[0:11]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:17]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học bài Quan điểm Phật sự 6. Bài Thế độ xuất gia, hay là bài Tình thầy trò.
[0:33]Thì chúng ta biết, đệ tử Phật được chia thành mấy chúng? Bốn chúng, gồm mấy hạng? Hai hạng, giỏi, thuộc bài. Là người xuất gia và người người tại gia. Thì trong đó, cái đối tượng mà để gọi là lý tưởng để Phật pháp đi đến hóa độ là ai?
[0:55]Là tất cả chúng sinh, mà chủ yếu là người cư sĩ, vì người cư sĩ chiếm số đông. Và trong đó, cái người mà nòng cốt để xây dựng, phát triển Phật pháp là người? Người xuất gia. Nhưng mình nói đây không phải là mình ăn hiếp quý Phật tử, mà đó là một sự thật, sự thật phũ phàng là người xuất gia là người nòng cốt để mà xây dựng Phật pháp. Vì vậy, cái trách nhiệm của những người xuất gia đi trước là đào tạo cái đội ngũ kế thừa của mình để mà tiếp tục có những người xuất gia đi sau giữ gìn, phát huy Phật pháp. Đó là cái trách nhiệm thiêng liêng của từng người từng người chúng ta. Nếu một ngày nào đó mà không ai chịu đi tu nữa,
[1:44]ví dụ một ngày nào đó mình tưởng tượng một ngày đẹp trời nào đó không ai chịu đi tu nữa, rồi những người trước già chết hết, không ai vô chùa nữa thì Phật pháp sẽ làm sao? Dường như biến mất. Mình nói dường như thôi, vì có thể là những người cư sĩ còn giữ đạo Phật tại gia, nhưng mà rồi sẽ không có không có sinh hoạt Phật pháp mạnh mẽ được nữa, vì người tại gia thì bận bận rộn gia duyên. Cho nên nói vậy, một ngày nào mà đẹp trời mà không còn ai đi tu nữa thì rất là là u ám, ha, đẹp trời nhưng mà u ám. Hoặc là một ngày nào đó còn người xuất gia nhưng toàn là những người xuất gia bê bối, xấu xa thì đạo Phật cũng cũng tiêu luôn.
[2:25]Hơn vì vậy mà cái trách nhiệm của những người đã xuất gia rồi nhìn ra mấy chục năm sau, một vài trăm năm sau là làm sao có được cái đội ngũ xuất gia mới kế thừa mình, nên từng người chúng ta phải có cái trách nhiệm đó. Cũng giống như người thế gian nói rằng là ai cũng có bổn phận lập gia đình, sinh con đẻ cháu để duy trì nòi giống, duy trì nòi giống. Thì người đời cho rằng đó là một bổn phận thiêng liêng. Như ở đạo Khổng á thì nói rằng á: "Bất hiếu hữu tam mà vô hậu vi đại." Trong cái bất hiếu có ba điều, nhưng mà lớn nhất là cái điều mà không có con, không có con để nối dõi cái dòng dõi mình là bất hiếu đối với tổ tông, à ghê gớm như vậy.
[3:14]Nhưng mà sau này cái quan niệm đó thì bị giảm bớt, bởi vì nhân số loài người đang gia tăng quá, cho nên họ cảm thấy điều đó không nên nữa, không nên khuyến khích việc có con đông nữa. Tuy nhiên ở trong Phật pháp thì cũng vậy, là mỗi người chúng ta phải có con. Tức là phải để lại những lớp đệ tử kế thừa mà giữ gìn cái mạng mạch của cái dòng thánh này, dòng thánh. Nghĩa là người xuất gia được gọi là dòng thánh, mình nói nhưng mà đừng có tự hào, tự hào tiêu à. Tuy nhiên là định nghĩa như vậy. Giống như là khi mà ngài Angulimala đó, lúc đó ngài gặp người đàn bà đau đẻ, ngài xót xa về kể với Phật. Thì Đức Phật nói:
[3:55]"Con hãy chú nguyện rằng: 'Từ khi con sinh ra đến nay con chưa hề giết ai.' Thì nguyện cho cái cái hạnh đó, cái sự thật đó giúp cho bà vượt qua được cơn đau đẻ, bà sinh nở được dễ dàng." Thì ngài mới nói: "Bạch Thế Tôn, từ trước đến giờ bàn tay con vấy máu, con đã giết quá nhiều người." Đức Phật nói: "Không, con phải hiểu thế này: từ ngày con được sinh vào dòng thánh, sinh vào dòng thánh thì con đã không hề giết ai." Thì ngài chợt tỉnh ra, ngài đến chú nguyện và người đàn bà kia vượt qua được cơn đau đẻ, sinh được đứa con. Thì cũng vậy, tức là khi chúng ta xuất gia là chúng ta giống như sinh qua một đời sống mới,
[4:36]một kiếp sống mới, nó khác với cái đời sống cũ. Đó là đời sống của thánh. Dĩ nhiên là trên nguyên tắc, trên lý thuyết là như vậy, còn trong thực chất thì chưa phải chúng ta là thánh, mặc dù con đường của chúng ta đang đi là con đường của những vị thánh. Chúng ta xa lánh bớt những cái ô nhiễm của thế gian, chúng ta từ khước bớt những cái niềm vui của trần gian, á và chúng ta khép mình à khắc kỷ tu tập để hướng về cái sự giác ngộ, giải thoát, tức là chúng ta đang đi trên con đường của thánh, nên gọi là sinh vào dòng thánh dù chúng ta chưa chứng thánh. Nhưng đó là một cái nòi giống mới, một cái nòi giống bên cạnh những cái nòi giống của người thế gian.
[5:21]Ờ vì vậy, có được những người xuất gia mới, tức là có người để duy trì cái mạng mạch Phật pháp. Thì ở đây, chúng ta thấy là người xuất gia là cái người chủ lực á mà thay Phật giáo hóa giữa cuộc đời này, đem Phật pháp đến cho mọi chúng sinh trên cuộc đời này mà chủ yếu là những người tại gia, cư sĩ. Thì cái người mà chủ lực như vậy cần nhiều hay ít?
[5:51]Nhiều hay ít? Nhiều á là mình nói so với chính mình, chứ nếu so với người tại gia thì không thể nhiều, phải không? Vì người tại gia vẫn là chiếm số đông, thì người xuất gia chiếm phần nhỏ, nhưng là phần nhỏ quan trọng, phần nhỏ quan trọng. Phần nhỏ của những con người mà hết sức là nhiệt huyết tu tập, hết sức là thánh thiện, cao cả thì cái thành phần như vậy luôn luôn ít, luôn luôn khó kiếm. Nên người xuất gia, chúng ta phải hiểu chính là cái phẩm chất ờ định cái giá trị là điều quan trọng. Ở đây, cũng là người xuất gia, nhưng mà nếu là người xuất gia xấu thì không phải phát huy, kế thừa Phật pháp nữa mà là tàn phá Phật pháp rất nhanh, rất nhanh.
[6:36]Còn ừ mà người xuất gia tốt thì mới làm cho Phật pháp được hưng thịnh. Chỗ này chúng ta để ý là cái phẩm chất của người xuất gia mới quan trọng. Ở đây chúng ta thấy thế này, cái phẩm chất người xuất gia quan trọng mà tôi nhấn mạnh điều này là vì sao vậy? Là bởi vì hiện trạng Phật giáo là đang đang báo động, chứ không có tốt lành đâu. Hiện trạng Phật giáo chúng ta hiện nay á ở trong tình trạng báo động rất là rất là khẩn cấp. Có những điều mà chúng tôi biết nhưng mà chúng tôi không thể nói, cho nên chúng tôi không muốn đả kích nên không bao giờ phê phán ai hết, là chỉ cố gắng truyền đạt cái lý tưởng của mình lại cho người sau,
[7:19]cho quý thầy, hi vọng quý thầy đứng lên, quý thầy thay đổi lại Phật pháp. Đang đứng trên cái bờ vực cũng rất là nguy hiểm. Mà đạo Phật Việt Nam là rất tốt, phải nói so sánh với các Phật giáo trên thế giới chứ đạo Phật Việt Nam rất tốt, còn quý thầy ăn chay. Nghĩa là trong các công việc của Phật pháp, đa số là mình tự nguyện chứ mình không có không có tính tiền. Có một lần có vị thầy ở nước ngoài về, ổng ở quốc gia ờ quốc gia Đài Loan, thầy đó Đài Loan thì về thì lên núi chơi, thầy kể cho tôi nghe, cho mấy người chung quanh nghe, nghe xong mình chưng hửng luôn. Nói ở Đài Loan là cái gì cũng có cái giá của nó,
[8:01]Phật tử muốn quy y phải đóng bao nhiêu tiền mới được quy y. Ví dụ hôm đó tổ chức cái lễ cầu an Dược Sư thì quý Phật tử tập trung lại làm lễ đều phải đóng tiền, mà đứng ở vị trí nào có cái giá, càng gần thầy trụ trì chừng nào thì càng nhiều tiền chừng đó. Mà người nhiều tiền nhất mới được đứng gần thầy trụ trì để làm lễ. Mình nghe mình ơ không hiểu, không hiểu đạo Phật gì kỳ khôi quá! Chúng ta thấy nó có những cái Thế là họ lấy tiền đó họ xây dựng cơ sở khủng khiếp lắm. Mấy cái chùa Vĩnh Nghiêm của Sài Gòn mình là lớn, vừa vừa mà ở cổng Tam quan của họ, thế còn cái nội viện của họ còn khủng khiếp nữa.
[8:35]Nhưng mà tuy cất được những công trình lớn, nhưng cái sinh hoạt đạo Phật thì không còn giống như đạo Phật mà đơn sơ, không giữ tiền giữ bạc như ngày xưa nữa. Vì vậy chúng ta thấy là trong mấy ngàn năm qua đạo Phật bị biến thái rất nhiều. Và do đó, ngày nào mà trong lòng chúng ta còn có lý tưởng, còn thiết tha với vận mệnh của Phật pháp thì chúng ta phải cố gắng tu tập, đồng thời nghĩ đến việc đào tạo cái đội ngũ kế thừa là những người xuất gia sau mình, tức là những đệ tử của mình đó, trở thành những người cũng tốt và giỏi hơn mình, tốt hơn mình để xây dựng lại Phật pháp, thay đổi lại. Tránh đi cái sự biến thái của bao nhiêu năm mà đã làm lệch lạc Phật pháp.
[9:17]Chúng ta có những cái vị tôn túc, hiện nay vậy chúng ta có những vị tôn túc, những vị thượng tọa, những vị cao tăng rất là là tốt đẹp, rất là cao cả, rất là đức hạnh. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng có những vị, những phần tử xấu lẫn ở trong đạo chưa thanh lọc ra được mà rất đáng sợ. Vì vậy, ở đây cái người xuất gia mà có phẩm chất tốt là cái vận mệnh của Phật pháp nằm nơi đó đó. Nên quý thầy phải nghĩ đến sau này khi lớn lên mình làm thầy thì phải có đệ tử, đó là bổn phận, bổn phận. Và có đệ tử như thế nào thì đó là ngày hôm nay chúng ta bàn với nhau. Chính điều đó chúng ta chọn được, đào tạo được những người đệ tử xứng đáng là chúng ta
[10:07]Đã hoàn thành được một chút gì đó sứ mệnh với Phật Pháp. Chúng ta thấy vấn đề này nữa là việc xuất gia là việc hệ trọng, là việc quan trọng
[10:19]đối với cái chung và cả đối với cái riêng. Đối với cái chung á, là sự xuất hiện của một người trong đạo nó liên quan tới Phật Pháp. Sự xuất hiện của người đó là một tu sĩ nó cũng có ý nghĩa với xã hội. Còn đối với cái cái riêng của người đó là cái quyền con người của người đó nó như thế nào sau khi người đó xuất gia. Nó bàn tới cái chung là ví dụ như khi một người xuất gia thì cái ảnh hưởng người đó đối với Phật Pháp như thế nào? Có trở thành một gánh nặng cho Phật Pháp hay trở thành là một sự tăng ích cho Phật Pháp, là một sự thăng tiến cho Phật Pháp thêm? Nên nếu cái người đó là người xấu mà vào đạo đúng là một gánh nặng
[11:00]cho đạo, làm mất uy tín đạo, rồi làm cho những người khác phải ráng tu để mà chống đỡ, giữ gìn cái uy tín của Phật Pháp. Cho nên trong cái chung á thì người tốt sẽ làm ảnh hưởng tốt cho Phật Pháp, mà người xấu thì làm gánh nặng cho Phật Pháp. Đối với xã hội cũng vậy. Thường thường những người mà không hiểu đạo, người ta cho rằng những người xuất gia là những người ăn bám xã hội. Vì sao vậy? Vì những người xuất gia, gọi là không có sản xuất nên của cải vật chất mà chỉ hưởng sự cúng dường, làm tăng thêm gánh nặng cho xã hội. Nghĩ như vậy thì cũng đúng nếu đối với người xuất gia xấu là không làm được điều gì tốt cho cuộc đời mà chỉ ngồi đó để người ta cúng dường.
[11:42]Nhưng mà nếu đó là người xuất gia tốt, người này làm được nhiều điều lợi ích, đem được đạo đức lan tỏa, thì người này là một sự đóng góp lợi lạc cho xã hội. Đó là sự xuất hiện của một người trở thành một người tu sĩ, nó ảnh hưởng đối với cái chung như vậy, là tùy người đó tốt hay xấu, được đào tạo thành người tốt hay xấu, và đối với cái riêng của người đó như vậy. Thế là con người ta sống trên đời thì người ta coi như là được quyền hưởng những cái thú vui nào đó. Ví dụ người ta được quyền ăn sung mặc sướng, ăn ngon mặc đẹp, đi chơi nơi này nơi kia, có gia đình, có vợ có con, có những lạ thú của trần gian.
[12:19]Bây giờ họ trở thành người tu thì họ phải khước từ những điều đó hết. Như là mặc đồ thì quanh năm suốt tháng cái áo nhiệt bình, cái áo tràng này mặc hoài, muốn cho nó mây cắt ao xéo xéo rồi gì cũng không được. Rồi đầu thì không thể nào mà uốn chải, cắt bới môi đen gì được hết trơn. Có được có một chút tóc còn để chót vậy, rồi ít bữa mà thọ giới rồi cũng bị luộc luôn. Có trầu trọc. Để 2 3 phân chưa kịp uống gì là phải cạo tới nửa tháng cạo nữa. Nghĩa là nói chung là người đối với cái mà để được làm con người, quyền làm người là người này đã phải khước từ hết, khước từ hết để vào trong đạo. Thì vào trong đạo họ tin rằng là họ được hưởng cái mới,
[13:00]một cái cao cả hơn những cái niềm vui của thế gian. Thì đây là cái quan niệm cá nhân, cá nhân của cái người mà có đạo. Cái người mà có thiện căn tu tập á, ví dụ đối với trò vui thế gian tự nhiên họ bị dị ứng. Họ đi qua cái chỗ vũ trường mà người ta ôm nhau nhảy nhót, họ khó chịu. Họ thấy cái đó không là vui, họ nhắm mắt đi qua luôn. Quý thầy có nhắm mắt đi qua luôn không? Hay liếc liếc? Còn mà cái người mà không có thiện căn tu tập á, ở trong đạo chứ mà tâm vẫn còn bị trò vui thế gian nó kéo, mà đi qua mấy chỗ vui vẫn còn liếc liếc nhìn nhìn, sao cái gì bu hay hay vậy, vui vui, thì đó là cái thiện căn mình ít.
[13:41]Thì chỗ này là đứng trên cái quyền làm con người được hưởng hạnh phúc, thì cá nhân của người đi tu họ có bị thiệt thòi hay không? Thì chỗ này lại là ăn thua cá nhân người đó. Và đối với cái người có thiện căn, có lý tưởng tu hành thì họ không xem đó là sự thiệt thòi, mà đó là sự khước từ, cởi bỏ cái gánh nặng của thế gian để bước vào hưởng được cái niềm vui ở trong đạo, phải không? Đó là quan niệm cá nhân cá riêng. Nên cái việc mà thay đổi từ một cái người thế tục trở thành người xuất gia, đó là vấn đề hệ trọng, cái đó là vấn đề quan điểm lớn. Thì chúng ta phải cẩn thận, cẩn thận trong việc mà chọn người xuất gia.
[14:19]Nên là cái người thầy mà chọn đệ tử cũng phải chọn cho kỹ, xứng đáng. Người đệ tử mà quyết định đi tu cũng phải hết sức là chín chắn, không có được nông nổi. Tuy nhiên, như tôi thấy tôi có cái bệnh mà nhiều người cũng bị cái bệnh là thấy ai khá khá dễ thương cái nó rủ người ta đi tu. À, tôi bị cái đó. Thấy ai mong manh á, thôi đi tu đi thôi, đời làm chi vậy. Nói nhà con còn có người yêu, thôi bỏ người yêu đi con. Nói con đi học, sắp ra trường, sắp đi làm, ôi đưa cọc 4 đồng đi tu xuống. Cái là mình có cái tật vậy, thấy ai mong manh tốt tốt muốn người ta đi tu. Thành thử nó là cái méo mó nghề nghiệp gì đó.
[15:00]Sau này thì tôi bình tĩnh hơn chút, bớt rủ rồi. Tuy nhiên nó thế này nè, ví dụ như có nhiều người xin xuất gia mà tôi không cho vì một trong hai lý do. Một á, thấy người này tốt nhưng mà để người này ở ngoài đời làm việc đạo tốt thôi, thuận lợi cho đạo. Cho nên cứ khuyến khích người này thôi đừng xuất gia, cứ ở làm cư sĩ. Và trường hợp thứ hai mà mình khước từ không cho xuất gia là vì người này mình thấy cái phẩm chất chưa đủ, cái lý tưởng, cái cốt cách chưa đủ nên để cho họ làm người cư sĩ tu tập thêm cho thuần. Mà cái người mà xin xuất gia mà phẩm chất chưa đủ, mà phấn đấu tạo công đức cho tới cái ngày đủ còn lâu,
[15:40]phải người đó không phải là người xuất sắc. Cái người mà xuất gia xuất sắc, cái cốt cách họ đâu từ đầu tới là thấy vừa mắt liền, vì cái duyên họ đã gây tạo từ kiếp trước, không đợi tới đời này mới bắt đầu gây tạo cái nhân xuất gia. Cho nên cái vấn đề này gọi là lựa người là chúng ta cẩn thận. Nên chúng ta thấy là nếu mà chúng ta tạo ra một lớp người xuất gia mới kém đạo đức thì chúng ta góp phần phá hủy đạo Phật rất là lẹ. Nghĩa là không cần gì hết, cứ cho nhiều người xuất gia thiệt là bừa bãi vào đi tu, thời gian đạo Phật tiêu. Chúng ta đã bị như vậy. Có một số thế lực muốn phá hoại đạo Phật đã cho nhiều người
[16:22]xấu bước vào hàng ngũ tăng sĩ và đạo Phật lung lay luôn, lung lay hẳn luôn. Có những giai đoạn mà Đạo Phật bị thăng trầm, mà bị suy đồi, cũng là do thời gian đó người xuất gia không tốt nên Đạo Phật suy đồi liền. Nên vì vậy mà chọn cái người xuất gia tốt rất là quan trọng. Và một điều nữa là, ví dụ như tất cả chúng ta đây, người tu hay không tu rồi ai cũng phải chết. Mà cái giá trị là khi chết chúng ta để lại được cái gì cho cuộc đời? Cái người tại gia thì thôi có nhiều việc, nhưng người xuất gia thì chúng ta chỉ có vài điều đơn sơ để lại thôi. Cái người mà tệ nhất là để lại được 100 cây vàng.
[17:07]Hay là cả đời gom góp vô vào có ai không biết để lại 100 cây vàng đấu xài chết ngắc, bỏ lưu. Còn cái giá trị thực sự để lại của người xuất gia là để lại gì?
[17:20]Là một cái sự nghiệp gì về đạo đức, về tinh thần, về đạo lý. Ví dụ như là người này để lại được những cuốn sách, những bài giảng. Ví dụ như người này để lại được cái ảnh hưởng tốt là lúc sống đã làm cho nhiều người vào được đạo. Hoặc là người này để lại những công trình văn hóa gì của Phật giáo làm cho người ta nhớ đến đạo. Và có quan trọng nữa là người này để lại được một lớp người xuất gia mới rất là lý tưởng, rất là tốt đẹp. Thì đây là tài sản đích thực mà chúng ta để lại trong cuộc đời. Nên có thể là quý thầy không để lại cái gì nổi bật, nhưng sau này khi quý thầy chết, quý thầy để lại những đệ tử xuất sắc trong Phật Pháp.
[18:05]Những người này kế tục cái tâm huyết, cái lý tưởng của mình mà đem đạo đức, đem Phật Pháp đến với chúng sinh, làm hưng thịnh Phật Pháp, thì đó là những điều không có gì vui sướng bằng. Nên ở đây chúng ta thấy cái mà việc mà độ người đi tu là quan trọng. Có thầy gọi là Thượng tọa Minh Tâm ở Long Thành, hình như ông ở Tịnh thất Nguyên Phong, ông có viết một cái cuốn về vấn đề thế độ xuất gia này, ông biết nào? Ông nào có biết không? Thầy có viết cái cuốn mỏng mỏng về vấn đề thế độ xuất gia, vì thầy báo động rằng hiện nay các chùa trong đạo Phật nhận người xuất gia bừa bãi quá, nên xuất hiện nhiều cái thành phần xấu.
[18:46]Nên thầy viết cái cuốn sách đó để mà cảnh báo là cuốn đó rất là hay. Nên thầy Minh Tâm nói với tôi là tôi có duyên gì với ổng, tôi có mắc nợ gì ổng đâu kiếp trước á. Nên là hồi lúc mà tôi còn ở Thường Chiếu thì thầy ổng hay tới chơi. Mà tôi gặp ổng là tôi có bao nhiêu tiền tôi móc ra cúng hết, hãy gặp ổng móc ra bao nhiêu tiền cúng hết. Mà lúc đó thầy ổng cũng còn nghèo, mà tôi thì là trúng điệu không có tiền, vì thầy ổng than, khiến thầy ổng hư, phải cần bao nhiêu tiền mới thay. Thế là tôi đi quơ quào cúng cho ổng. Cũng kỳ lắm. Rồi sau này tôi ra khỏi Thường Chiếu, rồi có một lần đi về Sài Gòn để đi giảng, đi trên chiếc xe đò lại cũng gặp thầy.
[19:20]Hỏi thầy nhớ con không? Ổng không nhớ, ổng không nhớ cái thôi, ổng nhớ rồi, rồi gặp ổng cái đầu tiên cứ lục lục coi túi mình còn bao tiền móc cúng nữa. Không biết có cái thứ, cái thứ mắc nợ có gì đâu mà gặp ổng là cứ muốn cúng dường không? Ngộ ghê. Rồi thỉnh thoảng cái ổng thấy thương tình cái ổng cho cái cuốn a, cuốn sách ông mới viết là ổng đặt cái vấn đề này, vấn đề chế độ xuất gia là phải lựa người cho kỹ, cuốn rất là hay. Thì lúc đó là thì vừa mới viết xong á, đinh in được khoảng ngàn cuốn và đem cho, mà thời gian sau này thấy đâu biến mất, không thấy viết, không thấy in thêm. Chứ cuốn đó in thêm quý thầy đọc thì cũng hay lắm, cũng là nói về đề tài này.
[19:56]Thầy nhân tâm này có hạnh. Bây giờ chúng ta nói tới vấn đề là chọn lựa, là chúng ta sẽ chọn lựa cái người đệ tử mình theo những tiêu chuẩn nào? Dĩ nhiên là ai cũng muốn cái người đệ tử mình phải là con nhà giàu, đẹp trai, học giỏi. Nhưng ai cũng muốn là đệ tử mình là những người tốt. Nghĩa là về thể chất thì hoàn hảo, đẹp đẽ, về tinh thần thì trí tuệ minh mẫn, lý tưởng dạt dào, vân vân. Lựa được những người như vậy thì mình khỏe, dễ dạy, sau này nhờ cậy được và người đệ tử đó sẽ làm được nhiều việc cho Phật pháp. Nghĩa là ai cũng muốn trong thâm tâm mình người lớn nhận đệ tử là như vậy, nhưng mà cuộc đời nó oan trái, không bao giờ là luôn luôn được như vậy.
[20:44]Thường thường đó là do duyên của đời trước. Thầy trò gặp nhau là do duyên của nhiều đời, chứ không phải là do sự chọn lựa hoàn toàn của kiếp này. Vì nếu mà chọn lựa y như ý mình thì chắc mình không còn đệ tử nào, không có đệ tử. Hồi tôi cũng vậy. Hồi lúc mà tôi nghĩ là sau này lúc mà tôi còn mới xuất gia đó, mới thọ Tỳ-kheo, tôi nghĩ sau này mà nếu tôi chọn người xuất gia, đệ tử xuất gia, tôi khắt khe theo tiêu chuẩn thế này, tiêu chuẩn thế kia. Nhưng mà tới thực sự chuyện nó xảy ra rồi thì không phải, chuyện nó khác. Nghĩa là cái người này vì có duyên với mình mà biết người này không phải hoàn hảo,
[21:19]nhưng mà phải nhận cho xuất gia vì cái duyên người đó là phải đi tu, là phải làm đệ tử mình dù người đó chưa hoàn hảo. Thậm chí có khi cắt tóc, phủi tóc cho một người này xuất gia nhưng biết chắc người đó sau này sẽ hoàn tục nữa, biết chắc. Nhưng mà vì người này có duyên xuất gia một thời gian với mình nên cứ phải cho xuất gia, tới chừng nào hoàn tục tính sau. Không phải đệ tử nào cũng hoàn hảo như ý mình muốn, nó là cái duyên đời trước. Ở đây đó, nếu đời trước đó là những người mình nuôi dạy tử tế, kỹ lưỡng thì đời này họ trở lại là những người đệ tử xuất sắc, thì mình nhờ cậy được, nhẹ lòng, dễ chịu, mình an vui.
[21:58]Còn nếu đời trước là người thầy bê bối, ẩu tả, không có dạy dỗ tới nơi tới chốn thì đời này đó là một người đệ tử hư hỏng và mình phải khổ tâm, phải bận lòng. Cho nên cái việc mà nhận đệ tử nó liên quan tới nhân quả của nhiều đời, chứ không phải của một đời này. Giống như cha mẹ sinh con vậy, cha mẹ không có quyền lựa chọn được. Tới chừng mà muốn sinh chứ muốn đứa nào nó ra nó ra chứ không có biết lựa được. Thường thì ai cũng muốn con mình là là ngoan, là đẹp, là giỏi, nhưng mà thực tế không phải như vậy. Nên có cái câu chuyện là có một nhà văn đó rất là nổi tiếng, hễ nổi tiếng thì ông ta rất là giỏi, không phải rất là thông minh.
[22:38]Thì có cô người mẫu rất đẹp mới đến nói chuyện với ổng là cũng muốn làm vợ ổng, bởi vì cổ nghĩ rằng: "Nếu đôi ta lấy nhau, chúng ta sẽ đẻ ra đứa con sắc đẹp thì giống em và trí thông minh thì giống anh." Thì ông mới nói rằng: "À, như vậy tốt lắm nhưng mà tôi sợ đẻ ra cái sắc đẹp nó giống tôi mà trí thông minh giống cô thì hơi kẹt cho nó, tội nghiệp nó." Chắc ổng xấu. Thì ai cũng mơ ước như vậy, người đời cũng vậy, muốn đứa con như vậy, nhưng mà là nhân quả chứ không phải như ý mình muốn. Và ở trong đạo cũng vậy. Cho nên ngay trong đạo là mình được quyền lựa chọn hơn người ta, vậy mà vẫn không phải hoàn toàn.
[23:16]Có những người đến xin xuất gia mình không phải vừa ý, đúng tiêu chuẩn, nhưng mà vì là duyên thầy trò đời xưa rồi thì bên trong vẫn có sự thúc đẩy buộc phải cho xuất gia. Đây là cái nhân quả nhiều kiếp. Vì vậy ngày hôm nay chúng ta nhận đệ tử tuy cố gắng lựa chọn, nhưng nó cũng là chuyện đã rồi của những kiếp trước. Nhưng mà chỉ có rút kinh nghiệm cho những kiếp sau. Thôi bây giờ thì hễ cái duyên người nào mà mình đã phải xuất gia, mặc dù là hết sức chọn lựa, cũng phải hết ráng dạy dỗ, ráng dạy dỗ nên người. Đó là cái để cho những đời sau khi trở lại gặp thầy trò với nhau thì mình nhẹ lòng một chút, dễ dạy một chút. Nhớ.
[23:55]Có những người đệ tử mà ví dụ khi mà mình ngồi mình giảng thì không có chống cằm mà thi kéo ngủ nữa.
[24:02]Đó là cái duyên thầy trò kiếp xưa. Rồi cái sự xem xét ở kiếp này thì nó nhiều tiêu chuẩn, nhiều tiêu chuẩn thì chúng ta sẽ kể ra từ từ. Nhưng mà để ý điều này một chút nè, là nếu mà những người đệ tử của chúng ta là đa số là người xấu thì ông thầy chuẩn bị đi xuống địa ngục. Tôi không nói đùa chuyện này, tôi không nói cường điệu, tôi nói nghiêm chỉnh. Nếu mà cái người đệ tử của một ông thầy nào đó mà là những người hư hỏng, bê bối, sa đọa, làm những chuyện xấu xa cho Phật pháp thì ông thầy chắc chắn xuống địa ngục. Tôi nói nghiêm chỉnh. Vì sao vậy? Là bởi vì cái trách nhiệm của ông thầy trong đó là
[24:44]hết một phần ba cái việc làm của người đệ tử. Cha mẹ với con cái cái này nhẹ hơn. Ví dụ khi cha mẹ sinh ra con cái mà con cái làm phước á, cha mẹ được hưởng một phần năm, một phần bảy, một phần mười; con cái làm tội thì cha mẹ cũng hưởng một phần năm, một phần bảy, một phần mười. Bởi vì con cái đến với cha mẹ, cha mẹ không lựa chọn được. Nhưng mà làm thầy nhận đệ tử thì người thầy có sự lựa chọn và có bổn phận dạy dỗ, cho nên trách nhiệm người thầy đối với người đệ tử nặng hơn. Nên người đệ tử mà tạo tội thì ông thầy lãnh hết một phần ba. Tôi nói nghiêm chỉnh. Cho nên nếu người đệ tử mà phát huy được Phật pháp thì ông thầy lên cõi
[25:27]Trời ở, mà nếu người đệ tử phá đạo, ông thầy chắc chắn xuống địa ngục. Tôi nói câu đó là tôi nói thật đó, nghiêm chỉnh lần nữa. Nên vì vậy mà cái việc nhận đệ tử hết sức là quan trọng. Chúng ta rất cần nhiều người xuất gia để làm việc đạo, để mà giáo hóa cho Phật tử, nhưng mà chúng ta phải cố gắng lựa chọn người đệ tử thật tốt. Vì cái họa hay phúc của chúng ta, cái nhân quả của chúng ta gắn liền với cái hành vi của người đệ tử. Quý thầy nhớ sau này lớn lên cái câu này là phải nằm lòng. Khi một người đến xin làm đệ tử mình thì mình phải nhớ lại cái trách nhiệm của mình đối với người đệ tử này. Về nguyên tắc á thì có một tiêu chuẩn.
[26:14]Đầu tiên là chúng ta phải biết rõ cái thân thế của người đến xin tu, tức là lý lịch đó, biết thân thế. Vì cái người đến xin tu á có khi là cái người đó nghe tiếng chúng ta từ xa họ tới, họ khai: "À, con cha như thế, mẹ như thế, học hành như thế", nhưng mà nhớ là không bao giờ tin liền. Chúng ta trong chùa chúng ta còn có cái này bị thiếu cái này: nguyên tắc an ninh. Trong đạo Phật có nhiều cái môn học cần thiết nhưng mà không được nêu ra. À, kỳ tới á cái bài mà quan điểm Phật sự kỳ tới là cái bài kế hoạch chương trình. Là bài đó chúng ta sẽ nêu ra cái cách mà trước khi làm một việc gì chúng ta
[26:55]phải vạch kế hoạch ra thế nào để mà làm cho không có bị lúng túng, không có bị động, chứ không có làm theo cảm tính đụng tới đâu chuyển tới đó, không có được là tùy duyên tới đâu làm tới đó không được, cái đó là ẩu. Tùy duyên là để nói chuyện đạo, là để nói chuyện những cái khổ đau, thăng trầm trong cuộc sống. Nhưng khi làm việc đạo, làm Phật sự, việc gì cũng phải có kế hoạch. Thì kỳ tới chúng ta sẽ học một bài về vấn đề vạch kế hoạch chương trình, nhưng học một bài là không có đủ. Ở cái đó môn đó ngoài đời đó người ta học cả năm trời. Khi lên chương trình, vạch kế hoạch cho một cái công việc lớn hay việc
[27:30]nhỏ người ta phải học rất kỹ, nhưng trong đạo mình không được học thì kỳ tới chúng ta chỉ được học có một tiếng rưỡi đồng hồ, thì quý thầy phải suy luận thêm trong suốt cuộc đời làm việc của mình. Đó là một cái Phật sự. Một cái nữa là cái nguyên tắc an ninh cho chùa thì chùa chúng ta cũng bị bỏ trống. Thì sau này có duyên chúng ta sẽ đề cập cái nguyên tắc an ninh cho chùa trong quan điểm Phật sự một bài nào đó. Nhưng hôm nay chúng ta nhắc một chút xíu vì liên quan tới việc chọn người đi tu. Nghĩa là khi cái người đi tu á thì chúng ta phải biết về thân thế người đó. Thì nó có trường hợp á có người đến xin tu nhìn vô cái là biết cái người này nói dối.
[28:08]Nhìn vô thấy không thật, phải đi kiểm tra lại, xác định đúng người này nói không có sự thật, từ chối liền. Cho nên có khi họ nói như vậy, mình phải bí mật cho người chạy về tới quê của họ hỏi làng, hỏi xóm, nói hỏi cái người đó tên là Nguyễn Văn Sinh gì đó, pháp danh là An Ngôn rồi là có phải là sự thật là ở đây cha mẹ đây không, người ta nói: "À, cái thằng Ba Nén này hả, biết rồi thằng này ở đây tốt lắm không sao, thấy nó ăn chay đi chùa hoài, được." Thì đó thôi về cho đi tu, ví dụ vậy. Nên nghĩa là mà ở ngoài đời có cái câu nè, có câu là có câu ca dao đó là khi hai người thương nhau đó người ta nói là:
[28:47]"Trăm năm tính cuộc vuông tròn, phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông." Nghĩa là phải biết rõ thân thế về nhau, chứ không được cái dân xà bát xà bát đâu tới là nghĩa là: "Anh thương em quá", cái lật đật ừ là chết, bị dụ chết. Nhưng ngoài đời người ta có việc, ở trong đạo cũng vậy, người mà tới xin tu mình phải biết rõ về người đó. Nên có những người mà ở gần, tới lui mình biết, à biết gia đình nào giờ biết rồi. Nhưng có những người ở xa phải biết, và trường hợp cái người nói dối, hầu hết hoặc nói dối một phần nhỏ hoặc là nói thật hoàn toàn thì ông thầy phải kiểm tra cho ra. Có khi họ không nói thật hoàn toàn.
[29:21]Thì có những người đệ tử vì lên xin tu, nói vài câu nhưng tôi biết không nói thật hoàn toàn, dù người này có căn tu. Và chính vì không nói thật hoàn toàn, tôi giam thời gian xuất gia lại, để đó chưa cho xuất gia liền, dù biết người này có duyên xuất gia, để đó. Thì ở đây cái nguyên tắc an ninh là mình phải kiểm tra. Trừ những người mà họ có thần thông thì họ biết trong gan, trong ruột, trong tủy, trong óc, trong từng kiếp mình thì thôi, nhưng mà hầu hết chúng ta không có thần thông. Vì vậy chúng ta phải có nguyên tắc thực tế để kiểm tra cái thân thế của người đến xin tu là như thế nào: là trước đây họ đã học hành ra sao, đã tạo nghiệp gì,
[29:56]có vợ con chưa, chưa có vợ con có bồ bịch chưa, vân vân, đủ thứ hết, rồi có làm mang tai mang tiếng gì hay không, đối xử mọi người có tốt chưa, những vấn đề tổng quát vậy phải nắm. Vì có nhiều người đó lúc còn cư sĩ họ tốt như thiên thần, xuất gia một thời gian rồi như quỷ sứ. Kỳ lạ như vậy, cho nên có sự thật như vậy. Và làm sao mà chúng ta nhìn người để mà biết được tốt xấu? Làm sao? Có ai biết không? Ở đây có ai biết không? Cho nên vì vậy, chúng ta cũng còn phải học thêm môn này nữa.
[30:31]Là môn xem tướng. Tôi không nói đùa đâu. Vì hồi xưa đó, hồi trước kia đó, mấy vị tôn túc mình hay mở những cái khóa đào tạo trụ trì. Trong cái khóa đào tạo trụ trì đó là các vị Hòa thượng lớn đều dạy cho tăng sinh cái môn coi tướng hết. Có ai biết coi bói bài không? Có không? Ai biết coi tử vi không? Không hả? Ủa. Tính nhờ mà không ai coi hết trơn à. Thì thôi bây giờ quý thầy không biết thì thôi thầy có cách khác để biết, đó là quý thầy ráng tu. Khi mà tâm quý thầy thanh tịnh rồi cái trực giác nó phát ra, trí tuệ nó phát ra, mình nhìn con người tự nhiên mình biết dù không học. Nó lạ lắm nha. Giống như cái người mà mù chữ á, ví dụ những cái chữ này,
[31:15]à những cái chữ này là chữ xem tướng á, mình có học rồi mình nhìn biết. Nhưng nếu cái người mà mù chữ họ nhìn họ không biết chữ này chữ gì. Thì cũng như vậy, trên khuôn mặt con người ta là những cái chữ. Nhưng mà mình đang mù chữ, nhìn vào gương mặt á mình không biết đó là cái gì. Nhưng với cái người họ có trí tuệ họ nhìn vào đó, họ đọc ra hết từng chữ như vậy đó. À ví dụ như cái lông mày đó họ đọc ra chữ xảo. Ví dụ như cái miệng đó họ nhìn vô họ đọc họ thấy chữ tham ăn. Rồi ví dụ như cái tai đó họ nhìn vô họ thấy cái tai này hay hay nghe lén, ví dụ vậy. Đó là nó có chữ đọc ra hết trơn á. Nhưng mà trước khi mình chưa có trí tuệ thì nhìn thấy mặt ai cũng giống như mặt
[31:52]ai à, chỉ biết thấy người ta nhìn thấy đẹp thấy xấu chứ không biết gì hơn. Nhưng mà đến khi tu mà có trí tuệ rồi á, nhìn vô tự nhiên mình đọc ra, đọc ra. Mà nhất là đôi mắt á. Đôi mắt con người ta chứa đựng hết toàn bộ cuộc đời của họ trong cái ánh mắt của họ. Mà rất là khó coi, cái người nào phải có trực giác cho cao thì mới nhìn đôi mắt thấy được, thấy hết tâm hồn của người đó, cuộc đời của người đó, sự nghiệp của người đó, nhìn trong đôi mắt thấy hết. Cái ánh mắt á, thấy hết. Cho nên, đó cũng là cái mà trợ duyên phần nào cho cái việc mà chúng ta lựa thêm người đệ tử. Còn cảm thấy mà từ đây cho tới cái ngày mà phát trí tuệ nó
[32:30]xa quá, thì thôi quý thầy chịu khó coi kiếm cuốn sách tướng về coi, hỏi thầy Đức Hoà, nhờ thầy dạy cho một khóa. Rồi một nguyên tắc nữa để chúng ta chọn lựa nữa là phải cho cái người đó tới lui chùa nhiều lần trước khi cho họ ở lại công quả lâu dài. Là thường thường cái người ví dụ khăn gói tới chùa xin cho con ở lại công quả, mình từ chối, nói không có được, chỉ cho làm khách vài ngày thôi rồi đi về. Mốt trở lên lại thử coi họ có kiên nhẫn lâu dài hay không. Chớ một lần từ chối họ xách gói đi qua chùa khác luôn thì thôi cho họ đi luôn, không cần. Rồi khi họ tới lui nhiều lần như vậy bắt đầu mình mới cho họ công quả, ở lại công quả.
[33:12]Mà biết rõ về thân thế họ rồi, ở lại công quả để xem coi trong thời gian công quả này cái tánh hạnh của họ có tốt hay không. Rồi nếu mà tánh hạnh tốt thì mới cho xuất gia. Tuy nhiên, đây là một cái tâm lý chúng ta phải biết thêm: Là cái người mà đang trong giai đoạn phấn đấu để được xuất gia đó thì họ rất là ngoan. Rất là ngoan. Rồi khi mà xuất gia xong thì họ sẽ hơi giảm mức phấn đấu bớt một chút, họ bớt ngoan một chút. Rồi bắt đầu họ khi mà sắp tới cái giới đàn á họ lại phấn đấu trở lại để được thầy cho đi thọ giới. Thọ giới xong rồi cái xìu xuống bớt một chút. Ít bữa tới giới đàn Tỳ-kheo lại phấn đấu lên một lát nữa.
[33:49]Khi mà thọ Tỳ-kheo xong rồi là khỏe, rồi là hết. Lúc đó bắt đầu buông lung được rồi. Đó. Thử quý thầy nhớ lại mình coi có giống vậy không? Có không? Đây là cái tâm lý chung, vì vậy vì vậy như thế này chúng ta nhớ, khi mà thời gian mà một người công quả phấn đấu để được xuất gia đó, thì họ ngoan gì ngoan mình chỉ luôn luôn đánh giá phân nửa cái ngoan đó thôi. Nhớ giùm, quý thầy nhớ. Tức là họ thấy ngoan thiệt, dễ thương gì đâu á. Tối ngày thấy công quả xách nước, bửa củi, nấu cơm, sai đâu làm đó, sai gì, nói gì cũng "dạ". Thì xin thưa, cắt ngang phân nửa giùm, chấm phân nửa điểm thôi. Trừ hao, bởi vì đó là tâm lý.
[34:30]Còn cái người ví dụ như là mà cái lúc công quả là phấn đấu ngoan, tới chừng xuất gia ngoan hơn, thọ giới rồi ngoan hơn mà tới thành Tỳ-kheo rồi như ông thánh, thì những người đó là long tượng của Phật pháp, là những bậc thánh tái lai á. Là những người càng tu đạo lực càng tiến thì cái phẩm hạnh càng tuyệt vời. Thì đó là những người mà thực sự là những bậc thánh tái lai. Ở đây có ai có lại chưa? Là càng tu thì càng nghiêm túc, càng hoàn hảo, có không? Thì chắc cũng có phải không. Tuy nhiên là giữa hai cái hạng người về để chúng ta phán đoán cái vực như vậy, là cái người tốt á thì từ công quả cho tới
[35:12]cái ngày thọ Tỳ-kheo thì càng ngày càng tốt. Ngược lại cũng có một hạng người lúc công quả phấn đấu rất ngoan, tới khi thọ Tỳ-kheo xong rồi tàng tàng chơi. Thì giữa hai hạng người thì chúng ta phải đánh giá cái người đệ tử của mình đang chọn sẽ thuộc hạng người nào, hoặc là sẽ thuộc cái hạng người càng ngày càng tốt, hoặc sẽ thuộc cái hạng người càng ngày càng dở, hoặc thuộc cái hạng người lơ lơ lửng lửng ở giữa, không đến nỗi tệ lắm nhưng mà cũng không thể là xuất sắc được. Chúng ta biết đánh giá như vậy. Nên ở đây, nói đệ tử mình thì mình cũng phải nhìn lại mình. Bây giờ mình chưa có đệ tử, mình cũng đang làm đệ tử,
[35:50]làm học trò, thì mình phải cố gắng mỗi ngày trôi qua cái đạo hạnh của mình mỗi lúc mỗi tiến, phải mỗi lúc một hoàn chỉnh, cái lý tưởng thiết tha hơn, đạo hạnh sắc bén, trí tuệ sâu sắc hơn. Để sau này mình mới dạy đệ tử mình được, mình có cái kinh nghiệm mình biết cái người nào là cứ mỗi ngày tu phẩm hạnh tốt hơn, nhìn vô mình biết được. Đó là cái kinh nghiệm. Nhưng mà thường thường theo tâm lý chung thì cái người mà phấn đấu tốt lúc công quả là mình chỉ nên chấm phân nửa điểm, chấm phân nửa. Khi mà được nghe huynh đệ kể lại, những người đệ tử kia: "Sao con, con thấy cái chú mới vô công quả sao?"
[36:27]- "Nói tuyệt vời, thưa thầy!" Là mấy điểm? Mười điểm thì mình chỉ chấm năm điểm thôi là vừa, là vừa. Nhớ, quý thầy nhớ, đây là kinh nghiệm đau khổ của tôi. Có một số cái chi tiết này nữa chúng ta để ý, một cái số tiêu chuẩn này nữa là: Nếu đã hoàn thành phổ thông trung học thì tốt, tức là bằng tú tài đó. Thì đây là tiêu chuẩn mà nhà nước đưa ra, người ta bắt buộc là một người thọ Tỳ-kheo phải có tú tài. Đây là tiêu chuẩn rất là chuẩn xác. Vì cái người mà đã quen làm toán, làm văn giỏi rồi vào học đạo họ nhận thức nhanh lắm. Vì sao vậy? Vì trong khi mà làm bài toán á không cho phép mình sơ hở một cái dấu
[37:07]phết nhỏ, 1/4, 1/10 không được trật, chính xác từng chi tiết nhỏ. Thì đến khi mình vào đạo cũng vậy. Mình vào đạo khi mình học giáo lý á, có một đoạn nào giáo lý bị hở mình khám phá liền, không chấp nhận, phải cho chặt chẽ để mình học và khi mình dạy nó cũng chặt chẽ như vậy. Như sáng nay tôi nhận một cái tài liệu, tôi nhận một tài liệu nói về Mật tông, thì cái người này đầu cái bức thư đầu tài liệu nói rằng là giáo pháp có hai loại là là giáo pháp là hiển và giáo pháp mật, tức là người này muốn nói về Mật tông. Tôi thấy ngay câu đầu này là không căn cứ liền. Hỏi giáo pháp có hai cái hiển và mật,
[37:48]cái câu này ai nói, xuất phát từ kinh nào, thời gian nào có mặt?
[37:55]Ngay câu đầu là chặn lại liền, kiểm tra liền. Vì đâu? Đây là tinh thần khoa học, tinh thần toán học, không có được nói đại, phán một câu nói đại. Ví dụ như có người đó đến nói chứ là: "Mọi chuyện trên thế gian này do hai vị trời sinh ra, một ông trời và một bà trời." Dừng lại liền, khoan, câu này ai nói từ đâu ra, lý do nào tuyên bố câu đó, bằng chứng như thế nào, chặn lại liền, không có tin. Nhưng mà đa phần chúng ta á, ngay câu tuyên bố ban đầu mình tin liền, từ đó họ dẫn mình đi trật luôn. Và ngay cả cái câu ví dụ nói: "Tự mỗi người trong tâm chúng ta có Phật tánh", câu này ở đâu ra, chứng minh như thế nào, hay chỉ là niềm tin từ ban đầu,
[38:35]một tiền đề rồi chúng ta cứ chấp nhận mà đi tới luôn. Chúng ta thấy trong đạo cũng vậy mà cả đạo Phật cũng vậy, có rất nhiều cái tiền đề áp đặt, chúng ta phải chấp nhận tin luôn, chứ không có chứng minh trước đó nha, rất nhiều như vậy. Trong khoa học điều đó không chấp nhận được. Ngay câu nói tiền đề ban đầu để lập nên một cái thuyết là phải được chứng minh cho kỹ. Trừ một tiền đề không thể chứng minh được trong toán học là tiền đề nào? Tiền định đề Euclid. Nhớ không? Định đề Euclid là không chứng minh được phải chấp nhận. Biết nó đúng mà chứng minh không được. Chỉ có nhiêu đó thôi, còn tất cả mọi lý thuyết khác của khoa học
[39:15]là ngay khi phán một câu đầu là phải được chứng minh rất kỹ. Cái định đề Euclid nhớ không, quý thầy nhớ không? Từ một điểm ở ngoài đường thẳng và trên cùng một mặt phẳng chúng ta chỉ vẽ được một đường thẳng song song với nó và chỉ một mà thôi. Đây là định đề Euclid toán học. Từ đây làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống toán học của khoa học hết luôn. Từ định đề đơn giản chỉ chấp nhận không chứng minh được. Còn tất cả mọi khác đều phải buộc phải chứng minh, kiểm chứng, thí nghiệm hết. Nên chúng ta mang cái tinh thần khoa học đó vào học đạo, người này sẽ sắc bén vô cùng. Và khi bước ra giảng, cái bài giảng nó logic chặt chẽ,
[39:55]đi từng bước không có điểm hở, người ta không bắt bẻ được và người ta phải công nhận đạo Phật là hay. Người trí thức mới chấp nhận đạo Phật. Còn mình buông cứ phán đại bắt người ta phải chấp nhận, phán đại bắt người ta phải tin là coi chừng bởi vì người này không giỏi toán. Cứ phán đại bắt người ta phải nhận không được. Còn ở đây mình thuyết phục có toán học, có logic, lý luận chặt chẽ là mọi người phải chấp nhận, không cản nổi. Cho nên cái người mà tốt nghiệp phổ thông trung học mà nhất là giỏi toán, giỏi văn thì rất có lợi cho việc học đạo, rất có lợi. Ở đây quý thầy như cũng đang hoàn chỉnh phải không?
[40:30]Người nào mà chưa có cũng đang bổ túc văn hóa cho xong phải không? Đó, quý thầy cũng được những cái may mắn, được quý thầy ở đây thương yêu, quý thầy trong ban chức sự đây thương yêu mà lo lắng cho quý thầy đào tạo nên người, đó là cái ơn lớn á. Rồi một tiêu chuẩn để chúng ta chọn nữa là người này có cái nghề nghiệp chuyên môn nào đó có sẵn. Vì nếu người này có cái nghề chuyên môn khi vào đạo họ cũng có cơ hội để công quả làm cho họ tăng được cái công đức. Ví dụ họ có cái nghề lái xe, ví dụ có cái nghề làm thợ sắt, xây hồ, đục đá, làm thợ mộc hoặc là đánh vi tính vân vân. Thì những điều đó cũng là thêm được một tiêu
[41:08]chuẩn ở trong mình xét mà cho xuất gia. Vì người này có cơ hội để đóng góp cho đạo. Là trong nhiều cái tiêu chuẩn vậy, đó là. Rồi cái điều chúng ta phải đánh giá nhất là cái điều này. Tức là cái tâm mến đạo, cái đạo tâm có mạnh hay không. Cái người đạo tâm mạnh á tự nhiên họ mến đạo và quyết định đi tu kỳ lạ, không hiểu lý do, cản cũng không được. Như họ sinh ra đời là để đi tu, định mệnh mở ra trước mắt không đi đường khác được, không thể nào chọn nghề thế gian, không thể nào lập gia đình được. Đó là một định mệnh. Thì cái người đó họ mến đạo kỳ lạ lắm, thì cái người đó là chắc ăn. Hễ gặp cái người đó là đa phần là có khi họ có một
[41:45]vài sơ suất mình vẫn cố gắng đào tạo luôn. Cái người mà mến đạo thiết tha như vậy là thường là có thiện căn. Hầu hết quý thầy đây là thuộc loại như vậy, phải không? Đúng không? Hay có ai bị bắt bỏ chùa không? Nên mình có ý thức mà mến đạo, tha thiết đi tu, không đi chọn con đường nào nữa, mặc dù mình có cơ hội, là người có tâm đạo thiết tha lắm. Trừ trường hợp cái người nhỏ quá bị bắt bỏ chùa, lớn lên thấy mình là chú tiểu rồi đành chịu thì thôi, thì tôi không có ý kiến. Thế còn mà tự mình quyết tâm đi là đó là cái tâm mến đạo tha thiết. Đó là một tiêu chuẩn để xét. Rồi kế bên đó là cái mức độ hiểu biết giáo lý sẵn có.
[42:24]Trước khi tới chùa họ đã đọc sách gì? Họ nghe bài giảng gì? Họ đã hiểu mức độ nào? Đó cũng là một yếu tố để mình xét. Nên người này trước khi đến với đạo họ đã nghiên cứu đạo Phật chín chắn rồi, thì đây là một tiêu chuẩn rất là tốt để cho chúng ta xét thêm nữa. Là nếu mà họ đã học được nhiều thì như vậy người này chín chắn, hiểu được giáo lý. Mà nếu người này đã có ngồi thiền, niệm Phật đồ công phu vững vàng nữa thì thật là thêm một cái cái ưu điểm tốt đẹp nữa, rất là tốt. Rồi một cái tiêu chuẩn để chúng ta xét nữa là người này có ý chí chịu đựng gian khổ lâu dài hay không? Vì vào trong đạo chúng ta thấy việc tu hành
[43:00]có nhiều cái gút mắt, chông gai chứ không phải là suôn sẻ. Thì người này có đủ ý chí để vượt qua không, hay là chán nản rồi gặp những cái nghịch cảnh rồi bỏ về? Có hai cái thử thách đối với người tu: một là cám dỗ, hai là gian khổ. Có người đó nghĩa là cám dỗ vượt qua được không bị sa ngã nhưng gặp gian khổ chịu không nổi, thua. Thì có người gian khổ vượt qua nổi nhưng mà gặp cám dỗ thì rớt. Nó có những trường hợp như vậy. Thì ở đây cái người tu mình phải đủ sức vượt qua cả hai, cả cám dỗ cũng vượt qua mà gian khổ cũng vượt qua. Thì chúng ta phải coi coi cái người mà sắp xuất gia đó họ có cái dấu hiệu đủ sức mạnh không?
[43:40]Thì hiện tại họ mới, đạo lực chưa đủ thì nó chưa đủ để mạnh nhưng mà cái dấu hiệu của họ là những cái trò vui nhỏ nhỏ họ vượt qua dễ dàng, những cái gian khổ nhỏ nhỏ họ vượt qua dễ dàng. Thì sau này đi tu một thời gian, mình đào tạo một thời gian thì những cái lớn hơn họ có thể vượt qua được. Là như vậy. Thì chúng ta thấy hiện bây giờ cái kỹ thuật về nghe và nhìn nó rất là tiến bộ. Chúng ta đi đâu cũng có thể dễ thấy phim ảnh và thậm chí đôi khi chúng ta phải xem một vài cuốn phim để tham khảo cái tư tưởng như thế nào, người ta trên thế giới này họ hiểu về triết học, đạo học như thế nào. Mà những bộ phim họ dựng đôi khi nó liên quan một chút
[44:18]đến những cái cảnh mà gọi là ướt át, nóng bỏng. Ví dụ bộ phim Vị Tiểu Phật, Little Buddha, ha, do một cái đạo diễn người Ý ông dựng bộ phim này hay lắm. Là nhân cái việc mà những người Tây Tạng á họ tìm ra được hậu thân của một vị Lạt-ma. Người Tây Tạng mất ở Los Angeles, sau đó đầu thai qua Tây Ban Nha, thì họ tìm và đem vị đó về để đào tạo tiếp. Nhân sự kiện có thật đó thì họ dựng lên bộ phim là Vị Tiểu Phật, là các vị Lạt-ma đi tìm lại cái hậu thân của cái người Lạt-ma bạn mình lúc trước ở Los Angeles. Thì bộ phim đó nói về đạo Phật, nói về cuộc đời Đức Phật, phải nói bộ phim rất là hay. Nhưng vẫn lọt vào cái cảnh là cha mẹ của cái vị
[45:00]hậu thân đó đó có những giây phút ướt át. Thì khi mà chúng ta mà xem cái bộ phim đó để nghiên cứu luôn luôn chúng ta bị chứng kiến những cảnh đó, phim của Tây phương thì luôn luôn nó có. Và chỗ này là cái đạo lực của mình phải vượt qua những điều đó. Phải nhìn những cái cảnh bình thản, không động, không ham, không muốn. Đó là vì? Đó là cái cám dỗ thử thách. Đó còn cái trường hợp mà gian khổ là mình sống ở trong đạo bị nói xấu, bị vu khống, bị đì, bị đày đọa, làm những việc cực khổ vẫn vượt qua được vân vân. Đó là vượt qua gian khổ. Thậm chí thí dụ có người Phật tử ưu ái mời gọi nhưng mình biết cái mời gọi của họ đằng sau đó nó là còn nhiều cái
[45:39]cám dỗ nữa, mình biết khước từ, vượt qua vân vân. Thì đó là những cái bản lĩnh, cái đạo lực sẽ vượt qua cả cái cám dỗ và cả cái gian khổ lâu dài tới suốt cuộc đời tu hành của mình. Thì mình phải đánh giá cái người đệ tử mình có cái chất chất vượt được cả hai điều đó. Để ý như vậy. Rồi một cái tiêu chuẩn nữa Rồi một cái tiêu chuẩn nữa để chúng ta xét nữa là cái tâm nhu thuận, biết vâng lời, không có bướng bỉnh, không cãi, không có làm theo ý mình. Là trong giai đoạn mà gọi là công quả đó, hễ thấy quý thầy trong chùa, những người đi trước sai cái gì ngoan ngoãn làm việc đó, dạy điều gì đón nhận, nghe điều đó.
[46:15]Tức là người này có tâm nhu thuận, cái ngã rất là nhẹ. Và có nhu thuận, có cái ngã nhẹ thì dễ tiến đạo lắm. Còn người nào mà cố chấp cái ý mình, à suy nghĩ phải thế này mới đúng, phải thế kia mới đúng thì phải đề phòng người đó. Nếu mà cho người đó xuất gia thì phải triệt cái tâm đó đi, phải làm cho người đó đừng chấp cái ý của mình nữa, không được nghĩ điều gì. Suy nghĩ là đứng liền, phải biết lắng nghe mọi người, đón nhận người khác. Còn cái người mà luôn luôn cho mình là đúng thì rất là nguy hiểm, khó tiến đạo mà khó thấy lỗi của mình nữa. Mà cái người tu cái gốc nằm ở chỗ là có nhận ra được lỗi mình hay không thôi.
[46:53]Cái chỗ đó quan trọng. Nhận ra được lỗi hay không. Tu tiến hay không là chỗ đó. Không thấy được lỗi mình thì không thể tiến được. Ở đây là tiêu chuẩn để chúng ta xét. Ở đây là những tiêu chuẩn mà chúng ta xét lại nè: thứ nhất là duyên từ kiếp xưa; thứ hai là những cái tiêu chuẩn ở kiếp này chúng ta phải xét, thì trong đó có cái là biết rõ thân thế nè, cái sự phấn đấu trong thời gian công quả nè, cái việc mà văn hóa, trình độ văn hóa nè tốt nghiệp phổ thông nè, cái nghề chuyên môn nè, tâm mến đạo nè, mức độ hiểu biết giáo lý nè, mức độ tu tập sẵn có nè, ý chí chịu đựng gian khổ nè, tâm nhu thuận.
[47:31]Đó là những tiêu chuẩn tổng quát mà chúng ta phải xét về cái người đệ tử trước khi nhận họ cho vào đạo. Thì dĩ nhiên là được mặt này mất mặt kia, nhưng mình nhắm dạy được á cho họ hoàn chỉnh thì hãy nhận, còn mà nhắm dạy không nổi đừng nhận. Một số tiêu chuẩn như thế. Vì có nhiều người đến xin tu, nhưng mà sự thật là người trốn trại. Trốn trại mà lại. Rồi có nhiều người đến xin chùa tu vậy, thì chú đệ tử nói thôi để tôi mời công an lên nói chuyện với anh chút, là lật đật trốn chùa bỏ đi liền. Thì biết người này là họ trốn trại ở đâu, trốn lệnh truy nã ở đâu, giả vờ lên chùa xin tu. Đây là điều quý thầy phải hết sức là cẩn thận, kỹ lưỡng.
[48:12]Có lần, cái này cũng nhờ mà người công an coi tướng họ đỡ. Lúc đó người đệ tử của tôi á, có một nhật á, đi công việc cho chùa. Đang đi trên đường vậy tự nhiên có chiếc xe của người công an kè vô trong lề. Họ nói mời thầy vào. Thì khi kè vào Ủy ban xã nói chuyện rồi cái nói sư thầy cho coi chứng minh nhân dân. Coi xong hỏi là thầy ở đây hồi nào, xuất gia bao lâu, hộ khẩu nằm đâu. Thì ông nhìn nhìn lát, thầy vén cái bụng lên cho coi. Vén bụng lên, nói quay lưng. Ông này không có sẹo. Thì mới nói là xin lỗi thầy. Bởi vì có tin là một tên cướp lọt vào cái vùng Đại Tòng Lâm này đã giả dạng làm thầy tu, gương mặt rất giống thầy.
[48:48]Móc cái hình ra cho coi y chang, hai người y chang nhau. Nhưng có điều là người công an họ nhìn cái người tu thật, cái nét nó hiền lành họ thấy đúng. Nên họ đối xử rất đàng hoàng, tuy họ đang nghi để họ xét nhưng mà họ nói chuyện lịch sự. Vì họ nhìn vào cái mặt mình họ biết là người tu thiệt. Nhưng mà nguyên tắc nghề nghiệp vì giống quá họ phải xét, chứ nhìn mặt coi tướng là biết cái người hiền lành. Bây giờ chúng ta nói qua một đề tài đó là tình thầy trò. Theo luật của đạo Phật á, thì một người xuất gia là phải xem nhẹ hẳn cái mối quan hệ với gia đình mình từ trước. Là cố gắng xem cha mẹ, anh chị em mình như là mọi
[49:25]chúng sinh bình đẳng khác, không có phân biệt. Đó là nguyên tắc. Tức là từ khi mà mình phủi tóc, hướng về phía Bắc lạy cha mẹ mình ba lạy rồi là chấm dứt luôn, coi như mình đã trả hiếu rồi. Từ đây mọi việc còn lại là dành cho Phật pháp hết, nguyên tắc là như vậy. Nên chúng ta mà thấy người tu rồi mà thiên vị với gia đình mình quá, điều đó nó không nên. Tuy nhiên, đừng hờ hững quá, vì chúng ta phải khéo gieo duyên có sẵn để độ người gia đình mình biết đạo, nhưng đừng có ràng buộc quá. Nguyên tắc như vậy. Thì làm sao? Thì cái cuộc đời còn lại, tất cả những tình cảm thiêng liêng nhất của mình là mình dồn hết cho vị thầy của mình.
[50:04]Đó là nguyên tắc người tu đến với đạo như vậy. Vì người thầy của mình chính là người cha, người mẹ của mình sinh ra mình lần thứ hai, sinh mình vào cái dòng Thánh, vào cái nòi giống của Thánh. Cha mẹ mình cho mình cái hình hài này ở trong cái cuộc đời thế tục, nhưng vị thầy Bổn sư của mình cho mình đi vào cái cuộc đời mới, cuộc đời của những vị Thánh. Vì vậy là khi mà đã cắt ái từ sở thân rồi, thì bao nhiêu cái tình cảm thiêng liêng nhất trong cuộc đời mình phải dồn hết cho vị Bổn sư của mình. Cái việc mà cắt ái từ thân á, thì chúng ta nhớ khi xuất gia phủi tóc đọc cái câu kệ gì? "Hủy hình thủ chí tiết, cát ái từ sở thân,
[50:46]xuất gia hoằng thánh đạo, thệ độ nhất thiết nhân". Tôi có dịch cái lại bài bằng tiếng Việt Nam để làm lễ là: "Từ đây xin bỏ hình hài, cắt dây tham ái, lìa người quyến thân. Chuyện đời xem tựa phù vân, dốc lòng tu tập tinh cần, chuyên sâu. Mai kia thành tựu đạo mầu, chúng sinh vô lượng nguyện cầu độ xong". Thì cái ý là như vậy, là từ đây chúng ta cắt cái duyên cũ, nhưng mà cuộc đời còn lại là đi theo vị thầy của mình, lòng hiếu nghĩa hết mức dành cho vị thầy của mình hết. Đó là bổn phận. Nhưng cái lòng hiếu nghĩa của chúng ta đối với vị thầy đó, nó sẽ không trở nên vô nghĩa, nó thực sự nó có ý nghĩa chỉ khi mình gặp được vị thầy rất là chân chính.
[51:37]Tức là vị thầy đó phải thương yêu đệ tử bằng tất cả tâm hồn, cả cuộc đời, cả tình cảm và lý trí. Phải có vị thầy như vậy. Phải là một vị thầy như vậy, thương yêu người đệ tử mình bằng tất cả tình cảm và lý trí, thì như vậy cái lòng hiếu của người đệ tử đối với thầy mình thật là có ý nghĩa thiêng liêng. Tôi nói: "Thương yêu đệ tử mình bằng tất cả tình cảm và lý trí" nghĩa là gì?
[52:08]Nghĩa là thế này: Lý trí là nó thuộc về lý luận, thuộc về suy nghĩ, thuộc về tư tưởng, là vị thầy phải nhìn cái người đệ tử mình mà phải nghĩ như thế này. Nghĩ thế này: Nghĩ là cái người này đã từ bỏ gia đình của họ, đã từ bỏ cha mẹ, anh chị em ruột thịt, bỏ đi những tình cảm thiêng liêng tự nhiên của con người để đến đây, về đây với mình, đem cả cuộc đời đi theo mình, mình phải thương yêu người này. Cái người này họ đã khước từ những cái lạc thú của trần gian, những niềm vui của thế tục, vì tin mình nên họ đã bỏ hết những niềm vui đó về đây để đi theo con đường của mình, nên mình phải thương yêu người này.
[52:53]Cái người này họ đã hết sức là tin tưởng và kính trọng mình, đã đặt cái cuộc đời của họ vào trong tay mình, vì vậy mình phải thương yêu cái người đệ tử này với tất cả cái trách nhiệm và bổn phận của mình, để làm sao cho người này mai kia thành tựu được người tu sĩ tốt, có lợi ích cho Phật pháp và chúng sinh. Nghĩa là người thầy phải suy nghĩ như vậy để mà thương người đệ tử mình, đó gọi là thương đệ tử bằng lý trí. Còn thương người đệ tử bằng tình cảm là sao? Thì hễ nói tới tình cảm thì nó không có lý luận, nó là một tình cảm tự nhiên của trái tim. Nhiều khi một vị thầy nhìn thấy người đệ tử mình đi,
[53:35]nhìn thấy người đệ tử mình tụng kinh, nhìn thấy đệ tử ngồi thiền, nhìn thấy người đệ tử mình nô đùa, nhìn thấy người đệ tử mình lao tác, trong lòng dâng lên niềm thương yêu dào dạt không diễn tả được, đó là thương đệ tử mình bằng tình cảm. Thì vị thầy mà tốt là phải thương đệ tử mình bằng cả hai cái phương diện đó, là thương đệ tử mình cả tình cảm và cả lý trí. Cái lý trí là để nhắc nhở vị thầy có cái trách nhiệm mãi mãi đối với người đệ tử của mình, phải đem cả cuộc đời, cả tâm huyết của mình để dạy dỗ người đệ tử mình nên người. Và phải thương, nói đó, là phải thương người đệ tử mình như cha mẹ thương con.
[54:18]Tôi nói có chữ "nhưng", nhưng lát nó khác chứ. Thương như cha mẹ thương con. Ở đây, chúng ta như lần trước chúng ta nói, khi chúng ta đi xuất gia thì chúng ta không có gia đình, không có vợ con. Cho nên mọi cái tình cảm của mình mình dồn hết cho đệ tử mình, để dạy dỗ đệ tử mình nên người, hy sinh tất cả cho đệ tử mình. Giống như người cha mẹ hy sinh tất cả để cho xây dựng cái tương lai của con cái, thì khi mà quý thầy lớn lên làm thầy mà nhận đệ tử, quý thầy cũng phải có cái tư tưởng đó, nghĩa là mình sẽ chấp nhận hy sinh hết mọi điều cho đệ tử mình. Nghĩa là mình chấp nhận cực khổ cái gì đó, nhưng mà nghĩ rằng những điều này có lợi,
[54:59]lớn lên đệ tử mình sẽ nhờ những điều này mà được nên người, nên không có kể gì. Ngay cả cái bản thân, cái mạng sống của mình không nghĩ tới nữa, chỉ nghĩ làm sao đào tạo cho đệ tử mình nên người. Nên cái tình thương đó gọi là như cha mẹ thương con. Mà khi gặp một vị thầy mà có cái lòng thương đó đó, thì người đệ tử dâng lên thầy mình cái lòng hiếu nghĩa thật là có ý nghĩa thiêng liêng. Cái tình thầy trò như vậy mới là đẹp. Chứ cái tình thầy trò thực sự á, nó không có bằng cái tình cha mẹ con cái, thực sự nó không bằng, thực chất nó không bằng. Mà không bằng là tại sao? Là vì thế này: Là vì khi mà cha mẹ sinh con không lựa được,
[55:42]nghĩa là cái nhân duyên đời xưa đâu đẻ ra đứa nào, tròn méo mình phải ráng chịu hết, không chọn lựa, nhưng vị thầy thì được chọn lựa. Thứ hai nữa, là khi người đệ tử hư quá thì đuổi được, chứ còn cha mẹ có đuổi con cái được không? Ít đuổi được, ít từ bỏ được, nó hư gì hư cũng phải cắn răng chịu, ráng chịu cái nghiệp. Nên chúng ta hiếm thấy trường hợp mà cha mẹ từ con, nhưng mà thầy đuổi đệ tử thì thường xuyên. Cha mẹ, nghĩa là chúng ta thấy lâu lâu năm mười năm mới thấy có một bài báo đăng một mẩu tin nhỏ: "Bố cáo từ con. Tôi tên là Nguyễn Văn A, có đứa con tên là Nguyễn Văn B, thì nghĩa là tôi công bố từ nay tôi không nhìn nhận tên Nguyễn Văn B này là con nữa.
[56:34]Nghĩa là mọi hành động nó tôi không chịu trách nhiệm, ai mà nghe lời nó ráng chịu. Ký tên: Nguyễn Văn A." Thấy như vậy họ đăng cái bố cáo từ con. Nhưng mà năm mười năm mình mới thấy có một bài bản tin như vậy, nhưng mà ở chùa cái đuổi đệ tử hoài. Thì vì sao vậy? Như vậy chứng tỏ rằng cái mối quan hệ giữa cha mẹ con cái nó chặt hơn là mối quan hệ giữa thầy và trò. Đó là một sự thật. Nhưng trên nguyên tắc đạo lý, thì tình thầy trò thiêng liêng hơn tình cha mẹ con cái. Đúng không? Theo nguyên tắc đạo lý chúng ta xuất gia rồi, cái tình chúng ta với ông thầy nó thiêng liêng hơn, đó là đạo lý, nhưng trong thực tế không phải.
[57:14]Thực tế ông thầy ổng đuổi mình mình chạy đâu? Chạy tuột về nhà cha mẹ lại nữa, than thở: Khóc, "Ông thầy ổng đuổi con rồi, giờ ba má kiếm chùa khác gửi con nữa." "Ờ, vậy đi gửi con nữa." Nghĩa là tu lên tới hòa thượng vẫn là con mình, vậy thôi. Chúng ta thấy cái tình cha mẹ con cái thiêng liêng. Nhưng mà trên đạo lý đó, buộc chúng ta đó là tình thầy trò phải thiêng liêng hơn. Như vậy chúng ta phải làm sao? Làm sao cho thiêng liêng hơn? Ai biết?
[57:44]Làm sao cho thiêng liêng hơn?
[57:49]Là do cái tình thương của mình, do cái tình thương của mình đối với đệ tử mà sâu sắc, mạnh mẽ, bền bỉ, bao dung thì cái tình thương đó nhiều khi còn hơn cả tình cha mẹ. Nên ở đây đó là ví dụ như chúng ta được một vị thầy như vậy, thì cái người đệ tử về chùa thấy hạnh phúc hơn về nhà. Ví dụ lâu lâu về thăm cha mẹ nhưng thấy rõ ràng sống ở gia đình với cha mẹ không sướng bằng sống với thầy mình. Tự vì cha mẹ cứ thấy cha mẹ mình ăn nói kiểu thế gian, ham vui, hời hợt. Thương mình thì thương thiệt, bỏ mình thì không bỏ được, thương á, nhưng mà về với thầy mình vẫn sướng hơn. Mà vì sao? Thấy ông thầy ổng thương mình, ổng dạy mình từng chút từng
[58:34]chút, ổng hy sinh cuộc đời ổng cho mình, thấy rõ. Khi ngọt bùi chia sẻ, có những điều gì cái nụ cười, sự khen ngợi, sự dạy dỗ từng ly từng tí vẫn thiêng liêng, ấm áp hơn. Về chùa đúng là tổ ấm, nhà không còn là tổ ấm nữa. Thì lúc đó đúng là tình thầy trò thiêng liêng hơn tình cha con. Mà cái này là do ông thầy tạo ra. Nên quý thầy lớn lên, quý thầy nhận đệ tử, quý thầy phải nhớ cái thiên chức thiêng liêng của mình ở chỗ này. Là mình thương đệ tử, mình dạy đệ tử như thế nào mà để người đệ tử nó thấy thầy còn hơn cả cha mẹ. Thì là mình thành công, là mình xứng đáng là người để lại tài sản nối tiếp mạng mạch của Phật pháp á.
[59:18]Đây là do cái bản lĩnh, cái sự tu hành, cái trí tuệ, lòng từ bi của quý thầy đối với đệ tử của mình. Chỗ này quý thầy suy nghĩ thêm. Rồi một điều nữa, trong cái tương quan của tình thầy trò có này nữa, là có ai đã hoàn hảo như Phật chưa? Có chưa? Có ai giơ tay lên cho tôi biết. Có chưa? Có ai giơ tay lên? Chưa phải không? Như vậy trong thầy trò thì ông thầy có hoàn hảo chưa? Có không? Có không? Chưa. Rồi đệ tử hoàn hảo chưa? Cũng càng chưa luôn nữa phải không? Như vậy cả ông thầy cũng chưa hoàn hảo, đệ tử cũng chưa hoàn hảo. Thì đây là chỗ chúng ta để ý nè. Khi người đệ tử chọn vị thầy để xuất gia,
[1:00:12]tôn thờ thầy mình, kính trọng thầy mình, tin tưởng thầy mình. Nhưng phải biết rằng ông thầy mình còn sơ suất vì ổng chưa phải Phật. Quý thầy đồng ý không? Thì như vậy cho nên người đệ tử đôi khi cũng phải thông cảm một vài cái nhược điểm còn lại của thầy mình. Một vài cái nhược điểm nhiều khi nó hơi tức cười. Dĩ nhiên nó không có thô lắm. Vì làm thầy rồi thì chắc không có thô, nhưng một vài nhược điểm tức cười. Ví dụ như mà bữa nào mà ăn cơm mà không cho ổng một cái ly chén nước tương kho quẹt là ổng nhịn ổng không thèm ăn. Cũng là một nhược điểm hơi khó tánh. Thì mình phải thương yêu, phải chấp nhận hoan hỉ cái tánh kỳ khôi của ổng.
[1:00:50]Ví dụ vậy. Hoặc là ví dụ như ông thầy mình có cái tánh, hễ mình đi đâu về gặp thầy chắp tay chào mà hổng lại hôn ổng miếng ổng giận. Ví dụ vậy thì mình cũng phải chấp nhận là vì ông thầy mình có cái tánh vậy. Ổng chưa phải Phật đôi khi có vài cái sở thích riêng như vậy thì cũng đành chịu. Ờ hoặc là ông thầy mình ổng có cái nhược điểm mà ổng thì ổng không coi đá banh, nhưng hễ bên kia coi đá banh mà "vô" quá cái ổng nhón nhón hàng rào ổng dòm coi cái gì vậy bây, ai "vô" vậy bay? Ví dụ có vài cái vậy thì mình cũng hoan hỉ thông cảm cho ông thầy mình. Nghĩa là phải nhớ là không ai hoàn hảo, thầy mình cũng còn có cái sơ suất gì đó thì phải thương
[1:01:29]thầy mình và chấp nhận là cái nhược điểm còn sót lại của thầy mình. Thì ngược lại ông thầy cũng vậy. Đệ tử mình đâu phải hoàn hảo, phải không? Vì đệ tử đến với mình thì đang là người phát tâm tu, nhưng còn nhiều điều chưa biết, nhiều lỗi lầm chưa khắc phục và vị thầy phải kiên nhẫn, chịu đựng lâu dài để dạy dỗ. Đó, đây là cái gọi là tình thầy trò. Dạy đệ tử cực lắm, cực lắm. Nuôi coi vậy chứ dễ. Có khi đói thì thầy trò cùng đói, no thầy trò cùng no, nó dễ. Nhưng mà dạy đệ tử nên người, nhiêu khê đủ điều hết. Cái mà dạy về giáo lý, khó mà dễ. Vì mình giảng không được, mình mời giáo thọ khác về giảng,
[1:02:17]hoặc là gởi đệ tử mình đi học nơi nào mình thấy đàng hoàng, dễ. Mà dạy cái đức hạnh, đời sống trong chùa, nhân nghĩa xử thế với nhau, với huynh với đệ, đạo đức, khó vô cùng. Là quý thầy bây giờ làm tăng sinh, mình sống huynh đệ với nhau nhiều khi cũng cực, phải không? Thấy người này tánh này, người kia ý kia, đôi khi cũng đụng chạm, cũng có những cái xích mích nho nhỏ. Nhưng mà quý thầy là tăng sinh coi vậy chứ nó đỡ, chứ bên ni nó vất vả hơn. Tại vì người ni cái bản chất là tình cảm nhiều nên thương nhiều, mà thương nhiều thì cũng giận nhiều. Hai cái đó đi đôi nha. Có thương mới có giận. Không thương thì không giận.
[1:02:57]Đó là cái nguyên tắc mà ai mà ở ngoài đời biết cái đó chuyện rõ lắm. Hễ là như mấy cô vậy đó, thấy anh chàng nào mà giận mình, biết là ổng còn thương. Ổng tỉnh bơ, ổng hổng thèm giận nữa là rồi á, thôi. Là lượm tiễn là vừa. Còn mà thấy còn làm mặt giận mặt hờn là biết ổng còn thương. Người thế gian họ có cái quy luật họ nắm rõ lắm, hễ là còn giận tức là còn thương. Cho nên ngoài đời có cái bài là: "Giận thì giận mà thương thì thương". Không biết nha, quý thầy có nghe bài đó không? Trả lời lẹ lắm. Cái bài đó dân ca đâu ngoài Nghệ An, Hà Tĩnh gì đó, nghe thấy dễ thương. "Giận thì giận mà thương thì thương.
[1:03:36]Anh sai đường em không chịu nổi" gì đó, "Ờ gì đó anh ơi anh anh đừng có giận", hồi nhỏ nghe giờ quên rồi. Thì ở đây cũng vậy, tức là cái người nữ họ tình cảm nhiều hơn người nam. Người nam ví dụ huynh đệ sống nhau ít để ý, thương nhau. Cho nên có đụng chạm rồi cũng ít có giận. Nhưng mà người nữ họ thương nhiều và đòi hỏi nhiều, hễ chút xíu cái giận. Giận làm mặt ngầu rồi ghim gút, đố kỵ mệt lắm. Cho nên rồi tôi có hai bên chúng á, tăng ni tôi biết rõ nhiều điều đó lắm, mà dạy cực. Bên chúng tăng vậy chứ phất phất vậy xong, khỏe. Còn bên ni cứ xào tới, đào lui vậy hoài. Có khi có khi về, có chuyện mà rầy dạy đệ tử tới mười một, mười hai giờ đêm.
[1:04:18]Kêu lên hết ngồi phân tích lỗi từng người thế này, từng người kia thế kia, phải thấy được. Đó vậy đó. Nó cực lắm, không phải dễ. Mà ví dụ ông thầy mà ổng giỏi, đỡ, ổng sâu sắc, tức là ổng có trí tuệ, ổng nhìn vô một cái ổng thấy được nguyên nhân lỗi lầm, phân tích tới tận nguồn ở trong tâm tim đen luôn, nói ra cái nó gỡ được, cái người đệ tử mình vượt qua được. Còn trường hợp mà vị thầy nhìn mờ cạn, nhìn không thấy cái gốc của lỗi, sửa không hết lỗi. Đó, làm thầy mà dạy chỗ đó khó lắm. Ví dụ người đệ tử ừ ví dụ giận cái người kia, mình chỉ la: "Hổng được giận nha!", đó chỉ là la trên ngọn, không thấy được cái cái gốc.
[1:04:58]Cái gốc giận nó nằm ở đâu ra. Mà mỗi người nó có cái gốc khác nhau. Cái người kia đó giận người nọ đó là bởi vì ví dụ còn tham ăn, người kia ăn nhiều hơn mình cũng giận. Cái gốc tham, phải sửa gốc tham nó hết giận. Còn cái người kia là do ái nhiều, thương muốn kết thân riêng với người nào đó, thấy người kia thờ ơ, giận là do tham ái, do muốn kết thân riêng. Hoặc là có người giận là do ganh tị, thấy người kia được huynh đệ thương mến, thấy thầy thương mến nhiều, giận là tâm đố kỵ. Cái gốc nằm ngay chỗ đó phải sửa, chứ còn chúng ta thấy chỉ la cái lỗi đó, không có hết lỗi. Ví dụ thấy hai người to tiếng với nhau, tìm ra nguyên nhân,
[1:05:34]phải tìm cho tới tận trong tâm, trong tủy của họ, sửa cái lỗi đó thì tự nó nhẹ đi. Chứ còn mình không biết rồi mình cứ chạy trên cái lời nói mà cãi lẫy, đó. Nói như ví dụ cái người huynh đệ này rầy một người huynh đệ kia, người huynh đệ kia không phục. Thì mình hỏi tại sao không phục? Nói tại vì cái rầy như thế rầy như thế kia không phục. Nói: "Cái lỗi đâu phải nằm ở đó, cái lỗi nằm ở nơi mình, là cái người kia không thấy lỗi nhanh chóng. Cho nên huynh đệ mình góp ý thì mình tìm cách chống trả lại. Cho nên cái bảo vệ, không chịu nhận lỗi, cái tâm không chịu nhận lỗi, cứ chấp cái ý mình là đúng, cái đó mới là cái phiền não kiên cố, khó tu.
[1:06:11]Phải phá cái đó cho ra. Cho nên người thầy mà dạy đệ tử cực lắm. Mà phải thương mới dạy được, không thương mình không dạy được. Hồi nãy chúng ta nói á là người đệ tử chấp nhận những nhược điểm của thầy, thì thầy phải chấp nhận cái nhược điểm người đệ tử gấp trăm, gấp ngàn lần như vậy nữa. Vì mỗi người mỗi ý, mỗi người mỗi tánh, mình phải thương yêu, phải bao dung, phải chịu đựng mà sửa từng ly từng tí, mong cho họ hoàn chỉnh nên người. Mà đòi hỏi cái trí tuệ của mình nữa. Trí tuệ mình mà tệ tệ một chút, trí mình mà nó tệ thì thôi, nhìn không thấy, dạy không tới. Phải dạy cho tới, nên trí mình phải có chữ u, phải trí tuệ, đừng có tệ.
[1:06:51]Rồi điều nữa là lấy ví dụ như là mỗi một người đệ tử á thì có một vị thầy trong giai đoạn mình nhỏ, mình chỉ có một vị thầy để thương kính. Nhưng mà ông thầy lúc đó ổng có mấy đệ tử? Ổng một đàn đệ tử để ổng thương yêu, phải không? Thì như vậy là mình có một ông thầy để mình thương kính nên mình dễ dồn hết cái tình thương mình lên cho vị thầy đó. Bên cạnh bao nhiêu người huynh đệ mình thì mình cũng thương nhưng mà nó nó dễ rồi, cái trách nhiệm nó nhẹ. Còn ông thầy ổng có nguyên một đàn đệ tử thì ổng đâu thể nào mà thương, thương kỹ hết được từng người một cách chu đáo được. Nên đây là một cái cái nhược điểm lớn,
[1:07:30]một nhược điểm lớn mà làm cho tình thầy trò lỏng lẻo. Ở ngoài đời đó, cha mẹ có chừng hai, ba đứa con, cái người nào sản xuất tốt thì được bảy người, người nào mà sản xuất xuất sắc á thì được 10 người, thì nhiêu đó họ thương bớt rồi. Mà người nào mà được hai, ba đứa thôi, một, hai đứa thì họ thương con dễ, có một, hai đứa dễ lo. Nhưng mà làm thầy cả mấy chục đệ tử, có người cả trăm đệ tử, thì khó có thể trải lòng thương đến từng người, từng người một cách chu đáo. Hôm vừa rồi, hôm vừa rồi cái sinh nhật của tôi thì tôi giấu tôi không cho biết, nhưng mà không biết sao thì có tin nó xì ra, thất thoát nên bị tiết lộ.
[1:08:09]Cho nên có một số Phật tử lên núi mừng sinh nhật tôi, thì cũng cả 200 người vậy, đem bông, đem bánh tùm lum. Thì tôi rất là cảm động. Thì tôi có nói một cái bài nói chuyện, trong cái bài nói chuyện tôi mới kể về cái việc mà một người tại sao khi được vinh quang tột độ mà khi xuống thấp hèn ở chỗ là khi mà mọi người quý mến cái người đó đó thì người kia cái lòng quý mến đối lại nó không bằng nhau. Ví dụ cộng từng người, từng người Phật tử, từng người Phật tử lên đây cộng hết cái tình thương lại rồi đem cân với cái tình thương của tôi đem cho lại bao nhiêu người Phật tử, nhiều khi nó chênh lệch không bằng và tôi bị tổn phước liền.
[1:08:50]Phải làm sao mà cộng cái lòng thương của từng người Phật tử đối với tôi mà cái lòng của tôi đối với người Phật tử nó nặng hơn thì tôi mới còn cái phước để sống. Mà thương nhiều dễ không? Người nào mình cũng thương sâu đậm dễ không? Rất khó. Thì cũng vậy, ví dụ như bây giờ 30 đệ tử thương ông thầy, thì từng người thương một ông thầy mình dễ, nhưng một thầy đó thương 30 đệ tử mà cộng lại nặng hơn cả 30 người đệ tử đó thương mình dễ không? Rất khó, nhưng phải làm cho được. Quý thầy phải làm cho được. Lớn lên quý thầy nhớ, khi nào cái lòng thương yêu của mình rất lớn thì mình mới được nhận đệ tử nhiều.
[1:09:29]Còn lòng thương yêu mình cảm thấy cạn, khoan nhận đệ tử nhiều, tổn phước á. Vì đệ tử mình hiếu kính mình nhiều hơn mình thương đệ tử là phước mình tổn liền. Cho nên người đệ tử hiếu kính mình, mình phải lòng thương nhiều hơn, nuôi dạy nhiều hơn thì phước mình mới bền. Đây là cái khó mà đa phần là chúng ta bị, là một thầy mà nhiều đệ tử rồi thì khó nuôi dạy đệ tử chu đáo. Như bản thân tôi, tôi cũng thấy như vậy. Nhiều khi tôi mắc bận, lo chuyện Phật pháp đi giảng, soạn bài rồi cũng không chăm sóc hết từng người đệ tử mình kỹ, mặc dầu trong tâm thì lúc nào mình cũng để ý. À trong tâm lúc nào cũng để ý từng người như thế
[1:10:05]nào, thế nào, nhưng mà không có chăm sóc hỏi han tận tường được, cứ phải hỏi qua trung gian. Hỏi cái người trong quản chúng là người kia làm sao, chú nọ bữa này làm sao, làm sao, hỏi ra để biết thôi chứ không có mà đi tới nơi tới chốn được, nó cũng là một cái nhược điểm. Bây giờ chúng ta nói qua vấn đề nuôi dạy đệ tử nên người. Khi nhận đệ tử á thì mỗi người đệ tử đều có cái nhân duyên riêng của họ, cái phước đức riêng, có cái tính cách riêng. Và chúng ta phải thấy điều đó để nhắm cái hướng xây dựng cho họ nên người về sau. Từ cái chung, từ cái chung về cái giáo lý, ví dụ khi dạy giáo lý thì dạy đồng đều giống nhau hết;
[1:10:43]khi cho tu tập thiền định đồng đều giống nhau hết; dạy những môn căn bản như võ thuật, kỹ thuật, âm nhạc, hội họa... đồng đều giống nhau hết. Nhưng mà mình biết là mỗi người sau này sẽ phát triển theo từng cái hướng khác nhau. Như có người mình thấy sẽ làm trụ trì rất tốt, có thể giữ chùa, quản lý, điều động chúng biểu; có người mình thấy là sau này sẽ đi giảng rất là hay, có lợi cho Phật pháp tốt; có người mình thấy là chỉ phụ huynh đệ công quả thôi. Ví dụ có người sư huynh của mình đi giảng, có người sư huynh mình làm trụ trì thì người này chỉ đi theo để làm phó chứ không thể làm chính được.
[1:11:17]Mỗi người có một cái tính cách riêng như vậy hết. Và dựa vào cái tính cách mà chúng ta đánh giá đó, chúng ta xây dựng từ từ, mình không có ngạc nhiên, mình không có ngạc nhiên. Là ví dụ như cái người đó mình biết họ không thể làm nên chuyện lớn thì tôi dặn ngay từ đầu: Cho học hết, nhưng nói sau này con đừng bao giờ làm trụ trì. Sau này ví dụ thầy có chết thì con nhớ cái người sư huynh của con mà đi trụ trì, con tới đó con làm phó cho thầy, con không được làm chính. Mình phải dặn từ đầu, vì biết cái nhân duyên của họ vậy. Và dặn ngay từ đầu rồi thì họ, họ vững lòng. Với nữa là mình dạy là từ bây giờ phải dạy đừng có tâm
[1:11:52]ganh tị, cái tâm ganh tị tàn phá đạo Phật dữ dội lắm. Nên trong chúng, mỗi khi mình khen một người phải nhìn coi bao nhiêu người khác thái độ làm sao. Hễ thấy thái độ của người khác còn nặng là phải dạy cho tới nơi. Dạy là chừng nào mà thấy người huynh đệ mình mà được thành công phải vui mừng thì sau này mình mới không phá Phật pháp. Còn thấy người huynh đệ mình thành công được thầy khen mà mình buồn là người đó sau này phá Phật pháp. Là mình mang tội á, ông thầy mang tội dạy không tới nơi. Thì nói là: "Giáo bất nghiêm, sư chi... chi quá". Quá là lỗi lầm. Dạy mà không nghiêm là lỗi của ông thầy.
[1:12:29]Rồi ở ban đầu á mình dạy mọi người cái căn bản giống nhau hết, nhưng mà lần lần cái năng khiếu, cái nhân duyên mỗi người phát triển ra thì bắt đầu ông thầy sẽ hỗ trợ thêm để cho người đó phát triển đi theo cái hướng của mình. Hỗ trợ hết cả từ cái tinh thần, ý kiến cho tới tiền bạc. Nhớ nha, vị thầy là coi đệ tử như con thì tiền của mình cũng là tiền của đệ tử mình, chứ đừng có nghĩ tiền này của mình chết á, nó là sai. Nghĩa là trong chùa phải có cái quỹ, có tiền và cái quỹ đó phải dự phòng, phải có dự trữ, không được xài hết. Dù trong hoàn cảnh tình huống nào không được xài hết số tiền có, phải có cái dự phòng.
[1:13:06]Nhưng mà không bao giờ được dự trữ cái tiền để nghĩ là tài sản cá nhân mình, mà phải nghĩ rằng cái tài sản đó là của đệ tử mình sau này. Cho nên có thể là quý thầy mà thấy mình hơi luống luống tuổi, nghi ngờ sức khỏe mình là phải lo làm di chúc liền. Và cái di chúc đó là để lại tài sản đó cho đệ tử mình trong chùa liền. À vì sao vậy? Vì dự phòng là mình còn gia đình, mà luật pháp thế gian người chết mà không có chưa có lập gia đình thì tiền nó thuộc về cha mẹ liền. Mà cha mẹ đã chết thì tiền nó thuộc lại các con, tức là của anh em mình, là tiền nó không còn nằm trong Phật pháp nữa. Như vậy nó hư về đạo.
[1:13:42]Do vậy là khi một người mà xuất gia, mình có đệ tử, có tài sản, luống tuổi phải lập di chúc sẵn. Hễ mất, tiền này sẽ thuộc về đệ tử mình, trong đó có một vài người nào đó đứng tên đại diện để mà lãnh tài sản này, tiếp tục điều hành ngôi chùa, vân vân. Vì nhớ như vậy, cho nên sau này ví dụ như khi đệ tử mình lớn lên đi làm việc mà mình còn sống thì mình phải hỗ trợ hoài cho tới suốt đời. Cho tới cái ngày mình chết mình mới hết lo cho đệ tử mình. Dù có khi lúc đó người đệ tử mình rất thành công, đã trụ trì chùa lớn, đã có danh có tiếng thì trong lòng của ông thầy, lúc nào người đó vẫn là đệ tử thương yêu của mình.
[1:14:22]Và lúc nào cũng để ý coi cái thằng đó ha, là hôm nay nó đã nên gì, nó hư cái gì, còn gì sơ suất hay không để mà góp ý, giảng dạy tiếp. Đó, nghĩa là lòng mà thầy thương trò phải nhớ thương tới chết. Quý thầy nhớ điều đó. Sau này khi mà đệ tử mình bước ra làm việc rồi là phải theo dõi hoài coi làm nên, hư. Đôi khi mình già lụm cụm nằm một chỗ hết hơi rồi, người đệ tử mình nên danh nên phận tràn đầy rồi thì phải nhớ người đó vẫn là đệ tử mình, vẫn là con của mình. Và vẫn phải quan tâm thương yêu chăm sóc. Nhớ như vậy. Dù mình không lo gì được nữa nhưng trong lòng vẫn phải lo. Cái tình thương của người thầy đối với đệ tử là vậy đó,
[1:15:00]phải là phải là vô biên vô tận như vậy mới là được, mới đúng là vị thầy. Chúng ta phải có cái tâm nguyện thế này là những cái gì mà mình thành công, mình đạt được, mình phải xây dựng cho đệ tử mình cũng đạt được như thế, mà chẳng những thế, còn phải mong cho người đệ tử giỏi hơn mình nữa. Vì biết rằng mình chưa hoàn chỉnh, mình giỏi mặt này dở mặt khác thì phải mong cho người đệ tử mình được hoàn chỉnh nhiều mặt. Vì sao vậy? Vì nếu người đệ tử mình hoàn chỉnh thì Phật pháp được phát triển, người này sẽ làm lợi ích cho chúng sinh nhiều hơn. Kể cả mặt tâm linh về sự giác ngộ, thiền định tu tập, về cái khả năng thuyết giảng, về mọi cái lĩnh vực hoạt động khác là mình
[1:15:44]đạt được cái mặt nào là phải ráng cho đệ tử mình vượt hơn mình là càng tốt. Vị thầy phải như vậy. Có những trường hợp mà người thầy thấy cái việc dạy mình đối với đệ tử chưa đủ, cần phải cho đệ tử mình đi tham học thêm nơi khác, hoặc là đến một vị thầy nào đó mình biết là giỏi gửi đệ tử mình tới đó cho học thêm để cho người đệ tử giỏi hơn mình, hoặc là gửi đệ tử mình đến cái trường Phật học nào đó mà mình tin tưởng. Chúng ta nhớ trường Phật học mà tin tưởng nha, vì không phải trường Phật học nào cũng đáng tin tưởng hiện nay. Tương lai nếu mà Giáo hội có cải cách thì không biết sao, chứ còn hiện nay thì các trường Phật học cái việc
[1:16:28]tổ chức có nơi này thế này, nơi kia thế khác; có nơi thì dạy có hiệu quả, có nơi dạy không hiệu quả, nên không hẳn là gửi đệ tử đi vào trường Phật học mà gọi là yên tâm đâu, có khi vào đó rồi đi ra hư hơn cũng có nữa. Nhưng thầy Bửu Tông á, Bửu Tông mà viết cái cuốn sách nãy tôi nói á, ổng than trời, ổng nói tôi có mấy đệ tử dễ thương gửi đi trường Phật học về ở đây bắt đầu nó hư luôn rồi, bởi biết không cho đi học, thì có những trường hợp như vậy. Nhưng mà có những trường nào tốt thì chúng ta yên tâm cho đệ tử đi học. Mà tuy nhiên vì trên đất nước mình mỗi trường Phật học cái giáo trình, chương trình đồ, các môn học chưa thống nhất,
[1:17:05]rồi các chất lượng của các giáo thọ sư cũng chưa có ổn định, có nơi giáo thọ sư giỏi, có nơi giáo thọ sư cũng dở, nên việc đào tạo nên tăng ni sinh cái chất lượng cũng không đồng đều, không chắc ăn nữa. Mà nhất là quản lý về cái đức hạnh thì nhiều trường quản lý lỏng lẻo lắm, rất lỏng lẻo, rất là đáng báo động chứ không phải không. Một điều nữa là cái lòng của người thầy mà thương đệ tử một cách sâu đậm cũng giúp cho các đệ tử đoàn kết với nhau. Thấy ông thầy ổng thương mình quá, tự lộng đọng mình phải thương lẫn nhau để không phụ lòng của thầy mình. Mà khi cái lòng thương của ông thầy mà bình đẳng,
[1:17:46]chan hòa, thương đệ tử nào cũng như vậy mà chu đáo, tận tụy thì người đệ tử ý thức ra không dám ghét lẫn nhau. Đó là một bài học, mặc dù là ông thầy có nhắc nhở là các huynh đệ phải thương nhau, nhưng mà cái tấm gương, cái lòng thương của thầy là cái tấm gương tiêu biểu. Mà chúng ta nhớ một điều nữa là là nước mắt chảy xuống, chúng ta thương đệ tử mình nhưng đừng đòi đệ tử mình phải thương mình nhiều, mà buộc đệ tử mình phải thương ai? Thương đệ tử của nó. Lòng hiếu đối với mình một phần thôi, phần còn lại mong đệ tử của mình biết dạy cái hàng đệ tử của nó cho nên người để Phật pháp được được kế tục một cách rạng rỡ, huy hoàng.
[1:18:34]Chứ còn mình thương nó, bắt nó thương mình, mình thương nó, bắt nó thương mình cái gom lại một cục, Phật pháp cũng kẹt lại. Cho nên nước mắt chảy xuống, mình thương đệ tử nhưng buộc đệ tử phải biết nuôi, biết dạy hàng đệ tử của nó tiếp. Đó là một vấn đề. Giờ có vài vấn đề phụ chúng ta nói với nhau một chút, là đối với hàng đệ tôn, đệ tôn là ai? Là hàng cháu. Đệ tôn với hàng cháu. Tức là mình có đệ tử, rồi đệ tử có đệ tử nữa thì đệ tử đó là hàng đệ tôn. Thì thường là nhiều khi hay bị phân biệt: à đây là đệ tử của sư chú, đây đệ tử của sư bác, không phải đệ tử của thầy tui, phân biệt gây chia rẽ, là một cái sai.
[1:19:11]Cho nên ông thầy mà lúc này mình đã làm sư ông rồi, nên sau này quý thầy mà già mà làm sư ông rồi, có đệ tôn thì phải dạy cái đệ tử mình là phải dạy các đệ tôn đó không được phân biệt sư phụ. Dù con là đệ tử của người này, dù con đệ tử người kia vẫn phải thấy như chung một thầy, vẫn thương nhau như chung một thầy. Nghĩa là cái tình thương đó, cái sự đoàn kết đó là không phải trong hàng đệ tử với nhau mà phải xuống tới hàng đệ tôn, tức là anh em mà chú bác họ đó, phải biết. Cùng một sư ông thì phải thương nhau như trong nhà. Mà nếu xây dựng được tình đoàn kết đó thì đạo Phật rất là tốt, rất là bền chắc.
[1:19:53]Nghĩa là ai nói gì nói, mình phải binh người trong nhà mình cái đã, cái tinh thần đoàn kết, rồi sau trong nhà mình sửa lỗi lẫn nhau sau. Thế còn để người ta nói xấu người trong nhà mình mình nghe theo là người ta chọt vô người ta phá vỡ được. Người Nhật họ có cái hay á, họ gây lộn nhau gây lộn nhưng mà ai nói xấu tới một người bạn của họ họ binh liền. Miễn là người Nhật họ binh nhau liền, cái tinh thần đoàn kết rất là chắc. Tuy nhiên mình không đi quá đáng để mà bao che những lỗi lầm của nhau, nhưng mà trên cái bình thường trước hết là phải đoàn kết nội bộ cho vững, đừng để người ngoài họ seo, họ nạy, họ chia rẽ ra. Đừng có nói:
[1:20:28]à sao thấy ông sư bác ổng nói xấu thầy, nghe nói ông sư chú nói xấu thầy, đừng tin, đừng tin người ngoài để rồi mình ghét cái người huynh đệ của mình, mình nghi kỵ người huynh đệ của mình, đó là mình sai lầm. Rồi có một điều nữa là chắc chắn sẽ có những người đệ tử không đủ phước làm tăng suốt đời, lúc nào đó họ hoàn tục. Thì bây giờ cái thái độ của người thầy mà đối với người đệ tử hoàn tục phải như thế nào? Ai biết? Nghĩa là mình cố gắng dạy hết sức, cố gắng gầy dựng lý tưởng, công đức, nhưng mà nghiệp đời trước họ nặng quá, họ không vượt qua nổi, thế là họ phải xin phép hoàn tục, thì tới đó rồi thôi cũng phải chịu thua.
[1:21:12]Chịu thua rồi thôi cho họ ra đời, nhưng mà đừng bỏ. Một giây phút đã làm đệ tử rồi cũng không bỏ, là vẫn theo dõi coi họ ra đời họ làm cái gì, họ sống như thế nào, mình phải hỗ trợ thế nào, rồi tới lui thăm, cho huynh đệ tới lui thăm nhắc nhở họ tu trong cái hạnh cư sĩ. Thì nhờ vậy cái tình đạo còn thấm thía, có khi đến lúc nào đó cái nghiệp nó qua rồi họ trở lại họ xuất gia, nên mình cứu lại được một người. Chứ còn nếu mình bỏ bê, coi thường là mình mất đi một người cư sĩ mà có khi mất một người tu sĩ trở lại nữa. Cho nên cái thái độ mà đối với người tu sĩ hoàn tục mình phải có cái thái độ bao dung.
[1:21:52]Người cư sĩ cũng vậy nữa, ví dụ như người cư sĩ mà nhìn thấy quý thầy mà hoàn tục thì cũng đừng có cái vẻ coi thường. Nhiều người đó gan dạ, họ hoàn tục vì họ thấy họ không có xứng đáng làm tăng, thì người đó đáng khen. Rồi người vị thầy cũng vậy, thấy người đệ tử hoàn tục thì cũng phải thương yêu, quan tâm theo dõi, hỗ trợ, mà nhắc nhở họ tu trong vị trí cư sĩ để mà tích lũy công đức mà trả nợ đàn na tín thí. Tại vì cái lúc mà họ xuất gia họ hưởng của đàn na nhiều quá, bây giờ tu không nổi ra đời mà nếu ra đời mà cái phẩm hạnh mà không xứng đáng là đọa chết luôn. Cho nên tuy ra đời hoàn tục nhưng phải giữ cái đạo đức căn bản
[1:22:34]để cái đồng đàn na mà mình nghĩa là vật dụng hàng ngày người ta đã cúng dường cái nọ mình vẫn còn một chút là có cái sự đền trả trong đó. Cho nên đây là vị thầy phải nhắc nhở như vậy. Rồi đã làm thầy thì mình phải ráng gương mẫu. Không được sống theo cái sở thích của mình, mà phải sống vì đệ tử mình, vì chúng sinh. Đây chúng ta nhớ cái điều đó, là mình không được sống theo ý muốn của mình nữa, mà mỗi khi làm việc gì phải cân nhắc coi điều này có lợi cho đệ tử mình hay không, có lợi cho chúng sinh hay không, chứ không có làm theo ý mình được, phải rất là gương mẫu. Mà chính cái sự gương mẫu của ông thầy là những lời dạy dỗ cho đệ tử.
[1:23:21]Hôm nay chúng ta nói về cái bài "Thái độ xuất gia", trong đó chúng ta nhấn mạnh cái tình thầy trò, mà chúng ta điểm qua cái việc mà lựa chọn người xuất gia cho tốt, chúng ta nói qua cái vấn đề mà nuôi dạy đệ tử phải tận tụy, nghiêm khắc cho đệ tử nên người mà nối tiếp cái mạng mạch của Phật pháp. Chúng ta nói tới cái tình thầy trò phải thiêng liêng, sâu đậm hơn cả cái tình cha mẹ đối với con cái. Đó là vài vấn đề mà gợi ý để sau này quý thầy khi lớn lên có đệ tử quý thầy cẩn thận về điều này, là cũng là cái điều mà công đức chúng ta làm được đối với Phật pháp. Còn nếu chúng ta hời hợt, nhận đệ tử bừa bãi rồi người
[1:24:04]đệ tử đó làm hư đạo thì chúng ta sẽ mang tội. Có ai hỏi gì thêm
[1:24:12]không? Thôi nghỉ ha. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả,
[1:24:28]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.
[1:25:00]Yêu mấy sao cho vừa, yêu những cánh đồng xanh,
[1:25:10]và yêu con đò ấy sớm hôm xuôi dòng sông đưa đón bao người qua. Yêu mãi mái quê nhà,
[1:25:25]yêu lũy tre làng ta, và
[1:25:31]yêu con diều nhỏ nhẹ bay trên trời cao, tuổi thơ vui xiết bao.
[1:25:40]Yêu mãi ngôi chùa xưa, làn khói hương trầm tỏa, bao ơn từ chan chứa. Yêu tiếng...
[1:25:51]Tiếng chuông nhẹ ngân, khuya vắng hay ban mai, mang lời Phật cho ai.
[1:26:01]Chiều về bao êm ái, nghe tiếng kinh thâm trầm, ngọt ngào ơn Tam Bảo, vang mãi đến nơi xa. Luôn nhắc ta đạo hạnh chan hòa, lòng từ bi thiết tha.
[1:26:21]Yêu mấy sao cho vừa,
[1:26:26]yêu tiếng chuông huyền mơ.
[1:27:11]Và yêu con đò ấy, dọc ngang xuôi dòng sông, đưa đón bao người mong.
[1:27:22]Yêu mãi nơi quê nhà,
[1:27:27]yêu lũy tre làng ta.
[1:27:32]Và yêu con diều nhỏ, nhẹ bay trên trời cao, tuổi thơ vui xiết bao.
[1:27:52]Yêu tiếng chuông nhẹ ngân, khuya vắng hay ban mai, mang lời Phật cho ai.
[1:28:02]Chiều về bao êm ái, nghe tiếng kinh thâm trầm, ngọt ngào ơn Tam Bảo, vang mãi đến nơi xa. Luôn nhắc ta đạo hạnh chan hòa, lòng từ bi thiết tha.