đêm dài mênh mông. Lời Phật như bóng trăng dịu dàng soi thế gian.
[1:21:44]Xin cho con từ đây thâm tâm không đổi thay, luôn sống như Phật dạy, tinh tấn qua từng ngày.
[1:22:05]Đem thương yêu dựng xây, chung con tim bàn tay, cho thế gian hoa đầy, thôi khóc than từ đây.
[1:22:26]Lời Phật thêm sức sống cho con bớt yếu mềm. Lời Phật như tia nắng, tâm con là mùa xuân. Lời Phật như tiếng chuông quyện vào trong khói hương.
[1:22:55]Lời Phật như mái ấm cho con qua bão bùng. Lời Phật như suối mát cho con gội sạch trong. Lời Phật con khát khao, trầm hùng như núi cao.
[1:23:25]Lang thang đã từ lâu, vô minh con chìm sâu, nay hướng theo lời Phật, giải thoát con tìm cầu.
[1:23:46]Như đi trong chiều sương, xa xa nghe hồi chuông, ơn đức của Phật dạy, con tắm trong tình thương.
[1:24:13]Như mây như gió thênh thang, xin tâm này biết yêu thương mọi loài.
[1:25:02]Tình thương dâng khắp muôn nơi, bao la ngàn chốn xa xôi vạn trùng.
[1:25:20]Như là một trái tim chung, như chung dòng máu, như cùng nỗi đau.
[1:25:32]Thương người nghèo khó lo âu, thương ai chẳng biết tìm sâu đạo mầu.
[1:25:48]Thương loài cầm thú hoang vu, chim bay khắp chốn, sông sâu cá bầy.
[1:26:03]Thương người trong cuộc mộng say, nên bàn tay bẻ bàn tay máu rơi.
[1:26:18]Thương trong địa ngục đọa đày, từ lâu si ám nên gây tội tình.
[1:26:34]Lòng này thương hết chúng sinh, cho dù kẻ oán người thân cũng đồng.
[1:26:51]Dòng đời đầy những đau buồn, lòng người đầy những ghen hờn đổi thay.
[1:27:07]Một lòng quỳ dưới Phật đài, nguyện người người biết chung xây tâm từ.
[1:27:19]Từ nay cho đến ngàn sau, một con tim nhỏ để yêu quý người.
[1:27:37]Đôi môi xin tặng cho đời ngàn lời trìu mến, vạn lời thân thương.
[1:27:52]Bàn tay nồng ấm làm luôn, dựng xây cuộc sống đẹp như thiên đường.
[1:28:11]Đời là một giấc mơ chung, hận thù thì hết,
[1:28:30]tình thương
[1:28:41]thì còn. Như
[1:28:50]mây như gió thênh thang, xin tâm này biết yêu thương mọi loài.
[1:29:05]Tình thương dâng khắp muôn nơi, bao la ngàn chốn xa xôi vạn trùng.
[1:29:20]Như là một trái tim chung, như chung dòng máu, như cùng nỗi đau.
[1:29:35]Thương người nghèo khó lo âu, thương ai chẳng biết tìm sâu đạo mầu.
[1:29:50]Thương loài cầm thú hoang vu, chim bay khắp chốn, sông sâu cá bầy.
[1:30:05]Thương người trong cuộc mộng say, nên bàn tay bẻ bàn tay máu rơi.
[1:30:21]Thương trong địa ngục đọa đày, từ lâu si ám nên gây tội tình.
[1:30:36]Lòng này thương hết chúng sinh, cho dù kẻ oán người thân cũng đồng.
[1:30:51]Dòng đời đầy những đau buồn, lòng người đầy những ghen hờn đổi thay.
[1:31:07]Một lòng quỳ dưới Phật đài, nguyện người người biết chung xây tâm từ.
[1:31:22]Từ nay cho đến ngàn sau, một con tim nhỏ để yêu quý người.
[1:31:37]Đôi môi xin tặng cho đời ngàn lời trìu mến, vạn lời thân thương.
[1:31:52]Bàn tay nồng ấm làm luôn, dựng xây cuộc sống đẹp như thiên đường.
[1:32:08]Đời là một giấc mơ chung, hận thù thì hết, tình thương thì còn.