Transcript: Không Tự Khen Mình - Kinh Kim Cang 08

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:22:34

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:13]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:22]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:35]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca

[0:42]Mâu Ni Phật. Kính mời quý Phật tử ngồi xuống.

[0:53]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta học tiếp Kim Cang lần thứ tám. Lần trước có đoạn ta nghe kinh nói rằng là nhất thiết chư Phật cập chư Phật A nậu đa la tam miệu tam bồ đề pháp giai tùng thử kinh xuất. Là bởi vì tất cả chư Phật, giáo pháp của Phật đều bắt nguồn từ kinh này. Cái chỗ mà vì tha nhân thuyết, tức là đem cái đạo lý này mà nói cho người khác, làm cho nhiều người cùng hiểu được cái đạo lý của Kim Cang này công đức rất là lớn. Mà cái đạo lý Kim Cang là gì? Thì chúng ta hôm trước đã nói với nhau rồi. Yếu chỉ kinh Kim Cang là làm vô số điều thiện mà mà không chấp công, quên đi.

[1:36]Đó là yếu chỉ kinh Kim Cang. Và nói mười phương chư Phật có thành tựu được Phật pháp cũng nhờ nơi đạo lý đó. Mọi điều vi diệu, tốt đẹp trên cuộc đời này cũng đều từ đạo lý đó, nghĩa là làm vô số điều thiện mà không chấp công. Cho nên khi hiểu được cái đạo lý Kim Cang này thì mỗi người chúng ta phải hết sức là siêng năng, cần khổ để mà làm lợi ích cho mọi người mà không chấp công, đồng thời đem cái ý tưởng đó, cái đạo lý đó mà truyền bá cho rộng. Có nhiều điều để làm lắm, nhưng mà chúng ta tùy thời tùy xứ chứ không có chấp. Ví dụ như là tùy nơi cái vùng của mình, quý Phật tử mà có những huynh đệ bạn đạo với nhau,

[2:12]tập trung lại thành từng nhóm, vì quý thầy hay kêu là từng cái đạo tràng, ai giỏi giang có đức độ mình bầu lên làm huynh trưởng để mà hợp tác với nhau làm những việc từ thiện trong cái khu vực của mình, trong cái cộng đồng của mình. Ví dụ như trong làng trong xóm mình có gia đình nào đó mà có con em phải lên học đại học xa nhà, gia đình ta cũng khó khăn thì mình lập tức tới nơi tìm hiểu và tìm cách hỗ trợ liền, chứ không phải là gia đình người ta mình hổng biết tới. Mà ở đây mình xem như là một cái cộng đồng chung, con em của gia đình người khác cũng xem như là con em của mình để mà tìm cách hỗ trợ và giúp đỡ cho cái người con của làng của

[2:49]xóm khi đi về thành phố học đại học được mọi điều thuận lợi, dễ dàng. Hoặc là trong làng trong xóm mình có những người neo đơn khó khăn, mình cũng đi kêu gọi mà giúp đỡ những người đó. Vì cuộc đời này vốn có nhiều cái khốn khó, khổ sở, mình làm được một chút gì đó để xoa dịu cho nỗi khổ của người khác đều là những điều đáng khen, điều đáng nên làm. Và làm điều đó phải làm suốt cả một cuộc đời như vậy, là lúc nào cũng động viên kêu gọi tập hợp lại với nhau bởi vì một mình hổng ai làm nổi đâu, phải hợp tác từng nhóm vậy đó. Là những người đó mình đi coi hết cả xóm cả làng mình có ai khó khăn khổ sở, nhất là giúp cho những em sinh

[3:27]viên lên đại học á, nhiều người gia đình, báo đăng mình thấy đó, có những người mà họ rất giỏi, rất là thông minh, thi đậu điểm cao mà gia đình nghèo không vô đại học được, mình phải thấy cái đó là trách nhiệm của đạo Phật chứ đừng có đọc báo rồi mình quên. Mà không phải là chỉ một hai trường hợp nêu trên báo chí mà phải nhìn hết tất cả những cộng đồng khắp nơi, nhất là làng xóm mình. Hễ gia đình nào mà có con thi lên đại học là mình phải tới mình thăm liền, mình tìm hiểu liền. Mình xem đó như là trách nhiệm của người đệ tử Phật, mình lo cho cái xã hội của mình, lo cho đất nước, lo cho đàn em của mình.

[3:57]Làm được không? Được không? Hai ba người nói xìu xìu vậy đó hả? Được không? Được. Ráng lên nha. Nói chớ làm rồi sẽ thấy niềm vui. Làm rồi sẽ thấy niềm vui. Mà quan trọng cái mình sống á, mình làm được một việc có lợi cho người khác mà tâm mình vui, cuộc sống vậy là đạt rồi đó, sống vậy là đạt yêu cầu. Là mình sống một kiếp người không uổng phí. Thế còn nhiều khi ví dụ mình sống mà có khi được tiền được bạc, giàu sang quyền thế mà lòng mình bất an thì cuộc sống cũng không có ý nghĩa. Cho nên mình vui là được. Hôm qua chúng tôi nghe kể một câu chuyện, ngoài Hà Nội có một cô giáo cô đang dạy học thì bỗng nhiên cô xin nghỉ dạy ngang.

[4:36]Mọi người mới ngạc nhiên tại cô đang dạy tốt vậy đó, lương hướng cũng ổn định, nhưng bỗng nhiên cô chuyển qua biến thành cô đi làm việc đạo không à, cô truyền bá bài giảng, băng giảng vào trong chùa, trong thư viện rồi vân vân. Cô nghĩ rằng cô làm cái này lợi ích cho mọi người cũng lợi ích mọi người giống như đi dạy, và cô vui hơn. Thì một người chị em khác mới nói rằng thôi, chị đã tìm được niềm vui trong cuộc sống thì không nên bàn cãi nữa, tại vì sống trên đời mục tiêu cuối cùng chỉ là có niềm vui và làm vui người khác. Cuộc sống vậy là đạt rồi, thôi mình đừng có ép người ta phải đi theo cái ý mình.

[5:04]Cũng vậy, là ví dụ như Phật tử mình hiểu đạo rồi mình chịu cực cả một đời để lo cho người khác, giúp đỡ người khác, thấy người ta vui rồi tâm mình cũng vui theo niềm vui của người. Như vậy đã đạt rồi, đã đạt hơn là những cái tham vọng nào khác trên cuộc sống này nữa. Còn cái câu cuối của cái đoạn này nói một câu này rất là lạ, là Tu Bồ Đề: "Sở vị Phật pháp giả tức phi Phật pháp." Ở đoạn cuối đọc thấy không? Này Tu Bồ Đề, ngay cả cái gọi là Phật pháp cũng chính không phải là Phật pháp. Chỗ này ai hiểu không? Hiểu thì chắc nhiều người hiểu, nhưng mà nó lạ là cái này: hình như trên thế giới chỉ có một cái đạo kỳ cục nhất là đạo Phật là không

[5:41]chấp nhận ngay cả cái đạo của mình, không nhận ngay cả cái đạo của mình. Đây là một điều lạ không thể tưởng tượng được. Bởi vì sao vậy? Hầu hết các tôn giáo khác á, ví dụ khi mà lập ra một cái đạo rồi đó thì đề cao cái đạo mình rất là nhiều và tìm cách làm sao cho có nhiều tín đồ đi vào trong đạo của mình để thanh thế của đạo mình lớn lên, và những người mà lãnh đạo của cái tôn giáo đó họ dường như trở thành một vị vua, một vị vua tinh thần của nhiều người trên thế giới. Cho nên họ ra sức mà truyền bá cái đạo khủng khiếp, đi tìm từng ngóc từng ngách nữa, nghĩa là họ đến người nghèo họ cho một số tiền để người đó theo đạo, rồi họ gặp những người học sinh khó khăn

[6:17]họ cho tiền để người đó theo đạo, để mở rộng cái đạo đó, chỉ đề cao cái đạo thôi. Nhưng mà chỉ có một cái đạo rất là kỳ cục là đạo Phật, kêu làm vô số điều thiện mà đừng chấp công. Nghĩa là mình vẫn giúp người nghèo, những người sinh viên khó khăn để học, nhưng rồi mình không chấp công. Rồi mình ráng truyền bá cái đạo lý này để cho mọi người được an vui, mà lại không chấp cả cái gọi là đạo Phật. Nên đây là một tôn giáo mà như là không tôn giáo, bởi vì chính người giáo chủ đã nói điều đó, nghĩa là "Sở vị Phật pháp giả tức phi Phật pháp", ngay cả cái gọi là Phật pháp cũng không phải là Phật pháp.

[6:48]Đây là một điều kỳ lạ chưa từng thấy trên thế giới, chỉ có cái đạo này mới vậy, không có cái đạo nào lạ lùng như vậy. Mà chính vì kỳ lạ, kỳ cục, kỳ khôi như vậy mà những người có trí tuệ trên thế giới người ta cúi đầu khâm phục. Những người mà ví dụ có cái tâm hơn thua, ích kỷ, hiếu thắng thì không hiểu nổi. Nhưng mà những người nào có đạo đức hiền lành và có trí tuệ thì khâm phục một cái đạo này. Vì sao vậy? Bởi vì một cái đạo như thế không đào sâu thêm cái hố chia rẽ giữa người và người. Vì con người ta trên thế giới này chia rẽ nhau nhiều quá rồi, đủ thứ vấn đề. Giờ nếu vì một cái tôn giáo để chia rẽ nhau nữa thì

[7:22]cái tôn giáo đúng là chỉ đóng góp thêm đau khổ. Mục tiêu tôn giáo xuất hiện là để đem lại hạnh phúc cho cuộc đời, nhưng rồi cuối cùng vì cái tôn giáo mà con người chia rẽ nhau, hơn thua nhau, thật là một điều đau khổ. Ví dụ như nội cái chuyện đôi trẻ yêu thương nhau, rồi cái đứa đạo này đứa đạo kia không thể lấy nhau được, chút xíu đó thôi cũng là rắc rối, nên là một chút chia rẽ mà hai tôn giáo đóng góp vào trong cuộc đời. Rồi nhiều việc khác, nhiều việc khác nữa. Cho nên đạo Phật đưa ra một cái đạo lý để giúp mọi người tu hành, nhưng mà không để cho con người chấp cái đạo Phật đó để mà gây chia rẽ với mọi người khác trong thế giới này.

[8:00]Phải nói đó là một giáo lý hết sức là cao thượng mà chưa có một đạo sư, một giáo chủ nào, một tôn giáo nào làm nổi chuyện này. Vì ai dựng lên giáo lý rồi đều bám giữ, đều tô điểm, đều đề cao. Chỉ có kinh Kim Cang, chỉ có trong Phật pháp mới làm được cái chuyện này. Vì sao ngay cả cái Phật pháp mà cũng không chấp cái Phật pháp? Vì sao vậy? Bởi vì thứ nhất, Phật pháp cũng chỉ là danh từ thôi. Danh từ do con người ước lệ đặt ra với nhau, như mình gọi là chữ "Phật pháp", tiếng Anh gọi là "Buddhism" rồi đó, đại khái là những cái từ mỗi ngôn ngữ nói khác, cái phát âm khác nhau, rồi cái từ gốc cũng do con người đặt ra thôi.

[8:35]Ví dụ Buddha là đấng giác ngộ, cũng con người đặt ra thôi, người kia Buddha mình kêu là đấng giác ngộ, chỉ vậy thôi. Nhưng mà cái quan trọng cái thực chất bên trong là cái gì? Đằng sau cái danh từ đó là cái gì? Phật pháp là cái gì? Nghiệm kỹ lại. Phật pháp có mấy nghĩa? Ít nhất Phật pháp có ba nghĩa. Giờ mình đi tu theo đạo Phật, mình là đệ tử Phật, nhưng bất ngờ người ta hỏi một câu căn bản nhất: "Phật pháp là gì?", thì phải trả lời được nha. Ở đây nhiều người đi học giáo lý tùm lum, đọc nhiều sách, nghe nhiều băng, học nhiều thầy lắm á, phải không? Bây giờ ai giỏi nhất trả lời giùm Phật pháp là gì?

[9:11]Nhiều khi mình lại quên. Cho nên người mà học giỏi á, là những điều phức tạp hiểu được và những điều đơn giản hiểu được. Giống như vậy, có lần chúng tôi hỏi một học sinh giỏi toán: 1 m2 nghĩa là gì? Không ai trả lời được hết. Điều rất là đơn giản. Vậy mà tích phân, căn số, đạo hàm gì làm hết, toán ma trận gì cũng làm được hết, nhưng mà hỏi cái đơn giản nhất: 1 m2 là gì? Lớ ngớ liền. Nhưng mình học quá chừng kinh, ôi, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Di Đà, Đại Bi Thập Chú gì cũng thuộc hết, nhưng mà hỏi: Phật pháp là gì? Giật mình nhìn lại. Quên điều đó, không biết điều đó, cho nên mình sẽ thắc mắc tại sao Đức Phật nói:

[9:45]"Sở vị Phật pháp giả, tức phi Phật pháp", cái gọi là Phật pháp cũng không phải Phật pháp. Nhưng mà nếu mình hiểu Phật pháp là gì, mình không còn thắc mắc cái câu đó nữa. Phật pháp là gì? Thứ nhất: cách để sống cho tốt giữa cuộc đời này. Đồng ý chưa? Khi mình gặp một người nghèo khó mình thương, mình đối xử tốt, đó là Phật pháp. Khi một người nào đó có một lời dạy hay, mình kính cẩn lắng nghe, đó là Phật pháp. Rồi đôi lúc mình bị người ta hiểu lầm, người ta nói xấu, mình nhẫn nhục, mình không giận, đó là Phật pháp. Được chưa? Đó, vô số điều vô số điều mà cái cách để dạy mình sống tốt giữa cuộc đời, đó là cái nghĩa thứ nhất của Phật pháp.

[10:25]Bây giờ tới cái nghĩa thứ hai nè: Phật pháp là cái cách để thoát khỏi cuộc sống. À. Cái nghĩa thứ nhất và nghĩa thứ hai dường như ngược nhau nếu chúng ta hiểu không rõ. Cái nghĩa thứ nhất là để chúng ta sống tốt giữa cuộc đời, mà nghĩa thứ hai là để chúng ta thoát khỏi cuộc đời. Hai nghĩa đó giống như ngược nhau, phải không? Và có nhiều người hiểu nghĩa... hai nghĩa này hiểu một nghĩa. Có người đó, ví dụ như nói: "Ôi, đạo là lúc nào cũng dạy ăn hiền ở lành", thì như vậy là hiểu nghĩa thứ mấy? Thứ nhất. Có người nói: "Đạo Phật là để tu giải thoát", là nghĩa thứ mấy? Nghĩa thứ hai. Nhưng mà không người nào thấy rằng hai nghĩa đó liên quan với nhau.

[11:02]Vì sao mình có thể sống tốt với cuộc đời? Bởi vì tâm mình đã thoát khỏi cuộc đời. Hiểu chưa? Đồng ý điều này chưa? Đây là điều rất là lạ. Chúng ta có thể đối xử tốt với một con người bởi vì chúng ta không vướng bận gì với con người đó. Đây là điều rất là lạ. Nói ví dụ, ông bà mình có nói là: "Việc người thì sáng, mà việc mình thì... thì quáng". Tại sao việc người khác thì mình sáng, mình thấy rõ? Bởi vì mình... mình khách quan, mình đứng thoát ra ngoài, thì mình thấy người ta rõ ràng lắm. Ví dụ như hai vợ chồng cãi nhau, cái mình tới mình nói: "Thôi, anh chị phải bình tâm lại", là bởi vì sao? Bởi vì:

[11:36]"Anh thì khoái cái này mà chị khoái kia. Hai người phải dung hòa lại vì con cái." Mình nói hay lắm, tới chừng mình với chồng mình cãi nhau cái quên mất cái cãi lộn tùng phèo lên liền, bởi vì mình bị vướng trong. Cho nên mình chỉ sáng suốt, mình chỉ đối xử tốt cuộc đời khi nào mình thoát khỏi cuộc đời thôi, đứng ở bên ngoài cuộc đời nhìn vào. Ví dụ có người trong gia đình mình đi gây lộn với hàng xóm đi. Nói gây lộn là chuyện đó mấy chục năm trước, còn giờ chắc ít ai gây lộn. Xã hội văn minh là người ta không có gây lộn nữa. Nhưng mà ví dụ ví dụ. Bây giờ còn gây lộn không ta? Còn không? Còn hả? Ồ!

[12:07]Ta tưởng văn minh là hết gây lộn chứ. Thí dụ như bây giờ người trong gia đình mình đi gây lộn với hàng xóm, phải không? Nếu mà mình chưa phải là người thoát khỏi cuộc đời á, thì thứ nhất là mình bênh ai? Mình bênh người nhà mình, mình phụ mình cãi với hàng xóm, xúm nhau chửi à, rồi cuối cùng quýnh lộn nhau gì đó. Nhưng mà nếu mình là người theo đạo Phật, mình thoát khỏi cuộc đời, mình nhìn người trong gia đình mình với người hàng xóm như nhau, lúc mình sẽ có một thái độ rất là khoan hòa, mình khuyên cả hai bên. Mình nói: "Thôi anh đừng có nóng, vô nhà nghỉ đi", phải không? Mình nói với hàng xóm:

[12:35]"Thôi tôi xin lỗi, có chuyện lát chiều tôi qua gặp anh. Anh tôi ổng nóng vậy chút thôi, nhịn ổng giùm." Mình nói cả hai bên, thì như vậy là mình đã đối xử tốt với cuộc đời, phải không? Mà nhờ đâu vậy? Vì mình thoát ra, thoát khỏi cái tình cảm gia đình, mình đứng ở bên ngoài, cho nên mình mới đối xử tốt với cuộc đời được. Còn nếu mình vướng vào trong cuộc đời, mình nói: "Đây là anh tui, còn kia người dưng", là mình sẽ đối xử không tốt với cuộc đời. Cho nên hai ý nghĩa Phật pháp là một cái gì? Đối xử tốt cuộc đời và cái cách để thoát khỏi cuộc đời, hai cái đó hỗ trợ lẫn nhau. Cũng như cái thứ nhất là người nào mà sống tốt

[13:05]với cuộc đời mới thoát khỏi cuộc đời được. Đồng ý không? Cái này chúng tôi nói nhiều rồi, phải không? Tức là chúng ta có mặt trên đời này đều là do nợ, do nghiệp từ nhiều kiếp, cho nên phải là những người mà sống cực kỳ tốt với cuộc đời, làm vô số điều phước để giúp đỡ con người thì mới đủ phước để mà chìm vào trong định mà giải thoát khỏi cuộc sống này. Cái này chúng tôi nói rất nhiều lần rồi, cho nên hôm nay không nói kỹ lại nữa. Đó là hai ý nghĩa. Về ý nghĩa thứ ba nè. Đây nghĩa thứ ba này là một ý nghĩa tế nhị một chút. Chúng ta phải hiểu Phật pháp là cái suối nguồn lợi ích cho cuộc đời chứ không phải là nơi thu hút cái lợi dưỡng. Nghĩa là làm sao?

[13:43]Nghĩa là nếu mình là đệ tử Phật thì mình nhận cái đạo lý từ nơi Phật, rồi mình quay lại mình nhìn mọi người để mà sống tốt với cuộc đời, đối xử tốt cuộc đời, chứ không phải mình đến với đạo Phật, mình nhìn lên Đức Phật, mình nhìn vào chư Tăng rồi mình quay lưng với cuộc đời, cuối cùng chỉ lo vun vén cho đạo Phật thì như vậy là mình hiểu sai Phật pháp, sẽ tạo thành đạo Phật như là một thế giới riêng biệt, khác với cuộc đời bên ngoài, rồi mình cứ chăm bẵm mọi nguồn lợi đều tập trung vào trong Phật pháp hết, thì như vậy lại là không hay. Dĩ nhiên hộ trì Tam Bảo cũng rất là quan trọng chứ không phải không,

[14:18]nhưng bây giờ mình nói trước cái ý nghĩa là đừng xem đạo Phật là một thế giới kỳ lạ để mà tập trung quyền lợi vào trong đó. Như bên Miến Điện á bị cái này. Nghĩa là chúng ta đến đất nước Miến Điện, chúng ta vào những cái tu viện, chúng ta sẽ thấy chư Tăng nơi đó và những cái tu viện đó nó giống như một khách sạn năm sao. Đời sống chư Tăng cực kỳ dư dả, sống rất thoải mái, nhưng mà nếu mình đứng trên cái mái sân thượng của tu viện mình nhìn ra chung quanh thì nhà dân lụp xụp, đơn sơ. Và người dân vậy, họ làm việc quanh năm quần quật, cuối cùng của họ là đem bao nhiêu cái lời đó đem vô chùa cất hết, cúng hết, xong.

[14:51]Rồi họ lại làm việc trở lại, nghèo nàn lại. Họ cũng có cái niềm vui mình cũng không trách được, do cái văn hóa vậy, chiều rồi cái cha mẹ, con cái dắt nhau đi chùa lạy Phật thì cũng là một cái hạnh phúc. Nhưng mà rồi đất nước nó nghèo, không phát triển được, mà khi đất nước nghèo quá thì không đủ sức để bảo vệ mình nữa, rất là dễ bị mất nước. Nên những quốc gia Phật giáo mà như vậy rất dễ mất nước vì quốc phòng không mạnh, không đủ vũ khí. Mà tại sao không đủ tiền sắm vũ khí? Bởi vì kinh tế quá nghèo. Mà tại sao kinh tế quá nghèo? Tại vì người dân làm kinh tế không giỏi và những nguồn lợi quốc gia đều tập trung

[15:21]hết vào một chỗ nào đó, nhất là vào chùa, thì như vậy đất nước nghèo. Đất nước nghèo, quốc phòng không mạnh, quốc phòng không mạnh thì dễ mất nước. Mà đất nước mất rồi thì đạo Phật có còn tồn tại không? Không, tiêu liền. Chúng ta nhớ điều đó. Một quốc gia Phật giáo mà mất nước rồi, một chế độ khác mà tới cai trị rồi thì một cái đạo khác sẽ tới thống trị. Mà một cái đạo khác tới thì chúng ta sẽ hiểu là nhiều khi đạo đó không nói nhiều tới nhân quả, luân hồi, nhiều khi đạo đó khắt khe, nhiều khi đạo đó đối xử ngược đãi với phụ nữ, nhiều khi cái đạo đó cho phép giết người khác đạo, tức là những cái đạo lý mà mình là một người đệ

[15:55]tử Phật không chịu nổi, không chấp nhận. Nhưng mà lúc đó đất nước bị người ta cai trị rồi làm gì được? Cãi không được, cãi người ta giết liền. Cho nên vì vậy, người đệ tử Phật, ngoài cái việc mà đi theo con đường của Phật, hộ trì Phật pháp, còn phải biết giữ gìn cái đất nước của mình nữa. Vì có đất nước mình còn, đạo Phật mới yên được, đất nước mất là đạo Phật mất luôn theo. Nên ở đây, ý nghĩa thứ ba của Phật pháp phải hiểu rằng Phật pháp là suối nguồn đem lợi ích cho mọi người. Nghĩa là khi mình đến mình lạy Phật xong thì bắt đầu mình quay lại nhìn con người, chứ không phải mình lạy Phật xong rồi mình tiếp tục quay lưng với con người.

[16:28]Chúng ta nói một hình ảnh nhỏ nhưng để hiểu ý nghĩa lớn. Chứ bao nhiêu quyền lợi vun vén vào trong trong đạo hết lại là một cái không phải là hay. Ở đây cũng là cái mà Phật nói là: "Sở vị Phật pháp giả, tức phi Phật pháp". Tuy nhiên, cũng không được xem thường cái việc mà hộ trì Tam Bảo. Vì sao vậy? Bởi vì mình có hộ trì Tam Bảo thì chư Tăng mới có phương tiện để sống, để tu, để học, để dạy mình. Ví dụ như đôi lúc chúng ta phải cất cái chùa to là để có chỗ mình tập trung về mình tu, hoặc là đôi khi mình cất cái chùa đơn sơ là bởi vì cái chỗ đó nhu cầu không cần, nhu cầu nơi đó là một cái gì? Cảnh trí thiên nhiên thì không cần một cái chùa đồ sộ

[17:12]mà chỉ cần cảnh rộng rãi để ở ẩn trong rừng, trong núi, không sao. Nhưng có chỗ thì phải cất cái cơ sở cho lớn vì cái khung cảnh lúc đó cần thiết như vậy. Đó là cái nhiệm vụ hộ trì Tam Bảo. Mà cái hộ trì Tam Bảo á cũng chính là cho chư Tăng có điều kiện để tiếp tục dạy dỗ mình. Tuy nhiên, cái việc hộ trì Tam Bảo không được rơi vào cố chấp và cực đoan. Nghĩa là làm sao? Nghĩa là không được phân biệt cái tổ chức, cái giáo hội. Vì sao vậy? Bởi vì không thể là nhân danh giáo hội để làm cho đạo Phật chia rẽ. Cười lắm, có người cư sĩ gặp cái người cũng huynh đệ cư sĩ mình hỏi: "Anh theo giáo hội nào?" Cái câu hỏi rất là vô lý. Anh kia ngạc nhiên, nói:

[17:50]"Tôi theo Giáo hội Phật..." Cái nói: "Anh theo thống nhất hay là không thống nhất?" Cái người kia nói: "Không, tôi không biết, tôi chỉ biết theo Phật à." Cái câu người kia trả lời là đúng, không được chấp. Tại vì chấp cái nó thành ra cái sắc máu, chia rẽ, hơn thua, phân biệt, nó đi ngược với tinh thần đạo Phật. Trong khi đạo Phật mình không phân biệt, sống hòa bình và sống hiền lành. À đây là điều chúng ta để ý. Cho nên cái chỗ mà ngay cả cái đạo Phật, "sở vị Phật pháp giả, tức phi Phật pháp", ngay cả một đạo Phật lớn mênh mông, Đức Phật phủ nhận, còn mình đây mình cứ chấp theo từng nhóm: "Ờ, tôi thuộc tăng đoàn này, tôi thuộc tăng đoàn kia",

[18:22]phân biệt chia rẽ hơn thua với nhau, thì mình đã đi quá sai cái tinh thần kinh Kim Cang, mình đã đi quá xa tinh thần của Phật pháp. Phật pháp là gì? Chỉ là danh xưng. Giáo hội là gì? Chỉ là danh xưng. Mục đích là mình sống sao tốt đẹp với cuộc đời và tu tập để thoát khỏi cuộc đời, đó là Phật pháp. Nên hiểu được chỗ này, mình sẽ thông cảm được cái câu mà Phật nói: "Cái gọi là Phật pháp cũng không phải Phật pháp." Đồng ý chưa? Rồi, Phật hỏi tiếp: "Tu-bồ-đề, ư ý vân hà, Tu-đà-hoàn năng tác thị niệm: ngã đắc Tu-đà-hoàn quả phủ?" Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Có một vị Tu-đà-hoàn nào mà lại nghĩ rằng:

[18:56]"Ta chứng quả Tu-đà-hoàn chăng?" Ngài Tu-bồ-đề trả lời: "Tu-bồ-đề ngôn: Phất dã, Thế Tôn. Hà dĩ cố? Tu-đà-hoàn danh vi Nhập lưu, nhi vô sở nhập, bất nhập: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thị danh Tu-đà-hoàn." Ngài Tu-bồ-đề thưa rằng: "Không thể có chuyện đó, bạch Thế Tôn. Vì sao? Vì Tu-đà-hoàn được gọi là nhập lưu, vào cái dòng, nhưng thật ra có nhập vào cái gì đâu, có nhập vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nào đâu, như thế mới gọi là Tu-đà-hoàn." Cái đoạn này giống như cái đoạn trước mà chúng ta nghe nói là Phật không có thấy mình chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phải không? Chúng ta nghe rồi. Mà tại sao Phật không thấy mình chứng? Là bởi vì?

[19:34]Bởi vì Ngài vô ngã, phải không? Khi không còn cái ta nữa thì đâu có thấy mình chứng được cái gì, cho nên là ở trên quả vị Phật thì không thấy mình chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng mà Tu-đà-hoàn thì ngã còn không? Còn, bản ngã còn. Nếu mà dựa vào bản ngã thì một vị Tu-đà-hoàn sẽ thấy rằng mình có thực chứng Tu-đà-hoàn. Tuy nhiên, ngài Tu-bồ-đề nói rằng là một vị Tu-đà-hoàn cũng không thấy mình chứng Tu-đà-hoàn. Tu-đà-hoàn được gọi là vào cái dòng thánh, mà có thấy mình vào cái dòng gì đâu, phải không? Nhưng mà chỉ thấy mất đi chứ không thấy thêm. Hễ mình thấy thêm mình mới thấy chứng, còn đây mất đi.

[20:08]Nghĩa là càng tu chứng chừng nào thì càng mất mát chừng nấy. Càng tu nhiều chừng nào càng mất mát chừng nấy. Đố ai biết mất gì? Nghe nói sợ quá, hết dám tu theo đạo Phật. Nhớ nha, tu theo đạo Phật là càng tu càng mất mát đó. Như quý thầy mất cái gì? Quý thầy là mất cái đầu tóc trước. Còn một vị Tu-đà-hoàn là mất cái gì? Mất ba cái. Một vị Tu-đà-hoàn là mất ba cái trong tâm mình. Thứ nhất là mất cái ích kỷ. Cái người mà thực sự chứng quả Tu-đà-hoàn, trong tâm không còn ích kỷ, sống rất là rộng rãi, không có nghĩ cho mình. Hễ đụng chuyện quyền lợi là luôn luôn nhường cho người khác trước. Người đó là coi chừng Tu-đà-hoàn.

[20:50]Nếu ai như vậy, giơ tay lên đi. Người đó chứng Tu-đà-hoàn đó. Cái mất thứ hai là cái do dự, nghi ngờ, hoài nghi. Ví dụ như đi theo Phật pháp, nhiều khi mình ngồi không biết tu đạo này đúng không, kỳ quá, sao tu hoài không thấy gì hết trơn, nghi nghi hoài, thì cái người đó không phải Tu-đà-hoàn. Còn người chứng Tu-đà-hoàn, tự nhiên biết vững chắc con đường mình đi đã đúng rồi. Có chết cũng đúng rồi, có súng bắn mình cũng đúng rồi, không còn con đường nào khác đúng hơn nữa. Nên là người mà xác quyết được như vậy là người đó mất đi cái do dự, mất đi cái nghi ngờ, coi chừng người đó Tu-đà-hoàn. Ai mất cái đó, giơ tay lên, người đó Tu-đà-hoàn.

[21:25]Mất cái thứ ba nữa, cái mất này mới vô cùng cay đắng là mất cái cố chấp. Trời ơi mất cái này cay đắng lắm, tại vì cố chấp nó đã lắm. Mình chấp điều này, mình giữ điều kia đó, mình chê người này, mình trách người nọ cái khác, nó đã ghê lắm. Ví dụ người ta bước vô nhà mình cái mình lườm một cái, sao anh bước vô nhà tôi anh không cúi đầu một cái, cái dép anh anh để trật chỗ, vô nhà tôi phải để dép cho ngay. Tối ngày mình rầy, mình trách thiên hạ đã lắm. Nhưng mà hễ mà chứng Tu-đà-hoàn cái đó mất liền. Cái người ta bước vô nhà mình lỡ mang dép luôn ba bốn cái vô, nhìn cái thì cũng cười. Tại sao vậy?

[21:53]Mục tiêu người ta tới nhà mình là tình thân ái với nhau, còn cái nhà dơ lát lau không sao hết. Cái người đó Tu-đà-hoàn, hết chấp rồi, hết cố chấp mấy chuyện lặt vặt. Rồi thí như bữa đó thường thường á mình ngồi ăn á là phải ngồi mâm, ghế đồ đàng hoàng, có chén có đũa, nhưng mà đôi khi đi gặp đâu hoàn cảnh nó không đúng như vậy, nhiều khi phải ngồi chồm hổm mà ăn, không được ngồi xếp bằng nữa, có chỗ ngồi xếp bằng nó dơ, ngồi chồm hổm bẻ hai nhánh cây làm cái đũa ăn, ăn được không buồn không phiền hết, không chấp, không ngồi mà than thở nói, "Trời ơi, tôi ngồi là phải ghế, phải dựa, phải đồ, nay sao kỳ."

[22:22]Người Tu-đà-hoàn không có chấp mấy chuyện lặt vặt đó. Vì mục tiêu gì? Ăn để sống, để có sức mà sống với cuộc đời cho tốt, không có chấp. Rồi ví dụ như khi mình lớn tuổi, mình đến đạo sớm, rồi khi đi vào chùa, huynh đệ không biết, ép ép đẩy đẩy mình ngồi đằng sau, đứng đằng sau, họ lạy Phật họ ngồi trước bàn Phật gần quý thầy rõ hơn, còn họ đẩy mình tuốt đằng sau, trong khi mình đi chùa lâu hơn, mình biết nhiều hơn, quý thầy thương mình hơn. Bữa nay có mấy người lạ đâu họ không biết mình là ai, họ coi thường họ đẩy mình ra đằng sau, tức. Cái tức đó là cái cố chấp. Còn một người Tu-đà-hoàn thì không.

[22:50]Ví dụ như khi có việc cần quý thầy kêu lên đứng trên đứng, còn không thôi đứng tuốt dưới cũng được, không sao hết, không chấp chuyện đó. Mất cái chấp đó là Tu-đà-hoàn. Mà mất cái đó đau khổ lắm, có chấp nó đã lắm, mình rầy người này, mình trách người kia, mình cằn nhằn người nọ, khoái lắm, sướng lắm. Ở đây ai hay cố chấp giơ tay lên? Ai mất cái cố chấp đó là coi chừng Tu-đà-hoàn. Cho nên Tu-đà-hoàn tu không được gì hết trơn á, mất ba cái. Một là mất ích kỷ, mà mất ích kỷ thì vô cùng đau khổ là phải tốn tiền, phải không? Mình mà ích kỷ nó có cái sướng á là mình lấy tiền người ta vô không bao giờ mình nhả ra, sướng vô cùng.

[23:22]Còn mất ích kỷ rồi là rồi, tiền trong túi từ từ đi ra, đau khổ như vậy. Rồi thứ hai nữa là mất cái do dự, nghi ngờ là xác quyết sống chết với Phật pháp, không còn ai nói Đông nói Tây được nữa. Mình tu theo đạo Phật nào giờ, nhưng mình còn hoài nghi, do dự, cái có người nói: "Tôi rủ anh gia theo đạo của cái bà Vô Thượng này tôi cho anh 5 triệu." Mình dám theo liền. Được 5 triệu không? Tại nào giờ mình không có xác quyết niềm tin với Phật pháp. Nhưng mà lỡ mình mà chứng Tu-đà-hoàn, mình mất cái do dự rồi, người ta tới mà người ta nói: "Thôi tôi cho anh 5 triệu để anh theo đạo Vô Thượng." Mình nói:

[23:52]"Thôi tôi cho anh 6 triệu anh theo đạo tôi." Chỉ có đạo này dù có chết cũng không thể nào sai được. Và cái thứ ba là mất cái cố chấp, vô cùng cay đắng. Cho nên người Tu-đà-hoàn mình nói là: "Anh chứng Tu-đà-hoàn rồi." Họ dòm lại không thấy mình chứng gì hết trơn, thấy mất không à, không thấy chứng, phải không? Cho nên vì vậy, ngài Tu-bồ-đề mới nói: "Bạch Thế Tôn, không hề có chuyện đó. Một vị Tu-đà-hoàn gọi là vào dòng mà họ đâu có thấy vào chỗ nào đâu, đâu có bước vô chỗ nào đâu." Đâu vào một cái chỗ nhà, một cái cửa, một cái nào đâu để gọi là vào. Đó, đó mới gọi là Tu-đà-hoàn, toàn mất đi không chứ không phải vào được gì hết.

[24:25]Cái đoạn này á để hướng dẫn cho những người tu mà có tiến bộ đó, ví dụ mình có kết quả ban đầu, tâm mình được thanh tịnh, có những điềm lành hiện ra, cuộc sống mình có được may mắn hơn, thì đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã chứng một cái gì mà chỉ để ngăn ngừa cái tâm kiêu mạn thôi. Đó, nhiều khi Phật đã nói như vậy rồi mình biết, ví dụ tu mình có được thanh tịnh, à cuộc đời mình nó hạnh phúc hơn, coi chừng tâm kiêu mạn. Bởi vì tâm kiêu mạn tới A-la-hán mới hết lận, Tu-đà-hoàn vẫn còn. Nên là tu gì tu chứ vẫn còn cái kiêu mạn, cho nên phải đề phòng tâm kiêu mạn. Mà tâm kiêu mạn xuất hiện rồi là mọi thứ sụp đổ hết.

[24:59]Phải đến A-la-hán á mới hết cái kiêu mạn vi tế. Chừng nào mình chứng A-la-hán á thì mình không còn sợ mình bị kiêu mạn nữa. Nhưng mà chưa chứng A-la-hán thì cái kiêu mạn luôn luôn còn tồn tại. Chúng ta nhớ điều đó. Phật đã dặn cái đó rất là kỹ trong cái phần các kiết sử. Ví dụ bây giờ mình tu có tiến, tâm mình được thanh tịnh, cuộc đời mình được may mắn hơn, nhưng mình phải luôn luôn suy nghĩ điều này, là cái quả chứng còn rất là xa. Quả chứng còn rất là xa, chưa có gì nhiều. Đó, đó là phần mình. Rồi đồng thời mình nghĩ tới những người chung quanh mình mà họ tu chưa được cái gì hết thì mình phải làm sao?

[25:34]Phải phải thương yêu và muốn cho người ta ai cũng tiến bộ. Đó là cái tâm của một vị thánh. Cái tâm của vị thánh có hai điều, chúng ta nhắc lại. Một điều là sự suy nghĩ về cái sự tu hành của chính mình, và hai là suy nghĩ về cái sự tu hành của người khác. Đối với sự tu hành của chính mình thì lúc nào cũng nghĩ rằng cái mà mình đạt được chỉ là những cái cỏn con trong Phật pháp, chưa có gì hết, không đáng kể. Đó là phần mình. Rồi cái thứ hai, nghĩ về người, nhìn lại trên đời coi chứ cũng còn biết bao nhiêu người vẫn còn mê muội, chưa biết được một chút nhân quả, chưa có niềm tin với Tam Bảo, chưa biết buông xả, nên mình phải thương yêu và lúc nào cũng

[26:12]mong đưa được nhiều người về với Phật pháp để người ta tin được nhân quả, người ta biết bố thí, biết buông xả, biết hiền lành. Tâm của vị thánh là như vậy. Nhớ, mà người đệ tử Phật phải là như vậy. Như ngày hôm nay mình đến chùa, mình tu được cũng nhiều năm, cảm thấy mình vững vàng trong cuộc sống thì phải nghĩ thứ nhất là cái mà mình gọi là tâm mình an ổn, vững vàng trong cuộc sống chưa phải gì nhiều, rồi chung quanh mình còn nhiều người chưa biết gì hết, phải lo cho họ. Đó là nói đạo, mà nói đời cũng giống như vậy. Ví dụ bây giờ mình là người làm ăn có tiền có của, mua được xe, mua được nhà, khuếch trương được cái công ty của mình,

[26:49]ví dụ vậy, thì nếu mình là đệ tử Phật thì mình phải suy nghĩ như thế nào? Nếu mình là đệ tử Phật, mình phải suy nghĩ thế này: Thứ nhất là cái mình gọi là giàu đây á, có phải thật giàu nhiều chưa? Chưa. Tiền bạc nay đến mai đi à. Ít bữa mà có gì xui xui phá sản tiêu hết liền, cả công ty phá sản liền, chưa có gì nhiều, không gọi là nhiều. Đó là cái thứ nhất. Rồi phải suy nghĩ thứ hai là trong xã hội này còn rất nhiều người nghèo khổ lắm, nhiều người không nhà để ở, không cơm để ăn, là không có công việc để làm, rất nhiều người như vậy, và thương họ. Lúc nào cũng mong là mình giúp được ai mình ráng giúp để cho con người đỡ lên.

[27:28]Mình không đủ sức giúp hết cuộc đời này: "Ôi tay tôi nhỏ bé mà đau khổ ngập đầy, biết làm sao san sẻ giữa trần thế mưa bay." Là bàn tay mình không đủ sức để mà bao bọc hết mọi người khổ trên thế gian này, nhưng tâm mình phải có, tâm phải có. Ví mình có được chút đỉnh thì phải nghĩ rằng cái đó chưa đáng là bao, đồng thời biết bao nhiêu người không được chút nào. Phải thương yêu họ, ráng làm phước giúp đỡ cho họ. Đệ tử Phật phải suy nghĩ như vậy. Đó là đạo đức của Kim Cang á, là không thấy mình được gì hết. Khi Phật định nghĩa cái người mà chứng Tu-đà-hoàn là người như thế này: là người vĩnh viễn không còn đọa ba ác đạo.

[28:07]Nghĩa là họ có thể còn có sai lầm, có thể có những sơ suất trong cuộc sống, nhưng mà chắc chắn không bao giờ đọa địa ngục, không bao giờ đọa súc sinh, không bao giờ đọa ngạ quỷ. Đó là ba cái Phật bảo đảm cho người đó. Họ có thể cũng còn sai lầm bởi vì Tu-đà-hoàn là chưa có trí tuệ hoàn toàn hết, nhưng mà không bao giờ quá đáng để có thể bị đọa ba đường ác. Họ có thể phải trả cái quả báo rất là khốn khổ khi mà họ gây nghiệp, nhưng mà chỉ trả ở cõi người thôi, chứ không bao giờ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh. Đó là điều bảo đảm thứ nhất. Cái điều bảo đảm thứ hai là một lúc nào đó không biết chắc

[28:39]chắn người này sẽ phải đắc đạo, không biết lúc nào. Có nhiều vị định nghĩa là bảy lần tái sinh lại cõi người sẽ đắc đạo, nhưng không phải. Phật không nói điều đó, trong kinh không nói điều đó. Người mà chứng Tu-đà-hoàn rồi thì có thể tới lui rất là nhiều lần ở cõi người này hoặc là cõi trời, cõi người, cõi trời, cõi người không biết, nhưng mà có một lúc nào đó chắc chắn phải đắc đạo và không bao giờ bị đọa ba đường ác. Nên nếu mình tu mà mình chứng được Tu-đà-hoàn coi như là mình cũng có một cái bước bảo đảm đầu tiên. Bảo đảm đầu tiên là đỡ lo cái đã. Cho nên vì vậy mình phải lo mất ba cái kia giùm nghen ha.

[29:13]Ráng ngồi thiền, lạy Phật, làm phước sao cho mất ba cái đó giùm. Một là ích kỷ, hai là do dự, ba là cố chấp. Đó, mất ba cái đó giùm. Thì hy vọng một ngày mình chứng Tu-đà-hoàn thì cửa ba đường ác đóng lại, không lọt vô nữa, và mở ra một con đường giải thoát ở tương lai, không biết lúc nào, chắc chắn. Rồi cái đoạn thứ hai, Đức Phật lại hỏi: "Này Tu-bồ-đề, ý ông thế nào? Một vị Tư-đà-hàm có thể nghĩ rằng ta chứng quả Tư-đà-hàm chăng?" Ngài Tu-bồ-đề thưa: "Tu-bồ-đề ngôn: Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tư-đà-hàm danh nhất vãng lai, nhi thật vô vãng lai, thị danh Tư-đà-hàm." Ngài Tu-bồ-đề thưa rằng: "Không thể có chuyện đó, bạch Thế Tôn. Vì sao?

[29:50]Vì Tư-đà-hàm được gọi là nhất lai, tức là một lần trở lại. Nhưng thật ra có cái gì đi, có cái gì lại đâu. Như thế mới gọi là Tư-đà-hàm." Tư-đà-hàm tiếng Pali là Sakadagami. Nhất vãng lai nhưng mà không có gì tới, không có gì lui hết. Nghĩa là cái vị đó đâu có thấy mình đi tới đâu, về đâu mà gọi là còn một lần trở lại. Tu mà tới Tư-đà-hàm thì mất thêm mớ nữa. Mà mất hai cái này là vô cùng đau khổ. Mất thêm một mớ nữa, bởi người ta mới nói câu đó: "Tu là mất ở trong mình một mớ." Là vậy đó. Mà mất cái gì ai biết? Mất cái này đau khổ lắm, là mất bớt tham và sân, chưa hết hẳn, nhưng mà còn vi tế. Nhưng mà mất bớt tham và sân.

[30:35]Trong khi mình sống được ở trên đời là nhờ hai cái thứ đó phải không? Nhờ tham để mình mà ráng làm ăn rồi vơ vét vô mình, nhờ sân để mình cự thiên hạ, mình chửi thiên hạ chơi. Mà bây giờ mất hai cái đó hết thì còn gì ý nghĩa cuộc sống này nữa. Đó, vậy á. Mà Tư-đà-hàm là phải bớt hai cái đó. Đau khổ như vậy, vậy ai mà nhắm là không chịu nổi đau khổ đó thì mình đừng thèm chứng Tư-đà-hàm. Còn nếu mà nhắm mình chịu mất mát hai cái đó thì một lần trở lại cõi người này nữa rồi thôi không trở lại nữa thì mình ráng chứng Tư-đà-hàm. Ai chịu mất đâu? Mất cái đó đau khổ lắm nha. Thấy người ta lại người ta chửi mình mà mình không giận, ờ.

[31:12]Thấy tiền rớt không thèm lượm, lại vậy đó, ờ. Và thấy người ta nghèo là cứ muốn móc tiền ra cho người ta, đau khổ vô cùng. Tư-đà-hàm là vậy đó, đau khổ vô cùng. Cái vị Tư-đà-hàm là như thế này: Ví dụ như bây giờ vị đó mà chứng Tư-đà-hàm á, cái vị đó chết, lên cõi trời, sống không biết bao lâu, có thể là sống cả ngàn năm, 2000 năm trển. Mà trên đó tu tiếp, đừng có tưởng trên đó ở chơi nha. Ai mà tưởng lên cõi trời mà hưởng phước là người đó hiểu lầm á, không có đâu. Lên cõi trời tu cực lắm, trên đó tu nhiều lắm. Tu mà cái nhân duyên chín muồi, đồng thời cái vị đó trên cõi trời nhìn xuống cõi trần gian này thấy có nhiều việc phải làm, động tâm, bắt đầu động tâm.

[31:47]Động tâm là nhân duyên tới rồi đó. Nhân duyên chưa tới á, nhiều khi ở dưới này dầu sôi lửa bỏng, bom thử nổ cũng kệ nó không cần, cứ ở trển tu. Nhưng đến lúc nào đó cái duyên nó tới, bỗng nhiên nhìn xuống cái thế giới loài người này cái bỗng nhiên động tâm, thấy lúc này mà mình không xuống thì thiệt là tội á, nên phải xuống để mà cứu độ, giữ gìn Phật pháp lại chứ nhiễu nhương quá, người ta tu sai lầm nhiều quá nên phải xuống. Động tâm đó rồi bắt đầu rớt xuống, sinh xuống để làm xuất phật sự, để tu hành cái gì đó, rồi chứng quả viên mãn rồi đi luôn. Nhưng mà để lại cái sự nghiệp giáo hóa rất là lớn

[32:18]cho cuộc đời này, đó là một vị Tư-đà-hàm. Nhưng mà muốn Tư-đà-hàm vậy phải mất hai thứ kia: tham, sân. Ai dám cả triệu nào mình tính đây. Rồi cái thứ ba là cũng hỏi vậy: "Này Tu-bồ-đề, ý ông thế nào? Một vị A-na-hàm có thể nghĩ rằng là: Ta chứng quả A-na-hàm chăng?" Tu-bồ-đề ngôn: "Phất dã Thế Tôn, hà dĩ cố? A-na-hàm danh vi bất lai, nhi thật vô bất lai, thị cố danh A-na-hàm." Tu-bồ-đề thưa rằng: "Không thể có chuyện đó bạch Thế Tôn. Vì sao? Vì A-na-hàm được gọi là bất lai, Anāgāmī nghĩa là không đến nữa, nhưng thật ra có cái gì để không trở lại đâu? Như thế mới gọi là A-na-hàm." Thì cái người mà chứng A-na-hàm này được định nghĩa thế này:

[32:57]là không có trở lại cõi người này nữa. Nếu mà ở ngang cõi này đó mà mình tu mình lỡ xui mà mình chứng A-na-hàm một cái rồi là bỏ cõi này luôn. Khi chết rồi là lên cõi trời ở trên đó luôn, ở tu trên đó và chứng quả giải thoát trên đó luôn, chứ không có xuống này nữa. Đó là A-na-hàm. Nhiều người nghe câu này thấy buồn nha, nói: "Trời ơi, tu đi luôn bỏ cõi này buồn quá." Mà tại sao mình có cảm giác là mình bỏ luôn cõi này không trở lại là mình buồn? Tại sao? Nói đúng tim đen không? Rất trúng tim đen của nhiều người ngồi đây. Nghe nói tu rồi không bao giờ trở lại cõi này nữa, lên cõi trời chứng trển luôn, nhiều người cảm thấy hơi buồn buồn tiếc tiếc.

[33:31]Đúng không? Đúng tim đen không? Mà tại sao mình tiếc tiếc vậy? Tại vì cái máy karaoke mua về chưa hát hết bài trong trỏng. Nhiều cái niềm vui thế gian mình chưa hưởng hết, cảm thấy tiếc tiếc, dưới đây cũng còn vui. Chứ nếu sự thật là mình biết cõi trời như thế nào rồi mình không tiếc thế gian này đâu. Chỉ vì mình chưa biết cõi trời cho nên những niềm vui thế gian này mình còn thấy nó có ý nghĩa. À. Tuy nhiên mình đừng nghĩ rằng những vị đó mà họ đi luôn rồi là họ không có cái dính líu gì với loài người này, không phải. Những vị lên cõi trời vẫn có cái trách nhiệm đối với thế gian này. Như vị ở trên đó nhưng mà vẫn bí mật gia hộ,

[34:06]điều khiển, sắp xếp những công việc của thế gian này chứ không phải không đâu. Nhiều khi chúng ta tu hành, chúng ta làm những việc Phật sự, chúng ta gặp những điều may mắn thì phải hiểu đều có sự tác động của những vị thánh ở trên trời hết. Những vị đó là những vị Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán gì đó, chứ không phải không đâu. Đừng có tưởng các vị đi là đi luôn, nhưng mà các ngài không cần thiết phải xuống đây lại. Cái duyên không còn dính cõi này. Cái duyên đối với những người ở đây cắt hết rồi, không còn. Chỉ còn cái tâm từ bi để gia hộ thôi, chứ không còn bị ràng buộc bởi nghiệp duyên phải đầu thai xuống làm con ai nữa hết,

[34:38]không bị đầu thai xuống đây để phải làm chồng làm vợ gì của ai nữa hết, đi luôn. Cái nguyên tắc của A-na-hàm á là lần này phải mất nhiều hơn nữa. Tu là mất ở trong mình một, một đống. A-na-hàm là mất mất nhiều đó, cái này mất khẳm á, mất dữ dội á. Và mất gì? Định nghĩa của Phật là mất sạch tham và sân. Ở Tư-đà-hàm á còn ít, tham và sân còn rất ít, nhưng mà tới A-na-hàm là mất sạch. Mà chính vì cái mất sạch tham và sân nên không còn dính thế gian nữa. Cái nhân quả thế này: Cái người mà còn một chút tham là còn duyên với cõi người. Đây là nguyên tắc định nghĩa nha. Trong tâm mình còn chút tham thì còn duyên với cõi người,

[35:17]mà trong tâm mình hết sạch tham thì hết sạch duyên với cõi người này luôn. Đó là định nghĩa, đó là nguyên tắc, đó là nhân quả. Ví dụ mình tu hành mình làm nhiều điều phước, phước đó đủ đưa mình lên cõi trời, nhưng mà không đưa lên mãi mãi, mà lúc nào đó mình sẽ đầu thai xuống cõi người này lại là vì sao vậy? Là bởi vì trong khi mà mình làm phước, thật ra tâm tham mình vẫn còn, vẫn còn vi tế. Cho nên hưởng hết phước rồi mình xuống lại. Còn người làm phước rất nhiều mà trong tâm sạch cái tham luôn thì người đó dứt luôn ở cõi người này, không bao giờ trở lại nữa. Mà làm thế nào để chúng ta không còn cái lòng tham?

[35:50]Phải tu nhiều lắm, nhưng cái điều quan trọng là biết cái cõi này không có bền, cõi này vô thường. Nó lạ cái này: Cái khác nhau giữa cõi người và cõi trời ở cái điểm là cái thân á, cái thân ở cõi người là mang cái thân vật chất, còn thân ở cõi trời là cái thân gì? Cái thân siêu hình tâm linh. Thân đó mình chỉ dùng ý nghĩ mình muốn đi là đi, bay là bay, đi xuyên qua tường qua vách, muốn từ đây qua cõi kia chỉ bằng ý nghĩ thôi là biến chỗ này hiện chỗ kia liền, là cõi ở cõi trời. Cái thân nó, nó siêu nhẹ, nó siêu hình, nó là thuộc về tâm linh. Còn cái thân ở cõi người mình là cái thân vật chất nặng nề như thế này.

[36:23]Đó, và đây là cái nhân quả nè: Hễ tham còn thì cái thân vật chất này còn, còn xuất hiện, còn cái nhân cho nó. Hết sạch cái tham thì không còn cái nhân để cho cái thân vật chất này xuất hiện trở lại nữa. Cho nên người nào đối với cái trần gian này mình có nhà, mình thương yêu, mình giúp đỡ mọi người nhưng không bao giờ đắm liếng, người đó luôn luôn có nhân cõi trời, luôn luôn như vậy. Còn nếu mình thấy cái thế gian này có ý nghĩa quá, ừ đáng sống quá, tức là lòng tham mình còn là mình còn phải xuống đây rất nhiều lần. Nó có một cái hệ quả của một người mà đã hết tham sân nữa là tự nhiên hết hẳn sợ hãi, không bao giờ sợ hãi điều gì nữa, rất là can đảm.

[37:02]Đây là dấu hiệu của người hết tham hết sân. À ví dụ là bây giờ, ví dụ thôi chứ không phải là thiệt, ví dụ có hai bên gây gổ nhau, à một bên kia cái thế mạnh ăn hiếp cái người yếu, thì lúc đó mình nói nếu mình đứng ra mình nói một tiếng thì có thể là họ bớt. Không ai dám ra đứng nói hết, vì sợ bên kia nó giận nó oánh lây. Nhưng mà có một người tự nhiên ngó tưởng chừng hiền lành bước ra nói chuyện, khuyên người ta đừng gây gổ, đừng có hiếp người khác, không sợ gì hết, nó có oánh oánh không sợ, mà rất là hiền lành. Nhìn mặt thì thấy thật là hiền, nhưng mà cái cách làm việc thiệt là gan, thì người đó coi chừng là A-na-hàm á, không còn sợ hãi nữa.

[37:38]Rất hiền lành, bởi vì hết tham sân nên rất là hiền, nhưng mà hễ chuyện gì là đúng thì không bao giờ từ nan. Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã. Nếu mà thấy cái điều nghĩa mà không chịu làm, người đó không phải là người dũng. Đạo Nho nói như vậy, thì đây cũng giống giống với đạo Phật, là một người khi lòng mình đã không còn tham, không còn sân, rất là hiền lành, nhưng mà người đó lại cực kỳ can đảm, không sợ chuyện gì hết. À ví dụ nói là trong cái nhà đó ban đêm ma hiện ra, cái người mà chứng A-na-hàm họ dám liền họ vô ngủ liền không sợ. Còn mình nghe nói cái nhà có ma nhiều quá mình hơi, hơi ớn, hơi run.

[38:14]Ví dụ ban đêm nằm ngủ trong cái phòng đó cứ thấy như có tiếng chân người đi qua đi lại, bật đèn lên không thấy ai, tắt đèn có tiếng chân người đi qua đi lại, rồi lát nghe người rên than thở, bật đèn lên không thấy ai, thì mình có tiếp tục ngủ được không? Mình sẽ ra khỏi phòng đó liền, mà mình không ra được bằng cửa cái, mình bay cửa sổ ra luôn chứ không nói nữa. Cái sợ nó tồn tại, tồn tại. Nhưng mà cái người chứng A-na-hàm rồi là hết, giống như một vị thiền sư như ngài Mật Ấn á, đó là ngài về cái miếu đó ngài ngủ, đêm cái con mãng xà hiện ở bên cạnh ngài, ngài xô nó qua một bên để ngài nằm ngủ tiếp, không sợ.

[38:49]Mà sự thật con mãng xà đó không phải thật, đó là cái thần thức của ông Tề Thiên Vương ổng hiện ra thôi, ổng đuổi. Đuổi mà đuổi không được, bởi ông thiền sư này hình như ổng chứng A-na-hàm rồi hay sao á, không sợ. Nên cái người mà hết sạch tham, hết sạch sân thì đồng với một điều nữa là rất can đảm. Vậy ở đây chúng ta thấy là cái người mà hiền lành thì sẽ là người can đảm. Đúng là đạo Phật. Nhưng mà mình sẽ hỏi nói: "Sao con thấy mấy cái thằng mà du côn du đãng á nó tham sân đầy mình mà nó gan dữ lắm?" Gan không? Gan không? Coi vậy chứ đó là cái dữ chứ không phải cái gan. Nó dữ mình lầm tưởng gan chứ không phải.

[39:26]Cho nên có những cái tay trùm xã hội đen, nhưng mà khi công an lại đọc lệnh bắt còng cái là tiểu trong quần liền. Có gan không? Không, không gan. Bình thường thì khi đang còn thế thì ra oai, làm hùng hiếp người ta, sai đàn em đánh người này, sai đàn em giết người kia, nhưng mà tới lúc mà thất thế rồi, công an lại đọc lệnh bắt rồi là tiểu trong quần liền. Vậy có sợ không? Sợ. Cho nên chúng ta thấy: Người còn tham còn sân, luôn luôn cái sợ hãi còn. Sợ hôm nay mình mất tiền, hôm nay của cải mình bị đi tiêu, sợ người ta không có ủng hộ mình nữa, sợ đủ thứ chuyện hết, nên sống trong đời đầy cái sợ. Đó là vì sao?

[40:00]Vì tham và sân còn. Còn người tham và sân hết rồi, không có sợ ba chuyện đó, sống nhẹ nhàng, thanh thản giữa đời, mà khi đụng chuyện một cái rồi trở thành con người cực kỳ gan dạ. Đó, đó là A-na-hàm. Cái đoạn kế là hỏi về A-la-hán, cũng vậy, hỏi: "A-la-hán có thấy mình, có nghĩ rằng mình chứng A-la-hán không?" Thì ngài Tu-bồ-đề nói là: "Không. Hà dĩ cố? Thật vô hữu pháp danh A-la-hán. Thế Tôn, nhược A-la-hán tác thị niệm: Ngã đắc A-la-hán đạo, tức vi trước ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả." Là ngài Tu-bồ-đề thưa rằng: "Không có chuyện đó bạch Thế Tôn. Vì sao? Vì thật ra không có cái pháp gì để gọi là A-la-hán cả.

[40:40]Bạch Thế Tôn, nếu một vị A-la-hán nghĩ rằng: Ta chứng A-la-hán đạo, thì đã dính mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả mất rồi." Đó, đây là cái điều ngài Tu-bồ-đề trả lời. Nghĩa là hễ bản ngã còn mới thấy mình chứng, bản ngã hết thì không thấy mình chứng nữa. Đó. Theo Phật định nghĩa, A-la-hán là người mất luôn năm cái cuối cùng. Lần này thì không còn tu là mất ở trong mình một mớ một đống nữa, mà là sao? Tu là mất ở trong mình sạch bách. Có năm cái cuối cùng mất luôn. Thứ nhất là: sắc ái, thứ hai là vô sắc ái, thứ ba là phóng dật, thứ tư là kiêu mạn, thứ năm là vô minh. Sắc ái là gì? Sắc ái là vẫn còn quyến luyến, ham thích cái cõi trời.

[41:23]Có cái cõi trời mà cõi trời sắc giới đó, cõi trời đó chư thiên sống rất thanh tịnh, không có tham dục, là cõi trời Phạm Thiên đồ trở lên á, thì cõi trời đó hạnh phúc, hạnh phúc ghê gớm lắm. Tâm lúc nào cũng ở trong thiền định, muốn gì có nấy. Ví dụ vị thiên tử đó muốn có cái nhà, cái nhà hiện ra theo ý mình liền, muốn có chiếc xe, xe hiện ra liền, muốn có hào quang, hào quang hiện ra liền, đó là cõi trời được gọi là cõi trời tự tại, cõi trời sắc giới á. Thường thường là những vị Thánh á hay qua lại các cõi trời, mà có nhiều vị Thánh chưa chứng A-la-hán á thì vẫn còn mến cái cõi trời sắc giới á, thấy trên đó hạnh phúc quá nên mến.

[41:57]Hễ mà còn mến cái đó thì không phải A-la-hán. Chứ còn cõi người mình thì thuộc loại là rơm là rác rồi, không đáng kể, không nói tới nha. Ở cái quả vị A-la-hán thì cõi người này không đáng kể, là rơm là rác. Mình muốn hiểu là cái cõi người này trong mắt các vị Thánh như thế nào đó, hôm nào mình đến một cái hồ mà nuôi cá, mình hãy nhìn. Mình thấy cá bơi lội giành nhau từng chút mồi nhỏ nhỏ đó thì mình hãy hiểu là các vị Thánh nhìn cõi người cũng vậy á. Tầm thường như vậy, chen chúc, chật chội mà vất vả, cực khổ như vậy. Hoặc là giống như mình nhìn một con chim, mình tưởng con chim sướng hả, mình thử làm chim ba ngày sợ hết hồn liền.

[42:32]Mình thấy con chim sao nó sống vui quá ha, nó hót ca, nó nhảy, nó bay trên bầu trời tự do chuyền từ cành này qua cành kia, sung sướng, nhưng mình thử làm chim coi biết coi nó chuyền cành để làm cái gì? Đi tìm lương thực. Cả ngày đi tìm lương thực cực khổ, trong tâm không hề có niềm vui thanh thản, lúc nào cũng chăm chăm, dòm dòm, rình coi có con sâu nào không lượm lượm. Lúc đó mình mới thấy con người là sướng, vì coi vậy chớ mình làm lụng có giờ có giấc ha, ngoài giờ đó mình có giải trí, à vẫn có cái thoải mái hơn con vật. Nhưng mà nếu mình là một vị thiên tử ở trên nhìn xuống cõi người thì con người này mình sao?

[43:05]Cũng vậy, cũng cực vô cùng, tâm hồn không thanh thản, ngày phải ăn ba bữa, phải đi làm để mà lo cho được ba bữa ăn, rồi phải có cái áo mặc cho đàng hoàng, phải có nhà ở cho đàng hoàng, đủ thứ lôi cuốn con người lo toan vất vả. Còn ở trên các cõi đó các vị đó hạnh phúc muốn gì có cái nấy, chỉ bằng tâm mà thôi. Và nếu không có cái gì vẫn hạnh phúc, bởi vì tâm tràn trề hạnh phúc, hào quang thì sáng chói, hương thơm đầy, hoa trời rơi, mây bay, gió nhẹ, lâu đài điện các có hết, nên nhìn xuống thấy cõi người thật là khổ. Nhưng mà vì cõi trời hạnh phúc quá mà nếu một vị Thánh nào thích, thấy cõi người là thấp đành rồi,

[43:39]mà thấy cõi trời là sung sướng thì vị đó chưa phải A-la-hán. Là A-la-hán thấy cả cái cõi trời đó vẫn phải xả bỏ luôn. Đó là diệt được luôn cái sắc ái, tức là không còn ưa thích cái cõi trời sắc giới nữa. Rồi cái thứ hai nữa là vô sắc ái, là cao hơn cõi trời sắc giới còn có một cõi trời nữa là cõi trời vô sắc. Cái cõi trời này không có cõi giới, không có hình tướng, đó là không có hiện ra cung vàng điện ngọc, không có hình thù, mà chỉ là cái gì? Chỉ là một cái tâm thôi, một cái tâm thanh tịnh vô hình vô tướng phủ trùm cả trời đất, cả tam thiên đại thiên thế giới, giống như Niết-bàn mà chưa phải Niết-bàn.

[44:20]Nên cõi trời vô sắc giới giống như Niết-bàn mà chưa phải. Nhiều người tu tới đó tưởng Niết-bàn, nhưng mà mai mốt tự nhiên rớt ra trở lại mới bất ngờ, mới bật ngửa ra, mà đó chỉ là cõi trời vô sắc giới. Nên chúng ta nhớ hồi xưa có một câu chuyện, lúc đó là có một cái tờ báo của Mỹ thi viết một truyện ngắn, à một truyện khoa học giả tưởng ngắn về cái đề tài là: có một cái gương mặt người hiện ra trên một cái hành tinh chết. Họ lấy cái ý tưởng đó là từ sao Hỏa. Là ở dưới Trái Đất mình á khi mà dùng kính thiên văn nhìn lên sao Hỏa thì thấy trên sao Hỏa có cái mặt người ở trển á, không biết vô tình hay cố ý gì đó không biết.

[44:59]Rồi cái bộ phim mà Hồ Sơ X của Mỹ á cường điệu cái hiện tượng đó lên và xem như đó là một cái bóng ma trên sao Hỏa, đôi khi xuống tới Trái Đất này để phá. Nhưng mà cái tờ báo đó mới thi viết là truyện khoa... ổng viết là: có một cái hành tinh chết, vào một cái năm xa xôi sắp tới có một hành tinh chết, không còn sự sống trên đó nữa. Lúc đó có hai sinh thể trong vũ trụ bay ngang qua, bay một vòng quanh cái hành tinh chết đó, thì có cái ý niệm của cái người nam và người nữ nói với nhau. Người nam mới nói thế này, là: Ngày xưa, chúng ta đã từng sống trên cái hành tinh này, nhưng vì con người đã không biết giữ gìn,

[45:38]đã tiêu diệt tất cả cái sự sống, nhưng mà chúng ta đã thăng hoa, đã tiến được và đã ra đi. Thì lúc đó ý nghĩ của người nữ mới hiện lên mới nói thế này: Ngày xưa, em nhớ em có gương mặt như thế này. Vừa nói một cái thì một cái gương mặt hiện ra giữa cái hành tinh chết liền, tức là cái sinh thể đó có khả năng tạo ra một cái hình ảnh bằng ý nghĩ của mình như một thần thông, đó. Rồi cái tiếng nói của người nam lại vang lên, nói: Thôi hãy quên chuyện đó đi em. Cái thân xác ngày xưa là hạn hẹp và ràng buộc, ngày nay chúng ta sống bằng một cái tâm với ý chí vạn năng và tự do vô hạn trong vũ trụ. Rồi hai sinh thể đó tiếp tục bay vút vào trong vũ trụ vô biên.

[46:17]Cái câu chuyện ngắn như vậy mà đạt được giải nhất của tờ báo đó liền. Ý nhà khoa học đó muốn nói điều gì? Ý muốn nói rằng là khi mà cái nền văn minh con người tiến mãi tiến mãi rồi người ta mới phát hiện ra rằng vật lý không phải là cái đích cuối cùng. Đó là cứ xây nhà cho to, máy bay cho lớn, vũ khí cho mạnh không phải là cái đích cuối cùng của nền văn minh, mà khi nền văn minh cao rồi người ta sẽ đi tìm tới tâm linh, người ta sẽ sống bằng tâm linh. Lúc đó có thể là cái thế giới đã hư hoại, cái thân xác con người đã tàn, nhưng mà cái tâm con người đã mở rộng ra cùng với vũ trụ và đi vân du tự do trong vũ trụ này.

[46:52]Người ta muốn cái gì được cái đó, tự do hoàn toàn. Ý ổng nói cái đích cuối cùng như vậy. Và những cái điều mà của nhà khoa học đó diễn tả rất giống với cõi trời vô sắc giới. Tức là những vị Thánh an trú trong cõi đó không có hình hài, không có hình thể, giống như hai cái sinh thể vô hình mà bay quanh cái hành tinh hồi nãy trong câu chuyện kể của ông nhà khoa học đó vậy. Là không có hình dáng, không có cõi, tâm phủ trùm và muốn gì cũng được. Đó, một cái cõi rất vi diệu. Cho nên những vị Thánh mà khi chứng được tới cái cõi vô sắc giới rồi thì họ mới thấy là những cái cõi mà sắc giới, cõi trời sắc giới vẫn còn thấp lắm, vẫn còn cạn cợt, chưa phải là hay.

[47:27]Cho nên họ mới xem cái cõi trời vô sắc giới mới là tuyệt vời, nhưng mà hễ xem cõi trời vô sắc giới là tuyệt vời thì chưa phải chứng A-la-hán. Mình mới thấy A-la-hán khủng khiếp không? Thấy không? Bởi chúng ta mới thấy Đạo Phật khủng khiếp không thể tưởng tượng được. Nếu mà chứng thật sự tới cái đích của Đạo Phật phải nói vô cùng siêu việt, vĩ đại, không tưởng tượng nổi. Những cái khái niệm của loài người này không bao giờ hiểu nổi cảnh giới A-la-hán. Cõi trời sắc giới mà bị từ chối là mình đã nể rồi, mà tới cái cõi trời vô sắc giới, tức là sống với cái nội tâm không có hình hài, tự do vô biên trong vũ trụ, muốn gì cũng được,

[48:01]vậy mà vẫn bị từ khước thì chúng ta mới hiểu rằng cái trí tuệ, cái sự tự tại, cái hạnh phúc của một vị A-la-hán là... là không thể tưởng tượng nổi. Và chúng ta mới cúi đầu quỳ trước Đức Phật mình. Đúng là chỉ có một bậc Thánh như vậy mới mở ra một cái tôn giáo siêu việt như vậy. Chứ nào giờ là mình theo Đạo Phật mình hiểu những điều căn bản, cạn, không bao giờ hiểu nổi cảnh giới của những vị Thánh, mà phải là Đức Phật mới chứng được cái tột cùng như vậy, là Đấng mà Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác như vậy mới có thể mở ra cho nhân loại cả một giáo lý cao siêu tột cùng như vậy. Nhưng mà ngày nay chúng ta học được rất ít và nhiều khi hiểu lầm, hiểu sai nữa.

[48:39]Nhưng hôm nay chúng ta có điều kiện chúng ta học Tứ Thánh Đế, chúng ta có điều kiện chúng ta học Kinh Kim Cang và nhắc lại, biết rằng cái vĩ đại không thể tưởng tượng nổi của Đức Phật và của Đạo Phật chúng ta. Mà nói là Đạo Phật chúng ta để mình tinh tấn mà tu hành chứ không phải để thành chấp và chia rẽ như nãy Phật nói nha: Sở vị Phật pháp giả tức phi... tức phi Phật pháp, nhớ như vậy. Cái mất thứ ba nữa là phóng dật, là lười biếng. Mình nói là: Ủa chứng A-la-hán rồi còn phải tu cái gì nữa đâu mà còn bị chê? Trước đó là làm cái gì mà bị lười biếng? Tức là A-na-hàm á là bậc Thánh tự tại, siêu việt rồi, vậy mà trong đó vẫn bị Phật chê là còn lười biếng chút.

[49:18]Khủng khiếp như vậy. Tức là cái sự mà quyết tâm không có đạt được đến tuyệt đối. Quyết tâm gì? Quyết tâm lợi người và lợi mình, có khi là trong cảnh giới quá thù thắng rồi hơi an trú và hơi tạm dừng lại, chính cái mà hơi tạm dừng lại bị Phật chê là phóng dật. Mặc dù chứng tới A-na-hàm vô cùng tự tại, không còn trở lại cõi này nữa, mà vậy một chút niệm hơi an trú hưởng nhẹ nhẹ đó bị Phật phát hiện ra liền, chê là còn phóng dật liền. Mà tới A-la-hán mới hết bị cái đó, là cái quyết tâm chưa phải tột cùng tuyệt đối, dễ sợ như vậy. Cho nên chúng ta thấy cái tiêu chuẩn của một vị Thánh khủng khiếp lắm.

[49:56]Bên ngoài thì hiền lành nhưng bên trong phải nói là cả một cái nguồn năng lượng sôi trào, nhưng mà giấu bên ngoài với vẻ rất là hiền lành, khiêm hạ. Một vị A-na-hàm cũng vậy, rất hiền lành, rất khiêm hạ, nhưng mà chỉ có hơi an trú trong cái cảnh giới quả chứng của mình một chút mà bị Phật thấy liền, Phật cho là còn phóng dật, mà chỉ tới A-la-hán điều đó mới hết. Cái điều mất thứ tư nữa là kiêu mạn. Ồ rất là lạ. Tới A-na-hàm á là hiền như đất, như bụi, vậy mà còn bị Phật phát hiện là vẫn còn chút kiêu mạn trong Dễ sợ chưa? Tới A-na-hàm rồi, hiền như đất như bụi, gặp ai cũng thương cũng quý, vậy đó mà vẫn còn bị Phật chê là còn một chút kiêu mạn.

[50:39]Như cỡ mình là kiêu mạn cỡ nào? Cái chùa cất xong rồi vẫn thua kiêu mạn của mình, kiêu mạn mình lớn hơn cái chùa. Một chút xíu bị Phật thấy liền, huống hồ như mình. Cho nên mình đi đâu là ở trên mà Phật dòm xuống là thấy cả ngọn núi đang đi, một ngọn núi kiêu mạn đang đi tới đi lui. Bữa nay cái ngọn núi đó đi vô chùa Từ Tân, lát nữa xong giờ mấy ngọn núi đi từ từ đi ra khỏi chùa. Ngọn núi gì? Ngọn núi kiêu mạn, bởi vì lớn quá đụng nhau xèng xèng hoài. A-na-hàm á hiền như đất như bụi vậy mà vẫn còn bị Phật phát hiện ra thấy. Mà như thế nào là cái kiêu mạn của một vị A-na-hàm hiền như đất như bụi?

[51:15]Như thế này, tức là trong tâm của vị A-na-hàm á khi mà nhìn thấy chúng sinh á đôi khi còn có một chút thờ ơ, mặc dầu là ngài rất là hiền, không hề khinh ai, nhưng mà trong con mắt các ngài khi nhìn thấy chúng sinh vẫn còn chút thờ ơ, chút xỉu xìu xiu xíu xìu. Và vì sao vậy? Bởi vì cái ngài đang an trú trong cái cảnh giới chứng của mình. Chỗ đó cũng bị Phật chê là còn phóng dật, phải không? Mà chỗ đó cũng còn bị Phật chê còn chút kiêu mạn. Còn một vị A-la-hán thì dứt hẳn điều đó, không còn an trú trong cái cảnh giới thanh tịnh của mình nữa. Cho nên mỗi chúng sinh hiện ra trước mắt mình đều được

[51:49]hưởng tràn trề cái sự thương yêu và tôn trọng, con chim, con mèo, con chó, đừng nói tới con người, hiện ra trước con mắt là đều hưởng được cái sự tôn trọng, sự trân trọng, quý hóa của một vị A-la-hán hết. Tới đó mới được Phật khen là hết kiêu mạn, còn A-na-hàm chỉ có một chút xíu thờ ơ với con người, bị Phật chê là kiêu mạn liền, khủng khiếp như vậy. Nên là mình ráng tu. Bởi vì chúng ta thấy đạo Phật mình sao? Dễ sợ chưa? Nên mình phải, mình biết ơn Phật và mình cũng mừng là mình đã được đi theo con đường của Phật dạy. Bởi vì đúng là giáo lý này trên thế giới không có giáo lý thứ hai bằng được.

[52:25]Mình cứ khen đạo Phật mình hoài giống như hơi chấp, nhưng mà sự thật là vậy, không có giáo lý thứ hai nào bằng nổi giáo lý của đạo Phật khi mà đi sâu vào những lĩnh vực này, không hề. Và bây giờ còn một điều nữa, trong suốt bốn cái thánh quả mà Phật nói á, là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, trong suốt đó Phật chỉ nói những điều mất thôi. Phật chỉ thấy điều mất, phải không? Nghĩa là Tu-đà-hoàn thì mất ba cái: ích kỷ, do dự và cố chấp; Tư-đà-hàm thì mất bớt hai cái là tham và sân; A-na-hàm thì mất sạch luôn tham và sân; A-la-hán thì mất luôn năm cái cuối cùng: sắc ái, vô sắc ái, phóng dật, kiêu mạn, vô minh.

[53:03]À, còn cái vô minh chưa giải thích, thôi vô minh khỏi giải thích. Nghĩa là mất, tức là Phật chỉ nói mất mất mất mất thôi. Tu là mất, trong mình sạch bách, đại khái là vậy, là mất hết, đó. Không bao giờ, không bao giờ, nghe nha, không bao giờ Phật cho ca ngợi cái cảnh giới của tâm, diễn tả cái tâm đó, đặt tên cho cái tâm đó. Mặc dù là tâm đó làm sao? Cực kỳ thanh tịnh, phải không? Cực kỳ sáng suốt, tâm nó phủ trùm, rộng rang, sáng chói. Nhưng mà Phật không cho diễn tả, nãy giờ chúng tôi vừa diễn tả là chúng tôi đang phản bội Đức Phật, bất hiếu đó. Tức là cái tâm của vị thánh á thì cực kỳ thanh tịnh,

[53:40]cực kỳ sáng suốt, cực kỳ rộng rang, cực kỳ phủ trùm, vô số những đức tính tốt trong đó, ẩn chứa trong đó hết, mà Phật không bao giờ cho phép diễn tả cái tâm đó, không đặt tên cái tâm đó, không ca ngợi cái tâm đó. Nhớ chưa? Thấy không? Rất là rõ, và đây là điểm mà để chúng ta phân biệt giữa đạo Phật và ngoại đạo. À, đây là điểm phân biệt. Ngoại đạo, tại làm sao mà thành ngoại đạo? Chỉ là vì cũng chứng được mấy cái tâm đó chứ không phải không, chưa A-la-hán thôi, nhưng mà những cái tầng mức thấp hơn thì có một số đạo sĩ họ cũng tu thiền, họ cũng tu yoga, họ chứng được chứ không phải không, mà chỉ có một điều sai của

[54:16]họ, tội nghiệp họ cái này, là không có Phật dạy họ không biết, nên họ đã đặt tên cho cái tâm đó, họ ca ngợi cái tâm đó, họ diễn tả cái tâm đó, họ thành ngoại đạo thôi chứ không gì hết. Chút xíu đó thôi. Tức họ đã đặt cho cái tâm đó tên là: Chân Ngã, Đại Ngã nè, Thánh Ngã nè, Thần Ngã nè. Rất là nhiều cái danh từ rất là cao siêu. Hễ đặt tên cho cái tâm đó rồi thì rơi vào ngoại đạo, diễn tả cái tâm đó rồi biến thành ngoại đạo, ca ngợi tâm đó rồi biến thành ngoại đạo. Còn Phật không có, không có nói cái mình được, mà chỉ nói những cái cần phải mất đi thôi, cần phải mất đi. Ví dụ bây giờ mình so sánh thế này, giờ ví dụ có một người làm ăn được giàu sang lên,

[55:02]giàu lên, mà nếu người đó là ngoại đạo á, thì người đó sẽ diễn tả cái giàu của mình. Nói cái nhà tôi năm tầng lầu, phải không? Gạch tôi là gạch lát men ngoại nhập, à, nhà vệ sinh cũng lát men đặc biệt, nội thất thì cực kỳ sang trọng, tức là diễn tả cái nhà mình đủ thứ cảnh đẹp hết, thì người đó là ngoại đạo. Còn một người đạo Phật thế như giàu lên vậy đó, nhưng mà diễn tả mình á như thế này thì mới là đạo Phật, không phải bị ngoại đạo nè. Nói: Lúc này thì chúng tôi không còn phải đói nữa, à, lúc này thì không phải lo lắng về cái việc mà phải đóng tiền học cho con nữa, lúc này chúng tôi đi đây đi kia không phải đi bộ nữa.

[55:41]Tức là chỉ nói những điều mất đi thôi, đó là đạo Phật. Quý Phật tử phân biệt được ra chưa? Hễ mà cứ khen cái ưu điểm của mình, đó là ngoại đạo; còn nói chỉ mất đi những cái khuyết điểm của mình, thì đó là đạo Phật, nhớ ơn vậy. Đó, so sánh điều này thật kỹ giùm nha, thật kỹ giùm, đó. Nên nếu mà mình cứ khen cái hay của mình, mình đang đi ra ngoại đạo; còn nếu mình tu tiến mà mình thấy mình mất bớt những khuyết điểm mà mình biết điều đó, à, mình mất bớt khuyết điểm thôi, thì đó là mình đúng với, đúng với đạo Phật. Còn nếu những khuyết điểm còn mà thấy rất rõ nữa, thì đó là người con cưng của Phật.

[56:15]Khuyết điểm mình mất, mình biết khuyết điểm mình mất, thì đó là mình đúng đạo Phật, đồng thời những khuyết điểm còn tồn tại mà mình luôn luôn thấy rất rõ, luôn luôn, chữ luôn luôn nha, always, luôn luôn thấy rất rõ, người đó là con cưng của Phật. Vậy ai muốn làm con cưng, lúc nào cũng thấy khuyết điểm của mình, tìm cho ra, lúc nào cũng nhớ mình còn khuyết điểm đó, đó là con cưng của Phật, đó. Ví dụ như tâm mình còn phiền động thì luôn luôn biết tâm mình còn phiền động, tâm mình còn tham sân biết tâm mình luôn luôn còn tham sân, đó là con cưng của Phật, đó. Cái đoạn kế tiếp là: Thế Tôn Phật thuyết ngã đắc vô tránh tam muội,

[56:52]nhân trung tối vi đệ nhất, thị đệ nhất ly dục A-la-hán, Thế Tôn ngã bất tác thị niệm. Đọc chữ Nho nghe muốn ngủ hả? Thôi đọc tiếng Việt Nam ha. Bạch Thế Tôn, Phật bảo con đạt được vô tránh tam muội, vô tránh là không có gây lộn á, là chánh định tạo nên phong cách hòa ái không hơn thua tranh cãi, là kẻ cao cả nhất trong loài người, là bậc A-la-hán ly dục đệ nhất, nhưng bạch Thế Tôn, con không hề nghĩ rằng con là bậc A-la-hán ly dục gì cả. Bạch Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng con chứng A-la-hán đạo thì Thế Tôn sẽ không còn cho rằng Tu-bồ-đề là kẻ ưa thích hạnh tịch tịnh A-lan-nhã nữa, chỉ vì Tu-bồ-đề con thật không nghĩ mình làm gì cả,

[57:32]được gì cả, nên lại được gọi là Tu-bồ-đề ưa thích hạnh A-lan-nhã tịch tịnh. Nghĩa là trong mười đại đệ tử Đức Phật thì ngài Tu-bồ-đề được khen là đệ nhất hiểu nghĩa không, đệ nhất về từ bi, và trong Kim Cang thì gọi là đệ nhất đạt được cái chánh định vô tránh, hòa ái. Nghĩa là ngài rất là hòa ái với mọi người, cái chữ vô tránh là không gây lộn, nhưng mình phải hiểu thế này: là ngài ít có xích mích với ai, sống trong đại chúng ngài hiền lành, hòa ái. Người có ý kiến này, người có ý kiến kia, nhưng đến với ngài giống như là tan vào trong biển nên không có cái phiền muộn. Và ngài sống thường là ngài hay thích sống trong rừng.

[58:11]Bởi vì tâm ngài rất là thanh tịnh và ngài yêu thiên nhiên. Chữ A-lan-nhã nguyên nghĩa chữ Pali nghĩa là rừng. Là người mà có cái hạnh A-lan-nhã tức đó là một vị tỳ-kheo mà thích sống trong rừng. Là vì sao thì không biết. Vì cái lòng từ bi của ngài hay là cái cảm nhận, cái yêu thương của ngài đến cả thực vật? Như là cả cây cối hay sao mà được gọi là thích sống trong rừng hay là yêu thích rừng, không biết. Lát nữa cuối bài giảng, chúng ta sẽ nghe được cái bài nhạc Rừng của một nhạc sĩ nào đó mới soạn xong và mới hát, rất là hay, lát nữa chúng ta nghe. Cái điều bất ngờ là thế này: là nếu mà theo cái Nam Tạng Pali á thì người

[58:49]đệ tử Phật mà được gọi là hạng nhất là ai? Là ai? Xá-lợi-phất. Ngài Xá-lợi-phất là trí tuệ đệ nhất, đồng thời được Phật giao làm Thượng thủ toàn Tăng chúng, tức là lãnh đạo Tăng đoàn kế Phật, giống như Phật là chánh mà ngài Xá-lợi-phất là phó vậy. Nhưng mà trong cái hệ Đại thừa thì ngài Tu-bồ-đề lại được tôn xưng lên là đệ nhất. Cho nên trong cái câu này nè, là: Nhân trung tối vi đệ nhất, thị đệ nhất ly dục A-la-hán, hai lần cái chữ đệ nhất. Tức là Phật cho rằng con là người tối thắng đệ nhất trong loài người, mà trong loài người tức là hơn cả hàng đệ tử của ngài hết luôn. Là trong hệ Đại thừa lại đưa ngài Tu-bồ-đề lên hơn cả ngài Xá-lợi-phất.

[59:30]Có lẽ là, chúng ta không biết, nhưng mà đây là điều chúng ta đoán, chúng ta đoán thế này: là có lẽ ngày xưa những vị đó đều là chứng A-la-hán với nhau, cũng trạc tuổi nhau, ngài Tu-bồ-đề phải nhỏ tuổi hơn ngài Xá-lợi-phất, nhưng mà ngài Xá-lợi-phất á trí tuệ đệ nhất nhưng mà ngài rất nghiêm trang, ngài rất là nghiêm túc, nên có cái uy mà lãnh đạo đại chúng, nói đâu sắp xếp đâu đại chúng nghe đó. Tức là Đức Phật chỉ cần dặn ngài Xá-lợi-phất điều gì đó là ngài Xá-lợi-phất đi xuống sắp xếp lại Tăng chúng là nghe răm rắp hết, ngài có cái uy và ngài nghiêm trang. Còn ngài Tu-bồ-đề thì ngược lại, ngài từ bi,

[1:00:04]chúng ai cũng thương, và ngài phóng khoáng, đôi khi ngài ít có rầy có la. Chứ còn ngài Xá-lợi-phất thì nghiêm túc, chuyện gì nó phải đúng chuyện đó, cho nên tạo nên một cái Tăng đoàn rất là nghiêm trang là vậy. Còn ngài Tu-bồ-đề thì ngài phóng khoáng hơn, ngài hơi dễ dãi hơn một chút, mình dùng chữ dễ chịu đó, ngài hơi dễ chịu hơn một chút. Có lẽ chính vì cái phong cách phóng khoáng, dễ chịu, từ bi, hòa ái của ngài mà đến khi Phật giáo phát triển thành Đại thừa đã đưa ngài lên làm tối vi đệ nhất, làm giống như là Thượng thủ của đại chúng, nên trong suốt cái bộ kinh Bát Nhã dày 600 quyển, một đống, là trong đó ngài Tu-bồ-đề vẫn

[1:00:41]đóng vai chính, vẫn là hỏi đáp và nói những cái giáo lý cao siêu, giống như bộ Kinh Kim Cang này chỉ có ngài Tu-bồ-đề là vậy. Nó có một cái điều nữa là cái người mà yêu rừng thì được Phật khen. Người yêu rừng được Phật khen, khen là bởi vì hai lý do: trong rừng không có những trò vui nhộn nhịp như ở ngoài thành thị ha, như ở phố thị, cho nên cái người mà thấy không cần những cái niềm vui của phố thị nữa, sống với cây rừng, với gió, với mây, với suối, với lá xanh, với chim, với sóc mà vẫn vui được thì cái tâm hồn người đó làm sao? Tâm hồn người đó đúng là không còn ham vui nữa, không còn ham vui chuyện thế gian nữa nên rất là thanh tịnh phải không?

[1:01:23]Rất là thanh thản, tự nơi tâm người đó có cái niềm vui. Đó là so sánh giữa cái khung cảnh giữa rừng và phố thị. Cái người đó không cần niềm vui của phố thị thì rõ ràng người đó đã tự tại, rất là tự tại, mới có thể sống yên ổn trong rừng vắng được, đó là ý nghĩa thứ nhất được Phật khen. Ý nghĩa thứ hai mà được Phật khen, là người sống trong rừng thì phải thương... Thương rừng, thấy không? Phải thương rừng mới có thể sống được trong rừng. Mà thương rừng nghĩa là thương gì? Thương cả cành cây, chiếc lá, hả hả, cái đóa hoa, à thương chim, thương suối, à thương cả sâu bọ, vân vân. Tức là lòng thương yêu thiên nhiên và thương luôn tới thực vật.

[1:02:05]Cái tình thương đó mạnh. Còn ví dụ thường thường chúng ta hiểu là người từ bi chỉ là thương động vật thôi. Thương kiến, thương chim, thương sóc, thương cọp, thương beo, thương người là thương động vật. Nhưng mà nếu lòng từ bi lớn, họ thương luôn tới cây cỏ, là lòng từ bi lớn. Và ngài Tu-bồ-đề được khen vì cái hạnh a-lan-nhã, hạnh rừng. Có một cái hạnh gọi là hạnh rừng. Hạnh rừng nó đỡ hơn cái luật rừng, luật rừng nghe nó sợ, chứ còn hạnh rừng rất là tuyệt vời. Cho nên chúng ta nên là chỉ nên tu hạnh rừng, đừng có tu theo luật rừng, ví dụ vậy. Thì cái lòng từ bi của ngài Tu-bồ-đề đã đi xuống tận tới cây cỏ.

[1:02:45]Lòng từ bi đó rất là sâu đậm nên được Phật khen, được khen là như vậy. Nên ngài được khen là từ bi đệ nhất mà cũng là giải không đệ nhất, tức là hiểu được cái nghĩa không này hay nhất trong hàng đệ tử Phật. Mà đây có một cái nghịch lý dễ thương của đạo Phật. Có một cái nghịch lý rất là dễ thương hai câu này: "Thế Tôn, nhược ngã tác thị niệm: ngã đắc A-la-hán đạo, Thế Tôn tắc bất thuyết: Tu-bồ-đề thịạo A-lan-nhã hạnh, dĩ Tu-bồ-đề thật vô sở hạnh, nhi danh Tu-bồ-đề thịạo A-lan-nhã hạnh." Là Thế Tôn nếu con nghĩ rằng con chứng A-la-hán đạo thì Thế Tôn đã không còn cho rằng Tu-bồ-đề là kẻ ưa thích hạnh

[1:03:23]tịch tịnh A-lan-nhã nữa, chỉ vì con thật con nghĩ mình không là gì cả, không làm gì cả, chứ lại được Phật khen là con là người thích hạnh rừng, tịch tịnh. Đây là một nghịch lý của đạo Phật. Nghịch lý đạo Phật là cái người mà không thấy mình chứng thì được công nhận là chứng, còn cái người mà cho mình chứng thì người ta cho mình sao? Thì người ta cũng cho mình hơi chứng chứng, không sao. Cho nên là trong đạo Phật thấy một nghịch lý dễ thương, lạ như vậy. Ví dụ như ở thế gian á mình giàu thì mình có biết mình giàu, thấy không? À, mình có lỡ mình nói tiếng giàu cũng không sao, chỉ hơi kiêu kiêu một chút thôi cũng không đến nỗi là sai sự thật.

[1:04:04]Nhưng mà ở trong đạo Phật trong tâm linh thì nó lại ngược lại: cái người mà thấy mình chứng thì lại không chứng gì cả, mà người thấy thật sự trong tâm mình không thấy mình chứng gì hết thì mới được công nhận là chứng. Mà đây là một nghịch lý, nghịch lý dễ thương và chúng ta phải tuân thủ suốt đời tu hành của mình, nhớ như vậy. Đồng ý không? Đồng ý nha, nhớ mình để ý như vậy. Nên càng tu đừng bao giờ nghĩ là mình tu nhiều hay mình chứng được cái gì thì không ngờ là bí mật ở trên trời Phật khen mình, Phật khen mình. Còn mình tu mình thấy: "À tôi đi chùa nhiều nha, thầy cưng tôi nhiều hơn nha" là sao?

[1:04:38]Là cuối cùng mình là một người bị đẩy ra ngoài rìa, là một người rất là xa với đạo, không có được. Cho nên càng khiêm tốn càng không thấy mình được thì lại được công nhận, được khen hay. Đấy đây là cái nghịch lý đạo Phật, đồng ý chưa? Đồng ý. Nhưng coi chừng có một câu phản biện. Nếu khi mình đem điều này mình nói sẽ có một người họ hỏi mình câu này: "Nếu ở trên đời này ai cũng khiêm tốn, kín đáo, không khoe khoang thì cái ngành quảng cáo ế ẩm, phải không? Vì sản phẩm đưa ra không quảng cáo lấy gì đâu ta biết ta mua? Mà người ta không mua thì kinh tế có phát triển không? Không phát triển thì nước nghèo.

[1:05:11]Và như vậy cái lúc nào lại cũng phải kín đáo, phải giấu giếm, không khoe khoang, không khen mình cái đó là không biết đối với đạo hay không biết nhưng mà đối với kinh tế, xã hội là dở." Họ có thể họ bắt bẻ như vậy, bây giờ trả lời sao? Đây ai lanh trả lời giùm. Giờ phải trả lời sao? Khi chúng ta giảng, khi chúng ta nói chuyện đạo với bạn bè phải coi chừng cái lý do họ phản biện, họ phản biện. Mà họ thường họ dựa vào đời sống thực tế họ phản biện. Thì khi họ hỏi như vậy mình trả lời sao? Thì câu trả lời là thế này: không phải luôn luôn giấu giếm thân phận là điều tốt. Phật không dạy như vậy, không phải đâu.

[1:05:52]Là ví dụ như là cái người đó có khả năng thuyết giảng hay, rồi đến lúc nào đó đến cái chùa đó chơi, cái gặp cái ngày mà phải thuyết giảng mà cái ông giảng sư được mời ổng tự nhiên ổng lăn ra ổng trúng gió á, à ổng không có giảng được nữa mà lúc đó là cái thính chúng đến đông quá rồi, tăng ni Phật tử đến đông rồi. Thì thầy trụ trì lúng túng không biết sao, mới hỏi quý thầy ngồi đó: "Trong quý thầy ai biết giảng? Ai biết giảng?" Thì nếu lúc đó mà cái người kia rất biết giảng mà giấu giếm thân phận, làm thinh luôn thì như vậy có tội không? Có tội. Lúc đó nhìn quanh thấy không ai nhận lời, buộc phải đứng lên để cho buổi lễ

[1:06:30]sinh hoạt của chùa được tiếp tục một cách tốt đẹp. Chứ lúc đó mà giấu giếm thân phận lại là sai. Nên không phải luôn luôn giấu giếm thân phận là tốt đâu, phải không? Nên chỉ có một cái điều là khi mình bước ra thuyết giảng mình đừng có kiêu mạn thôi, đừng nói: "Cho mọi người thấy nay tôi giảng cho coi nha, ngon lành hay hơn mấy người khác", ví dụ vậy đó thì cái đó là sai, còn mình làm theo bổn phận, tốt. Còn mà giấu giếm luôn lại là cũng là mang tội. Cho nên cái trung đạo là gì? Trung đạo là nếu vì lợi ích của mọi người mà mình có bày tỏ khả năng của mình, mà khi bày tỏ khả năng của mình, mình không kiêu mạn thì đó là nhất, đó là trung đạo, phải không?

[1:07:07]Còn mà bày tỏ khả năng của mình trong cái kiêu căng đó là mang tội hoặc là có khả năng mà giấu để không làm lợi ích cũng là mang cũng mang tội. Nên cái trung đạo là như vậy. Thí dụ như là như ngay cả Đức Phật chúng ta vậy, khi mà ngài chứng đạo rồi ngài cũng phải tuyên bố. Như lần đó là sau khi ngài đắc đạo xong, ngài ở lại nơi quanh quẩn Bồ Đề Đạo Tràng thêm mấy chục ngày, 21 ngày. Ngài mới tính là đi quay trở về để giáo hóa hai vị thầy của mình trước kia, nhưng mà mới biết rằng hai vị đó đã tịch. Ngài mới nhớ tới năm anh em Kiều Trần Như mà đã giận và bỏ ngài đi, nhưng mà ngài không có giận, không có giận ai hết. Ngài mới nghĩ:

[1:07:44]"Thôi để giáo hóa năm anh em này tuyệt trước." Thì ngài mới dùng đạo nhãn ngài mới biết cái chỗ năm anh em kia đang ở ở đâu, à ở cái Vườn Nai ở Savathi. Dùng đạo nhãn ngài thấy thì ngài đi về đó. Mà ngài đi bằng gì? Đi bằng thần thông. Chứ còn không phải vượt qua nhiều đồi, nhiều suối, nhiều sông lớn lắm. Từ Savathi, từ Bồ Đề Đạo Tràng đi qua Savathi vượt qua cả con sông lớn thì ngài bằng thần thông ngài biến mất thì hiện ở kia liền. Nhưng mà ngài không có hiện ở trước mặt, ngài hiện ở đâu đường xa xa rồi ngài giả bộ ngài đi bộ tới từ từ từ từ từ từ. Chứ thực sự là ngài vượt qua đoạn đường mấy ngàn

[1:08:17]cây số ngài đi bằng thần thông không à. Thì năm anh em Kiều Trần Như đang ngồi trong Vườn Nai mới nhìn ra thấy thấp thoáng một sa-môn đi tới, rực rỡ, huy hoàng. Cái thấy lạ nhìn kỹ nói: "Ủa hình như là Sa-môn Gautama!" Cái mấy người nói: "Trời ơi, thôi mình đừng có thèm chào, tại người này đã không chịu khổ hạnh tiếp." Nhưng mà cái thần lực của Phật toát ra, năm anh em chịu không nổi, buộc phải là đứng lại, xá chào và lại mời ngồi, đón y đón bát mời ngồi. Thì những câu đầu Đức Phật ngài tuyên bố là Như Lai đã chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài đã tuyên bố thật sự. Lại lúc đó ngài không có giấu mình,

[1:08:50]nghĩa là trước khi ngài giảng bài pháp là buộc cái người nghe phải biết rằng cái người đang giảng cho mình là Phật thì ngài mới giảng. Còn nếu không biết ngài là Phật thì không được giảng. Bởi vì nếu mà cái người nghe không đủ cái lòng kính tin cái lời giảng dạy đó thì nó không biến thành Pháp bảo. Chúng ta nhớ Tam bảo nha: Phật, Pháp và Tăng. Chỉ được gọi là Pháp bảo vì biết chắc lời đó xuất phát từ từ Phật bảo. Đó, chỉ được gọi chắc người đó là Tăng bảo khi biết chắc rằng người đó tuân thủ theo Pháp bảo của Phật. Nhớ Phật, Pháp, Tăng nó có sự liên lạc như vậy. Đầu tiên là Phật bảo, những gì từ Phật bảo nói ra là thành Pháp bảo,

[1:09:30]là những người mà thực hành theo Pháp bảo gọi là Tăng bảo, đó là nguyên tắc. Cho nên vì vậy trước khi mà Phật thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, Phật phải tự tuyên bố mình trước, tự xác nhận cái vị trí Phật bảo của mình. Thì khi năm anh em đã thuần rồi, chấp nhận tin rồi, thấy trên gương mặt đã tin rồi, ngài mới bắt đầu thuyết pháp. Đó là nguyên tắc. Nên ngài đã không giấu mình. Không giấu mình, ngài đã nói về mình từ buổi ban đầu. Và cái đó là ngài không có nói quá, không có nói cường điệu và điều đó đã làm thành vô số lợi ích cho chúng sinh về sau này. Khi một người có khả năng không giấu giếm,

[1:10:04]bày tỏ một cách chính xác và khiêm tốn, điều đó cần thiết cho cuộc đời chứ không phải không. Mình trở lại vấn đề mà cái người nãy anh đã bắt bẻ về quảng cáo, mình trở lại nói về quảng cáo một chút. Ví dụ như khi mình mới chế được một sản phẩm thì cái người mà chế ra một sản phẩm á có hai lý do: một á là nghĩ rằng cái sản phẩm mình nó giúp đỡ cho mọi người trong cuộc sống. Ví dụ mình chế ra một loại xà bông giặt thì mình nghĩ loại xà bông giặt này nó làm sạch đồ hơn, đó là vì lợi ích của của xã hội mà mình chế. Lý do thứ hai là vì gì? Vì vì lợi ích cá nhân, phải không? Vì lợi nhuận, vì mưu kế, vì sinh kế,

[1:10:38]vì sinh kế mà mình phải làm ăn, phải chế và bán, đó là hai lợi ích. Tức là khi mình chế ra một sản phẩm thì nó có hai mục tiêu: một là mình nghĩ rằng cái sản phẩm có lợi cho đời, thứ hai là vì cái sinh kế của mình và mình giới thiệu cái sản phẩm, mình thông báo về sản phẩm của mình cho mọi người mua là tốt, không có gì sai, nhưng đừng có quảng cáo quá đáng. Ví dụ một mình nói lên bằng trời thì đó là mang tội và sau này sản phẩm nó sẽ bị ế đi, sẽ bị quả báo là không ai mua nữa, nhớ như vậy. Sản phẩm nào nói quá sự thật về mình sau này sẽ bị ế, đó là nhân quả. Còn nói vừa đúng vừa đủ theo hai cái mục tiêu:

[1:11:13]thứ nhất là lợi ích xã hội, thứ hai mình có được chút sinh kế thì không mang tội. Mình trả lời người ta về cái việc mà người ta phản biện một chút xíu. Vì đã hết giờ cho nên chúng ta rồi kỳ sau tiếp. Bây giờ trong khi mà chờ đợi người đưa câu hỏi lên để trả lời, chúng ta sẽ nghe bài nhạc Rừng, Rừng ơi của một nhạc sĩ nào đó vừa soạn vừa hát mà ai nghe bài này mà chê là nhạc sĩ đó nghỉ chơi.

[1:11:48]Bao nhiêu mến thương

[1:11:59]thắp lên cho rừng. Ngàn cây tươi xanh che chở muôn lòng. Mênh mông núi sông

[1:12:11]lá hoa muôn trùng đan thành chiếc áo ấm áp nhân gian.

[1:12:19]Chim tung cánh bay,

[1:12:23]hú hoan từng bầy gọi nhau trong bóng sương mờ sương đồi.

[1:12:31]Đường chia muôn lối,

[1:12:35]suối tuôn ngàn nơi, hoa lạc trên nước cuốn trôi xa vời.

[1:12:47]Rừng đêm mơ đến,

[1:12:51]nước sông vừa lên.

[1:12:55]Rừng che giông bão,

[1:12:59]bước qua trời cao. Ngày thu thay lá,

[1:13:07]xao xác bước nai. Trời đông băng giá,

[1:13:15]tuyết bên hồ bay.

[1:13:19]Rừng cho thế giới

[1:13:23]tình đẹp không thôi.

[1:13:27]Ngàn xưa hoang vắng

[1:13:31]rừng là tay nôi,

[1:13:35]tạo nên sự sống

[1:13:39]người bước ra đời.

[1:13:47]An ủi đớn đau,

[1:13:51]đứa con của rừng, giờ đây quay lưng quên nguồn yêu dấu. Cây rơi lá khô, bóng xanh bây giờ héo hắt nhạt thêm tan biến đi mau.

[1:14:11]Rừng đang xơ xác, gốc trơ trọi phơi,

[1:14:19]bầy chim ngơ ngác, suối khô cạn nước, thú hoang gục đầu.

[1:14:30]Hãy lắng nghe rừng lên tiếng với trái tim rừng tha thiết. Nước mắt trên từng chiếc lá rơi qua lưng đồi khói nhòa. Bão tố thay ngàn tiếng thét, nỗi đớn đau của cái chết. Ngăn cháy như tình đã hết khi con người rất mau quên.

[1:15:06]Ước ao mọi người hiểu ra một điều, cây xanh trong rừng cũng biết thương yêu,

[1:15:17]ngàn muôn lá hoa cho ta thật nhiều giọt nắng ban mai hay mưa buổi chiều.

[1:15:29]Hãy hứa trước khi lìa xa cõi đời,

[1:15:35]gắng sức đắp xây lại cho đất trời,

[1:15:41]từng cây bóng cao mênh mông vời vợi

[1:15:47]là chốn tri âm hằng đến con người. Người ơi hãy nói

[1:15:59]là rừng yêu tôi,

[1:16:03]tìm cho thế giới tình người xa xôi.

[1:16:11]Vượt qua giông bão loài người thương nhau,

[1:16:19]rừng đem tia nắng ngập ngừng trên cao.

[1:16:27]Rừng ơi có biết trái tim lệ trào buồn.

[1:16:48]Chắc nghỉ chơi hết chùa này quá, mọi người. "Thưa thầy, cho con hỏi tu như thế nào để trở thành người hiền? Hay phải đến A-na-hàm mới được gọi là người hiền?" Không, mình cứ biết tu là đã là hiền từ từ rồi ha. Tới A-na-hàm là cực kỳ hiền. Còn A-la-hán thì giải thoát. Nhưng mà tới những vị thánh thực sự, các ngài nhiều khi có những lúc mình thấy nghiêm mà mình thấy sợ nữa chứ không phải không. Chứ không phải lúc nào cũng hiền như đất đâu. Những vị thánh thực sự thì không phải luôn luôn mặt hiền đâu. Nhiều khi có uy và nghiêm lắm, như ngài Xá-lợi-phất đó. Có vị có bài câu hỏi dài, tức là: "Chồng bị ung thư, nhưng mà bác sĩ không cho người vợ nói cho chồng biết.

[1:17:26]Để tới giờ phút cuối thì mới nói, chứ không nói ung thư rồi ổng chồng ổng mất tinh thần ổng chết nhanh hơn chút nữa. Người vợ không biết là giấu như vậy là có tốt hay không? Làm sao đây đức Phật?" Thì nó tùy trường hợp. Có người đó, biết bệnh của mình rồi mà bình thản, vui sống và phấn đấu, và ráng trước khi chết mình làm gì có ý nghĩa, thì người đó cứ cho biết càng tốt. Còn cái người mà vừa cho biết xong cái nhảy tê tê chết liền thì thôi đừng cho biết. Cho nên tùy người mà cho biết. Giống như gì đó, cái anh vô địch bóng rổ của Mỹ là Magic Johnson đó. Ổng là vô địch bóng rổ mà bị nhiễm HIV. Rồi ổng biết chuyện đó và ổng ráng ổng phấn

[1:17:58]đấu, thì sau 10 năm ổng hết sạch HIV luôn. Là một trong những ca mà tự hết HIV trong người mình luôn. Lạ lùng không biết sao. Những người đó thì cứ nên cho biết sớm. "Con hiểu sao con thấy nhiều thầy cho chúng sinh xài bùa mỗi lần chúng sanh gặp nạn gì? Khi chúng con hỏi thầy thì thấy thầy không cho xài bùa?" À, xài bùa nó giống như là mình bệnh phải uống thuốc. Là nó không phải cái gốc. Vì cái gốc Phật dạy thế này: Là nhân quả. Là nó có nhiều trường hợp á, để mình nói từ từ. Cái nhân quả là cái gốc sâu xa của mọi hiện tượng, mọi vấn đề. Nhưng mà khi mình gặp chuyện trên đời thì mình hay dùng cái

[1:18:34]phương tiện tạm thời của xã hội, ví dụ bệnh thì phải uống thuốc, thấy bị ăn trộm vô nhà thì phải gọi công? Công an. Như vậy. Đó, thì cứ phải theo cái xử sự bình thường như vậy, nhưng mà cái gốc thực sự nó vẫn là tội, phước. Khi mình bệnh cũng có cái nghiệp gì đó, nhà ai không leo vô, leo nhà mình ăn trộm đang ở nhà mình thì cũng có cái nghiệp gì đó. Nhưng mà không phải là tại tui có nghiệp quá thôi thấy ăn trộm leo vô thôi vô lạy Phật sám hối cho hết nghiệp, nó trộm nó đi ra, không được. Cứ phải là vậy. Còn bùa là một giải pháp, thứ nhất là nó không ổn định, huyền hoặc và nhiều khi sai lầm. Là vì sao vậy?

[1:19:04]Là nguyên tắc của bùa là thế này, là ông thầy nào muốn luyện bùa đó thì ổng phải nuôi âm binh. Âm binh là ai? Âm binh tức là những cái vong hồn mà chưa được siêu thoát, kể cả những con thú, những con chó, con mèo hay là con người, ổng đem về ổng cho ăn, ngày nào ổng cũng cúng cho ăn. Rồi sau đó mỗi khi có chuyện ai cần, ổng thuê, ổng tiền thì ổng sai âm binh nó đi làm cái chuyện đó. Đại khái là như vậy. Là ví dụ cái người đó muốn buôn may bán đắt, cái lại xin bùa ổng, cái ổng cho bùa về cái để đó thì cái âm binh nó xúi mấy người đi đường lại gần gần cái vô cái quán đó mua. Nhiều khi không cần mà tự nhiên tới lại móc tiền ra

[1:19:36]mua quán đó, là do âm binh xúi trong tâm mình. Thì cái giải pháp đó nó hơi lén lút, hơi tiểu nhân, nó không quân tử. Thì nó cũng có biện pháp, cũng là một giải pháp chứ không phải không, nhưng mà nó không đúng nhân quả lắm. Với lại là ràng buộc với âm binh để lệ thuộc mình làm cái điều như vậy đó, cho nên sau này mấy ông thầy bùa đó hay mang quả báo khủng khiếp. Tới chừng không đủ sức mà cho bùa ăn hay là sai bùa nữa thì âm binh nó quay lại nó vật chết liền. Cho nên không nên như vậy. Nên thường là mình dùng những cái giải pháp thực tế trên đời, đồng thời mình ráng làm phước, ráng lạy Phật thì sẽ chuyển được cái nạn của mình.

[1:20:08]Không nên dùng bùa. "Xin thầy cho con lời nguyện cầu xin Đức Phật cho con được trí tuệ sáng suốt và mắt con hết đau, con tên là Trần Vân Tú." Thì con cứ cầu nguyện vậy đi con. Khỏi nói thầy nữa ha. Cứ nguyện Phật cho con trí tuệ sáng suốt và mắt con hết đau nha, cứ cầu vậy là đúng rồi đó. Khỏi hỏi nữa. "Mỗi khi con nghe thuyết pháp thì hồn con giống như xuất ra khỏi xác, nhưng mà khi về nhà thì hết. Thường con tụng kinh thì hồn có thể xuất khỏi chỉ trong vòng 40 phút thôi thì lại hết." À có thể là người này dễ xuất hồn đó, kiếp đời xưa đã có hiện tượng này, kiếp xưa đã có rồi nó gần muốn trở lại.

[1:20:43]À tuy nhiên thôi mình làm chủ, không nên để xuất hồn. Làm chủ tại vì mình chưa hiểu hết đạo, mình chưa làm chủ được, mình xuất hồn ra không nên. Chứ xuất hồn cũng là một trong những hiện tượng của thiền đó chứ không phải không đâu. Mà thôi, mình không có làm chủ được thì nó đi lung tung rồi dễ bị nạn. "Con Nguyễn Mai Quỳnh Thi, 9 tuổi, học lớp 4, nguyện học lực con trung bình. Nay nhờ phước đức của thầy cho con được xin chữ ký để cho con học được giỏi." Ồ, như vậy thầy phải ký cho thầy trước vì thầy học cũng dở lắm. "Xin thầy hát cho con nghe bài Mẹ Hiền mà con đã được nghe thầy hát Chùa Phật Quang, khi con về nhà con cứ mơ thấy thầy hát bài hát đó

[1:21:18]hoài." Thôi phải lên chùa nữa rồi thầy hát cho nghe nha. Giờ về cũng mệt. Phải có đàn, có đồ chứ. "Cho con hỏi cách đây hai tuần lễ đài HTV7 có phát bộ phim Tiếp Xúc của Mỹ, thầy có coi bộ phim đó không, xin trả lời?" Hình như không. Biết tiếng Anh là gì ta? Tiếp xúc? Contact phải không? À bộ phim đó thầy có coi rồi. Bộ phim đó của Jodie Foster đóng á. Jodie Foster, bộ phim đó hay. Bộ phim đó nói về khoa học và tâm linh. "Nếu coi thầy hoan hỷ cho con biết ý nghĩa như thế nào?" Trời ơi, làm sao mà thầy nói được hết ý nghĩa bộ phim, nó dài lắm. Bộ phim đó hay. Thôi vậy thôi ha. Thôi thầy chúc lành mọi người nha.

[1:21:57]Ráng tinh tấn tu học theo Kim Cang để được cái đạo đức và làm được vô số điều lợi cho chúng sinh. Thôi chúng ta đứng lên nghỉ. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,

[1:22:18]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.