Transcript: Quy Sơn Cảnh Sách

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:17:22

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên chư Tôn đức. Kính thưa quý Phật tử, trong cái mùa an cư kiết hạ thì quý thầy phải tu và học hơi nhiều. Rồi hôm nay lại là sáng chủ nhật có cái bài giảng, quý Phật tử cũng về nghe ké, cũng là ủng hộ cái tinh thần tu học của trường hạ chùa Huệ Minh. Nhiều vị ngồi ở trong cái pháp hội này cũng là những vị giảng sư tôn đức nhưng mà cũng hết sức là khiêm tốn, cũng ngồi đây lắng nghe cho nên chúng con xin hết sức là kính ngưỡng quý ngài như vậy. Các ngài ngồi như để chứng minh cho chúng con giảng cái bài hôm nay. Còn lại đại chúng thì ta lắng lòng để mà ráng học.

[0:49]Hôm nay chúng ta cùng với nhau học cái bài Quy Sơn Cảnh Sách, là một cái áng văn cực kỳ quan trọng đối với người xuất gia. Nên quý thầy phải có vở viết đàng hoàng. Và sau cái bài này phải làm bài để chấm điểm. Mà ai viết dưới 5 trang giấy A4 là không điểm, không cần biết hay hay không. Từ 5 trang giấy A4 trở lên mới chấm điểm. Mà giao cho Thượng tọa Minh Thiện chấm nha. Thầy Chánh Na, Phó Na, chúng trưởng chấm cái bài này. Và cái điểm số bài này là ta sẽ lấy vào cái cái điểm số thành cái thành tích quan trọng để xét khen thưởng cuối mùa hạ này, nên quý thầy phải hết sức vậy. Còn nếu mà quý Phật tử mà nghe bài này xong, rồi cũng làm bài nộp lên,

[1:37]mà nếu mà hay thì thầy đề nghị Hòa thượng cho xuất gia luôn cuối hạ này luôn. Không ở nhà nữa, bắt vô tu luôn.

[1:47]Cái bài Quy Sơn Cảnh Sách này thì ai đi xuất gia vào chùa cũng phải học cho đàng hoàng. Nên vì vậy là từ thuở mà làm điệu các chùa, quý thầy đều học hết rồi. Học và trả bài và tụng như là cháo, tụng mà thuộc hết như là cháo. Mà cái bài văn này là bài văn của một vị thiền sư, nhưng mà các vị chùa Tịnh Độ đều học rất kỹ, mà trong khi mấy cái nhà thiền nhiều khi mấy cái thiền viện thì lại lơi lỏng, chứ các chùa Tịnh Độ đều học kỹ, rất kỹ cái bài văn này. Ngày hôm qua chúng tôi về chùa Khánh Sơn ở Sóc Trăng cũng giảng ở trường hạ. Thì khi vào mới ngồi hầu chuyện với Hòa thượng. Hòa thượng cũng là Phó Ban Trị sự Thường trực của Tỉnh hội,

[2:37]cũng là Hóa chủ của cái trường hạ, cũng là Viện chủ cái chùa đó. Mới thưa với Hòa thượng, nói: Bạch Hòa thượng, Hòa thượng cho con xin phép hôm nay giảng cái bài là Tịnh tu tam nghiệp. Cuối bài xin Hòa thượng cho con hướng dẫn thiền cho đại chúng. Hòa thượng nói: Rất hay vì trong trường hạ này ngày nào Hòa thượng cũng bắt ngồi thiền. Nghe mình giật mình, cái mừng liền. Giật mình, ôi thì ra là Hòa thượng là ổng đã mở đường lâu. Hòa thượng nói luôn ba câu, cho thâu băng quay phim lại liền. Nói thứ nhất, cái người tu mà không biết thiền thì không gọi là người tu. Nào giờ mình cứ tưởng Hòa thượng tu Tịnh Độ không

[3:17]chứ, thì ra ổng mới nói một câu xanh dờn: cái người tu mà không biết thiền không phải người tu. Thứ hai, giống như trong biển, trong nước biển lúc nào cũng có vị muối mặn thì cũng vậy, trong Phật pháp, trong người tu lúc nào cũng phải có cái chất thiền ở trỏng, không thể khác được. Rồi cái Hòa thượng nói luôn câu thứ ba, ổng nói: Hễ mà tu đúng rồi, chứng giống nhau hết. Nghe quỳ xuống đảnh lễ Hòa thượng luôn, nói Hòa thượng quá tuyệt vời. Bởi lúc đó nghe Hòa thượng nói rồi chúng tôi mới mới tâm sự, nói: Bạch Hòa thượng, như con thì con xuất thân trong nhà thiền thì hồi làm điệu thì con cũng ở chùa Tịnh Độ

[4:01]thì thì con lại cứ nhìn đạo Phật trên cái nhãn quan của thiền và cứ nghĩ rằng là thiền là cái lõi của đạo Phật, cho nên ai mà đi vào cái lõi rồi thì mới gọi là cái người người tu giỏi trong đạo Phật, cứ nghĩ như vậy. Nhưng đến khi mình tu lâu rồi khi lớn lên rồi đi gặp vị này gặp vị kia thì cũng mới phát hiện ra một điều, có những vị ở những cái tông khác không phải thiền mà họ chứng thiền. Nhìn vào đôi mắt các vị, nhìn phong cách các vị, nhìn vào lời nói, nói: ủa, vị này chứng thiền rồi. Nhưng mà mấy vị thì lại không nhận mình là thiền. Rồi mới ngồi cứ suy tư về cái điều đó thì mới hiểu rằng một điều

[4:49]là đúng là Phật dạy đúng á, tám vạn bốn ngàn pháp môn mà nếu ai thực hành đúng cái Giới Định Tuệ cái sở chứng giống nhau cả. Đó là lý do mà chính trong các tông Tịnh Độ những bài tụng, những bài sám hay là bài dẫn toàn là ý thiền, ý thiền thật là cao siêu. Ví dụ như trong chùa vậy, vào tu là học cái bài Quy Sơn Cảnh Sách này, đây là một bài của Thiền tông nhưng mà chính chùa Tịnh Độ lại là người học bài này giỏi nhất. Nên thật ra Phật pháp đúng rồi không có nhiều lối, giống như là ngài Lâm Tế vậy, khi ngài ngộ rồi ngài mới nói: ồ, Phật pháp Hoàng Bá không có nhiều, không có nhiều lối, cũng là một đường cả thôi.

[5:33]Thì kính thưa chư tôn đại chúng! Ngài Quy Sơn viết lên cái lời cảnh sách này là một vị đại thiền sư lẫy lừng Trung Hoa thời xưa. Ngài sinh năm 771, mất năm 853, tức là ngài thọ 83 tuổi, cùng với đệ tử mình là Ngưỡng Sơn, hai tổ tông Quy Ngưỡng, mà ngài có tướng mạo cực đẹp. Một thiền sư rất là lẫy lừng của Trung Hoa. Cái chữ cảnh sách thì ta có thể dịch là lời dạy nghiêm khắc. Nếu dịch chữ Quy Sơn Cảnh Sách tức là lời dạy nghiêm khắc của ngài Quy Sơn. Quy Sơn là cái địa danh nơi ngài ở nên người ta không dám gọi tên ngài. Tên của ngài, pháp hiệu ngài là Linh Hựu, ngài mất rồi thì vua ban cái hiệu là Đại Viên,

[6:21]nên bây giờ người ta hay gọi là Đại Viên Quy Sơn Cảnh Sách, là thiền sư vậy đó. Thiền Đại Viên thiền sư Quy Sơn Cảnh Sách là đại khái là như vậy. Nhưng mà cái Quy Sơn là nơi cái núi ngài ở. Mà cái núi của ngài ở cũng là một cái sự tích kỳ đặc. Ban đầu thì ngài theo học với ngài Bá Trượng Hoài Hải. Thì khi học với ngài Bá Trượng Hoài Hải, trong tâm ngài đã có cái sở ngộ rồi, tức là trong tâm linh đã có chứng được cái gì đó rồi. Thì ngài Bá Trượng mới thấy đây là một người pháp khí mới cho theo hầu mình làm thị giả để còn có cơ hội mà dạy thêm. Thì có một lần hai thầy trò ngồi với nhau, cái nhìn cái đống củi mùa đông nó tắt.

[7:04]Cái ngài Bá Trượng mới hỏi: Còn lửa không con? Thì cái câu này nếu mình nhìn theo bình thường mình sẽ tưởng là chắc ông thầy mình ổng hỏi là còn củi không, lửa không để đốt cho nó ấm. Nhưng mà ngài Quy Sơn hiểu ngay thầy mình dò tâm mình tu chứng tới đâu. Cho nên ngài mới nói: Dạ còn. Cái ngài Quy Sơn mới hỏi: Đâu? Cái ngài mới cầm cái cây củi lên, thật ra cây củi nó không còn lửa, ngài thổi phù, phù, phù. Cái ngài Bá Trượng lắc đầu, chê. Chê cái câu thế này: Giống như con sâu mà nó đục trên cái vỏ cây thấy nó cũng ngoằn ngoèo ngoằn ngoèo mà nó không ra chữ gì hết, không có nghĩa gì hết. Thì cái việc mà con cầm cái cây củi lên mà thổi phù phù phù đó,

[7:54]để bày tỏ cái kiến giải của thiền á, thấy thì nó giống thiền á, nhưng mà chứng chưa tới, chưa phải là cái sở ngộ toàn triệt. Thì thôi chuyện đó đi qua. Ở đây có ai hiểu chỗ này không ạ? Nếu ai hiểu cái đoạn công án này thì mình cũng là thiền sư. Là việc mà ngài cầm cái cây củi lên ngài thổi phù phù phù để trình bày cái kiến giải sở ngộ của ngài, thiền là chỗ đó, cầm cây củi lên thổi phù phù phù ba cái, ngài trình bày cái kiến giải. Đây ai hiểu không ạ? Nhưng mà cái kiến giải cỡ đó bị ngài Bá Trượng chê. Giống như con sâu đục thân, đục thành những cái nét ngoằn ngoèo trên vỏ cây hổng ra chữ gì đúng không ạ, không có nghĩa.

[8:40]Nên chỗ con thấy chỗ con chứng thật ra nó chưa tới. Rồi chuyện đó đi qua. Một lần khác, vào đêm, thì cũng cái đống củi đó một lần nữa tắt. Cái ngài Bá Trượng lại hỏi lại một lần nữa: "Còn lửa không con?" Thì ngài Quy Sơn này cũng hiểu là thầy mình hỏi thiền chứ không phải là hỏi còn lửa củi gì hết. Ngài mới trả lời câu này: "Dạ thưa thầy, hết lửa rồi."

[9:10]Câu này ta hiểu không ạ? Ngài Bá Trượng mới bước xuống ghế, lại vạch vạch trong cái đống tro tàn đó gắp lên được một cái đốm than cỡ lớn vầy đưa trước mặt ngài Quy Sơn: "Con nói hết lửa rồi, cái này là cái gì?" Ngay đó ngài Quy Sơn đại ngộ liền, cái sức ngộ, chứng ngộ cao siêu liền, được ngài Bá Trượng ấn chứng liền. Nói: "Đây bắt đầu là con đường rẽ, con như thế mà tu, rồi mà giữ gìn Phật pháp." Đây ai hiểu ạ? Hai cái công án vừa rồi ai hiểu? Đó. Thì ngài Quy Sơn ở lại với ngài Bá Trượng 20 năm, tu hành nghiêm túc, nhưng mà ngài cũng là một người có học vấn rất là giỏi, văn từ chương cú rất là giỏi.

[9:59]Có một hôm có cái ông thầy địa lý đến thăm ngài Bá Trượng, trong khi chuyện vãn cái ông mới nói: "Tôi đi ngang ở cái vùng Quy Sơn, thấy có cái vùng núi đẹp quá. Cái núi đó mà mà nếu mà lập tu viện mà tu thì chúng tập về cũng phải được 1.500 người." Cái ngài Bá Trượng mới nói: "Vậy ông nhìn tướng ta có về đó lập đạo tràng được hay không?" Cái ông phong thủy ổng mới nói: "Núi đó là núi thịt, còn ngài là người xương, nếu mà ngài có về thì chúng cũng không quá 500 người." Hôm nay ta nghe cái câu chuyện phong thủy, tướng số nha, lọt trong đạo Phật nha, cũng lạ như vậy. Cái ngài Bá Trượng nói: "Vậy ông coi trong chúng ta ai là người có thể về

[10:44]làm chủ cái Quy Sơn đó?" Cái ngài mới kêu từng người ra thì cái ông thầy phong thủy ổng liếc qua liếc lại ổng không chịu ai hết, tới chừng ngài Quy Sơn đi qua một cái vừa mới tới chưa kịp biểu diễn thời trang, thì ổng nói: "Đó đó, đó là chủ Quy Sơn." Thế là ngài Bá Trượng nói: "Thôi vậy là cái duyên của con, thôi con đi về Quy Sơn mở đạo tràng." Mà ông thầy cho đệ tử đi về cho có cái tay nải không à, không cho gì hết trơn. Ngài ác thiệt, ngài Bá Trượng công nhận ác thiệt. Giờ ngài tịch ở trên trời cao mình giờ mình trách ngài ác, chứ cho đệ tử đi đáng lẽ phải cho bao nhiêu người đi theo, cho ít vàng bạc rồi bỏ túi hén.

[11:22]Cái ngài cho đi không à, trời ơi. Về cái núi Quy Sơn đó là một khu rừng rậm, cái ngài lên đó ngài ngài bắt cây ở tạm trong hang, trong khe đá mà gác cây đồ ở đỡ, rồi đâu có ai biết đâu mà cúng, ngài mới lượm trái lật, trái dẻ gì ăn đỡ, rồi gặp cọp, núi rừng mà, gặp cọp. Ta mới thấy cái dũng của một con người mà họ đạt được cái sức thiền định. Đối diện trước con cọp, ngài nói: "Nếu ta có duyên ở núi này hóa đạo thì các ngươi đi chỗ khác nhường cho ta. Còn nếu ta không có duyên, các ngươi cứ ăn thịt." Ngài nói một câu con cọp bỏ đi liền. Thấy dễ sợ chưa, chứ con cọp mà nó thấy cái con gì mà nó ăn được nó đâu có tha.

[12:10]Chúng tôi cũng phát hiện ra làm cách nào cho cọp sợ nha, chúng tôi cũng thử một lần.

[12:17]Nhưng mà cũng thử thử, nhưng mà cái lần đó thì con cọp nó ở trong lồng, mình ở ngoài, chứ không dám bước vô. Bước vô sợ không có về Huệ Minh để mà nhập hạ được. Có lần đó đi Lào, cái người Phật tử họ có cái trại hổ họ mời vô coi mấy con hổ. Ồ hổ mấy trăm con đầy hết lồng này lồng kia vậy. Thì chúng tôi có đứng đứng nhìn nó để xem cái tâm lý như thế nào. Khi đứng quan sát nó một hồi thì mình phát hiện cái tâm lý con cọp nó là thế này: nếu mình gặp cọp á mà mình chạy thì nó phóng theo nó ăn liền, tại nó biết mình là sợ nó. Mà nếu mình chọc giận nó, mình thủ thế mình đánh thì nó nó ra mặt đại ca, nó ra mặt xã hội đen nó đấu với mình liền, tại cọp nó rất là hăng.

[13:01]Nhưng mà nếu mình gặp nó mà tâm mình bình thản, bất động, không sợ thì nó sợ mình.

[13:09]Lạ như vậy. Cái lúc đó cái chúng tôi mới thử, mới thử đứng nhìn mấy con cọp lặng lẽ với cái tâm thanh thản thử, thì đúng là ba con lại nó quỳ xuống nó chầu xuống. Cái mọi người la lên chụp hình này kia nọ. Chúng tôi nói: "Ờ, vậy là cái suy nghĩ mình đúng. Là như vậy là các thiền sư ngày xưa mà gặp cọp không sợ là chỉ vì cái tâm này: là không sợ hãi bỏ chạy, cũng không khiêu khích nó, mà giữ cái tâm bình thản." Con cọp nó linh tánh nó nhận ra điều đó nha. À nó biết đây là cái người mà không nên ăn thịt, thì thôi. Thì ngài ngài về Quy Sơn như vậy, khi mà bắt đầu cọp nó tản ra nó đi, nó nhường lại cái chỗ cho ngài, thì dân bắt đầu mới kéo lên để đi lấy củi,

[13:49]săn bắn, mới phát hiện có một ông sư ở trong hang mà dung mạo đẹp, dung mạo đẹp ngời, cái họ mới kéo lên họ cất cất chùa cho cho ngài. Từ đó ngài mở mang mà đúng như cái ông thầy phong thủy nói, chúng của ngài không bao giờ dưới 1.500 người. Thì ngài hóa đạo cao siêu, nhiều đệ tử về cũng được ngộ đạo, nhưng mà ta phải hiểu với 1.500 con người đó không phải ai cũng là người chân chính tu hành, không phải ai cũng là người tinh tấn, tiến đạo nghiêm thân, tam thường bất túc như lời ngài dạy. Cũng có những người nghĩ này nghĩ kia, bê bối, buông lung. Cũng không phải là tất cả 1.500 người đều là đệ tử của ngài,

[14:36]mà có những người y chỉ thôi, họ xuất gia từ đâu á rồi tìm đến để tu học. Mà bên Trung Hoa cái thời đó nhiều lắm. Tức là họ xuất gia với ông thầy này, nhưng mà nghe ông thầy khác mà có cái bản lĩnh kỳ đặc là đảnh lễ thầy mình nói: "Xin cho con đi tham học." Và các thầy cái thời đó cũng vậy, cũng mở rộng lắm, hễ đệ tử mà có chí tham học mà nghe nói về chỗ nào tốt là hỗ trợ cho đệ tử mình đi. Nên vì vậy nên mới gọi là giữa chốn tùng lâm. Các vị ngày xưa dùng cái chữ tùng lâm thì không phải là một chùa, mà là một rừng chùa, chung một cái khu rừng tùng, cây tùng giống nhau. Cho nên nói là chốn tùng lâm thì ta đừng nghĩ là một ngôi

[15:18]chùa, mà chữ tùng lâm này ta nghĩ là tất cả chùa trong một cái tăng đoàn, trong một cái giáo hội chung với nhau. Cho nên khi nói là: "Ồ, ngài là người nổi bật trong chốn tùng lâm" thì không phải là ngài nổi trong cái ngôi chùa của ngài, mà tất cả các ngôi chùa đều biết tiếng ngài. Chữ tùng lâm ngày xưa có nghĩa là như vậy. Thì ngài có một người đệ tử nổi bật là ngài Ngưỡng Sơn. Ngài Ngưỡng Sơn sau này người ta gọi là Tiểu Thích Ca, vì lúc mà ngài Ngưỡng Sơn giáo hóa có một ông sư Ấn Độ ổng bay trên trời ổng đáp xuống chùa. Ổng bay ổng đáp xuống cái ngài mới ngài Ngưỡng Sơn mới hỏi: "Ông đi từ lúc nào mà giờ này mới tới?" Nói:

[15:55]"Dạ đi hết một ngày." Cái ngài Ngưỡng Sơn chê chứ: "Đi gì lâu vậy? Từ Ấn Độ qua đây mà đi ngày lâu vậy?" Thì như vậy ngài Ngưỡng Sơn có biết bay không ạ? Ngài biết bay ngài mới chê ông kia chứ. Cái thời đó mình không hiểu nổi cái sức chứng của các ngài, khiếp thiệt. Ông Ấn Độ ổng bay trên hư không ổng đáp xuống chùa mà ngài hỏi: "Đi từ..." ổng nói là: "Ngài là từ con từ Tây Trúc qua đây." Ngài mới hỏi: "Đi từ lúc nào?" Nói: "Đi từ lúc sáng, giờ chiều tới." Ngài chê liền, nói: "Đi gì lâu dữ vậy?" Trời ơi bay còn hơn máy bay Boeing nó bay cũng không được như vậy nữa. Máy bay Boeing mà bay từ Ấn Độ qua Trung Quốc

[16:26]đâu có chuyện mà đi mà mà sáng chiều tới. Vậy mà ngài chê cái ông kia mới nói mới nói chữa, nói: "Dạ tại con còn vừa đi vừa ngắm cảnh, cho nên tới trễ." Trời từ sáng tới chiều mà ngài Ngưỡng Sơn ngài chê chậm. Như vậy là cái sức thần lực của ngài Ngưỡng Sơn làm sao? Hơn ông đó, đúng không ạ? Mà ông kia ổng nói chữa xong cái: "Con còn mắc dạo núi xem nước." Ngài Ngưỡng Sơn nói: "Thôi, cái cuốn kinh của ông đưa ta." Ông kia ổng giấu cuốn kinh trong người, cuốn kinh bằng lá bối viết bằng chữ Phạn giấu trong người đem theo. Ngài đâu có trình đâu mà ngài biết liền, nói: "Đưa cuốn kinh cho ta." Rồi đưa xong quỳ xuống lạy ngài, nói:

[17:01]"Định sang đây lễ Văn Thù, không ngờ gặp Tiểu Thích Ca." Tức là coi ngài Ngưỡng Sơn như Phật, mà ngài Ngưỡng Sơn là đệ tử của ngài Quy Sơn. À lúc đó có một lần hai thầy trò ngài Quy Sơn, ngài Ngưỡng Sơn đi dạo núi, có một con chim á nó nó nó gắp một trái hồng nó bay. Nó bay ngang đó cái nó thả xuống để nó cúng dường ngài Quy Sơn, trái hồng chín. Cái ngài Quy Sơn nhặt lên, cái ngài Ngưỡng Sơn đón lấy thầy mình chạy ra suối rửa, rồi mới lại quỳ xuống dâng cho thầy mình. Cái ngài Quy Sơn mới bẻ trái hồng làm đôi đưa cho ngài Ngưỡng Sơn. Cái ngài Ngưỡng Sơn nói: "Dạ không, cái này chim cúng dường thầy,

[17:39]con không dám ăn." Cái ngài Quy Sơn mới khen: "Con cũng có phần mà." Tức là khen đệ tử mình cũng là người đắc đạo, có đức lớn, như vậy. Có một câu chuyện nữa là dưới tay ngài Quy Sơn có một đệ tử là Hương Nghiêm Trí Nhàn, mà Trí Nhàn cũng là một người kiến giải giỏi. Cái lần đó Trí Nhàn đang làm trong nhà trù á, đang nhặt gạo. Cái ngài Quy Sơn đi ngang mới mới bốc nắm gạo lên hỏi: "Muôn ngàn hạt lúa là sinh ra từ một hạt này, vậy một hạt này từ đâu sinh ra?" Cái ngài Trí Nhàn sững người không trả lời được. Cái ngài Quy Sơn cười ha hả bỏ đi. Cái ngài Trí Nhàn về lật kinh lật điển tìm không ra, vô cầu ngài Quy Sơn nói:

[18:29]"Dạ thầy dạy cho con cái nghĩa này. Cái nghĩa mà muôn ngàn vật từ một vật, nhưng một vật đầu đó từ đâu ra, xin dạy cho con." Ngài Quy Sơn nói một câu nổi tiếng: "Nếu ta dạy cho ông, sau này ông chửi ta." Nếu ta nói cho ông nghe, sau này ông chửi ta. Thì ngài Trí Nhàn mới nghĩ rằng thầy mình hẹp hòi, mới đảnh lễ thầy ra đi. Đi mà lòng uất hận, buồn bã, bất mãn, tuyệt vọng. Tại vì một con người mà thiết tha cầu đạo mà có cái điểm không hiểu được, thì trong lòng rất là ấm ức. Ngài đi về một cái vùng núi ngài cuốc đất, sống qua ngày nói: thôi, bây giờ làm độn tăng tu hành qua ngày, kiếm miếng cơm cháo ăn đỡ, chứ không còn mong gì đắc đạo

[19:17]như thầy mình, nghĩ rằng chắc căn cơ mình nó nó hẹp, nó nó bé. Lần ngài cuốc đất cái nó văng cái miếng sỏi văng vô cái cọng tre kêu cái "cốc" một cái, ngài bừng ngộ liền. Bừng ngộ xong, mặc áo đắp y, thắp nhang hướng về Quy Sơn quỳ lạy, nói: "Ơn sư phụ từ bi như cha mẹ. Nếu ngày xưa mà giải thích cho con, thì con không có ngày chứng đạo ngày hôm nay". Ngài ở bên núi của ngài á, ngài lạy một cái, bên đây ngài Quy Sơn biết liền. Ngài Quy Sơn mới nói với Ngưỡng Sơn: "Thằng Trí Nhàn nó ngộ rồi đó". Ngài Ngưỡng Sơn nói: "Không có chắc đâu thầy ơi. Cái đó là nhiều khi cái cái tâm thức của mình đôi khi nó có những

[19:57]cái ảo vọng, chứ nó không có phải chắc là thần thông. Vì giữa thần thông và cái ảo giác nó giống nhau lắm. Cho nên thôi để con tới con kiểm tra". Ngưỡng Sơn vượt rừng vượt núi đi thăm, nói: "Thầy nói em ngộ rồi, trình kiến giải cho sư huynh coi". Cái ông kia mới đọc câu kệ là: "Ngày xưa em rất là nghèo. Nghèo không có miếng đất để cắm dùi", đại khái vậy. Cái ngài Ngưỡng Sơn mới nói: "Em mới ngộ Như Lai thiền, cái chưa phải Tổ sư thiền". Cái ngài mới đọc thêm bài kệ nữa: "Ngã hữu nhất cơ, chấp mục thị y", nghĩa là: "Em có một cái máy mà nhúc nhích tay chân gì cũng là nó". Cái ngài Ngưỡng Sơn gật đầu:

[20:42]"Ờ, em ngộ Tổ sư thiền rồi", đi về. Về nói lại với ngài Quy Sơn, ngài Quy Sơn nói: "Vậy mà con cứ cãi thầy không à". Tức là cái sức thần thông của ông thầy ổng biết là biết rõ, còn ngài Ngưỡng Sơn ở ngang giai đoạn đó thì ngài biết rằng cái sức thần thông của con người nó còn lẫn giữa cái thần lực trí tuệ và cái ảo giác. Cái đó như hôm trước mà chúng ta nói chuyện với nhau á, cái chướng ngại của người tu là ảo giác, rồi tới cái chướng ngại kế nữa là thần thông. Thì ngài Ngưỡng Sơn ngài hiểu ngang chỗ đó, ngài sợ thầy mình lẫn giữa ảo giác và thần thông, trong khi cái chứng của ngài Quy Sơn ngài rất là tột.

[21:16]Đó, đôi lúc nhiều khi học trò cũng bướng không nghe lời thầy, đôi khi cũng vậy. Thì năm ngài 83 tuổi, ngài ngồi kiết già từ giã chúng tịch liền. Đó là cái ngài đắc đạo thật sự, sự tự tại thật sự, nên đời đời chúng ta ngưỡng vọng ngài. Có nhiều vị thầy tu lạy thù ân, ban đêm cứ lạy ngài Quy Sơn: "Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Đại Viên Quy Sơn Linh Hựu Thiền Sư", lạy ba lạy đàng hoàng. Và còn ngài để lại nhiều tác phẩm quý, nhưng trong đó có tác phẩm mà Cảnh Sách này là một áng văn mẫu, áng văn mà các chùa đời đời đều học, vì đó là một áng văn tuyệt tác. Nếu nói là văn chương là văn cực hay, thì nhiều vị dịch lắm.

[22:05]Có vị dịch văn xuôi, có vị dịch ra thành thơ này nọ. Nhưng mà bản dịch nào ta cũng tham khảo, tuy nhiên nếu học mà nếu đọc nên đọc trực tiếp bằng chữ Nho luôn. Vì cái thần thái của bản chữ Nho hay, từ một thiền sư nói ra bản rất là đẹp. Còn bản dịch ta học là để cho biết nghĩa thôi, chứ còn nếu đọc, nếu tụng thì nên nên đọc thẳng cái bản chữ Nho. Thì ở đây hôm nay chúng ta sẽ không học từng câu như kiểu là học hồi mà ta học Sơ cấp Giai giáo, vì ai cũng cao siêu giỏi lắm rồi. Hôm nay ta sẽ không phải học, mà là bàn với nhau cái làm sao mình dạy cái bản này cho học trò mình nha. Hôm nay cái chúng ta ngồi đây không phải là học, mà học để làm thầy.

[22:53]Làm sao ta dạy cái bản văn này cho người sau, cho đệ tử mình một cách hiệu quả? Làm sao khi ta đem cái văn Quy Sơn Cảnh Sách này ra ta dạy cho đệ tử mình thì đệ tử mình trở thành những con người chân tu, là đạo hạnh hết? Đó là yêu cầu của bài học hôm nay. Cái bài văn mà Quy Sơn này thật ra nó mỏng, bài văn cũng không dài. Mà tại sao bài văn không dài? Ta rất cám ơn ngài, bởi vì ngài sinh vào cái thời đó. Chứ nếu mà ngài sinh vào cái thời này thì chắc ngài viết cái văn Cảnh Sách nó dày gấp 10 lần. Tại sao vậy? Tại thời bây giờ nó có nhiều thứ nó cám dỗ ta quá. Thời xưa không có iPhone, không có iPad, không có game, không có Facebook,

[23:38]không chat không chiếc, không internet, không gì hết. Cho nên là ngài không có rầy mấy cái đó. Chứ nếu mà ngài xuất hiện trong đời này thì ngài sẽ nói là: "Niệm niệm tấn tốc, nhất sát na gian, chuyển tức tức thị lai sinh, hà nãi tối ngày Facebook?".

[24:00]Nhưng mà hôm nay ta học là ta học cái tinh thần của Cảnh Sách mà ứng dụng cho thời đại ngày hôm nay. Ta học cái tinh thần của Cảnh Sách Quy Sơn mà ứng dụng cho thời đại ngày hôm nay, nghĩa là sao? Nghĩa là bây giờ quý thầy sẽ phải làm thầy, quý thầy sẽ phải làm thầy rồi lại có đệ tử, thì quý thầy đọc cái bản Quy Sơn này, khi quý thầy dạy lại cho đệ tử mình thì dạy theo những vấn đề của thời đại ngày hôm nay, chứ không có dạy mà nguyên bản ngày xưa. Ví dụ ngày xưa ngài trách: ăn rồi cứ chụm đầu mà nói chuyện, của đàn na tín thí mà cứ ăn rồi mà không biết lo tu, đó; ăn xong dậy trước làm cho chén kêu lổng khổng, vậy đó;

[24:47]đi đứng rồi nó không đàng hoàng, ngài rầy. Nhưng mà thời nay, những điều mà nếu sau này quý thầy rầy đệ tử mình phải nhiều hơn nữa. Tại vì trong thời đại mới nó xuất hiện nhiều vấn đề hơn của một người tu. Thì người tu có thể là trong cái thời đại mà nhiều cái tiện nghi khoa học kỹ thuật vật chất, xe cộ, đủ thứ chuyện trên đời thì thầy tu bị nhiều vấn đề hơn nữa. Do đó, chúng ta hôm nay ta học cái bài của ngài để dạy cho đệ tử và khi dạy đệ tử thì ta phải mở rộng, linh hoạt ra cho nó thích hợp với thời đại. Đó, bây giờ nói là cái điện thoại thôi, ta có tất cả là mấy căn? Sáu căn, phải không à?

[25:35]Mà cái điện thoại tự nhiên nó làm cho ta thêm cái căn thứ bảy. Sáu căn đã là lục tặc gần muốn chết rồi, bây giờ thêm một thằng thứ bảy nữa là thất tặc thì mình tiêu đời luôn, ý là như vậy. Thì nhưng mà bỏ cái điện thoại không được vì nó tiện dụng quá, nó tiện dụng. Ví dụ bây giờ chùa có việc mình đi vắng, rồi có chuyện chỉ cần bấm điện thoại lên gọi: "Con, ở nhà con chuẩn bị việc đó cho thầy nha, thầy về là xong liền nha. Lát nữa thầy dắt có cái vị Hòa thượng tới thăm thì con chuẩn bị là cơm nước này kia nọ". Nhờ có cái điện thoại nên một lát khi mình dắt cái vị Hòa thượng về, cái việc nó chỉnh chu hơn, nó chu đáo đàng hoàng.

[26:12]Còn nếu không có cái điện thoại thì các Hòa thượng đi về mình về tới nơi bắt đầu đệ tử mình đâm đầu chạy. Ồ đứa nào chạy lo giường, lo nước, lo cơm, lo chiếu này kia nọ cái nó lại lại giống như trễ. Nên có điện thoại nó tiện dụng nhiều việc, nhưng mà cái điện thoại nó cũng làm cho ta phiền toái hơn nếu ta không có cái làm chủ. Thì sau này quý thầy dạy đệ tử mình, thì quý thầy phải đem điện thoại ra là một vấn đề, là một bài học, là một vấn đề một bài học, đặt nó thành một cái chuyên đề để mà bàn, mà dạy đệ tử, mà chia sẻ với các chùa khác, vì nó là điều có thật. Hoặc như cái máy vi tính, vào cái máy vi tính rồi là nhìn khắp

[26:53]thế giới được, mở ra cánh cửa với thế giới được hết. Mà đi vào internet rồi mở cánh cửa, thì nó phải là một chuyên đề đối với cái người tu ngày hôm nay, chứ không được bỏ mặc, không nói "ơi cái này không quan trọng" là chết à, bởi vì nó đang trở thành quan trọng. Mỗi một con người đều có vi tính, mỗi cái nhà đều có vi tính, mỗi cơ quan có vi tính, mỗi trường học có vi tính, tất cả đều có vi tính. Trên mỗi chiếc xe bắt đầu có vi tính. Thấy là cảnh sát bây giờ họ hỏi, họ hỏi cái số của mình là tay họ thò vô họ bấm liền. Bấm là màn hình nó hiện ra đúng gương mặt mình hay không, hoặc là cái lý lịch mình ra sao là ngay tức

[27:29]khắc nơi chiếc xe cảnh sát hiện ra hết luôn. Cho nên là vi tính, mạng khắp nơi mà con người ta bước vào cái thời đại này không thoát ra được, và đạo Phật cũng vậy. Đạo Phật cũng bước vào một cái thời đại ta không tránh được những cái tiện nghi này, nhưng mà nó vừa hay và có mặt dở của nó. Cho nên những vấn đề như điện thoại, internet, rồi mạng này kia nọ, vi tính đó, nó trở thành cuộc sống thực rồi. Thì ta phải đặt nó thành vấn đề: vậy đối với người tu sử dụng nó như thế nào? Và sau này đến khi quý thầy dạy đệ tử, quý thầy phải lập ra thành một cái chuyên đề để dạy đệ tử mình. Cho nên hôm nay ta ôn lại cái lời mà ngài Quy Sơn

[28:09]đã dạy ta để ta suy nghĩ cho cái lời dạy sau này ta dạy đệ tử mình. Nên hôm nay cốt yếu ta nhắc lại điều này: Hôm nay chúng ta ngồi đây với nhau ôn lại cái lời dạy của ngài Quy Sơn đối với chúng ta để chúng ta chuẩn bị cho những lời dạy sau này ta dạy cho đệ tử mình. Nha, hôm nay là học để làm thầy chứ không phải học là để học cho bản thân. Hôm nay là học để làm thầy. Thì trong cái bài văn Quy Sơn Cảnh Sách này, ta thấy là ngài đi qua nhiều đoạn. Cái lời ban đầu là ngài nhắc nhở ta. Nhắc nhở thứ nhất là: đời khổ lắm, qua mau lắm, cái chết không biết lúc nào. Đó là một ý. Nên phải lo tu đi, đừng có mà "hà nãi yến nhiên không quá". "Hà nãi", tại sao?

[29:07]"Yến nhiên" là cứ tỉnh bơ. "Không quá", không quá là đi qua một cách trống rỗng, hay sống một cách vô ích, chữ "không quá". Chữ "quá" này nếu tiếng Anh là "spent", tức là trải qua, sống qua. Ừ, "spent emptily", tức là sống một cách trống rỗng như vậy. Đó, nghĩa là "hà nãi yến nhiên không quá" là tại sao mà sống trôi qua như vậy. Trong cái văn mà Cảnh Sách này, ta nhớ nó có một đặc tính là các chủ từ đều hiểu ngầm, không có anh, tôi, chúng bay, các thầy, không có. Không có chủ từ, hiếm khi có một chủ từ hiện ra. Vì sao vậy? Vì văn xưa của Trung Quốc bị như vậy. Cho nên những người mà học văn chữ Nho trong chùa

[29:59]á mà khi bước ra mà dịch qua tiếng Việt đều bị sai ngữ pháp hết.

[30:06]Chỉ trừ những thầy nào mà có ra ngoài học thêm tiếng Anh, giỏi ngữ pháp tiếng Anh, thì khi mà dịch cái câu văn xưa này sang tiếng Việt thì dịch kết hợp với ngữ pháp tiếng Anh nó sẽ tạo ra một cái câu tiếng Việt hiện đại hoàn chỉnh. Còn mà quý thầy ở trong chùa từ nhỏ tới lớn chỉ học chữ Nho, rồi dịch từ cái chữ Nho ra tiếng Việt, xin thưa tất cả bản dịch đều sai. Đều sai ngữ pháp của tiếng Việt hiện đại hết. Vị hòa thượng nào cũng bị, đỡ nhất là Hòa thượng Trí Quang. Cái bản dịch của của Hòa thượng Trí Quang tương đối khá hiện đại. Chi li, kỹ lưỡng ngài thêm nhiều cho nên bản dịch ngài dài. Còn Hòa thượng Hoàn Quan thì rất xưa.

[30:51]Cho nên về so với cái ngữ pháp hiện đại là bản dịch của Hòa thượng Hoàn Quan thiếu rất nhiều. Tuy nhiên, Hòa thượng Hoàn Quan lại có cái ưu điểm là gọn, cái lời lẽ đẹp, làm cho ta cũng dễ hiểu, như vậy những vị đó. Và nhiều vị có các cách dịch khác. Ngay câu đầu: "Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy". Ngay câu đầu này là dịch: "Vì nghiệp lực ràng buộc mà thọ thân, nên không thoát được cái phiền lụy của hình hài". Câu này nếu dịch kiểu này là đúng nghĩa đó. Đúng nghĩa đó, nhưng mà về ngữ pháp trật lất. Nên hôm nay chúng ta không nói về cách dịch. Nếu mà đây là lớp học sơ cấp gia giáo, ta sẽ cùng nhau dịch từng câu lại cho đúng.

[31:34]Nhưng hôm nay ta không có học kiểu sơ cấp gia giáo, cho nên ta bỏ qua phần này. Hồi xưa chắc là thầy thầy Minh Thiện là học cái kiểu kỹ từng câu phải không ạ? Thầy bây giờ là giảng sư á, nghĩa là thầy cũng học từng câu, nhưng bây giờ ta không học từng câu nên ta chỉ nói qua đặc tính để sau này quý thầy đem cái Quy Sơn này về dạy cho đệ tử mình mà dạy trong thời đại mới, vậy đó. Nên cái cái câu mà dịch kiểu này đó nó không có chủ ngữ nên phải hiểu là "Phù nghiệp hệ thọ thân" ta phải nói là: "Chúng ta, ta phải thêm cái chủ từ là: "Chúng ta, tất cả chúng ta do nghiệp, do sự ràng buộc của nghiệp, do sự tác động của nghiệp mà có cái thân này, được sinh ra với cái thân này.

[32:21]Mà đã có cái thân này rồi thì vô số cái phiền lụy, cái khổ sở, rắc rối của thân này cũng theo đó mà mà xuất hiện. Nào là bệnh, nào là phải ăn, phải uống, phải mặc, phải ở, rồi là khát phải uống, đói phải ăn, đêm đông phải có chăn ấm, ngày hè phải có nước tắm, phải không ạ? Nghĩa là bao nhiêu điều khổ sở của cái thân này ta cũng bị dính theo luôn. Vì sao? Vì ta lỡ có thân. Mà vì sao ta lỡ có thân? Vì ta mắc nghiệp đời trước. Cái câu này vậy. Nội một câu này không là ta nói không biết bao lâu mới hết, nhưng hôm nay ta không giảng từng câu, ta chỉ nói như vậy. Hoặc là cái câu: "Bẩm phù mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành".

[33:06]Những cái câu chữ Nho này đẹp lắm nếu ta hiểu chữ Nho. "Bẩm phù mẫu chi di thể", không ngờ ngày xưa ngài hay thiệt, ngài đã nói tới di truyền. Nghĩa là ta thừa hưởng được cái di truyền từ cha mẹ và ta mượn bao nhiêu cái duyên của trời đất mà thành được cái thân này. Cái thân này có là lấy cái di truyền từ cha, từ mẹ mà mượn được nhiều cái miếng cơm, miếng cỏ, miếng đất, miếng nước, miếng không khí mà thành lại cái thân này, đó. "Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vi bội". Nói tóm lại là ta hợp lại của tứ đại, nhưng mà bốn thứ đất, nước, gió, lửa này nó cứ chọi, cứ chống nhau hoài, nên vì vậy ta rất khó chịu.

[33:51]Cái câu đầu tiên là nói về cái khổ của thân, đó là cái đoạn đầu. Bắt đầu ngài mới nói là cái già, cái bệnh, cái chết bất ngờ, không có hẹn ai được. "Vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ", kỳ tức là kỳ hạn đó, hẹn ước á. Nghĩa là cái vô thường lão bệnh không có báo trước với ai hết, bất ngờ cái là chết liền. Cái đoạn thứ hai này thì ngài nói là cái vô thường bất ngờ thì đừng để một giây phút nào mà bỏ phí. Giống như nói: "Các ông sống làm sao?" thì ta trả lời câu này: "Tôi sống như là tôi sắp sửa chết". Sống như là ta sắp sửa chết tức là người này hiểu đạo. Sống như là sắp sửa chết nghĩa là sao? Nghĩa là tiếc từng giây một, phải không ạ? Tiếc từng giây một.

[34:39]Ví dụ bây giờ mình gặp cái người đó mình muốn nổi sân nhưng mình nghĩ mình mà chết thì chắc là ổng cũng lại ổng thắp cho mình cái nhang, ổng cũng khóc thì thôi, giận nhau làm chi. Tức cười quý vị, như chúng tôi vậy, hồi đó ở cũng gần cái một cái chùa đó thì mình với chùa đó xích mích tại vì giành nhau cái đường ranh. Hễ mình đi vắng cái trở lại là thấy hàng rào ổng dời qua mấy thước. Rất là phiền, mới nói: "Thầy đừng có làm như vậy, thì cần nói bàn với nhau chứ đừng có tự ý làm", như vậy. Hễ mà đi vắng quay lại là ổng dời cái hàng rào qua mấy tấc, cho nên cái thấy ổng như vậy thôi mình cũng không giao du. Nói:

[35:19]"Người này cũng không phải người chân tu, không giao du." Tới chừng ổng chết, chết là phải băng hàng rào qua thắp nhang cho ổng, đứng chú nguyện cho ổng. Đứng chú nguyện xong là ổng theo về chùa mình luôn. Thấy ổng cứ lẵng mẵng ổng đi theo theo sau lưng ổng nói này nói kia, ổng cũng vừa xin lỗi, vừa cảm ơn này tùm lum rồi ổng đi. Rồi mình ngồi nghĩ bây giờ nếu đặt lật ngược lại là mình, lật ngược lại mình như mình sống như sắp sửa chết thì mình không dám gây xích mích với ai hết, không dám nói nặng lời với ai và chỉ muốn yêu thương thôi. Vì sao? Vì khi mình chết rồi chắc chắn người ta cũng tới thắp

[35:49]nhang, người ta nói những điều rất là tình nghĩa. Ừm. Thế là nghĩa tử nghĩa tận mà, cho nên tới khi chết rồi người ta không khơi lại những điều xích mích nữa mà chỉ nói những điều tình nghĩa đẹp. Cho nên trong đây ngài mới nhắc chúng ta là cái chết không biết đến lúc nào nên phải tập sống như mình sắp chết, nghĩa là tiếc từng giây. Mà tiếc từng giây hồi nãy ta nói với nhau là đối xử tình nghĩa với con người, nhưng đối với ngài, tiếc từng giây để làm gì? Thúc liễm thân tâm mà tu hành. Lỡ mà hên cái chứng đạo liền, lỡ hên một cái được ngộ đạo liền thì không uổng một đời ta đi qua, ý là như vậy. Đó.

[36:26]"Vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ, triêu tồn tịch vong, sát na dị thế. Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô, ngạn thọ tỉnh đằng, khởi năng trường cửu", mấy này mà đọc hết bài. Nhưng mà cái câu mà: "Ngạn thọ, tỉnh đằng", cái hình ảnh rất là hay. Cái cây mà nó mọc ở bờ vực không biết nó sập luôn nó rớt lở đất rớt chừng nào, cái dây mọc ve ven giếng người ta lại chụp người ta nhổ lên hết để người ta đi xách nước người ta, đó như vậy. Rồi bắt đầu ngài đi qua một cái đoạn là ngài nói cái người đi tu á là người không có làm được điều tốt cho xã hội, cho gia đình, cho cuộc đời. Mình cũng sinh ra ngoài cuộc đời này giống như mọi

[36:59]người, nhưng mà người ta thì người ta lo cho cha, lo cho mẹ, lo cho làng, lo cho đất nước, đi lính đi đồ này nọ, người ta người ta có giúp dân giúp nước, người ta có bổn phận với cuộc sống, còn mình đi tu mình không làm được mấy chuyện đó nữa. Vậy mà không chịu tu để đắc đạo làm thầy dạy thiên hạ thì tu để làm gì? Cái câu này: "Phụ mẫu bất cung cam chỉ, lục thân cố dĩ khí ly, bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn khuyên kế tự", không có đẻ được đứa con nào để mà kế thừa, thấy không? "Miễn ly hương đãng, thế phát bẩm sư, nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức". Cái câu này trở thành cái câu đầu miệng của chư tăng chư ni hết:

[37:41]"Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức". Ở bên trong thì phải siêng năng mà giữ gìn chánh niệm công phu thiền định của mình, sự tỉnh giác của mình. Còn bên ngoài lúc nào cũng thể hiện cái đức hạnh hòa kính, hiền lành, tử tế với tất cả mọi người. "Nội cần khắc niệm chi công", bên trong tâm mình âm thầm giữ gìn công phu thiền định, chánh niệm, tỉnh giác. "Ngoại hoằng bất tranh chi đức", bên ngoài thể hiện ra, chữ hoằng là thể hiện ra. Bên ngoài thể hiện ra cái đức hạnh hiền lành, tử tế, hòa vui, không có tranh cãi, bất tranh là không có gây lộn, vậy đó. Rồi bắt đầu cái đoạn kế sau này ngài mới nói là khi đã đi tu rồi á thì làm gì?

[38:30]Hưởng đủ thứ hết trơn. Đi tu rồi cái bắt đầu người đàn việt, người thí chủ người ta lo cho mình, người ta thương, người ta kính mình, người ta lo đủ thứ cho mình. Rồi bây giờ mà mình không thấy được cái ơn của chúng sinh lo cho mình, không thấy được cái ơn thầy mình dạy mình, đó mà cứ thọ dụng mà không nghĩ xa xôi thì

[38:53]quá có lỗi. Nghĩa là: "Đạo sư hữu sắc, giới húc Tỳ-kheo, tiến đạo nghiêm thân, tam thường bất túc". Tám chữ này cũng là cái câu mà tăng ni mình thường hay nói: "Tiến đạo nghiêm thân, tam thường bất túc". "Tiến đạo nghiêm thân", tức là ráng mà tu cho tiến đạo, lấy cái đó làm trang nghiêm cái bản thân mình. Mình trang nghiêm bản thân mình không phải là hình thức mà trang nghiêm bản thân mình bằng một cái đạo hạnh. Vì cái người mà có đạo hạnh ta nhìn vô á, tự nhiên ta nể phục. Cái toát ra từ cái đạo hạnh đó, nó mới là y phục mà ta mặc vào người. Còn cái y phục mà ta đang mặc đây, cái y cà sa ta đắp vào đây,

[39:35]coi vậy nó không phải là cái thứ mà ta ta mặc vào đâu. Cái ta mặc vào chính là cái đạo hạnh ở bên trong á. Cho nên khi mà quý vị nói nhìn hai ông thầy, một người mà có tu chân chính nó toát ra cái vẻ oai nghi, thần thái khác liền. Một cái người tu không chân chính, nhìn vào nó cũng toát ra, biết liền, không có giấu đâu được hết. Mà cái toát ra đó, ngài gọi là y phục. Cái ta mặc vào gọi là tiến đạo nghiêm thân. Mà trong đó có cái tam thường bất túc, ba cái điều mà nhu cầu chính của con người: ăn, mặc, ở, không cần cứ phải cho nó sung túc, đầy đủ quá. Không cần phải như vậy, không cần lúc nào cũng phải lúc nào phải

[40:14]ăn ngon, mặc đẹp mà ở cho sướng, do tam thường bất túc như vậy. Trong cái bài Cảnh Sách này, Ngài không có nói tới súc sinh và địa ngục. Ngài không có hăm dọa cái người tu mà nếu không làm tròn bổn phận của mình mà cứ hưởng hưởng hưởng hưởng vậy, kiếp sau là đọa súc sinh, địa ngục. Điều đó là có thật, nhưng mà Ngài trong cái văn Quy Sơn này Ngài nhẹ nhàng, Ngài tế nhị, Ngài không nói. Nhưng mà sau này nếu mà ta dạy đệ tử mình thì ta cứ nói toạc ra luôn: Nè, tụi con không tu nữa làm trâu nha. Tụi bây không tu nữa xuống địa ngục à. Đó, sau này mình dạy đệ tử mình phải phải dữ dằn hơn chút nữa, nói tại sao?

[40:55]Tối ngày tụi bây mà lên Facebook chat chít riết tụi bây chết xuống tụi bây làm ma Facebook à. Nên bây giờ đời mới mình phải dạy hơi khác, còn Ngài ngày xưa Ngài văn chương, Ngài lịch sự, Ngài đàng hoàng. Ngài không có nói câu là: Mấy ông mà tu kiểu này mấy ông chết xuống địa ngục à, mấy ông chết đọa súc sanh à, Ngài không nói tới câu đó. Ngài tương đối tế nhị, nghe bản văn của Ngài rất là đẹp là vậy. Mà Ngài khuyên là thọ dụng nhiều quá, đừng có để cô phụ ơn của đàn na, đừng cô phụ ơn của Phật. Rồi kế đi đến cái đoạn nữa, Ngài mới nói rằng là Phật đầu tiên để dạy tu là dạy giới luật. Để cho cái người mà mới tập kềm chế mình,

[41:35]chiến thắng với những cái thói hư tật xấu của mình, quyết không làm những điều sai lầm. Nghĩa là Phật tiên chế luật khải sái phát mông, mông tức là cái người mới tu đó, mông muội còn ngu mê như con nít á. Phật tiên chế luật là trước hết Phật chế ra giới luật khải sái phát mông để mở con đường cho cái người người mới tu, mới học đó. Quỹ tắc uy nghi tịnh như băng tuyết là cái uy nghi làm sao mà thanh tịnh như là là băng tuyết. Chỉ trì tác phạm thúc liễm sơ tâm, cái này mà thầy đọc lát chắc ngủ sạch ở dưới hết, thôi không đọc nữa, không đọc chữ Nho nữa. Tại nghe cái gì mà nghe không hiểu ngủ à. Thì ở đây Ngài trách là đừng có để

[42:18]mà đáng tiếc một đời trôi qua rồi quay lại hối hận. Hậu hối nan truy, sau này, chữ truy này không phải là đuổi mà quay ngược về quá khứ để hối hận, tiếc thời gian qua không làm được. Cái chữ truy này là chúng ta hay nghe bây giờ nói chuyện với nhau, giờ có người ký giả hỏi hỏi cái người đàn ông, nói: "Dạ năm nay là anh với chị sống với nhau là 30 năm ha. Hôm nay kỷ niệm 30 năm ngày cưới. Thì bây giờ nếu được quay lại 30 năm trước, anh có nghĩ rằng anh có thay đổi quyết định này hay không? Tức là anh cũng đồng ý lấy bả hay không?" Chữ này là quay lại đó, truy tức là quay ngược lại thời gian trước thì anh có làm như vậy hay không?

[43:04]Thì ông kia ổng ngồi trước mặt vợ, ổng nói câu này: "Nếu mà bây giờ một lần quay ngược lại thời gian 30 năm trước thì đây vẫn là người mà tôi phải yêu, tôi phải cưới suốt đời." Bà kia cảm động quá, cái bả chạy vô bả lấy cái gì ra đó, bả vừa đi vô cái ổng nói liền: "Hồi nãy tôi nói dối thôi tại có bả, chứ nếu nói thật mà nếu quay lại ngược lại 30 năm trước thì thật sự tôi vô chùa Huệ Minh tôi đi tu luôn chứ tôi không dám lấy bả đâu." Đó, thật sự.

[43:32]Thì chữ hậu hối nan truy này đó là nếu quay ngược lại thời gian trước đó, nên nói là: "Khả tích nhất sanh không quá, hậu hối nan truy." Nếu mà để thời gian trôi qua, rồi sau này hối hận muốn quay ngược lại thời gian trước để tu thì không còn nữa nha. Nha, nhưng mà tất cả những quý thầy ở đây đều là những người đã quyết định sáng suốt thấy không? Không có phải là hậu hối nan truy, tại vì quay ngược lại thời gian cũng đi tu thôi, chẳng làm gì khác được. Còn mấy cái người mà ngồi ở sau ngoài kia kìa, mai mốt mà hậu hối nan truy, phải biết như vậy là tôi không thèm lấy vợ đâu, tôi vô chùa Huệ Minh tôi tu cho

[44:05]rồi nữa, quá khổ rồi đó, đại khái là như vậy. Nhưng bả vừa bước ra cái, cười tươi trở lại liền nha, cười tươi trở lại. Nhất vợ nhì trời, em là tất cả cuộc đời của anh. Bả quay đi: "Trằng tinh, gấu ngựa." Đó, đại khái là như vậy. Rồi cái Ngài mới rầy tiếp là bây giờ tu kiểu các ông á, sau này á tới lớn tuổi không có đức độ,

[44:31]giới luật thì không giỏi, thiền định không chứng, thì khi lớn tuổi rồi nó vẫn còn thô tháo trong cái bước đi, trong cái lời nói, trong những cử chỉ mình nhìn vô người ta thấy mình không có thong dong, không có kiểm soát. Cái người mà họ tu đúng tâm họ thanh tịnh á, ta thấy mỗi cái cử chỉ của họ nhấc tay, nhấc chân chứ nó có kiểm soát, có kềm chế và nó đẹp. Nhớ như vậy. Cái người mà tu đúng á không có cử chỉ nào xấu. Nó gần giống như một cái người mà diễn viên, tại cái người diễn viên họ luyện để được cử chỉ đẹp khi họ lên hình đóng phim, bước ra khỏi phim rồi họ buông tuồng trở lại. Ta nói ví dụ như thế này, ví dụ như

[45:17]ví dụ bây giờ mình chỉ tay, mình đứng ê ê ê, tức là mình tạo một cái hình vừa không đẹp thì người này không phải tu. Còn cái người diễn viên á thì đạo diễn: "Ơ không đẹp, anh anh nhích chân trái ra chút anh." Thế là ông đạo diễn ổng la lên cái người kia mới nhích chân trái ra chút xíu, "Anh nhìn nghiêng lại chút xíu anh", nó quay lại, "Cái tay anh với anh với hơi xéo về bên này chút xíu anh", cái người kia đưa tay cái bắt đầu mới thấy ủa à tạo hình đẹp, vào cái khung hình thấy đẹp. Cái người diễn viên cũng vậy, họ phải ráng tạo hình cho đẹp, nói năng rồi gì cười là là họ tập. Họ tập để mà lên hình cho nó đẹp.

[45:50]Nhưng mà còn cái ông thầy tu á thì không tập nhưng mà tự tâm mình kiểm soát. Ví dụ có kêu ai, không có: "Ê ê mày!", là không phải thầy tu. Thầy tu đưa xa xa chứ không ngoắc ngoắc cái này, đưa xa xa: "Lại lại lại thầy nói cho nghe." Mà mình nhìn thấy cái cũng là ngoắc tay nhưng mà nhìn nó đẹp, nó thanh tịnh, nó lịch sự và có cái tôn trọng cái người mình kêu. Còn: "Ê, lại đây lại đây!", mình thấy giống như không tôn trọng. Còn cái người tu đúng rồi họ tôn trọng, họ cũng giơ để cho người kia thấy, nhưng mà không có ngoắc móc xuống vậy, nhẹ nhẹ nhẹ thôi là biết. Họ cẩn thận từng chút từng chút. Đi, ngồi xuống, đứng lên, nó không có hở một sát na nào hành động xấu.

[46:27]Đó là biết người có tu. Mà cái người mà có tu như vậy về tới già á, cái đức độ nó hiện ra. Cái đức độ hiện ra thì cái người trẻ người ta đến chùa người ta gặp mình, người ta quỳ xuống người ta thưa hỏi, mặc dù mình không phải thầy người ta. Nhưng người ta nhìn mình, người ta thấy người này có tu, người ta quỳ xuống người ta thưa hỏi. Nói: "Dạ, bạch Hòa thượng hay bạch Thượng tọa, hôm trước thầy con bắt con phải phải học cái đoạn kinh đó mà con không hiểu. Ví dụ bây giờ nói như là mà Đức Phật dạy ngài A Nan, rồi ngài A Nan ngài ngộ đạo, rồi ngài A Nan là mới thề là vào cái đời ngũ trược ác thế, ngài sẽ đi vào chúng sinh để mà giáo hóa.

[47:13]Nhưng mà cái đời ác là cái đời nào, thưa Thượng tọa?" Thì lúc đó mình khi tâm đã thanh tịnh thì mình hiểu đời ác, đời trược là gì, ngồi mình giải thích, giải thích trong cái thân tình. Thì như vậy, ngài Quy Sơn mới nói: "Dù ít nhất dù có khi quý vị không phải là mở một ra một cái đạo tràng lớn, quý vị không có một cái chúng số đông, nhưng mà nơi nào mình xuất hiện thì cũng có người họ ngưỡng vọng, quý kính và thưa hỏi đạo lý, dù ít nhưng vẫn là một cái sự xuất hiện lợi ích cho cho chúng sinh, cho Phật pháp, cho cuộc đời. Chứ còn để tới niên cao lạp trưởng rồi kẻ sơ học nhìn vào mình không thấy được làm gương." Đó, vậy.

[48:03]Cái đoạn sau nói là khi mà ai hỏi tới mình, giống như mình quay mặt vô tường luôn, mình không biết đường đâu mà trả lời, Ngài trách như vậy. Nên cái đoạn đầu của văn Quy Sơn Cảnh Sách là là trách, nghĩa là: "Bất giác lũng chủng lão hủ, xúc sự diện tường", gặp việc rồi quay mặt vô tường tại không biết xử lý ra sao hết, không có đạo lý trong tâm, không có trí tuệ trong tâm để mà xử lý mọi việc. Còn cái người mà tu chân chính rồi á, trí tuệ nó cứ cuồn cuộn, tâm thì thanh tịnh, không động niệm, không suy nghĩ, nhưng mà xúc sự là trí tuệ phát khởi liền. Đụng chuyện là biết nên sắp xếp mọi việc làm sao cho hay

[48:42]cho đẹp, đụng chuyện là biết trả lời, nói năng câu nào cho hay cho đẹp, đó là trí tuệ tự nhiên mà có. Xúc sự diện tường, không có bị cái xúc sự diện tường mà xúc sự phải không, trí sinh. Đụng chuyện cái là trí tuệ phát sinh ra liền, còn bình thường thì tâm như hư như vô, giữ gìn cái chánh niệm cẩn thận. Rồi nói là: "Hoặc bị khinh ngôn tiện trách hậu sinh vô lễ", nghĩa là nếu mà có người hậu sinh, họ tu sau cái họ thấy mình sao đãi đãi, tu lâu rồi mà không gì, họ mới nói, họ nói: "Ủa, sao sao chỗ này mà thầy không không biết à?" Cái quay lại mắng: "Tụi bây là con nít biết gì nói tao." Đó, đó rồi lại trách hậu sinh vô lễ.

[49:25]Nhưng mà cái người tu sau, đôi khi họ thắc mắc cái người tu trước tại sao có những điều sơ suất như vậy. Mà cái thắc mắc họ đúng, không phải sai, tại chính mình sơ suất thật, chính mình cả một đời tu trôi qua thật. Nên đây là cái điều mà những cái điều hôm nay là những điều Ngài đang trách, đang cảnh báo, cảnh báo từ quá khứ là khi sinh ra có cái thân là khổ, cảnh báo cái vô thường đến bất cứ lúc nào, đừng có mà rỗng không. Ngài cảnh báo mình từ bỏ hết trách nhiệm cuộc đời, bước vào đạo để tu là trách nhiệm đối với đạo với chùa rất là nặng. Rồi Ngài cảnh báo, khi đã vào chùa làm tu sĩ rồi thì mình

[50:05]thọ nhận những điều mà không phải do mình làm ra. Không làm ra hột cơm nào mà vẫn có ăn, không dệt một tấm vải nào mà vẫn có mặc, thì mọi thứ do đâu? Mồ hôi, nước mắt của người khác mà có, thì phải ráng mà mà tu. Rồi Ngài cảnh báo tới tương lai, nếu mà mình tu kém, tới khi lớn tuổi về già, niên cao lạp trưởng rồi, không có gì để dạy lại cho người sau, gặp việc thì câm họng, không nói được tiếng nào, thì như vậy có đáng trách hay không? Tức là nãy giờ mà Ngài dạy á, Ngài dạy từ lúc mới đẻ ra cho tới già luôn, qua mỗi giai đoạn của một người tu, mỗi giai đoạn đó đều có cái có cái điều gì đó, có cái ý nghĩa gì đó mà người tu chúng ta phải tư duy,

[50:50]phải suy xét nha, phải day dứt, cuối cùng để gì? Cuối cùng ráng mà tu, cuối cùng ráng tu cho tốt, chỉ là như vậy thôi, đó. Tuy nhiên, đây là sự thật, có cái người đó họ mà đã tu không tốt, bây giờ bắt nhốt ở trong thất, kinh đây, luật đây, tượng Phật đây, quỳ lạy cho tao, không lạy tao lấy cây tao đập. Mỗi ngày vô coi có lạy không, để camera theo dõi, không thấy tụng kinh, không thấy ngồi thiền, không thấy lạy Phật, lại bước vô lấy roi đập, xin thưa cũng không tu. Còn cái người đã tu tốt, không ai theo dõi, tự mình thúc liễm tiến tu. Đố ai biết tại sao? Cho nên bản văn Cảnh Sách này đó, những lời dạy nghiêm khắc này

[51:39]á, ngài nói rất chí tình, chí lý sâu sắc, từ lúc ta mới đẻ ra tới lúc ta đi tu, tới lúc ta già ngài cảnh báo đủ thứ. Nhưng mà có đủ để cho một người đọc bản văn này xong rồi phấn tấn, ừm à cố gắng, nỗ lực tu hay không? Đủ không? Chưa đủ. Đây là cái đau của ta. Vì sao vậy? Cả một cái đạo Phật thế này, biết bao nhiêu người xuất gia đều đã học bản văn này, nhưng không phải ai cũng là người tu tốt cả. Lý do tại sao? Nghĩa là ngài nói hết nước hết cái rồi đó. Ngài nói từ lúc mới đẻ ra có cái thân là khổ, phải tu. Ngài nói tới lúc mà cái vô thường sát na phải ráng tu. Ngài nói tới buông bỏ trách nhiệm cuộc sống này để vô chùa rồi thì phải ráng tu.

[52:31]Rồi ngài nói tới đã vô chùa tu rồi thì thọ dụng cái mà người ta cung phụng mình phải ráng tu để đền ơn. Rồi ngài cảnh báo là nếu mà không tu mà tới già người ta khinh dễ, cho nên còn sức lực phải ráng tu. Nghĩa là ngài nói hết nước hết cái. Nhưng mà không phải ai nghe những lời cảm động, cao quý này chịu tu. Đố biết tại sao? Tại sao có người nghe những lời cảnh sách này thì ráng nỗ lực, tinh tấn tu hành theo lời dạy của ngài? Có những người tụng như cháo, thuộc như cơm mà vẫn lơi lỏng, vẫn buông lung, vẫn không tinh tấn? Đố ai biết tại sao? Trong đây người xưa gọi lại cái từ gì? Căn cơ, phải không ạ?

[53:19]Căn cơ đời trước. Cái người mà họ có căn cơ đời trước á, tự bên trong họ có một cái sức mạnh, nội lực tiềm tàng, tiềm tàng, tiềm tàng để họ cứ lúc nào cũng chăm chăm ráng tu hành. Còn cái người mà không có căn cơ đời trước, giờ có thiếu điều đem ra cho dựa cột bắn cái đùng, nói thà bắn chết tôi không tu. Đến như vậy. Thật sự là như vậy. Vì thiếu cái căn cơ, thiếu một cái quyết tâm bí mật bên trong, thiếu cái động cơ. Đó gọi là cái quyết tâm bí mật bên trong, thiếu cái động cơ bên trong. Cái động cơ ở bên trong, cái quyết tâm bên trong ở đâu ra? Ở đâu ra? Mà cái người mà có căn cơ đó, tự họ có cái quyết tâm bên trong.

[54:03]Còn cái người mà không có căn cơ á, không có cái quyết tâm bên trong. Nên cái người mà gọi là thượng căn hay là người có căn cơ á, ta thấy họ tự họ phấn tấn, đọc cái bài này xong cảm động rơi nước mắt rồi ráng thúc liễm từng giờ, từng phút để tu hành. Còn cái người mà không có cái quyết tâm bên trong, tức là thiếu căn cơ á, đọc xong rồi tỉnh bơ, thuộc đọc cho thầy trả để biết rằng mình có học thôi, chứ không có cố gắng bên trong. Lý do tại sao? Cái gọi là căn cơ ở đời trước này là cái gì? Mà tại sao bây giờ qua đời này nó biến thành một cái quyết tâm? Ta nhớ như vậy nha. Cái mà quyết tâm tu hành của đời này thì chư tổ gọi là căn cơ của kiếp trước.

[54:46]Vậy cái gọi là căn cơ của kiếp trước là gì mà bây giờ nó biến thành quyết tâm của đời này để ta tinh tấn tu hành không lơi lỏng? Ai biết? Dạ Mô Phật! Theo con á thì con nghĩ căn cơ đó là cái phước đó thầy.

[55:06]Nói cái phước thì không bao giờ trật hết, nhưng mà cái phước đó sao? Rồi, em này. Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa sư phụ, thì con nghĩ căn cơ kiếp trước dạ là do kiếp trước ta đã tôn kính những bậc đáng kính và đã cúng dường những bậc đáng kính nào đó, hoặc là đảnh lễ Phật, đảnh lễ một vị, bậc đáng kính đã chứng đạo. Thì cái căn cơ đó nó sẽ biến thành cái thúc liễm nội tâm để người đó có thể qua kiếp này... À con nói đúng phân nửa, hay gọi là hai phần ba, thôi cũng cho tràng pháo tay. Có ai có ý kiến gì bổ sung không? Có ai có ý kiến gì bổ sung? Cái căn cơ đời trước là cái gì bây giờ biến thành cái quyết tâm bí mật bên trong?

[55:48]Người hơn nhau cái quyết tâm bí mật bên trong thôi. Mà ở đâu ra cái quyết tâm mà nó mãnh liệt, khủng khiếp? Sương gió, tuyết rơi, đói kém gì cũng không bao giờ nản chí. Khổ sở cách mấy cũng không nản chí. Trở ngại nghịch cảnh cách mấy vẫn không bao giờ buông lơi sự tu hành. Cái quyết tâm dũng mãnh như vậy, quyết tâm mà như thác cuồn cuộn, mà như núi sừng sững ở đâu ra? Đời trước gọi là căn cơ, căn cơ nghĩa là cái gì? Có ai trả lời không?

[56:19]Dạ thỉnh thỉnh Thượng tọa Kiểm soát đi, Trưởng ban Kiểm soát trường hạ Thích Minh Hòa. Nam Mô A Di Đà Phật. Kính thưa Thượng tọa, kính thưa toàn thể đại chúng. Theo tôi nghĩ cái căn cơ của đời trước là nhiều đời trước mà mình có được cái... nhiều đời mà đã tu cái thao thức về chính mình. Nói như Thượng tọa, vì sao nói là mình tu để giải thoát, tu để thành tựu đạo quả? Nhưng mà bây giờ thành tựu là như thế nào, và cái giải thoát cái gì? Mà thao thức đời này chưa xong thì đời sau tiếp tục phải làm cho xong. Mà đời này chưa xong đời sau chưa xong thì cái thao thức nhìn đến kéo dài triền miên. Đó là cái nhân duyên của đời trước.

[57:11]Dạ, chúng con xin cảm ơn Thượng tọa. Thượng tọa nói bằng cái góc nhìn của mình, tức là cái quyết tâm đời nay cũng chính là cái thao thức tư duy của đời trước. Tức là đời trước đã đã ôm ấp cái lý tưởng tu hành, đã tư duy về lý tưởng tu hành giải thoát rồi, thì bây giờ cái tư duy đó nó cứ tiếp tục nó mang đi từ kiếp này kiếp kia và nó cứ trở thành cái quyết tâm. Ý Thượng tọa nói như vậy. Chúng con hết sức là tán thán, cảm ơn Thượng tọa. Có ai có ý kiến bổ sung không ạ? Ở kiếp trước ta làm gì mà đời này ta có cái quyết tâm tu hành? Vậy thôi. À đây, thầy này. A Di Đà Phật, bạch Thượng tọa, theo con thì đó là do cái nguyện từ đời trước

[57:58]mình phát ra, nên đời này mình tinh tấn và cái nguyện đó mình sẽ thực hiện. Sức mạnh của nguyện lực. Rồi, cảm ơn thầy, cho tràng pháo tay. Dạ, cảm ơn thầy. Những điều chúng ta nói đều đúng. Vì ban đầu, từ kiếp xưa ta xúc động trước một bậc thánh, cái tình cảm xúc động đó chính là ngày nay quyết tâm. Cái quyết tâm cũng là một dạng tình cảm. Mà khi ta xúc động cung kính một bậc thánh cũng là một dạng tình cảm. Thì cái tình cảm của sự xúc động trước một bậc thánh ngày hôm nay thành cái quyết tâm tu tập là một dạng. Cái thứ hai là cái trí tuệ tư duy mà Thượng tọa Minh Hòa nói, tức là từ đời xưa ta đã từng hiểu về điều này,

[58:45]ta đã từng ôm ấp cái lý tưởng này, cho nên bây giờ ta mang theo cái lý tưởng đó vào đời này. Và thầy thầy thầy pháp hiệu gì? Huệ Thanh hả? Đó, thì thầy Huệ Thanh nói rằng là do nguyện, cũng rất chính xác. Từ những đời trước ta quỳ trước Phật mà ta phát nguyện tu hành thì đời này cái quyết tâm nó xuất hiện, nó trở thành cái quả ở trong tâm mình. Cái lời nguyện cũng là một điều âm thầm không ai thấy, ở kiếp sau cũng thành cái quyết tâm bí mật trong tâm chẳng ai thấy. Nhưng nhân như thế, quả như thế rất là đúng như vậy. Ta còn cái thứ tư nữa là nếu đời trước ta ủng hộ những người tu hành thì đời sau ta cũng có quyết tâm tu hành.

[59:30]Ví dụ như ngày hôm nay vậy, quý Phật tử đi về trường hạ đi, thấy quý thầy tu hành nghiêm trang, quý Phật tử xúc động, ủng hộ. Ủng hộ là sao? Ủng hộ là là sao ạ? Ủng hộ nghĩa là ta cúng dường đó. Thầy nói vậy không phải là thầy dụ cúng đâu nha. Nhưng mà có nghĩa là cái chuyện của nhiều đời, nhiều kiếp thấy những vị tu hành ta vui mừng, ta cung kính rồi ta góp gì được góp, một lon gạo cũng tốt, một tấc vải cũng tốt, vân vân. Thì tất cả những cái nhân quả đó cũng thành cái quyết tâm tu hành đời nay. Thì khi cái người mà họ đã đủ nhân đủ quả: cung kính bậc thánh, tư duy về sự tu hành, phát nguyện về sự tu hành, ủng hộ người tu hành,

[1:00:12]bây giờ hiện ra giữa đời này xuất hiện một sự quyết tâm vô hình bên trong mà cuồn cuộn rất mạnh. Cái cuồn cuộn đó có khi ta bị quăng vào lửa nóng, quăng vào băng giá, vào chốn tù đày, chốn nghịch cảnh, vào khổ sở, vào lời phỉ báng, vào những điều vu oan vân vân, ta vững vàng đi qua những cảnh khổ đó hết để giữ cuộc đời tu của mình là cái quyết tâm đó nó vô lượng vô biên mà ta gọi là căn cơ là như vậy. Thì những người đó mà khi đọc cái bản văn Cảnh Sách này như là uống từng giọt mật cam lồ, như là rơi từng giọt nước mắt mà cảm xúc vì cái lời của tổ mà cố gắng thúc liễm thêm. Còn cái người mà không có cái căn cơ đó á,

[1:00:59]bây giờ có nói một ngàn lời cảnh sách thì nghe nghe mà nó nó không khơi lại được một cái cảm xúc, một cái sự xúc động, một sự quyết tâm thêm. Đó hai cái người khác nhau: là người có căn cơ và không có căn cơ, ta nhớ như vậy. Cho nên đừng có nghĩ, ủa ông học Cảnh Sách rồi tại sao lại ông lại không chịu tu? Không phải, tại người này không có căn cơ. Nói đem ra bắn chết cũng không tu, bắt nhốt ở trong thất, quay camera cũng không tu. Vì họ không có căn cơ, tức là không có cái quyết tâm. Còn cái người mà đã có căn cơ rồi, có quyết tâm rồi không cần ai kiểm soát, tự mình tu. Ở đây chúng tôi thường hay nói, đây là người biết tự làm thầy với chính mình.

[1:01:38]Mà người có thể tự làm thầy chính mình rồi, sau này mới làm thầy thiên hạ được. Ta nhớ như vậy. Khi ta đến với thầy ta, khi ta bắt đầu xuất gia thì thầy ta dạy dỗ, kèm cặp ta từng chút. Lúc đó ta chưa tự làm thầy cho chính mình. Nhưng ta tu cách nào đó đến một giai đoạn nào đó, ta phải đủ sức tự làm thầy chính mình, không có ai kiểm soát, Không có lời khen sự phạt mà vẫn tinh tấn nỗ lực, người đó gọi là người biết tự làm thầy chính mình, thì người đó sau này xứng đáng đứng ra làm một bậc đạo sư, làm thầy cho thiên hạ. Tại cái quyết tâm của họ nó tràn ngập, nó bủa ra cùng khắp mà ai đến gặp họ rồi là đều bị lây cái quyết tâm đó mà phải ráng tu. Nên ta nhớ như vậy.

[1:02:30]Nên cái kết quả của cái đời trước, quyết tâm của đời này, cái sự dạy dỗ của thầy, sự dạy dỗ cảnh sách của chư Tổ để đi đến một cái giai đoạn là ta tự làm thầy được chính mình, nhớ như vậy, tự làm thầy chính mình. Rồi sau này ta mới làm thầy thiên hạ được. Không ai kiểm soát mà vẫn tinh tấn được thì làm thầy thiên hạ được. Còn lúc nào cũng phải có cái người kèm kèm, không nhắc một cái là buông lung, không nhắc một cái là giãi đãi thì ta chưa làm thầy ai được hết, vì mình chưa tự làm thầy chính mình, ta nhớ cái điều đó nha.

[1:03:08]Ngài cảnh báo cho tới lúc mà chết, nha, ngài nói mà chết rồi thì giống như cái lưới thủng con chim thần thức bay ra khỏi cái lưới thì bên nào cái nợ bên nào nặng là bên đó kéo đi, tức là tội bên nào nặng thì nó lôi về cái hướng đó. Nếu tội địa ngục nặng thì xuống địa ngục, tội súc sinh nặng kéo về súc sinh, đó. "Vô thường sát quỷ, niệm niệm bất đình, mạng bất khả diên, thời bất khả đãi", không có chờ gì được hết trơn. "Nhơn thiên tam hữu, ưng vị miễn chi, như thị thọ thân, phi luận kiếp số", đó là cứ trầm luân mãi không biết đời nào mà mà thoát ra được. Đó là ngài cảnh báo cho tới khi sau chết luôn,

[1:03:47]cái lời văn Cảnh Sách của ngài cực kỳ chu đáo từ đầu cho tới cuối như vậy. Nói: "Như tư hành chỉ, thật bất uổng phi pháp phục". Nên ngài mới nói là bây giờ ngài thương, ngài thương người sau mà ngài nói lên những lời cảnh sách này. Ngài nghĩ đến cái thời Đức Phật xuất hiện vì thương tưởng chúng sinh, nghĩ đến cái ân nghĩa của ngài kéo dài đến ngày hôm nay mà nhìn cái Phật pháp ngài lo lắng, cho nên ngài mới nói đến những cái lời như thế này: "Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, trấn nhiếp ma quân, dũng báo tứ ân, bạt tế tam hữu". Mấy cái câu này là phải thuộc lòng,

[1:04:36]quý thầy quý cô là đều phải thuộc lòng mấy câu này. Đó. "Phù xuất gia giả" - đã là người xuất gia, "phát túc siêu phương" - cất bước đi vào chân trời siêu việt, "tâm hình dị tục" - tâm mình và cái hình dáng của mình nó không giống người ta rồi, không giống cái thế tục rồi, "thiệu long thánh chủng" - nối tiếp và làm hưng thịnh cái dòng giống của của thánh, "trấn nhiếp ma quân" - diệt trừ hết những kẻ sai ác, "dũng báo tứ ân" - để đem điều đó mà báo đền bốn cái ân, "bạt tế tam hữu" - cứu hết chúng sinh trong ba cõi. Đây là một cái câu ngắn gọn nhưng mà gói gọn hết cái bao nhiêu điều đẹp đẽ ở trong này, nên ta phải thuộc và tụng mà ghi nhớ:

[1:05:19]"Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, trấn nhiếp ma quân, dũng báo tứ ân, bạt tế tam hữu". Đây là một cái hình ảnh rất là đẹp, đó. Rồi ngài cứ nhắc đi nhắc lại nhắc đi nhắc lại về những cái điều này. Ví dụ như đó: "Tâm kỳ Phật pháp đống lương, dụng tác hậu lai quy cảnh".

[1:05:44]Trong tâm ta lúc nào cũng mong làm cái cột trụ cho cho Phật pháp. Đó. Lúc nào cũng mong làm thành một tấm gương soi, làm cái mô phạm cho đời sau. Đó là phải mong như vậy, phải nghĩ tới Phật pháp, phải nghĩ đến những thế hệ đàn em đi sau mình. Cái câu này, câu này là bí quyết của sự tu tập. Nhớ câu này là bí quyết của sự tu tập. Bí quyết của sự tu tập là sao? Nghĩa là khi ta học cái gì ta nghĩ tới người sau, khi ta tu được cái gì nghĩ tới chúng sinh thì những người đó chắc chắn đắc đạo, chắc chắn trở thành thiên tài. Nói khác nhau của thiên tài và cái người không phải thiên tài là chỗ nào? Cái người mà không phải thiên tài á là muốn học cho mình giỏi rồi thôi.

[1:06:40]Còn cái người mà thiên tài á, mỗi khi học một cái, lúc nào cũng nghĩ làm sao cái này truyền bá được cho đời sau mau hơn, cứ nghĩ tới người khác liền, hễ mình vừa học là nghĩ tới người khác liền thì người đó sẽ là thiên tài, người đó sẽ rất giỏi. Mà ngài gói cái bí quyết đó nằm trong cái Quy Sơn Cảnh Sách này: "Tâm kỳ Phật pháp đống lương, dụng tác hậu lai quy cảnh". Cái câu này nó ngắn, nhiều người đọc lướt qua nhưng không ngờ nó là bí quyết để tu chứng mà là bí quyết để ta thành những tài năng lớn trong cuộc đời. Chúng ta xét lại tâm mình từ lúc mình đi học cho tới lớn lên ta có cái tâm này hay không.

[1:07:20]Mỗi khi học cái là nghĩ tới người sau liền thì người này chắc chắn là nhân tài. Quý thầy mình nghĩ lại điều này, xét lại tâm mình đã từng có cái ý niệm này chưa. Và nếu có, mình sau này là một nhân tài lớn hay là một thiên tài, nó như vậy. Ngài có dạy cái câu này: là cố gắng nương với thầy lành bạn tốt, đó là yếu chỉ tu hành. Đừng có vội vàng mà đi một mình. Cố gắng đầu tiên phải nương với thầy lành bạn tốt, tìm những thầy tốt, những ngôi chùa già lam hay mà đến nương náu tu tập. Nói nè: "Thân phụ thiện giả, như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời hữu nhuận". Mấy câu này trở thành những cái câu mà mà lời vàng ý ngọc của người tu.

[1:08:11]"Thân phụ thiện giả" là thân cận với những người đạo cao đức trọng, "như vụ lộ trung hành" - như đi trong đi trong sương, "tuy bất thấp y" - áo mình thấy không ướt, "thời thời hữu nhuận" - vậy mà sương nó thấm vào tới da tới thịt mất rồi. Cái sương nó có cái hay là nó nano, nó xuyên qua những kẽ rất nhỏ của vải, thấm vào trong da thịt mình. Như cái người đi trong sương, nói: "Ủa, sao mà rét run vậy? Áo không ướt mà sao thấy rét?" Không ngờ là nó sương nó đi qua áo vào trong da thịt mình. Thì cũng vậy, khi ta gần cái người đức độ thấy không có gì nhưng sự thật là mình đã nhiễm rồi, mình đã được ảnh hưởng rồi.

[1:08:56]Giống như trong cái mùa hạ này cũng vậy. Trong cái mùa hạ này Hòa thượng Thiền chủ với thầy Tri sự của cái khóa hạ này khi mà tâm sự với thầy nói rằng là trong cái trường hạ này mừng nhất là được có một dàn các Thượng tọa này. Dàn các Thượng tọa ngồi đây là thấy trường hạ vững. Nghĩa là sao vậy? Bởi vì các vị Thượng tọa ở đây, Thượng tọa Minh Trí, Minh Thiện, Minh Hòa đồ vân vân đây, ở đây là những vị đã sống ở cái khu vực Đại Tòng Lâm này lâu rồi, cái vùng Mỹ Xuân, Vạn Phước này lâu rồi. Cái đạo đức tu hành của các vị có uy tín, có bề dày. Từ thời mà mấy vị còn rất trẻ tới đi qua bao nhiêu chục năm,

[1:09:38]cái sự tu hành vững vàng ai cũng biết, nên trong một trường hạ mà tự nhiên có mấy vị đây xuất hiện thì thấy chúng mình coi về cho được hưởng nhờ cái đức đó. Mấy vị lớn rồi đó mà thời nào cũng theo chúng tu hành. Tụng kinh theo chúng tụng kinh, ngồi thiền theo chúng ngồi thiền, rồi ra tập thể dục khí công buổi sáng cũng theo chúng ra tập khí công. Là vì sao vậy? Vì quý thầy muốn làm gương cho chúng. Đó mà chỉ thấy quý thầy cứ ổn định tinh tấn thôi, mình không thấy gì, quý thầy không nói gì, vậy chứ nó thấm vào trong tim mình rồi đó. Đó. Không thấy ướt áo mà da thịt đã thấm lạnh rồi. Đó. "Thân phụ thiện giả, như vụ lộ trung hành,

[1:10:18]tuy bất thấp y, thời thời hữu nhuận", những cái câu đó thật là đẹp mà ngài ngài dạy cho cho chúng ta như vậy. Ngài mới nói rằng là: "Trung ngôn nghịch nhĩ, khởi bất minh tâm giả tai". Ngài nói nặng như vậy để làm gì? Để cho mỗi người ráng ghi khắc vào lòng mà tiến tu, ý như vậy. Mà qua câu này bắt đầu ngài mới nói tới cái thiền. Ở đây là cái ý lý về thiền mà lạ một cái là chùa nào cũng học. Đó. "Nhược dục tham thiền học đạo", thôi câu này mà nói chắc ngủ hết á. Thôi để đọc cái bản dịch của ngài Trí Quang: "Nếu muốn tham thiền học đạo, vượt bỏ ngay cái cửa phương tiện thì phải tâm hợp huyền tông".

[1:11:02]Chà, câu này dịch thì cũng như không, dịch lại cũng đầy chữ Nho, từ chữ Nho này qua chữ Nho kia thì cũng vậy. "Cứu xét tinh yếu, quyết trạch thâm áo, khải ngộ chân nguyên", đâu có dịch gì đâu. Mà ngài nói câu này: "Như thế là phá hủy nhân tố 25 cõi trong lĩnh vực ba cõi, các pháp thân tâm vũ trụ đều biết không thực, chỉ là tâm biến hiện toàn là giả danh. Đừng có đem tâm mà gá vào đó, mà tâm không gá với cảnh thì cảnh đâu có chướng ngại cho tâm. Mặc cho pháp tánh lưu lộ toàn diện, đừng cắt đứt mà cũng không nối tiếp, thấy sắc nghe tiếng cũng như không thì cái dụng cái thể đều đầy đủ". Mấy cái câu này nếu mà giảng á thì chắc phải vài ba tháng mới hết cái

[1:11:43]đoạn này, mà nếu đọc chữ Nho đọc tới lui thì tất cả ta ngủ hết luôn. Ở đây qua bắt đầu ngài nói tới cái cái tinh yếu của thiền, tức là cái người mà ngộ đạo thiền thì đạt được những cảnh giới gì đó cao siêu, thanh tịnh mà tâm đối với vật không dính nhau.

[1:12:04]Cái chỗ này nó cũng là một cái phần thôi, nhưng mà chỗ này tâm với vật không dính nhau, tâm với vật không dính nhau. Cái suy nghĩ của mình với ngoại cảnh đừng có động, chỗ này coi vậy chứ khó. Ví dụ tâm ta còn loạn á, mắt ta nhìn cái gì thì ta đều có chút chăm chú suy nghĩ về nó. Nhớ như vậy. Tự nó thôi chứ ta không muốn cũng được mà muốn cũng không được, ha. Ví dụ như ta nhìn cái cổng chùa thì tự nhiên nó có cái niệm: Cổng chùa này coi lâu ha, có vẻ xưa, thì cũng phải nói theo một câu. Rồi cái chiếc xe nó chạy ngang: Chiếc xe này đẹp quá ha, cũng nói theo một câu. Hay là ta đi ngang ta nghe bài nhạc ai hát lên cái,

[1:12:50]nói ai hát này cũng vừa vừa không hay lắm à, nói theo một câu. Tức là cái tâm cứ dính vào vật mà tự động trừ không được. Đừng hòng trừ, vì nó tự nhiên, tâm gá vật là điều tự nhiên. Chỉ khi nào ta tu đến mức độ mà chánh niệm rất sâu, bắt đầu tâm mới không gá vật. Tai nghe tiếng, mắt thấy sắc, tâm bình an không có khởi niệm chạy theo. Lá thì cứ rơi, nước sông cứ chảy, xe cứ chạy qua, người cứ đi tới đi lui, mọi tiếng chim hót hay là máy kêu, lòng không động, tức là tâm bắt đầu hết gá vật. Đó là mức thô, nhưng mà tạm thời như vậy là được, tức là bắt đầu thấy đạo. Đó, tới cái chỗ này coi vậy chứ cũng đi ba bốn chục năm á, không có đơn giản.

[1:13:42]Ba bốn chục năm mới được cái trạng thái này. Thử tri nhất học tối huyền tối diệu. Cái chỗ này cái yếu lý của Thiền tông này cực kỳ huyền diệu. Đoạn sau này ngài nói thiền không. Trong đó có cái câu này hay nè: Khởi bất kiến, ỷ tùng chi cát, hưởng túng thiên tầm, phù thác thắng nhân, phương năng quảng ích. Hãy nhìn cái dây, cái dây leo tự nó không có leo lên thẳng được lên cao được nhưng mà nó nương một cái cội cây thì nó cũng lên tới trời. Thì chúng ta cũng vậy, hãy tự nhận mình là căn cơ thấp kém, nhưng nếu ta nương vào một bậc cao đức thì ta sẽ vượt lên trên. Nếu ta tạo được cái phước lớn thì ta cũng vượt lên trên,

[1:14:25]ta trở thành những bậc mà đạo cao đức trọng. Cho nên cái chỗ mà nương tựa thầy lành bạn tốt, nương tựa một bậc minh sư đối với ngài đó là điều hết sức là quan trọng trong trong sự tu hành. Đừng chủ quan! Đừng chủ quan nghĩ rằng: Tôi tự tu được. Đa số những người nghĩ rằng chủ quan tôi tự tu được đều tiêu hết. Chỉ khi nào có hoàn cảnh bắt mình rơi vào cái cảnh cô đơn, cô độc thì lúc đó mình hết sức cố gắng để không có sai lầm thì đó là hoàn cảnh. Còn bình thường trong tâm lúc nào cũng nghĩ tới nương tựa một bậc minh sư, thiện hữu là như vậy. Đoạn sau thì ngài nói về lý thiền, rồi nhắc nhở, rồi có một bài minh, tức là một bài kệ dài nói nhiều cái lý rất hay.

[1:15:10]Trong đó nó có cái câu thế này: là Phục vọng hưng quyết liệt chi chí, khai đặc đạt chi hoài. Rất mong các vị, cái chữ phục vọng, rất mong các vị hãy khởi lên cái ý chí tu hành quyết liệt, mở ra cái lý tưởng sâu xa, cái hoài này có nghĩa là lý tưởng á. Thì cái bài văn Cảnh Sách ý nghĩa sâu xa mà chúng ta nói chưa tới 1 tiếng rưỡi đồng hồ thì không bao giờ hết. Nhưng mà ta nhắc lại, ở đây chúng ta không phải dạy theo kiểu lối sơ cấp gia giáo mà học từng câu. Ta chỉ nói phớt, gợi ý để quý thầy về làm bài mà chấm điểm. Kính thưa chư tôn thiền đức, hôm nay cũng trong cái khóa hạ rồi chúng con được Tăng sai trình bày cái đạo nghĩa thô thiển của mình.

[1:16:03]Mong rằng ân đức của tổ sư, đặc biệt là của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu nhắc lại cái bổn phận của người xuất gia với cái bài văn Cảnh Sách cực kỳ cao quý, đẹp đẽ, thiêng liêng này. Kính mong đại chúng ta từng giờ từng phút ghi khắc, tinh tấn tu hành mà làm cho Phật pháp được hưng thịnh mai sau. Cũng mong cho quý Phật tử hôm nay vậy có cái duyên ngồi nghe cái đạo lý của chư Tăng để biết rằng chư Tăng tu hành vất vả.

[1:16:41]Và nếu có chư Tăng tu hành vất vả chân chính thì cái việc mà mình học với chư Tăng để tu là một điều tốt đẹp, mà nếu mình ủng hộ cho chư Tăng tu, đó cũng là cái phước duyên lớn. Và thầy cũng hay nói đi nói lại với Phật tử vậy, cái nhà mình đang ở, đó là cái nhà lửa. Cái chùa đó mới thật sự là cái tổ ấm sau này tất cả chúng ta đều phải quay về. Chỉ có người về sớm, người về trễ thôi, chứ chùa mới là cái nhà mình. Thôi xin kính chúc cho đại chúng ha, ai nấy đều đồng thành Phật đạo. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.