Transcript: Kinh Pháp Hoa 16 - Phẩm Như Lai Thọ Ký

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:20:02

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:14]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. À xin Phật tử ngồi xuống. Rằm tháng bảy quý Phật tử đi cúng Vu Lan vui

[0:36]không? Chớ ở trên núi buồn lắm. Nè coi như mình được qua một năm, qua mùa hạ, thêm một mùa Vu Lan. Tuổi đạo mình cũng được thêm một một tuổi ha. Quý thầy thêm một tuổi đạo, quý Phật tử cũng thêm một tuổi đạo. Thì sống ở đời cuộc đời này, có khi mình giàu sang, cũng có khi mình nghèo khó. Nhưng mà mình không lấy cái con mắt thế gian để nhìn cái của cải đó mà vui hay buồn. Mà mình chỉ nhìn bằng con mắt của đạo, mình thấy rằng cứ mỗi năm cái lòng tin đối với đạo không lay chuyển, cái hiểu biết đối với đạo có tăng trưởng thì đó là niềm vui trong cuộc đời của mình. Hôm nay qua một mùa Vu Lan, mình lại thêm được một niềm vui như vậy.

[1:39]Cũng mong cho quý Phật tử cứ mỗi ngày mỗi năm một tinh tấn cho đến khi mà hết cái duyên, mình buông tay nhắm mắt thì cái duyên đối với chư Phật, đối với Phật pháp mình đã gieo được đầy đủ thì mình yên vui từ bỏ cuộc đời này, đi sang một cuộc đời khác đầy những hạnh phúc chờ đón mình, đó là điều mình vui. Hôm nay mình nghe tiếp cái phẩm Tùng Địa Dũng Xuất. Thì trong cái phẩm này, khi mà Đức Phật từ chối cái lời cầu xin của các vị Bồ tát ở phương khác đến giáo hóa, giữ gìn kinh ở cõi này, Đức Phật từ chối thì ngay lúc đó, từ dưới đất nứt ra một vô số Bồ tát bay lên hư không đến lễ Phật. Rồi cái thời gian đó là 50 tiểu kiếp, thời gian này mình nói rồi ha.

[2:43]Bấy giờ hàng tứ chúng cũng nhờ sức thần của Phật, thấy các Bồ tát khắp vô lượng nghìn muôn ức cõi nước ở hư không. Nghĩa là hàng tứ chúng bình thường đó, với cặp mắt bình thường thì không thấy được vô số Bồ tát đầy khắp cả tam thiên đại thiên thế giới như vậy. Nhưng mà nhờ sức thần của Phật thì nhìn vào thấy vô lượng Bồ tát đầy khắp tất cả cõi. Cái đoạn này rất là thú vị. Nghĩa là bình thường trước kia thì người này không tự mình thấy được chư vị Bồ tát, nhưng mà nương nơi sức thần của Phật thì thấy được, giống như chúng ta ngồi đây, bằng con mắt mình, mình nhìn chung quanh mình không thấy ai hết, mình thấy cũng chỉ mình với nhau thôi,

[3:33]cũng là bên đây vách tường, bên kia cây liễu, trước chuồng, sau mái nhà của ta, mình không thấy gì hết. Nhưng mà nếu mình có cặp mắt đặc biệt hơn thì mình thấy nơi đạo tràng này nó không phải chỉ có chừng bao nhiêu đây người, mà còn có những những chúng sinh khác nữa. Có chúng sinh khác đến nghe mà mắt mình không thấy được. Đó là nói về nghĩa đen đó.

[4:03]Chúng ta đừng nghĩ rằng chúng ta sống giữa cuộc đời này cô đơn, chúng ta không cô đơn, không cô độc. Mà còn nhiều chúng sinh siêu hình cao hơn chúng ta à vẫn biết, vẫn thấy chúng ta mà chúng ta không thấy, không biết lại. Rồi khi chúng ta tưởng không ai biết mình làm gì, cái mình muốn làm gì làm, muốn nói gì nói, muốn nghĩ gì nghĩ, sự thực không đơn giản như vậy. Chúng ta không cô độc mà mọi người đều biết chúng ta hết. Còn cái nghĩa bóng của cái đoạn này là thế này: nào giờ những cái điều tầm thường như là hạt bụi rơi, chiếc lá bay, cơn gió thổi, nó là những cái gì đó tầm thường, bình thường trong cuộc sống của mình, phải không?

[4:53]Nhưng mà khi một người đã ngộ đạo thì thấy tất cả những điều đó đều biểu lộ cái chân lý tuyệt vời.

[5:05]Đạo lý bàng bạc bàng bạc trong từng lá cây, từng ngọn cỏ. Tại sao đạo lý bàng bạc trong từng lá cây, từng ngọn cỏ?

[5:18]Tại sao một hạt bụi bay cũng hiện lên một đạo lý? Tại sao một chiếc lá rơi cũng hiện lên một đạo lý, ai biết? Một chiếc lá rơi nói lên đạo lý gì?

[5:32]Chiếc lá rơi nhắc chúng ta một đạo lý gì?

[5:38]Để quý Phật tử cùng với chúng tôi tập nhìn thấy đạo lý bàng bạc khắp nơi trong cuộc sống này. Bây giờ hỏi trước một chiếc lá rơi coi, nói lên đạo lý gì? Cứ việc nhướng mắt nhìn thầy cái nói thầy nghe coi. Hả? Ừ, vô thường, phải không? Con người ai cũng đến cái ngày đó. Nên khi mà chúng ta trong cái tĩnh lặng, thanh thản của mình, nhìn chiếc lá rơi thì mình thấy con người là như vậy. Ai rồi cũng như một chiếc lá rơi mà thôi. Cuộc đời đều luôn luôn thay đổi. Cái gì có bắt đầu đều phải có lúc chấm dứt. Phải không? Đó là một đạo lý. Rồi một cơn gió thổi, nói lên đạo lý gì? Ai mà thấy cơn gió thổi xào xạc đi qua mà hiểu

[6:27]được đạo lý thì người này có trí tuệ lắm á. Thấy cơn gió thổi qua, chúng ta học được đạo lý gì? Không phải là trúng gió là nguy hiểm, không phải ý nghĩa đó. Vô thường cũng phải, chiếc lá rơi mới vô thường á. Còn cái ngọn gió thổi, thú vị lắm. Ngọn gió là nó từ cái không khí như không có gì phải không? Nhưng khi nó động lên thì nó hiện thành tác dụng, làm lay cây lay cỏ, nó mạnh thổi thành bão để xô sập nhà sập cửa kia. Nên cái không á mà có thể thành cái có được, khi nó động á thành cái có được. Thì nó cho chúng ta một cái ý nghĩa là chúng ta đừng nghĩ cái hư vô là không có gì, mà chính từ cái không có gì đó, tất cả có thể được thành tựu, được xuất hiện.

[7:18]Nên người cái tâm họ như hư vô, coi chừng mấy người đó mới là người rất trí tuệ, rất sáng suốt. Và cái hình ảnh mà cái ngọn gió nó thổi qua giữa trời như vậy, nó gợi cho ta một cái hình ảnh cái tâm của một người tự tại như gió như mây, phải không? Tự tại như ngọn gió, thổi qua luồn vào cây vào cỏ không chướng ngại đâu hết á. Đụng đâu cũng luồn luồn luồn đi được hết. Ví như thổi vào đụng vào cái nhà mình thì nó luồn lách luồn lách theo các cửa, đi từ cửa này qua cửa kia, còn không gặp cửa đi một vòng rồi đi ra lại, phải không? Thổi ví dụ gặp thổi vào con người thì luồn qua mái tóc người ta cho người ta tung bay lòa xòa, thổi vào tà áo làm tà áo

[7:58]tung bay, rồi thổi vào cây, cây xào xạc xào xạc. Nó như nó nói đến cái thái độ sống của một con người tự tại thì mình bước vào môi trường nào mình cũng tự tại được. Thí bước vào môi trường mà mọi người đều biết thương yêu nhau thì với cái người tâm tự tại đó, cái tình thương yêu nó phát huy, là mình trọn vẹn sống với tình thương yêu của mình. Còn bước vào môi trường mà toàn những người ác độc, hung dữ, hỗn hào thì cái người đó cũng sống được, cũng luồn lách luồn lách sống được nhẹ nhàng, chẳng giận chẳng hờn ai hết. Nghe người ta chửi cũng giống như nghe gió thổi rồi thôi, huề. Cho nên chúng ta ngồi chúng ta nhìn cuộc đời, mình thấy ở đâu cũng hiện lên đạo lý,

[8:43]một cơn gió thổi ngang cũng cho chúng ta một bài học về cái sự tự tại, phải không? Rồi một đám mây trôi, buổi sáng mặt trời mọc lên ở chân trời, tối ánh trăng lung linh trên trời cao cũng đều cho chúng ta một cái đạo lý gì đó. Rồi những ngày mưa bão, nước ngập, từ trong chùa đi ra không được, lội lùm xùm ướt tới đầu gối, cũng cho chúng ta một đạo lý. Thôi mỗi người nghiệm coi mình lội nước từ trong chùa đi ra có đạo lý gì vô kể cho thầy trụ trì nghe. Cho nên, với cái người mà ngộ đạo thì cả cuộc sống này tất cả đều là đạo lý. Họ sống vui lắm, rồi không cần... Đầu tiên á mình học đạo lý từ nơi quý thầy, từ nơi kinh điển,

[9:32]nhưng khi mình đã tu tâm được thành thục, thuần tịnh rồi thì tất cả đều là đạo lý. Nhìn cụ già tóc bạc cũng nói lên đạo lý, nhìn đứa bé thơ mình cũng thấy được đạo lý trong đó. Như có câu chuyện, vừa rồi báo Thế Giới Mới có đăng câu chuyện là người sói. Có các nhà khoa học họ tìm được trong một bầy sói á là có một vài đứa bé ở trỏng. Con người sống lẫn với bầy sói mà sói không ăn thịt, đứa bé đó sống luôn với bầy sói. Thì người ta mới tìm cách đuổi bầy sói ra và bắt được đứa bé đó về, tại vì biết đây là một đứa bé mồ côi rồi bị thú rồi thú rừng nó nuôi rồi sống luôn trong đó. Họ muốn cứu vớt, thấy đây là một cái bi kịch quá xót xa đi.

[10:21]Cái thân phận con người mà mà lại sống mang thân phận của một cái bầy thú hoang. Họ đem về cải tạo, nuôi dưỡng lại để mong cho đứa bé đó được thành con người, sống như một con người đúng nghĩa. Nhưng đứa bé nó không biết nói, nó chỉ bò bằng bốn chân, gặp người ai cũng gừ, cũng cắn. Đối với con người bây giờ nó là thù địch, cư xử như một con thú. Nhốt nó lại để tập nó từ từ không được, rồi nó không thích nghi, dần dần nó chết. Người ta cũng gặp được cái người được gấu nuôi cũng sống với gấu, người sống với heo rừng, người sống với bầy khỉ, mà không thể cải tạo được nữa. Coi như đứa bé đó được bầy thú nó bắt về nuôi từ lúc chưa biết

[11:03]nói, cho nên lớn lên thì toàn bộ cái sinh hoạt, cái tâm tình của bầy thú đi vào trong cái vô thức của đứa bé đó. Đi vào trong vô thức, đối với đứa bé đó thì cái cái sinh hoạt như con sói đó mới là lẽ phải, mới là chân lý. Còn cái sinh hoạt mà khác hơn thì đứa bé nó không còn chấp nhận nữa. Cái câu chuyện nghe thì buồn, nhưng mà cho chúng ta một cái đạo lý gì? Một cái đạo lý là không bằng lời nói đâu, nhưng mà tâm tình của những người chung quanh nó ảnh hưởng vào con người của mình rất là mạnh, cái tâm tình của những người chung quanh. Mà chúng ta càng nhỏ thì cái ảnh hưởng nó càng càng mãnh liệt.

[11:51]Khi mình lớn lên á, ảnh hưởng nó ít dần, tại vì vì mình đã mang theo cái quan niệm từ quá khứ. Nhưng khi mình nhỏ, mình ở trong môi trường nào mình sẽ trở thành những con người trong cái khuôn mẫu đó suốt cuộc đời mình, khó thoát ra được. Trừ những người rất thông minh, rất trí tuệ, biết nhận định thì mới tự mình thay đổi, còn bình thường mình không vượt lên được cái môi trường mà mình đang sống. Ví dụ trong một cái nhà tù, trong một cái phòng tù là toàn là những tay anh chị hung dữ, ác độc, giết người, cướp của, hãm hiếp, lừa gạt, mình bước trong cái phòng tù. Thì rồi thằng bé này nó không có đáng gì,

[12:33]cái tội nó cũng chỉ bị bạn bè rủ rê làm bậy bạ lặt vặt, nhưng mà bị kết cái tù sáu tháng, cái tội sáu tháng tù, nhốt nó vô trong cái phòng đó. Thì khi sáu tháng nó ở trong cái môi trường đó, khi nó bước ra thì nó nó thành con gì? Nó thành con người xấu hơn là con người trước kia mà nó nó có được, phải không? Vì sáu tháng đó cái tâm tình mọi người ảnh hưởng vào trong vô thức của nó, mà nó vốn là người không lập trường, không lập trường nên nó mới phạm tội. Và bây giờ nó được huân tập thêm những tư tưởng, cái tâm tình của những người ác độc trong đó, thì sáu tháng ra nó ra tù chắc chắn nó sẽ tái phạm để

[13:12]nó vào lại, sẽ trở thành những người nguy hiểm hơn cho xã hội. Về gia đình chúng ta cũng vậy. Khi chúng ta có sinh ra một đứa con, một đứa bé mới lọt lòng, thì những người đầu tiên mà bồng đứa bé đó đó sẽ ảnh hưởng lên trên tâm hồn của đứa bé đó rất mạnh, rất mãnh liệt. Đây là điều mà quý Phật tử, nhất là trẻ mà mới lập gia đình hay chưa lập gia đình cẩn thận điều này. Những người đầu tiên mà bồng ẵm đứa bé đó sẽ xây dựng thành cái tâm hồn của đứa bé đó dù chưa nói thành lời gì hết, dù đứa bé nó chưa biết nghe. Ví dụ như là đứa bé nó sinh ra dĩ nhiên nó mang theo cái tập khí từ kiếp trước của nó, nhưng mà chúng ta thấy cái bà đó bả cũng thấy hiền

[13:53]lành bình thường, bả bồng ẵm nó, nhưng mà tự nhiên lớn lên nó trở thành đứa thủ đoạn, hễ lớn lên nó hay nói dối, lừa gạt người ta. Thì mình xem lại cái bà mà bả hiền lành bình thường á, nhưng nếu mình xét kỹ lại thì bà này hay có tật nói dối tiềm ẩn trong lòng bả ít ai biết, thì trong cái bản chất vô hình đó nó truyền sang đứa bé mà bà bồng, bà ẵm, rất là nguy hiểm. Mà đứa bé nó như tờ giấy trắng vậy, ai viết gì dính vô liền, ai viết dính vô liền, thì lớn lên rất khó dạy. Cho nên quý Phật tử mình đối với những đứa cháu, vì già rồi thì mình có đứa cháu nội, cháu ngoại mới sinh, thì cẩn thận, đừng bỏ nó một mình, đừng bỏ cho nó bò lăn bò

[14:33]lóc một mình trong phòng không ai coi chừng, hoặc là đưa cho cái chị vú em mà chị đó cũng là một người tầm thường, con người hay gay gắt, cáu kỉnh, ích kỷ, mà bồng đứa bé đó hoài coi chừng đứa bé lớn lên mình hết dạy luôn. Ba mẹ nó thì đi làm suốt ngày, mình thì già, giao cho chị vú em, mà chị vú em nhiều khi không phải là người tốt thì tâm hồn của chị vú em dính vào đứa bé đó, lớn lên rất khó chữa. Cho nên mình thương yêu con cháu mình thì phải cẩn thận cho nó tiếp xúc với những người rất tốt trong những ngày đầu của cuộc đời của nó, như vậy. Rồi chúng ta đến chùa cũng vậy, chúng ta cố gắng lựa một cái chùa

[15:09]mà có thầy trụ trì đẹp trai, thuyết pháp giỏi như thầy trụ trì mình ở đây, rồi có những người Phật tử nhìn vào thấy ai cũng hiền lành, thương mến nhau. Một cái môi trường như vậy mình lọt vào thì mình tu một tháng chưa thấm, sáu tháng chưa thấm, một năm bắt đầu thấm từ từ, bắt đầu con người mình thay đổi dần dần mà mình không hay. Mình chưa thấy gì nhưng người hàng xóm của mình họ nhìn lại một năm họ thấy con người mình đã thay đổi. Đó là cái tập tính, cái môi trường chung quanh á nó in vào cuộc đời mình không ngờ được, mình không lường. Nó đi trong vô thức, đi trong âm thầm. Rồi cái người xuất gia cũng vậy,

[15:48]cái người xuất gia thì không phải là chùa nào cũng tốt. Đây là một sự thật mà chúng ta phải nhìn nhận, không phải rằng người nào cạo đầu, mặc áo tu đều là người tốt. Có những cái chùa nhiều khi cũng tệ chứ không phải không. Có nhiều chùa cũng tốt, mà có nhiều chùa cũng tệ là do sao? Do là trong đạo Phật mình hơi lỏng lẻo, nhận người xuất gia bừa bãi, đôi khi dạy đạo đức không kỹ. Có những chùa thì quý thầy sống rất thánh thiện, nhưng có những chùa nhiều khi cũng tào lao. Rồi cái người xuất gia do cái gì đó không biết, do cái duyên nợ gì với cái chùa đó đó hay là thất tình chán đời không biết, cái vô xin tu, cạo đầu tu.

[16:30]Mới đầu mình còn lý tưởng, ở đó ba năm ra biến thành con người khác, biến thành con người cũng hơn thua, tranh giành, tham lam. Cho nên đi tu rồi biến thành người xấu hơn trước khi mình chưa tu vì cái môi trường đó nó đã tiêm nhiễm vào. Còn cái người mà không tiêm nhiễm thì dứt khoát phải bỏ cái chùa đó đi, không ở được. Đó. Nên chúng ta thấy cái môi trường đó ảnh hưởng vào con người mình dữ lắm. Và một người có trí tuệ trong đạo Phật chúng ta nhìn đâu cũng thấy đạo lý là như vậy đó. Một bài báo mình đọc mình hiểu ra được những điều sâu sắc. Rồi bây giờ mình nhìn cái quạt máy này mình thấy được đạo lý gì?

[17:08]"Trong chúng Bồ Tát đó có bốn vị đạo sư", nghĩa là Bồ Tát đông vô lượng vô biên như vậy, nhưng mà gom lại có bốn vị thượng thủ là tên là: Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, An Lập Hạnh. Nhớ nhắc lại nghe. Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, An Lập Hạnh. Bốn vị Bồ Tát này là bậc thượng thủ xướng đạo sư trong chúng đó. Ở trước đại chúng, bốn vị đồng chắp tay nhìn Đức Phật: "Thưa Thế Tôn, có được ít bệnh, ít não, an vui chăng? Những người đáng độ thọ giáo dễ chăng? Chẳng làm cho Thế Tôn mỏi mệt chăng?", vân vân. Ở đây đố Phật tử nha, Bồ Tát là tượng trưng cho gì? Trí tuệ phải không? Tượng trưng cho trí tuệ. Nhưng mà tại sao ông nào tên có chữ Hạnh?

[17:56]Tại sao? Hạnh nguyện vĩ đại? Phải. Dĩ nhiên là nó không sai, điều cô nói không sai, nhưng mà nó chưa xoáy vào cái yếu điểm nhất của cái đoạn kinh này muốn nói. Tại sao Bồ Tát là tượng trưng cho trí, nhưng mà ông nào cũng có tên là Hạnh?

[18:16]Bởi vì, xin thưa rằng, cái trí trong đạo Phật là cái mà làm thành đức hạnh. Quý Phật tử nhớ điều đó. Cái trí của thế gian á, nó đem đến cho người ta sự khôn ngoan, đôi khi thành ra thủ đoạn, mưu mô, xảo quyệt, đôi khi như vậy, đôi khi thôi chứ không phải mình chụp, mình quơ hết cả nắm. Nhưng trong đạo Phật, cái trí là cái gì chắc chắn đưa đến cái đức hạnh, đưa đến đạo đức. Tại sao như vậy? Bởi vì, cái trí trong đạo Phật là cái mà người ta tự xét mình, tự xoay lại xét mình, chứ không phải là cái nhìn ra bên ngoài. Ví dụ mình nghe một người họ nói rằng: "À, tôi theo đạo Phật được 5 năm, tự nhiên tôi thấy bây giờ tâm tôi nó an lạc mà nó sáng suốt hơn hồi xưa.

[19:16]Tôi nhiều sự việc tôi đoán ra cũng được đúng." Mình nghe người ta nói câu đó xong, cái lập tức cái mình tính mở miệng mình nói: "Tôi theo đạo Phật được 10 năm và tôi biết được nhiều chuyện hơn chị." Mình tính nói câu đó, nhưng mà cái trí của mình lúc đó làm sao? Nó khởi lên, nó nhìn lại cái tâm của mình, thì nó thấy cái tâm đó là tâm gì? Tâm gì? Tâm hơn thua, phải không? Nghe người ta khen người ta cái mình cũng muốn khen mình, để tranh cái tốt với người khác. Thì cái trí tuệ của một người tu hành không cho phép cái tâm đó tiếp tục khởi nữa. Vì sao? Lập tức xóa cái ý niệm mà muốn nói điều đó và mình chỉ biết tôn trọng cái người kia:

[20:02]"À người đó tu được 5 năm, có những tiến bộ trong đạo, là điều đáng mừng", rồi thôi. Mình không nói gì về mình, không nghĩ gì về mình nữa. Vì cái trí tuệ của mình nó đã kiểm soát được cái tâm niệm thầm kín của mình rồi, không cho phép mình khởi một cái niệm hơn thua với người khác. Mình tiếp tục giữ cái sự hiền lành, khiêm hạ. Đó như vậy cái trí là cái nó phát hiện được cái sự thâm sâu nhất của mình và giữ mình được trong cái hiền lành, từ tốn, khiêm hạ. Và như vậy cái trí đó nó đưa đến đức, đức hạnh. Đúng không? Đó. Cho nên quý Phật tử cũng vậy, người nào mà cảm thấy trong cuộc sống của mình mà dần dần từng bước mình biết được mình nhiều

[20:47]hơn, mình biết được mình nhiều hơn, mình thấy ngày xưa kia mình nhiều lúc mình sân hận, bây giờ mình kiểm soát được cái sân hận đó, chuyện đáng lẽ nổi nóng, bây giờ mình nhịn được không nóng nữa, bình thản, thì đó chính là cái trí tuệ, cái biết được chính mình mà làm cho mình trở thành hiền lành, đạo đức, đó là trí tuệ. Chứ đừng nghĩ trí tuệ là cái gì nó xa xôi mênh mông, siêu cao siêu, không phải. Chính cái làm thành đạo đức là trí tuệ. Cho nên, chúng ta dễ thấy cái người tu mà chân chính á, mình nhìn họ càng hiền chừng nào thì họ càng sáng suốt chừng nấy. Còn người mà nhìn vào mình thấy họ còn có vẻ hơn thua,

[21:40]à có vẻ phô trương, à vân vân, thì dù họ được gọi là giỏi cách gì, vẫn biết chưa phải là người có trí tuệ, tại họ chưa giữ được họ trong cái hiền lành, kín đáo, khiêm hạ.

[21:57]Chừng nào mà mình giữ được mình trong cái hiền lành, khiêm hạ, kín đáo thì cái cái năng lực giữ mình đó, đó là trí tuệ trong đạo Phật. Cho nên, đây là điểm căn bản mà Kinh Pháp Hoa, phẩm Tùng Địa Dũng Xuất nhắc lại mình. Tuy nói rằng cái trí tuệ của một người đạt đạo là vô lượng vô biên, không thể nào tính kể, từ nơi chính mình lưu xuất ra, không phải học hỏi bên ngoài nữa. Bồ tát từ phương khác tới là tượng trưng cho những kiến thức mà mình học từ nơi này, nơi kia. Còn cái Bồ tát từ nơi đất nứt ra ở cõi Ta-bà này vượt lên là tượng trưng cho trí tuệ nơi chính mình lưu xuất. Thì trí tuệ đó vô lượng vô biên, không gì có thể tính kể được.

[22:51]Nhưng mà cái trí tuệ đó là cái gì mà làm thành đạo đức? Rồi trong kinh nói tiếp là các vị Bồ tát đó hỏi thăm Phật, vân vân. Phật cũng nói rằng: "À, Phật Ngài cũng khỏe, giáo hóa chúng sinh cũng tốt." Câu này có vẻ khách bình thường rồi, sự giao tiếp bình thường. Lúc bấy giờ, ngài Di Lặc Bồ tát cùng tám nghìn Hằng hà sa các chúng Bồ tát đều nghĩ rằng: "Chúng ta từ xưa đến nay chẳng hề thấy, chẳng hề nghe các chúng Đại Bồ tát như thế từ dưới đất vọt lên đứng trước Thế Tôn, chắp tay cúng dường thăm hỏi." Ngài ngạc nhiên, đây là điều Ngài chưa từng biết, sao mà kỳ lạ vậy? Đoạn kinh này tượng trưng cho điều gì?

[23:41]Có phải là ngài Bồ tát Di Lặc không biết không? Tượng trưng cho ý gì?

[23:50]Bồ tát Di Lặc là tượng trưng cho cái gì?

[23:54]Từ đầu kinh mình đã nói rồi, Kinh Pháp Hoa nói khác á chứ không phải, từ khóa học gia đình Phật tử đã nói khác, còn trong Kinh Pháp Hoa cái tượng trưng khác. Từ đầu kinh vậy, quý Phật tử đã nghe giảng ngài Di Lặc tượng trưng cho ý thức, thức phân biệt của mình, chứ không phải là cái tâm chứng. Bồ tát Văn Thù mới tượng trưng cho cái trí tuệ từ cái tâm chứng, còn Bồ tát Di Lặc là tượng trưng cho cái ý thức.

[24:26]Và như vậy, cái ý thức là cái gì mà không thể hiểu được tại sao tự nơi mình mà cái trí tuệ nó lưu xuất vô hạn vô biên như vậy? Cái ý thức chúng ta không hiểu được điều đó. Ví dụ như là các Phật tử bây giờ vậy, đang ở trong tâm trạng của ngài Bồ tát Di Lặc. Quý Phật tử nghe nói rằng từ nơi mình nếu mà tâm thanh tịnh ngộ đạo là cái trí tuệ nó phát xuất vô lượng vô biên, quý Phật tử nghe chỉ tin mà thôi, phải không? Tin thôi. Ờ kinh nói vậy, Phật nói vậy mình tin, chứ không thể nào mà tự mình cảm nhận được điều đó. Thì một lát làm cho quý Phật tử cảm nhận thử một góc nhỏ, thì quý Phật tử sẽ thấy điều này nó có thật.

[25:10]Thì ngài Bồ tát Di Lặc tượng trưng cho ý thức nên Ngài khởi nghi, thắc mắc: "Tại sao nơi mình có thể có trí tuệ như vậy?". Câu chuyện này giống như ngài Tuyết Phong với ngài Nham Đầu. Hai vị này là lúc còn đi hành cước, là hai Thiền sư. Nhưng mà ngài Tuyết Phong thì có ngộ đạo rồi mà ngộ chưa có sâu, còn ngài Nham Đầu thì ngài ngộ rất là trọn vẹn, rất là triệt để. Hôm đó đi đến Ngao Sơn gặp trời trở tuyết, tuyết phủ đầy đường đầy xá đầy rừng hết, các ngài không đi được nữa, đành phải nghỉ lại ở cái nhà trọ. Khi mà nghỉ lại thì ngài Tuyết Phong cả đêm cứ ngồi thiền, ngài tu hành tinh tấn; còn ngài Nham Đầu cả đêm cứ nằm ngủ.

[25:59]Cái ngài Tuyết Phong ngồi cho tới gần sáng mới nhìn qua cái vị sư huynh của mình, thấy ông này cứ nằm ngủ luôn từ đầu hôm tới sáng, mới nói: "Sư huynh, sư huynh, dậy mà ngồi thiền. Mạng người sống không bao lâu, sư huynh cứ nằm vậy hoài uổng phí một đời tu hành." Ổng ý ổng cũng tốt.

[26:20]Cái sư huynh ổng mới ngóc đầu dậy, ổng mới nói: "À thì cứ ngồi như chú mày cho tới chết á, thì trong tâm cũng hổng cũng cũng mê mờ mịt si mê." Cái ổng mới ngạc nhiên: "Sao mình ngồi thiền mà ổng nằm mà ổng lại chê mình?" Ổng nói: "Vậy chứ sư huynh cái ý sư huynh sao mới là đúng?", ngài Tuyết Phong ngài hiền lành lắm, ngài đức độ. Cái cái ngài Nham Đầu mới: "Thôi bây giờ chú mày bao nhiêu cái cái sở ngộ, mày ngộ được bao nhiêu lần, mày kể lại tôi chỉ thêm, ta chỉ thêm." Cái ngài mới nói: "Ngày xưa ở chỗ Động Sơn, em nghe bài kệ qua sông em có ngộ một lần." Cái ngài Nham Đầu mới nói: "Cái chỗ ngộ đó không có dùng được,

[27:07]không có cứu được cái gì, không đủ sức đưa mình vào định sâu, thoát được sinh tử." "Dạ rồi em có ở chỗ Đức Sơn, bị đánh một gậy, em có thêm được một cái chút ngộ, một bước ngộ khác sâu hơn." Ngài Nham Đầu mới nói rằng: "Cái bước ngộ đó cũng chưa phải là trọn vẹn." Cái ngài Tuyết Phong nói: "Em chỉ biết được như vậy, chứ còn cái gì khác thì em không biết được." Cái ngài Nham Đầu mới nói rằng: "Chừng nào mà từ nơi hông ngực của ông mọi điều cái quang minh nó lưu xuất, thì lúc đó cùng ta che trời che đất mà đi." Ổng nói xong câu đó ngài Tuyết Phong đại ngộ liền. Ngài đứng lên ngài lễ bái, nói: "Sư huynh, sư huynh, ngày hôm nay mới thành đạo ở Ngao

[27:53]Sơn." Tới đó ổng mới đại ngộ, triệt ngộ lớn được.

[27:59]Thì cái đoạn này là ngài Nham Đầu ổng nằm nhưng mà sự thật ổng có ngủ không? Đó, ổng nằm cả đêm nhưng mà sự thật cả đêm ổng nhiếp tâm trong định, không cần ngồi ổng vẫn nhiếp tâm được chặt chẽ. Còn ngài Tuyết Phong thì do cái sức ngộ mình nó cạn hơn, nên phải ngồi thiền nghiêm chỉnh mới nhiếp tâm được, chứ nằm xuống là ngủ liền. Mà ổng không hiểu được sư huynh mình. Đến khi được sư huynh ổng khai ngộ là phải tự nơi hông ngực mình lưu xuất ra, phát xuất, thì mới cùng ta che trời che đất mà đi, cái tâm mới phủ trùm trời đất được. Nhưng mà cái duyên ngài Tuyết Phong cũng đến nó thuần thục, nghe câu nói đó xong thì bừng ngộ luôn, bừng ngộ rất lớn. Ngài mới nói:

[28:38]"Ngày hôm nay em mới thành đạo được ở Ngao Sơn, nhờ câu nói của sư huynh của mình." Đó thì cái đoạn của hai vị Thiền sư đó đối đáp với nhau thành tựu được cái ngộ đạo, nó đồng với cái phẩm Tùng Địa Dũng Xuất của Kinh Pháp Hoa, rất là hợp. Lát nữa chúng ta sẽ nghiệm thấy. Ngài Di Lặc Bồ tát, Ngài mới hỏi Phật, cái đoạn kệ này rất là dài. Là: Bạch Thế Tôn, từ vô lượng kiếp đây, từ xưa đến giờ không thể thấy được ở đâu mà có vô số, vô biên các vị Bồ Tát, mỗi vị lại có vô biên quyến thuộc mà ở dưới đất nứt ra, vọt lên hư không, trụ giữa hư không như vậy. Thì những vị này là ở đâu giáo hóa, tu theo kinh gì, tu tập Phật đạo nào, vân vân.

[29:35]Con là từng đi dạo qua các nước mà không thể thấy điều này, cái điều lạ lùng này. Thì lòng con không hiểu được, cầu xin Thế Tôn chỉ dạy. Bây giờ, chúng ta quay lại nơi chính mình để hiểu được cái phẩm này. Thường á, chúng ta muốn biết một điều gì thì chúng ta biết nhờ cái gì? Nhờ cái gì? Có nhờ cái đầu không? Phải không? Mình đọc kinh, mình nghe giảng, mình nhìn, à mình hiểu biết thì mình thấy mọi cái suy nghĩ của mình nó nằm ở nơi cái đầu, cái não, phải không? Còn cái nơi bàn tay mình có cái biết không? Nơi cái vai mình có cái biết không? Nơi cái bụng mình có cái biết không? Có không? Nếu mà người nào nói có là người đó đã đắc đạo rồi.

[30:28]Chúng ta chỉ biết bằng xúc giác, hễ rờ thì biết nóng biết lạnh thôi phải không? Biết cứng biết mềm thôi. Chứ còn nơi cái vai này mình làm sao mình biết cái người trước mặt mình là người tốt hay người xấu? Phải không? Nơi trái tim mình làm sao mình biết cái người trước mặt mình đang suy nghĩ cái gì? Phải không? Không thể biết được. Đúng không? Nhưng mà bây giờ bắt đầu biết đây. Nghĩa là nơi cái trái tim này, nơi cái bụng này, nơi cái vai này mà nó vẫn có cái biết được cái người ở trước mặt mình đang suy nghĩ cái gì. Quý Phật tử có tin điều đó không? Nghe thầy nói lờ đờ, tin không dám tin thì sợ

[31:08]tội mà tin chẳng thấy gì hết, phải không? Cái lưng của mình nè, chỉ rờ biết nóng lạnh thôi. Hồi nhỏ thì ba mẹ gãi gãi thì dễ ngủ. Bây giờ mà nói mình nhắm mắt lại, ngồi xoay lưng lại người ta mà nơi cái lưng của mình vẫn cảm nhận được cái người đằng sau mình là người tốt hay người xấu, đang nghĩ cái gì? Được không? Không, phải không? Bây giờ tập thử coi, thì mọi Phật tử ngồi nhắm mắt lắng tâm lại coi cái người ngồi sau lưng mình họ đang nghĩ cái gì? Mà biết bằng cái lưng của mình thôi. Hôm trước có lần nào nói cho quý Phật tử nghe mà cái cây, cái lá nó có cái biết không? Có kể chưa kìa? Có rồi, phải không?

[31:52]Tức là cái lá cây nó cũng có cái biết nữa. Mà cắt cái lá đó ra nhiều mảnh, mỗi mảnh nhỏ nó cũng có cái biết nữa. Người ta đo là làm cái máy người ta đo được. Ví dụ một cái lá cây mà mình khởi ý niệm mình muốn chặt nó, muốn đốt nó là nó khởi ý niệm nó động lên nó phản đối liền và cái kim kia nó nhảy liền. Người ta đo được cái suy nghĩ, cái phản ứng cái lá cây đó, hoặc là một cái cây, một cái trái cây, một cái cành cây, một cái rễ cây đều có cái ý nghĩ, có cái tâm linh của nó hết, chứ không phải là không có. Hôm trước đã kể quý Phật tử nghe cái thí nghiệm, cái phát hiện của nhà khoa học đó rồi phải không?

[32:30]Nhớ không? Đúng rồi. Có nhiều người mới thì chưa nghe được câu chuyện trước, mà cái người hôm trước mà nghe mà ngủ cũng không có nhớ nữa, phải không? Thì nói vắn tắt thôi chứ không thể kể lại tỉ mỉ. Là ông kỹ sư tên là Baxter, người Mỹ, ổng mới chế cái máy dò nói dối giúp cho cái ngành công an điều tra tội phạm. Nghĩa là khi một người đó mà hễ nói thật á thì nó như thế nào, mà hễ nói dối á thì trong cái thâm sâu vô thức của họ nó có cái động rất nhẹ. Họ phát hiện ra cái họ biết, à ông này nói dối. Thì ông này trong một cái đêm đó ổng thức khuya ổng mày mò, ổng mới nhìn thấy cái cây kiểng ở trong phòng ổng,

[33:14]ổng mới nghĩ là cây nước nó đang khô bây giờ ổng chế nước vô, cái thân cây nó dẫn nước lên thì độ dẫn điện nó sẽ tăng thì ổng lấy ổng đo cái điện cực á thì cái kim nó sẽ đo cho biết cái độ dẫn điện nó tăng lên. Cái ổng cắm hai điện cực vô cái lá, cái ổng tưới nước vô. Tưới thiệt lâu rồi kim cũng không nhảy. Không nhảy, nó nằm im à. Nghĩa là nước thấm vô cái mối vô cây mà cây kim nó không nhảy, không phản ứng gì hết. Cái ổng chợt ổng nghĩ ý nghĩ là để ổng lấy hộp quẹt ổng đốt cái lá này, ổng vừa mới nghĩ một cái kim nó nhảy liền, giống như cái lá nó phản ứng. Ổng ngạc nhiên ổng nói: Ủa, có cái gì rung động ta?

[33:50]Chắc là gió nó thổi cái đồng hồ. Cái ổng thấy không có gió, cái ổng mới khởi ý niệm, ổng lấy hộp quẹt lên ổng tính đốt thật. Ổng vừa cầm hộp quẹt, vừa khởi ý nghĩ là cái kim nó rung rung lại liền. Tức là cái lá cây nó phát cái dao động ra, nó phản ứng. Ổng nói: Ủa, sao kỳ ta? Không lẽ cái lá cây nó đọc được ý nghĩ mình? Ổng mới giả bộ cầm hộp quẹt đưa tới mà trong lòng thì nghĩ là không đốt thì cái kim không nhảy nha. Nhưng mà ổng nghĩ đốt, ổng vừa mới nghĩ đốt thật tức là kim nó nhảy lại liền. Nghĩa là cái lá cây nó đọc được tư tưởng con người và nó biết phản ứng. Sau đó ổng cùng những cộng sự của ổng làm rất nhiều thí nghiệm,

[34:27]rất nhiều thí nghiệm, viết làm những bản báo cáo rất dày. Cho biết là cây cối có phản ứng tâm linh, có biết, có phản ứng tâm thức. Nên rất nhiều nhà sinh học trên khắp thế giới xin cái tài liệu đó để về nghiên cứu tiếp và đều công nhận là điều đó có thật. Thì chúng ta thấy nguyên một cái cây lớn như vậy mà ngắt ra một chiếc lá nhỏ nó cũng có cái biết. Thì chúng ta cũng vậy, một ngón tay mình nó có cái biết ở trong ngón tay của mình chứ không phải đợi tới cái đầu đâu. Cái biết nơi cái đầu là cái biết hạn chế, mà chính nơi cái thớ thịt này nó biết trong cái vô thức, vô hình mà biết nhiều hơn cái đầu mình biết.

[35:06]Như quý Phật tử này, nhiều khi là cái người đó mình mới gặp lần đầu nhưng mà trong tâm của mình, mình cảm nhận được người này như thế nào, tốt hay xấu, quý Phật tử có cái đó không? Có không? Rất nhiều người có điều này phải không? Cái người đó mình chưa hề quen mà gặp lần đầu tiên là mình biết người này như là sao liền. Ví dụ như là quý Phật tử lần đầu tiên mà gặp tôi, mình biết cái ông thầy này ổng lại cà chớn hay sao liền, hay là không qua mắt được. Như vậy, đó. Thì cái biết đó là nó do suy nghĩ hay là nó do cảm nhận của trái tim? Đó là cảm nhận của trái tim, không? Cái vô hình của thịt, của da mình nó biết được, không phải do cái đầu.

[35:55]Cho nên chúng ta đừng nghĩ cái biết thì chỉ nơi đầu, mà khắp người mình nó đều là cái biết. Chỉ có cái điều là do tâm mình còn động, nên cái biết đó nó chưa hiện rõ và chưa có vô lượng vô biên thôi. Còn một vị đắc đạo, khi tâm thanh tịnh thì khắp thân này cái biết đó nó phát phủ trùm cả trời đất. Cái tâm thanh tịnh như hư vô, phủ trùm cả trời đất. Đây là một chút mà quý Phật tử nói thì quý Phật tử chưa cảm nhận được nhiều đâu, nhưng quý Phật tử về nhà, ngồi lặng lẽ lại, tìm lại nơi mình thì sẽ thấy cái biết nó phủ trùm lấy thân mình. Và cái tâm của mình nó rất là nhạy. Đây là cái điểm mà Phật dám nói là Bồ Tát nứt từ lòng đất vượt lên,

[36:46]là khắp thân mình ở đâu cũng là tâm hết, đâu cũng là cái biết hết. Mà cái biết này vi diệu lắm, nó không phải là cái suy nghĩ tầm thường bằng tư tưởng đâu. Nó rất là hay. Còn thường qua các nước mà chưa từng thấy điều này, từng đi dạo qua các nước mà chưa từng thấy điều này nghĩa là sao? Nghĩa là chúng ta đã trôi lăn luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác mà chúng ta vẫn chưa biết được từ nơi mình cái trí tuệ lưu xuất từ toàn thân khi tâm mình thanh tịnh. Chúng ta vẫn chưa biết điều này. Đến hôm nay, nghe giảng Pháp Hoa thì mình bắt đầu có cái ý niệm đó và để gieo cái duyên thôi. Bây giờ Đức Thích Ca Mâu Ni Phật mới nói ngài Di Lặc nè:

[37:40]“Hay thay, hay thay Di Lặc! Có thể hỏi Phật việc lớn như thế. Các ông phải chung một lòng, mặc giáp tinh tấn, phát ý bền vững. Nay Đức Như Lai muốn hiển phát, tuyên bày trí tuệ của các Đức Phật, sức thần thông tự tại của các Đức Phật, sức sư tử hùng lực của các Đức Phật, sức uy thế dũng mãnh của các Đức Phật.” Bây giờ Đức Phật tiết lộ, ngài tiết lộ cái điều bí mật là tại sao, tại sao có Bồ Tát dưới đất hiện lên. Ngài nói rằng: “Các hàng đại Bồ Tát vô lượng vô số a-tăng-kỳ từ dưới đất vọt ra mà các ông từ xưa chưa từng thấy đó, chính là ta ở cõi Ta-bà này, lúc được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi,

[38:25]giáo hóa, chỉ dạy các Bồ Tát đó, điều phục cho họ khiến được đạo tâm. Các vị Bồ Tát đó ở thế giới cõi Ta-bà, trụ giữa hư không. Phía dưới cõi Ta-bà là nằm núp trong lòng đất, tức là ẩn tàng nơi thân mình đó. Ở trong kinh điển đọc tụng thông lẹ, suy gẫm, rõ hiểu nghĩa tưởng chơn chánh. Các vị đó không có nói bàn, thường ưa ở chỗ vắng, siêng tu tinh tấn, vân vân.” Cái này để quý Phật tử đọc, hiểu ha. Ở dưới Ta-bà, trụ giữa hư không, nghĩa là gì? Trụ giữa hư không nghĩa là gì? Tượng trưng cho ý gì?

[39:05]Nói gì con? Từ trong con người? Không phải. Bồ Tát ở phương dưới mà trụ giữa hư không là tượng trưng cho gì? Bồ Tát là tượng trưng cho trí, phải không? Ở dưới, trụ giữa hư không nghĩa là gì? Trí trong mọi người, nhưng mà ở phương dưới, trụ giữa hư không cái ý nghĩa nó là gì? Chưa đúng. Trụ giữa hư không. Phương dưới là tượng trưng cho gì? Là sự khiêm hạ, kín đáo, phải không? Tức là cái trí đó không phải là sự phô trương, mà là sự khiêm hạ, kín đáo. Rồi, trụ giữa hư không là tượng trưng cho cái gì? Là không có chấp. Không có chấp. Ví dụ thế nào gọi là không chấp? Ví dụ thế này, là quý phật tử

[40:02]thấy cái gia đình kia nghèo, cái mình mới góp hai, ba người lại, mình tặng họ một cái năm chục, một trăm ký gạo để cho họ nuôi ông bà già, mấy đứa nhỏ đi học. Thì việc đó là một cái việc làm tốt hay xấu? Tốt, phải không? Rồi, nếu mình chấp á thì cái tâm mình lúc đó là sao? Mình thích, mình vui, mình... Nhưng mà nếu mình không chấp thì nó làm sao? Mình coi như việc đó như hư không, không đáng nhắc, không đáng nhớ, không quan trọng. Đó là không chấp.

[40:41]Rồi ví dụ như là mình tu thiền, mình ngồi, tối nào mình cũng tụng kinh, rồi ngồi niệm Phật, ngồi thiền được cả tiếng đồng hồ, tâm mình thanh tịnh. Nếu mình chấp thì nó làm sao? Mình chấp á thì mình nghĩ rằng cái việc mình làm rất là hay, phải không? Đáng để cho mọi người biết, để mọi người nể phục. Là cái chấp. Còn nếu mình không chấp thì sao? Việc đó mình giấu kín, phải không? Coi nó không quan trọng, chưa đáng gì hết so với công hạnh của Phật, của Bồ Tát. Không đáng gì hết. Nên có lần tôi nghe một phật tử kể câu chuyện là một phật tử đấy hay đến cái tiệm cơm chay đó ăn. Rồi những người mà họ phục vụ cũng là cư sĩ

[41:26]thôi, họ phục vụ trong cái tiệm cơm chay đó, thì họ phải ngồi thiền một ngày hai tiếng đồng hồ. Có khách thì bán, đến đêm xuống thì họ ngồi thiền hai tiếng đồng hồ. Thì khi mà nói chuyện với mấy người khách hàng ăn á, nói: "Mấy cô làm cực quá ha?" Nói: "Trời ơi, tụi cháu nhưng làm cực vậy chớ ngày nào cũng phải ngồi thiền hai tiếng đó". Thì ổng nghe cũng nể, làm cực, bán cơm chay là cũng làm việc tốt, mà tối còn ngồi thiền được hai tiếng nữa, rất là hay. Thì một cái việc mà nói ra thì nó chấp hay không chấp? Chấp, phải không? Mà khi chấp thì nó sinh ra cái quả báo của nó. Cái quả báo đó là tháng sau, khi ông khách này tới cái tiệm đó,

[42:08]mà ổng cảm tình, ổng nghĩ cái người này là vừa biết tu, vừa bán cơm chay, thì ổng chứng kiến là ở trong cái tiệm cơm chay đó chửi nhau không còn non nước gì hết, chửi tan nát hết trơn, rất là sân si. Đó là tại sao? Tại sao? Tại vì cái cái chấp. Chính cái chấp của mình nó làm mình tự hào rồi những cái tham, sân khác nó theo đó nó khởi dậy. Cho nên cái vị Bồ Tát cái trí tuệ mà không chấp, trụ giữa hư không á, nghĩa là luôn luôn xem những việc mình làm được như không có gì. Tự trong tâm mình coi nó chưa đáng gì và đối với mọi người khác thì không bao giờ phô trương hay khoe khoang. Thì người như vậy mới đi được bền trên con đường Phật đạo.

[42:56]Mới có thể bền bỉ để làm nhiều việc tốt đẹp khác. Còn nếu từ trong lòng mình mà mình thấy mình làm được chút nào là chút đó đều hay, đều giỏi, rồi mình đem cái việc mình làm mình khoe khoang, phô trương thì chắc chắn cái người đó không thể là người tiến đạo một cách bền vững được, mà chắc chắn có ngày thối, bị lui, bị lạc, vân vân, bị lung lay. Như vậy đó. Cho nên mới nói là cái căn bản của vị Bồ Tát là phải trụ giữa hư không là như vậy. Dù mình hiểu biết rất sáng suốt, vẫn không bao giờ cho mình là hay. Tức là không trụ, không chấp, trụ giữa hư không. Dù mình rất thương yêu chúng sinh, vẫn không chấp cái từ bi đó là đủ.

[43:49]Như vậy Phật còn cho mình nói tiếp một chút nữa. Thôi giờ nghe tiếp ha! Ngài nói rằng là từ lúc ngài ngồi dưới cội Bồ đề ở thành Già Da thành chánh giác, ngài đã giáo hóa được cho vô số Bồ Tát. Cái điều này làm cho ngài Di Lặc càng hồ nghi nữa. Ngài nói rằng lúc mà Thế Tôn làm thái tử, rời khỏi cung dòng Thích, ngồi đạo tràng cho tới ngày hôm nay thì chưa bao lâu, mới 40 năm à. Tại sao có thể giáo hóa được vô lượng, vô biên chúng Bồ Tát? Thì làm sao mà trong thời gian ngắn mà làm nên được Phật sự lớn như vậy?

[44:36]Chúng Đại Bồ Tát này giả sử trong nghìn muôn ức kiếp cũng không thể đếm hết được. Ví dụ nói rằng cái người mà trẻ tuổi tóc đen, chỉ cái người tóc bạc tuổi già mà nói cái người tuổi già là con mình thì khó tin quá. Giống như là Thế Tôn từ lúc mà sinh ra trong cung vua Tịnh Phạn, thành đạo đến ngày nay thì chưa được bao nhiêu, mới chừng gần 80 tuổi. 80 tuổi Phật tịch. Gần 80 tuổi. Còn những vị Bồ Tát vô biên, vô lượng công hạnh này thì tính ra cái công hạnh đó là từ rất nhiều kiếp lâu xa. Thấy thương tình cũng cho điện nói tiếp nữa. Cho nên cuối phẩm á, Phật mới nói: "Ai mà hiểu được, tin được cái phẩm Như Lai Thọ Lượng này thì

[45:28]người đó không bao giờ thối chuyển trong đạo Bồ đề nữa". Phẩm này rất khó tin, khó hiểu. Quý phật tử ráng nghe. Bây giờ Đức Phật mới ba lần, ngài mới khẳng định nói rằng: "Này các thiện nam tử, các ông phải tin hiểu lời nói chắc thật của Như Lai". Vì việc điều sắp nói ra rất là kỳ lạ, khó hiểu mà ngài sợ ngài nói ra, người khác không tin, mà chỉ khởi niệm không tin ngài thì mất cái hột giống Bồ đề. Cho nên ngài yêu cầu, ngài khẳng định phải cố gắng tin tưởng. Mà người nào tin mà hiểu nữa thì công đức không thể tính kể được. Khi mà ngài nói ba lần như vậy thì ngài Di Lặc thỉnh Phật nói: "Các ông hãy lắng nghe". Đức Phật nói:

[46:17]"Sức bí mật thần thông của Như Lai, tất cả trời, người, A-tu-la đều cho rằng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật ra khỏi cung họ Thích, cách thành Già Da chẳng bao xa, ngồi nơi đạo tràng được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nhưng, thiện nam tử, thật ta thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na-do-tha kiếp. Ví như trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người nghiền làm vi trần qua phương Đông..." Chúng ta đọc lại nguyên đoạn kinh để ngồi nghe nha, nghe nhưng đừng có ngủ. "...Cách năm trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi nước bèn rơi một hạt bụi, đi qua phía Đông như thế cho đến hết vi trần đó.

[46:55]Các thiện nam tử, ý ông nghĩ sao? Các thế giới đó có thể suy gẫm, so tính biết được số đó chăng?" Nói: "Thưa, không thể được, quá nhiều". Nghĩa là ví dụ một người nghiền hết phân nửa đất này đi qua mỗi cõi đất bèn rớt xuống hạt bụi. Đi hết chừng nào mà cho hết cái số đất mình nghiền trong một cái địa cầu này là biết bao nhiêu, phải không? Quá nhiều, không tính được cái cõi đất đó. Nên quá nhiều. "Là chúng con trụ trong bực Bất Thối Bồ Tát thì trí chúng con cũng không lường nổi cái số thế giới mà đi qua để rải hạt bụi đó, không biết được, nhiều quá. Này các thiện nam tử, nay ta tuyên nói rành rõ cho

[47:31]các ông, các thế giới đó hoặc dính bụi hay không dính bụi đều nghiền cả làm vi trần, làm bụi hết. Cứ một vi trần là một kiếp thì từ ta thành Phật cho đến nay nhiều hơn cái số kiếp đó". Như vậy mình có thể tưởng tượng được cái số kiếp mà Đức Phật nói là Đức Phật thành đạo? Tưởng tượng được không? Tưởng được, nhưng với điều kiện mình điên kìa, mới tưởng được, chứ người tỉnh thì tưởng không nổi. Ha, con số quá nhiều, không tính được. "Các thiện nam tử, nơi chặng giữa, ta nói Phật Nhiên Đăng và lại nói các đức Phật nhập Niết bàn, như thế đều là dùng phương tiện để phân biệt. Các thiện nam tử, nếu có chúng sinh nào đến chỗ ta,

[48:12]ta dùng Phật nhãn quan sát các căn của chúng, là lợi căn hay độn căn, đáng độ hay không đáng độ, dùng lời nói hoặc niên kỷ hoặc trí nhỏ lớn, thì ta đều dùng phương tiện nói pháp cho chúng sinh đó được đạo, làm cho chúng sinh phát lòng vui mừng".

[48:33]Bây giờ chúng ta nhắc lại cái đoạn này. Tại nguyên phẩm này tuy nó dài nhưng có điểm rất quan trọng. Đây là một cái đoạn mà so với lịch sử thì hoàn toàn trái ngược. Theo lịch sử chúng ta biết rằng Đức Phật sinh ra trong cung vua Tịnh Phạn, phải không? Lớn lên, ngài xuất gia, thành đạo, bắt đầu giáo hóa, và năm 80 tuổi ngài nhập Niết bàn. Đó là lịch sử rõ ràng, thật sự. Nhưng bây giờ trong đoạn đây thì nói rằng ngài thật sự thành đạo từ vô lượng, vô biên kiếp trước. Như vậy nó trái ngược, phải không? Chúng ta hiểu đoạn này như thế nào? Nên Phật nói ai hiểu được đoạn này thì người đó bất thối nơi đạo Bồ đề.

[49:19]Đến nỗi Đức Phật nói rằng: "Khi thì Đức Phật nói là Phật Nhiên Đăng, khi thì nói Phật Ca Diếp, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Bà Thi, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư, vân vân, chỉ là một, mình ta". Đoạn này các phật tử hiểu như thế nào? Chẳng những theo dòng thời gian mà cả theo không gian vô lượng của vũ trụ này, nơi nào có Phật, Đức Phật nói cũng chỉ là một mà thôi. Hiểu điều này như thế nào?

[49:50]Nhiều nơi, nhiều kiếp lắm rồi.

[49:56]Kiếp này mới đắc đạo, phải không?

[50:00]Không đơn giản như vậy đâu. Ý nghĩa này rất là sâu kín. Mà nếu chúng ta dùng cái suy tư bình thường hiểu không nổi.

[50:12]Bây giờ để ví dụ thế này thì quý Phật tử có thể hình dung ra được. Ví dụ à có ba người Phật tử, à mỗi người thì đều bỏ trong túi mình một xấp tiền 1 triệu đồng. Và ba người cùng có một cái ý chung với nhau, vì ba anh em mình, thấy không, đi về cái làng đó làm việc thiện bố thí. Hôm nay mình đem mỗi người một triệu vào cái làng đó coi ai nghèo mình cho, người 5.000, 10.000, 50.000, 100, 200 thì vân vân, hết một triệu mình đi về, ba người đi. Ba người tên là A, là B, là C. Ừ, thì bây giờ ba người đi vào làng, cái có một đứa bé nó biết mặt ông B, nó kêu:

[50:56]"Bác B, bác B, cho con tiền." Nó quen mà. Thì lúc đó là ông B ổng cho không? Cho. Cho không? Cho chứ, tại ổng đã định là ổng làm việc thiện mà, huống gặp người biết tên mình nữa, phải không? Nhưng mà có trường hợp cái đứa nhỏ lại nó gặp ông B: "Bác B, bác B cho con tiền." Nhưng lúc đó ông B lại ổng không nghe, ổng mắc bận làm gì ổng không nghe, thì cái ông A ổng cho không? Ông A có cho không? Tại sao? Đi từ thiện phải cho. Ừ, chưa chắc nha. Người đó mày kêu không đúng tên tao không cho. Đó là tại sao? Tại vì mình còn chấp ngã, phải không? Chứ nếu cái người không chấp ngã đó, chỉ cần việc làm từ thiện vì

[51:43]người nghèo thôi, thì ối, nó kêu ai thì người nào cũng phải cho. Nó kêu ông B mà ông B ổng bận quá, thôi tao nè, có tiền cho mày, khỏi kêu ông B nữa, phải không? Đó là người tốt. Nhưng mà cái người mà hơi sân hận hay hơn thua, nó kêu ông B à, lại kêu mày cho. Đó là cái người chấp ngã đó. Cho nên là cái người chấp ngã thì cái gì phải là mình, phải riêng mình, phải tên mình, phải tôn xưng mình thì mình mới đáp ứng, phải không? Còn không đúng mình thì không đáp ứng, do mình còn bản ngã. Chư Phật mười phương chư Phật còn bản ngã không? Còn không? Hết rồi, phải không? Như vậy, một vị Phật này đối với vô lượng vị Phật khác,

[52:27]các ngài có thấy là các ngài khác nhau không? Không, phải không? Ờ ví dụ như là một người đó không phải là Phật tử, bây giờ nói là Phật tử thôi, à. Giờ cái mình gặp cái chuyện gì đó không vui, cái mình cầu Phật, cầu Phật, cái mình nói là: "Tôi niệm Quan Âm mới linh, chứ tôi niệm Di Lặc không linh. Thôi để tôi đợi lại tượng Quan Âm tôi lạy, còn lại tượng Di Lặc tôi né, tôi thắp xá xá rồi tôi đi qua tượng Quan Âm quỳ lạy cho linh." Như vậy là mình mang cái tâm phàm phu mình mà đo lòng của Bồ Bồ tát, đem tâm tiểu nhân mà dám đo lòng quân tử, trong khi chư Phật có kiểu đó không? Có không? Ngài Di Lặc không cần kêu tên ngài,

[53:12]mà hễ người Phật tử đó là người có tâm thành, biết làm việc thiện, tin Phật pháp thì niệm Quan Âm ngài cũng cứu liền, chứ ngài đâu có chấp ngã, phải không? Đó là nói trong đạo Phật. Bây giờ nói ngoài đạo Phật, ví dụ chư Phật thấy một người đó đạo Thiên Chúa, thì người này nào giờ cũng tin Chúa, làm việc thiện, giữ giới răn, hôm đó có chuyện buồn, quỳ trước Đức Mẹ Maria, cầu xin điều gì đó. Mà mình biết Đức Mẹ Maria thì vẫn còn nghi vấn giữa Tin Lành và Thiên Chúa, phải không? Bên Tin Lành thì không tin Đức Mẹ là linh thiêng, à bên đạo Thiên Chúa Catholic thì tin Đức Mẹ là linh thiêng. Mà đọc lịch sử thì đúng là Đức Mẹ cũng không có gì đặc biệt hết,

[53:56]bởi vì bà sinh được Chúa Giê-su cho nên bà được tôn trọng thôi. Nhưng mà bên tín đồ Catholic thì tin rằng Đức Mẹ cũng rất linh thiêng. Thì do họ tin nên họ quỳ trước Đức Mẹ họ cầu nguyện. Thì lúc đó là chư Phật hay chư Bồ tát có nói rằng: "Ối, nó đâu có kêu tao? Đâu có niệm tao? Ngoại đạo đạo Thiên Chúa giúp nó làm chi." Các vị có nghĩ vậy không? Nên các vị thánh ngài không cần phân biệt tôn giáo đâu. Mình thì bày đặt phân biệt chứ các ngài không cần. Ngài nhìn thấy chúng sinh đó là có thiện tâm, biết làm việc thiện, biết giữ giới răn thì vái ai thì vái, khẩn cầu ngài đều tìm cách gia hộ hết. Cho nên có nhiều người đạo Thiên Chúa mà cầu Đức Mẹ Maria vẫn linh như thường.

[54:45]Họ tưởng là Đức Mẹ linh thật, chứ đâu biết rằng chư Phật trong Niết Bàn các ngài lòng từ bi vô lượng, vô biên, không chấp ngã, các ngài vẫn âm thầm giúp đỡ, không cần người đó phải biết tới mình. Giống như là ba ông làm từ thiện, phải không? Không cần nó kêu biết tên mình, nhưng mà miễn là nó cần giúp, chúng sinh cần giúp mà ông bạn mình ổng bận thì mình vẫn giúp như thường. Cái lòng tốt của chư Phật là mình kể câu chuyện từ ví dụ nhỏ để hiểu được cái lòng tốt của chư Phật, còn vô lượng vô biên gấp muôn muôn lần như vậy nữa, phải không? Đó là như vậy đó. Đến nỗi mình mất cái gì mình vái ông Địa cũng linh nữa.

[55:23]Ở đây mình có vái ông Địa cúng nải chuối chưa? Có chưa? Có nhiều người đó, nói: "Không biết con để cái bóp tiền đâu mất, rồi vái ông Địa cho tìm được, cúng nải chuối." Nhiều khi cũng tìm ra luôn. Cúng thiệt đó. Mà phải ông Địa không? Phải ông Địa không? Không phải, lúc đó mình quên Phật rồi, quýnh quá cái quên Phật. Ông Địa ổng chắc ăn, gần hơn. Rồi mua điếu thuốc Vét rồi cắm lên tay ổng nữa, để nải chuối vô. Mà sự thật tất cả đều là lòng từ bi của chư Phật. Cho nên ở đây thì quý Phật tử hiểu như vậy rồi thì thấy rằng ví dụ như Phật Thích Ca ngài có thấy là ngài với Phật A Di Đà khác nhau không?

[56:04]Rồi Phật A Di Đà có thấy là Phật Thích Ca khác với mình không? Có không? Và như vậy trong Phật giáo mình mới có điều buồn cười. Điều buồn cười là sao? Nói: "Niệm Phật Thích Ca không linh bằng niệm Quan Âm. Ngài Quan Âm ngài cứu độ liền." Hoặc mấy người tu Mật tông thì phải vái Phật gì?

[56:26]Vái những vị Phật của Mật tông của họ, là đức Đại Nhật Như Lai, à vân vân. Rồi bên người tụng Dược Sư nói: "Chỉ tụng Phật Dược Sư mới linh, hết bệnh. Còn Thích Ca nghe nói ngài không có chữa bệnh." Đó là mình lấy cái tâm phàm phu của mình để mình đo tâm của chư Phật. Mình tưởng tâm Phật cũng nhỏ như tâm mình thế, ông này với ông kia khác nhau hết trơn à. Cho nên mình thờ một ông không linh, mình phải thờ nhiều, phải không? Này Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Quan Âm nè. Trong khi mà nếu mình hiểu á thì như Phật nói một hình ta là tất cả chư Phật, một vị Phật là tất cả chư Phật. Nhưng mà mình bị mình tâm phàm phu mình không hiểu điều đó.

[57:11]Mình nói Phật nào lo Phật đó, thờ một ông thì không được này, không mất kia, thờ nhiều ông thì niệm đi thắp nhang hết, lạy hết ra chắc cú, phải không? Thế nào cũng được cứu. Ông này bỏ là ông kia cứu, chắc ăn. Nhưng mà như vậy là mình chưa đủ lòng tin hiểu, chưa đủ lòng tin hiểu. Và như vậy là nơi đạo Bồ đề mình còn có thể bị thối chuyển. Nên Đức Phật nói: "Người nào hiểu được phẩm Như Lai Thọ Lượng này thì người đó không còn thối chuyển nơi đạo Bồ đề." Là người đó hiểu được rằng mười phương chư Phật là là một mà thôi. Hiểu chưa? Như vậy là bất thối nơi đạo Bồ đề rồi cái gì, phải không? Đúng không?

[57:52]Không dám la "đúng" nữa hả? Thầy nói rằng: "Hễ người nào hiểu được phẩm này là bất thối nơi đạo Bồ đề."

[58:02]Thì bây giờ hiểu rồi nè, nói: "Một Phật là tất cả Phật nè." Thì như vậy phải bất thối chưa? Chưa chỗ nào?

[58:12]Chưa ở cái chỗ là nghe quý thầy giảng rồi hiểu sơ sơ, chứ còn người mà hiểu thật sự là hiểu từ đâu? Hiểu do sự tu hành của mình, do tâm mình rất thanh tịnh, rồi mình cảm thấy mình và mọi người, mọi vật không có ngăn cách nữa, như là một pháp. Ví dụ tôi, tôi tu còn dở thì tôi nhìn xuống quý Phật tử, tôi thấy à tôi là khác, quý Phật tử là khác. Ừ tôi thì trẻ, người này già, rồi tôi thì nam, người kia nữ, à tôi thì đầu không có tóc, người kia có tóc. Ừ tôi mà thì cũng có khi đẹp trai hơn mấy người kia vân vân, giờ thì xấu hơn, có khi đẹp hơn, mình phân biệt, mình thấy mình khác. Nhưng mà nếu tôi tu khá hơn một chút,

[58:57]tâm tôi thanh tịnh thì tôi nhìn mọi người như vậy, với tôi, tôi thấy thấy làm sao? Thấy như là một với nhau. Ngồi nhìn nhau nói chuyện nhưng vẫn thấy như là một người, giống như là một người nói với chính người đó, chứ không có thấy rằng à tôi nói người khác nghe, không phải như vậy nữa. Hoặc là tôi nhìn ra nơi bên ngoài, nếu mà tôi tu tiến, thì tôi thấy tôi với cái cây liễu đó, nó có phải là hai? Không phải là hai, mà tôi với cây liễu nó như là một với nhau rồi, mình với cả đất trời, vạn vật như là một. Cái người mà tu tiến thì họ thấy như vậy. Và như vậy người đó mới hiểu rằng à một Đức Phật Thích Ca

[59:38]với vô lượng, vô biên đức Phật quá khứ, với vô lượng, vô biên đức Phật ở mười phương cõi nước chỉ là chỉ là một mà thôi. Và vị đó hiểu được rằng cái Phật tánh là vô ngã, không phân biệt, vượt thời gian và vượt không gian. Cái vị mà chứng ngộ được Phật tánh, được tri kiến Phật rồi thì thời gian hay không gian là vô nghĩa. Chúng ta không thấy rằng thời gian quá xa rồi vị Phật này khác với vị Phật kia.

[1:00:11]Như vậy cái Phật tánh mà trùm khắp vô lượng vô biên, Phật và Phật là một thì cái đó mình có thể là lấy tai mắt để hiểu, lấy lý luận để mà phân tích ra được không? Không phải không? Mà phải bằng cái gì mới cảm nhận được? Bằng cái gì? Bằng tâm, mà cái tâm đó sao? Tâm rất là thanh tịnh mới có thể hiểu được. Cho nên đến đến cái đoạn này quý Phật tử thấy kinh càng lúc càng khó là vậy đó. Mình nghe kinh Pháp Hoa mình để tâm mình không thanh tịnh, mình hiểu không hết, không thấy hết được cái hay của kinh Pháp Hoa. Cho nên quý Phật tử về nhà mà mình có ngồi thiền á, tâm mình giữ cho thanh tịnh, mình đọc kinh Pháp Hoa rất là thú vị.

[1:00:59]Mình thấy cảm xúc. Còn mình chỉ đến chùa tụng về nhà bình thường tâm mình hỗn loạn thì dù quý thầy có ráng hết sức để mà giải thích truyền đạt, mình vẫn không hiểu hết được. Bởi vì sao? Vì cảnh giới của kinh là cảnh giới của những người tâm thanh tịnh tương ưng với chư Phật. Tâm và tâm thôi, cái này là cảnh giới giữa tâm và tâm biết nhau, chứ nói thành lời là bắt đầu nó hạn chế rồi. Cho nên tôi dùng lời để cố gắng giải thích cho quý Phật tử chứ nó hạn chế, khó hiểu. Mà nghe một điều khó hiểu thì một lát cái từ từ mình nó hơi nản, bắt đầu mình mới bóp bóp trán, nặn gió, nhức đầu nặng nặng cái mình ngáp ngủ, không là mình gật đầu hiểu, hiểu.

[1:01:44]Đoạn sau này Đức Phật ngài khẳng định cái trí tuệ của mình, ngài nói rằng: "Khi mà kinh điển của Đức Như Lai nói ra hoặc là nói việc của mình hoặc nói việc của người khác đều không bao giờ dối, vì sao? Vì Đức Như Lai biết được tướng của tam giới, không có sinh tử hoặc thối hoặc xuất cũng như không ở đời và diệt độ, chẳng phải thật chẳng phải hư, chẳng phải như chẳng phải dị, chẳng phải như ba cõi mà thấy có ba cõi. Các việc như thế Như Lai thấy rõ không có sai lầm." Cái đoạn này cực kỳ khó hiểu. Đoạn này cực kỳ khó hiểu. Tại đoạn này khó hiểu mà rất là hay. Mà không hiểu nghe quý Phật tử lại buồn ngủ,

[1:02:25]tại đoạn cuối của kinh á càng lúc nó càng khó. Phải có tu tập. Nên hồi xưa tôi có giảng kinh Pháp Hoa này một lần, lúc có những người trẻ hơn thì tôi tôi lột hết nè. Hoặc là cái đoạn: "Chẳng phải như ba cõi mà thấy có ba cõi." Nghĩa là sao? Thấy có thế gian nè, có trời đất, có trăng sao, có con người, có cây cỏ, có xe hơi, có xe đạp mà như là không có gì mà vẫn như là có tất cả.

[1:02:56]Cái đó nghĩa là gì?

[1:02:59]Thấy như có tất cả đầy đủ hết mà như không có gì hết, như không có gì hết mà vẫn có đầy đủ hết tất cả, ý đó là gì? Hử? Là cái gì? Lạc quan? Không phải. Ha. Ví dụ thế này. Quý Phật tử nhỏ lớn có bao giờ nằm chiêm bao chưa? Có phải không? Cũng có nằm chiêm bao. Có lần trong chiêm bao, thấy người ta cho mình cái bánh ăn phải không? Cái mình đưa lên miệng mình nhai, giật mình thức dậy vẫn còn nhai ngoàm, tiếc quá ha? Không có bánh nào hết trơn, mất rồi. Lật đật lật đật ngủ lại để gặp lại cái bánh đó, nhưng mà khi ngủ lại thì lần này thấy người ta cho ăn đòn. Thì những chuyện trong giấc mơ như vậy đó, lúc ở trong mơ mình có biết đó là mơ?

[1:03:53]Mình tưởng nó thật phải không? Cho nên khi người ta cho bánh mình mới nhận lấy mình ăn, hoặc khi người ta đánh đòn mình mới sợ. Chứ nếu trong giấc mơ mình biết đó là mơ thì mình còn làm như vậy nữa, còn sợ còn ham nữa không? Không phải không? Đó. Bây giờ chúng ta đang thức phải không? Mình mới nhớ lại cái giấc mơ của mình là chuyện mơ, chiêm bao không có thật. Bây giờ mới là tỉnh nè. Nhưng mà thôi. Thì chúng ta thử tưởng tượng bây giờ cũng là giấc mơ nè.

[1:04:24]Thử tưởng tượng bây giờ đang là một giấc mơ nè, từ nhỏ lớn mình sinh ra lấy vợ, gả chồng, có con, làm ăn, làm uống, khi giận, khi hờn, khi đấu tranh, tưởng tượng như đây là đang trong giấc mơ nè. Dám tưởng tượng cái đó không? Dám không? Ai mà dám tưởng tượng tôi cho cái bánh ăn liền.

[1:04:45]Dám tưởng tượng điều đó không? Cái điều này rất quan trọng, tôi nói chuyện như vui nhưng sự thật đây là yếu chỉ tu hành của vô lượng vô biên các Bồ-tát. Các vị Bồ-tát nhìn cuộc đời này là một giấc chiêm bao. Từ đây mà các ngài trí tuệ tăng trưởng, thiền định được thâm nhập và giải thoát được luân hồi sinh tử. Tự chiếm cái nhìn cuộc đời này là một giấc mơ. Hôm nay chúng ta thấy cuộc đời là thật quá, không bao giờ dám tin rằng cuộc đời này là giấc mơ nên mình mãi mãi chìm trong luân hồi sinh tử. Còn người nào ngồi đây với tất cả cái an bình, thuận lợi của cuộc sống, biết rằng trong tủ mình còn mấy cây vàng, tay mình đeo tấm lắc,

[1:05:31]áo mình bằng vải xiu rất đẹp mà vẫn nghĩ rằng đây là một giấc mơ. Người mà dám nghĩ, dám tin như vậy thì người này có chủng tử của Phật pháp rất là lớn. Ai dám tin điều đó giơ tay lên? Nhưng mà cái giấc mơ này nó khác với cái giấc mơ trong chiêm bao mình một chút là sao? Cái giấc mơ này nó thay đổi, biến thiên theo luật nhân quả. Tuy là chuyện mơ đó nhưng mà đi theo nhân quả mà mơ, chứ không phải là sai. Người làm ác cuối cùng sẽ chịu quả báo khổ, người làm thiện cuối cùng sẽ tìm thấy hạnh phúc. Mặc dù dù thiện hay ác, dù vui hay khổ tất cả đều là chiêm bao. Quý Phật tử hiểu được điều đó không?

[1:06:22]Cái điều này ngồi nghe một lúc không có thấm đâu, phải ngồi mà suy nghiệm, ngồi mà yên lặng suy nghiệm. Về nhà mình đóng cửa phòng lại, ngồi lặng lẽ nhìn thấy cuộc đời này như giấc mơ. Mình đây là người trong mơ, tất cả muôn vàn cảnh vật chỉ là chuyện trong giấc mơ mà thôi. Ngồi suy ngẫm như vậy mà thấm được thì cái tâm đạo mình phát triển rất là mạnh.

[1:06:47]Quý Phật tử làm được không? Ráng làm đi, vì đây là cái yếu chỉ tu hành của vô lượng vô biên các Bồ-tát, các ngài đều từ đây mà xuất hiện. Nên Phật nói rằng: "Chẳng phải như ba cõi mà thấy nơi ba cõi" là vậy đó. Nó là một ảo ảnh thôi, không phải là hư vô hoàn toàn không có gì, nó là có nhưng mà có như một giấc chiêm bao mà thôi. Và chỉ vì chúng ta không biết đó là chiêm bao cho nên mình mình sao? Mình theo đó mà mình vui buồn. Còn mình biết rằng đây là chiêm bao thì mình giữ được tâm mình nó bình thản.

[1:07:26]Tuy nói là chiêm bao nhưng mà lát chiều về cũng phải ăn cơm nha, chứ đừng nói. Chứ chưa thức đâu, chừng nào mà thức thì tự nhiên mình mới biết không còn cơm để ăn, không cần nước để uống. Nhưng bây giờ đang chiêm bao kệ, có cơm ăn, ai đưa bánh thì cứ nhai, không sao. Chưa thức đâu, đừng sợ, thức thì nó mới mất hết, thức thì không còn bánh, không còn cơm gì nữa, nhưng đang còn chiêm bao cứ an bình thản mà ăn, không có vấn đề gì hết. Chứ đừng nghe nói ông thầy nói đây là chiêm bao thôi, không thèm ăn cơm, uống nước nữa. "Này các thiện nam tử, ta xưa tu hành đạo Bồ-tát cảm thành thọ mạng nay vẫn chưa hết, lại còn hơn số trên,

[1:08:02]nhưng nay chẳng phải thật là nhập Niết-bàn mà lại nói là nhập Niết-bàn. Ta dùng phương tiện độ chúng sinh." Nghĩa là sao? Nghĩa là cái thọ mạng của Phật là vô cùng tận, ngài có thể không cần không muốn chết là ngài cứ trụ thân ở suốt cuộc đời này. Nhưng mà ngài cảm thấy điều đó không phải có lợi mà đôi khi ngài hiện tướng Niết-bàn có lợi cho chúng sinh hơn. Như đó. Và còn cái thọ mạng, cái Phật tánh á, cái Niết-bàn thì không có sinh không có diệt, không bao giờ biến mất, đó là cái gì vĩnh hằng. Nhưng người mà ngộ được Phật tánh rồi thì tin rằng nơi mình có cái bất tử, tin rằng dù thân này có sinh có diệt,

[1:08:50]có luân hồi, có thay đổi, nhưng cái tâm đó, cái tâm thanh tịnh tuyệt đối đó không bao giờ thay đổi nữa. Mấy chỗ này trừu tượng quá, nói hoài không biết quý Phật tử nghe có nổi không? Thôi bây giờ nói cái đoạn này, Đức Phật nói tiếp thế này: Là chúng sinh á thì kính Phật nhưng mà có tánh hay nhàm. Cái tật của chúng sinh là có tánh hay nhàm, là thấy Phật thì rất là quý kính, nghe Phật dạy thì cũng ham tu, nhưng mà nếu Phật sống hoài không chết thì họ sao? Họ nghĩ họ sinh cái tâm gì?

[1:09:33]Ỷ lại, phải không? Nói: "Không sao, Phật còn hoài, sống hoài, mình có chết đầu thai lên gặp Phật nữa, ổng còn sống, tu nữa nên cần gì vội vàng, phải không?". Nghĩ như vậy, như vậy có lợi cho chúng sinh không? Không, cho nên là Phật phải hiện tướng Niết bàn để chúng sinh nghĩ rằng Đức Phật rất khó gặp. Mình phải cố gắng tinh tấn tu hành, kiếp này gặp Phật pháp, kiếp sau không biết còn gặp được hay không. Đó, là như vậy. Ví dụ như bây giờ tôi cũng vậy. Giơ... nghe nói: "Ờ, thầy cũng còn giảng đều đều đều. Thôi, nay không nghe được nay thì để mé mé được thì sau nghe". Nhưng mà nếu à tôi sẽ giảng ba lần nữa thì không còn giảng nữa vì tôi hết hơi rồi.

[1:10:19]Thế thì sao? Trong ba tuần đó mình đi nghe rất là rất là đông, phải không? "Ráng nghe chứ ổng giảng hai, ba lần nữa là ổng chết rồi, ổng cũng xì cà que lắm rồi, mà ổng gầy gò ốm yếu rồi, chắc ổng tiêu rồi. Thôi chạy nghe vài lần nữa cho vui, chứ tội nghiệp ổng". Thì cuộc đời cái tâm chúng sinh như vậy, cái gì nó dù là quý mà họ có hoài họ cũng nhàm. Chính vì cái tâm trạng đó Đức Phật Ngài cảm thấy rằng phải nhập Niết bàn để cho chúng sinh phát cái tâm tinh tấn, khó gặp. Thì nhiều người cũng vậy, mà ngay cả chúng tôi cũng vậy, nhiều khi chúng tôi hỏi từng hỏi là: "Nếu Chư Phật là linh thiêng, thương yêu chúng sinh,

[1:10:59]tại sao cứ giống như là bỏ mặc chúng sinh trong đau khổ, trong tội lỗi?". Mình nhìn ra cuộc đời mình thấy bao nhiêu người đau khổ, không biết thiện, không biết đạo, cứ làm cái ác để tiếp tục đọa. Hoặc là mình xem báo Công an mình thấy cái tội lỗi nó giăng đầy trên thế gian này. Con người ta cứ ác độc với nhau. Rồi mình hiểu rồi Chư Phật đi đâu, Chư Bồ tát đi đâu để cho thế gian này chìm trong sinh tử mãi? Đôi khi mình trách, nhưng mà nếu mình hiểu bây giờ nếu có một ông Phật, ông Bồ tát ổng ở đây hoài, ổng cứ dạy hoài thì chúng sinh sao? Cũng như vậy nữa, phải không? Lại nói: "Ờ, có Phật lo gì.

[1:11:39]Từ từ, mốt tu, đắc giác ngộ. Cứ rề rề tí nữa". Cho nên trong cái thế gian mà nó là sự thử thách giữa cái thiện và cái ác, cái khổ đau và cái hạnh phúc thì mình mới có sự lựa chọn, buộc mình phải lựa chọn đi con đường nào. Mà nếu mình lựa chọn được thì mình rất quyết liệt chứ không có xìu xìu. Ví dụ như là quý Phật tử cũng vậy. Giữa cái thế gian họ tham đắm, sân hận, ác độc và những người có tâm từ thiện, hiền lành thì quý Phật tử chọn con đường nào? Phải chọn cái thiện, phải không? Cái lành. Và chọn cái điều đó mình chọn xìu xìu hay là mình chọn rất quyết tâm? Quyết tâm, phải không? Vì sao? Vì giữa cuộc đời này nó có sự đấu tranh giữa hai cái đó quá gay gắt đi.

[1:12:25]Mình mà xìu xìu là mình không quyết tâm là bị cái thế lực ác nó cuốn mình vào liền. Cho nên mình khẳng định trong lập trường của mình là phải giữ vững mình trong thế giới của cái thiện. Và chính cái quyết tâm đó nó làm cho mình thành một cái chủng tử, chủng tử rất mạnh cho nhiều kiếp về sau. Còn nếu mình không quyết tâm đó thì cái chủng tử, cái nhân thiện mà mình gieo trong tâm mình nó rất là yếu ớt. Nếu mà mình không quyết tâm đó, qua kiếp sau mình gặp những người làm ác có khi mình bị cuốn hút, bị kéo đi. Nhưng mà ở kiếp này mình đã quyết tâm cao độ, mình nhìn thấy cuộc đời nó nhiễu nhương quá, cái thiện ác nó gay go quá buộc mình

[1:13:03]dứt khoát mình đứng trong giới của thiện, chính cái quyết tâm cao độ đó làm thành một cái nhân rất là mạnh, rất là lớn cho nhiều kiếp nhiều kiếp về sau mình không bị lui lại, không bị lạc đường. Cho nên cái thế giới, cái cuộc đời mà nó là sự thử thách giữa thiện và ác, giữa khổ đau và hạnh phúc, nó làm cho mình không phát tâm thì thôi, chứ hễ phát tâm rồi thì rất mãnh liệt. Và cái mãnh liệt đó là cái nhân lành rất lớn. Do đó, chúng ta hiểu được điều này thì khi mà chúng ta đến với Phật pháp chúng ta đến với Phật pháp, mình có đến một cách thờ ơ, hời hợt nữa không? Có không? Đừng đến thờ ơ, hời hợt mà tạo thành cái nhân kém, nhân yếu cho nhiều đời sau.

[1:13:46]Phải đến một cách hết sức quyết tâm và dũng mãnh, thấy không? Hễ đi được Bát quan trai là cố gắng đi Bát quan trai. Hễ nghe giảng được, cố gắng nghe giảng. Tối về ngồi thiền, niệm Phật được là quyết tâm, dù bữa đó là cái phim con mình nó mướn một phim rất là hay, phải không? Dù là Thượng Hải, Tân Bến Thượng Hải, Ngày Mai Trời Lại Sáng gì gì không thèm coi nữa, Thần Điêu Đại Hiệp gì không thèm coi nữa. Quyết tâm là phải ngồi thiền, phải không? Dù cho nó là cám dỗ gì cũng không được.

[1:14:16]Như vậy, chúng ta học cái phẩm Tùng Địa Dũng Xuất để hiểu rằng khi tâm chúng ta thanh tịnh thì trí tuệ vô lượng vô biên khởi xuất. Và chúng ta học phẩm Như Lai Thọ Lượng để biết rằng cái Phật tánh là không có bản ngã, là chung đồng với mười phương Chư Phật. Và như vậy, lòng chúng ta tôn kính một vị Phật hay một vị Bồ tát tức là tôn kính vô lượng Phật, phải không? Và chúng ta hiểu thêm một điều rằng là giữa cái thế gian mà giống như chúng ta bị Chư Phật bỏ mặc để cho cái thiện ác, khổ vui cạnh tranh là để cho chúng ta có sự chọn lựa quyết liệt, chọn lựa quyết liệt. Mà khi mình đã chọn lựa quyết liệt rồi thì đó

[1:15:00]là cái nhân lành lớn cho nhiều kiếp về sau. Đó. Do đó mà chúng ta thấy giống như là Chư Phật bỏ mặc mình trong cuộc đời tội lỗi này vậy, để cho mình phải tự quyết định chọn lựa. Đó. Và bây giờ chúng ta cũng phải quyết định chọn lựa là phải phải nghỉ,

[1:15:28]hết giờ. Thôi, đứng

[1:15:35]lên mình hồi hướng, kính Phật. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả, đệ

[1:15:58]tử và chúng sanh đều trọn thành

[1:16:07]Phật đạo.

[1:16:28]Lời Phật như bóng mát che con nắng mùa hè. Lời Phật như chiếc nón che con khi trời mưa. Lời Phật như đóa hoa, cuộc đời vang tiếng ca.

[1:16:58]Lời Phật như áo ấm trong mùa đông giá lạnh. Lời Phật như ánh sáng trong đêm dài mênh mông. Lời Phật như bóng trăng dịu dàng soi thế gian.

[1:17:27]Xin cho con từ đây, thâm tâm không đổi thay, luôn sống như Phật dạy, tinh tấn qua từng ngày.

[1:17:48]Đem thương yêu dựng xây, chung con tim bàn tay, cho thế gian hòa đầy, vơi khóc than từ nay.

[1:18:09]Lời Phật thêm sức sống cho con bớt yếu mềm. Lời Phật như tia nắng, tâm con là mùa xuân. Lời Phật như tiếng chuông quyện vào trong khói hương.

[1:18:38]Lời Phật như mái ấm cho con qua bão bùng. Lời Phật như suối mát cho con gội sạch trong. Lời Phật con khát khao, trầm hùng như núi cao.

[1:19:08]Lang thang đã từ lâu, vô minh con chìm sâu. Nay hướng theo lời Phật, giải thoát con tìm cầu.

[1:19:29]Như đi trong chiều sương, xa xa nghe hồi chuông. Ân đức của Phật dạy, con tắm trong tình thương.