Transcript: Mái Chùa Che Chở Hồn Dân Tộc

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:33:05

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni. Kính thưa toàn thể quý Phật tử. Thời giờ này

[0:24]hàng đệ tử chúng con xin thành kính cung thỉnh Thượng tọa ra ban bố lời pháp nhũ cho hàng đệ tử chúng con. Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đề nghị toàn thể đại chúng của chúng ta đồng đứng dậy. Chúng ta chắp tay trang nghiêm để niệm Phật cầu gia bị.

[0:47]Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:01]Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:13]Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:24]Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thời giờ con xin cung thỉnh Thượng tọa an tọa, cung thỉnh chư tôn Đại đức Tăng Ni an tọa, cung thỉnh quý đại biểu an tọa và mời đạo tràng chúng ta an tọa.

[1:41]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên chư tôn đức, kính thưa quý đại biểu quan khách, kính thưa quý Phật tử. Hôm nay cũng là duyên lành chúng ta về viếng thăm chùa Mai Phúc, có một buổi pháp thoại với nhau. Trước hết về chùa ta có biết thầy trụ trì chưa ạ? Thấy không? Chưa biết. Thỉnh ni sư trụ trì đến đây cho mọi người được chiêm ngưỡng tôn nhan của ni sư chút. Rồi, đây, đây là ni sư trụ trì.

[2:23]Hồi trẻ ni sư rất đẹp, về già thì nó cũng còn đẹp, không sao cả. Ni sư nghe mừng sao, ni sư vỗ tay. Dạ, thôi thỉnh ni sư ngồi nha. Đó, mai mốt mà chúng ta có đi đâu ra đường, ta gặp ta biết đây là ni sư trụ trì chùa Mai Phúc mà ta đã có lần đến đây nghe pháp và lát nữa thì ta dùng cơm với chùa chút cho nó ấm cúng như vậy.

[2:47]Còn có ni sư ở chùa gì Cầu Giấy nha, hôm nay ni sư cũng đến thính pháp. Không phải không phải ở dưới Tuyên Tỉnh, ở dưới Tuyên Tỉnh về. Có quý thầy ở Hưng Yên, thầy thầy Minh Thông nhờ, đúng không? Dạ, thôi thì thỉnh thầy Minh Thông thầy đứng lên đi. Thầy năm ngoái thầy đã tổ chức một cái khóa học hè cho học sinh tại chùa mình, 300 em về dự. Năm nay cả ngàn người đăng ký vậy. Và thầy cũng nghe tin A Di Đà tổ chức nên thầy sáng nay thầy đến để thầy trao đổi để mong rằng có cái trao đổi kinh nghiệm để thầy năm nay thầy lại tổ chức tiếp ở cái chùa của thầy ở ở chùa Ân Quan gì đó ở Hưng Yên. Rồi có mấy thầy đệ tử, nói chung là mấy thầy đây là tuổi trẻ tài cao cả.

[3:30]Ta nhìn vào ta hy vọng tràn trề vào tương lai của của đạo pháp. Rồi ta mới thấy cái ngôi chùa nó là quan trọng thế nào trong đời sống của người dân Việt chúng ta. Đến nỗi mà Hòa thượng Mãn Giác ông có cái bài thơ cực kỳ nổi tiếng. Và những cái lời của ông nó giống như thành một cái tuyên ngôn luôn. Có cái câu thơ là: Mái chùa che chở hồn dân tộc, tộc, nếp sống muôn đời của tổ tông. Đó là từ bài thơ rất là dài. Từ thuở ra đi vắng bóng chùa, đường đời đã nhọc chuyện hơn thua, trong tôi bừng dậy niềm chua xót, xao xuyến mơ về lại cảnh xưa. Tức là khi mà ngài ra đi xa miền quê thì cái điều mà ngài nhớ nhung nhất là là cái ngôi chùa, cái ngôi làng của mình.

[4:24]Nó thành ra một cái cái dấu ấn tâm linh, tâm hồn của người Việt. Cái đoạn cuối ngài nói là: Biết đến bao giờ trở lại quê, bâng khuâng lòng gửi nhớ nhung về, tang thương dẫu có bao nhiêu nữa, cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê. Và cái đoạn cuối nó trở thành bất hủ luôn bài thơ đó. Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng, ra đi ai chẳng nhớ chùa chung, mái chùa che chở hồn dân tộc, nếp sống muôn đời của tổ tông. Lúc đó là ở trong miền Nam thì Hòa thượng cũng là một người có học vị rất là cao, là tiến sĩ. Rồi sau đó thì Hòa thượng qua định cư bên Mỹ. Nhưng qua định cư bên Mỹ thì trước chùa của Hòa thượng cũng có treo cái hai câu thơ đó.

[5:15]Và tuy là ở Mỹ nhưng mà cái lòng yêu nước, cái lòng thương hướng về Tổ quốc vẫn tràn đầy. Rồi Hòa thượng cũng tịch bên đó, nên không có dịp về lại. Thì chúng tôi có phổ nhạc cái bài thơ đó, nhưng mà không thể đăng ký bản quyền bởi vì không tìm ra được tác giả, nên bên cái Cục Bản quyền họ cũng nói không thể đăng ký mà Hòa thượng đã mất rồi không biết ai là người giữ gìn những cái di sản đó. Cái bài thơ đó là cực kỳ hay, nổi tiếng. Và hôm nay chúng ta ngồi nói chuyện với nhau về cái tinh thần của cái câu thơ đó, câu thơ mà đã đi vào lòng của Phật giáo, của người dân Việt, mái chùa che chở hồn dân tộc.

[5:55]Nghĩa là chưa nghe hết hai câu, chỉ nghe một câu thôi lòng ta đã sao? Đã xao xuyến, đúng là đã xao xuyến, đã bâng khuâng, đã xúc động như vậy. Thế vì sao mà cái ngôi chùa lại trở thành một cái nơi để che chở hồn dân Việt ta? Nếu mà phân tích ra thì ta phải nói đến nhiều ngày, nhiều tháng như vậy. Thậm chí có những giai đoạn mà lịch sử thăng trầm, Đạo Phật ta bị suy hao, mái chùa đã xơ xác, hoang tàn, quạnh quẽ. Nhưng mà sao?

[6:30]Trong lòng của người Việt Nam, thẳm sâu trong tâm hồn của người Việt thì mái chùa vẫn là cái nơi về, vẫn là nơi chốn để quay về như vậy. Đến khi mà đất nước ta bắt đầu phát triển thì lập tức chùa được xây cất, được trùng tu và mọi người lại quay về quây quần dưới bóng chùa để gặp nhau, để nói những lời tử tế yêu thương, để nghe những câu đạo lý, để tụng những lời kinh Phật và để sống tốt hơn. Nên cái mái chùa coi vậy mà đã cho ta cho ta rất nhiều. Ta yêu quý cái ngôi chùa của làng mình. Và hôm nay ta sẽ nói để thấy rằng cái trách nhiệm của mọi người chúng ta đối với cái ngôi chùa nữa. Vì sao mà cái ngôi chùa trở thành thiêng liêng trong cái tâm hồn

[7:25]Việt như thế là bởi vì thế này, bởi vì cái tinh thần đạo lý của Phật giáo nó đã thấm vào cái mạch sống của dân tộc ta. Cái đạo lý đó như thế nào thì thật sự ta ta cũng không có đủ thời gian để phân tích. Tuy nhiên cái đạo lý hiền lành, từ bi của Đạo Phật nó tạo thành cái tâm hồn Việt. Rất nhiều những câu ca dao, những cái tục ngữ, những thành ngữ mà ông bà, cha mẹ ta đặt ra để truyền dạy lại cho con cháu, nó đều xuất phát từ cái tinh thần đạo lý của nhà Phật cả. Gieo nhân nào gặt quả đó, những câu đó là luật nhân quả của Đạo Phật cả. Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn,

[8:14]vân vân, nó đều là cái tinh thần à bình đẳng, vô phân biệt, từ bi của Đạo Phật cả. Và nhiều nhiều như vậy, nhiều những cái đạo lý tinh tế đó mà nó từ giã cái văn chương bác học trở thành cái văn chương bình dân và đi vào lòng của của mọi người cũng là từ nơi cái mái chùa cả. Nếu ta lui lại khoảng năm, sáu trăm năm xưa, thậm chí một nghìn năm xưa thì ta sẽ thấy cái ngôi chùa nó hơi khác bây giờ một chút, hơi khác bây giờ một chút. Lúc đó cái làng quê thì thưa vắng, không có nhà mà san sát như thế này. Người thì ít lắm, hồi đó cái dân số ta hãy còn ít. Nên bây giờ ví dụ ta nói từ Hà Nội mà bước ra Gia

[9:02]Lâm, ra Long Biên, lên Bắc Ninh rồi lên Kinh Bắc vậy, cái người đi xa mới gặp một cái ngôi nhà. Một cái thị trấn chỉ quây quần lại không được là một vài trăm hoặc là một vài chục cái nóc nhà thôi là đã là một cái thị trấn. Và cái ngôi chùa ở đầu làng xa xa như thế, còn đồng ruộng thì mênh mông. Lúc đó thì cái ví dụ như một cái người lý trưởng, một cái người hào trưởng thì cái ngôi nhà cũng chỉ to hơn dân chút xíu. Chỉ có ở những cái phủ á, những cái nơi mà tượng trưng cho quyền lực của địa phương thì cái phủ nó hơi to hơn một chút. Nhưng mà nếu so sánh với bên Trung Quốc thì cái nhà của ta vẫn bé hơn nhiều.

[9:42]Còn đi về tới cái kinh thành ở Hà Nội thì có làng, có phố rồi nhiều hơn nhưng mà sự thực ta cũng không phải là một nước giàu. Đất nước ta từ xưa cũng nghèo lắm. Ừ. Còn nếu nên đi về tới miền quê thì cái cảnh nó thanh vắng nhiều hơn nữa. Và cái cảnh nó thanh vắng hơn nữa nó có một cái đặc điểm là thế này: cái tình người lại rất là sâu đậm. Ừ đó là một cái ta gọi là một cái tỉ lệ nghịch à trong cái tình cảm và cái dân số. Cái nơi mà con người đông, tự nhiên cái tình người nó lại phai nhạt. Cái thời đại mà con người đông, cái tình người coi vậy chứ nó lại phai nhạt. Vì sao? Vì cái gì nó không hiếm thì nó không quý.

[10:26]Còn người xưa, cái ngày xưa vào cái thời xa xưa đó vậy, cái lũy tre, những cái cây đa, cái bờ ruộng, cái mái tranh, cái người lưa thưa thì cứ trông thấy được một con người là người ta vui, ta mừng. Nên cái tình quê, tình làng thì nó đậm đà. Nếu ta đọc lại những văn chương ngày xưa, ta thấy là cái tình người nó ấm áp thì ta đừng nghĩ rằng lúc đó người đông. Không có, người ít lắm. Ví dụ bây giờ ta nhìn vào cái hội giảng ngày hôm nay với chừng ấy con người này, ngày xưa không có chuyện đó nha. Một cái chùa làng không bao giờ tập hợp được như thế này. Một cái chùa làng không bao giờ tập họp, chỉ có những cái chùa mà kinh đô,

[11:12]những vị quốc sư, những vị hòa thượng cực kỳ nổi tiếng được vua phong tặng danh tiếng lừng lẫy thì mới có thể có những cái hội giảng nó đông đông như thế này. Còn ngày nay ví dụ một hội giảng thế này là chuyện bình thường. Thế ngày xưa không có đâu. Ví dụ như một hòa thượng, hôm đó có ngày sóc, vọng, ngày bát tát, ngày rằm, rồi hòa thượng có răn dạy điều gì đó thì dân làng có rủ nhau đến nghe thì cũng chỉ chừng được vài chục người. Vì vậy ta thấy cái chùa kiến trúc ngày xưa cái sân bé, cái nhà bé bé nho nhỏ, cái chánh điện nho nhỏ. Nhìn vào đó ta hiểu ngay là lúc đó người rất là ít, người đến chùa không nhiều.

[11:51]Cái chùa mà để lại be bé, có đúng không ạ? Cái chùa không có rộng, không có rộng. Cứ nhìn vào đó là hiểu. Nhưng mà chính vì người ít nên cái tình người lại đậm đà. Con người ta yêu quý nhau cứ sợ mất, sợ mất nhau. Còn bây giờ đông quá rồi sao? Mất cũng không quan trọng. Nghe mất thì không có người này cũng có người khác như vậy. Chung quanh ta đầy người cả, đầy đến nỗi sao? Đến nỗi chen nhau mà đi trên đường mà kẹt xe rồi chửi bới lung tung hết trơn. Nên cái nó có cái nghịch, một cái tỉ lệ nghịch, một cái nghịch lý như vậy: đông người thì cái tình người lại phai nhạt. Đông người đến nỗi thì sao?

[12:28]Đến nỗi thì người ta mới dựng lên những cái hàng rào để ngăn cách nhà này với nhà kia và thậm chí hàng xóm với nhau nhiều khi quanh năm chưa bao giờ gặp mặt nhau, chẳng nói chuyện với nhau nữa. Còn cái làng quê ít người thì cái nhà này muốn đi qua nhà kia đạp băng cái hàng rào đi qua luôn, khỏi có hàng rào, đi qua gặp nhau, có cái thức ăn gì ngon chạy qua biếu nhau, mà cũng không phải là dễ qua lại với nhau, cái nhà này cách nhà kia cũng mấy trăm thước như vậy. Thì trong cái bối cảnh mà thưa vắng như vậy, ngôi chùa trở thành cái giống như một câu lạc bộ, cái nơi tụ hội để gặp gỡ. Con người ta có những cái nơi mà để gặp gỡ chuyện vãn là nơi nào ạ?

[13:12]Mỗi ngày người ta gặp nhau ở đâu? Trong làng hãy tưởng tượng lại mấy trăm năm trước, không phải bây giờ, bây giờ thì đâu cũng gặp được cả. Mấy trăm năm xưa thường người ta gặp nhau ở đâu mỗi ngày? Ở đâu? Cây đa? Đi đâu mà ra cây đa làm chi, trời?

[13:31]Cánh đồng thì ruộng người này xa xa ruộng người kia không gặp nhau. Cái chợ. Nha. Đó là nơi gặp... Vì chợ cho nên là... mà cái chợ thì cái người nào đi chợ? Phụ nữ. Đó là lý do mà tại sao mỗi ngày được cơ hội để gặp nhau, mừng quá lật đật nói đủ thứ chuyện trên đời và đó là lý do khiến cho người phụ nữ làm sao? Mắc cái bệnh nói nhiều. Chớ lẽ ra phụ nữ không nói nhiều, vì đàn ông đã giành nói hết cả rồi, nhưng mà vì cái cơ hội để gặp nhau của phụ nữ nhiều hơn đàn ông cho nên là là mỗi khi ra chợ là phụ nữ tranh thủ nói rồi mắc cái bệnh nói nhiều tới bây giờ đến nỗi là người phụ nữ bị mang tiếng xấu cho đến ngày hôm nay

[14:14]là cái thứ nói nhiều, chứ sự thực không phải đâu, đàn ông mới là thứ ham nói. Rồi ở đâu nữa để người ta gặp nhau nữa? Mấy ông gặp nhau ở đâu? Ở quán rượu đầu làng, quán trà đầu làng. Thì bù lại không đi chợ thì lúc rảnh thì mấy ông lại gặp nhau ở quán trà, quán rượu và để mà chuyện vãn nói này nói kia vậy. Gặp nhau ở đâu nữa?

[14:42]Ừ, gặp nhau ở cổng nhà quan mỗi khi có chuyện tranh chấp phải phân xử, mà chẳng ai muốn tới đó cả. Tới đó phiền lắm, phiền rất là hao tốn, mất thời gian và mất cái tình của làng xóm đi, ít ai dám tới vậy. Nhưng mà đặc biệt có một nơi mà khi người ta đến đó, người ta bình yên, người ta tử tế, người ta kiềm chế, đó là ngôi chùa, đúng như vậy. Ví dụ như ở ngoài chợ nói chuyện đùa vui vẻ đủ thứ chuyện trên đời, kể cả chuyện xấu, kể cả chuyện tốt, thậm chí cả những chuyện tục tĩu bậy bạ. Rồi mấy ông gặp nhau ở quán trà, quán rượu thì bộc lộ hết con người với nhau ha, vui vẻ thoải mái nói bừa nói bãi đủ thứ, nhưng mà tới chùa thì sao?

[15:29]Không dám à, hộ pháp vặn họng à. Chùa thiêng mà, ai cũng sợ. Cho nên là khi đến đó là phải thành kính, à phải tin tưởng và chính vì cái thành kính cái tin tưởng, sợ sợ hãi, kính sợ đó nên người ta biết kiềm chế cái miệng mình, kiềm chế cái tâm mình. Thì khi mà người ta biết kiềm chế, biết sợ như vậy thì gặp nhau không có nói chuyện bừa bãi, không có nói những chuyện ác độc, không có những cái gây gổ tranh cãi mà cố gắng là thể hiện cái đạo đức để cho thần thánh mình xem xét và soi rọi mà tính sổ sau này mà chết còn được về về với các ngài, cho nên là thực sự là người dân ta cũng hơi đóng kịch một chút.

[16:15]Ra ngoài chợ thì bừa bãi lên tới chùa thì nghiêm trang, đàng hoàng, con người như vậy. Nên cái vấn đề của ta là thôi thì thôi là con người như vậy cũng vui, còn ai mà đến mức độ đến chùa cũng đạo đức như thế rồi về nhà cũng thế, ra chợ cũng tử tế như thế là một người ở đẳng cấp cao về tu tập đạo đức rồi. Chứ còn đa phần dân ta khi mà cái sự tu tập chưa sâu thì ra chợ làm một con người khác, vô quán rượu con người khác hay vô chùa là con người khác. Cho nên khi mà ta thấy cái người đến chùa mà ân cần, tử tế thì sao? Khoan tin, chớ tin nha. Hãy đến quán rượu xem họ một lần nữa thì mới biết cái con người đó nó thật giả như thế nào nha. Có đúng không ạ?

[16:57]Không biết nói có đúng tim đen không? Thời này không biết có đúng hay không. Cái thời xưa là vậy. Khi đến chùa đó thì là một nơi gặp gỡ và chính vì là nơi gặp gỡ nên mái chùa thực sự là giống như một cái câu lạc bộ vậy, nơi vui vẻ, thư giãn, trò chuyện.

[17:17]Thêm nghĩa là nói là cái nó là một nơi để tạo cơ hội giao tiếp giữa con người với nhau trong cái không khí thiêng liêng. À! Con người ta được cơ hội giao tiếp nhưng mà trong cái môi trường của thiêng liêng, nó khác với con người ta được cơ hội giao tiếp trong một cái không khí là bừa bãi hay vui nhộn hay là trác táng, khác rồi nha! Ví dụ bây giờ ta có một cái nơi để vui chơi gặp gỡ nhưng đó là cái tiệc nhậu, cái thái độ con người ta khác liền. Đến đó để đá banh, khác liền, hoặc là đến đó để làm đẹp, khác liền, vân vân, nhưng mà đến chùa cũng là để gặp nhau nhưng mà cái không khí là thành kính, thiêng liêng.

[18:03]Cho nên đó là lúc chưa cần phải nói nhiều, mỗi người đến đó đã cảm thấy mình phải kiềm chế, phải thúc liễm. Thì khi phải kiềm chế, phải thúc liễm như vậy, phải nói với nhau những lời lẽ đàng hoàng, tử tế như vậy vô tình là chúng ta đã tu. Chưa cần gì cả đã tu một chút rồi, đúng không ạ? Chưa cần đã tu. Lúc đó con người ta mới thấy rõ mình ra chợ, mình là con người khác, buôn bán đanh đá, trả treo, mình là con người khác, nhưng đến chùa, không, mình lại là một con người biết kiềm chế, biết thành kính. Rồi vậy, giữa hai cái cái thái độ, giữa hai cái địa điểm như vậy, con người ta thấy rõ rằng là chùa là tổ ấm, là nơi

[18:51]nơi hướng thượng, à vậy. Một cái cuộc đời lúc nào cũng bề bộn, hơn thua, lặt vặt nhưng đến chùa thì người ta nhẹ lòng, buông xả hết vậy. Đó, cái cái khung cảnh mấy trăm năm trước, bây giờ ta trở lại khung cảnh này có giống như vậy không ạ? Tâm trạng có giống như vậy không? Cũng không khác lắm, phải không ạ? Cũng không khác lắm. Tức là ngoài đời ta có thể bề bộn, hơn thua nhưng bây giờ ngồi đây dưới mái chùa tự nhiên mình thấy sao? Những cái điều của trần gian, tục lụy nên nên bỏ bớt, phải không ạ? Bỏ bớt. Cái tâm trạng nó cũng na ná giống như vậy. Và có những cái ngôi chùa mà khi về đó, ta được các vị tăng ni nói một vài câu,

[19:34]răn dạy một vài câu sâu xa trong đạo lý nhà Phật thì ta quý như vàng như ngọc. Cái thời bây giờ á, nhiều khi mình coi thường vì là có phương tiện để diễn giảng, quý thầy nói nhiều quá, quý thầy nói một lần cả một tiếng mấy đồng hồ như vậy, nhiều khi ta coi thường. Còn ngày xưa các vị hòa thượng tôn đức ít nói, chống gậy đi thầm thầm lặng lặng, mình có lẻo đẻo chắp tay đi sau hỏi han dữ lắm các ngài quay sang mới phán cho một câu gì đó sơ sơ. Ví dụ có người nói: "Thưa thầy, vợ chồng chúng con lấy nhau đã lâu mà sao chưa có được mụn con nào. Dạ xin thầy cho con một cái sự chỉ dạy". Thay vì là phải giảng tràng giang đại hải về nhân quả thế này thế

[20:20]kia thì các ngài chỉ cái hòa thượng chỉ quay lại nói một câu: "Con về con xin đứa con con nuôi đi". Nói một câu chả giải thích gì cả. Thấy hòa thượng ổng thầm thầm, ổng ít nói cũng sợ, thôi cứ về vâng lời đi kiếm xin cho được một đứa con nuôi về nuôi, mà đúng như vậy, nuôi nó được 3 năm sau cái là chính mình lại sinh được đứa con. Thì mới thấy là lời hòa thượng phán như thần như thánh, nhưng mà hòa thượng ít nói, chứ không giống như bây giờ thầy cứ ngồi lải nhải nói hoài thấy ghét, phải không? Rồi coi thường, có phải không ạ? Không phải hả? Chứ thầy tưởng thầy nói nhiều người ta ghét. Còn ngày xưa các vị tôn túc nói như thần như thánh mà

[21:00]nói ít thôi, sợ lắm, mà nói đâu có đấy, hay như vậy. Thì nhưng mà một vài lời của các ngài là quý như vàng như ngọc mà ai làm theo đều là có kết quả. Thậm chí, thậm chí là ví dụ có người lại mất cái con trâu, mà con trâu là cả một cái gia tài, phải không, để đi cày, đi ruộng rồi vân vân. Đến, hớt ha hớt hải chạy đến, "Hòa thượng, Hòa thượng ơi, con mất con trâu. Hôm con cột ở trong chuồng rõ ràng ở đó mà sáng dậy đi đâu mất, vì không biết nó đi đâu". Cái Hòa thượng ổng diêm diêm dim dim lát, ổng nói, "Thôi đi đi về hướng Đông xuống cái bến đò cho lẹ đi thì lấy lại được". Thế là ba chân bốn cẳng xúm nhau chạy về cái bến đò hướng Đông

[21:39]thì đúng, đúng là có một người họ dắt nhầm con trâu mình. Chụp lại túm họ hỏi, "Sao dắt trâu?", nói, "Không, thấy con trâu đi trên đường tưởng con trâu của tôi tôi dắt đi". Ví dụ vậy, nhưng đại khái đã lấy lại được con trâu thì lúc đó thấy sao? Thì đúng là chùa là gì? Đúng là nơi mà mọi thứ được xử lý. Hòa thượng già già của mình ổng thầm thầm lặng lặng như thế là gì? Như là ông thánh ở trong làng, phải không ạ? Mà tu làm thế nào mà ông Hòa thượng mình như ông thánh, chuyện gì ổng cũng xử lý, ổng cũng nói được thì việc đó mình chẳng biết, tính sau. Ổng tu cái gì không biết. Đó, nhưng mà chùa là như thế, nó vừa là cái nơi mà

[22:17]các Hòa thượng đem cái đạo lý nhân quả dạy cho mình, đem cái thần thông để mà hướng dẫn cho mình, đem những đạo lý nhân nghĩa, đạo đức để mà chỉ dạy cho mình. Cho nên chùa thiêng liêng vô cùng. Mà chùa Việt Nam ta ngày xưa bé bé, nó không to thế này, không có ngôi chùa mà cao đến mức độ này đâu, thấp thấp thấp à. Nhưng mà nơi đó ấm cúng lắm. Và cái sự thành kính của ta, cái tình yêu quý của ta dồn hết về cái ngôi chùa. Nơi đó có Đức Phật từ bi mỉm miệng cười, nơi đó có Tăng có Ni tu học tinh nghiêm làm chỗ cho ta nương tựa. Và cứ nhiều, mấy ngàn năm như thế, cứ như thế mà mà đi tới thì chùa phả bóng lên cái lịch sử của dân tộc ta.

[23:04]Nên bây giờ ta có ngồi đây với nhau, có những người như đã thấy mình là theo Phật từ kiếp nào chứ không phải mới kiếp này, đúng không ạ? Như bây giờ ta gặp lại đạo Phật cái mình nhanh chóng đi theo, tu học thì rõ ràng là mình đã theo Phật từ kiếp nào á, chứ không phải là mới đây. Bây giờ thì ngoài cái việc phải mưu sinh lo toan cho gia đình, thời gian còn lại cảm thấy là lòng của mình gửi hết về về cho chùa, gửi về cho Phật, cảm thấy rất là tự nhiên. Nhưng mà có những người thì đến với đạo Phật vẫn còn hết sức là xa lạ. Có những người kiếp này là mới gặp đạo Phật, còn xa lạ.

[23:47]Và ta thấy cái đời xưa dân số ít và cái người đến chùa như vậy cũng sẽ không nhiều. Rồi cái thời nay dân số tăng lên thì những người mà đến chùa thì rõ ràng là họ không phải từ đời xưa họ đến, họ từ đâu họ đến á. Bây giờ kiếp này là ta đang ngồi đây nè, ta đang đến chùa đang nghe pháp nè, thì những kiếp xưa ta đã từng gặp đạo Phật chưa? Có chưa? Một số người có rồi, nhưng một số người chưa. Nha! Một số người có rồi là nó như thế nào? Hoặc những người đó đã từng sống trên đất nước Việt Nam, trong ngôi đình, ngôi làng, bây giờ tái sinh trở lại, gặp lại Phật pháp là lòng ta hăm hở, là nhiệt thành đi theo.

[24:33]Nhưng có một số người không phải như thế, nhưng hôm nay cũng đến chùa vì họ từ đâu đến?

[24:42]Có một số người từ cõi trời về. Nha, có một số người thực sự là không phải là cõi người mà biết Phật pháp, mà họ từ cõi trời họ biết Phật pháp. Bây giờ do mắc đọa ở trên đó cũng hơi lộn xộn chút xíu, cái kiếp này sinh xuống làm người. Thì cái người mà cõi trời sinh xuống làm người, rồi nhưng mà trên cõi trời họ đã biết Phật pháp nên kiếp này làm cõi người làm sao? Cũng tìm chùa mà đến liền, cũng nhanh chóng tìm chùa. Cho nên có những người ngồi đây sự thật không phải là do từ cõi người biết Phật pháp mà đến, mà đã từ cõi trời biết Phật pháp mà mà đến. Giờ sao hỏi nói, "Thưa Thầy, vậy làm sao biết cái người

[25:25]đó là học Phật pháp từ trên cõi trời?" Dễ lắm, nha! Cái người mà biết Phật pháp từ cõi trời có những đặc tính như thế này: Thứ nhất là họ nhìn họ xinh đẹp, cái tướng mạo hảo tướng, ta gọi là hảo tướng, xinh đẹp. Như vậy ở đây ai xinh đẹp?

[25:48]Thứ nhất là có mấy người đang ngồi trên đây nha, ngồi đây nè, đây nè đây nè đây nè. Thôi thôi Thầy Thầy Minh Trí đứng lên nè, Thầy Minh Trí đứng lên đứng lên nè, thôi Thầy đứng lên đi, đứng đứng lên. Cái Thầy MC nãy đó nha, đẹp không ạ? Rất là đẹp phải không? Rồi, thứ hai nữa là ai?

[26:05]À có Sư cô Đàm Hân, hoa hậu Thái Bình nữa chứ quên nữa. Đứng lên đi! Đây đây đây, Sư cô Đàm Hân.

[26:15]Hoặc là Phật tử ta cũng vậy, cái người nào mà tự nhiên khi lúc mình sinh ra trong cái nếp nhà mình sống sang trọng, sạch sẽ, sống đàng hoàng, nghiêm túc rồi nhanh chóng biết Phật pháp là mình từ cõi trời về. Nhớ đặc điểm một điều: cái người từ cõi trời về sống rất là sạch sẽ. Nha, vậy ở đây ai ở dơ?

[26:38]Cái người ở dơ thì thường là không có cái nguồn gốc tôn quý. Nên cái người nào mà lúc nào cũng biết giữ mình sạch sẽ, giữ nhà cửa sạch sẽ, thường là người ở cõi trên về. Trong kinh Phật cũng ghi điều đó rất rõ. Một trong những dấu hiệu của Bồ Tát là rất sạch sẽ. Nha, rất sạch sẽ, vậy. Thì ngày hôm nay vậy, ta trải qua nghìn đời ta trở về đây lại, gặp nhau trong mái chùa này, sự thật là ta đã mang cái niềm tin, cái chủng tử của Phật pháp đến từ xưa, có khi từ cõi người, có khi từ cõi trời về thì mới ngồi đây. Còn biết bao nhiêu người không màng đến Phật pháp là họ ở đâu đến?

[27:21]Ở đâu đến vậy? Cõi nào? Thôi ta không có nói nha, họ ít duyên với Phật pháp thì ta không dám kết luận họ từ cõi nào nhưng mà mà không có duyên. Thì cái ngôi chùa từ nghìn đời là như vậy, trở thành cái nơi mà ta gặp gỡ, giao tiếp, tụ hội, thư giãn, trò chuyện ấm cúng, tình cảm mà cũng là một nơi thiêng liêng, nơi ta học hỏi, cũng là nơi gì? Nơi ta tìm cái sự xử lý cho những bế tắc, khó khăn trong cuộc sống của mình. Cũng như là nơi thế nào? Nơi ta vui mừng, thành kính dâng cúng mỗi khi ta thành tựu một điều gì đó trong trong đời mình. Cái ngôi chùa là thế. Bây giờ cái cuộc sống nó thay đổi, ta có nhiều nơi để đến, để vui chơi, để tụ hội hơn.

[28:11]Và với những ai mà không có cái duyên lành trong Phật pháp, cái tâm hồn họ sẽ bị kéo về những nơi đó hết. Nên chỉ những người rất có căn duyên với Phật pháp thì mới dành cái tâm hồn, dành thời gian, dành cuộc đời mình để đi về cái nơi cao thượng như như thế này, vậy. Thì bây giờ cái một ngôi chùa mà mọc lên được như thế này là do ai? Nhờ ai? Nhờ ai mà có được ngôi chùa?

[28:43]Nhờ ai? Thì đúng là nhờ Phật rồi đó, nhưng mà Phật thì thôi khỏi nói, nhưng mà nếu nói về con người thì ta nhờ ai? Đúng! Là nhờ cả quý Thầy cô và Phật tử. Trước hết là nhờ Tăng Ni cái đã. Chính nhờ uy đức của Tăng Ni mà ta mới tụ hội về để cúng dường, lập nên một ngôi chùa, đúng không ạ? Chứ có ai lập nên một ngôi chùa mà không có trụ trì không? Thường là không. Chỉ có những nơi mà người ta đi lưu lạc xa xứ rồi người ta dựng một cái nhà thờ Phật để thờ với nhau rồi từ từ cũng phải tìm người về trụ trì, nói vậy. Còn bình thường, chính vì có một vị Tăng Ni có uy đức, có đạo đức mà người ngưỡng vọng, người ta mới dựng cái ngôi chùa lên,

[29:34]người ta mới tụ lại tiền bạc, công sức, tâm hồn để dựng cái ngôi chùa lên. Nên có ngôi chùa chính là nhờ uy đức của của Tăng Ni trước. Thứ hai là nhờ công sức của của Phật tử, của quần chúng như vậy. Chứ Tăng Ni thì làm gì mà có có tiền, phải không? Tăng Ni làm gì mà có đủ công sức để dựng cả một ngôi chùa như thế này lên? Nên từng cái cây cột nè, từng cái mái ngói, từng mái che và thậm chí cái cây kiểng như ni lông này cũng là của Phật tử. Mới vô Thầy tưởng là là cây kiểng thật, ai ngờ đâu Ni sư cũng xài kiểng giả nữa.

[30:13]Thì từ cái uy đức của Tăng Ni làm cái hạt nhân, rồi Phật tử tụ về bỏ công bỏ sức dựng thành cái ngôi chùa, cho nên cái để tạo thành một cái tổ ấm thiêng liêng cho nhau, cho cuộc sống này. Thì như vậy thì như vậy ngôi chùa là của ai?

[30:36]Của Phật, ờ đúng rồi, của ai nữa? Nói tiếp á.

[30:42]Của? Nếu mà nói cho thực tế là của thầy trụ trì, phải không à? Thầy thầy trụ trì là phải đứng chính ở đó. Vì ai cúng là cúng cho ai? Không thể là cúng cho hư vô được, phải cúng cho ông thầy trụ trì, nên thầy trụ trì là người sở hữu trực tiếp, nếu nói thẳng là như vậy, sở hữu trực tiếp, rồi sau này thầy muốn giao lại cho ai, thầy muốn giao như vậy. Nhưng mà bây giờ trong lý thuyết thì là chùa của ai?

[31:12]Của Giáo hội. Việt Nam mình có một cái Giáo hội chung, cho nên coi như chùa thuộc về Giáo hội quản lý, đó là trên lý thuyết. Nhưng mà trên tâm tình người ta vẫn xem chùa đó là của ai? Của thầy trụ trì, không có dân dân đâu mà dân. Dân là ai? Đông quá, nghe không? Vẫn là của thầy trụ trì, cho nên thầy trụ trì là người chịu trách nhiệm chính cái ngôi chùa đó, nói thẳng là giống như là người chủ của chùa, thẳng như vậy. Đó, nhưng mà mênh mông lắm, cái sở hữu thiêng liêng là của Phật nha, cái sở hữu trên lý thuyết của luật lệ hiến chương là của Giáo hội, mà sở hữu trên thực tế là của ông thầy trụ trì,

[31:55]mà sở hữu trên trên cái tình nghĩa công sức là của ai? Của dân, đúng là đúng mới là của Phật tử. Cho nên là chùa mấy sở hữu? Nhiều sở hữu, mà nhiều sở hữu thì sao ạ? Rắc rối, rắc rối. Nhưng mà cũng may mắn là cái việc mà tranh giành, nghĩa là tranh chấp về sở hữu chùa nó không gay gắt, không gay gắt vì sao? Vì thứ nhất là cái sở hữu thiêng liêng tối cao của Phật thì Phật không bao giờ giành, không bao giờ cho nên về mặt đó ta yên. Thứ hai là về mặt Giáo hội, ngôi chùa là sở hữu của Giáo hội thì Giáo hội có can thiệp sâu không? Không, Giáo hội cũng chẳng can thiệp sâu. Giáo hội tuy nói lý thuyết là của Giáo hội,

[32:40]nhưng mà Giáo hội cũng để cho sơn môn tự xử lý với nhau, rồi Giáo hội chỉ công nhận thôi. Chỉ trừ trường hợp ngôi chùa nào mà không có ai hết thì Giáo hội buộc lòng phải can thiệp để sắp xếp, chứ còn không, Giáo hội không. Rồi bây giờ nói là chùa của dân, dân có nhào vào giành không? Không, giành rồi vô thì phải đi tu à? Có dám cạo đầu vô đi tu mà giành chùa không? Không. À, cho nên cuối cùng thực sự vẫn là vẫn là của thầy trụ trì. Cho nên tuy là tới bốn sở hữu, nhưng mà đời sống rất là yên bình nha, không có tranh chấp nhiều. Không tranh chấp nhiều, tức là cũng có ít ít đấy, lâu lâu cũng có đấy.

[33:18]Giờ thế này, khi mà nhìn qua các ngôi chùa thì ta thấy thế này, có những ngôi chùa đông vui, đúng không ạ? Có những ngôi chùa nhiều khi nằm ở vị trí gì đó hoặc có cái đặc điểm gì đó mà rất đông người lui tới để tu học. Đó là lý do gì? Thôi ta không có phân tích hôm nay nhiều. Nhưng có những ngôi chùa rất là quạnh quẽ, ít có người lui tới, có không ạ? Có những ngôi chùa đi ngang mình thấy rất là buồn, đi qua lại hoài cứ thấy ngôi chùa cứ vắng vắng hoài cũng không hiểu lý do tại sao. Tại sao vậy? Mà bây giờ đi tìm nguyên nhân thì cũng rất là là phức tạp, hôm nay cũng chưa phải lúc nói chuyện đó,

[33:56]cho nên ta chỉ nhận xét thôi chứ không có bình luận, không phê bình. Rồi có những ngôi chùa nơi gần thị tứ dễ cho mọi người đến, tức là gần cái khu dân cư, là người ta đi làm về, ăn cơm xong, cái là chạy qua chùa thắp nhang tụng thời kinh rồi đi về, hoặc là đến ngồi thiền chút rồi đi về, cũng được. Nhưng cũng có những ngôi chùa thật sự là nơi hẻo lánh, sơn khê, muốn đi đến rất là vất vả. Ví dụ như chùa của chúng tôi ở trong Bà Rịa - Vũng Tàu là ở trên núi lận. Leo lên núi xong rồi lại đi xuống một cái thung lũng, nơi cái đồng không mông quạnh cũng ít có ai đến lắm, vào cái chùa như vậy, chùa cũng vắng vẻ.

[34:36]Cho nên nhìn mặt dòm vô là biết ông thầy, ông thầy nhà quê, ông thầy ở nơi quê mùa vậy. Thì đó, rồi có cái trường hợp mà có cái chùa to, rộng, tiện nghi, đầy đủ cơ sở vật chất, nhưng cũng có những ngôi chùa sơ sài, nghèo, bé, kém tiện nghi.

[34:58]Rồi có cái chùa có những vị là chân tu, đạo hạnh, hoằng hóa à nổi tiếng. Nhưng cũng có cái chùa không có trụ trì. À không có trụ trì, tức là dân làng thôi thì thay phiên nhau mà hương khói chứ không có trụ trì, có không ạ? Cũng có như vậy nha, có nhiều dạng như vậy. Có những người giữ chùa vậy thôi, ừ. Cho nên là nếu mà phân loại chùa thì ta phân loại rất nhiều cái hình thức như thế. Mà khi đi ngang một ngôi chùa hoặc là khi đến thăm viếng một ngôi chùa thường thì ta nghĩ gì?

[35:40]Dựa vào những cái cái phân loại nãy giờ mà ta nói với nhau đó, có chùa đông vui, có chùa quạnh quẽ, có chùa gần thị tứ, có chùa nơi hẻo lánh sơn khê, có chùa to rộng, tiện nghi, giàu sang, có chùa bé, nghèo, sơ sài, có chùa với những vị chân tu, đạo hạnh, giáo hóa, có chùa không có trụ trì, không có người ở. Thì mỗi khi ta đến một ngôi chùa thì lòng ta nghĩ gì?

[36:11]Hả? Nghĩ Phật. Phật thì lúc nào ta cũng nghĩ rồi. Mỗi khi đến một ngôi chùa ta hãy nhớ điều này: là cái ngôi chùa này mà có được là sao? Nhờ uy đức của một vị tiền nhân nào đó, phải không? Công lao, sức lực của bao nhiêu đàn na tín thí từ đời nào đó mới tạo thành được. Và bổn phận của ta là đừng có phụ cái công ơn của các vị tiền bối đó, để cho ta một cái tổ ấm thiêng liêng như thế này. Nên khi ta đi ngang một ngôi chùa hay ta đến một ngôi chùa mà vắng vẻ, quạnh quẽ quá, lòng ta rất là đau xót. Dù ít dù nhiều thì nơi ngôi chùa này từ xưa đã là công sức của bao nhiêu vị rồi, mà từ xưa cho đến nay Đức Phật cũng ngồi đấy mỉm miệng

[37:12]cười rồi, mà nếu để cái ngôi chùa cứ quạnh vắng như thế, lòng ta không đành. Cho nên vì vậy vì cái mái chùa là che chở hồn dân tộc,

[37:26]cho nên tất cả chúng ta đều phải có cái bổn phận là làm sao xây dựng, phát triển một cái ngôi chùa thành một nơi tu học có hiệu quả, lợi ích cho nhiều người. Đừng để cái ngôi chùa xây lên rồi ít người đến, hoặc là chỉ là cúng bái sơ sài. Ta phải làm sao cái ngôi chùa đó phải thực sự là cái tổ ấm tâm linh, nhiều người về đó tìm thấy được cái ích lợi, cái chỗ nương tựa trong tâm hồn của cuộc đời mình. Nha, ta phải làm cho vậy, ngôi chùa trở thành có ích lợi, phải cùng nhau phát huy cái ngôi chùa cho mọi người cùng được hưởng cái sự thiêng liêng tâm linh đó. Đừng để cái ngôi chùa cứ mãi chìm trong cái vắng vẻ hiu quạnh đơn sơ.

[38:21]Nếu ngôi chùa nào đó mà cứ vắng vẻ, hiu quạnh đơn sơ, ta rất là có lỗi. Ai là người có lỗi?

[38:31]Ai là người có lỗi? Trước hết là quý thầy, cô đã, Tăng Ni, kế đến mới là Phật tử. Một cái ngôi chùa mà vắng vẻ, không có nhiều cái hoạt động tu học, đó là lỗi của Tăng Ni trước, rồi mới đến lỗi của Phật tử sau. Ở đâu cũng vậy. Nên hôm nay ta nói mái chùa che chở hồn dân tộc là ta muốn nói đến là tất cả mọi người ta phải chung lòng chung tay góp sức làm sao cho mỗi một ngôi chùa đều trở thành một nơi thu hút lại, nơi tụ hội lại, nơi tổ ấm trở lại cho mọi người. Khi mà trong cái thời đại này ở bên ngoài kia có quá nhiều cái sự gọi mời của những cái trò vui thế gian mà tầm thường, đôi khi hư hỏng, đôi khi trụy lạc sa đọa,

[39:33]kéo con người vào trong tội lỗi mà không có giới hạn, thì ta cần những ngôi chùa có cái tâm linh ngời sáng thu hút mọi người về lại để cân đối lại cái cuộc sống này, để chống trả lại cái xấu cái ác mà đang từng ngày lôi kéo tâm hồn con người. Ví dụ như ta đã lớn tuổi, ta đi qua cả một cuộc đời, ta biết phải trái đúng sai, nay ta đi tìm lại cái cội nguồn của sự đạo đức thánh thiện thì được rồi. Nhưng mà còn con ta, còn cháu ta, nếu nó không có một cái điểm tâm linh để tìm về, nếu nó cứ mãi chạy theo cái cuộc đời trần tục, nó mê theo cái gì? Đua đòi trong cái thời trang quần áo hở hang, nó chạy theo cái game điện tử, à nó chạy theo những cuộc vui

[40:24]vô bổ đua xe rồi những cuộc thi tài tầm thường mà nó không biết đến cái tâm linh thiêng liêng truyền đời của cha ông để lại trong cái ngôi chùa, trong cái ngôi đình thì nó thiệt thòi cho nó. Mà thiệt thòi cho nó nghĩa là sao? Nghĩa là nếu ta, ta sống một đời ta tạo được phúc, ta có xây dựng được cái đức độ, ta để cái đức đó lại cho con cháu ta nó hưởng. Con cháu ta nó hưởng rồi, nó phá sạch. Đến đời con đời cháu nó chẳng còn gì nữa, cái dòng họ ta hoại luôn. Chỉ còn cái họ mà không còn có cái nề nếp gia phong, truyền thống đạo đức gì cả, rất là đáng lo, rất là đáng buồn. Nên vì vậy, mọi người chúng ta phải chung nhau mà xây dựng cho mỗi cái ngôi

[41:14]chùa trở thành một cái điểm hút trở lại để cân đối lại, để chống lại, để cưỡng lại với cái sự thu hút của những cái trò chơi trần tục bên ngoài mà đang cuốn hút bao nhiêu tâm hồn của những tâm hồn non dại đó. Đúng không ạ? Đúng vậy.

[41:38]Nhưng mà trách nhiệm trước hết là của Tăng Ni. Đúng như vậy. Cái lỗi là của Tăng Ni, cái công là của Tăng Ni trước, rồi Phật tử nương đó mà đi theo. Nên khi ta nói đến một cái ngôi chùa để cho sung túc, để hưng thịnh, để là nơi tu tập thì trách nhiệm vẫn là là Tăng Ni trước. Bây giờ muốn cho một cái ngôi chùa được phát triển hưng thịnh như vậy thì Tăng Ni phải làm gì? Cái phần này là cái bài giảng hôm nay là nói chuyện với Phật tử là số đông, quý thầy quý cô chỉ đến tham khảo, nhưng buộc ta cũng phải nói cái trách nhiệm của Tăng Ni. Trách nhiệm của Tăng Ni làm sao để phát huy một cái ngôi chùa lên cho được.

[42:20]Thì thứ nhất là tấm lòng, là tấm lòng. Cái vị trụ trì ở đó, Tăng Ni ở đó trong lòng mình phải đau đáu nghĩ là làm sao cái ngôi chùa này được nhiều người về tu học. Ý nghĩ đó là cái nhân đầu tiên. Chỉ mới là ý nghĩ thôi, nhưng mà nó là cái hạt nhân. Không có cái ý nghĩ này sẽ không có cái quả, mọi người sẽ không đến. Trong đầu cái vị thầy phải nghĩ làm sao chùa này phải có nhiều người về tu học, đó là ý nghĩ đầu tiên. Và quý thầy quý cô đó phải nghĩ là vô vụ lợi, không được nghĩ là người ta về đông để cúng dường cho nhiều, không được nghĩ điều đó. Tại vì nếu mà có cái ý vụ lợi, Phật tử đến đông để cúng dường nhiều chùa giàu thì tan vỡ hết về sau.

[43:12]Sau này người ta không đến nữa, vì đó là ý nghĩ vụ lợi, không phải là một ý nghĩ đạo đức. Nên hễ quý thầy làm đạo là phải hy sinh, chấp nhận nghèo làm việc đạo, miễn làm sao giáo hóa được đông người, miễn làm sao nhiều người về chùa tu học thay đổi tâm hồn họ trở nên tốt hơn, đó là mục tiêu. Không bao giờ được nghĩ là Phật tử về để cúng dường. Còn phần của Phật tử thì đương nhiên rồi, phải không? Khi Phật tử người ta về chùa thì người ta tự biết sẽ đóng góp cho cho chùa, không cần nói. Trong đầu ông thầy không được nghĩ điều đó, còn Phật tử tự họ nghĩ, vì đó là đạo đức, bổn phận của người Phật tử.

[43:54]Mà Phật tử không được đến chùa rút ra một cái tờ mà 500 đồng hay là 1.000 2.000 mà nhét vô cái kẽ tay ông Phật hay bàn thờ nha, đó là một sự xúc phạm. Ông Phật ngồi vậy nhét đồng tiền vô tay ổng, ông Phật ổng xin tiền ổng ăn xin hả? Ông Phật có cần tờ 500 1.000 của mình không? Ngài cần gì cái đó? Ngài là cả pháp giới vũ trụ này trong bàn tay của Ngài, cần gì một tờ 500 1.000 mà nhét nhét vào kẽ tay như vậy? Đó là sự xúc phạm đối với thần thánh và không có phúc nào hết. Cho nên ta cúng chùa làm gì? Cúng chùa phải là nó có giá trị thật để cho Tăng Ni làm Phật sự, chứ không phải để cầu phúc cho mình mà nhét một

[44:33]tờ 500 1.000 mà nhét vào kẽ này kẽ kia mang tội chết hà nha. Không biết ai có cái tật đó giơ tay lên, thầy bắt quỳ nhang ngay. Nha, không có được nha. Ừ. Cúng dường là cúng Tam Bảo để làm các Phật sự thiêng liêng, chứ bộ ông Phật ổng là ăn xin ngồi bên đường hay sao mà nhét nhét 500 1.000 giống như mà đi cho người ăn xin? Tội chết à nha. Giờ trước hết là cái ông thầy trong đầu phải nghĩ đến việc mà cho Phật tử về tu học. Nên hôm nay vậy, trước mặt ở đây, ở trên bàn trên chúng ta có những vị thầy, quý sư cô đang ngồi đây là những người đang có những ý nghĩ như vậy. Ví dụ như là thầy thầy Minh Thông phải không?

[45:18]Thầy trụ trì chùa Ân Quang, đệ tử là thầy Minh Trí làm MC đẹp trai nãy đó, ừ. Thì quý thầy năm ngoái đã tổ chức một cái khóa học hè cho học sinh cũng phải 300 người, năm nay cũng lại tiếp tục tổ chức. Và quý thầy nói là quý thầy chưa kinh nghiệm lắm nên quý thầy muốn là về Di Đà để tham khảo thêm để làm cho nó tốt thêm. Trong chùa chỉ có hai thầy trò, 7 ha hay 8 ha nhỉ? 7 ha đất, chùa rộng nên có điều kiện để mà mà tập hợp giáo dục. Mà hai thầy, nhìn thầy thì không biết già hay trẻ, thấy thầy khắc khổ quá, nói thầy già sợ thầy giận mà nói thầy trẻ thì không đành, vừa lỡ lỡ. Một thầy lỡ lỡ và một thầy trẻ nha,

[46:03]hai thầy trò trong cái lòng là cứ muốn làm sao cho các em về học để dạy đạo đức. Đó, cái mẫu của Tăng Ni thời đại mới phải là như vậy. Ta cho tràng pháo tay. Hoặc là Sư cô Đàm Hân, ở ngoài Bắc gọi là sư thầy, ở trong Nam gọi là sư cô, Sư cô Đàm Hân cũng vậy, cứ đau đáu chạy qua chùa này chạy qua chùa kia, cứ làm sao mà muốn giáo hóa cho Phật tử để được nhiều người biết đạo rồi nhiều người về chùa tu. Đó, những cái tâm hồn như vậy thật là là cao cả, thật là đáng yêu, là đáng quý. Làm sao mà ta có nhiều những Tăng Ni có những tâm hồn như vậy. Hoặc là Sư cô Hạnh Thường kia cũng vậy, lò mò trong Nam chạy ra kiếm

[46:45]ngôi Bắc trụ trì cũng bắt đầu lập cái lớp học đạo đức cho trẻ, đó. Tức là trong lòng lúc nào cũng nghĩ đến làm sao cho nhiều người về tu học, già có, trẻ có, trong đầu không có vụ lợi, không bao giờ nghĩ người ta về để cúng dường mà chỉ người ta về để tu học là cái chánh nhân đầu tiên mà chùa không đi lệch lạc sau này. Chỉ cần trong đầu khởi cái niệm nhẹ là người ta về đông chắc người ta cúng nhiều, sau này hư đạo liền. Chùa sẽ hư, đạo cũng hư luôn và mọi người về cũng hư luôn. Mà đó là cái chánh nhân đầu tiên. Rồi cái thứ hai mà để thu hút được mọi người về chùa tu tập chính là cái tâm từ bi của Tăng Ni ở trong chùa. Tâm từ bi.

[47:29]Quý thầy quý cô đã từ bi chưa ạ? Nhìn mặt coi, nhìn mấy mặt coi từ bi chưa? Có không ạ? Có. Hay là có gì đáng ngờ không?

[47:42]Thực sự thì khi quý thầy, quý cô mà đi tu thì trong lòng đã có chút từ bi ha, nhưng mà để có thể thu hút được đông thì lòng từ bi phải rất lớn. Chứ còn từ bi hơi hơi không đủ sức thu hút Phật tử đâu, phải lòng từ bi rất là lớn. Mà làm sao mà quý thầy, quý cô có lòng từ bi lớn? Phải tu tập, phải quán từ bi. Tức là những lúc mà tụng kinh, niệm Phật huân tập rồi, phải ngồi thiền và phải quán từ bi, là quý thầy, quý cô phải ngồi quỳ trước Phật mà trải lòng yêu thương khắp pháp giới chúng sinh. Ngày nào cũng tu cái công phu quán từ bi như thế, tự nhiên nó động đến cả quỷ thần, động đến cả chư thiên và bắt đầu nó tỏa vào lòng người.

[48:27]Thế là chư thiên là các vị thần thánh mới đưa, tìm cách độ, đưa những Phật tử về chùa đó để nương tựa, vì ông thầy sư cô nơi chùa đó đêm nào cũng ngồi trước bàn Phật quán từ bi, tỏa cái tình thương rải trong hư không như thế. Đó là cái nhân đầu tiên. Thì khi mà Phật tử đến chùa gặp được quý thầy, quý cô có lòng từ bi yêu thương tức là mình thấy sao? Thấy dễ chịu phải không ạ? Ai mà không muốn được yêu thương phải không? Cho nên khi ta đến chùa mà thấy quý thầy, cô yêu thương, ân cần ta mềm lòng ra liền. Ta thấy à đây là nơi ta trở về. Ta về nơi đâu? Cả một đời ta đi lang thang, cuối cùng ta tìm về nơi đâu?

[49:20]Không phải là nơi có bánh đa bánh đúc đâu. Bánh đa bánh đúc ăn cũng phải tốn tiền lắm. Ta về một cái nơi mà ta nghĩ rằng nơi ta được yêu thương, nha.

[49:32]Mà nơi đó ta gọi là quê hương. À có những người xa xứ đi làm ăn rồi cứ cũng thích đi về quê. Vì sao vậy? Vì nhớ hồi nhỏ mình ở nơi làng quê, à ở trong nhà mình mình chạy ra tắm sông. Cái mình chạy ngang cái mình thấy cái ông ông bác ở làng xóm cái ổng đi ổng hái ổng hái mấy cái trái na. Cái mình đứng mình nhìn mình nhìn, thấy na mình thèm, cái ổng quay sang ổng thấy vậy cái ổng ngoắc mình vô, ổng cho con trái ăn. Ăn xong cái mình cởi trần cởi truồng nhảy xuống sông mình tắm. Nhưng mà một trái na đó đi theo mình suốt cả cuộc đời, vì mình hiểu cái gì? Nơi đó có tình làng nghĩa xóm, có những cái bác lớn tuổi yêu thương mình.

[50:14]Chỉ một trái na thôi mà nơi đó đã thành quê hương mãi mãi. Và có những người mất quê hương cũng vì điều đó. Họ rời quê hương họ đi, đi làm ăn xong cái cái nhớ quê, tìm về thì những cụ già mất hết, còn những người lớn nhìn nhau xa lạ. Họ đứng họ nhìn à con đường này ngày xưa mình đi học đây, cái cây đa này ngày xưa mình ngồi dưới mình chơi đây, con sông này ngày xưa mình tắm đây. Nhưng mà mọi người nhìn nhau xa lạ quá, thì thôi đứng nhìn kỉ niệm một chút rồi bỏ quê đi luôn, không còn quê hương nữa, vì không còn cái tình yêu thương nơi đó gọi mời mình nữa. Còn bây giờ ta về chùa mà ta nhận ra được quý thầy cô yêu thương mình là sao?

[50:56]Nơi đó lập tức trở thành quê hương liền. Đúng không ạ? Đúng rồi, thành quê hương liền. Cho nên là quý thầy, quý cô phải ngày đêm mà quán từ bi. Quỳ trước Phật, tưởng tượng cái tình yêu thương mình chan rải khắp trong pháp giới. Mà phải 10 năm như vậy bắt đầu con người mình tràn ngập từ bi, chúng sinh đến gặp là bị chiêu cảm liền. Phải 10 năm như vậy công phu đó, nhưng mà ít nhất phải 3 năm bắt đầu cái từ bi đã le lói trong tâm. Và chúng sinh họ đến gần họ nhận ra liền, có đúng không ạ? Khi ta đến gần một người có cái tâm yêu thương, ta nhận ra ngay, đúng không? Bây giờ cũng hai người ta đến chùa,

[51:35]một người là "A, mời mời mời Phật tử vào ăn cơm. Ăn cơm ngồi đây nhá." Cũng một người "A, mời Phật tử vào ăn cơm." Nhưng một người mời ta với tâm từ bi, còn một người mời ta với cái cái đoan đả lịch sự bề ngoài, ta nhận ra được không? Nhận ra được liền. Coi vậy chứ chẳng giấu ai được cả, phải không? Cái người chân thật rồi nó vẫn bày biện ra. Cái người giả dối rồi vẫn bộc lộ ra. Cho nên tăng ni trước hết phải tu từ bi. Và cái từ bi của mình mọi người họ đến họ nhận ra liền. Và lúc đó họ mới biết rồi chùa đó là quê hương liền, vì trong đó có vị thầy từ bi, chỉ như đó thôi, là cái bước thứ hai. Cái thứ nhất là cái ý niệm mà muốn cho chùa

[52:20]đông người đến tu học là cái chánh nhân. Thứ hai là tâm từ bi của tăng ni. Thứ ba là cái gì? Ai mà trả lời đúng thầy cho đi xuất gia ngay trong chiều nay.

[52:35]Thứ ba là giới luật tinh nghiêm của tăng ni, cái sự đàng hoàng đứng đắn của tăng ni. Cái tâm từ bi và cái giới luật nó phải cân đối với nhau. Là vì sao vậy? Vì nếu tăng ni tu từ bi mà không có cái giới luật á thì bỗng nhiên nó có một chút dễ dãi. Cái người Phật tử đến với mình bắt đầu có một chút suồng sã, thân mật không cần thiết và làm cho cái chùa mất uy nghiêm. Cho nên lòng thầy rất yêu thương nhưng mà đụng tới thầy không được à, vì thầy rất là giới luật, rất là đứng đắn, rất là đàng hoàng. Và trong cái từ bi đó thu hút rất nhiều thành phần đến phải không? Ví dụ như bây giờ một thầy trẻ, đẹp trai mà thầy từ bi thì người già có đến chùa không? Đến.

[53:21]Người trẻ có đến không? Đến. Nam có đến không? Nữ có đến không? Nữ đến á, trẻ trẻ mới là vấn đề. Phải không ạ? Vì thầy cũng trẻ, cũng từ bi, cũng đẹp trai và cái người phụ nữ trẻ cũng đến, vấn đề nằm ở chỗ đó. Vấn đề nằm ở chỗ sao? Nói thầy đi tu rồi có gì đâu mà lo. Không, đi tu mới lo. Lo làm sao vậy? Tại có nhiều cô có những suy nghĩ kì lạ lắm. Nói, "Trời ơi, sao mà thầy đi tu thầy đàng hoàng, đẹp trai như vậy, thầy đi tu uổng quá. Ở ngoài đời sao thanh niên nó thấy nó dữ quá, nó nói bậy nói bạ, ăn chơi thấy sợ. Còn thầy thấy coi đàng hoàng coi bộ bảo đảm à." Đó, cái nghĩ ông thầy bảo đảm rồi bắt đầu mới làm mối là mối đe dọa cho thầy ta.

[54:10]Đời thầy ta phải tu hành còn dài lắm mà mấy cô cứ lượn qua lượn lại mà suy nghĩ như thế thật là mối đe dọa à, nhất là mấy thầy trẻ trẻ thế này đây. Già như thế này là hết rồi, hết lo rồi. Trẻ này mới lo đây. Cho nên là

[54:29]quý thầy, quý cô phải thêm cái giới luật tinh nghiêm. Cái giới luật tinh nghiêm là gì? Là cái sự đàng hoàng, cái sự đứng đắn không làm điều sai lầm.

[54:40]Không làm điều sai lầm nghĩa là làm sao? Khi quý thầy, quý cô giữ giới không làm điều sai lầm

[54:50]cái câu nói này nghe nó đơn giản nhưng sự thật nó là cả quá trình phấn đấu rất lâu. Nó mới thành được một cái uy lực tỏa ra. Ví dụ bây giờ ông thầy đó mới thọ giới 3 năm, chưa tạo thành cái uy lực của cái giới đức, chưa. À, mà đến năm nào? Ta nghe Khổng Tử nói câu này mới sợ nè. Khổng Tử là: "Tam thập nhi lập", nghĩa là làm sao? Đến năm 30 tuổi ngài có được lý tưởng sống, có được định hướng sống rõ ràng. Tam thập nhi lập, 30 tuổi là ngài đã định hướng được đường đi của mình. 40 tuổi là gì? "Tứ thập nhi bất hoặc",

[55:34]là cái con đường mình đi mọi điều hiểu hết rồi. Giống như nói trong đạo Phật mình là đã ngộ đạo. 40 tuổi, Khổng Tử mới đạt được cái trình độ là bất hoặc, không còn nghi ngờ, hiểu rõ hết mọi điều đạo lý mình phải đi. Mà khi hiểu rõ như vậy đó mà từ cái định hướng năm 30 tuổi đến 10 năm sau mới đạt được cái mức độ mà không còn nghi ngờ, nếu nói theo đạo Phật mình là đắc được cái giới đức. 10 năm giữ giới, 10 năm quyết tâm giữ giới mới đắc được cái giới đức. Mà giữ giới như vậy đến năm 50 tuổi: "Ngũ thập tri thiên mệnh". Tới năm 50 tuổi là Khổng Tử biết được mệnh trời, nghĩa là làm sao? Nếu nói theo đạo Phật mình là bắt đầu có thần thông,

[56:19]biết việc trước, biết việc sau, biết quá khứ vị lai. Cho nên Khổng Tử là một người có thần thông nha. Đừng ai nghĩ Khổng Tử chỉ là một cái nhà giáo mà nói lý thuyết, giảng đạo, không có đâu. Khổng Tử có đắc thần thông. Qua cái câu tâm sự của ông là "ngũ thập tri thiên mệnh", 50 tuổi biết được mệnh trời chính là vì sao? Là vì từ lúc mà ông được cái giới đức của cái tứ thập, 10 năm sau phát thần thông. Tới a lục thập là "nhi nhĩ thuận", nghĩa là khi đến 60 tuổi, ông được cái tâm bình thản mà tiếp xúc với mọi việc ở trên đời, nghe mọi điều thuận hay nghịch ở đời, lòng rất là bình thản. Nó gọi là: "Lục thập nhi nhĩ thuận" là vậy.

[57:09]Thất thập tùng tâm sở dục bất du củ. Câu nghe dài dòng quá nha. Theo tâm mà muốn không vượt ra ngoài khuôn phép. Tức là khi ông muốn cái điều gì, cái điều muốn đó nằm trong đạo lý. Mà nếu nói theo đạo Phật mình, giống như chứng Tam quả A-na-hàm vậy, không bao giờ còn tham sân nữa. Nhưng mà mình trở lại cái năm 30 40 của ổng á, từ tam thập nhi lập tới tứ thập nhi bất hoặc, tới 10 năm như vậy ổng mới có cái đức, có đạt được một cái giới đức bảo vệ mình thành ra có uy. Thì quý thầy quý cô mình cũng vậy. Ví dụ như là mới đi tu, mới thọ giới, nó vẫn chưa thành được cái uy đức của giới luật tỏa ra. Cũng vậy, quán từ bi cũng phải 3 năm,

[57:57]bắt đầu cái từ bi mới từ từ nó tỏa ra để chúng sinh nương tựa. Nhưng mà khi chúng sinh nương tựa mà nếu chỉ có từ bi mà không có giới luật thì nó thành ra một cái sự xuồng sã, thân mật không cần thiết. Nên do đó, phải có cái giới luật. Mà giới luật cũng là một công trình mà mà huân tập lâu dài nhiều năm. Khổng Tử là ổng đi mất 10 năm cái này. Đó, thì quý thầy quý cô mình không biết bao lâu cũng tùy mỗi người, nhưng mà hai cái đó phải cân đối song song với nhau để thành ra một vị thầy, một vị cô mẫu mực mà nơi chùa đó là một cái nơi chốn tâm linh thiêng liêng. Bởi vì có quý thầy cô mà cân đối được hai điều

[58:40]là vừa từ bi mà vừa đứng đắn đàng hoàng. Chứ sự thật là ví dụ như là quý cô thì ít bị, chứ sự thật là quý thầy trẻ thì hay bị lắm. Quý thầy trẻ trẻ một chút thì hay bị. Nên vì vậy, nó phải có một cái giới đức để làm cái hàng rào mà mà ngăn cách. Tức là Phật tử yêu mến thầy nhưng mà không bao giờ chạm vào được, không bao giờ đến gần thân mật được. Đó, nên phải có đó. Thầy rất từ bi nhưng không bao giờ làm cho thầy dao động, lung lay được. Đó là cả một công phu tu hành rất là lớn chứ không phải là dễ. Ngoài cái việc quán từ bi, quyết tâm giữ giới luật, quý thầy quý cô còn phải tu tập thiền định rất là

[59:22]nhiều, kiểm soát chính mình rất là nhiều. Quý thầy cô phải có cái lòng tôn kính Phật cao tột, nó tạo thành cái cái phước của ngôi chùa tỏa sáng ra chung quanh. Nếu quý thầy cô mà không có cái lòng tôn kính Phật cao tột, cái ngôi chùa không thiêng. Nhớ như vậy nha, chùa không thiêng. Bởi vì linh tại ngã, bất linh tại ngã. Chùa linh hay không linh là do ta. Do ta nghĩa là sao? Do ta nghĩa là nếu mà những cái người ở trong chùa đó mà lòng tôn kính Phật đầy đủ, tự nhiên được thần lực của Phật ứng về liền. Và ai đến cái chùa đó tu tập hay cầu nguyện thường là được kết quả.

[1:00:12]Cái điều này là thầy sẽ không có nói chi tiết là cái chùa nào được như vậy. Thầy chỉ nói tổng quát thôi và quý Phật tử nhớ giùm như vậy. Khi ta đến cái ngôi chùa nào mà ta cầu nguyện thường là được như ý thì phải biết rằng Tăng Ni chùa đó có cái lòng tôn kính Phật cao tột. Cho nên, cái bước thứ tư để tạo thành một cái ngôi chùa linh thiêng là Tăng Ni phải huân tập lòng tôn kính Phật cao tột. Tăng Ni mà tôn kính Phật rồi, tự nhiên chùa đó có cái phước tỏa sáng ra. Mà chẳng những như vậy, quý thầy cô còn dạy Phật tử mình phải tôn kính Phật tha thiết nữa. Thì cái nhân lành, cái công đức này nó tỏa ra khắp cả cái cộng đồng của ta.

[1:00:57]Nó tạo thành một cái hào quang che chở cho chùa, che chở cho cả cái cộng đồng làng xóm của ta luôn. Cái lòng tôn kính Phật rất là là quan trọng như vậy. Cái điều nữa, cái điều thứ sáu nữa là ngôi chùa phải có một cái công phu tu tập về tâm linh. Một cái công phu tu tập về tâm linh vì Phật, Phật giáo, đạo Phật là con đường của tâm linh. Nó không phải chỉ là con đường của lý luận, không phải là một cái con đường của lễ nghi, không phải chỉ là học tập, không phải chỉ là hình thức, mà cái giá trị sâu thẳm của đạo Phật chính là cái tâm linh. Mà muốn có tâm linh là phải tu chứ không thể tự nhiên mà có được.

[1:01:44]Cái tâm linh ta đến từ đâu? Ta tu như thế nào? Thì trong đạo Phật ta vì có ba cái nguồn chính vì đó là Thiền tông, gì nữa? Tịnh độ tông và Mật tông. Ba cái nguồn đó là ba cái nguồn tâm linh. Thiền tông thì sáng nay ta đã nói rồi. Thiền tông là truyền thống của Phật giáo Việt Nam ta mà nhất là ở miền Bắc. Ngày hôm nay khi ta nghiên cứu lại lịch sử Phật giáo của Việt Nam thì ta mới thấy là ở miền Bắc ta sáng ngời những vị thiền sư đắc đạo từ ngàn xưa, đã để lại một cái tâm linh là vẻ vang cho cái Phật giáo ta. Cho nên nếu nói về tâm linh của Phật giáo Việt Nam thì ta phải nói là Thiền tông của miền Bắc.

[1:02:34]Còn miền Trung, miền Nam sau này chỉ là kế thừa đi theo thôi, chứ còn cái thiền chính vẫn nằm ở miền Bắc. Đó là một cái nguồn tâm linh. Nên vì vậy, ngày hôm nay là chúng ta cố gắng phục dựng lại, phục chấn lại cái thiền phong của miền Bắc lại như là chư Tổ ngày xưa, chứ đã để mai một rồi, rất là uổng phí. Cái thứ hai là Tịnh độ tông. Tịnh độ tông là gì? Tịnh độ tông là một cái pháp môn là khi một cái người nào đó người ta lo lắng về cái sau khi chết không biết đi đâu thì quý thầy cho ta một câu niệm Phật để người ta yên tâm là nếu niệm Phật thì có chết đi được Phật rước. Thì cái khái niệm sống chết, ở cõi sau chết nó cũng thuộc

[1:03:20]về về tâm linh nên cũng là một nguồn tâm linh. Nhưng mà chư Tổ ta đó rất là trí tuệ, tuy dạy Tịnh độ nhưng mà giấu cái lý thiền ở trong đó. Nếu cái người đó là cái người không có căn cơ sâu, không có tuệ căn sâu dày, nếu là một người không có tuệ căn sâu dày thì thôi ôm cái câu niệm Phật đó cũng được phúc, chết cũng được về cõi lành. Còn nếu người đó có tuệ căn sâu dày, ôm cái câu niệm Phật đó một thời gian chợt vỡ ra cái điều khác và bước vào thiền ngay, trở lại với với thiền. Nhớ thiền vẫn là gốc của đạo Phật. Rồi một cái nguồn tâm linh nữa là Mật tông. Mật tông là cái gì? Ta trở lại cái câu chuyện mà có người mất con trâu chạy lại đến hỏi ông thầy nói:

[1:04:10]"Thưa thầy, con trâu con mất tiêu không biết là nó đi lạc, sút dây đi lạc hay là bị người ta ăn cắp?" Ông thầy mới nói: "Chạy về bến đò miền Đông, lật đật chạy lên bắt nó về được." Thì làm sao mà ông thầy ổng biết cái đó? Một là ổng đắc đạo, hai là ổng đắc cái Mật tông. Một là ổng đắc pháp của thiền, hai là ổng đắc cái pháp của Mật tông. Nên là do đắc pháp thiền khó quá nên chư Tổ mới đưa cái Mật tông vào dạy cho Tăng Ni. Khi Tăng Ni tu tập Mật tông thì nhanh chóng có quyền năng, thần thông để mà độ đời, mà giúp người nhanh chóng. Nhưng mà nó là cái ngọn chứ nó không phải là cái gốc mà sử dụng nó rất là nguy hiểm.

[1:04:52]Vì sao vậy? Vì nếu ta sử dụng Mật tông, ta mượn cái quyền năng của chư Phật để độ đời mà nếu ta không đủ đức, sau này ta bị phản ngược lại, thê thảm, sẽ có một cái nạn thê thảm đến với ta. Cho nên là Mật tông chỉ là ngọn thôi, còn cái gốc vẫn là là thiền. Đó, nhưng mà cả ba cái nguồn đó: Thiền, Tịnh độ, Mật đều là cái nguồn tâm linh của đạo Phật. Và một cái ngôi chùa phải có một cái công phu tu tập tâm linh thì mới thành ra cái cốt, cái lõi của Phật giáo được. Chứ còn nếu chỉ là lý luận, nếu chỉ là nghi lễ, thật sự vẫn chưa đi vào cái cốt lõi của Phật giáo được. Mà cái công phu tâm linh là một công phu

[1:05:36]vất vả, cực khổ, đòi hỏi sự kiên trì rất là rất là lớn, đó là vậy. Một yếu tố nữa để làm cho ngôi chùa được hưng thịnh là cái tài tổ chức của Tăng Ni. Trong kinh thì không bao giờ dạy cái cách tổ chức một cái buổi lễ, không bao giờ dạy cách tổ chức một cái lớp học. Do đó là thường ta kém hơn các tôn giáo bạn ở điều này. Khi một Tăng Ni đi học trong học viện về, cái tài tổ chức vẫn thua những tu sĩ của các tôn giáo bạn. Vì các tôn giáo bạn họ được học điều đó một cách chính quy, còn ta không được học. Nên khi mà chùa cần phải tổ chức một cái lễ hội, thậm chí là tổ chức một buổi giảng như thế này, đôi khi ta vẫn lúng túng.

[1:06:25]Nên vì vậy, ta phải cần bổ sung cái điều này nhanh chóng cho Tăng Ni trong đạo Phật là cái tài tổ chức. Lát nữa ta sẽ nói đến cái tổ chức nha, cái tài tổ chức làm sao. Cái tài tổ chức giúp cho chùa có quy củ, có nền nếp và mọi người được yên tâm. Khi người ta đến chùa người ta được yên tâm. Nói yên tâm là sao? Yên tâm là sao? Ví dụ thế này. Ví dụ như hôm đó chùa có một buổi lễ mà buổi lễ đấy kéo dài từ sáng đến chiều. Buổi trưa mọi người sẽ ở lại ăn cơm. Trong buổi lễ đó có thuyết pháp, có lễ cúng, rồi có văn nghệ ca hát. Đấy là trong buổi sáng tới chiều mà nó diễn ra nhiều cái hạng mục như vậy và cái người ta phải đến từ sáng cho tới chiều.

[1:07:10]Thì ở lâu trong chùa như vậy nó có một cái nhu cầu rất là bức xúc của cá nhân, đó là nhu cầu gì? Rất giỏi, vệ sinh, đúng vậy. Nhưng nếu mà khi phải giải quyết cái nhu cầu vệ sinh, người ta phải xếp hàng vì chùa ít nhà vệ sinh quá, phải không? Đi vào nhà vệ sinh nó hôi quá thì làm sao người ta có yên tâm ở lại chùa từ sáng tới tối không? Không, nhớ như vậy. Cho nên, để mọi người có thể yên tâm ở chùa lâu mà tu tập, quan trọng nhất là cái gì? Lại chính là nhà vệ sinh. Lạ như vậy, chính là nhà vệ sinh. Nên khi một cái vị trụ trì mà khởi lên trong tâm mình muốn cho cái chùa của mình đông người đến tu học thì làm ơn xây cái gì trước?

[1:08:01]Nhà vệ sinh, xây mấy cái? Nhiều là mấy? Chùa của chúng tôi ở Bà Rịa - Vũng Tàu trên núi là 250 cái buồng vệ sinh, 250 cái buồng vệ sinh.

[1:08:15]Sợ chưa? Vậy mà không đủ, tại một buổi lễ mình tới mười mấy nghìn, hai mươi mấy nghìn người về. Nhưng mà vẫn sao, mọi người vẫn yên tâm vì sao vậy? Vì lúc nào cũng có những Phật tử họ xung phong họ canh nhà vệ sinh. 250 cái buồng vệ sinh nhưng mà khoảng 300 người canh. Canh nghĩa là sao? Ai đi vô đi ra canh hả? Không phải. Nghĩa là có một người vào đi nhà vệ sinh vừa đi ra là họ vào họ dọn lại một lần nữa. Nên không bốc mùi, không bao giờ có mùi. Nên người ta ở hai ngày trên chùa mà vẫn như ở nhà vì cái nhà vệ sinh rất sạch sẽ. Cái yếu tố rất là quan trọng, mà trong một xã hội văn minh người ta đánh giá cái nhà vệ sinh trước đó.

[1:08:58]Nên khi ta đến thăm một cái ngôi nhà, một cái gia đình, ta đánh giá coi gia đình đó có văn minh lịch sự, cái người con gái trong gia đình đó là có công dung ngôn hạnh hay không thì làm sao? Giả vờ nói cho tôi đi vào nhà vệ sinh. Là không phải là để vào nhà vệ sinh đó mà để coi cái nhà vệ sinh như thế nào, ta đánh giá được toàn bộ cái văn minh của gia đình đó liền. Biết gia đình đó thuộc đẳng cấp nào. Nha, đẳng cấp nào biết liền, nhìn nhà vệ sinh thôi. Chớ đừng nhìn cái xe người đó đi, đừng nhìn cái nhà khách nó đẹp, đừng nhìn nó đeo nhẫn đeo vàng, không, mấy cái đó không đánh giá được đẳng cấp thực sự con người.

[1:09:35]Đẳng cấp thực sự con người nằm trong nhà vệ sinh đó. Ờ. Đúng không ạ? Đúng như vậy. Nên thôi, từ bữa nay về nhà lo sửa lại cái nhà vệ sinh giùm thầy. Và góp tiền cho sư thầy ở đây xây một dãy nhà vệ sinh nha, hiện đại. Như, như ở Nghệ An có một chùa Viên Quang chưa xin phép xây được, các Phật tử mới hỏi thầy nói bây giờ ừm mà Phật tử hay về đây tu quá, chúng con phải làm gì? Thầy nói xây nhà vệ sinh trước. Nói xây như thế nào? Nói xây làm sao mà 20 năm sau vẫn không lạc hậu thì xây. Chùa chưa xây mà cái khu nhà vệ sinh xây 400 triệu. Sạch đẹp, vô là người ta không thích vô nhà khách ở, người ta thích vô nhà vệ sinh không à.

[1:10:20]Vì nó sạch nó đẹp quá, mà chùa phải như vậy. Cho nên là để có thể thu hút được nhiều người về chùa và ở lâu, ngày này qua ngày kia, làm ơn ta xây dãy nhà vệ sinh thật sạch, thật đẹp trước. Như vậy nha, trên Phật Quang ta là 250 buồng vệ sinh, như vậy. Rồi có một cái nữa cũng không kém phần quan trọng là cái nhà gì?

[1:10:45]Nhà gì? Ai trả lời nhà bếp giơ tay lên. Đó, đó là những người có tâm hồn ăn uống. Không nhưng mà nó là thực tế đó, đúng như vậy đó. Ở lâu mà đói ở không nổi phải không? Cái nhà bếp rất là quan trọng. Cho nên nói thì nghe buồn cười nhưng mà nó là một thực tế, cho nên nhà bếp phải rộng đủ để mà nấu suất ăn cho cả mấy nghìn người như thế này. Như ở Di Đà sáng nay vậy, sáng nay cái ngoài ban thư ký báo vô cho nhà bếp là 1.200 người đến nghe Pháp. Nhưng mà thực sự nấu cơm ra thiếu, thực sự con số là 2.500 người. Cơm nấu ra thiếu hết, đó, ta thấy nhà bếp quan trọng. Và ta thử tưởng tượng ta về chùa cũng giống như về nhà phải không ạ?

[1:11:30]Vì ta biết rằng thầy ta từ bi, nghĩa là tuy gặp ta lần đầu nhưng mà lòng từ bi của thầy là lòng từ bi của Phật. Thì ta về chùa như về nhà, mà nhà nào không cho con mình ăn cơm, phải không ạ? Nghe Pháp xong, lễ cúng xong, đói meo đứng nhìn mọi người ăn, chờ mình phải nấu một suất nữa, buồn không? Buồn, phải không? Cho nên vì vậy cái nhà bếp rất là quan trọng nha. Cái thứ hai đó, đúng là mọi người có tâm hồn ăn uống, nhưng mà rất là đúng, rất là đúng, không phải sai đâu. Kế đến là cái gì nữa? Một cái nhà nào nữa mà để thu hút mọi người về chùa? Nhà nghỉ hả? Trời ơi!

[1:12:16]Hết đi vệ sinh xong ăn, ăn vô ngủ. Trời ơi! Trời ơi, sao mà tâm hồn gì đâu mà vậy.

[1:12:28]Cái Chánh điện nha. Cái Chánh điện là cái nơi ta lễ kính Phật, ta tu tập, tức là được đi vệ sinh được ăn rồi bây giờ phải lo tu nha, chứ đòi cái nhà ngủ lo ngủ là chết rồi, đến chùa làm gì? Phải lo tu nha. Một cái Chánh điện phải rộng, phải thoáng, hoành tráng, đầy đủ, cảm động, đẹp nha, linh thiêng, phải không ạ? Làm sao để gọi là đẹp, để linh thiêng, hoành tráng, rộng rãi thì thôi tùy các vị trụ trì nha. Nhưng làm sao mọi người bước vào Chánh điện không muốn đi ra là thành công. Làm sao vào Chánh điện rồi không muốn đi ra nữa là thành công. Mà làm sao được như vậy thì tùy tâm, tùy trình độ, bản lĩnh của thầy trụ trì và của người kiến trúc sư.

[1:13:11]Còn có những cái ngôi chùa vào Chánh điện rồi ta không vào được, như có một lần vậy, chúng tôi về một cái ngôi chùa, thôi không tiện nói tên, là cũng đến chùa rồi trước khi giảng mình phải vào Chánh điện để lễ Phật, mà không có chỗ bước vào. Vì sao? Vì thờ từ ở trong cái vách đằng sau ra tới cái cửa luôn. Ngồi cứ nghĩ hoài không biết sao thầy ổng thờ kỳ quá. Không vô được thì đừng nói mà vô mà không chịu ra, phải không? Do đó bây giờ ta tạo một Chánh điện làm sao nó ấm cúng, nó đẹp, nó xinh, nó thoải mái, Phật tử vào không muốn đi ra, cho nên ai cũng thích ngồi trong đó tu hoài là thành công, cái Chánh điện là quan trọng.

[1:13:48]Cái thứ tư nữa là gì? Thứ tư nữa là cái gì? Đâu, để nói ra để thầy biết cái tâm hồn người này như thế nào coi. Nói coi.

[1:14:00]Cái gì? Hả? Nghe giảng hả? Đâu có phải lúc nào cũng có buổi giảng đâu. Lâu lâu mới có buổi giảng. Cái thư viện nha. Chùa phải có cái thư viện. Cho nên cũng thành thật góp ý với ni sư, với chư thượng tọa ráng về mở một cái thư viện chùa ta. Thư viện đó như thế nào? Thư viện đó là nơi mọi người đến đây đọc sách, phải không? Đọc sách mà cái thư viện đó người ta ngồi vào không muốn đứng lên. À. Làm sao để vào đó ngồi không muốn đứng lên? Tại sao? Vì cái ghế ngồi quá dễ chịu. Ghế ngồi đó dễ chịu hơn cái ghế ở quán cà phê. Chùa phải cạnh tranh với cái quán cà phê. À. Người ta vào quán cà phê người ta ngồi người ta

[1:14:51]không thèm đứng lên vì cái ghế dễ chịu quá. Chùa cũng phải như vậy. Cái ghế này ngồi muốn ngồi luôn không? Không, vì sao? Thứ nhất không có cái dựa. À. Cho nên ta phải ngồi cái ghế thế nào á, cái vị trụ trì sau khi sắm cái ghế đừng có mua nhiều, nha, ni sư đừng mua nhiều, ni sư mua một cái thôi, về ni sư ngồi ngày này qua ngày kia, ngồi vài ba bữa mới phát hiện ra coi nó có vướng chỗ nào, nó dễ chịu, thử đi thử lại vài cái bắt đầu ta mới đặt mua nhiều, lập một cái thư viện. Phật tử vào ngồi rồi là không muốn đứng lên, cứ thích đọc cuốn sách này, đọc cuốn sách kia. Rồi hễ đói quá cái xuống chùa cho ăn cơm, không sao cả nha.

[1:15:29]Cứ đến chùa, thay vì chạy ra ngoài quán cà phê, thay đi chơi tào lao, cứ thích đến chùa ngồi nơi cái ghế đó, nơi cái bóng cây đó, nơi cái bờ ao đó, có kinh Phật mà xem. Nghĩa là cứ vài người đến, vài người đến thôi, không đông, nhưng mà người ta cứ thích đến mãi là một cái thành công của chùa. Không cần thầy phải nói nhiều mà cái thư viện là nói thay cho, nói thay cho thầy. Người ta đến lúc nào cũng được, đến từ sáng tới chiều, chiều tới tối, ở luôn cũng được, ở luôn không thèm về càng càng tốt, cạo đầu luôn cũng được luôn. Ngồi đọc sách riết rồi vô chùa xin thầy cạo đầu luôn là thành công lớn của cái thư viện nha, nên cái thư viện rất là quan trọng.

[1:16:08]Rồi cái gì nữa? Chùa cần cái gì nữa? Chùa cần cái này, một cái quảng trường rộng trước Chánh điện để khi có lễ hội lớn, khi có buổi giảng đông, ta tập hợp được nhiều người như thế này, phải không ạ? Ở đây ta bị vướng bởi cái ao nè, chứ nếu không vướng cái ao thì cái quảng trường ta cũng rất là rất là đẹp. Thì nói cái chùa Thiền viện Di Đà của thầy Minh Tuân là một cái chùa tiêu biểu á, một cái Chánh điện bên trong, bên ngoài một cái quảng trường rất rộng, có thờ Phật, có mái che cố định, thế là ta tu tập được, ta làm lễ hội được, ta mở cái lớp dạy cho học sinh được. Cái quảng trường đó cực kỳ đa năng.

[1:16:48]Nhưng mà có nhiều chùa bị một cái tật là hễ cái sân trống là kiếm đồ để vô cho nó lấp cho hết. Sợ người đông á, cứ để này để kia để vướng hết cả một cái sân chùa. Nay ni sư hình như trước đây có cái gì đây phải không ni sư? Có cái tượng gì đó ni sư dẹp luôn. Vì yêu thương Phật tử về chùa, ni sư dẹp bớt một cái tượng ở đây luôn. Đó, mà đúng như vậy, ta cần cái quảng trường rất là rộng, mà nhìn cái chùa mà thấy có quảng trường rộng, ta biết ngay cái chùa này sẽ sung. Là vì sao? Vì cái quảng trường là tượng trưng cho cái lòng, cái tâm của vị trụ trì. Cái tâm của vị trụ trì lớn thì sân chùa sẽ lớn,

[1:17:30]cái tâm của vị trụ trì hẹp thì sân chùa sẽ hẹp. Đúng không ạ? Đó là nhìn theo phong thủy đó. Mà cái sân chùa to, cái chùa sau này sẽ phát đạt, mà cái sân chùa to nhiều người sẽ về đến chùa. Đó là cái nhìn cái sân chùa thôi là biết cái chùa sẽ ra sao. Đó là nói là thuật phong thủy, ta gọi là cái minh đường. Một cái minh đường, cái sân rộng phía trước nhà mà trong cái câu thiệu của phong thủy có câu thế này: "Minh đường dung vạn mã". Cái minh đường mà chứa được cả mười nghìn con ngựa, mà cái minh đường đó là đất quý, đất đó là đất quý. Cho nên trong chùa ta phải tạo cái minh đường là cái quảng trường rất

[1:18:11]là lớn thì mới hút được nhiều người về, ha, cần một cái minh đường. Rồi cần cái gì nữa? Cần cái gì nữa?

[1:18:20]Chỗ để xe. Ni sư cực kỳ thực tế nha, rất là giỏi, đúng như vậy ha. Rồi cần cái gì nữa? Cần cái lớp học đạo đức cho trẻ hàng tuần quanh năm. Cứ chiều Chủ nhật là các Phật tử đưa con em mình về chùa cho thầy dạy đạo đức nha, mà không phải là thầy dạy không, có khi thầy mời người này, có khi thầy mời người kia đến dạy đạo đức. Hết cái bài đạo đức này đến cái bài đạo đức kia, có khi nó nghe vài bài rồi nó chán, nhưng mà cũng rớt vào tâm nó một số điều và có khi nó rất là thích, nó theo đuổi cái lớp đạo đức hoài đến khi nó lớn lên, nó rời quê nó đi, nhưng mà những cái điều đạo đức mà được học trong chùa sẽ theo nó suốt cuộc đời.

[1:19:04]Và lớn lên nó sẽ là một Phật tử tốt, một công dân tốt của đất nước. Cho nên chùa nào cũng phải ráng mở cái lớp đạo đức cho học sinh, cho trẻ vào chiều Chủ nhật. Mà chương trình cái cách dạy phải hết sức là lý thú như vậy, nó là cái quan trọng lắm. Đó là nói về trách nhiệm của tăng ni. Bây giờ tới trách nhiệm của Phật tử. Để cho một ngôi chùa hưng thịnh thì Phật tử phải làm gì? Làm gì? Phải đến chùa cho cho đông, ăn cho hết cơm chùa. Đúng không ạ? Phải làm gì? Phải ủng hộ Phật sự của tăng ni, ủng hộ cho tăng ni tu, ủng hộ cho tăng ni học, ủng hộ cho tăng ni hoằng hóa và ta đứng vai trò hộ pháp, ta giữ gìn Phật pháp, giữ gìn bảo vệ ngôi chùa của ta. Đúng không ạ?

[1:19:59]Nhớ cái trách nhiệm rất là quan trọng nha. Mà muốn ủng hộ như vậy thì ta làm cái gì? Ta có công góp công, ta có của góp của. Tức là ta cúng dường được thì cố gắng mà cúng chùa. Thầy nói câu này không phải là là thầy dụ dỗ hay thầy cò mồi để mà cúng giùm cho quý thầy, quý cô đâu, không có đâu. Nhưng mà nói thật sự như vậy, cái công đức của đàn na tín thí vẫn là phải cúng dường. Cái tiền cúng dường của ta hay cái gạo ta cúng vào trong chùa đó, mà nếu đó là một ngôi chùa chân chính, tăng ni tu học nghiêm túc, nhiều người về tu học, thì thầy xin thưa là đó là cái nhân mà ta gieo một mà hưởng muôn ngàn về sau.

[1:20:41]Có những người tại sao ta cất được cái nhà to? Tại sao kiếp này ta đụng đâu may mắn làm dễ ra tiền, vì sao? Kiếp trước cúng chùa cả. Kiếp trước thế là lúc mà chùa xây, ta đã đến ta vác từng viên gạch, bao cát cho chùa xây, hoặc là ta cúng vào trong đó tiền, kiếp này tự nhiên ta được nhà cao cửa rộng. Nhớ lại coi có đúng không? Nhớ lại coi, đều có như vậy cả. Rồi kiếp này tại sao ta được cái thân hình lành lặn, đi qua những cuộc chiến tranh, đi qua nhiều tai nạn, mà ta vẫn lành lặn, không thương tật, người thì đẹp đẽ, đoan nghiêm như thế này, dòm ai cũng đẹp trai như thế này, là do đâu? Xin thưa, đời trước ta đã từng cúng dường làm tượng Phật.

[1:21:27]Cái người nào đã từng cúng dường làm tượng Phật, đời này được thân thể luôn luôn lành lặn, đẹp đẽ. Đó là nhân quả. Rồi tại sao ta được no đủ một đời này? Vì đời xưa bảo đảm có đem gạo cúng chùa. Đời này tự nhiên ta được no đủ. Rồi có người lên làm tới quyền cao chức trọng, có những người làm những chức rất lớn vì sao? Vì có khi đã bỏ tiền xây cả một ngôi chùa luôn, thế là đời đời hưởng phước. Nếu ngôi chùa đó còn hưng thịnh, còn sung túc, thì cái người này ở những kiếp sau cứ làm ông to bà lớn mãi. Cái phúc đó là không thể chối cãi. Cho nên cái việc mà Phật tử, trách nhiệm của tăng ni là nãy giờ rồi, bây giờ nói tới trách nhiệm Phật tử là phải

[1:22:09]ủng hộ cho tăng ni tu học, hoằng hóa, hộ pháp. Mà trong cái việc ủng hộ đó, ta có công góp công, có của góp góp của, nhớ như vậy nha. Cái quan trọng là giúp cho chư tăng giữ gìn giới luật. Giúp cho chư tăng giữ gìn giới luật nghĩa là sao? Nghĩa là thế này, ví dụ như ta đến chùa, ta thì trong sáng rồi không có gì, thầy ta cũng đàng hoàng rồi không có gì, nhưng mà ta thấy có con con bé nó cứ ẻo ẻo tới gần thầy ta hoài. Thì ta làm sao? Mà sự thật thầy ta cũng chưa đắc đạo, phải không? Nếu thầy ta đắc đạo là ta không lo, thầy tự thầy lo, đạo lực của thầy sáng tỏa, nhưng mà thầy chưa đắc đạo nên ta cũng còn hơi run.

[1:22:53]Vì vậy làm sao? Ta phải kêu con bé ra nói chuyện: "Con à! Con đừng có đến gần thầy nhiều, con là con gái, nha, con có gì con nói qua trung gian với những cô bác lớn, chứ đừng có trực tiếp mà tiếp xúc với thầy hoài, không nên." Một câu nói của ta là giúp cho thầy giữ gìn giới luật, công đức của ta rất là lớn, giữ cho chùa được bình yên nha, chứ ta thấy mà ta làm lơ không nói, lỡ có chuyện gì ta mang tội chết à. Lỡ có chuyện gì là sao? Là vì thầy ta đẹp quá, thầy ta trẻ quá, mà thầy ta chưa đắc đạo. Mặc dầu thầy quyết tâm giữ giới, nhưng mà cái đạo lực chưa đủ, nhiều khi cái sắc dục nó vẫn là một cái rất là mạnh, thấy không?

[1:23:34]Nên ta phải giúp thầy giữ giới, à vân vân. Rồi một cái nữa là ta giúp thầy ta về kiến thức về pháp luật xã hội. Có nhiều điều thầy ta đi tu thầy ta không có rành, thầy ta không biết rõ, cho nên những việc liên quan đến pháp luật, đến những việc xã hội, thì ta phải tư vấn giúp cho cho thầy ta. Như vấn đề tổ chức ta cũng phải giúp cho cho thầy ta. Rồi cái quan trọng nữa thế này, ta phải giữ thanh danh cho chùa. Ví dụ như có chuyện gì ta không bằng lòng, ở trong chùa ta nói riêng với thầy ta, nhưng ở bên ngoài lúc nào cũng phải bảo vệ thanh danh của chùa, không bao giờ được nói điều tiếng xấu ra bên ngoài, làm mất đạo tâm của người khác.

[1:24:14]Cái làm mất đạo tâm của người khác mang tội cực kỳ nặng. Cái đạo tâm của con người nó quý hơn cả vàng và kim cương nha. Vàng, kim cương trên đời này là phù du vô nghĩa. Cái đạo tâm của con người, cái niềm tin kính của con người với Phật pháp, cái đó mới quý, mới là vô giá, để người ta mang đi hết kiếp này sang kiếp kia, người ta sống, người ta phấn đấu, người ta tu sửa mà người ta hướng thượng. Mất cái đạo tâm đó rồi người ta chìm xuống địa ngục liền, người ta không cần phải tu dưỡng nữa, người ta sẽ làm điều bậy bạ, chìm trong tội lỗi rồi người ta đọa lạc luôn, tội nghiệp người ta. Cho nên cái trách nhiệm của ta là phải giữ gìn đạo tâm cho mọi người.

[1:24:53]Mà muốn giữ gìn đạo tâm cho mọi người là phải giữ thanh danh cho ngôi chùa đó. Trong chùa không phải là hoàn hảo, trong chùa còn nhiều khuyết điểm. Nhưng mà những cái khuyết điểm đó ta dần dần ta góp ý với thầy ta mà lấp cho hết. Chứ còn bước ra bên ngoài lúc nào cũng phải bảo vệ thanh danh của chùa mình, để giữ gìn, bảo vệ thanh danh của chùa không phải là bảo vệ cái gì cho chùa đâu, mà chính là giữ gìn đạo tâm cho cho mọi người, công đức rất là rất là lớn, đó. Là ta phải phụ tiếp với mọi điều. Hôm nay ta nói cái đề tài là: "Mái chùa che chở hồn dân tộc". Nhưng mà để có thể có được mái chùa mà che chở được hồn dân tộc thì sao?

[1:25:31]Đó phải là nhờ sự gia hộ trên của chư Phật, dưới là sao, có tăng ni uy đức trụ trì, kế nữa là gì? Là Phật tử hết sức nhiệt thành mà mà đóng góp, à tu tập nha. Và nếu mà nơi nào cũng có như vậy thì tất cả mọi ngôi chùa trên đất nước ta, đi nơi nào cũng là tổ ấm yêu thương nha, cũng là quê hương tâm linh của ta, cũng là cái chốn tổ thiêng liêng để tâm hồn ta gửi về đó. Ta có thể đi xa trên đường đời, ta có thể mệt mỏi vì chuyện đời, ta có thể đau khổ vì con người, nhưng lúc nào thẳm sâu trong tâm hồn mình vẫn có một nơi chốn để ta hướng về, ta nương tựa, đó là gì? Đó chính là mái chùa che chở hồn dân tộc của ta.

[1:26:18]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mái chùa

[1:27:03]che chở hồn dân tộc.

[1:27:17]Từ thuở ai vắng bóng chùa, đường đời đã nhọc chuyện hơn thua.

[1:27:30]Trong tôi bừng dậy niềm xót xa,

[1:27:36]xao xuyến mơ về lại cảnh xưa.

[1:27:45]Thấp thoáng đâu đây cảnh làng,

[1:27:53]có con đường đỏ chạy lang thang,

[1:28:00]có hàng tre gợi buồn sóng mũi,

[1:28:07]im lặng chùa tôi ngập nắng vàng,

[1:28:14]có những cây mai sống tròn Ơi,

[1:28:22]bên hàng tùng bách mãi xanh tươi.

[1:28:29]Nhìn lên phảng phất hương trầm toả,

[1:28:36]Đức Phật từ bi miệng mỉm cười.

[1:28:47]Tôi nhớ làm sao những buổi chiều, lời kinh giải thoát vọng cao siêu.

[1:29:11]Vì vậy làng tôi sống thái bình, sớm khuya gần gũi tiếng chuông kinh.

[1:29:43]Mỗi tối dân quê đón gió lành, khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh. Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi, an ủi dân hiền mọi mái tranh.

[1:29:56]Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào, thôn trên xóm dưới dạ nao nao. Dân làng tắm gội lên chùa lễ,

[1:30:10]mười bốn, ba mươi mỗi tối nào.

[1:30:22]Biết đến bao giờ trở lại quê,

[1:30:30]vấn vương lòng người nhớ nhung về.

[1:30:38]Tang thương dẫu có bao nhiêu nữa,

[1:30:46]cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê.

[1:31:13]Mái chùa che chở hồn dân tộc,

[1:31:21]nếp sống muôn đời của tổ tông.

[1:31:30]Biết đến bao giờ trở lại quê,

[1:31:37]vấn vương lòng người nhớ nhung về.

[1:32:05]Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng,

[1:32:13]ra đi ai chẳng nhớ

[1:32:18]chùa chung.