[0:00]Theo như chương trình dự định thì hôm nay chúng ta nói về hai câu đối của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở tại chùa Kim Tiên ở Cai Lậy. Là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là thân sinh của Bác Hồ. Thì vào những thập niên 20, cụ bắt đầu đi vào miền Nam. Cụ không có là bị bãi chức quan tri huyện ở Bình Khê, ở Bình Định do cụ binh vực người nghèo, cụ đánh chết một cái tay cường hào ác bá. Cho nên mà cái không ngờ cái gia đình của tay đó là có cái thân thế lớn ở triều đình Huế. Cho nên triều đình Huế bắt tội cụ, đánh cụ một trăm trượng tóe máu rồi bãi chức quan luôn. Cụ làm quan chỉ vỏn vẹn được có 6 tháng mà trước khi đi làm quan là cụ đã
[0:47]nói với cái người bạn ở quê ở Nghệ An, nói thôi bạn đừng có theo tôi. Tại chuyến này tôi đi làm quan mà không có lâu, cụ biết trước. Nên rồi sự cố xảy ra là do cứ binh vực người nghèo nên mích lòng cả triều đình, cụ bị cách chức. Sau đó cụ lang thang vào Nam, cụ làm thuốc Bắc. Đầu tiên là ở Sài Gòn, làm thuốc Bắc. Tối đến thì đến chùa Linh Sơn ở đường Cô Giang ở Quận 1 á, nghỉ. Rồi cụ nghiên cứu đạo Phật, dịch kinh Phật, rồi sau đó kết bạn với các vị hòa thượng vào thời đó, mà đặc biệt là có sư cụ Khánh Hòa là vị mà khởi xướng phong trào chấn hưng đạo Phật, thì cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng là bạn với cụ
[1:33]Khánh Hòa, hai người cùng nhau khởi xướng phong trào chấn hưng đạo Phật. Cho nên cái việc mà Phật giáo Việt Nam được chấn hưng từ những thập niên 20 thì có một phần công lao rất lớn của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Nhưng mà vì sự tế nhị của lịch sử, cái phần đó đã bị bôi khỏi cái sử của đạo Phật, không ai biết cái công lao của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đối với Phật giáo ngày nay. Cụ đi hết chùa này tới chùa kia, gặp hết những vị hòa thượng lớn trong cái thời đó như là Hòa thượng Huệ Đăng ở chùa Thiên Thai Bà Rịa là một vị tổ, Hòa thượng Chí Thành chùa Phi Lai Châu Đốc cũng là một vị tổ, Hòa thượng Thiện Quới ở chùa Hội Khánh ở Bình Dương
[2:16]cũng là một vị tông túc lớn thời đó, cụ đi kết giao hết và bàn với nhau cái việc mà chấn hưng đạo Phật, đồng thời là để giành lại độc lập cho đất nước. Đối với cụ, cái tình yêu nước và tình yêu đạo là một. Nghĩa là khi nói tới công chấn hưng đạo Phật, người ta chỉ nói tới cụ Khánh Hòa, không hề nói tới cụ Nguyễn Sinh Sắc. Nhưng không ngờ rằng chính cụ Nguyễn Sinh Sắc là một bàn tay đắc lực cùng đi với cụ Khánh Hòa đi nơi này nơi kia, hết chùa này tới chùa kia để mà kêu gọi mọi người đứng lên chấn hưng đạo Phật. Cái công của cụ cực kỳ lớn, nhưng mà lịch sử đã bỏ quên. Ngày hôm nay, ngày đầu năm năm Ất Dậu,
[2:50]chúng ta phục hồi lại danh dự cho cụ, công lao của cụ đối với Phật pháp. Thì nơi chùa Tiên Linh ở Bến Tre cụ cũng để lại một câu đối. Cái câu đối này thì nó dễ hiểu hơn mặc dù cái ý tứ rất là lớn. Là tại cái chữ Tiên chữ Linh nên là cụ Nguyễn Sinh Sắc đã lấy hai cái chữ đó để thành hai cái đầu của câu đối như thế này: "Tiên tức Phật, Phật tức tâm, bách vạn trần lao đô tịnh tận. Linh như hư, hư như giác, tam thiên thế giới tổng bao hàm." Tức là nghe hai câu này ta biết rằng cụ nghiên cứu Đại thừa và Thiền tông rất là là uyên thâm. "Tiên tức Phật", tức là đừng có phân biệt tiên Phật, bị cái chùa Tiên Linh á, thì tiên cũng là Phật, tức là những người giác ngộ tu hành.
[3:36]"Phật tức tâm" thì Phật cũng bắt đầu từ cái việc ở trong tu tâm ta. "Bách vạn trần lao đô tịnh tận", tức là trăm ngàn muôn thứ phiền não, vô minh, sai lầm trong tâm mình đều được tịnh hóa tất cả. "Linh như hư", linh tức là cái sự linh thiêng mầu nhiệm thì cũng như là cái hư không vô biên. Và cái hư không vô biên đó, "hư như giác", hư không vô biên đó cũng như là cái sự giác ngộ chứ không phải là hư không mà không có gì. Trong cái hư không đó tràn trề ánh sáng giác ngộ. "Tam thiên thế giới tổng bao hàm" thì cả cái vũ trụ này đều nằm ở trong cái đó, trong cái mà linh như hư, hư như giác đó. Thì cái câu này dễ hiểu mặc dù ý tứ rất là lớn.
[4:17]Thì hai câu đối đó vẫn còn để ở tại chùa Tiên Linh ở Bến Tre để cho ta thấy cái kiến giải về Phật pháp của cụ thực là uyên bác, ừ. Thì cụ mồ côi cha từ nhỏ, nói mồ côi cha từ nhỏ nhưng sự thực là không phải vậy. Cái tiểu sử cuộc đời của cụ Nguyễn Sinh Sắc rất là éo le, rất là ngang trái. Nên dòng họ Nguyễn Sinh của cụ chỉ là dòng họ trên lý thuyết thôi, trên lý thuyết, trên giấy tờ thôi, chứ không phải dòng họ thật. Vì vậy cho nên là sử không viết ra. Thì trên lý thuyết cha của cụ là Nguyễn Sinh Nhậm, Nguyễn Sinh Nhậm, đó là lý thuyết chứ sự thật không phải. Và 3 tuổi thì cụ Nguyễn Sinh Nhậm mất,
[4:56]cho nên là cụ Nguyễn Sinh Sắc về ở với ông anh mình là Nguyễn Sinh Thuyết. Và tới năm 6 tuổi thì mẹ cụ mất luôn, coi như là mồ côi. Thì phải phụ giúp ông anh làm những việc vất vả trên đồng áng, rồi ông anh cứ giao cho đi cắt lúa, làm cỏ, chăn trâu gì đó. Thì cụ ngồi trên lưng trâu nhưng mà cái chí hiếu học rất là lớn nên thường hay đánh trâu lại gần cái nhà của ông đồ Vương Thúc Mậu để mà học lỏm. Nghĩa là trong đây trong nhà thì ông đồ giảng kinh, viết chữ thì cụ cột con trâu ngoài xa xa đó, chạy vô đứng bên cửa sổ để nghe. Nghe mà nuốt từng chữ, nghe chữ nào nhớ chữ đó, từng cách viết, nét sổ, nét ngang, nét dọc, nét đá,
[5:33]nét gì, chữ Nho, xưa học chữ Nho, là học lỏm rồi xuống đất viết lại. Tức là cái chí như vậy thì sau này cụ Vương Thúc Mậu thấy thương, thấy một đứa bé quần áo rách nát, tơi tả mà hiếu học mà kêu ra hỏi lại cái bài cũ thì mấy học trò ngồi trong lớp nhiều khi còn quên, chứ còn cái đứa bé chăn trâu này là nhớ vanh vách hết. Cụ rất thương, cụ cho vô lớp học luôn. Nhưng mà không thể học nhiều, tại vì nếu không chăn trâu mà no thì ông anh ổng rầy. Ổng rầy, phải làm tròn bổn phận. Thì sau đó thì cụ Vương Thúc Mậu cũng khi cũng cho cái tập, sách, giấy, viết đồ để học. Rồi tranh thủ là cũng không thể đi học mãi như mọi người nên hay leo
[6:08]lên lưng trâu, vừa thả trâu vừa ngồi lưng trâu mà đọc sách học. Thì một lần có cụ nho Hoàng Đường ở bên làng ở làng Trù, cụ đi, cụ nhìn thấy một đứa bé ngồi trên lưng trâu còm nhom, ốm nhách, quần áo thì rách nát mà cầm cuốn sách học, cầm sách học. Thì cụ Hoàng Đường là một người mà gọi là nho y lý số rất giỏi. Chúng ta nhớ đất Nghệ An có những người kỳ tài, họ có những học thuật bí hiểm. Cái người Nghệ An họ nhìn người, họ đoán được hết tướng số người đó, thậm chí là thầy thuốc ở Nghệ An á, cầm tay bắt mạch mình là không phải biết bệnh, biết hết cuộc đời, biết hết tâm tính của mình luôn. Cái nghề mà bắt mạch ở Nghệ An.
[6:49]Còn mà chấm tử vi hay là bấm độn thì Nghệ An là số một. Đất đó là đất mà ngày xưa người ta làm lãnh tụ, làm chính trị nên những cái môn học đó họ biết. Thì cụ Hoàng Đường chỉ là tú tài nhưng mà những cái học thuật đó là cụ biết hết. Nên khi đi ngang làng, nhìn một đứa bé ngồi trên lưng trâu, cầm cuốn sách đọc thì cụ nhìn tướng, cụ thấy ngay đây là đứa bé cực kỳ thông minh, hiếu học, cả một cuộc đời gian nan, vất vả nhưng mà sẽ đẻ được một đứa con như là thánh nhân cho đời. Cụ nhìn thấy điều đó, thấy đẻ con quý tử. Và cụ mới hỏi, cụ mới dừng lại cụ hỏi, nói: "Con con ai? Mà sao mà học trên lưng trâu?"
[7:27]Thì lúc đó bé mới kể lại mình con như thế ở bên Làng Sen, vân vân. Thế thấy đứa bé hiếu học rồi cụ hỏi vài chữ trong cuốn sách thì đứa bé trả lời vanh vách hết. Cái cụ vui, thích. Cứ thấy hoàn cảnh như vậy mà thấy ông anh là Nguyễn Sinh Thuyết cũng nghèo, cái cụ nói: "Thôi bây giờ con về con làm con nuôi của ta. Ngày xưa người nhà nho họ hay xưng ta ha. Ta sẽ cho con ăn học." Thì cụ Nguyễn Sinh Sắc rất là mừng, nói: "Dạ, vậy con phải xin phép anh con." Nói: "Được, ta sẽ đích thân đến xin." Thế là cụ Hoàng Đường mới đi bộ sang Làng Sen, đó, chỗ cái nhà của ông Nguyễn Sinh Thuyết là xin, xin hẳn đứa con về làm con nuôi thì ông anh
[8:06]ổng cũng mừng thấy mồ, ổng cho liền, cho liền. Cho đi gói đồ đi không có gì để gói á. Thôi xách cái túi đi không, đi về thì làm con nuôi. Nhưng mà cụ thì có người con gái, có một người con gái duy nhất là Hoàng Thị Loan. Thì khi mà bà Hoàng Thị Loan sinh ra thì cụ chấm tử vi liền là biết ngay con mình sẽ đẻ ra một ông vua cho nước Việt Nam. Tại vì nho y lý số là họ giỏi lắm, giỏi khiếp. Và thấy cái người con nuôi mà mình nhận đây nè cũng có cái số đó, đẻ ra một người con làm vua. Cho nên ông nghĩ rằng số hai đứa hợp nhau, ông về và ông nuôi coi như con đẻ trong nhà. Và cụ Nguyễn Sinh Sắc học rất là thông minh,
[8:45]không có phụ lòng trông cậy, không có phụ lòng tin cậy của người cha nuôi của mình. Nhưng mà khổ một cái là bị cụ thông minh quá. Ông bố là cụ Hoàng Đường là nho y lý số giỏi hả, đậu tú tài. Cụ học cái vèo hai năm hết nghề của ông bố nuôi luôn, ổng không còn gì để dạy. Thế là ổng phải đưa sang người khác học tiếp, ừ. Học tiếp thì nhờ vậy cụ giỏi. Cụ giỏi thì đến năm 1894 là năm vua Thành Thái thứ sáu thì cụ đỗ cử nhân tại trường thi ở Nghệ An. Thì năm 1901 cụ đỗ phó bảng ở kinh đô Huế, mà ý cụ muốn về Huế là để cho con mình có được dịp mà tiếp cận với cái nền văn minh của kinh đô, biết được mọi điều, mở rộng tầm mắt hơn,
[9:28]chứ còn ở vùng quê Nghệ An mình không thấy được nhiều điều. Rồi năm 1906, cụ nhận cái chức là Thừa biện bộ Lễ để cho các con mình được học ở cái trường Quốc Tử Giám. Thì năm 1909, cụ nhận cái chức Tri huyện Bình Khê. Đây là chức quan duy nhất và ngắn nhất trong cuộc đời cụ, là 6 tháng sau cụ bị cách chức, đánh cho 100 trượng đuổi luôn. Lý do chỉ vì thế này, lý do là cái thời đó, ngoài dân ta đó, ngoài cái bị khổ vì thực dân Pháp đàn áp, đè bẹp, mà còn bị cường hào ác bá, cái những người địa chủ giàu có, họ hay ăn hiếp dân nghèo. Mà cụ là xuất thân từ cái người nghèo, nghèo rớt mồng tơi, nghèo thê thảm cho nên cụ thương người nghèo.
[10:16]Cụ lên làm quan huyện thì việc đầu tiên là đì mấy cái tay giàu trước để cho nó đừng ăn hiếp người nghèo. Thì cụ đì sơ sơ không biết, cuối cùng đụng phải một cái tay tên nó là tên Tạ Đức Quang cũng là một tay địa chủ, không biết ăn hiếp nông dân sao không biết cái cụ điều tra ra được, cụ bắt lên. Cụ bắt lên thì cái tay này ỷ là mình có quan hệ với triều đình, tức là nhà mình giàu cho nên có quan hệ với những quan lớn ở triều đình, coi ông quan tri huyện không ra gì, đứng trước mặt cái là quan huyện mà trả lời xấc xược. Xấc xược, cụ sai lính, mà cụ cũng có võ nữa, thật ra cụ Nguyễn Sinh Sắc lúc ở Nghệ An cụ cũng
[10:51]có võ, cụ sai lính đánh một trận chết tươi luôn. Đánh chết tươi. Thì cái chuyện nó thành vụ trọng án. Vụ trọng án mà thêm một cái nữa là tay này là tay giàu mà có quan hệ với triều đình, cho nên lập tức là cụ bị triệu hồi kinh liền. Triệu hồi kinh rồi đem ra xử cụ là cách chức tại chỗ, đánh 100 trượng, người đầm đìa máu, đuổi đi luôn, mà không tử hình bởi vì dù sao cụ cũng chứng minh được là cái tay Tạ Đức Quang này nó quá ác à. Thế là sau đó cụ rời kinh đô và đi lang thang xuôi về nam để mà làm thuốc, thì cụ có nghề thuốc rất là giỏi, bắt mạch chữa bệnh rất là giỏi. Làm thuốc sống và bắt đầu từ đó cụ vừa chữa bệnh mà vừa gắn bó với các chùa,
[11:33]nghiên cứu, tu học Phật pháp, phụ dịch kinh, dịch điển, vân vân. Cuộc đời cụ là như vậy, không hề có những giây phút vinh quang, cả một đời tận tụy, lận đận, nhưng mà tấm lòng đối với đạo, đối với đất nước thì thật là lớn. Cụ có than, thời gian làm quan cụ có than một câu này mà vì cái câu này nổi tiếng nè: "Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ". Tức là ở trong cái chốn quan trường thật ra chỉ là nô lệ, mà so với những kẻ nô lệ khác nó còn nô lệ dữ dội hơn nữa. Bởi vì trong đó phải vào luồn ra cúi, nói một câu không dám nói, nhìn một cái không dám nhìn, tức là con người ta không có tự do, ở trong cái chỗ đó khổ, nên cụ than.
[12:12]Rồi sau này cụ sống cuộc đời nghèo khổ, nhưng mà làm nghề thuốc, nhưng mà cụ cảm thấy hạnh phúc, nhất là để dành thời gian mà gắn bó với chùa. Thì cụ hay đến bốc cái nhà thuốc ở đường Nguyễn Huệ và bây giờ là đường Điện Biên Phủ đó. Không biết giờ mấy nhà thuốc dẹp mất tiêu, không còn di tích. Chứ lúc đó là cái người Tàu họ mở cái nhà thuốc thì cụ xin vào để cụ bắt mạch. Nghĩa là khi cụ bắt mạch rồi cụ ra toa thì cái người mà bệnh nhân họ mới cầm toa đó họ bước qua bên quầy thuốc họ mua. Họ mua thì mỗi một người bệnh nhân như vậy cụ được cái nhà thuốc họ trả cái huê hồng, huê hồng là cái công mà bắt mạch.
[12:45]Mà bởi vì cụ bắt mạch hay cho nên khách đông thì coi như là cụ sống được. Vào cái thời đó, chúng ta thử tưởng tượng một cái ông lương y mặc cái áo dài ngồi bắt mạch nhưng mặc cái quần đùi, tại không có quần dài. Bây giờ thì mình không tưởng tượng hình ảnh đó, nhưng mà thời xưa nghèo quá rồi, đó là bình thường, có cái áo dài là đàng hoàng nhưng mà cái quần dài thì không bảo đảm là có. Cho nên thường cụ hay mặc cái quần lửng, bởi vì nó ngắn quá, quần đùi như kiểu mình không được, mà dài gần tới mắt cá thì không đủ vải, cho nên thường thường ngang đầu gối. Cái đó là bộ đồ đặc trưng của cụ: áo dài và quần đùi ngang đầu gối.
[13:22]Và lúc đó, cụ như vậy cho nên cụ không có bảo bọc được các con mình, mỗi người cũng có một chí hướng. Hai người con lớn là bà Thanh với ông Khiêm thì ở lại Nghệ An cũng đấu tranh chính trị gì đó chống Pháp gì bắt đi tù mất tiêu. Còn lại Bác Hồ là Nguyễn Sinh Cung rồi Nguyễn Tất Thành thì Bác Hồ đi dạy học ở Phan Thiết, rồi sau đó đi vào nam và chuẩn bị lên đường. Bởi vì sao? Bởi vì lúc mới sinh ra Bác Hồ thì cụ đã chấm tử vi xong hết rồi, cụ đã lập trình hết cuộc đời của Bác Hồ. Lúc con mình đẻ ra, cụ chấm xong cụ biết con mình nữa làm vua, cụ biết chắc, nên cụ dạy hết nghề. Cái nghề nho, y, lý, số mà nó xem tướng,
[13:59]đoán vận là bấm độn là Bác Hồ rành một cây. Cho nên đây là điều lịch sử không nói, nhưng mà đó là sự thật. Cho nên Bác Hồ có cái tài nhìn người, có tài bấm độn, xem tử vi. Sau này thì Bác Hồ phát triển thêm về thiền quán nữa. Bác Hồ ngồi thiền cũng rất là sắc, nên Bác Hồ giống như có thần thông, là biết được nhiều việc đặc biệt. Thì lúc đó là Bác Hồ cũng đi vào tới Sài Gòn, nghĩa là cụ Nguyễn Sinh Sắc á, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thì cũng ở Sài Gòn làm thuốc, thì Bác Hồ cũng vào Sài Gòn lúc đó làm việc làm ở cảng để tìm đường dây móc nối mà lên tàu đi. Thì cái ngày mà Bác Hồ chuẩn bị lên tàu đi thì mới đến chào cha mình ở nhà thuốc.
[14:38]Nhưng mà đến quỳ trước cửa, ngày xưa phong kiến, con cái đối với cha phải nghiêm một mực chứ không được mà hỗn láo đâu, không được mà nói ngang ngang. Lúc mà nói chuyện với cha phải khoanh tay, cúi đầu, đứng hầu một bên, kỹ lưỡng lắm. Thì lúc đó cụ trong bắt mạch, ngoài Bác Hồ quỳ xuống dưới cửa và chào cha để con đi, mà không nói rõ đi đâu nên cụ không thèm quay lại ngó, cụ không thèm quay lại ngó. Và thưa ba lần như vậy, đến lần thứ ba mới nói rằng: "Con đi xa, con đi ra bên nước ngoài." Thì cụ chỉ quay lại nói một câu: "Con muốn tìm đường cứu nước, con phải theo Đạo Phật." Một câu dặn dò. Lúc Bác Hồ cũng chưa hiểu hết, mặc dù lúc còn học ở
[15:19]nhà thì Bác Hồ có được cụ dạy cho Đạo Phật nhưng mà chưa nhiều, chưa nhiều, tại vì sau này lúc mà vào nam thì cụ mới bắt đầu là ngộ Đạo Phật lớn hơn. Rồi đến khi mà cụ nấn ná ở Sài Gòn để chờ tin, khi biết chắc rằng con mình đã bình yên đi tới bên trời Âu rồi, thì bắt đầu cụ mới lang thang bỏ nhà thuốc đi luôn. Cụ đi hết chùa này tới chùa kia để mà tìm hiểu Đạo Phật, tham gia các phong trào chấn hưng Đạo Phật, nhất là bắt tay cùng với cụ Khánh Hòa đi thăm hết các chùa này chùa kia để khuyến khích các vị hòa thượng cùng đứng lên chấn hưng Đạo Phật, mở trường dạy Đạo Phật. Cho nên cụ đã viết sách Đạo Phật và viết,
[15:56]dịch kinh Đạo Phật mà trong đó có cái tờ báo là Đông Pháp Thời Báo, cụ đã viết nhiều bài về Đạo Phật mà ký tên là TV, không ai biết gì. Mà sau này lật sử ra người ta mới đoán đó là chính cụ Nguyễn Sinh Sắc, vì lúc đó cụ Hồng Đạo, Hòa thượng Hồng Đạo bên Campuchia đó có nhận được những tờ báo đó, thì mới biết là cái người đệ tử quy y của mình là chuyên viết những bài về Đạo Phật cho Đông Pháp Thời Báo để mà kêu gọi mọi người đồng lòng đứng lên chấn hưng Đạo Phật, chớ Đạo Phật đã quá suy tàn. Thì đặc biệt lúc mà cụ làm quan ở ngoài Huế á, lúc cụ làm Thừa biện bộ Lễ, cụ có quen với hai vị quan lớn là một quan là Hữu quan Hộ giá
[16:35]cho vua Hàm Nghi và một vị là Tả quan Hộ giá cho vua Hàm Nghi. Nguyễn Văn Hiền á là Tả quan Hộ giá, mà sau này về đi tu ở chùa Phi Lai, Châu Đốc, có pháp hiệu là Hòa thượng Thích Chí Thành. Còn Lê Quang Hòa là Hữu quan Hộ giá cho vua Hàm Nghi, sau này đi tu trở thành là Hòa thượng Thích Thanh Kế mà trụ trì chùa Thiên Thai, Bà Rịa, hay lấy hiệu là Huệ Đăng. Thì hai vị này là hai vị cao tăng rực rỡ một thời. Hòa thượng Chí Thành ở chùa Phi Lai, Châu Đốc là một vị đắc đạo, cao tăng đắc đạo, mà sau này vô số những vị hòa thượng lớn của ta đều xuất thân từ chùa Phi Lai mà ra. Là khoảng chừng một tháng á thì cụ Chí Thành mới tụng kinh một lần,
[17:16]cụ mới lên ngọn đồi ngọn núi ở núi Châu Đốc cụ tụng kinh. Mà mỗi lần mà cụ tụng kinh á thì đệ tử á mới tạt ra hết, leo qua một ngọn đồi khác để nhìn về cái ngọn đồi của cụ tụng thì mới thấy chư thiên về thắp sáng rực cả một vùng đó, tức là trên mỗi một ngọn cây đều có một ánh sáng, một ánh sáng như một ngọn đèn. Mà đến gần thì không thấy, không thấy ngọn đèn nào hết, nhưng ở đằng xa nhìn lại thì thấy là cả một cái rừng đèn ở đó, mới biết là cụ Thích Chí Thành mà khi tụng kinh là chư thiên về tụ hội, là cái chùa của cụ thật là linh. Và 10 năm trước khi mất, cụ báo trước cho đệ tử biết là: "Tới năm đó ta mất." Mà vào năm đó mất thì cụ báo trước là ngày mất, giờ mất.
[17:55]Mà tới giờ mất là cụ báo là Phật tới và cụ ngồi tịch thì ánh sáng rực cả cái ngôi chùa, đến nỗi dân Châu Đốc tưởng là chùa cháy, lật đật chạy lại để chữa, nhưng không phải, cụ ra đi mà cả chùa rực sáng lên. Là lúc đó là cũng là bạn với cụ Nguyễn Sinh Sắc. Mà còn cụ Huệ Đăng, tức là cụ Thanh Kế tên là Lê Quang Hòa thì vào Bà Rịa xuất gia với tổ đình Long Hòa rồi dựng cái chùa Thiên Thai, cũng thành một cái vị giảng sư cũng như một tổ sư khai một cái phái lớn ở cái miền Đông Nam Bộ này, cũng nổi tiếng. Thì hai cái vị đó là bạn cho nên cụ Nguyễn Sinh Sắc hay tới lui để thăm viếng, để bàn bạc đạo lý với nhau và cũng bàn nhau cái công cuộc mà chấn hưng đạo pháp.
[18:40]Chúng ta nghe kể chút xíu đi nha. Đây là những điều mà lịch sử ít có nói tới. Đây cũng là cái dịp đầu năm, chúng ta nói về một người mà có công lớn trong Đạo Phật. Thì sau này cụ về Cao Lãnh cụ ở, cũng làm thuốc, cũng đi các chùa. Thì lúc đó có một nhân vật là đồng chí của Bác Hồ từ bên Quảng Châu về tên là Phan Trọng Bình, người này mới tìm về Cao Lãnh để thăm cụ, để báo cho cụ biết tin về Bác Hồ. Thì khi mà từ giã cụ để trở về Quảng Châu với Bác Hồ thì cụ dặn một điều, cụ cũng chỉ dặn một điều: "Các cháu muốn cứu nước, phải theo Đạo Phật." Câu đó được ghi trong sử. Chúng ta thấy cụ một lòng một dạ đối với Đạo Phật như vậy.
[19:21]Và những nơi nào mà cụ đi tới thì đều sau này trở thành những cái hang ổ cách mạng hết luôn, bởi vì cụ đã xây dựng sẵn cái tư tưởng mà kháng chiến chống Pháp giành lại độc lập cho quốc gia, là vậy. Hôm nay thì chúng ta phân tích cái câu đối ở chùa Tiên Linh. Hai câu đối thật là khó hiểu. Mỗi một câu á nó có hai cái ý. Thứ nhất là ví dụ như câu là: "Đại đạo quảng khai", tức là mở rộng cái đạo lớn, tức là việc mà hoằng dương truyền bá chánh pháp cho rộng lớn á. "Thố giác khiêu đàm để nguyệt" là như lấy cái sừng thỏ mà khều ánh trăng dưới đáy nước. Con thỏ có sừng không? Có ai thấy thỏ có sừng không? Không phải không?
[20:07]Như vậy, cái việc mà lấy cái sừng con thỏ là việc có không? Không có. Mà khều ánh trăng dưới đáy nước, ánh trăng dưới đáy nước có thật không? Không. Vậy khều ánh trăng dưới đáy nước có được không? Cũng không luôn. Cái câu thứ nhất. Cái vế đầu, "đại đạo quảng khai" là một cái lý tưởng lớn, là một công việc cao đẹp mà một người đệ tử Phật phải suốt đời theo đuổi, tức là làm cho đạo Phật được mở rộng lớn lao ra cho mọi người cùng biết. Nghĩa là đây là cái lý tưởng mà cụ cũng đeo đuổi suốt cuộc đời, lúc già của cụ. Nhưng mà trong khi đang lận đận, vất vả để mà đi khắp nơi kêu gọi mọi người chấn hưng đạo Phật như vậy, thì cụ lại vẫn coi là "thố giác khiêu đàm để
[20:47]nguyệt", là việc của sừng con thỏ khều cái ánh trăng dưới đáy nước. Việc đó có thật không? Có thật không? Không. Nên vì vậy khi mà cụ viết cái câu đối đó ra, mọi người xôn xao bàn tán và nhiều người không đồng tình, nói rằng cái việc mà lớn lao, vĩ đại như vậy, việc đại đạo quảng khai như vậy, là mở rộng cái đạo cả như vậy, mà tại sao cụ nói như chơi, nói như đùa là nói lấy cái sừng con thỏ để mà khều ánh trăng dưới đáy nước, cụ giỡn chơi? Hoặc là cái câu mà "thiền cơ giáo dưỡng", tức là nuôi lớn cái dòng thiền, là cái việc vĩ đại chứ, là một việc lý tưởng cao đẹp chứ. Vậy mà cụ thả câu thứ hai:
[21:24]"quy mao phược thụ đầu phong", là lông của con rùa cột gió trên đầu ngọn cây. Có ai thấy con rùa có lông không? Đã không có thì lấy gì mà cột, là chuyện không có. Gió đầu ngọn cây cột được không? Không. Tức là cái việc mà thiền cơ giáo dưỡng là việc lớn lao, vĩ đại của những người đệ tử Phật chân chính. Bởi vì sao? Bởi vì người đệ tử Phật chân chính nào cũng mong muốn làm sao cho trong đạo Phật có nhiều người đắc đạo. Hoặc là những bậc tông sư trong đạo Phật cũng vậy, lúc nào cũng mong cho đệ tử của mình có người nối tiếp đắc đạo thì mới giữ gìn được Phật pháp này. Thì cái việc mà nuôi dạy đệ tử nhập được thiền định
[22:06]cao siêu để giữ gìn Phật pháp, thì việc đó việc hệ trọng, việc đó là tận tụy cả một đời, việc cao siêu đối với muôn đời sau nữa chứ. Vậy mà cụ thả một câu như giỡn chơi là lấy lông con rùa cột gió trên đầu ngọn cây. Khi cụ mà lấy bút cọ cụ viết ào ào, chữ cụ rất là đẹp, cụ viết chữ ào ào ra, thì những cái người bạn ngồi tại chùa, lúc đó vì chùa đang trùng tu nên nhiều người tới và nhiều cái ông lão làng cũng nho đầy bụng, thì đọc hai câu đó rồi thì bất bình. Có người thì không hiểu, nghĩ rằng cụ có ý tứ cao siêu thì không nói gì, nhưng có nhiều người bất bình, tại nói là chuyện mà lý tưởng cao đẹp mà cụ làm chuyện
[22:44]giỡn chơi, cụ nói chuyện chơi. Nhưng mà quay qua chất vấn cụ, cụ cười không nói gì, giống như cụ chờ một người tri kỷ. Nghĩa là cái câu đối bí hiểm đó cụ để không giải thích và cụ chờ một người tri kỷ. Và hôm nay thầy cũng đem hai câu đó thầy nói lại để thầy đi tìm người tri kỷ. Ở đây có ai có tri kỷ hiểu được hai câu đó thì xin đứng lên, giơ tay. Thật ra muốn mà nói ra được hai câu đó, thì phải một trong hai hạng người này thì mới đủ sức mở miệng nói câu đó: một là phải đắc được thiền định, phải thiền định cao siêu. Cái thứ hai là thiền định ít cũng được nhưng mà đạo đức cực kỳ vững, thì mới mở miệng nói được câu này.
[23:31]Cho nên chính vì vậy khi mà thầy đọc hai câu này thì thầy ngạc nhiên. Thầy không hiểu là cụ chứng thiền tới mức độ nào mà dám mở miệng nói hai câu này. Bởi vì người bình thường không dám nói câu này. Người bình thường không dám giỡn chơi, đem đạo Phật giỡn chơi kiểu đó. Còn cụ dám đem cái chuyện đạo Phật giống như đem giỡn chơi, bởi vì cụ có kiến giải cực kỳ lớn. Hoặc là cái mức độ thiền định phải nhập được thiền cao siêu cỡ nào mới dám mở miệng nói câu này, còn không ai dám nói, mang tội chết. Đem chuyện đạo lớn mà nói đùa, mang tội chết. Nhưng mà cụ có cái sở đắc gì đó mới dám nói câu này. Và cũng như là cụ để lại một câu nói bí hiểm chờ cái tri kỷ
[24:09]đời sau, ai hiểu được mình, ai hiểu được mình hay không. Thật ra thì muốn hiểu câu này, nếu mà chúng ta đã nghe qua bộ kinh Kim Cang hai chục bài thì có thể hiểu được. Phật tử nghe kinh Kim Cang thầy giảng chưa? Một người gật đầu. Nghe chưa? Ráng về nghe giùm thầy nha. Thầy có giảng bộ kinh Kim Cang hai chục bài, phải nghe thấm bộ đó mới hiểu nổi hai câu này. Phải thấm bộ đó mới hiểu nổi hai câu này. Quý thầy, quý cô đã nghe hết hai chục bài Kim Cang rồi phải không? Hiểu không? Hiểu không? Hiểu không? Nhe răng cười, toàn là nhe răng hi-nốt trắng răng a thì... Thật ra cụ viết câu này là theo tinh thần của kinh
[24:54]Kim Cang, mà đúng tinh thần của kinh Kim Cang. Bởi vì sao? Bởi vì nói thật, kinh Kim Cang cũng không ai hiểu nổi luôn. Mà phải hiểu đúng kinh Kim Cang mới dám viết hai câu này. Nên nói rằng cụ có cái sở đắc gì đó trong đạo Phật rất là đặc biệt chứ không phải là đùa, sở đắc cũng khá cao. Thì ở đây, cái câu đầu là chúng ta thấy là một cái câu mà cụ viết rất là trịnh trọng, "đại đạo quảng khai" hay là "thiền cơ giáo dưỡng" là cái chuyện mà cụ viết rất trịnh trọng. Tức là cái chuyện mà đem cái đạo hoằng truyền khắp nơi để cho mọi người cùng hiểu, để cho đạo Phật được phát triển lên, cụ viết trịnh trọng là việc lý tưởng.
[25:32]Nhưng câu sau cụ phủ nhận, phải không? Câu đầu là một câu khẳng định, đẹp, trân trọng, nhưng cái vế sau phủ định. Câu sau cụ phủ định là gì? "Thố giác khiêu đàm để nguyệt" là lấy sừng con thỏ khều ánh trăng dưới đáy nước, coi chuyện không có. Và câu thứ hai: "thiền cơ giáo dưỡng" là nuôi dạy cái dòng thiền cho đệ tử để kiếm người đắc đạo á, để mà nối tiếp giữ gìn Phật pháp á, thì giống như chuyện lấy lông con rùa cột gió trên ngọn cây, giống chuyện không có, cụ phủ nhận luôn. Mặc dù cụ cũng đang lặn lội trên từng bước chân trên khắp nẻo đường, đi hết chùa này tới chùa kia để kêu gọi mọi người đứng lên chấn hưng Phật pháp.
[26:11]Trong khi đang vất vả, tận tụy như vậy mà cụ xem như chuyện không có, nghĩa là gì? Đạo lý này đạo lý gì? Làm mà không... không chấp công. Đúng không? Chịu không? Phật tử đồng ý không? Thôi bây giờ nói thế này, muốn hiểu cái này bây giờ thầy ví dụ một chút. Thật ra khi chúng ta làm việc gì mà vất vả, chúng ta hay chấp công lắm. Ví dụ bây giờ quý Phật tử vô chùa thì cũng muốn mình công quả có phước phải không? Cái bữa đó mình là người tới sớm một chút, cái mình nhìn ở đằng sau thấy nhiều người tới sau mình nữa, lúc đó mình cũng chưa ăn cơm, bụng đang đói, mà cái lật đật chạy vô thôi lo dọn cho Phật tử đi sau mình ăn, còn mình ăn thừa sau cũng được.
[26:53]Chạy ra chạy vô, chạy vô nhà bếp xin bưng này, bưng chén, bưng đũa, bưng mâm, bưng cơm rồi ra, rồi mời quý Phật tử tới sau mình. Tức là mình là người cũng đang đói meo, mình cũng là khách nhưng mình lại lo cho khách đến sau mình. Thì cái việc đó tốt không? Quá tốt đi nha. Người nào đến chùa mà cũng như vậy thì cái đạo Phật rất là đẹp. Thì mình làm vậy mình vui không? Vui. Nhưng mình có nhớ công không? Nhớ. Nhớ, về tới nhà thì gặp ai cũng kể: trời, tôi buổi sáng nay bụng đói meo chứ mà tôi vẫn lo dọn cho người khác ngon lành này kia nọ. Tại vì sao? Bởi vì mình cực cái thân, cái thân mình chạy tới chạy lui, chạy tới chạy lui.
[27:29]Cái mồ hôi nó ra nhễ nhại rồi đó. Cái cực nó làm cho mình nó ghi vào bộ nhớ mình rất là lâu, làm cho mình nhớ là à buổi sáng hôm đó mình đã làm được một việc thiện là phục vụ cho những người Phật tử khác đến sau mình, là mình nhớ lâu, đúng không? Đúng không? Đúng. Hoặc là ở nhà mình cũng vậy, cái có cái đoạn đường nó hư, cái mình kêu gọi mọi người hoặc là mình vác cuốc ra mình đắp đường, cái mình nhớ công đó không? Không bao giờ quên. Không bao giờ quên, chuyện gì quên, mình mắc nợ người ta mình quên, chứ mà mình đi đắp một con đường không bao giờ quên. Ờ. Đó, nên cái đó là ghi xương khắc cốt, ghi xương khắc cốt.
[28:05]Như thầy cũng vậy, hồi xưa mà chưa đi tu thì thầy cũng đi đắp đường, bây giờ hễ thầy nhớ cái gì tươi đẹp thì cũng nhớ mấy đoạn đường thầy đắp à. Nên mình biết là cái chấp công của người ta dữ dội lắm khi mà mình bỏ công bỏ sức lao động mình ra. Bỏ tiền vậy chứ dễ quên. Vì sao? Bởi vì nhiều khi ví dụ mình có tiền kha khá, mình dễ mình bỏ tiền ra mình cúng dường mình cho người này người kia, mình quên liền, không nhớ. Nhưng mà cái công lao á, đổ mồ hôi xót con mắt, nhễ nhại á, vậy chứ mình không quên được. Cho nên cái chấp công nó rất là khủng khiếp. Vậy mà người nào tu theo đạo Phật thì phải tu cái hạnh quên công.
[28:37]Tức là làm được nhiều điều tốt đẹp, đổ mồ hôi xót con mắt, phục vụ được nhiều người, nhiều người được ích lợi, vậy mà mình phải ráng quên cho bằng được, quên một điều rất khó quên, quên một điều rất khó quên. Trong đời mình cái gì mình khó quên nhất? Trong đời mình cái gì mình khó quên nhất? Thầy không biết. Thầy đi tu, thầy không biết điều gì khó quên nhất. Mà thầy có nghe một nhạc sĩ nói "Có những niềm riêng lòng không muốn nhớ, nhưng sao con tim cứ luôn mộng mơ". Thầy không biết, mấy tụi con chắc biết. Thấy cười mỉm chi chắc trúng tim đen. Thì không biết là có cái gì đó nó khó quên phải không? Trong đời mình.
[29:17]Nhưng mà sự thật á, những cái điều tốt đẹp, cao cả, thiện nguyện mà mình làm cho cuộc đời, làm cho con người mình cũng rất khó quên. Bởi vì sao? Bởi vì nó cũng là niềm vui của mình. Có những khi mình buồn nhưng mình nhớ lại những việc thiện mình đã làm được, à ngày đó mình đã giúp cái gia đình kia, ngày nọ mình đã cứu cái người giữa đường bị tai nạn, hoặc là có người nghèo nào thê thảm mấy ngày Tết mình đã cho họ gạo về ăn Tết, vân vân. Những việc thiện đó nó nuôi dưỡng tâm hồn mình suốt đời, làm cho mình vui hoài. Vậy mà trong giáo lý đạo Phật, phải khắt khe buộc mình phải quên những điều đó cho bằng được, không được nhớ tới, không được nhớ.
[29:53]Vì vậy, chỉ có những cái tâm hồn mà rất là định, vào được định tâm rỗng rang như hư không thì làm mới quên. Còn tất cả chúng ta thì làm đâu nhớ đó. Cho nên vì vậy, khi mà cụ buông cái câu mà cụ nói rằng "Đại đạo quảng khai, thố giác khiêu đàm để nguyệt" thầy giật mình liền, thầy đọc cái câu này thầy hết hồn liền. Tại vì trong thời điểm đó là cụ đang lang thang, đi bộ, ngày xưa đi bộ nha, từ nơi này qua nơi kia, kêu gọi chấn hưng đạo Phật. Vậy mà trong lúc mình đang vất vả như vậy mà cụ dám coi cái việc đó là như không, như là lấy sừng con thỏ khều ánh trăng chơi vui dưới đáy nước á. Thì thầy không hiểu là cụ chứng thiền cỡ nào mà tâm có thể tự tại được như vậy.
[30:34]Hoặc là cụ rất đạo đức mà cũng có an trú được một chút thiền mới có thể mà có cái tự tại không chấp công như vậy, chứ không phải dễ. Và cái yếu chỉ mà làm những điều cao cả cho cuộc đời, nhất là làm những điều cao cả cho Phật pháp mà quên công, không nhớ công mình là một điều thực sự là vĩ đại, thực sự là vĩ đại. Chứ thực ra thì thầy cũng biết là cụ đi lang thang chùa này qua chùa kia học rồi dịch kinh, thậm chí như cái chùa Linh Sơn ở đường Cô Giang ở quận Nhất Sài Gòn cũng là nơi mà cụ ở hằng đêm. Ban ngày cụ ra ngoài tiệm thuốc Bắc làm, ban đêm là về chùa Linh Sơn nghỉ. Chùa Linh Sơn cũng là di tích của cụ Nguyễn Sinh Sắc á.
[31:11]Rồi sau đó đi qua Bình Dương ở chùa Hội Khánh, à đi chùa Phi Lai Châu Đốc, rồi Bà Rịa, Bến Tre, Mỹ Tho, Cai Lậy và cuối cùng về định cư Cao Lãnh và mất tại đó. Thì vất vả chứ, lo đạo vất vả mà cụ xem như là lông rùa sừng thỏ, nên chúng ta thấy cái mà không chấp công đó là phải xuất phát từ một tâm rất tự tại, làm cho thầy ngạc nhiên. Chứ chúng ta thường bị rơi vào hai cái lỗi, một là mình nhiệt tình mình làm Phật sự, ví dụ mình tham gia với chùa, chùa quý thầy, quý cô sai cái gì mình làm cái nấy, làm xong rồi mình nhớ, chấp công, đi đâu cũng khoe, hoặc là một cái cực đoan thứ hai là cái người là xem tất cả mọi chuyện trên đời như không rồi không làm gì hết.
[31:51]Không làm gì hết, đây là một cực đoan. Còn cái trung đạo mà đúng nhất là nhiệt tình làm tất cả mọi Phật sự cao quý và không chấp công. Đây cái trung đạo này rất là rất là khó, ừ.
[32:05]Ngày hôm nay là ngày đầu năm mùng 1, chúng ta kể cho nhau nghe về cuộc đời và hai câu đối của cụ Phó bảng. Tức là cuộc đời của cụ là như vậy, gắn bó với đạo Phật, có công lớn trong việc chấn hưng đạo Phật vào những thập niên 20. Và chúng ta nghiên cứu cái ý nghĩa hai câu đối của cụ, chúng ta bất ngờ thấy rằng nó hoàn toàn phù hợp với đạo lý của kinh Kim Cang mà nó phải xuất phát từ một tâm hồn rất là tự tại, tức là người có tu, có chứng cái gì đó, ừ. Hôm nay đọc lại hai câu đối đó, ta nhắc mình phải làm cái điều gì để cho đạo Phật được hoằng khai. Vì còn rất nhiều người trên cuộc đời này chưa biết đạo.
[32:46]Là người ta chưa biết đạo thì người ta không biết nhân quả, không biết nhân quả thì người ta sẽ làm nhiều điều lầm lỗi. Và người ta không biết đạo, người ta sẽ mãi chạy theo những cái danh lợi phù ảo, không biết dừng lại để đi tìm một cái nó cao hơn cái danh lợi của thế gian này. À người ta không biết đạo, người ta cứ tự làm khổ mình và làm khổ những người chung quanh mình. Cho nên vì vậy, chúng ta là những người đệ tử Phật, chúng ta may mắn chúng ta biết đạo rồi, chúng ta biết kiềm chế mình rồi, chúng ta biết tránh điều ác, chúng ta biết làm điều thiện, chúng ta biết mơ ước, khát khao về cái mục tiêu cao thượng vượt khỏi thế gian tầm thường này.
[33:23]Chúng ta biết giữ mình trong an vui và giữ cho mọi người chung quanh mình cũng được an vui. Chúng ta có được những điều may mắn đó thì bổn phận còn lại của chúng ta là phải đem cái lợi ích, đem cái đạo lý, đem Phật pháp đó đến cho tất cả mọi người. Thì cái lý tưởng mà đem đạo lý này đến cho tất cả mọi người thì đây là cái mà cụ gọi là đại đạo quảng khai. Còn những người mà đi xuất gia mà nuôi dạy đệ tử thì gọi là thiền cơ giáo dưỡng, ha. Thì cái việc mà người Phật tử làm cho đại đạo được quảng khai, cái người xuất gia làm cho thiền cơ giáo dưỡng thì đây là những nhiệm vụ cao đẹp của bất cứ ai là đệ tử của
[34:03]Phật, là của tất cả chúng ta, những điều mà chúng ta phải theo đuổi suốt cuộc đời của mình. Nhưng dù theo đuổi suốt cả cuộc đời, dù tận tụy suốt cả cuộc đời, chúng ta phải xem những việc mình làm được như là, như là? Không! Nhớ nha, phải như là không. Những điều chúng ta làm được cho đạo, cho cuộc đời, cho chúng sinh phải xem như không thì như vậy chúng ta mới có thể giải thoát được. Còn người làm được những việc tốt rồi mà cứ nhớ cứ chấp công thì không thể giải thoát được. Thì cái việc mà đem đạo lý đến cho người khác á, hoặc là chính chúng ta mình bằng cái trí tuệ của mình, mình nói chuyện, mình dẫn dắt người khác họ hiểu đạo,
[34:44]hoặc là mình nhờ vào cái đạo lý của người đi trước, nhờ vào cái băng giảng, nhờ vào cái sách, vào những tài liệu có sẵn, mình cũng phụ truyền bá cũng đều là cái cách để làm cho đại đạo được quảng khai, ha. Ờ thầy có vài cái câu thơ để chúc Tết quý Phật tử nhân đầu năm. Cái thiệp chúc Tết có đem lên không? À, có. Rồi sau khi đọc bài thơ chúc Tết này, à thầy sẽ phát mỗi người một bài nhạc. Thầy, cuối năm nay thầy có viết được hai bài nhạc, một bài là "Hạnh phúc là khi" và một bài là "Chung một niềm đau" để viết về sóng thần. Mùng 4 hay mùng 5 gì thầy sẽ giảng cái bài về sóng thần, nếu ai muốn nghe sóng thần thì lên lại, còn không thôi.
[35:25]À cái bài "Hạnh phúc là khi" á, để thầy nói cái tâm sự chút xíu. Bởi vì thầy bận rộn cho nên nhiều khi cái thời gian thầy lạy Phật lại không được nhiều. Có khi mình định là sắp lạy Phật nhưng công việc nó xảy ra cái là thầy lại không thể lạy Phật. Cho nên lúc nào mà lạy Phật được thầy mừng, nhiều khi quỳ trước bàn Phật thầy hạnh phúc và thầy không muốn cầu nguyện điều gì nữa, chỉ an trú trong cái lòng tôn kính Phật và lạy lên lạy xuống là mà lúc đó thầy cảm thấy hạnh phúc lắm. Cho nên thầy có bật lên cái câu thơ là: "Hạnh phúc là khi quỳ dưới chân Người, đường đời gian nan đau khổ không nguôi.
[35:59]Hạnh phúc là khi tìm đến bên Người, tắm trong ánh sáng tình thương rạng ngời." Rồi mình nhìn ra cuộc đời cũng vậy, mình nói: "Hạnh phúc là khi người biết thương người." Đó như vậy, nhìn ra thấy mọi người thương nhau cũng làm cho mình được hạnh phúc. Và thầy muốn viết nó thành bài nhạc, cái ý thì hay, muốn viết thành bài nhạc mà 2 năm viết không được. Cứ mãi cho tới cái trước lễ Thành Đạo á, cái bắt đầu mới viết được thành một bài nhạc rồi anh Bảo Phúc ảnh hát ảnh hòa âm nghe rất là hay. Rồi sau Thành Đạo, lúc đó là cả thế giới đang đau cái niềm đau về cơn sóng thần, cả 300.000 người chết thì thầy cũng viết một bài.
[36:33]Ờ chủ yếu thầy viết cho thầy Thiện Hòa hát, nhưng mà rồi anh Bảo Phúc ảnh làm ảnh cũng hát và ảnh hát cũng hay như thầy Thiện Hòa. À Lát chúng ta sẽ nghe anh Bảo Phúc hát. À "Loài người chung nhau nỗi đau khi bao thân xác chôn vào nước sâu", cái bài nhạc như vậy, lát sẽ nghe. Bây giờ chúng ta nghe cái bài thơ chúc Tết con cóc của thầy một chút xíu ha, rồi phát thiệp và phát bài nhạc. Quý thầy, quý cô đem nhạc phát cho Phật tử trước nha. Có nghe gió lạnh ngoài sân, có con chim hót mùa xuân đã về. Tiếng cười rộn rã bên hè, cành hoa tươi thắm như khoe sắc hồng. Đầu năm dâng một tấm lòng, thương yêu nhân loại cùng chung mái nhà.
[37:19]Biết bao tai họa năm qua, chiến tranh, bệnh tật, người xa vắng người. Thôi thì còn lại nụ cười, tặng nhau như một ngàn lời chúc xuân. Mong sao sẽ có vạn lần, bình yên, hạnh phúc thấm nhuần hành tinh. Phật pháp rồi sẽ xương minh, soi đường nhân loại, nối tình anh em. Chúc nhau năm mới ấm êm, nhiều thêm may mắn, nhiều thêm phước lành. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.