Transcript: Kinh Nikaya 04 - Kinh Ví Dụ Con Rắn 1

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:25:50

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:13]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. ...xây dựng trên cơ sở đạo

[0:24]đức, từ bi và trí tuệ. Pháp môn nơi buổi sơ thiền thừa của chúng ta, nhất là những pháp môn mang tính chất là thiền môn nhật tụng, đã thể hiện đầy đủ yếu tố để xây dựng nền tảng đạo đức để nhiếp hóa chúng sinh. Đức Phật đã từng nhắc nhở các đệ tử không nên dùng thần thông để chế hóa chúng sinh mà hãy dùng đạo hạnh giải thoát của chính mình để nhiếp hóa chúng sinh. Đời đối với chúng ta là một bể khổ, tai nạn. Mỗi tăng ni, Phật tử của chúng ta là những con người dùng cái công hạnh tu tập của mình để tự mình hóa tha, chúng ta hãy chuyển hóa khổ đau của cuộc đời, chứ không chạy trốn cuộc đời, chúng ta không chạy trốn thực tế của cuộc sống,

[1:15]mà trái lại chúng ta phải dùng giáo lý từ bi, trí tuệ của đạo Phật để hóa giải. Tất cả những sự việc đó đã thể hiện tính chất đạo đức của Phật giáo. Hôm nay, với đề tài tâm lý đạo đức Phật giáo, đây là một dịp để chỉ ra cho chúng tôi cần hiểu rõ phương pháp kinh luận tụng, mà ứng dụng kinh luận tụng đó để cho các tăng ni sinh cũng như Phật tử được thọ học pháp môn này chúng ta có một lối sống linh hoạt hơn trong đời sống đạo đức của người đệ tử Phật chân chánh. Với kết quả vừa qua đã cho chúng ta biết thấy rằng sự tiến bộ của các tăng ni sinh là có phần khích lệ, nhưng nhất định ta cần cố gắng thật nhiều,

[1:56]nhất là cần phải bổ sung những điều khiếm khuyết mà Thượng tọa giáo thọ đã có ghi nhận trong bản nhận xét để chúng ta rút kinh nghiệm tốt hơn và hoàn thiện tiểu luận của mình. Nếu tiểu luận được hoàn thành tốt đẹp thì có thể cho Phật tử cũng như các huynh đệ đồng học được tham khảo và rút kinh nghiệm trên bước đường tu học Phật. Và trước khi dứt lời, xin kính chúc Thượng tọa thân tâm thường an lạc, Phật sự viên thành. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[2:27]Tôi thỉnh quý thầy, quý Phật tử ngồi xuống nha. Rồi mình à trở vào làm việc ha, học tiếp bài của mình. Hôm nay thì chúng ta học bài kinh Ví Dụ Con Rắn. Bài kinh này à dài, nên chúng ta không thể trong một lần được, chúng ta phải chia làm hai lần. Đây là một bài kinh khá quan trọng, có nhiều cái đề tài tiêu biểu mà hay được các sách nói về đạo Phật dẫn chứng, ví dụ. Thì câu chuyện thì quý thầy đã xem rồi, tôi nhắc lại một chút. Cái duyên khởi của bài kinh này là do có một Tỳ kheo tên là Arittha có một cái tà kiến. Arittha thì có nghĩa là tàn bạo, vô phúc, cũng có nghĩa là con quạ hay là thần dược, thì ngày xưa làm nghề huấn luyện chim ưng để đi săn á.

[3:18]Thời xưa bên Ấn Độ bây giờ bên Phi Châu cũng còn tồn tại một cái nghề là họ dạy chim ưng đi săn. Con chim ưng được thả bay lên trời thì khi nó bay lên nó nhìn xuống thấy con mồi nó sà xuống nó dùng cái móng vuốt của nó nó xé xác con mồi, rồi nó cắp con con mồi đem về cho chủ, người ta có thể luyện được như vậy, giống như bây giờ người ta luyện chó săn. Mà chim ưng đi săn thì lợi hại hơn chó săn rất nhiều, vì nó bay trên cao nó nhìn xuống là con vật khó thoát được nó, mà phải biết huấn luyện thì thì nó mới trung thành và nó đem mồi về rồi chủ mới chia mồi cho nó. Ở đây, Tỳ kheo Arittha này đã từng làm nghề này,

[3:58]nên đầu kinh vào giới thiệu cho chúng ta thấy là ông có một cái cái nhân duyên không có tốt về nghề nghiệp, đạo Phật mình gọi là tà mạng, làm cái nghề nuôi sống mà trong đó có vẻ ác độc, sai lầm. Thì cái tà kiến của vị Tỳ kheo này là thế này. Ông nói rằng là mặc dù là Thế Tôn đã thuyết giảng là các khoái cảm, các dục lạc được hưởng thụ thì sẽ làm trở ngại việc tu tập giải thoát, nhưng theo tôi hiểu thì coi vậy chứ không có trở ngại. Đó là cái tà kiến bướng bỉnh của ông, nên những Tỳ kheo khác nghe vậy đã khuyên bảo ông, nhưng mà ông không có nghe. Thì đây, cái duyên khởi của chuyện cho chúng ta thấy một điều này nữa

[4:45]là một cách gián tiếp Phật có nói rằng cái phước, cái tội có ảnh hưởng đến cái suy nghĩ, cái tìm thấy được lẽ phải của con người. Người mà có phước, coi vậy dễ hiểu đạo, dễ tìm thấy chân lý. Còn người mà thiếu phước thì dễ hiểu sai lẽ phải, hiểu sai chân lý, nên cái phước đã ảnh hưởng rất là lớn, không phải là không có đâu. Nên ở đây, chúng ta thấy này, một cái người ví dụ như ở ngoài đời làm cái nghề tốt hay sống tốt hay hy sinh, đến khi gặp Phật pháp, tự nhiên có cái tâm mến mộ sâu xa, rồi khi đi nghe giảng dễ dễ hiểu, người đó có phước. Còn người ví dụ như là một người xuất gia trong chúng đi,

[5:31]mà sống một đời ích kỷ, hơn thua, giành giật, rồi khi nghe được những bài pháp hay, trong lòng mình cũng cảm thấy nhạt nhẽo, không có ham thích, hiểu không hết được. Nên chính cái công đức, cái tội cái phước cũng đã ảnh hưởng rất nhiều lên cái việc mà nhận thức được lẽ phải, nhận thức chân lý. Đây là điều như vậy. Do đó, là nếu chúng ta có cái duyên mà tự nhiên hâm mộ được Phật pháp, nghe được lời nói phải, mình thấy rúng động, thấy khắc ghi, thì phải biết rằng mình có phước. Còn nếu mà mình thấy đối với lẽ phải mình thờ ơ, có những người mà mình nghe nói nói tới nhân quả họ không quan tâm, nói tới cái hành động từ thiện,

[6:12]vị tha họ thờ ơ thì phải biết người đó có làm điều tội. Chính cái tội làm cản trở con đường đi đến chân lý, sự nhận thức việc lẽ phải, nên Tỳ kheo Arittha đã bị cái điều này trước hết. Rồi rồi chúng ta thấy thứ hai nữa, là điều Đức Phật nói rằng các dục lạc mà được thọ hưởng thì cản trở việc tu tập. Tại sao vậy? Ai nhớ? Đã học qua tâm lý đạo đức rồi. Tại sao? Các dục lạc á, mình gọi là khoái cảm á, nếu mà mình có cái hưởng thụ thì đưa tới vị kỷ. Đó là cái tiến trình của tâm mà chúng ta đã học trong tâm lý đạo đức rồi ha, mà vị kỷ là nguyên nhân của của gì? Đau khổ. Dĩ nhiên cái tiến trình từ vị kỷ đến đau khổ thì nó dài lắm,

[7:07]nó còn bao nhiêu cái điều ở giữa này để chúng ta phải tạo nghiệp. Phiền não thì nó mới thành đau khổ, nhưng mà công thức tổng quát là như vậy. Còn cái dục lạc, cái khoái cảm á coi cái bản thân nó không có tội, mà cái tội là cái sự hưởng thụ, tâm hưởng thụ thì đưa đến vị kỷ. Luôn luôn như vậy. Đây là cái công thức mà chúng ta đã học chúng ta phải nhớ. Ở trong thiền định cũng có khoái cảm. Ở người đời cũng có những cái dục lạc của thế gian, còn trong sự tu tập coi vậy chứ cũng có cái cái hỷ lạc của thiền định. Nhưng mà lúc cái hỷ lạc của thiền định khởi lên á mà nếu mình có cái tâm hưởng đó, khi mình ngồi thiền tâm

[7:46]nó vào định thanh tịnh dần dần nó bắt đầu nó dâng lên cái cảm giác hỷ lạc, mà nếu lúc đó mình chú ý vào cái cảm giác hỷ lạc đó thì mình cũng sẽ bị cái vị kỷ khởi lên. Đây là chỗ rất là tế. Còn nếu ở trong thiền định á, khi tâm mình nhiếp vào định, hỷ lạc bắt đầu nó xuất hiện, mình khước từ, không quan quan tâm đến nó, chỉ tiếp tục giữ chặt pháp môn để tu thì mình mới không bị cái vị kỷ này. Đây là những điều tế nhị, sâu sắc. Còn ở thế gian thì khi mà việc hưởng thụ những cái dục lạc thế gian chắc chắn là làm cho người ta ích kỷ, mà ích kỷ lại là nguyên nhân của đau khổ trong khi đạo Phật là cái con đường đi để thoát khổ.

[8:27]Do đó, chính cái công thức này mà Đức Phật nói việc thù hưởng dục lạc là làm cho người ta không thể tu tập giải thoát được. Quý thầy phải nhớ công thức này để người ta vặn hỏi mình trả lời. Tại vì có nhiều người trong cuộc sống này vậy, họ nói đạo Phật là nói cuộc đời là đau khổ họ không thấy, mà có những lúc họ cảm thấy họ họ sung sướng. Thì lúc đó họ đâu thấy cuộc đời là đau khổ, thì mình phải thấy thế này, phải thấy công thức này, chính những lúc họ thấy họ sung sướng, họ hưởng thụ đó là đó là sẽ xuất hiện cái tâm vị kỷ bám chặt vào cái hưởng thụ đó. Cái chấp ngã, cái ích kỷ tăng lên liền và nguyên nhân của đau khổ là lâu dài về sau.

[9:04]Mình phải hiểu được cái tiến trình này, công thức này mình mới có thể giải thích cho nhiều người mà họ chưa hiểu thấu đáo về cái đau khổ, cái tiến trình của đau khổ, sự thành lập của đau khổ là như vậy. Lúc đó các vị Tỳ kheo mới đến nói chuyện với Arittha, nói: "Này hiền giả, hiền giả đừng xuyên tạc Thế Tôn. Thế Tôn đã nói cái việc mà hưởng thụ dục lạc..." là vui ít khổ nhiều, mà nguy hiểm còn nhiều hơn nữa thì đừng có hiểu khác đi. Thì Tỳ kheo Arittha cũng bướng bỉnh không chịu nghe. Ở đây, cái câu nói thế này, Đức Phật thường hay nói trong nhiều bài kinh khác, thì ở đây chúng ta nghe lặp lại trong cái sự tình này.

[9:48]Trong cái sự tình này mà có cái việc lặp lại đó, là Đức Phật đã nói các dục, các dục lạc của thế gian vui ít, khổ nhiều, nguy hiểm còn nhiều hơn. Câu nói đơn giản, câu nói đơn giản nhưng mà người đệ tử Phật chúng ta mà nhất là người xuất gia phải hiểu chỗ này cho thật thấu đáo, không có hiểu qua loa được. Học Nikaya thì có vài cái câu, có những câu ngắn ngắn ngắn ngắn như vậy mà toàn là yếu chỉ của đạo Phật nằm trong đó hết. Các dục lạc vui ít khổ nhiều, nguy hiểm còn nhiều hơn. Chúng ta phải hiểu câu này cho thấu đáo, vì những cái tinh túy của đạo Phật nằm ở trong những câu đó. Tại sao gọi là dục lạc vui ít khổ nhiều?

[10:31]Bây giờ chúng ta phải quan sát, dùng trí tuệ để quan sát những câu đó để hiểu nó một cách sâu sắc rồi mình có một cái đời sống tu hành vững chắc không bị lung lay, đồng thời là khi những Phật tử đến với mình hỏi về những điều của thế gian thì mình có cái nhãn quan, mình đã có cái đường lối không có sợ, có thể giải thích, giúp đỡ cho người Phật tử vượt qua những phiền muộn của họ. Ở đây tại sao dục vui ít khổ nhiều? Chúng ta hãy nhìn thấy một người giàu có. Cái vấn đề giàu có là sướng hay khổ? Sướng phải không? Đó, đó là vui. Ví như giàu có là vui. Nhưng cái làm để được giàu sướng hay khổ? Bỏ công bỏ sức để mà làm cho được cái giàu thì sướng hay khổ?

[11:16]Rồi bảo vệ cái giàu đó sướng hay khổ? Cái mà nơm nớp sợ ăn cướp đó là sướng hay khổ? Rồi cái mà lo không biết con cái nó giành gia tài sướng hay khổ? Rồi sợ mấy bà vợ bé giành nhau là sướng hay khổ? Cũng nhiều cái khổ lắm. Cho nên mình nói một cái giàu chứ mà đẻ ra tùm lum chuyện phải lo phải nghĩ. Đó, thấy giàu sướng thiệt nhưng mà bước vô đó rồi đủ thứ chuyện. Nên có những người khi thất nghiệp không có việc làm, một ngày làm hai ba tiếng đồng hồ cứ ngày đêm đi chùa cầu trời khấn Phật cho con có việc làm, rồi cho con làm giàu, rồi một thời gian sau có ông Thần ổng hiện ra ổng cho toại ý cái người này giàu lên.

[11:54]Khi giàu rồi cái một ngày nọ ổng mới nói "thôi cho con nghèo lại như hồi xưa, mệt quá rồi, sợ." Hồi xưa không có việc làm, ăn thở thiếu thiếu vậy, ngày làm hai ba tiếng đồng hồ vậy, còn rảnh mà đi chùa. Còn bây giờ một ngày làm 18 tiếng để mà bảo vệ cái tài sản của mình cho nó không tuột lại, nó không lỗ vốn, nó không bị mất, không bị phá sản. Khổ quá, tâm quá bận đi, quá bận tâm đi. Cho nên thấy lúc mà bước vô giàu rồi mới thấy giật mình, lúc đó mới hiểu lời Phật nói: các dục lạc thế gian vui ít khổ nhiều mà nguy hiểm còn nhiều hơn. Lúc nào cũng phải có cận vệ, lúc nào cũng thấy là trộm cướp đang rình mình đủ thứ chuyện hết, không yên.

[12:34]Rồi bây giờ như việc sử dụng ma túy đi, hút xì ke, chích ma túy là sướng hay khổ? Sướng hay khổ? Ai biết sướng không? Chắc tôi không biết nha, hồi nãy quý thầy nói. Vậy là có mấy thầy đã nói rằng sử dụng ma túy là sướng, chứ tôi không biết tại do mấy thầy nói. Rồi là sướng. Thì bây giờ nè, tìm tiền để mà sử dụng ma túy, để mua ma túy là sướng hay khổ? Rồi mỗi lần mà không có tiền mua nó vật sướng hay khổ? Công an bắt sướng hay khổ? Đủ thứ chuyện khổ hết. Thấy những người mà bị nghiện ma túy vậy là khi mà cái lên cái cơn của họ là mẹ cha cũng dám giết để lấy tiền. Khi mẹ cha không còn tiền, đi ra ngoài là giựt giật người

[13:16]ta để lấy tiền cho bằng được đó, khổ vô cùng. Rồi khi công an bắt được, công an mà bắt được rồi là đời tàn, vì lúc đó nằm để một đống đó đâu cho thuốc cai nghiện, vật vã nằm giẫy đành đạch đành đạch trong trại giam á. Cho tới khi nào bốn năm ngày sau bắt đầu mới hết giật, hết vật thì kết tội rồi nhốt luôn. Nhốt luôn mà trong đó đâu có yên, nó vẫn bị thèm, thèm lắm. Nó không vật nữa nhưng vẫn còn thèm, ra khỏi tù cái là đi giựt đồ người ta để mua, hút liền, chích liền. Là cả một đời chôn vào trong cái khoái cảm đó thôi. Cho nên gọi là nguy hiểm còn nhiều hơn, vui ít khổ nhiều, nguy hiểm còn nhiều hơn nữa.

[13:53]Rồi còn nhiều cái cũng gọi là cái dục lạc thế gian nữa. Ví dụ như là cái quan hệ tính dục nam nữ cũng là một loại cũng là một loại khoái cảm thế gian. Nhưng mà chúng ta biết tất cả mọi cái vui ít khổ nhiều, nguy hiểm còn nhiều hơn, may là quý thầy đã đi tu. Chúc mừng quý thầy. Trong các bài kinh khác, Đức Phật đã nói như vậy rõ ràng. Các vị Tỳ kheo đó mới thuyết phục là Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương, nghĩa là gì? Nghĩa là thấy nhai được thèm thèm mà ăn không được. Coi vậy chứ nuốt vô không trôi, nhả ra thì tiếc mà nuốt vô không được. Có nhiều thiền sư cũng ví giống như là con chó

[14:33]đứng trước cái chảo mà người ta chiên mỡ, nghe bốc mùi thơm chịu không nổi mà không thể liếm được. Nghĩa là bỏ đi thì không đành, mà cứ đứng đó thì cũng chỉ nhìn. Vì vui của thế gian vậy, nó giả tạm, mà lừa gạt, tạm bợ như vậy. Là các dục được ví như miếng thịt, các dục được ví như bó đuốc cỏ khô nghĩa là gì? Cháy tan hết, đốt cái người mà cầm nó luôn. Các dục được ví như hố than hồng nghĩa là sao? Rớt xuống là tiêu cuộc đời. Quý thầy đi tu là đúng. Các dục được ví như cơn mộng là gì? Không có thật, phải không? Ví như vật dụng cho mượn là gì? Phải trả, có cái giá phải trả cho nó. Tìm được một niềm vui gì trong cuộc đời đều có cái giá phải trả, cũng khổ sở lắm.

[15:24]Ví như trái cây, ví dụ như lò thịt, ví như cây nhọn, ví như đầu rắn. Nhưng mà Tỳ kheo ấy dù có nói cách nào cật vấn, chất vấn, thảo luận thì vị Tỳ kheo Arittha vẫn cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy. Thật sự là như vậy, theo tôi như hiểu, hiểu là dù thế Thế Tôn có nói rằng các dục lạc là chướng ngại sự tu tập, thì tôi thấy vẫn không chướng ngại gì. Ở đây là một sự bướng bỉnh. Bướng bỉnh là do cái gì? Một á là do cái kiêu mạn, thấy mình đúng, người khác sai. Hai là cũng do cái nghiệp của tâm, thấy làm cho mình không có thay đổi được. Đó, cái kiêu mạn. Mà có những trường hợp thế này, trường hợp là bây giờ ví dụ như

[16:19]trong một chúng như vậy 20 người, thì trong đó có 18 người họ chủ trương thế này, nhưng mà có hai người chủ trương thấy khác. Thì như vậy hai người đó phải là hai người bướng không? Phải không? Ai nói gì cũng giữ khăng khăng cái ý của mình, phải hai người đó bướng không? Phải không? Không chắc. Đây có thế này, ví dụ một cái điều đó gọi là sai mà mình chấp chặt, ai nói gì cũng không bỏ thì gọi là bướng bỉnh. Nhưng có trường hợp nếu điều đó là đúng thì không gọi là bướng mà gọi là giữ vững lập trường. Cũng giống nhau vậy á, nhưng mà hễ cái điều mình nói là đúng thì mình gọi là kiên định lập trường.

[17:06]Và ví dụ như trong lớp đi, ở chung quanh mình ai cũng nói rằng là nếu mà mình tụng một câu thần chú này đó, mình có thể tiêu nghiệp, mà có một hai người chủ trương: "muốn tiêu nghiệp phải làm phước", thì cái người mà ít như vậy đó chủ trương điều đó người ta gọi là lì. Nhưng mà coi chừng điều đó nếu nó là đúng thì không phải là lì, là can đảm một mình mà dám chống lại, dám giữ vững cái lập trường của mình trước những người mà họ đã chủ trương ngược lại, thì cái đó là kiên định lập trường. Còn mà nếu mà cái điều mình sai người ta đúng, mà mình không đủ trí tuệ để thấy được cái đó, thì gọi mình là bướng bỉnh, vẫn giữ cái sai của mình.

[17:49]Cho nên cái quan trọng để gọi là bướng bỉnh hay gọi là kiên định lập trường là do cái điều mình chấp giữ đúng hay là sai. Nhưng mà bây giờ làm sao biết đúng hay sai? Biết rằng cái quan điểm của hai người này là đúng, hay là quan điểm của 18 người kia là đúng? Dựa vào đâu để biết? Dựa vào đâu? Cái chỗ này bên từ toán học bây giờ họ gọi là fuzzy.

[18:16]rất là mờ. Đây là chỗ mà mình không thể khẳng định được. Bây giờ làm sao mà giữa hai bên đó biết bên nào sai bên nào đúng, không biết được. Mình dựa vào đâu? Vì ai cũng cho mình đúng hết, phải không? Thì bên 18 người kia họ cũng nói là quan điểm tôi là đúng nên tôi phải cương quyết giữ gìn để được gọi là kiên lập trường. Rồi hai người kia cũng nói tôi đúng, và tôi phải giữ gìn. Thì bây giờ khách quan nhìn vào chả biết ai đúng. Mà chừng nào khẳng định được đúng sai thì mới nói ai là bướng, ai kiên định lập trường. Mà để dựa vào đâu để đánh giá mọi người đúng sai? Chỗ này là một chỗ mờ. Trên cuộc đời đây là một chỗ mờ, không có tiêu chuẩn cố định

[18:53]mà thường là theo cảm tính, theo một vài cái thành kiến có sẵn, rồi để mình cho rằng à người này đúng, người kia sai. Chứ cái đúng sai thật sự nó nằm chỗ nào nó rất là mờ, khó biết. Tuy nhiên, nếu mình để cái chỗ này hoài mình không giải quyết thì đạo Phật mình không xác quyết, đạo Phật mình không trắng ra trắng đen ra đen rõ rệt, nên mình phải giải quyết cho ra. Là giữa hai bên phe nói những ý kiến ngược nhau đó thì bên nào là đúng? Thì mình sẽ có cái chỗ dựa là là toàn bộ giáo pháp. Người nào mà nói cái chủ trương gì mà phù hợp với toàn bộ giáo pháp đã có sẵn, đồng thời mình thấy cái người đó trong đời sống có đạo đức thì thường họ đúng.

[19:35]Vì cái đạo đức nó tạo thành cái phước, và có cái phước giúp cho người ta dễ hiểu được lẽ phải. Nên mình thấy cái người mà trong đời sống hằng ngày họ hiền lành, họ vị tha, họ khiêm tốn, họ hy sinh thì thường những điều họ nói dễ là điều đúng. Còn một người trong đời sống hằng ngày mà mình thấy họ hay nổi sân, kiêu mạn, lì lợm thì mình biết thường những điều họ đưa lên là thường là sai. Cái đạo đức và chân lý nó hay đi song song với nhau, nên đó cũng là một tiêu chuẩn dựa vào để chúng ta biết rằng người đó đúng hay sai. Nhưng có những trường hợp vậy, mà trong chúng chúng ta thấy những người họ hiền

[20:13]lành lắm, nhưng mà có những lúc họ cương quyết dễ sợ lắm, cương quyết dữ dội. Mình nói sao này ổng hiền mà hôm nay sao ổng bướng quá vậy? Không phải. Vì lúc đó ổng hiền nên khiến ổng có phước, ổng thấy được một điều gì đó. Và vì điều đó ổng biết chắc là đúng nên ổng quyết tâm bảo vệ tới cùng. Và cái quyết tâm bảo vệ của người đó mình gọi là ổng ổng bướng, nhưng sự thật lúc đó là lúc họ đang kiên định lập trường. Mà ở buổi đầu tu tập vậy đó, khi một người vào chùa xuất gia vậy, trong giai đoạn đầu mà mình thấy là một người hiền lành, lễ độ, nhường nhịn, chịu khó hy sinh, dễ bảo, thì người đó thường lớn lên là một người uy đức và cương quyết.

[20:53]Vì lúc đó là cái phước, cái phước người mới tu là ngoan ngoãn, hiền lành, lễ độ, hy sinh, biết công quả, thì cái phước nó làm cho người đó nảy nở trí tuệ lên dần dần dần dần. Khi trí tuệ họ sáng lên họ biết đúng sai, phải trái rõ ràng rồi thì họ bảo vệ rất là kỹ, nên khi lớn lên lại có uy đức lớn. Còn người mới vào tu mà mình thấy cái người hơi hỗn, hơi dữ, thì lớn lên chút xíu về sau trở thành con người không ra gì, không có uy đức, ai cũng ghét, không làm được việc Phật pháp nhiều. Đó là tôi quan sát nhiều đó. Tôi quan sát nhiều người tu trong một thời gian dài là tôi thấy rõ điều đó. Nên ở đây, cái vị Tỳ-kheo này đã bướng bỉnh,

[21:33]giữ chặt cái hiểu sai của mình, thì trong trường hợp này thì người này là bướng bỉnh chứ không phải là kiên định lập trường. Thì sau khi mà các vị Tỳ-kheo khác nói, thuyết phục gì ông này ổng cũng không nghe, các vị Tỳ-kheo đó lên trình với Phật liền. Trình với Phật để Phật giải quyết. Ở đây chúng ta học thêm được một bài học nữa: ở trong chúng với nhau, mình phải quyết tâm sửa lỗi cho nhau. Thấy người ta sai không được bỏ yên. Thấy người khác sai mà mình bỏ qua là mình sẽ mang tội nặng. Đây là bài học hôm nay chúng ta được. Vì có nhiều người vậy, quan niệm là đừng thấy lỗi người khác, đây là quan niệm hết sức sai lầm trong đạo Phật mà ngày xưa không có điều đó.

[22:13]Các Tỳ-kheo mà biết ai có lỗi, trước hết đích thân mình lại dùng từ bi để nói chuyện. Mà nếu người kia không nghe nữa là trình với Phật liền, chứ không bao giờ để cái sai lầm đó tồn tại trong Tăng đoàn lâu dài. Cái thái độ ngày xưa như vậy, cho nên Tăng đoàn thời Đức Phật khá tốt đẹp là vì như vậy. Còn ngày nay, chúng ta bị hiểu lầm cái câu nói là "đừng nhìn lỗi người khác", nên thấy người khác có lỗi, mình im lặng nói thôi đừng nhìn lỗi ai. Điều này nó tạo thành hai cái quả báo xấu ở về sau. Quả báo xấu thứ nhất á là sau này mình có lỗi không ai nhắc. Tại vì mình đã không nhắc cho ai. Và lỗi mình mà không được ai nhắc thì đó là điều hạnh phúc hay là bất hạnh?

[22:57]Bất hạnh, phải không? Là nó cứ tồn tại hoài, trong khi mình tu là cần sửa lỗi, mà mình có lỗi người ta thấy người ta không thèm nói, thì thật là một điều bất hạnh. Chớ đừng nghĩ người ta có lỗi mình có lỗi người ta không nói là sướng đâu nha. Không phải, đó là đau khổ. Đó là cái tội thứ nhất, cái quả báo thứ nhất. Cái quả báo thứ hai là đời đời khi mình đi vào một cái môi trường, một tập thể nào để sống thì toàn là tập thể xấu. Tại vì lúc trước mình sống trong một tập thể nào, mình đã không xây dựng được cho cái tập thể đó, cho tăng chúng nơi đó. Có nhiều người tin rằng chỉ cần niệm Phật là sẽ được

[23:35]sinh về cái cõi Phật, chung quanh toàn là Bồ Tát. Tôi nói điều đó sai nhân quả. Tôi nói người ta hơi giận, nhưng mà tôi phải nói thật như vậy. Có nhiều người cứ tưởng là là cứ cầu trời khấn Phật gì đó, chết sinh lên cõi trời về cõi Phật, hổng có chuyện đó đâu, vì cái nhân quả chưa đủ. Nhân quả chưa đủ là sao? Cái cõi trời cõi Phật á là toàn là Thánh không à. Mình về mình ở được chung quanh là người tốt không, phải có cái nhân quả là lúc mình sống trên cuộc đời này mình đã hết công hết sức tận tụy cả một đời để xây dựng cho con người ở cõi này trở nên tốt đẹp, thánh thiện lên, thì mình mới về được cái cõi Thánh.

[24:13]Đó, cái nhân quả là ở chỗ đó. Cho nên, còn nếu mà chúng ta thờ ơ với cuộc đời, quay lưng với mọi người, lỗi phải của ai mặc kệ không cần biết, thì khi mình chết mình chỉ về một nơi mà chung quanh toàn là răng nanh và mắt trợn thôi. Tại vì mình không có cái nhân lành. Còn ở đây mình khi mình sống trong cuộc đời này, mình thấy cuộc đời người ta kém đạo đức quá, mình nỗ lực mình xây dựng, kêu gọi người ta thương yêu nhau. Hễ biết có những người xấu cố gắng nỗ lực lại giáo hóa, thì khi mình chết chắc chắn phải về cái chỗ toàn là người tốt không. Đó, đây là cái cái cách làm việc như vậy. Và trong tăng chúng vậy, là khi thấy huynh đệ mình có lỗi,

[24:57]mình phải can đảm góp ý liền, góp ý bằng lòng từ bi, bằng lòng từ bi, chứ không được mà mình chỉ trích, chê bai. Bằng lòng từ bi, chừng nào người này không nghe là phải đi mét Thầy liền, chứ không được để yên. Đó là cái thái độ rất đúng. Mà khi mét Thầy, đừng sợ người ta thù. Đó là can đảm. Học bài can đảm chưa? Đây là can đảm, vì mình phải mình phải gan như vậy người ta mới sợ, người ta mới sửa đổi. Lần sau mà hễ mình mà góp ý cái phải lật đật sửa liền, không dám lì nữa. Biết lì mình mét Thầy liền. Đó, như vậy đó. Ví dụ như là mình thấy cái người nọ trong một lần đó phát đồ, biết cái người đó còn bộ đồ tốt nhưng

[25:40]mà giả bộ nói không có để nhận thêm bộ đồ nữa. Mình thấy mình làm thinh là sai. Tìm cách gặp riêng, bằng lòng từ bi nói. Nói: "Huynh đừng như vậy. Là còn có những người mà chưa có đồ, huynh còn bộ đồ thôi đừng nhận." Ừ, nói bằng lòng từ bi, rồi không nói ai, không đi nói xấu ở chỗ khác nữa, không để người ta mất danh dự. Mà nếu người đó không nghe, lên trình Thầy liền, lần sau họ ớn hồn liền. Mà ông Thầy lại, ông Thầy phải sáng suốt là khi một cái người này mét lỗi người kia, mình phải biết là cái người mét đó, mét trong tâm trạng từ bi thương huynh đệ hay là mét để cho ông Thầy ghét. Coi chừng cái người mét trật nữa.

[26:21]Nên ở đây mình nói là mờ là vậy đó, chưa biết chân lý nằm chỗ nào. Cho nên ông Thầy phải rất là sáng suốt. Bản thân mình phải biết sáng suốt, mà ông Thầy cũng phải rất là sáng suốt. Cái cách ngày xưa là như vậy đó, ngày hôm nay chúng ta phải áp dụng. Những bài trong kinh Nikaya này là những sự kiện có thật trong cuộc đời. Và ngày hôm nay khi chúng ta đọc lại những bài kinh Nikaya này, chúng ta học được từng điều nho nhỏ nho nhỏ trong cái đời sống của Đức Phật, chư Tăng ngày xưa, mà mình phải nhìn ra thấy từng bài học lớn. Những chuyện rất nhỏ trong kinh nhưng là những bài học rất lớn để xây dựng Phật pháp cho ngày hôm nay.

[26:56]Chúng ta không được bỏ qua chi tiết nhỏ như vậy. Đọc kinh Nikaya là vậy đó, vì đây là những sự kiện có thật hết. Lúc đó Phật mới gọi cái vị Arittha này tới. Sau khi nghe các Tỳ-kheo mét rồi, Đức Phật mới nói: "Hãy nhân danh Như Lai đến gọi Arittha tới đây." Khi gọi Arittha tới, Đức Phật mới hỏi: "Này, có phải là ngươi đã chủ trương như vậy không?" Ổng tuy công nhận lại là có. Ở đây chúng ta thấy thêm một cái tư cách của một người lớn nữa, là khi nghe người này mét lỗi người kia là Phật không có kết luận liền, dù Phật dư biết. Nhưng mà trên nguyên tắc làm việc là vẫn phải gọi cái người kia đến hỏi để cho họ được nói lên tiếng nói của họ.

[27:39]Đó là sự công bình giống như quan tòa bây giờ. Không bao giờ nghe kết tội một phía, mà phải nghe bên luật sư bào chữa. Đó, người nghe bên bị cáo nói lên tiếng nói của mình, thì cũng vậy. Còn bây giờ ví dụ mình nghe người này mét người kia cái mình để bụng liền, mình tin liền là mình thiếu công bình. Mà trên thế gian này thường như vậy đó. Thí mình nghe nói xấu cái sư cô đó, mình tin liền, mình không nghe sư cô kia nói lại như thế nào. Ví dụ bây giờ mình nghe người này nói xấu, nói sư cô đó coi vậy chớ ngày xưa là lừa đảo người ta năm cây vàng trốn đi tu, mình nghe mình tin liền. Mà nếu mình là người Phật tử tốt, mà chuyện đó chưa rõ mình sẽ

[28:23]đến gặp sư cô đó mình hỏi liền, "Con nghe như vậy thưa sư cô có thật hay không?" Mình phải nghe tiếng nói của sư cô đó nữa, thì mình mới hiểu rằng sự thật không phải như vậy. Nên ông thầy vậy, khi mà nghe một người mách mình một câu chuyện, nhưng mà nếu mà mình hỏi lại người kia thì họ làm thì coi vậy có cái lý do gì đó để họ làm điều đó, thì cái lỗi của họ nó không còn mười phần như mình đã nghe, mà nhiều khi còn năm phần, ba phần gì đó thôi. Đó là mình phải lắng nghe từ hai phía, thì Đức Phật đã làm như vậy. Thì chúng ta nhớ lấy như làm gương, sau này quý thầy lớn lên làm thầy, thì đây là những bài học, bài học vô giá trong cách ứng xử ở trong đạo với nhau.

[29:04]Sau khi hỏi như vậy rồi bây giờ chúng ta nghe Phật rầy đây, dữ dội lắm. Này kẻ ngu si kia, sao ngươi lại hiểu Pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết về chướng đạo pháp. Những ai thọ dụng dục lạc thì bị vô chướng ngại, Ta đã thuyết dục ví như khúc xương, như hố than hừng, vân vân. Này kẻ ngu si kia, không những ngươi xuyên tạc Ta, mà ngươi còn tự phá hoại công đức của chính ngươi. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa ngươi đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho ngươi. Này kẻ ngu si kia, người ta sẽ biết ngươi, ngươi sẽ nổi tiếng bởi vì cái ác kiến của ngươi.

[29:47]Thì Đức Phật mắng một loạt như vậy mình thấy Đức Phật dữ không? Hỏi một câu trả lời thiệt nghe coi, dữ không? Dữ không? Sao biết không? Mắng là đồ ngu quá chừng đây mà không dữ. Nói thì ta nghe rồi chúng ta không dám nói Phật dữ sợ mang tội, phải không? Nhưng mà nhiều khi trong đầu mình hay hay hình dung lúc đó Phật dữ thiệt, mắng dữ. Là tại sao vậy? Tại vì mình hình dung, mình suy bụng ta ra bụng Phật. Thì mọi lần mình nhớ á, hễ mỗi lần mà mình mắng ai mình mắng ai là đồ ngu thì mặt mình sao? Mặt mình dữ dằn lắm, hung hung làm đồ dữ thì mình tưởng Phật cũng vậy, không phải. Thật ra đó, những vị thầy mà có đạo lực chứ chưa nói tới Đức Phật,

[30:32]nhiều khi cái lời nói nghe nó nặng, nhưng mà cái thái độ rất là từ tốn, bình thản. Chúng ta phải thấy Đức Phật nói, "Này kẻ ngu si kia..." Phật nói trầm rãi như vậy. Ngươi đừng có mà làm biếng không làm bài, Ta cho ra đề. Mà khi các ngươi mà ngồi thiền, các ngươi đừng có xả thiền sớm. Này kẻ ngu si kia, các ngươi đừng có lén xuống bếp mà ăn vụng. Nói nhẹ nhàng thôi, lời thì nặng nhưng mà nói nhẹ nhàng. Thì ngày xưa Đức Phật như vậy á. Ngài nói nhẹ nhàng chứ không phải dữ như mình đâu. Để tôi biết mà, hồi tôi thì tôi còn dữ, nhưng mà cái người đệ tử tôi ở bên ni là cô Liễu Nghiêm mà cô mất rồi á, thì cô làm quản chúng thì cô có trách nhiệm phải dạy chúng.

[31:22]Thì những lỗi lầm của huynh đệ, cô cô góp ý liền. Nhưng mà lời nói nhẹ nhàng lắm, từ tốn, lỗi nghiêm trọng gì cũng từ tốn mà nói nhẹ nhàng, nên từ từ chúng nể lắm. Còn nhiều khi chứ tôi nghiêm khắc lắm, mặt tôi lạnh lại, tôi rầy. Chứ còn cô Liễu Nghiêm là cứ từ từ mà nói. Đây nên cái đoạn mà Đức Phật quở chúng ta sẽ nghe nhiều lần, khi mà đọc Nikaya chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều lần Đức Phật đã quở những tỳ-kheo mà hiểu sai là, "Này kẻ ngu si kia", giống như bây giờ mình mắng đồ ngu vậy, nhưng mà Đức Phật nói nhẹ nhàng, nghiêm khắc. Rồi sau cái đoạn này thì bắt đầu Đức Phật mới thuyết giảng cho các tỳ-kheo khác,

[32:05]là không nói với Ariṭṭha nữa mà nói với các tỳ-kheo khác để khẳng định lại con đường của đạo Phật, cũng là để hóa giải cho Ariṭṭha và cũng để khẳng định lại đạo tâm của các vị tỳ-kheo khác. Ở đây thì chúng ta sẽ thấy tiếp: Lý do mà hiểu sai là vì có cái điều gì sai lầm. Chư tỳ-kheo, ở đây có một số người ngu si học Pháp, như kinh, ứng tụng, giải thuyết, kệ tụng, cảm hứng ngữ, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, phương quảng. Kinh này là gì thì sau này chúng ta sẽ giải thích, bây giờ không có thì giờ. Sau khi học Pháp này, chúng không quan sát ý nghĩa những Pháp ấy với trí tuệ, cho nên chúng không hiểu được các Pháp này rõ ràng.

[32:47]Chúng học Pháp chỉ vì lợi ích muốn chỉ trích người khác, chỉ vì muốn khoái khẩu biện luận, và không đạt được cái mục tiêu mà sự học Pháp hướng đến. Và vì nắm giữ Pháp ấy sai lạc, nên đã đưa chúng đến bất hạnh và đau khổ lâu dài. Rồi Phật đưa ra cái ví dụ mà chính cái ví dụ này đã trở thành cái tựa của bài kinh này: Ví như như một người đi tìm con rắn nước, rắn nước có độc không ta? Ở Việt Nam mình tôi nhớ rắn nước cắn đâu có chết phải không? Nhưng mà sao trong kinh này thì nói rắn nước là cắn chết. Đi khắp chỗ để tìm rắn nước, nó thấy một con rắn nước lớn và nó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi, con rắn ấy có thể quay lại cắn

[33:25]nó nơi tay, nơi cánh tay hay một phần khác cơ thể, và nó có thể do nguyên nhân này bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư tỳ-kheo, vì nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy, ở đây có một số người ngu si học Pháp mà không có hướng đến cái mục tiêu chính xác, đã chỉ vì thích chỉ trích người khác, khoái khẩu biện luận, cho nên đã đi đến đau khổ lâu dài. Học Pháp mà không đi đến được cái đúng cái mục tiêu của cái giáo pháp, mà đã học Pháp với mục đích khác. Thì chúng ta thấy nè, mục tiêu của giáo pháp là gì? Là là đưa đến sự giác ngộ, mục tiêu chính là giác ngộ, giải thoát. Nhưng mà khi mà chúng ta hiểu không hết,

[34:14]chúng ta đã học Pháp với những cái mục đích khác. Ai kể ra giùm: Học để hử? Lý luận phải không? Rồi, gì nữa? Lý luận, chê bai, rồi, cũng được, học để mình biết chê bai người khác thì cũng là một lý do. Gì nữa? Bằng cấp, học để lấy danh dự, uy tín nè, học để có lợi dưỡng nè, nghĩ rằng mình có học là người ta sẽ cúng dường nhiều nè. Gì nữa? Học vì lấy kiến thức. Đây là những mục tiêu sai lầm trong việc học Pháp. Nghĩa là khi chúng ta học, chúng ta đã không hướng đến sự giác ngộ mà chúng ta đã hướng đến một trong những điều này. Mà lý do tại sao vậy? Lý do tại sao mà chúng ta đã hướng đến những điều này?

[35:06]Ở trong đây quý thầy nhìn lại coi mình bị mấy cái? Nhìn lại coi. Mình nhìn lại tâm mình coi, mình bị mấy cái dưới này? Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười một. Mà tại sao mình bị như vậy? Lý do tại sao? Tại sao mình học Pháp đã không hướng đến sự giác ngộ, mà đã vì cái lý luận, vì chê bai, vì bằng cấp, vì danh dự, vì lợi dưỡng, vì kiến thức? Tại sao? Nguyên nhân chỗ nào? Tại ai? Tại giáo thọ. Chính những người hướng dẫn, chính những giảng sư đã làm cho cái người học tăng, học ni đi lạc mục đích. Cái lỗi này tôi không trách tăng ni sinh mà tôi trách những người dạy. Vì những người giảng từ họ ban đầu đâu có đủ trí tuệ, phải không?

[35:53]Họ thụ động họ ngồi nghe. Nhưng mà nếu ông thầy ổng dạy á, ổng không có nhấn mạnh giáo pháp hướng về sự giác ngộ, mà ổng chỉ nói là để học vì lý luận, ở Phật giáo thế này, tông này thế này, tông kia thế kia là vì lý luận. Rồi học là để lấy kiến thức, giáo thọ là hay khuyến khích tăng ni là vì hai cái này: Lấy kiến thức phải hiểu biết thông Phật pháp. Còn lại những điều chê bai, bằng cấp, danh dự, uy tín là do tăng ni tự dạy nhau. Trong tăng chúng á, rù rù rù rù ráng học đi, coi chừng người ta cúng mình à, ráng học thì phải có danh dự, tôi về quê mà tôi không học không ai coi tôi ra cái gì hết trơn á, học phải lấy cái bằng mình mới được đi học nữa.

[36:30]Là mấy cái điều này là mình tự mình dạy nhau nè, rù rù dạy nhau nè. Còn mấy thầy giảng sư thì hay nói về lý luận và kiến thức. Sai là ở chỗ đó, là vì giảng sư. Nên ở đây, cái người giảng sư tốt luôn luôn nhắc cái người tăng ni sinh là phải thực hành tu tập để đạt được sự giác ngộ. Là mỗi một lời của Phật nói ra chúng ta phải hiểu sâu và phải ứng dụng được trong đời sống, chứ không được nghe lời Phật nói để hiểu lý luận đó, lấy đó làm kiến thức rồi để dành đó, không được. Mà phải hiểu thật sâu, giống như nãy Phật nói là phải quán giáo pháp với trí tuệ. Vì kẻ này không quán với trí tuệ, nên hiểu không được mà hiểu sai rồi đi lạc luôn,

[37:10]giống như nắm con rắn mà nắm nhầm cái đuôi, cái lưng nó là trở lại nguy hiểm. Cũng vậy, khi mà chúng ta đã nắm những cái này, đây là cái đuôi, cái lưng nè, chụp vô chỗ nào là rồi cũng chết á. Rồi mình sẽ gặp nguy hiểm, đổ vỡ, đau khổ lâu dài trong Phật pháp. Chừng nào mình nắm được cái này mới gọi là nắm được cái đầu con rắn nè, nắm được cái mục tiêu giác ngộ. Mà ở đây muốn nắm được cái này thì mỗi cái giáo pháp mà chúng ta học được nó phải trở thành cái cuộc sống từng ngày, từng giờ. Là ví dụ như nãy chúng ta nói là các dục vui ít khổ nhiều, nguy hiểm còn nhiều hơn, phải hiểu cho sâu. Rồi trong đời sống hằng ngày,

[37:48]cái điều gì mà làm cho mình khoái chí, mình biết đây là dục. Dù là trong chùa nó không có bao nhiêu điều để gọi là dục. Trong chùa mình sống một đời thanh bai, đạm bạc, mình cũng không thấy bao nhiêu là dục. Mà mình tinh tế nhận ra trong những cái ít ít đó mình cũng thấy được cái gì là dục. Ví dụ người ta khen mình một câu, đó là dục. Hoặc là một bữa nào đó một món ăn ngon miệng mình ráng ăn cho nhiều, biết ngay đó là dục. Hoặc là đôi khi mình nghe cái tiếng nhạc văng vẳng ở hàng xóm đưa sang, À này cô em lông mày kỳ nho nhỏ, ví dụ vậy. Mình nghe mình có thấy thích thích thì đó cũng là dục. Thì có nhiều cái mà mình nhận ra được cái dục chút chút như vậy nên

[38:29]sau này lớn lên càng lớn lên mà càng đối diện với cuộc đời là mình thấy được nó là dục và mình đã tập khước từ từ bây giờ rồi. Mọi cái gì gọi là dục mình biết mình đã khước từ. Nên đó gọi là ứng dụng được trong đời sống hằng ngày. Rồi về sau nữa những lời dạy bao nhiêu lời dạy của Phật mình áp dụng được trong đời sống, kỳ tới qua khỏi bài này chúng ta sẽ học bài Thân Hành Niệm trong Trung Bộ Kinh ba, quý thầy nhớ về soạn trước nha không. Thân Hành Niệm trong Trung Bộ Kinh ba thì mình học bài đó còn phải thực hành quyết liệt nữa mới hiểu được lời Phật dạy. Thì khi mà học tới bài đó rồi tôi sẽ sắp xếp xuống để tôi hướng dẫn thực hành luôn.

[39:04]Thì cái bài đó quan trọng, bài đó cũng là một trong đề tài thiền thực tập thiền quán. Hôm trước thì tôi đã soạn xong bảy bài phải không? Thì bài thứ tám tôi chưa viết vì tôi bận quá thì cái bài Thân Hành Niệm đó cũng giống như một bài thứ tám, tôi sẽ soạn lại sau, nhưng mà đó là một bài để thực hành. Thì khi mà học thì ví dụ như mình quán thân vô thường thì đừng có nghe theo lý luận là nói ờ cái thân này là hư giả tạm chết rồi bỏ đi hết, mình nghe học cho thuộc bài trả rồi không áp dụng là mình nắm cái cái lưng con rắn á. Còn nếu một người nào đó khi mà nghe Phật nói thân là vô thường thì trong đời

[39:40]sống dù đi, đứng, nằm, ngồi lúc nào cũng thầm thầm biết thân là vô thường. Thì từng bước chân đi như vậy biết thân là vô thường, từng cái nói năng, cử chỉ, nhúc nhích tay chân đều biết thân là vô thường thì người đó đã nắm được cái đầu của con rắn á, học để hướng về sự giác ngộ. Nhưng mà tại sao mà mình hướng được đây là chính nhờ giáo thọ sư những vị giảng sư khi dạy đã nhắc nhở nhiều về sự thực hành nên mình hướng về lần lần, mình nắm được cái đầu. Còn không là mình bị cái này. Nên ở đây thì ngoài việc phê bình các giảng sư thì tôi cũng có lỗi, chắc là một vài vị thôi chứ còn nhiều vị giảng sư thì cũng

[40:16]hướng dẫn được tăng ni để nắm được cái đầu con rắn là hướng về sự giác ngộ, còn một số ít giảng sư đã hướng dẫn sai, đã thúc đẩy hay gợi ý tăng ni nắm lấy cái đuôi cái lưng con rắn là hướng về bằng cấp hay kiến thức suông thì rất là đáng tội. Thì riêng quý thầy học bài này thì nhớ, nhớ như vậy. Bản thân mình phải luôn luôn nhắm về sự giác ngộ để sau này khi quý thầy lớn lên, quý thầy làm thầy, làm trụ trì giảng dạy nơi này nơi kia đều thúc đẩy người ta học giáo pháp để hướng về cái sự tu chứng tâm linh thực sự chứ không có vì những lý do lặt vặt như thế này. Mà quý thầy có nắm được từ bây giờ cái này,

[40:57]có hướng về sự giác ngộ này thì sau này những lớp hậu học của mình mới được lợi ích. Còn nếu từ bây giờ mình đi sai mà nắm tầm bậy tầm bạ này thì những cái thế hệ đi sau sẽ hư hết và đạo Phật sẽ suy tàn. Nên từng người đi trước mà đúng thì kéo được không biết bao nhiêu người đi sau đúng theo. Đây là chỗ mà Đức Phật cảnh giác quan trọng trong bài kinh Ví Dụ Con Rắn này. Chúng ta phải nắm thật kỹ, hiểu thật kỹ về cái ý nghĩa này, học pháp để làm gì? Học để làm gì? Và chúng ta đang là học tăng nên cái điều này hôm nay mình phải khẳng định lại cách quyết liệt, xác huyết mạnh mẽ. Quý thầy đang là học tăng thì học giáo pháp để làm gì?

[41:36]Bài kinh này là xác định điều đó. Xác định cho mình, cho cả cuộc đời mình và cho những đệ tử, học trò của mình mai sau. Rồi Đức Phật nói lặp lại ví dụ đó thì một người khi mà học pháp mà có quán với trí tuệ là hiểu đúng và được hạnh phúc lâu dài ví dụ như một người đi tìm con rắn nước, khi thấy con rắn nước thì lấy cây có cái nạng chận được cái cổ của nó lại và nắm được cái tay của nó, nắm được cái đầu của nó lên, nắm cái cổ ngay cái đầu nó lên. Thì bây giờ dù con rắn đó có quấn quanh cánh tay hay quấn lên cổ thì cũng không thể nào làm tổn hại cái người bắt rắn đó được nữa. Hồi sáng tôi có hỏi mà tôi cũng hơi ác,

[42:17]tôi cũng không không giải thích cho quý cô ngoài Tiên Phước hiểu sao thì hiểu. Tôi hỏi: "Đố quý cô cái mà nắm con rắn được ngay đầu rồi cho con rắn nó quấn tay, quấn chân làm gì đó làm cũng không ảnh hưởng là tượng trưng cho điều gì?" Tôi không giải thích để mà suy nghĩ. Nhưng mà ở đây tôi biết quý thầy dù không giải thích vẫn hiểu được. Ai hiểu đứng lên nói? Ai hiểu, An Ngôn đứng lên nói đi? Minh Trí hiểu không? Con dạ thưa thầy con mới vừa chợt nghĩ ra nếu mà mình học giáo pháp nhưng mà nắm được đầu con rắn để cho con rắn quấn vào tay mình giống như là những cái mà mình phải chấp nhận phải chịu đựng để vượt qua. Những khó khăn trong tu hành.

[42:57]Ờ Minh Đạo. Dạ thưa thầy theo con con hiểu là như thế này. Khi mà mình nắm được giáo pháp tức là mình nhắm được mục đích đi đến được giải thoát. Thì lúc đó những cái cái phần mà như mình nêu ở đây lý luận, chê bai, bằng cấp những tiếng khen thì ta thì những cái thứ đó rùa tới mình nó hướng dẫn mình đi đến con đường sai mà thực sự những cái này là luôn luôn lúc nào trong đời sống đời thường tức là nó cũng luôn luôn bắt gặp thì nó.

[43:31]Minh Đạo thấy gần tới rồi đó. Thấy gần tới để tôi nói cho rõ hơn. Là ví dụ mình nắm được cái mục tiêu này, nghĩa là khi mình đọc hiểu giáo pháp đó mình có thực hành tu tập để hướng về sự giác ngộ thì những điều này xảy ra. Những điều này nó có. Ví dụ như mình có lý luận, có không? Có, sao không có. Nhưng mà cái này nó có trở thành cái làm cho mình đi vào sa đọa, sai lầm không? Không, vì lúc đó mình lý luận để hướng dẫn người khác vì mình đã có đạo đức do mình có lý tưởng đúng. Bây giờ vì cái kiến thức nó có sai mình không? Nó có không? Học phải có chứ! Nó là việc tốt rồi, nó không còn cắn mình được nữa,

[44:07]nó quấn quanh tay quanh đầu mình gì nó quấn. Ví dụ bằng cấp có không? Có, sao không có, học rồi cũng phải cho cái bằng chứ! Nhưng mà mình cầm cái bằng mình không còn thấy nó quan trọng như ngày xưa nữa vì nó không phải là mục đích nữa. Hồi xưa là mình vì nó mà ngày đêm đau khổ, bây giờ hết rồi. Có bằng cũng có. Rồi ví dụ danh dự có không? Có chứ, đi học rồi người ta cũng cưng mình lắm, người ta thấy mình chịu khó. Đó, lợi dưỡng có không? Có chứ! Nghĩa là những cái điều này nó lại có lại và có khi cần mình cũng chỉ trích người khác nữa. Nghĩa là mấy cái này sẽ có hết nhưng mà không phải vì mục đích xấu nữa, không phải vì cái tâm xấu nữa.

[44:41]Trước đây không có cái này, toàn bộ cái này là cái xấu hết. Mình chụp vô đâu là chết đó. Nhưng mà khi đã có cái lý tưởng giác ngộ thật sự, có sự thực hành thật sự rồi thì toàn bộ cái này trở thành cái dụng, mình sử dụng trong đời sống để dạy dỗ người khác, để làm việc đạo. Đồng ý chưa? Đồng ý chưa? Sao có nhiều người ngơ ngơ nhìn ngơ ngơ ngác ngác thấy kỳ. Cái nãy Minh Trí vừa nói chợt nhận ra khi mà được hỏi á cái đó cũng giống tôi lắm á. Tôi cũng hay có như vậy, tôi không hiểu tại sao. Họ vừa mới hỏi tôi chưa dứt câu là tôi đã biết họ muốn cái gì và ngay đó có câu trả lời. Dù trước đó tôi chưa bao giờ nghĩ về vấn đề đó.

[45:18]À tôi không không hiểu sao ngộ ghê! Nghe Minh Trí nói là chợt nhận ra tôi chợt nhớ lại cái tôi cũng bị như vậy. Giờ tới cái đoạn tiếp, đoạn là chiếc bè. Chúng ta mà đọc các sách về đạo Phật, chúng ta hay nghe nói về chiếc bè chiếc bè chánh pháp thì đây là chính trong bài kinh này đây. Lúc trước chúng ta có học về chiếc bè chánh pháp thì chúng ta học qua trung gian sách này, sách nọ. Nhưng ngày hôm nay chúng ta sẽ được đọc trực tiếp vào cái bản văn xưa nhất, đúng nhất của lời Phật dạy. "Giảng cho các ngươi ví dụ chiếc bè để đi qua sông không phải để nắm giữ, hãy nghe và khéo tác ý. Có một người đi trên con đường lớn dài đến một vùng nước rộng,

[46:02]bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và hạnh phúc nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để bắt qua. Nên người này đã gom cỏ, cây, cành, lá cột lại thành chiếc bè và dựa trên chiếc bè này nỗ lực dùng tay chân bơi để qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, người ấy suy nghĩ: 'Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu và vác hay vác nó trên vai để mà đi đến chỗ nào ta muốn'. Này chư Tỳ kheo, người ấy làm như vậy có hợp lý chăng? 'Bạch Thế Tôn, không'. Thì cũng vậy đúng. Này các Tỳ kheo người khi qua bờ rồi thì cái suy nghĩ đúng nhất,

[46:46]hợp lý nhất là hãy để chiếc bè lại nhận chìm xuống nước hoặc là kéo lên để trên bờ đất rồi sau đó một mình mình tự tại đi đến chỗ nào mà mình muốn. Chư Tỳ kheo làm như vậy người kia đã làm hợp lý về chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỳ kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua không phải để nắm giữ. Này chư Tỳ kheo, các ngươi cần hiểu ví dụ chiếc bè, chánh pháp còn phải bỏ huống là phi pháp". Cái câu nói nổi tiếng: "Chánh pháp còn phải bỏ huống là phi pháp" trở thành một câu nói rất là nổi tiếng và được trích dẫn trong rất nhiều cái luận bản nói về đạo Phật. Chánh pháp còn phải bỏ huống là phi pháp tức là Phật nói

[47:31]rằng cái phi pháp là phải bỏ một cách quyết liệt rồi. Vì chẳng những nó không đưa mình đi đến bờ an lạc giải thoát mà nó làm chìm trong đau khổ. Cho nên cái tà kiến, cái phi pháp mà Arittha hồi nãy suy nghĩ đó thì cái đó là cái quyết liệt phải bỏ. Thì điều này dễ hiểu không? Dễ rồi, thấy không? Nhưng mà chánh pháp còn phải bỏ điều này mình suy nghĩ lại với nhau một chút. Chánh pháp là giáo pháp của Phật, trong khi mình quy y Pháp mà, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, tôn thờ Phật, tôn thờ giáo pháp của Phật và tôn thờ chúng Tăng mà. Tại sao ở đây nói chánh pháp còn phải bỏ? Nói rằng một người đã vượt qua được bên kia sông,

[48:13]qua được cái bờ rồi thì bỏ cái chánh pháp đó đi, không giữ nữa. Chiếc bè chánh pháp còn phải bỏ, ai hiểu? Bỏ là làm sao? Bỏ là làm sao? Chỗ này là chỗ cẩn thận vì nếu mình còn hiểu trật một chút á là mình sẽ làm điều tổn phước á, mang tội chết luôn á. Hiểu cho đúng về cái việc mà bỏ chiếc bè chánh pháp này. Bây giờ mình có một cái ví dụ dễ thấy hơn một chút xíu. À ví dụ như chúng ta có một cái cầu bắc qua hai bên bờ sông Cầu tre nhỏ này, "Mẹ về nón lá nghiêng che, quê hương là đêm trăng tỏ, hoa cau rụng rơi ngoài hè", ví dụ vậy. Thì khi mà chúng ta đã đi từ cái bờ bên đây qua bên đây được thì chúng ta có chặt bỏ cây cầu này không?

[49:04]Để chi? Cho người khác đi, đúng như vậy. Chúng ta không phải là khi qua được cái cái bờ bên đây rồi, mình hạnh phúc quá, mình hạnh phúc quá rồi mình cứ đứng đây trên cầu rỉ rít để ca ngợi cái cái người thông hà nữa là sai, mình còn phải đi nhiều nơi. Nhưng mà phải giữ cái cầu này lại, còn bao nhiêu người cần phải đi nữa. Và bây giờ trở lại cái chiếc bè, ví dụ nếu mình đã nhờ chiếc bè đó đi qua được thì một là mình tìm cách trả chiếc bè đó qua bên bờ bên kia cho người khác đi qua, hoặc là mình chỉ cho những người ở bên kia bờ cách mà kết bè để đi qua, phải không? Chứ không thể rồi mình đi qua rồi

[49:44]mình đạp đổ, thiêu đốt chiếc bè để không còn ai đi qua được nữa. Chữ "bỏ" này đó làm cho chúng ta dễ hiểu sai là gì? Công kích, phủ nhận.

[50:01]Ví dụ như chúng ta nghe trong cái bài kệ của ông Trương Triết khi ông ngộ đạo rồi, ông nói là: "Phá trừ vọng tưởng trùng tăng bệnh, Thú hướng Chân Như tổng thị tà", là diệt vọng tưởng chỉ thêm bệnh thôi. Câu nói đó là trong trường hợp nào? Trong trường hợp là ông đã qua sông rồi. Qua sông rồi thì ông nói rằng bây giờ ông không cần diệt vọng tưởng nữa. Câu đó đúng với ông nhưng mà trật với cái người đang tu. Rồi ví dụ như bây giờ quán từ bi là một cái phương tiện tu tập của Đạo Phật, thì cái người mà đã chứng đạo rồi thì cần phải quán nữa không? Không, vì sao? Vì trong thể tánh của cái tâm đã là đại bi rồi,

[50:45]lúc đó lòng thương yêu chúng sinh cùng khắp rồi, không cần quán nữa. Quán nữa là dư, là thừa. Nhưng mà cái người chưa chứng thì hằng ngày, hằng giờ phải niệm lòng thương yêu chúng sinh là một điều cần thiết, không thể phủ nhận. Không thể rồi ỷ mình đã qua sông rồi, mình công kích, mình phủ nhận cái phương tiện tu tập. Không thể qua sông rồi chê cái cầu, chê cái bè, đó là thái độ vô ơn và không có lợi cho người sau. Cho nên bỏ ở đây mình phải hiểu là gì? Là không dùng nữa, không áp dụng nữa.

[51:24]Không áp dụng nữa vì mình đã áp dụng thuần thục và đã đạt được mục tiêu rồi, không áp dụng nữa. No more application, không áp dụng nữa. Nên chúng ta đừng có hiểu là bỏ là công kích, phủ nhận. Mà chúng ta cũng nghe trong một loạt các bài kinh Đại thừa, nhiều khi có cái ý hơi hơi kiểu đánh gãy cầu. Ví dụ như bài Bát Nhã Tâm Kinh nếu mình hiểu không khéo là giống như mà đốt cầu bỏ không cho người ta đi nữa. "Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô... vô minh diệc vô... à vô..." Như vậy đầu tiên là vô 12 nhân duyên bị phủ nhận phải không?

[52:02]12 nhân duyên bị phủ nhận. Rồi "vô Khổ Tập Diệt Đạo" là gì nữa? Tứ Đế cũng bị phủ nhận luôn. Nên cái câu mà "vô Khổ Tập Diệt Đạo" giống như phủ nhận cái đạo lý Tứ Đế. Câu đó hoặc là là "vô vô minh diệc vô vô minh tận, cho tới vô lão tử diệc vô lão tử tận", tức là phủ nhận 12 nhân duyên. Đây là những giáo lý quan trọng mà bài kinh Bát Nhã phủ nhận luôn. Cái điều này rất giống với cái mà qua sông rồi đạp cầu bỏ. Chỗ này phải hiểu cho kỹ. Cho nên ai nói câu đó thì nói kệ họ, mình thì cứ 12 nhân duyên và Tứ Diệu Đế cho kỹ trước vì mình đang còn ở bên đây bờ, phải không? Mình đang còn ở bên đây bờ nguy hiểm và hãi hùng.

[52:43]Còn cái người nào mà qua bờ rồi muốn nói nhăng nói cuội kệ người ta, mình vững, đừng sợ. Mà đã có nhiều thiền sư như vậy, qua sông rồi đạp đạp cầu bỏ, đốt bè không cho ai đi. Đã có nhiều, một số thiền sư trong Đạo Phật như vậy. Làm thấy mình thanh tịnh rồi, ai nói gì cũng phủ nhận, phủ nhận, phủ nhận, gạt bỏ, gạt bỏ. Đó là cái không có lợi cho đạo. Còn Đức Phật ngài rất là cẩn thận. Khi ngài nói một lời nào ngài cân nhắc. Cái điều này nó là chiếc bè thì ngài nói nó là chiếc bè, phải tu tập như vậy, phải tu tập như vậy. Nhưng mà người đã chứng rồi thì không dùng nữa, thì đó là chiếc bè, chánh pháp còn phải bỏ.

[53:21]Nên ở đây Đức Phật đã rất là toàn diện. Đối với người chưa qua được bên bờ, ngài dạy phương tiện tu tập. Đối với người qua bờ rồi, ngài dạy chánh pháp còn phải bỏ. Nên ngài là toàn diện, Tiểu thừa, Đại thừa gì ngài cũng có. Ngài rất là toàn diện. Còn những người mà vị những vị đại sư thời đại sau này nhiều khi thấy một chiều thôi. Nhiều khi qua sông rồi muốn trình bày cái tâm chứng của mình, cái gì cũng bác, cái gì cũng bỏ để chứng tỏ rằng mình đã không sử dụng, không cần nữa, chứng tỏ mình đã chứng, nhưng điều này không có lợi cho những người họ đang tu. Mình nghiên cứu kinh điển, nghiên cứu các luận,

[53:58]nghiên cứu các thiền sư, cuối cùng mình vẫn thấy thiệt không ai có thể nào qua được Đức Phật hết. Trí tuệ, lòng từ bi, sự độ lượng, sự tinh tế không qua khỏi Đức Phật được. Chiếc bè chánh pháp là như vậy, nên chúng ta hiểu như vậy. Rồi cái đoạn kế tiếp:

[54:16]Có những kẻ mà đã chấp ngã qua năm ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây bài này toàn là những những cái tiêu đề quan trọng lớn ha. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức này chúng ta học chưa? Quý thầy đã đọc cái cuốn "Năm ấm" của tôi chưa? Đây là cái đề tài lớn ha, nên quý thầy cố gắng tìm đọc cái cuốn "Năm ấm". Sắc là gì? Sắc là cái có hình hài, hình dáng, là cái thân này, thân tứ đại. Thọ là gì? Cảm giác. Nhưng mà cái chỗ này á là tôi không hiểu là ngày xưa Đức Phật đã nói như thế nào. Vì cái thọ này khi mà phân tích ra mình thấy có hai điều. Tôi thấy nó có cái cái chỗ này: Là ví dụ như là...

[55:04]ví dụ như là cái cảm giác do cái tiếp xúc, rồi cái khổ vui, khổ khởi lên thì tôi không biết là cái thọ nó có bao gồm luôn cả cái cảm giác này hay không. Ví dụ như khi bây giờ có một người tát vào má mình một cái thì cái cảm giác nó làm sao? Đau, thì thường là nó phát sinh cái cảm thọ khổ. Nhưng mà có người bị tát một cái bốp trên má, đau mà không khổ nha, do lòng họ tu tập được nên không khổ, bình thản. Có không? Thành thử tôi không hiểu là cái thọ là nói cái khổ vui sau khi bị tiếp xúc này hay là cái cảm giác đau đớn này. Rồi bây giờ ví dụ ngược lại, có người lại nựng má mình một cái thì cảm giác lúc đó làm sao? Sung sướng.

[55:51]Biết rồi đó ha. Tôi chưa biết vụ này tôi mới hỏi, tôi không biết à. Thì ra là khi người ta nựng má thì sung sướng. À... Thì lúc đó cái cảm giác cái cái cảm thọ khởi lên là là vui. Nhưng mà có người không vui. Nên giữa cái dịu cái êm mà khi được nựng má chưa chắc là nó tạo cảm thọ vui là vì sao? Vì sao? Tại vì cái người mà nựng má mình á đôi khi cái người này như là chằn tinh gấu ngựa, hết hồn luôn chứ đừng có nói mà vui, phải không? Cái người nào mà họ còn tự nhiên họ khả ái đồ một chút á thì khi họ nựng má mình còn còn vui, còn mà như một cái môi thì hở hàm ếch ví dụ vậy, mắt thì hai mắt dòm chung một chỗ ví dụ vậy thì nựng má không vui nổi.

[56:41]Do do đó cái cái mà cái cảm giác này nè với cái này nó tách nhau thì tôi không hiểu là ngày xưa Đức Phật nói thọ là cái nào, có thể là cả hai cái không biết nữa. Bây giờ tưởng. Tưởng trong tiếng Pali là Saññā. Saññā này nó có tới mấy nghĩa. Một cái nghĩa là ghi dấu, một cái nghĩa là nhận thức. Mà nhận thức á trong tiếng Anh nó là perception. Tại vì nói điều này sau này quý thầy sẽ gặp. Thì ở đây á cái người Tây phương á khi mà họ đọc cái chữ Saññā của tiếng Pali đó thì họ hiểu là chữ perception là nhận thức. Còn các tổ Trung Hoa đó đọc cái chữ Saññā đó thì hiểu là ghi dấu nên dịch là tưởng. Nghĩa là cái gì mà mình thấy, mình nhắm mắt lại còn hình dung

[57:28]được nó thì cái hình dung đó là Saññā, nó ghi dấu lại. Thì cái điều đó tổ Trung Hoa dịch là tưởng, là tưởng tượng, là hình dung. Ví dụ mình nghe tiếng ai nói mà một lát mình nhớ lại, mình hình dung lại cái tiếng nói nó vang lên lại thì cái đó gọi là ghi dấu, tổ Trung Hoa gọi là tưởng, là hình dung. Như vậy ở đây quý thầy thấy dịch là nhận thức với dịch là tưởng cái nào đúng hơn? Cái nào đúng hơn? Tưởng đúng hơn, phải không? Cho nên chính tôi cũng vậy, khi mà tôi nghiên cứu về năm ấm rồi tôi thấy các tổ Trung Hoa đã dịch đúng hơn là các học giả người Tây phương sau này. Về sau này khi quý thầy mà đọc các luận bản bằng tiếng nước ngoài

[58:08]mà quý thầy thấy họ dịch tưởng là perception thì hiểu là tại sao nha. Vì chữ Saññā này nó tới hai, ba nghĩa mà họ đã chọn một cái nghĩa này mà hình như là sai, hình như là sai. Còn hành, hành là Saṅkhāra này. Thì hôm trước tôi đã nói rồi là nó mấy nghĩa lận phải không? Còn có nghĩa là pháp hữu vi. Nên khi mình đọc cái bài kinh mà nghe là "chư hạnh vô thường" là họ dịch sai đó, phải dịch là "các pháp hữu vi là vô thường" mới đúng. Chỉ khi nào mà nói về tâm lý con người á thì mới dịch chữ Saṅkhāra này là hành ấm. Còn nếu mà nói nhiều sự vật trên đời á thì phải dịch chữ Saṅkhāra này là pháp hữu vi.

[58:45]Thì hành này là cái gì? Hành này là hầu hết những hoạt động của tâm hết, bản ngã giấu trong đây rất là nhiều, trong hành ấm rất là nhiều. Hành là ví dụ mình quyết định nè, mình sáng tạo nè, lấy trong ký ức ra nè, suy luận nè, tưởng tượng nè. Nghĩa là đưa ra cái tưởng tượng này cũng là của hành ấm luôn, vận động, quyết định hành động cho tay chân nè cũng là hành ấm này luôn. Nên ở đây nhiều người mà cái hành này không có thấy nè, mình thấy được tưởng chứ không thấy được hành nha. Khi mà cái tâm khởi lên vọng tưởng mình thấy được, nhưng mà cái hành ấm hoạt động như thế nào mình không thấy được, hành ấm nó rất là sâu kín.

[59:22]Rồi một số thiền sư khi tâm định được thấy được hành ấm thì mới thấy đây là à đây là cái tự tánh diệu dụng của mình. Ai hỏi "Thế nào là Phật?", cái đi qua đi lại, chứng tỏ rằng à Phật là cái mà điều khiển được cái chân đi qua đi lại. Thì người đó đã hiểu lộn rồi, hiểu lầm rồi. Người đó đã thấy được hành ấm rồi mà tưởng hành ấm là Phật tánh. Rất nhiều thiền sư vậy. Hỏi: "Thế nào là ý tổ sư? Chẻ củi gánh nước." Tưởng cái hành động chẻ củi gánh nước đó là Phật tánh. Thật ra đó là hoạt động do hành ấm phát ra. Quyết định hành động của mình đó là hành ấm phát ra. Mà cái cái tưởng tượng này thì nó đi chậm và hành ấm đi rất là nhanh.

[1:00:07]Ví dụ khi chúng ta gặp lại một người bạn cũ, mình thấy: "À, anh Sơn, mình phải đến kêu ảnh." Cái câu nói vang lên trong đầu đó, nó có ngôn ngữ đó thì nó thuộc về tưởng ấm. Nhưng mà ngay khi cái mắt mình vừa chạm một cái là cái hành ấm đã quyết định tới chào rồi, rất nhanh. Rồi từ từ cái tưởng ấm nó mới diễn tả cái ý nghĩ đó của hành ấm ra bằng một câu nói có ngôn ngữ. Nên câu nói có ngôn ngữ là tưởng ấm, còn một cái ý vi tế thật nhanh ở trong phát ra, mình không thấy kịp, ở trong đó là hành ấm. Bây giờ, hai võ sĩ đánh nhau họ có suy nghĩ kịp không? Có suy nghĩ kịp không? Vừa người ta đánh cái mình đỡ cái, đánh lại một cái, suy nghĩ kịp không? Không.

[1:00:49]Cái đó cái gì điều khiển? Đó, hành ấm điều khiển. Hành ấm nó nhanh như vậy, nó quyết định nhanh như vậy. Người ta nhá lên cái là mình quyết định phải đánh chỗ nào liền, thật là nhanh, nhanh hơn tia chớp. Thì đó là hành ấm. Còn thức ấm thì còn nhanh hơn nữa. Thức ấm vi diệu. Thức ấm thì rất là nhiều. Thì nhiều lắm nhưng mà hôm nay chúng ta không thể nói hết. Ví dụ nè, chúng bên ngoài, biết được bên ngoài chúng ta có năm cái thức: mắt nhìn thấy biết được bên ngoài là nhãn thức, tai nghe biết được tiếng là nhĩ thức, phải không? Lưỡi nếm, da xúc chạm. Còn có một cái thứ sáu nữa là ý thức, là cái tư tưởng mình khởi lên mà mình biết được mình đang suy nghĩ, đó là ý thức.

[1:01:33]Đó là thức thứ sáu. Hễ mình biết được ngoại cảnh là do năm giác quan kia, năm cái thức kia. Nhưng mình biết được chính tâm của mình thì đó là ý thức. Nhớ như vậy, ý thức. Cho nên có nhiều cái triết gia phương Tây cứ nói: "Trong người tôi giống như có hai con người: một cái tâm để suy nghĩ và một cái tâm để biết cái suy nghĩ đó. Giống như có hai con người." Đố quý thầy, giữa cái suy nghĩ và cái biết được cái suy nghĩ, bản ngã nằm ở đâu? Quý thầy có đồng ý là khi mình suy nghĩ mình có biết được mình suy nghĩ phải không? Ngồi thiền hoài biết điều đó không? Thấy tâm mình có vọng tưởng hay không mình có biết chứ phải không?

[1:02:10]Vậy, cái suy nghĩ và cái biết được suy nghĩ, bản ngã nằm ở đâu? "Trong vô thức." Có một câu trả lời như vậy. "Trong ý thức." Rồi, người ý thức, người vô thức là hết rồi. Có ai có câu khác nữa không? Đó, thường thường là chúng ta vậy. Giữa cái cái suy nghĩ và cái biết được cái suy nghĩ thì bản ngã không có nằm đâu hết á. Thì làm gì có bản ngã mà nó nằm ở đâu? Làm gì có bản ngã để nói nó nằm ở đâu? Không có bản ngã. Tâm mình là một khối như vậy kết hợp lại, thân tâm mình là một khối như vậy kết hợp lại. Cái thì là mang vật chất này, cái cảm giác nè, cái tưởng nè, cái là hoạt động nè và cái biết mọi điều.

[1:02:54]Mấy cái đó nó hợp lại để thành là một con người thông minh, trí. Chứ trong đó không tìm ra cái bản ngã thật sự, không tìm ra một bản ngã trung tâm làm chủ năm cái ấm này. Không hề có nha, không hề có.

[1:03:10]Thầy đồng ý chưa, nhận cái chỗ này chưa? Hiểu ra chưa? Chỗ này nếu mà quý thầy hiểu được là hiểu được Phật pháp. Bởi vì cái giáo lý vô ngã của Đức Phật, Phật nói đi nói lại là nói chỗ này. Không hề có bản ngã nơi từng cái ấm này. Không hề có ngã nơi sắc, không hề có ngã nơi thọ, không hề có ngã nơi tưởng, nơi hành, nơi thức, không hề có đâu hết. Bởi vậy, không hề có bản ngã. Nhưng mà chúng ta có cái ảo giác như là có cái bản ngã khi mà toàn bộ năm cái này nó phối hợp với nhau nó hoạt động thì mình thấy dường như có một cái ta trung tâm để khác biệt với mọi điều, mọi người, mọi vật bên ngoài. Một cái ảo giác như vậy. Chúng ta có cảm giác như vậy nhưng sự thật không

[1:03:51]hề có cái bản ngã chủ tể của năm cái ấm này. Chỗ này là chỗ yếu chỉ cực kỳ quan trọng của Phật pháp. Phải hiểu chỗ này mới hiểu được toàn bộ kinh Nikaya. Từ đây về sau, khi học Nikaya quý thầy sẽ gặp lại vấn đề này hoài. Đức Phật nhắc tới nhắc lui hoài: không hề có tự ngã nơi sắc, không hề có tự ngã nơi thọ, nơi tưởng, hành, thức. Chỗ này phải hiểu cho sâu. Có một lần là Đức Phật với ngài La-hầu-la đi khất thực. Một hình ảnh đẹp. Hai cha con đi với nhau đi xin khất thực. Hai người, người nào cũng đẹp hết nên như thiên thần. Thì vừa đi, Đức Phật vừa thuyết pháp. Lần này Đức Phật không phải ngồi bất động trước một thính chúng để thuyết

[1:04:33]pháp mà ngài trong thân tình, ngài vừa đi và ngài La-hầu-la đi phía sau ngài một bước để nghe ngài thuyết pháp, ôm bình bát đi. Thì Đức Phật nói về chỗ này. Đức Phật nói về sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà ngài La-hầu-la hiểu hết. Rồi Phật nói cho biết là không hề có bản ngã trong từng cái ấm này. Ngài La-hầu-la bực trật hiểu ra liền, ngài rúng động toàn thân. Ngài ôm bát đi về liền. Hôm nay quý thầy nghe, không ai rúng động toàn thân hết. Chỗ này hiểu ra được là hiểu toàn bộ Phật pháp á. Thế là ngài rúng động toàn thân, ngài xin phép Thế Tôn cho con quay về. Đức Phật mới hỏi: "Tại sao không đi khất thực?" Ngài mới nói:

[1:05:13]"Bạch Thế Tôn, không ai có thể hiểu được điều này rồi mà còn có thể tiếp tục đi khất thực nữa. Con phải về ngồi thiền." Ngài quay về tịnh xá, ngài bắt chân lên ngồi thiền để suy nghiệm tiếp về điều này. Thì lúc đó Đức Phật tiếp tục đi khất thực, còn ngài La-hầu-la nhịn, bỏ ăn luôn để ngồi thiền. Đức Phật khất thực xong, trưa ngồi thiền xong, trở về tịnh xá, ngài đến chỗ ngài La-hầu-la ngồi thiền. Ngài mới thấy là ngài La-hầu-la đã thuần thục trong điều này, ngài mới giảng về hơi thở. Sau đó ngài La-hầu-la sau khi đã thấm nhuần về cái vô ngã trong năm ấm này rồi, bắt đầu nhiếp trong hơi thở thì vài ngày sau ngài La-hầu-la chứng A-la-hán luôn.

[1:05:54]Đây là cái nền tảng quan trọng. Nhưng hôm nay nghe không ai rúng động toàn thân hết. Nè, có một tỳ-kheo hỏi Phật, chỗ này đây, Đức Phật nói như vậy: "Khi mà một người biết được cái điều này, không có gì là ta,

[1:06:12]cho nên đối với những vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn." Nghĩa là nhờ quan sát ở bên trong mình là năm ấm không thật, quan sát ra bất cứ cái điều gì biết được, thấy được bên ngoài là các kiến xứ, là mọi cái điều trên thế gian này đều không có thật mà nhờ như vậy, thoát được lo âu, phiền muộn. Thì chúng ta thấy cái giáo lý mà nói các pháp không thật có đã nằm trong Nikaya rồi. Sau này Đại thừa triển khai nhiều lại chứ không phải là Đại thừa mới nói điều mới đâu. Đó: "Đối với sự vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn." Là điều này, tư tưởng này đã được nói trong Nikaya rồi.

[1:06:52]Là thấy vào nội thân mình, nội tâm mình không thật, nhìn ra vạn pháp bên ngoài không thật có nên thoát được lo âu, phiền muộn mà trong bài Bát-nhã Tâm Kinh có nói: "Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố..." Là bậc Bồ tát dựa vào trí tuệ Bát-nhã, tức là thấy các pháp không có thật, cho nên vượt qua được cái sự quái ngại. "Vô quái ngại cố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn." Nên cái điều mà trong Bát-nhã Tâm Kinh cũng như trong các bộ kinh Đại thừa nói về cái tánh không là đã được nói đến trong bài kinh Ví dụ con rắn này rồi. Chúng ta nhớ điều đó.

[1:07:34]Rồi, có một vị tỳ-kheo hỏi Phật: "Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thật có ở ngoài mà lại gây lo âu, phiền muộn không?" Đức Phật nói: "Có." "Cái gì?" "Đó là những cái sở hữu của mình." Là những cái tiền bạc, ruộng vườn, nhà cửa, người thân yêu, vân vân. Là khi mình thấy nó là thường tồn, mình muốn nắm giữ nó thì đến khi nó mất, mình đau khổ. Còn người nào mà đối với các sở hữu bên ngoài: quần áo, tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn, không chấp nó, biết nó vô thường thì người này không đau khổ. Phật nói như vậy, đối với những cái ở ngoài. Ngày xưa đó, thời Đức Phật, Đức Phật và các tỳ-kheo không giữ tiền.

[1:08:20]Họ sống tu được. Ngày nay, chúng ta có giữ tiền không? Quý thầy có giữ tiền không? Có. Ở chùa tôi thì tôi cố gắng không cho chúng giữ tiền. Tiền bạc đưa vào trong người thủ quỹ giữ, trong chúng không ai giữ đồng nào. Nhưng mà họ rất yên tâm vì họ biết cái tiền đó là của họ, tôi cũng không giữ luôn. Nhưng mà tôi chỉ bỏ túi ít tiền để đi tới đi lui việc này việc nọ một ít thôi, chứ còn tiền toàn bộ đệ tử tôi giữ hết. Mà cái người trong chúng họ yên tâm, tuy họ không có giữ đồng nào nhưng họ biết tiền đó là của họ. Họ có gì cần là đều được sử dụng hết chứ không có hạn chế. Hễ nghèo nghèo chung, giàu giàu chung, chứ không có mà hễ mà bệnh mà lên xin tiền

[1:08:58]không có không có, vì tiền đó là của họ, hễ họ bệnh là tiền được xuất ra liền, dù tốn bao nhiêu triệu cũng phải xuất ra để chữa, nghèo nghèo chung. Và như vậy cái người trong chúng họ yên tâm không cần giữ đồng nào. Điều này hay không? Hay không? Coi vậy chứ chưa hay, vì trong chùa còn giữ tiền. Thời Đức Phật, từ Đức Phật cho tới tăng chúng không ai giữ một đồng nào hết. Cái này mới đặc biệt. Mà vì sao như vậy? Vì sao mà không cần tiền mà vẫn sống một cách bình thản như vậy? Câu này chúng ta không thể trả lời nếu chúng ta chưa vào định được. Cái người mà vào từ sơ thiền trở đi mới hiểu được điều này.

[1:09:36]Họ không cần tiền, nhẹ nhàng không cần. Đối với tiền bạc là gánh nặng, là món nợ, là điều sợ hãi. Thấy không thích, chán, không có thích. Bây giờ thì mình không hình dung được, nhưng một ngày nào quý thầy nhiếp được vào thiền, tự nhiên quý thầy không muốn đụng tới đồng tiền nữa. Mà nếu có lỡ đụng tới là chỉ vì người khác mà mình phải sử dụng, chứ còn bản thân mình không thích tiền, không thích tiền bạc, không thích vật chất, không thích sở hữu gì hết. Mà người như vậy là người thoát được đau khổ. Thế còn cái bên trong? Đức Phật mới nói nè: có vị tỳ kheo hỏi: "Bạch Thế Tôn, có gì có thể không thực có ở trong mà

[1:10:15]gây ra phiền muộn không?" Đức Phật nói có, như là người đó chấp rằng thế giới này là còn, tự ngã này là còn, cho nên người này khi mà nghe nói rằng mọi cái không thật, nghĩa là nghe Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ cố chấp thiên chấp thiên kiến tùy miên sự tịnh trữ mà hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái đưa đến ly tham đoạn diệt Niết bàn, nó có thể nghĩ như sau: chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ hoại diệt, chắc chắn ta không tồn tại, nó sầu muộn than vãn khóc lóc đấm ngực đi đến bất tỉnh. Như vậy là có cái không thực ở trong mà cũng gây cho mình phiền muộn, lo âu.

[1:10:57]Cái ngã nó không có thật, nhưng mình tưởng nó thật và mình bám víu giữ gìn nó. Bám víu giữ gìn nó và mình đã đau khổ. Ở đây còn có một cái rắc rối nữa, là cái từ Atman bên tiếng Pali nó có hai nghĩa: một cái nghĩa là tự ngã, một cái nghĩa là linh hồn. Cái tự ngã này là cái vô hình, cái chủ tể, còn cái linh hồn này là cái mà khi chết người ta xuất ra và nó có hình hài, hình hài giống như khi sống. Đó là hai cái nghĩa khác nhau, nhưng mà vì dùng chung một chữ nên cái người Tây phương cũng như mình bị dịch lộn qua lộn lại. Cái tự ngã này thì không có thật, đúng rồi, nhưng mà linh hồn có. Khi chết nó xuất ra tạm thời, mà trong kinh Đại thừa gọi là gì?

[1:11:40]Thân trung ấm. Linh hồn có, cho nên bên Đại thừa, bên Nam tông họ bác kịch liệt cái Atman này không có nên họ bác luôn linh hồn, họ không tin rằng người chết có linh hồn bên Nam tông. Vì sao? Vì Phật bác tự ngã mà họ tưởng lầm là bác linh hồn luôn, vì hai chữ này nó chung một chữ. Nên bên Đại thừa thì thấy có linh hồn, nhưng mà hễ mà nói chấp nhận có linh hồn thì sợ là bị Nam tông bác, cho nên đặt ra một cái chữ mới là thân trung ấm hay thần thức thì cũng y như vậy thôi, cũng là một linh hồn. Nên ở đây mình phải hiểu lý do của cái rắc rối đó, của sự bất đồng ý kiến với nhau là tại cái chữ Atman nó tới hai nghĩa lận:

[1:12:16]một cái nghĩa là tự ngã, tiếng Anh mình gọi là self hay là ego; còn cái chữ linh hồn, tiếng Anh là soul. Việt Nam mình cũng có hai chữ là tự ngã, linh hồn khác nhau, tiếng Anh cũng là chữ self hay chữ soul khác nhau, nhưng mà tiếng Pali có một chữ một: Atman. Nên khi bác cái Atman của tự ngã, cái người Nam tông tưởng là bác luôn cái linh hồn, nên nói chết không có linh hồn thoát ra, là như vậy đó, đây là hiểu lầm. Thường thì chúng ta nghe nguyên nhân của đau khổ là gì? Nguyên nhân của đau khổ là... là ái phải không? Nhưng mà khi mình học tâm lý đạo đức á thì nguyên nhân của đau khổ là gì? Vị kỷ, giỏi! Rồi hôm nay chúng ta học bài này,

[1:12:57]Đức Phật nói chính cái chấp ngã là nguyên nhân của đau khổ. Cái chấp ngã là nguyên nhân của đau khổ là nguyên nhân rất là sâu xa, phải nói cho người có trí tuệ mới hiểu được. Còn ở mức độ cạn hơn một chút, cho cái người mình học về môn đạo đức á thì mình nói vị kỷ là nguyên nhân của đau khổ. Nhưng mà với cái người cạn cạn á thì mình nói ái là nguyên nhân đau khổ, dễ hiểu. Vì có một lần có ông thôn trưởng đi đến với Đức Phật hỏi: "Bạch Thế Tôn, xin giải thích cho con tại sao ái là nguyên nhân của đau khổ?" Thì Đức Phật mới nói: "Bây giờ trong thôn ông có người chết, ông có đau khổ không?" Ổng ngồi ổng suy nghĩ một lát, ổng nói:

[1:13:34]"Dạ thưa Thế Tôn, có người thì con khổ, mà có người chết con không khổ." Nói: "Ai chết ông khổ, mà ai chết ông không khổ?" Nói: "Dạ những người nào mà là vợ con nè, con con nè, cha mẹ anh chị em ruột của con mà chết, con đau khổ. Cái người mắc nợ con mà chưa trả, chết con cũng khổ lắm. Còn trường hợp những cái người đó không thân thuộc gì hết thì họ chết kệ họ, con không khổ, mà thậm chí cái người mà con mắc nợ con chưa trả, họ chết con còn mừng nữa." Thì đó, Phật mới nói đó: "Ái là nguyên nhân của đau khổ." Nên cái câu trả lời rất là đơn giản phải không? Ví dụ cụ thể đơn giản là để trả lời đấy,

[1:14:10]nhưng mà đi sâu một chút thì phải chấp ngã là nguyên nhân của đau khổ. Nó không có như vậy. Đức Phật có cái cái lối lý luận này chúng ta nghe dễ thương: "Này các tỳ kheo, các ngươi có thể nắm giữ một vật sở hữu gì mà vật ấy khi mất đi các ngươi... mà vật sự... các ngươi có thể nắm giữ một vật gì mà vật ấy sẽ tồn tại mãi không?" "Bạch Thế Tôn, không." Đức Phật mới: "Lành thay! Này các tỳ kheo, ta cũng vậy. Ta không thấy một vật sở hữu nào được nắm giữ mà có thể tồn tại được mãi." Đây là lối lý luận hay lắm. Ừ, hoặc là nói: "Các ngươi có thấy một cái ngã luận thủ nào được chấp mà lại không đưa đến đau khổ không?" Nói: "Bạch Thế Tôn, không." Nói:

[1:14:58]"Lành thay các tỳ kheo, ta cũng vậy. Ta không thấy cái chấp ngã nào có mà lại không có đau khổ." Đây là một lối nói chuyện, đối thoại khi giảng rất là dễ thương là hỏi cái người kia đưa lên quan điểm mà biết rằng người kia sẽ trả lời đúng với ý mình. Và khi người kia trả lời đúng với ý mình rồi thì nói: "Lành thay! Ta cũng vậy." Cũng giống như hỏi vầy: "Này quý thầy, quý thầy khi học như vậy thấy có cực không?" "Dạ thưa thầy, cực." "Lành thay, ta cũng thấy như vậy." Thấy học cũng cực lắm, muốn trốn không à. Thì ở đây vậy, đó, chấp ngã là nguyên nhân của đau khổ. Đức Phật nói thế này: "Lành thay! Này các tỳ kheo, ta cũng không thấy ngã luận thủ nào

[1:15:41]mà ngã luận thủ ấy được chấp thủ lại không khởi lên sầu bi khổ ưu não." Ở đây Phật nói thêm cái nữa: "Này các tỳ kheo, các ngươi có thấy một cái kiến y nào được y chỉ, được dựa lên mà không đưa đến đau khổ không?" Nói: "Bạch Thế Tôn, không." "Lành thay các tỳ kheo, ta cũng vậy. Ta không thấy một kiến y nào được dựng lập mà lại không đưa đến đau khổ." Y là gì? Y là dựa, kiến là thành kiến, là cố chấp đó, dựa vào. Nên cái chữ kiến y này mình dịch theo cái từ bây giờ là cố chấp. Và ở đây Phật cho mình thêm một cái một cái nguyên nhân của đau khổ nữa là cố chấp. Cố chấp cũng là nguyên nhân của đau khổ.

[1:16:19]Quý thầy nghe bài Cố chấp chưa? Hôm trước khi tôi giảng gần cuối, tôi có tặng hai cuộn băng bài Cố chấp á, nghe chưa? Chưa nghe tức là cái môn Tâm lý đạo đức chưa hoàn thành nha. Vì nó không phải là 30 đề tài mà 31 đề tài. Mà bài Cố chấp tôi đã giảng rồi nên tôi không có giảng lại, tôi chỉ tặng cái băng cho quý thầy nghe thôi. Nếu chưa nghe, mọi người phải lấy băng đó mà nghe. Mà ngoài những nguyên nhân đưa đến đau khổ này, còn nguyên nhân nữa. Nguyên nhân nó còn sâu hơn những cái này nữa. Có ai tìm ra không? Nguyên nhân cuối cùng. Vô minh là nguyên nhân của đau khổ. Nhưng vô minh là cái gì thì...

[1:16:59]thì mình không có định nghĩa cụ thể được. Cái này thuộc về trí tuệ của những người tu chứng mới thấy được, hôm nay chúng ta không có bàn đến. Nhưng ở đây là chúng ta thấy như vậy. Này các tỳ kheo, nếu có ngã thì có cái ngã sở thuộc không? Ngã sở thuộc là gì? Tức là sở hữu của ta đó, những cái gì thuộc về ta, của ta đó. Bạch Thế Tôn: "Có". Nếu có ngã sở thuộc thời có cái ngã của ta không? Có. Ở đây Đức Phật nói thế này: "Có những cái là bản ngã và ngã sở là không thể thường còn, thường hằng. Rồi thế giới tự ngã sau khi chết tôi sẽ thành thường còn, thường hằng, thường trú không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này mãi mãi".

[1:17:45]Những người chấp như vậy cho đến khi mà họ nhận ra được cái đạo lý, họ nghe nói đến cái đạo lý là những điều đó không thường hằng và họ đã đau khổ, cái gọi là sợ mất mình đó. Đây là bản lĩnh của một người có thiện căn hay không có thiện căn là nơi đấy. Khi một người mà có thiện căn trong Phật pháp sâu dày á nghĩa là đời này có thể họ chưa có chứng lại được cái định, họ chưa có tu tập được nhiều, tâm họ còn động mà đời xưa họ đã được định rồi, họ đã được vào trong định rồi. Đời này chưa có, công phu nó chưa trở lại, do cái nghiệp duyên gì nó che đậy. Nhưng mà khi nghe nói rằng cái ngã này không có thật,

[1:18:22]thế giới này là vô thường, họ nghe họ hạnh phúc liền, họ hoan hỉ liền, thì người này là người có thiện căn trong Phật pháp. Đời trước có tu rồi đó. Còn cái người mà đời xưa, những đời xưa chưa từng tu tập, kiêu mạn, ích kỷ, chưa từng vào định mà bây giờ nghe đạo Phật nói cái ta không có thật, sẽ tan hoại, thân này mất rồi cái bản ngã, cái linh hồn, tự ngã cũng không phải là thường trú, bị biến đổi, bị trôi lăn, thì đau khổ ghê lắm. Nên đây là cái chỗ để mình đánh giá gọi là người có thiện duyên hay là thượng căn trong Phật pháp hay không. Mà nếu mình nghe nói cái ta không có thật, trong năm cái uẩn này cái bản ngã không nằm đâu hết,

[1:19:03]nó chỉ là một cái tổ hợp cấu trúc lại tạm thời rồi mình tưởng có cái ngã. Khi nghe câu này mình thấy hoan hỉ, an lạc thì người này có có thiện căn, gọi là căn cơ cũng cao. Ở đây mọi người nghe câu này rồi thấy tâm mình sao? Thấy có an ổn không? Có không? Có không? Có mấy người nói lí nhí: "Có có" à. Hi vọng là quý thầy, quý Phật tử nghe câu này là thấy mình hoan hỉ, nghĩa là đời xưa mình đã từng có vào định, nên mình cảm thấy trong cái định đó mình được hạnh phúc. Còn có người khi mà vào định không còn gì nữa thì sợ hãi. Thấy ủa như vậy là mất hết rồi sao? Nhưng mà người khi vào trong định liều mạng nhảy vào trong

[1:19:49]đó luôn thì thấy chỗ mất hết đó, chỗ không còn gì nữa đó lại là hạnh phúc, thì người này đời xưa đã chứng rồi. Chỗ này Đức Phật lại định nghĩa thêm một đoạn nữa là vô thường là đồng nghĩa với đau khổ.

[1:20:07]Nè các ngươi nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường? Bạch Thế Tôn là vô thường. Cái mà vô thường là khổ hay lạc? Bạch Thế Tôn: "Đó là khổ". Cái vô gì? Vô thường khổ, chịu sự biến hoại có hợp lý chăng khi nói rằng cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi? Bạch Thế Tôn: "Không". Cái câu này chúng ta sẽ nghe đi nghe lại rất nhiều lần trong các bài kinh Nikaya khác, nghĩa là hễ vô thường là đau khổ. Đây là một công thức nha, đây là một công thức. Mà cái đã vô thường, nó thay đổi và khổ thì đừng nói nó là ta, đừng nói là tự ngã của ta. Chỗ này Phật nói đi nói lại nhiều lắm trong các

[1:20:50]kinh mà chúng ta nghe nhiều khi nhàm tai. Nhưng mà nếu mình suy ngẫm sâu vào ý nghĩa này thì mình sẽ thấy cái đạo lý rất là lớn. Nên trong Nikaya chúng ta hay bắt gặp lặp đi lặp lại, nhưng mà xin đừng có lấy đó làm nhàm, mà phải thấy đây là đạo lý lớn, là công thức của đạo Phật á. Hễ vô thường có nghĩa là đau khổ. Cái gì nó không có tồn tại mà mình không thể giữ nó mãi thì đó là đau khổ. Ví dụ như cái sắc, cái sắc thân này một ngày nào đó nó sẽ chết thì khổ nghĩa là như vậy đó. Đừng có hiểu cái khổ gì nó khác nữa, mà vô thường đó là khổ. Cũng giống như cảm thọ, khổ thì nó đã làm mình khó chịu rồi, cái niềm vui cũng vậy,

[1:21:35]niềm vui đến khi nó qua đi cũng làm cho mình đau khổ và nuối tiếc. Như những người mà sống một đời vinh quang lúc trẻ, khi về già thường hay nuối tiếc cái cảnh đó và đó cũng là một đau khổ. Hoặc những hạnh phúc, những cái khoái cảm gì đó mà mình tìm được rồi mà nó mất cũng làm mình đau khổ. Cho nên cái vô thường có nghĩa là đau khổ, là biến hoại. Rồi cái dòng tâm tưởng này nó trôi lăn theo ý nó, nó muốn đi đâu nó đi, muốn suy nghĩ gì nó suy nghĩ, khi nghĩ thế này, khi tốt, khi xấu, đủ chuyện hết thì cái vô thường đó Phật gọi là đau khổ. Vừa nó nó là vô thường, tức là đau khổ, tức là biến hoại thì đừng bao giờ nghĩ rằng nó là một cái tự ngã thường còn.

[1:22:20]Đừng bao giờ nghĩ là tự ngã thường còn. Có không? Có không? Chỗ này chúng ta có thể bị lầm trong lý luận chút nè, là chúng ta đã thấy: "À Đức Phật đã bác hết, không có ngã bởi vì những cái sắc, thọ, tưởng, hành, thức này bên trong và những mọi vật sở hữu bên ngoài đều vô thường, không bền chắc". Và chúng ta cố ý: "Như vậy phải chăng vô tình Đức Phật khuyến khích đi tìm một cái tự ngã thường còn?". Đây là điều chúng ta có thể hiểu lầm thì không phải như vậy. Đức Phật không khuyến khích chúng ta đi tìm một cái tự ngã thường còn, mà nhiều khi sau này chúng ta hay bị ảnh hưởng của Ấn Độ giáo, chúng ta đã đi tìm cái Chân Ngã.

[1:23:01]Cái khái niệm về chân ngã trong Thiền tông rất gần với cái chân ngã trong đạo Ấn Độ, Yoga, nghĩa là vẫn chưa hoàn toàn thoát ra được bản ngã. Chỗ này cẩn thận. Chỗ này hôm trước chúng ta có nói với nhau về ba mức độ của ngã chấp. Thứ nhất là gì? Thô phù ngã chấp là chấp thân này là ta. Thứ hai là ý sở thành ngã chấp là chấp cái tâm này là ta. Thứ ba là vô sắc ngã chấp, nghĩa là khi người ngoại đạo Ấn Độ được cái định, cái tâm rỗng rang, thanh tịnh, sáng suốt rồi chấp cái trạng thái đó là ta thì vẫn là ngã chấp. Thì đây là cái chỗ mà có khi chúng ta bị gạt trở lại. Tuy rằng nó có khá hơn những cái loạn động này,

[1:23:44]nó là một trạng thái định của tâm rỗng rang, sáng suốt nhưng mình nếu nhận nó là tự ngã thì mình trở lại kiến giải của ngoại đạo Ấn Độ. Chỗ này phải vượt qua luôn. Dù chúng ta nhiếp được vào trong định, tâm mình có rỗng rang, phủ trùm gì đó, vẫn khước từ nó tiếp tục. Biết chưa phải thật sự. Cái khái niệm mà Niết Bàn của chư Phật là chỗ thật sự vô ngã, là chỗ đó. Như mình muốn gọi nó là thường còn hay gì gì đó thì chỉ là cái tên, từ ngữ gán vào thôi, chứ không có từ ngữ để diễn tả cái trạng thái Niết Bàn của Phật. Mình gán nó: "À cuộc đời này là vô thường, là đau khổ, như vậy Niết Bàn là thường,

[1:24:19]là lạc" thì cũng chỉ là danh từ thôi, không có diễn tả được, không diễn tả được. Vì coi chừng không khéo, chúng ta nhận một cái trạng thái nào tồn tại thường còn, an lạc của cái trạng thái định, mức độ định nào đó để chấp nhận đó là Niết Bàn hay chấp nhận đó là chân ngã thì nó là một cái sự sự lui sụt trở lại, chứ không phải là không phải là cái cái đúng với cái yếu chỉ sâu xa của đạo Phật. Thì Đức Phật cũng nói vậy. Như vậy, thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, nó là vô thường, có nghĩa nó là đau khổ, là biến hoại thì không có hợp lý khi mình cho rằng: "Cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi".

[1:24:58]"Do vậy, này các tỳ kheo, bất cứ sắc pháp nào quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp này là cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi, phải như phải quán như thế với trí tuệ,

[1:25:17]phải quán như thế với tất cả trí tuệ như vậy, với chánh trí tuệ như vậy". Ở đây, Đức Phật đi sâu vào chỗ này, nhưng mà chỗ này sâu quá mà Đức Phật chỉ nói trong một cái dòng ngắn, nên khi tâm mình mà đọc tới đoạn kinh này mình lướt qua một cái mình hiểu không hết. Mà hễ hiểu không hết thì thường là mình phản ứng trong tâm mình bị buồn ngủ, bị nhàm. Rồi cái nó căng đầu. Ở đây là cái cái tâm lý nè chúng ta để ý, chúng ta để ý khi học kinh cũng như sau này khi mình giảng pháp ở chỗ này.