Transcript: Bát Nhã Tâm Kinh 08 - Uy Lực

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:31:41

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:37]Cung thỉnh Thượng tọa giảng sư an tọa. Xin mời toàn thể các Phật tử an tọa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch Thượng tọa giảng sư. Hôm nay ngày mùng 1 tháng 10 âm lịch, trong vài ngày tới là đến ngày kỷ niệm 20 tháng 11 là ngày hiến chương nhà giáo. Các Phật tử trong đạo tràng suốt năm qua đã nương tựa vào cái sự chỉ dạy của Thượng tọa tu học tốt và hôm nay thể hiện tấm lòng của những người học trò, quý vị đã có nhã ý dâng lên món quà cúng dường thầy, bày tỏ tấm lòng của cái người học trò đối với thầy trong ngày hiến chương nhà giáo. Xin mời quý Phật tử đại diện.

[1:43]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11, chúng con xin phép được thay mặt tất cả các Phật tử trong những cái buổi thuyết giảng ở chùa Từ Tân chúng ta, được kính dâng Đức Bổn Sư Từ Phụ và kính dâng quý thầy một bài thơ ca ngợi công đức của quý thầy đối với Phật tử chúng con.

[2:14]Ánh đạo vàng phá cõi vô minh.

[2:24]Nhờ ơn sâu nặng Đấng Cha Lành. Thầy mang ánh sáng từ bi đó,

[2:39]soi tỏ đường đi cho chúng sanh.

[2:49]Chúng con ghi tạc ơn thầy dạy, quyết xa rời bể khổ

[3:00]mộng mênh.

[3:04]Suốt đời tinh tấn trên đường đạo,

[3:14]bến giác rồi đây

[3:19]sẽ đến

[3:23]gần. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thầy cảm ơn rất là nhiều quý Phật tử đã nghĩ tới thầy như vậy.

[3:39]Thôi, hôm nay chúng ta học tiếp về bài Bát Nhã lần thứ tám.

[3:47]Nhiều lần chúng ta cũng nói với nhau, cái bài Bát Nhã này là một cái nghĩa lý thật là bí hiểm, khó hiểu trong cái hệ giáo lý Đại thừa. Vì vậy nhiều lần chúng ta cũng cảnh giác với nhau rằng là nếu hiểu sai về Bát Nhã, chúng ta có thể đọa, đọa rất là nặng, không đến nỗi địa ngục nhưng có thể làm súc sinh cũng cầm chắc trong tay nếu hiểu sai, rất là đáng sợ. Còn nếu hiểu đúng thì trong lòng chúng ta, chúng ta đã gieo cái nhân để làm thánh cho muôn đời sau. Và bài kinh Bát Nhã là một cái thử thách rất là lớn. Vì sao vậy? Bởi vì chữ nghĩa trong bài kinh Bát Nhã này nói cái gì cũng "không". Và nếu người nào kẹt trên cái chữ nghĩa,

[4:40]rồi cố gắng nhìn thấy cái gì cũng không, cố gắng chứng minh rằng cái gì cũng không, thì người đó đóng lại tất cả mọi con đường đi về lẽ phải, đi về cái công đức, đi về đường thánh, mà người đó đang mở ra con đường đi về chỗ đọa lạc. Bài kinh Bát Nhã cực kỳ nguy hiểm. Còn nếu người nào mà vượt qua khỏi, không bị kẹt trên những cái chữ "không" đó đó, mà để nhìn xuyên qua khỏi chữ "không" đó, thấy cả cái con đường thánh trí của Bồ Tát lớn lao mênh mông như thế nào, thì người đó gieo được cái nhân để làm thánh và đời đời không bao giờ đọa vào ác đạo nữa. Nên cái bài kinh Bát Nhã thật là, là kỳ lạ.

[5:23]Có thể làm cho chúng ta bay rất cao, hoặc làm cho chúng ta đọa rất sâu. Bây giờ chúng ta nghe cái đoạn bài kinh nói thế này: là "Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn." Đó là nguyên văn bản chữ Nho mà ta hay tụng. Còn dịch cái bản chữ Nho ra chữ Việt thì thế này: "Vì Bồ Tát thực hành Bát Nhã như thế, nên tâm không chướng ngại. Vì không chướng ngại, nên không sợ hãi, lìa xa ảo tưởng điên đảo, đạt được cứu cánh Niết-bàn." À nếu mà phân tích chữ nghĩa, chúng ta sẽ ngạc nhiên, tại vì ở đoạn đầu là đã nói rồi, là khi mà một vị Bồ Tát

[6:13]hành thâm được Bát Nhã, thấy năm uẩn đều không, vượt hết tất cả đau khổ. Lần thứ nhất đã nói rồi, phải không? Lần thứ nhất đã nói rồi, là vượt hết tất cả đau khổ rồi. Nhưng mà lần này lại lặp lại là không còn trướng ngại, không còn sợ hãi, không còn ảo tưởng điên đảo, giống như là vượt qua cái đau khổ lần thứ hai. Và cuối kinh, chúng ta sẽ nghe vượt qua cái đau khổ lần thứ ba nữa. Là trong cái đoạn mà đoạn chót á, chúng ta sẽ nghe nói là: bài kinh Bát Nhã này là đại thần chú, đại minh chú, sẽ trừ được tất cả khổ, chân thật bất hư. Quý Phật tử nhớ không? Tụng nhớ không? Nhớ chớ. Đó, tức là bài kinh Bát Nhã này có ba lần nói về cái việc hết đau khổ.

[6:56]Mà chúng ta đừng tưởng ba lần đó nói giống nhau nha. Ba lần đó khác nhau hoàn toàn. Mỗi một cái đau khổ là một cái giai đoạn của một người nào đó. Lần này là nói về cái đau khổ khác, và tới lần thứ ba, ý nghĩa mà nói hết đau khổ lại là một ý nghĩa khác hoàn toàn. Nên bài kinh này cô đọng mà thật là, thật là đầy đủ, cho nên rất là khó hiểu. Thì bây giờ chúng ta sẽ phân tích cái lần thứ hai mà bài kinh Bát Nhã này nói về vượt qua đau khổ. Đau khổ là gì thì chúng ta không phân tích nữa, vì chúng ta đã học điều này trong Tứ Thánh Đế rồi. Giờ chúng ta chỉ phân biệt hai loại đau khổ. Chúng ta có hai loại đau khổ:

[7:39]một là đau khổ do hoàn cảnh bức ngặt, hai là đau khổ do tâm ta khổ sở. Đây là hai loại đau khổ. Ví dụ như là hoàn cảnh bức ngặt là thế này: ví dụ cái người họ bị tai nạn rồi cái họ bị thương tật, họ bị liệt chân thì cái đó là hoàn cảnh. Hoặc là cái người mà làm ăn không may mắn rồi cái bị phá sản, bị lỗ vốn, đó là do hoàn cảnh. Hoặc là à một người mà do bị một cái rủi ro, rồi họ đang làm công việc ổn định cái họ bị người ta không cho làm nữa là mất việc, đó là do hoàn cảnh. Thì những cái hoàn cảnh như vậy vân vân, nó đánh vào trong đời sống của ta, nó làm cho ta không ổn định, làm cho ta có thể bị thiếu thốn,

[8:28]thiếu cơm ăn, thiếu áo mặc, làm cho ta không còn đủ sức nuôi được cái gia đình của ta, nên chính là những cái hoàn cảnh nó nó bức xúc, xáo trộn, đánh mất như vậy, gọi là khổ, khổ của hoàn cảnh. Còn cái khổ thứ hai là do tâm ta. Nghĩa là tâm ta nó đây là những từ chúng ta sẽ nghe là đau đớn, cay đắng, chua chát, ngậm ngùi, nức nở, rên rỉ, than thở là những chữ của tâm không phải không? Rõ ràng. Còn cái ví dụ như tai nạn nè, bị nhà cháy nè, bị xe đụng nè, bị mất việc nè, bị người ta chửi là những chuyện bên ngoài cũng là khổ. Nhưng mà trong đó nó có một cái khổ bên trong là đau đớn, cay đắng, chua xót, à căm phẫn,

[9:14]tức giận, rồi choáng váng, à vân vân, đủ thứ đại khái vậy. Thì chúng ta phân biệt ra lại: một cái là thuộc về tâm và một cái thuộc về hoàn cảnh. Và có bốn cái trường hợp đau khổ. Hai loại đau khổ, hai loại đó phối hợp với nhau tạo thành bốn trường hợp đau khổ. Bốn trường hợp đau khổ là như thế nào? Là ví dụ trường hợp thứ nhất là tâm đau khổ mà hoàn cảnh thì không đau khổ. Có không? Tức là hoàn cảnh không có gì để đau khổ hết mà tâm mình vẫn đau khổ. Có ai vậy không? Ai hay dữ siêu vậy? Có, có những người như vậy. Ví dụ như có một người đó đứng ra đường gào thét, khóc lóc. Người ta hỏi: "Tôi thấy anh có gì đâu mà anh đau khổ dữ vậy?

[10:05]Thấy nhà anh ngon rồi cũng vợ đẹp con ngoan, ai cũng quý anh mà có gì đâu mà anh khóc lóc, anh than thở?" Ổng đấm ngực ổng than: "Trời ơi, không ai thần tượng tui, không ai thương tui, không ai gọi là tôn vinh tui kia nọ." Vân vân. Nghĩa là chuyện không có gì nhưng mà chỉ bởi vì mình có cái tham vọng và đòi hỏi quá cái thành ra đau khổ. Tức là cái này hoàn cảnh không có gì bức ngặt với ta hết, nhưng mà tự ta quậy lên trong tâm ta. Tự ta quậy lên nên ta đau khổ. Có không? Mình nghe nói như vậy nói: "Không ai điên như vậy." Nhưng xin thưa là hồi nãy chúng ta nói là cái người tự nhiên đứng la làng:

[10:42]"Sao không ai thần tượng tôi như là ngôi sao nhạc pop, nhạc rock, phải không? Nên tôi đau khổ. Tại sao thần tượng mấy người kia mà không thần tượng tui? Đi qua đi lại hoài mà không vô nhà thăm tui?" Ví dụ vậy. Thì mình nói là cường điệu nhưng trong cuộc sống thực tế có như vậy, có như vậy. Ví dụ như là có những cặp vợ chồng, trước khi họ cưới nhau thì họ có nói với nhau rằng họ yêu nhau tha thiết. Có không? Không nói vậy ai cho cưới, phải không? Yêu nhau tha thiết. Nhưng mà khi lấy nhau rồi đó thì ông chồng ổng về ổng mệt quá, thấy bà vợ bả nhăn nhăn. Hỏi: "Sao vậy?" Nói: "Bữa nay anh hết thương em rồi.

[11:17]Anh không còn thương em như lúc xưa nữa. Bây giờ anh lấy được em rồi anh coi thường. Anh mê nhỏ nào?" Ví dụ vậy. Thì ông chồng ổng lứng lơ ngơ ra, ổng nói: "Khi không đi làm về mệt thấy mồ, tự nhiên bị bà vợ nhăn." Tức là chuyện không có gì nhưng mà tự tâm bà vợ đòi hỏi phải thế này thế kia. Có không? Cái đó có nhiều không? Bắt đầu hơi bộn á, hơi bộn. Chúng ta nhớ nha, trong thực tế có như vậy. Thôi thầy nói lỡ đụng ai thì thầy xin lỗi nha. Nếu có thì xin lỗi, là vô tình không cố ý. Trong thực tế có những trường hợp như vậy. Người ta tự khổ vì người ta đòi hỏi nhiều quá, chứ hoàn cảnh không có gì để nói hết.

[11:55]Có không? Có nha. Đó là trường hợp thứ nhất, vậy là có. Bây giờ trường hợp thứ hai là hoàn cảnh thì bức ngặt mà tâm không đau khổ. Đây là những hàng triết gia đó, hàng triết gia tự tại. Hoàn cảnh rất là bức ngặt mà tâm không đau khổ. Ví dụ như là ừm nhà bị cháy. Nhà bị cháy mình vui nổi không? Hửm? Không ai vui nổi hả? Nhưng mà gặp cái người mà thuộc loại mà tu đã trình độ cao siêu, là một triết gia, một phi thường thì ổng lại cười. Nói ổng ngồi ổng nhìn đống tro. Đống tro không biết chiều nay ổng lấy gì ăn không biết. Nhưng bạn bè lại chia buồn, hỏi: "Sao anh cháy nhà mà anh cười tỉnh queo vậy?" Ổng nói:

[12:43]"Không, cũng là một cái dịp. Tại nhiều khi nào giờ đó mình sống trong cái căn nhà êm ấm, mỗi khi mưa rơi mình ngồi ở trong nhà nhìn xuyên qua cửa sổ, mình nhìn từng giọt mưa thánh thót rơi để mình làm thơ. Mình không bao giờ hiểu được có những người mà khi mưa rơi họ phải tìm một cái chỗ trú ẩn vì họ không nhà, hoặc khi đêm đông giá lạnh mình có cái cửa sổ để mình đóng lại, rồi mình có cái chăn ấm để mình quấn lấy, nhưng mình không bao giờ mình hiểu được là có những người họ co ro dưới cái hiên nhà của ai đó để chịu qua một cái đêm lạnh, không hiểu. Mà khi vì mình không hiểu được cái người nghèo khổ không

[13:19]nhà như vậy, cho nên bây giờ mình có nói mình thương người nghèo thì cái thương nó không có thấm. Cho nên hôm nay bị cháy nhà cũng là cái dịp để tôi bắt đầu sống không nhà một thời gian để mà biết thương yêu con người." Nói cái đó ngụy biện không? Nghe ngụy biện thấy mồ. Không nhà mà bày đặt. Nhưng mà cái người mà họ lạc quan, tức là tâm họ không thèm đau khổ thì họ nói sao cũng được hết, đại khái như vậy. Tức là nghe thì giống như ngụy biện, trái tai, nhưng vì tâm họ quá bình an, không đau khổ, muốn nói sao cũng được hết. Đúng không? Có không? Ở đây có ai tới đạt trình độ đó chưa? Nhưng mà đừng đốt nhà để thử mình nha. Đốt nhà rồi đổ thừa thầy. Vô nói:

[13:58]"Tại thầy ổng nói vậy nên tôi đốt nhà thử coi có bình an không." Cho nên có cái câu chuyện mà thầy hay nói có ông bị xe cán cái cưa mất chân á. Lần đó thầy cũng kể đó, cưa mất một chân, cái bạn bè tới chia buồn, ổng nói: "Đâu có gì đâu buồn. Giờ ổng mua giày ổng tốn tiền mua có một chiếc à." Tức là tâm không đau khổ nên nói làm sao không được. Chứ còn mà tâm mình đau khổ rồi sao? Giờ mình có hai chân mình vẫn thấy thiếu, phải không? Nếu tâm mình đòi hỏi, đau khổ thì bây giờ hai chân rồi vẫn thiếu, đúng không? Đúng không? Có người nào hai chân vẫn còn thấy thiếu không? Coi chừng có đó, coi chừng có. Có những lúc mà đi đá banh á trời,

[14:42]tôi chạy không kịp á, rượt không kịp trái banh nó phải có thêm chân nữa. Hai chân chặn cái người này một chân thò ra đá một cái. Thiếu một chân. Vẫn có chứ không phải không. Còn cái người mà họ bình an rồi hoàn cảnh thế nào thì thế, mà họ không đau khổ. Nên không đau khổ họ nói mình nghe mấy câu nó ngược đời, nghe nó kì kì, nhưng vì họ không đau khổ. Đó là trường hợp thứ hai, hoàn cảnh có bức ngặt nhưng tâm không đau khổ. Trường hợp thứ ba là cả hoàn cảnh và tâm đều đau khổ. Là vì hoàn cảnh khổ nên tâm khổ. Thì cái này là đa phần phải không? Cái này là chúng ta dễ giải thích. Ví dụ như là à mình mất tiền thì mình mình buồn,

[15:22]mất xe mình mình buồn, bị người ta mắng chửi mình buồn, mất việc mình buồn, nhà cháy mình buồn, thủng xe mình buồn. Chuyện nó rất là bình thường. Đó là đa số phàm phu, đa số chúng sinh đều như vậy. Nghĩa là khi hoàn cảnh đau khổ thì tâm ta đau khổ theo. Ai cũng vậy hết. Và đây là thói thường. Và đạo Phật dạy chúng ta là đừng có như vậy. Đạo Phật dạy mình đó là ở trường hợp thứ hai trước hết. Tức là hoàn cảnh có đau khổ nhưng tâm đừng đau khổ. Nên ví dụ như có một người đến cái nói một câu hơi nặng lời, người A đến nói một câu hơi nặng lời, thế là cái người B tự ái lên, tức giận lên, phản ứng lại, rồi cái câu chuyện

[16:04]nó lây lan qua nhiều người, lôi vào cái cuộc chiến. Mà ban đầu chỉ vì cái lời nói hơi nặng lời của người A. Thì đây là cái thế gian thường tình. Và đạo Phật mình là ngăn cấm cái chuyện đó, đạo Phật mình dạy ta thoát khỏi chuyện đó. Nghĩa là khi người A đến nói nặng lời với người B thì chỉ yêu cầu người B đừng tự ái thì mọi chuyện đang nó dừng lại hết, không rắc rối nữa. Thì cái khó là cái giữ được tâm mình để khi mà chúng ta đối diện với những cái hoàn cảnh ngang trái tâm mình không buồn. Chứ còn khi mà người ta chọc giận mình buồn, người ta chọc giận buồn, hoàn cảnh bất lợi mình buồn thì thế gian chuyện thường, và như vậy đạo Phật không có ích lợi.

[16:43]Nên đạo Phật chỉ có ích lợi khi mà chuyện rắc rối xảy đến ta bình an, tự tại. Nên đó là cái trường hợp của người thứ hai á. Còn bây giờ trường hợp thứ ba là trường hợp rất bình thường. Khó, mình buồn. Bây giờ là trường hợp thứ tư là trường hợp hoàn cảnh hoàn toàn thuận tiện, hoàn toàn may mắn và tâm thì không đau khổ. Đúng không? Thì cái trường hợp thứ năm này á, mình không biết là ví dụ cái người đó họ sống bình an, sung sướng, thanh thản quá, ờ không có gì buồn thì đó là một người mình không biết là thánh hay là phàm phu nha. Nhưng mà trong trường hợp thứ tư này á lại tách ra làm hai trường hợp một lần nữa.

[17:24]Tách ra làm hai trường hợp một lần nữa là thế này. Trong cái trường hợp thứ tư á, chúng ta nghe kĩ nha, chỗ này hơi khó, là hoàn cảnh thuận tiện, may mắn và tâm ta an vui. Thì trong trường hợp này lại chia ra hai trường hợp: một là phàm phu, hai là thánh nhân. À phàm phu á là bình thường, bởi vì hoàn cảnh tôi sung sướng, giàu sang, bình an nên tôi không có gì buồn hết. Đó là phàm phu. Còn của thánh nhân là thế này, là tâm họ bình an được trong thiền định và hoàn cảnh họ là luôn luôn sung sướng, cõi giới họ là vinh quang, bởi vì công đức quá lớn. Nên trường hợp thứ tư này mà tách ra ở cái cái nhánh thứ hai này đó là những bậc đại Bồ Tát.

[18:07]Những bậc đại Bồ Tát là những vị mà đối với thiền định họ đã vượt qua được tất cả đau khổ ở câu thứ nhất của bài Bát Nhã là: "Thực hành thâm sâu Bát Nhã, vượt qua năm uẩn, thoát được tất cả đau khổ". Và đồng thời trải qua quá trình độ chúng sinh, ở những bài trước chúng ta đã nói rồi, phải không? Ở trong những bài trước nhất là bài số 7, số 6, chúng ta nói rồi: "Bồ Tát đi vào sinh tử hoá độ chúng sinh, tạo nên vô lượng vô số những công đức. Nên bây giờ công đức đã quá dày rồi thì các ngài đạt được một cái phước báo là các ngài có một cõi giới riêng của mình ở một cõi nào đó. Ví dụ cõi trên trời, các ngài có một cõi giới riêng,

[18:48]và cõi đó không một cái tai nạn nào có thể xâm phạm được. Ví dụ như lửa cháy, nước trôi, giặc giã, nhưng mà cõi đó vĩnh viễn bình yên vì công đức quá dày. Nghĩa là tâm các ngài là an trụ vững chắc trong thiền định và hoàn cảnh các ngài, cái y báo của các ngài là rực rỡ, ổn định, bình an, sáng tỏ. Vậy đó. Đó là trường hợp thứ tư là của những vị thánh. Thì chính trường hợp thứ tư này của những vị thánh này là ứng với cái đoạn kinh Bát Nhã này. Là khi Bồ Tát thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa như thế nên tâm không chướng ngại, tâm không chướng ngại nên không sợ hãi, lìa xa tất cả ảo tưởng điên đảo, đạt được cứu cánh Niết Bàn.

[19:29]Là chính là cái đoạn này đây. Bây giờ chúng ta nói tiếp. Trong cái câu này có nói là đạt được cứu cánh Niết Bàn, chữ cứu cánh có nghĩa là tuyệt đối. Chúng ta nhớ là hoàn toàn, rốt ráo nên chúng ta dùng chữ tuyệt đối, đạt được cái Niết Bàn tuyệt đối. Bây giờ cái điều kiện để đạt được Niết Bàn tuyệt đối là gồm có hai điều: thứ nhất là viên mãn chánh định và thứ hai là viên mãn công đức. Chúng ta nhớ điều này, viên mãn chánh định và viên mãn công đức. Cái điều gì cho chúng ta được viên mãn chánh định? Điều gì? Hỏi coi có thuộc bài không?

[20:10]Nhiều người không thuộc bài. Trong Tứ thánh đế Phật có nói rồi. Trong Bát chánh đạo, cái chánh định là thuộc cái phần thứ mấy? Quên luôn. Ráng mấy cái này quý phật tử nhớ giùm thầy, tại đây là những giáo lý cực kỳ căn bản và quan trọng của đạo Phật. Chúng ta đến học Phật pháp, mấy cái giáo lý Tứ thánh đế, Bát chánh đạo nhớ nằm lòng giùm thầy nha. Về nghe băng giảng hay xem sách phải viết ra học, nhớ nha. Chứ không được mà nghe lơ mơ tai này qua tai kia là không được nha. Tại vì sao? Vì mình còn ứng dụng để tu, mình còn quan sát cuộc sống để đối chiếu với giáo lý và đôi khi mình còn hướng dẫn người khác nữa.

[20:47]Mình còn đàm đạo, hướng dẫn người khác. Vì vậy nghe giáo lý không được mà ngồi nghe tai này qua tai kia, nhất là giáo lý quan trọng như Tứ thánh đế, Bát chánh đạo là phải thuộc. Nên trong Bát chánh đạo thì cái chánh định là phần cuối cùng, là đỉnh cao của sự tu hành. Mà sở dĩ ta có được cái chánh định, được đỉnh cao của sự tu hành đó là bởi vì ta có chánh nghiệp, là phước. Phước tạo nên chánh định. À nhưng mà cái phước đủ để tạo nên chánh định đó thì cũng chỉ là vừa đủ tạo nên chánh định chứ chưa đủ để tạo nên cả một cõi giới an lành của một vị Bồ-tát. Cho nên sau khi đạt được chánh định rồi, vị Bồ-tát đó phải đi vào trong

[21:25]sinh tử mà hóa độ chúng sinh là theo như bài kinh Bát-nhã này đã nói. Nên bài kinh Bát-nhã này đó đúng ra là nó gắn tiếp theo Bát chánh đạo á, tức là cái người tu Bát chánh đạo tu viên mãn hết, đạt được chánh định rồi thì bắt đầu tu qua cái bài Bát-nhã tâm kinh này, là đi vào sinh tử hóa độ chúng sinh mà với cái tâm bình an tự tại, không vướng mắc gì hết. Và sau đó mới đạt được cái công đức một lần nữa. Công đức lớn lành một lần nữa để mới có thể thành Phật được. Hôm nay chúng ta nói đoạn này, qua bài thứ chín kế tiếp chúng ta sẽ nói về ý nghĩa Phật quả là gì. Tại trong Bát-nhã này cũng nói về Phật quả.

[22:01]Kỳ tới chúng ta sẽ định nghĩa Phật quả là gì để thấy cái vĩ đại của Phật quả. Còn hôm nay là cái công hạnh của một Bồ-tát đến cái mức độ viên mãn như thế nào, là như thế nào là chúng ta sẽ thấy với nhau. Nên nói điều kiện để mà đạt được Niết-bàn tuyệt đối là phải đạt được cái chánh định viên mãn và công đức viên mãn, hai điều đó. Nên là cái người nào tu theo Phật á nếu mà chỉ chuyên tu vào trong chánh định, trong thiền định không thì người đó cũng như con chim chỉ có một cánh. Hoặc là người nào mà chỉ đi làm phước không thì cũng như con chim chỉ có một cánh, không bay đi đâu được. Nên phải luôn luôn cả hai, vừa biết tu tập thiền định,

[22:42]vừa biết tạo dựng những cái công đức lành thì như con chim có đôi cánh, chúng ta bay về đâu cũng được. Chúng ta nói rằng để đạt được Niết-bàn tuyệt đối chúng ta phải có cả hai. Thì như vậy đó, Phật hay Bồ-tát, mà nhất là những vị Bồ-tát hay những vị A-la-hán cũng vậy, nếu mà công đức chưa viên mãn, nghĩa là nghiệp nặng còn thì phải trả cho xong. Không có ai mà những cái nghiệp dữ còn mà có thể vào được Niết-bàn an ổn. Nhớ như vậy. Ví dụ như một cái vị đó chứng A-la-hán. Chứng A-la-hán tức là đối với sinh tử đã tự tại rồi, không còn nghiệp nào lôi mình vào sinh tử được nữa. Nhưng mà trước khi vị đó muốn bỏ cái thân tối hậu này

[23:23]để đạt được Niết-bàn thì nợ ai xin vui lòng trả, không bao giờ giật được, giống như ngài Mục-kiền-liên. Tức là vào những kiếp xưa xưa sửa xưa xưa nào đó, ngài đã có từng giết những ai đó, trong cái giết đó có oan ức, trong cái giết đó có oan ức. Nghĩa là trong cuộc chiến tranh mà ngài tham gia là bởi vì quyết liệt quá, ngài đã ra tay ngài giết luôn cái người tốt luôn, bởi vì lúc đó không phân biệt được tốt xấu nữa, mà nếu do dự chần chờ thì nguy hiểm cho tới cái đất nước của mình, nên các ngài ra tay mạnh dạn, trong cái nhóm người đó ngài giết người xấu, giết luôn người tốt. Thì chuyện nó trôi qua lần lữa không biết bao nhiêu

[24:03]kiếp, đến cái ngày mà ngài đắc A-la-hán rồi, vào giai đoạn cuối đời chuẩn bị phải nhập Niết-bàn, nghiệp xưa trỗi dậy đòi ngài liền. Lúc đó ngài bị ngoại đạo đánh chết luôn. Không có được cái chết bình an mà bị đánh chết. Đó là trước khi vào Niết-bàn, ân oán xưa phải trả cho hết. Không có nói mà hễ tôi đắc đạo rồi, nhân quả không đụng tới tôi được, nói vậy là sai. Đắc đạo thì đắc, nhưng mà nhân quả vẫn phải trả sòng phẳng. Nhớ như vậy. Rồi chúng ta nhớ là ngài Losaka Tissa cũng vậy, đắc A-la-hán rồi mà bị đói thê thảm cho tới cái ngày chết, tới cái ngày nhập Niết-bàn. Ngày cuối cùng rồi do nghĩa là ngài Xá-lợi-phất thương tình dùng thần lực giữ

[24:51]cái bánh lại cho ăn, nếu không là không có cái gì để ăn trong bụng cho cái ngày mà mình nhập Niết-bàn luôn, không được no bụng để mà ra đi luôn. Tức là đắc gì thì đắc, nhưng mà nhân quả phải trả sòng phẳng. Nên do vậy, chúng ta không thể đạt được Niết-bàn tuyệt đối nếu mà công đức ta chưa dày, nếu mà nghiệp xưa trả chưa hết. Các vị trả nhưng mà không đau khổ như ta thôi, chứ cứ phải trả cái đã. Ừm. Còn những cái nghiệp nho nhỏ thì tự động xóa sạch. Chúng ta nhớ có hai loại như vậy nha. Một là những cái nghiệp nặng, định nghiệp là chứng gì chứng rồi vẫn phải trả. Còn những nghiệp lặt vặt, ví dụ như đời trước mình lỡ mắng

[25:30]ai một câu, hoặc là người ta đi mình thò chân ra ta gạt té chơi, à hoặc là mình chôm cái áo của ai, vân vân. Mấy cái nghiệp lặt vặt đó thì công đức xóa hết. Nghĩa là khi mình tạo được những phước lớn rồi, những nghiệp đó lặt vặt bỏ hết bỏ hết bỏ hết, xóa hết không còn. Là khi ở cái kiếp mà mình đắc đạo rồi thì mình được thanh tịnh, được tự tại, được uy nghi, không bị những chuyện lặt vặt đó nó lôi kéo. Còn những định nghiệp lớn thì phải trả cho hết. Nhớ như vậy. Đức Phật còn bị, nhớ, Đức Phật còn phải trả. Nên có một lần mà vua Bình Sa mời ngài về an cư, sau đó việc nước nhiều quá vua quên luôn ngài.

[26:08]Đức Phật phải an cư rất là thiếu thốn. Và Đức Phật thản nhiên, Đức Phật thản nhiên. Là vì ngài nói rằng trong kiếp xưa có một lần ngài chủ trương người ta sống khổ hạnh nhịn đói, ngài kêu gọi mọi người nhịn đói để mà tu cho mau đắc đạo. Do quả báo đó bây giờ có một cái thời gian ngài cũng phải đói kém, mà thành Phật rồi. Hoặc có một lần tự nhiên một cái dao vàng hiện ra cứa chân Phật cái để Phật phải trả cái nghiệp là có một lần vì cứu bao nhiêu người ngài giết gần 500 tên cướp luôn trong một chuyến đi thuyền. Quý phật tử nghe chuyện đó chưa? Không biết thầy kể đâu mà thầy không nhớ, thầy có kể đâu trong cái băng nào á. Ừm.

[26:46]Có một lần ở một kiếp xưa, tức là ngài rất là giỏi võ, ngài đi trên một chiếc thuyền thì trong chiếc thuyền đó rất là đông người, đi buôn bán ai cũng có tiền. Không ngờ trên đó có một cái nhóm cướp, cũng đông lắm, cũng mấy chục tên á. Thì đến khi mà thuyền ra giữa biển rồi thì chúng bắt đầu mới rút vũ khí ra là chúng giết người, khống chế, bắt nộp tư trang và chuẩn bị đẩy người ta xuống biển hết. Cướp hết đồ chúng sẽ giết từng người quăng xuống biển. Thì Đức Phật lúc đó ngài mới mới xuất hiện ngài dùng võ thuật, ngài đánh, ngài tiêu diệt hết tất cả những tên cướp, ngài giết hết luôn, để cứu luôn cái đoàn thuyền đó, một kiếp xưa.

[27:21]Thì lúc đó ngài tay không, mà khi đánh được một tên ngài lấy gươm ngài mới chống lại khoảng năm sáu chục tên á, ngài giết sạch hết quăng xác xuống biển hết luôn, để cứu. Và cái quả báo đó thì do ngài là chính nghĩa nên ngài không bị đòi, nhưng mà khi thành Phật thì cái máy vi tính nhân quả của vũ trụ nó tra xét ra hết cái thấy ngài còn sót trên đó một chút. Ngài tàn sát quá, nên hiện ra một cái gươm ở trên trời cứa chân ngài một cái như để ngài trả cuối cùng cho xong chuyện, vậy. Phật còn phải trả, cũng như là đoạn đầu đời của Phật giáo hóa cũng vậy, 20 năm đầu là Đức Phật bị chống đối khủng khiếp không thể tưởng tượng được.

[27:59]Tức là người ta không tiếc lời mà chửi mắng Đức Phật á trong 20 năm đầu. Vì lúc đó ngài đắc đạo ngài mới 35 tuổi, mà những cái vị mà nghĩa là trưởng tế Bà-la-môn mà gây được uy tín lớn trong cái quần chúng Ấn Độ bấy giờ ông nào ông nấy 70, 80 tuổi, nghĩa là vị nào cũng có đền thờ, có tín đồ đông. Bỗng nhiên xuất hiện một cái tay Sa-môn mới 35 tuổi mà thuyết pháp như mây như mưa mà uy đức vòi vọi mà khiến nhiều người đổ theo. Mấy vị chịu không nổi, chống kịch liệt, chống dữ dội 20 năm đầu. Qua khỏi 20 năm đó rồi bắt đầu cái sự chống đối ngài mới dịu xuống. Đức Phật cũng gặp sự chống đối khủng khiếp, vậy.

[28:35]Thì ở đây đó, theo Bát chánh đạo á là người ta phải tạo phước để đạt được chánh định, còn theo Bát-nhã, Bồ-tát phải hóa độ chúng sinh mới đạt được Niết-bàn. Thì cái đoạn kinh Bát-nhã này trùng với cái bài kinh Kim Cang mà chúng ta học lần trước. Quý phật tử nhớ không? Là khi mà có một người hỏi Đức Phật là làm sao để an trú được tâm, thì Đức Phật dạy phải độ người khác. Phải dạy cho người khác tu, làm cho người khác đắc đạo. Nhiều người thắc mắc, nói mình chưa đắc đạo thì lấy gì mà giúp người đắc đạo? Nhưng mà đó chính là con đường của Đại Thừa Phật giáo. Con đường của Đại Thừa Phật giáo chính là gì?

[29:13]Là xem cái việc mà ta nhiếp tâm bên trong với cái việc mà giáo hóa, giúp đỡ chúng sinh bên ngoài, hai việc đó chỉ là một. Hai việc đó chỉ là một. Người nào mà tách đôi hai việc đó ra, người đó tiểu thừa. Hiểu giáo lý theo kiểu tiểu thừa. Nên cái người mà đại thừa á là vừa vất vả tu hành bên trong, mà cũng vừa tận tụy đi lo việc bên ngoài. Cực lắm! Nhưng mà đó mới là con đường chân chính để làm tâm ta được an trú. Còn người nào ích kỷ, chỉ đi tìm cái an trú cho chính mình thì coi vậy chớ tâm nó yên yên vậy chớ nó không có sâu, rồi nó loạn lên, nó động lại, khi này định khi kia loạn, nó lộn xộn hoài.

[29:56]Còn cái người nào mà có cái công đức giúp cho người khác biết đạo, giúp người khác tu hành, giúp người khác vào được định thì tâm mình vào định vững chắc luôn. Đó là cái con đường của Đại Thừa Phật giáo. Vì vậy, trong cái bài kinh Bát Nhã này, là một vị Bồ Tát muốn đạt được viên mãn Niết Bàn, vị đó phải hóa độ chúng sinh rất là nhiều, mà chúng ta đã nói trong những lần trước rồi. Trong cái câu là: "Vì thực hành Bát Nhã nên tâm không có chướng ngại", chúng ta nghe câu này nếu mà kẹt theo chữ nghĩa, chúng ta không hiểu. Ủa, nói Bồ Tát tại sao tâm còn chướng ngại mà để đợi tới câu này mới là phủ nhận?

[30:32]Phải không? Tại ngay cái đoạn đầu kinh là đã nói Bồ Tát đã vượt được năm uẩn rồi, đã không còn đau khổ rồi, tâm đã bình an rồi, thế tại sao ở đây nói là vì thực hành Bát Nhã nên tâm không chướng ngại? Chướng ngại cái gì đây? Đó. Ở đây chúng ta để ý thế này. Đây là một điều nói ra chúng ta sẽ thấy được cái Thánh vị chứ vẫn còn nhiều cái phức tạp lắm nha. Ví dụ, sau khi một người chứng được cái Chánh định trong Bát Chánh Đạo thì vị đó có khả năng tự tại đối với vạn hữu, chứ không phải là biết hết mọi điều trong vũ trụ này. Không thể nào biết hết mọi nguyên tắc, mọi diễn biến của nhân quả trong vũ trụ này.

[31:14]Nhớ như vậy nha! Tức là một người mà có thể ngồi thiền nhập định được thì người đó tâm bình an không lay động dù bất cứ chuyện gì xảy ra chung quanh mình. Ví dụ người ta mắng chửi không giận, nhà cháy không giận, xe tông không giận, không có chuyện gì làm người đó động, nhưng mà hỏi người đó những điều này điều kia trong vũ trụ, vị đó chưa chắc biết. Hãy nhớ giùm điều đó. Cho nên là ví dụ chúng ta thấy nghe nói vị đó ồ chứng đạo, đắc định, thuyết pháp như mây như mưa, chúng ta tới chúng ta hỏi nhiều điều lắt léo, coi chừng vị đó vẫn không biết, không trả lời được. Hoặc là chúng ta giao cho vị đó nói à

[31:54]nghe nói ngài đắc đạo rồi, thôi giao cho ngài làm vua, ngài điều hành đất nước, coi chừng lên làm vua ít bữa nước nghèo luôn á. Làm không được! Làm không được, không biết làm. Vì sao vậy? Bởi vì cái công việc mà thuộc về tổ chức, quản lý, sắp xếp nhân sự, sáng tạo ra mọi điều thì nó là thuộc một trí tuệ khác, chứ còn cái tâm của một người đắc được Chánh định, bình an rồi, vẫn không đủ sức làm những việc đó. Hãy nhớ như vậy. Cho nên vị Thánh nhiều khi đắc đạo rồi, bản thân vị đó bình an tự tại rồi, nhưng mà có khi vị đó đi ra dạy người ta, dạy đâu hư đó. Dạy trật cũng có nữa. Ồ, chuyện kỳ lạ như vậy.

[32:32]Nhưng có nhiều người thắc mắc nói sao kỳ vậy? Họ nói không, không có gì kỳ hết trơn á. Đó là chuyện bình thường trong đạo mà trong kinh Phật cũng đã nói rất là nhiều, nhất là kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm là nói người đắc đạo là đã thành Bồ Tát, nhưng Bồ Tát ra tới Thập Địa Bồ Tát chia ra từng phần nhỏ từng phần nhỏ. Tức là vị Bồ Tát đó đã làm được bao nhiêu công đức, vị Bồ Tát đã chứng đạo đã lâu chưa, thì trí tuệ mới từ từ sáng lên, sáng lên dần dần, sáng lên dần dần, chứ không phải là hễ nghe nói đắc đạo rồi là vị đó có thể biết được hết mọi điều trong vũ trụ này. Không phải như vậy đâu!

[33:06]Nên do đó là chúng ta nghe nói một vị nói là cao tăng đắc đạo, chúng ta phải kính trọng cái sự đắc đạo đó, chúng ta phải kính trọng cái sự tự tại của vị đó, cái đạo đức của vị đó, phải kính trọng, phải tôn thờ, phải tán thán, nhưng đừng khờ dại tin hết những điều vị đó nói. Ồ, kỳ lạ vậy. Bởi vì tin theo những điều vị đó nói có khi chúng ta thực hành sai. Chuyện đó là điều xảy ra thường xuyên từ xưa tới nay. Có nhiều thiền sư vậy, bản thân vị đó đắc đạo, nhưng vị đó dạy ra thì có nhiều đệ tử không đắc đạo. Không đắc đạo, thậm chí có người cũng điên luôn nữa. Chuyện đó bình thường. Bình thường. Cho nên do đó, đây cũng còn thuộc cái duyên phước của chính ta nữa.

[33:51]Ừm. Thường thường chúng sinh á hay có cái bệnh là nghe vị đó, ông đó nhập định được tám ngày, hay vị đó là có được một số thần thông, ngồi bất động cả hai ba ngày là thế là chúng ta coi như Phật. Vị đó phán ra câu nào chúng ta cũng tin. Đây là một điều sai, so với giáo lý Bát Nhã là một điều sai. Chúng ta kính trọng cái kết quả vị đó được, nhưng đừng tưởng vị đó có trí tuệ biết hết mọi điều. Mà nhất là về nhân quả, vị đó chưa biết hết. Cái nhân quả là cái rất là khó. Tức là cái người phàm phu chúng ta hiện nay á là chúng ta biết được một phần tỷ của nhân quả thôi. Nghe nói à ai ở hiền gặp lành, ai bố thí thì được giàu sang,

[34:35]là ai hay khen ngợi người khác thì gương mặt mình đẹp, là ai hay dùng sức mình để mà làm công quả thì được khỏe mạnh, ai hay tặng ánh sáng thì được mắt sáng, trí sáng, vân vân. Nghĩa là nhân quả chúng ta biết như vậy là chúng ta biết một phần tỷ của nhân quả. Còn cái người mà viết lên được một cuốn sách về nhân quả thì biết được bao nhiêu phần nhân quả? Biết được phân nửa chưa? Có một người viết được hai cuốn sách nhân quả, người đó biết được bao nhiêu phần nhân quả? Bao nhiêu phần? Người đó biết một phần triệu của nhân quả. Biết một chút xíu của nhân quả thôi, chưa biết gì hết. Khủng khiếp như vậy!

[35:18]Còn khi nào mà đạt tới Bồ Tát Bát Địa, Bất Động Địa thì vị đó biết gần hết nhân quả. Và thực sự ai là người mới biết hoàn toàn nhân quả, không còn sót một điều gì? Ai? Chỉ có Phật mà thôi. Chỉ Phật mà thôi. Cho nên là ví dụ chúng ta đến với Phật pháp, chúng ta học nhiều giáo lý nói dạ học giáo lý này bao lâu? Nói dạ học giáo lý này ba tháng. Hiểu hết chưa? Hiểu hết. Học giáo lý 12 nhân duyên hiểu hết chưa? Nói dạ hiểu hết. Học bao lâu? Dạ ba tuần. Rồi học Duy Thức bao nhiêu, rồi học Nikaya bao nhiêu, học kinh Hoa Nghiêm, học Pháp Hoa mấy năm, học biết hết, hiểu hết? Dạ hiểu hết rồi. Nhưng mà xin thưa, có một cái giáo lý đừng bao giờ cho mình hiểu

[35:59]hết, đó là giáo lý giáo lý nhân quả, nhớ vậy giùm nha! Bởi vì cái thước đo trí tuệ của một vị Thánh trong đạo Phật là khả năng nhìn thấy được nhân quả. Nghĩa là cái vị đó mà thấy nhân quả nhiều chừng nào thì trí tuệ của vị đó sáng chừng nấy, vậy thôi. Là đo cái trí tuệ của một vị Thánh chỉ đo trên cái khả năng nhìn nhân quả. Còn mà những giáo lý khác nghe coi mênh mông cao siêu vậy chứ lại đơn giản, đơn giản. Ví dụ mình nói về tính không, về lý duyên hợp, về lý vô thường, những cái đó cái người thông minh học 2 tiếng đồng hồ, còn người thường thường cho học 2 ngày hiểu hết. Nhưng, xin thưa giáo lý nhân quả chúng ta học tới vô

[36:44]lượng kiếp, tới ngày nào thành Phật mới biết hết. Bây giờ mình có viết được một cái luận án về nhân quả để làm tiến sĩ, hay viết bao nhiêu chú giải về nhân quả cho người khác đọc thì mình chỉ mới hiểu một phần triệu, một phần tỷ của nhân quả mà thôi. Nó như vậy. Cho nên ở đây là khi một vị Thánh mà đạt được Chánh định rồi thì tự tại được mọi điều rồi, nhưng mà không phải biết hết mọi điều trong vũ trụ. Muốn có được cái trí tuệ đó, nghĩa là muốn mà có cái trí tuệ biết hết mọi điều, biết hết nhân quả thì vị này phải đi qua một thời gian rất lâu dài giáo hóa chúng sinh. Rất lâu dài, đi qua vô lượng kiếp.

[37:25]Cho nên chúng ta thấy là trong những bài kinh như là Hoa Nghiêm hay Pháp Hoa là trong đó Phật hay nói rằng là ấn chứng cho một vị Bồ Tát này, vị Bồ Tát kia qua bao nhiêu ức kiếp ức kiếp mới có thể thành tựu được Phật quả. Chúng ta nghe chúng ta ngạc nhiên nói sao mà trong đạo Phật tu lâu quá, nhưng đó là sự thật. Một vị Thánh rồi, thời gian là vô nghĩa. Các ngài xem nghĩa là ba vạn kiếp tới như một chớp mắt à. Còn chúng ta, kêu ba năm là đã than lâu, phải không? Nói: "Chừng nào cho con tiền mua chiếc xe?", bay xì, "Thôi ráng sang năm" là mình chờ, mình chờ mỏi mòn con mắt, cổ dài ra mấy tấc. Nhưng mà thật ra đối với vị Bồ Tát là ba vạn kiếp vẫn chỉ như trong chớp mắt.

[38:10]Đây là điều khác nhau giữa chúng ta với các vị Thánh là như vậy. Nên một vị Bồ Tát cũng vậy, sau khi tâm đã bình an tự tại, đạt được sự tự tại hoàn toàn, các thiền ngữ hiểu hết, không còn gì ngăn ngại đối với Phật pháp, nhưng mà để hiểu được mọi sự lý trong tam giới này thì phải qua vô số kiếp giáo hóa chúng sinh, làm lợi ích chúng sinh. Nghĩa là vô số chúng sinh được đắc đạo thì cái trí tuệ của Bồ Tát đó cũng tăng lên từ từ, tăng lên từ từ. Thì chúng ta cũng vậy thôi, mình là một người đệ tử Phật đi học đạo mà nếu mình biết rồi mình để tu cho một mình mình thì trí tuệ mình không tăng. Còn nếu mình biết đạo rồi mà mình đem cái đạo lý mình san sẻ cho mọi người

[38:50]thì người đó 5 năm sau, 10 năm sau tự nhiên trí tuệ rất là sáng. Hãy nhớ điều đó. Mình muốn trí tuệ mình sáng thì hãy giúp người khác biết đạo. Ta cũng đi con đường đó, Bồ Tát cũng đi con đường đó, không có khác nhau. Nhớ như vậy. Ừm. Chính nhờ cái công đức đó mà Bồ Tát có được cái trí tuệ biết tất cả của cái đoạn kinh Bát Nhã này nha. Y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại. Biết tất cả rồi thì khi mình làm một việc gì mình còn do dự không? Còn mơ hồ không? Còn không? Không. Cái chỗ mà không còn do dự á, trong kinh nói là "tâm vô quái ngại", à tâm không chướng ngại, tức là không còn do dự. Ví dụ thế này:

[39:33]ví dụ như là có một nhóm người vào chùa xin với thầy công quả, xin thầy công quả, thì nếu mà ông thầy chưa đạt được cái trí tuệ, cái ông thầy ổng do dự. Không biết cái người này tốt hay xấu, hoàn cảnh chùa hiện nay đã nhận được thêm người tiện hay không? Thì trong đó có cái do dự rất là vi tế mặc dù ông rất bình an, ông ngồi bình an thanh thản vì ông giống như ông đắc định rồi, ông không còn đau khổ gì hết. Nhưng mà khi xin xuất gia, tâm ông có cái do dự không biết là người này cái duyên xuất gia đã đủ chưa, mà vào chùa rồi có thuận lợi không? Chính cái do dự của cái không biết đó, trong kinh Bát Nhã gọi là còn quái ngại, còn chướng ngại.

[40:15]Chứ không phải là nói còn chướng ngại là tâm một vị Bồ Tát xáo trộn, đâu không có, tâm bình an. Nhưng mà khi xử lý công việc á, mà nhìn cái không biết đúng sai như thế nào, không biết làm như vậy đúng hay không, thì đó là còn chướng ngại. Còn một vị Bồ Tát thật sự á, thì khi họ xử lý công việc là rắp rắp luôn, đâu ra đó, biết hết. Coi là cái nào sẽ sai, cái nào sẽ đúng, cái nào tới đâu sẽ gặp cái điều đó là bất lợi, tới đâu sẽ gặp cái điều đó thuận tiện, các ngài biết rõ, nên không có do dự đi tới, chuyện xảy ra tỉnh queo tại biết trước à. Cho nên gọi là không có chướng ngại, mà sở dĩ tâm không có chướng ngại,

[40:50]không do dự, là bởi vì biết rồi, biết xong hết rồi, biết trước rồi. Hoặc là khi chúng ta nhìn một con người, nhiều khi chúng ta nghi ngại, chúng ta không biết người này xấu hay tốt, đôi khi chúng ta nghi, hoặc đôi khi chúng ta tin. Nhiều khi chúng ta dễ tin thì chúng ta bị lừa, mà chúng ta hiểu lầm thì chúng ta mang tội. Còn một vị Bồ Tát, họ biết trong tâm mình á. Họ nhìn mình họ biết trong tâm, mà nhiều khi không cần nhìn mặt mình nữa. Ví dụ mình đến mình nói: "Thưa thầy, con có người bạn tên là Nguyễn Thị Bé Hai", cái là ổng biết liền, qua trung gian một người biết luôn người kia luôn, biết người kia làm sao hết trơn.

[41:29]Vì vậy là khi sắp xếp công việc, vị đó không có chướng ngại, không có do dự, biết phải như thế nào. Chính cái mà biết rõ mọi điều đó làm cho vị Bồ Tát khi xử lý công việc, tổ chức công việc, chỉ đạo công việc rất là rõ ràng, minh bạch, không có do dự. Cái chỗ không do dự đó là không chướng ngại nha. Cái người mà đắc định thì chưa phải là người xử lý đúng tất cả, vì chưa đủ trí tuệ, chưa đủ khôn ngoan, chưa đủ khả năng phán đoán, chưa đủ sự sáng tạo của thánh trí Bát Nhã. À đó, chúng ta nhớ như vậy. Nhất là đường đi của nhân quả thì cực kỳ phức tạp. Còn Bồ Tát Bát địa trở lên, các ngài đã thông suốt sự lý

[42:09]trong tam giới và cực kỳ thông minh, nên xử lý mọi việc vừa hợp lý trên hình thức mà vừa hợp lý trên nhân quả. Giống như bây giờ vào chùa, tự nhiên vị đó cho một cái người thấy là mới tu mà lại cho lên giữ một cái chức quan trọng, rồi nhiều người sẽ hoài nghi, nói rằng: "Ủa, cái người mới tu mà lại cho giữ chức quan trọng? Tại vì trong đạo Phật, cái người tu lâu mới là cái người bề trên, thế tại sao mà lại đi ngược lại?" Thì ở đây là do trí tuệ của Bồ Tát đó. Cũng giống như Đức Phật vậy, là trước khi mà ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đến với ngài, thì Đức Phật đã có rất nhiều đệ tử. Đầu tiên là năm anh em Kiều Trần Như,

[42:52]nhưng năm anh em Kiều Trần Như không hề giữ một chức gì quan trọng trong chúng hết. Và nhiều người sau đó tu theo Phật và đắc đạo, chứng A-la-hán hết. Chứng A-la-hán rồi mà Phật vẫn không hề giao chức gì hết, cứ cho xử lý sơ sơ, dặn dò công việc gì làm công việc đó thôi, rồi mọi người cứ theo thứ tự trước sau mà tu. Đợi đến khi hai anh em, hai người bạn Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên đến, bảy ngày sau cả hai đều chứng A-la-hán thì Đức Phật giao cho hai người đó quyền thống lĩnh Tăng chúng liền, trong chớp mắt liền, dù hai người đó trẻ hơn rất nhiều so với những vị khác mà thống lĩnh liền. Đây là cái nhìn của Phật, và ngài không do dự.

[43:34]Và điều cái ngài nhìn là đúng bởi vì sao? Bởi vì tuy tu sau, đắc đạo sau, tuổi trẻ hơn, nhưng mà duyên của hai người này nhiều đời đã là thủ lĩnh của quần chúng. Đức độ hai người này là trùm hết đại chúng, cái lòng thương yêu tận tụy của hai người này rất là tỉ mỉ, rất là sâu xa đối với huynh đệ. Phật biết điều đó nên trong tức khắc vừa chứng A-la-hán xong, giao chức thủ lĩnh, từ đây mọi người từ già tới trẻ phải vâng lệnh hai tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Và đúng như vậy, không có phụ lòng của Đức Phật, hai vị đó sắp xếp, tổ chức công việc rất là tốt, rất là chu đáo. Hai ngài có những đêm đi chăm sóc huynh đệ,

[44:20]đại chúng, những người bệnh, những người ốm như thế nào thì các ngài đều thăm hỏi, và bí mật dùng thần thông để hỗ trợ cho huynh đệ của mình. Rồi ở đâu khó khăn, các ngài đều bước tới, đôi khi cư sĩ có gì rắc rối, các ngài thay Phật tới giải quyết, vân vân. Là hai vị đó tuyệt vời, thần thông, trí tuệ đầy đủ và tận tụy với công việc. Chứ còn có nhiều vị tuy chứng A-la-hán rồi nhưng mà vẫn không thể có cái tận tụy, dấn thân như là hai ngài. Thậm chí như ngài Ca Diếp của chúng ta vậy, ngài Ma Ha Ca Diếp á, ngài lớn tuổi hơn Phật tới ba bốn chục tuổi. Là khi mà thấy Đức Phật với Ma Ha Ca Diếp đi gần nhau,

[44:58]cứ tưởng Ma Ha Ca Diếp là thầy của Phật, tại vì tướng ông cũng rất là đẹp, tướng rất là sang trọng, hào quang cũng chiếu sáng, mà tuổi thì lớn hơn Phật ba chục tuổi, đi cũng đường bệ, dòm vô tưởng ông thầy. À nhưng mà sự thật ngài là đệ tử thôi. Nhưng mà cái khuynh hướng của ngài là ngài ẩn tu, không làm gì nhiều, thích nhập định ở rừng ở núi, ít có gánh vác công việc. Cho nên tuy là ngài lớn tuổi hơn, ngài có uy đức, ngài chứng đạo, có trí tuệ, có đức hạnh, nhưng mà Đức Phật không giao việc cái thống lĩnh đại chúng cho ngài Ca Diếp là vậy. Đây là chỗ chúng ta thấy vậy, Đức Phật khi xử lý công việc là dứt khoát, đâu đó không do dự.

[45:38]Cái chỗ đó trong kinh Bát Nhã gọi là tâm không chướng ngại, bởi vì biết công việc rất rõ, biết con người rất rõ, biết nhân quả của nhiều đời rất rõ khi chọn một người như vậy, ừ. Nên có những người Đức Phật chiều mà có người Đức Phật khó khăn, ừ Đức Phật rất là nghiêm khắc, nhưng có người Đức Phật chiều. Như có một ông Tỳ-kheo vậy, ổng nói ổng tu không nổi. Tại sao vậy? Nói: "Khổ quá, tu không nổi." Giờ muốn cho ổng tu tốt á, giờ Tăng chúng cất cho ổng cái nhà, rồi ổng ở cái nhà đàng hoàng nha, phải có gỗ đàn hương rồi cho ổng xẻ đàng hoàng, nằm cho nó ấm cúng á ổng mới tu, không, không tu. Vậy mà Đức Phật cho, và ổng tu ổng đắc đạo luôn. Kỳ khôi hả?

[46:21]Mới nói có người mà xài sang vậy làm sao đắc đạo, vậy mà đắc đạo, bởi vì Phật biết. Phật biết cái nhân duyên cái người này, kiếp trước ổng ở cõi trời ổng sống sung sướng, nhưng mà xa hơn ở kiếp cái cõi trời đó thì ổng là một người hay giúp người khác lắm. Ví dụ thấy ổng đi ngang nhà ai á mà thấy nhà người ta dột là ổng không chịu, ổng về ổng bắt người nhà ổng đem cây, đem cửa lại đóng lại cái nhà cho người ta cho ấm cúng. À. Nghĩa là ổng đi qua một cái cái cái đò, mà ổng thấy cái người chèo đò mà lạnh run, cái cái đò nó mục, là ổng kêu đóng cái đò tặng người đó để người đó chèo đò mà kiếm sống.

[46:54]Nghĩa là nhiều kiếp xưa kiếp xưa ổng vậy đó, ổng muốn cho ai cũng sướng, sau đó cái ổng lên cõi trời ổng hưởng sung sướng ổng quen cái tật. Giờ khi Đức Phật sinh ra làm Phật, cái ổng đầu thai xuống làm đệ tử Phật, nhưng mà cái tật sống sướng nó quen. Mà giờ không cho sướng không tu à, không tu à. Vậy mà Đức Phật chiều nha, bởi vì ngài biết, ngài biết nhân biết quả cho nên ngài thoải mái. Ai cũng khất thực muốn chết, không ở nhà sang, mà vậy Thế Tôn chiều, cho cất cái nhà, cất cho ổng một cái tịnh thất, ổng đắc đạo luôn, lạ lùng. Mà còn có người thì thôi Phật để bù lăn bù lóc thê thảm à, giống như ngài Losaka Tissa ăn bữa đói bữa no, Đức Phật không bao giờ ngó ngàng tới.

[47:30]Ngài để cho Trưởng lão Xá Lợi Phất lo gì đó lo, ngài không bao giờ ngó ngàng, bởi vì ngài biết cái vị đó phải chịu trả cái quả đó, phải khổ sở, phải thê thảm, phải đói kém, giờ ngài chen vô cũng không được. Nên Đức Phật xử lý công việc nó hợp lý, có người thì ngài ân cần, có người ngài nghiêm khắc, dứt khoát rõ ràng vì ngài biết tất cả. Cái chỗ mà rõ ràng dứt khoát đâu ra đó đó, cái đó trong kinh Bát Nhã này gọi là vô quái ngại. Tâm không do dự, không ngần ngại vì xử lý được tất cả, hợp lý. Quý Phật tử đồng ý không? Đó, nên đọc kinh này là không phải nói cái vô quái ngại là mình bị buồn vui sướng khổ thường tình, không phải.

[48:06]Đọc tới cái đoạn mà tâm vô quái ngại là chúng ta phải biết đây là trí của Bồ Tát xử lý, giải quyết, biết tất cả mọi công việc nên là sắp xếp, chỉ đạo rõ ràng. Nhớ như vậy nha. Như ví dụ có mấy người mà đến xin tu thì có người Bồ Tát nói: "Thôi con ở nhà con đừng có đi tu, làm cư sĩ." Nhưng mà cái người này làm cư sĩ thì lại rất là tốt, làm được nhiều việc, nhiều khi đi tu là lại làm không được như vậy. Nhưng mà có người cái lại thôi đi tu liền đi, đừng có ở nhà ngày nào, tại vì trễ cái là có người khác lại bưng đi liền, khổ vậy, cho nên thôi đi tu tránh cái nghiệp. Cho nên ai mà thầy kêu đi tu là lập tức đi liền nha, ở nhà có người bưng á, à.

[48:51]Còn người nào đi tu mà thầy nói thôi đừng đi thì ở nhà không ai bưng, ai cũng chê, đừng lo. Còn có câu này nè: "Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố". Vì tâm không chướng ngại nên tâm không có sợ hãi. Tu tới mức độ này còn sợ ai nữa? Phải không? Ngay từ đầu là Bồ Tát đã vượt qua được năm uẩn, độ nhất thiết khổ ách rồi, thì giờ này còn sợ ông kẹ nào nữa? Mà tới đoạn này bắt đầu lặp lại là vì không chướng ngại nên không sợ hãi. Bồ Tát còn sợ ai nữa mà sợ, ma còn không sợ nữa sợ ai. Nếu mà chúng ta kẹt trên chữ nghĩa đó, mình sẽ hiểu cái bài kinh Bát Nhã này rất là thấp. Cứ tưởng cái đoạn kinh này nói rằng

[49:33]là Bồ Tát tu Bát Nhã rồi cái tâm bình an, thế nên không có chuyện gì sợ, nói vậy là là không hiểu được Bát Nhã. Bát Nhã không có nói chuyện phàm phu mới tu, mà Bát Nhã nói chuyện của những vị thánh đã chứng nhiều đời rồi nhiều kiếp rồi. Chúng ta xin nhớ là Bát Nhã là bài kinh nói về trí tuệ của một bậc thánh đã chứng vài ngàn kiếp rồi, hãy nhớ điều đó. Cho nên chuyện này không phải chuyện phàm phu mà nói tâm không chướng ngại nên không sợ hãi mình tưởng sợ giống như mình sợ ma, không phải. Hay như mình sợ nghèo hoặc như mình sợ đói, hay là mình thấy ai dữ mình sợ, không có, không phải, không phải sợ cái đó.

[50:11]Mà Bồ Tát sợ cái gì? Ai nói được thưởng một chiếc xe Wave Trung Quốc.

[50:20]Bồ Tát sợ gì?

[50:24]Có một người nói đúng, nhưng mà Thầy cũng xin bổ sung câu nói Thầy hồi nãy là một chiếc xe Wave Trung Quốc bằng giấy. Hồi nãy Thầy nói nửa chừng cái Thầy khát nước đó, cái Thầy uống nước, Thầy nói tiếp: "Và tặng chiếc xe Wave Trung Quốc bằng giấy." Vì có người trả lời đúng. Đúng, "Bồ Tát sợ nhân", hãy nhớ câu này.

[50:44]Chúng ta nói là vì tâm không chướng ngại cho nên không sợ hãi. Mình nói sợ hãi gì? Mình cứ tưởng giống như mình á. Mình tưởng mình sợ nghèo, sợ đói, sợ tù đày, sợ người ta ăn hiếp. Mình cứ tưởng giống như mình sợ. Nhưng mà thật ra Bồ Tát sợ gì? Sợ nhân. Sợ nhân, hãy nhớ như vậy. Sợ nhân là sợ làm sao? Cho nên có cái câu trong kinh nói: "Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả." Đó, hãy nhớ. Đây chỗ này nè, mới là giải thích được cái chỗ mà vô hữu khủng bố của Bồ Tát. Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả là làm sao? Nghĩa là chúng sinh á làm tội thì không có biết sợ, phải không? Nhưng khi quả báo tới thì mới mới sợ.

[51:28]Nghĩa là bạn á rủ mình đi ăn trộm á thì không sợ. Nói: "Bây giờ ha, tao leo ngả trước, mày bò ngả sau. Rồi tao bịt miệng ổng, mày bịt miệng bả. Rồi tao cạy cửa này, mày bứng cửa kia." Phải không? "Tủ sắt nghe nói trong đó mấy trăm triệu." Nghe hào hứng khoái. Nhưng mà tới chừng mà lấy được tiền người ta rồi, về nhà giấu rồi nằm ngủ rồi, cái nghe tiếng gõ cửa: "Cốp cốp cốp cốp." Bắt đầu tâm làm sao? Sợ. Không biết ai gõ cửa mà dữ quá, giống công an quá. Không biết công an điều tra ra rồi. Lúc đó sợ gì? Sợ người ta phát hiện, bị bắt đi tù, phải không? Nhưng mà coi chừng công an thiệt. Đang nằm ngủ mà bỗng nhiên cái có người gõ "cốp cốp cốp cốp" là

[52:06]coi chừng công an tới đứt nhen, moi ra tìm ra được dấu vết đó. Thì là chúng sinh á lúc làm tội thì làm cho đã, không biết sợ. Nhưng tới khi quả báo tới rồi mới mới sợ. Còn Bồ Tát thì sợ cái gì? Sợ mình sai lầm. Sợ sai lầm. Quả báo tới ngài bình an, không có sợ. Bắt ngài đi tù, ngài tỉnh bơ. Đem ra chặt đầu cũng tỉnh bơ, không buồn không khổ không gì hết. Nhưng mà chỉ sợ là sợ sai lầm.

[52:37]Cũng vậy, ví dụ thế này, một cái người mà quân tử của đạo Nho họ cũng có cái triết lý sống giống như vậy đó. Cái người quân tử là cái người đói không sợ, nhưng mà chỉ sợ mình nói một câu lỡ lời. Thì cái tư cách này cũng rất giống như là cái tư cách của vị Thánh trong đạo Phật, là Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả. Lúc làm bậy không sợ, nhưng mà khi quả báo tới thì mình sợ. Còn Bồ Tát là khi xử công việc rất sợ mình xử sai. Mà đến khi có cái trí tuệ sáng suốt trùm hết vũ trụ rồi, làm cái gì biết rồi thì còn sai lầm không? Còn không? Không còn sai lầm thì còn sợ sai lầm không? Hết. Thì cái chữ "sợ" lúc này mới mới chấm dứt.

[53:26]Đó, nên đây cái cảnh giới mà nói rằng là: "Tâm không chướng ngại, vì không chướng ngại nên không sợ hãi" tức là chỉ cho cảnh giới của Bồ Tát. Là khi biết rõ hết tất cả mọi điều, đi vào trong sinh tử hóa độ chúng sinh xử lý hết mọi điều đúng rồi, không bao giờ làm điều gì sai lầm nữa, cho nên cái sợ sai lầm không còn tồn tại, phải không? Không còn tồn tại. Còn chúng ta bây giờ mình có tính cách quân tử, mình cũng chẳng thèm sợ quả báo đâu. Ví dụ mình hiểu đạo rồi, giờ một lát ra mà có chết, mình cũng bình an mà chết, phải không? Một lát về nhà mình có bị mất trộm thì thôi, nghiệp mình phải trả, cũng bình an, mình cũng làm được, mình không sợ quả.

[54:05]Và mình chỉ sợ là sợ sai lầm. Và mình còn sợ không? Còn, phải không? Nghĩa là khi một người Phật tử tốt vẫn còn sợ sai lầm. Và mình nhìn thấy một cái người nào sợ sai lầm, mình biết ngay đó là người Phật tử tốt, người đệ tử Phật chân chính. Phải không? Còn cái người mà không sợ sai lầm thì đó không phải là một người đệ tử Phật chân chính. Cái người mà không sợ sai lầm mà chỉ sợ nhà mình nghèo, sợ người ta không thương mình, sợ mình làm ăn không giàu, sợ mấy cái tào lao đó là phàm phu. Phàm phu. Cái sợ đó của một người không phải đệ tử Phật. Còn một người đệ tử Phật chân chính không sợ điều đó.

[54:44]Cố gắng làm phước, cố gắng làm ăn, cố gắng giúp người, cố gắng tiết kiệm, và nếu có quả báo xấu xảy tới thì bình thản chịu đựng. Đó là cái thái độ đúng. Hỏi: "Bạn sợ điều gì? Có sợ chết không, sợ chiến tranh, sợ thiên tai, sợ giặc giã?" Nói: "Tôi không sợ điều gì hết, tôi chỉ sợ tôi sai lầm. Tôi sai lầm trong ý nghĩ, tôi sai lầm khi tôi nói chuyện với con người, tôi sai lầm trong hành động. Bởi vì nếu sai lầm, mình không phải đệ tử Phật." Thì một người nào mà nói được câu đó là người đệ tử Phật chân chính. Còn Bồ Tát đã đến cái mức độ không còn sợ sai lầm, bởi vì sao? Bởi vì không thể sai lầm. Không thể sai lầm. Phật tử đồng ý chỗ này không? Đó.

[55:27]Chúng ta còn sợ sai lầm là vì mình có lương tâm, phải không? Mình có lương tâm, mình có trí tuệ, mình hiểu đạo nên mình còn sợ sai lầm. Mà tại sao mình còn sợ sai lầm? Bởi vì mình còn có thể sai lầm. Đúng không? Đây ai không thể sai lầm nữa giơ tay lên? Thầy sẽ nhờ thầy trụ trì xây một cái bệ liền đâu đây, bưng lên ngồi liền không nói gì hết. Cái người nào mà không thể sai lầm thì thì thỉnh lên đây ngồi liền. Như vậy là chúng ta công nhận chúng ta còn có thể sai lầm, phải không? Và như vậy chúng ta vẫn phải còn sợ sợ sai lầm. Và người nào còn biết sợ sai lầm đó là người đó là người tốt, là người đệ tử Phật chân chính.

[56:11]Chỉ có người mà không có lương tâm mới không sợ sai lầm. Còn ta có lương tâm, ta sợ sai lầm. Còn cái Bồ Tát đến cái cảnh giới này, cảnh giới của bài thứ tám chúng ta học hôm nay là không sợ sai lầm bởi vì không thể nào sai lầm nữa. Như vậy, chúng ta thấy giữa Bồ Tát với chúng ta cách xa bao nhiêu? Cách xa bao nhiêu?

[56:36]Trùng trùng diệu vợi, phải không? Là chúng ta tốt đó, nên mình còn sợ sai lầm vì mình còn có thể sai lầm. Bồ Tát dứt khoát không sai lầm nữa. Từ cái chỗ mà còn có thể sai lầm cho tới cái chỗ không thể nào sai lầm nữa, cái khoảng cách nó cực kỳ lớn nha. Khoảng cách đó chúng ta đi qua 3 triệu kiếp nữa. Nhớ nha, nhớ như vậy. Vì vậy, khi chúng ta học cái bài kinh Bát Nhã này mà chúng ta hiểu đúng rồi tâm mình khiêm hạ dữ lắm. Khiêm hạ, vì mình biết cái thân phận phàm phu của mình đứng ở đâu, còn các vị Thánh, Bồ Tát đứng ở đâu, mình biết rõ. Nên chúng ta coi á, cái người nào mà học bài kinh Bát Nhã

[57:15]đúng hay không, mình nhìn thái độ là mình biết à. Là sau khi học bài kinh Bát Nhã rồi cái người đó ngông ngông nghênh nghênh coi ai không ra gì hết thì học hiểu sai. Còn cái người nào mà học bài kinh Bát Nhã ra rồi, lòng họ hiền lành trầm lắng xuống, khiêm cung lại, biết mình còn có thể sai lầm, tôn trọng mọi người, sợ mình lỡ lời, cung kính chư Phật, cung kính chư Bồ Tát thì biết ngay người này hiểu Bát Nhã đúng. Đồng ý không? Đồng ý nhớ như vậy nha. Nhìn thái độ của người học Bát Nhã biết họ học sai hay đúng liền.

[57:52]Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng Bồ Tát Bất Động Địa thì là người thấu suốt sự lý trong tam giới, có nghĩa là người không thể sai lầm, là người hiểu luật nhân quả khá toàn vẹn. Còn phàm phu chúng ta, chúng ta hiểu một phần tỷ về luật nhân quả thôi. Và một điều chúng ta buồn nữa là các trường Phật học ngày nay chưa hề có môn học nhân quả. Chỉ có một bài nhân quả sơ sơ, chứ chưa có một cái môn riêng về nhân quả chuyên sâu học luôn cả năm. Chưa hề có. Cho nên chúng ta cũng ước mơ là trong Phật học chúng ta phải dựng được một cái giáo trình dạy chuyên sâu về môn nghiệp thôi. Vì cái môn đó quá phức tạp mà chúng ta là đệ tử Phật mà

[58:33]hiểu sơ sài quá, đó là một thiệt thòi rất là lớn. Bởi vì tất cả các môn khác, chúng ta có một thời gian nào đó để tạm hiểu đủ, nhưng riêng nhân quả, chúng ta học vài tỷ kiếp nữa chưa học xong. Mà nếu bây giờ mình không có một môn chuyên sâu học cho nhiều thì rất là rất là đáng tội nghiệp chúng ta. Chúng ta mong sao là mọi người trên Trái Đất này ai cũng được học cái môn nhân quả đó. Dù người có bất cứ đạo nào cũng vậy hay không đạo cũng vậy, cũng phải được hiểu nhân quả. Khi hiểu nhân quả rồi, họ sẽ tự kiềm chế lấy họ, họ tránh điều ác, họ làm điều thiện. Cho nên cái đoạn kinh trên á không có nói gì về nhân quả,

[59:15]không hề nói một chữ về nghiệp nha, nhưng cái thâm ý đằng sau của những chữ không đó chính là chính là nói về nghiệp báo. Đó, chúng ta học ở bài Bát Nhã, cái sợ của bài Bát Nhã là như vậy á, là cái chữ nghĩa là cái hàng rào làm kẹt chúng ta. Cái đoạn kinh nói thế này: "Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn." Không có chữ gì nhân quả hết, không chữ nhân quả. Nhưng đằng sau những chữ không đó, xin thưa, đoạn này đang nói về nhân quả của Bồ Tát. Đang nói về câu: "Chúng sinh sợ quả, Bồ Tát sợ sợ nhân." Cái đoạn này chính nói về điều đó.

[59:55]Thì chúng ta học kinh á, mỗi bài kinh nó có một cái khó khác nhau. Là ví dụ như kinh Pháp Hoa á toàn là ẩn dụ. Kinh Pháp Hoa là ẩn dụ, nói chuyện này nhưng để biểu tượng chuyện kia. Thì trong kinh Pháp Hoa mà nói hoa rơi trên trời xuống, xin thưa đừng hiểu hoa rơi, đừng hiểu hoa rơi giùm, hiểu chuyện khác giùm. Hoặc là trong kinh Pháp Hoa mà nói hai vị Phật mở tháp ngồi chung nhau, xin thưa đừng hiểu là có hai vị Phật mở tháp ngồi chung nhau, không có đâu, xin hiểu ý nghĩa khác giùm. Hoặc là nói là khi mà Bồ Tát Diệu Âm đi về Trái Đất này thì đi qua tới đâu là các cõi đất rúng động theo sáu kiểu,

[1:00:31]xin thưa đừng hiểu đừng hiểu kiểu đó, hiểu cách khác giùm. Là Pháp Hoa là vậy á. Pháp Hoa khó hiểu là bởi vì toàn là ẩn dụ, còn Bát Nhã khó hiểu là vì sao? Là vì mấy cái chữ "không" khô khan này. Là đằng sau là thế giới mênh mông của chân lý, nhưng mà cánh cửa để đi qua cái thế giới chân lý đó là những chữ Không khô khan. Người nào mà không có thiện căn, chúng ta gặp cái hàng rào chữ Không này đứng chết ở đó và nói cái gì cũng Không. Còn chỉ có người có thiện căn mới vượt qua khỏi cái hàng rào chữ Không đó để thấy vô số đạo lý phía sau. Cả cái chân trời mênh mông bát ngát của đạo lý tuyệt vời tuyệt đẹp,

[1:01:11]cả cái thế giới kỳ ảo đầy hào quang của chư Phật chư Bồ Tát. Nhưng mà án đóng cái hàng rào chữ Không, từ đầu kinh tới cuối kinh chưa tới 300 chữ, không biết bao nhiêu chữ Không ở trong, và làm hàng rào chặn ta lại. Người nào kẹt đứng đó là chết suốt đời, chết kiếp này chết kiếp khác, tưởng cái gì cũng Không, không tạo được một chút phước nào luôn và nghênh nghênh ngông ngông tự cao tự đại. Còn người nào thủng qua được cái hàng rào chữ Không đó sẽ bắt gặp được cả cái chân trời đạo lý kỳ ảo tuyệt vời và lòng mình khiêm hạ trở lại, đó như vậy. Ở đây chúng ta thấy thế này, là đằng sau chữ Không chính là những cái Có.

[1:01:50]Chúng ta nghe, ví dụ bây giờ nói thế này nha: "Cái ông này ổng không nghèo", tức là làm sao? Ổng giàu. Như vậy đằng sau cái chữ không nghèo tức là cái chữ chữ Giàu. Chứ mình tưởng đâu nói cái ông này không nghèo, nói tội nghiệp ổng quá, cái nghèo mà ổng cũng không luôn, tội nghiệp quá, không có gì hết, ông này không có, nghèo ổng cũng không có luôn, tội nghiệp. Vậy mình hiểu sai, phải không? Đúng không? Cho nên nói cái Không này tức là Có cái kia. Ví dụ như cái cô này không xấu, tức là cổ làm sao? Cổ đẹp. Tức là cổ đẹp. Chứ còn nghe nói cô này cổ không xấu: "Trời, tội quá, xấu mà cũng không được luôn nữa." Cái mình tưởng gì cũng Không.

[1:02:28]Người ta nói không xấu để ám chỉ cổ đẹp thấy mồ. Hoặc là mình nói một con người, nói: "Có cái người kỳ cục, không để tóc, mặc bộ đồ không giống ai, ăn thức ăn không nhiều dinh dưỡng, chỗ ở không có được mở nhạc trữ tình, không được thức dậy trễ, không được ngủ sớm, không ai được dám yêu", thì người đó là ai? Mấy ông thầy chùa chứ ai. Thấy không? Nghe cái gì cũng Không, nhưng mà kỳ thực nó là một cái Có, cái Có rất là đẹp, phải không? Đó chính là gì? Chính là một vị sa môn khoác chiếc áo cà sa bay phất phơ theo gió sớm, bước đi tự tại trên con đường làng đầy sương rơi, hoa rụng, rất là đẹp. Nhưng mà nói cái gì cũng Không hết trơn.

[1:03:12]Thì bài kinh Bát Nhã này là vậy á. Chúng ta mở nghe gì cũng Không hết, là đọc cái gì cũng Không hết, nhưng mà tưởng gì cũng Không hết là coi chừng á. Cứ nói có ông không để tóc tưởng ổng bị bệnh, mặc đồ không giống ai là tưởng ổng mặc đồ dị hợm, quần có một ống gì, không phải, đó là một nhà sư thánh thiện, đẹp đẽ. Nói không ai dám yêu, mình tưởng: "Ô, ô, con người gì tội quá vậy, không ai thương." Không phải, yêu sao được, ông thầy chùa mà yêu cái gì nữa, khổ ghê. Đó, chúng ta phải nhớ, bài kinh Bát Nhã là như vậy. Cho nên là trong cái nhân quả của cái bài Bát Nhã Tâm Kinh này á chúng ta phải thấy là Bồ Tát nhìn cái nhân quả xuyên suốt vài ngàn vài triệu

[1:03:55]năm sau, chứ không phải là nhìn kiếp trước kiếp sau như ta. Không phải. Ví dụ như một người thấy một người họ hằn học thì Bồ Tát biết luôn cái hậu quả vài ngàn năm sau sẽ như thế nào, chỉ cần sự hằn học thôi. Hoặc là một cái tâm ái luyến thì biết vài ngàn năm sau sẽ như thế nào, chứ không phải là chỉ kiếp trước kiếp sau, năm trước năm sau như ta nữa. Hoặc là khi mà gặp chuyện, cái người đó người ta tha thứ thì cái nhân quả của cái sự tha thứ đó kéo dài mấy ngàn năm sau như thế nào. Cái trí Bồ Tát nhìn thấy như vậy á. Hay là cái người đó có một sự hy sinh hay là trong lúc đó là nhường cái vinh quang

[1:04:33]lại cho người bạn của mình, thì nhân quả vài ngàn năm sau sẽ như thế nào. Bồ Tát thấy như vậy á, chứ không phải như mình thấy à năm trước năm sau, quả báo nhãn tiền, kiếp trước kiếp sau, không có đâu. Vài ngàn kiếp sau, vài ngàn kiếp sau. Vì thấu suốt nhân quả cho nên là Bồ Tát dùng nhân quả để điều chỉnh cuộc đời của chúng sinh chứ không dùng phép thuật, không dùng phép thuật. Ví dụ thế này, ví dụ bây giờ có một người đến gặp quý thầy, mới nói: "Thưa thầy, con bị cái vong nó theo, con bị cái vong nó theo. Hay là con đi qua cái vùng đó ngày xưa chiến tranh giặc giã, rồi con thấy những cái đoàn quân họ đi.

[1:05:10]Từ đó về người cứ lừng sừng lừng sừng không tỉnh, rồi thường hay nghe tiếng nói bên tai, thấy giống như là bị vong theo. Bây giờ phải đến..." Thì nếu mà vị thầy nào á mà không có trí tuệ Bồ Tát á thì dùng bùa ém đi, đuổi mấy cái vong đó đi. Nhưng mà một vị mà có cái trí tuệ Bồ Tát thì không bao giờ dùng bùa để ém hết. Tại sao vậy? Tại sao bao nhiêu người đi qua lại đoạn đường đó không đi theo mà lại theo đúng cái người này? Tại sao? Tại sao? Có duyên nhau, phải không? Có duyên với nhau vì lý do gì đó, mà nó là nhân quả, không được dùng bùa. Bùa là một loại bạo lực, cản, mà phải dùng cái gì? Dùng cái gì đúng nhân quả.

[1:05:50]Thì biết cái người vong theo đó họ đói hay no? Đói. Trước hết cúng cho cái vong đó ăn, sau đó tụng kinh cho vong đó nghe. Cái người đó họ được ăn, họ được nghe đạo lý, từ từ họ theo mà họ không phá nữa. Nhưng mà cái duyên còn họ vẫn còn theo nha, không bỏ ra được đâu. Tuy nhiên, họ cứ theo, mình cứ cúng cho ăn, cứ tụng kinh cho nghe thì cái nghiệp tan rất là nhanh, rồi xong một ngày nào đó người đó rời ra đi để họ đầu thai luôn. Thì như vậy là vẹn đôi đường, không gây ân oán. Còn không biết, nói: "Vong theo", cái dùng bùa trấn người ta, thì tạm thời người ta dạt ra đó, nhưng cái oán nó để lại cho cả cái người bị theo và cho cả cái ông thầy bùa luôn.

[1:06:31]Đó là lý do tại sao mà mấy ông thầy bùa cuối đời hay bị thê thảm là vậy đó, là hay dùng bạo lực chứ không điều chỉnh nhân quả. Còn vị Bồ Tát họ điều chỉnh nhân quả thôi, cứ nhích nhân chút xíu, nhích nhân chút xíu thì nó sẽ ra quả này, ra cái quả kia theo ý của mình. Và thời gian là một phương tiện rất là tốt. Đó là Bồ Tát vậy, cứ dùng nhân quả điều chỉnh nghiệp chúng sinh chứ không có gì hết. Ví dụ nói một người đến nói: "Thưa thầy, tự nhiên sao con bị bệnh, bởi vì con bị bệnh là cứ bị đau cái vùng bụng, cái vùng bao tử mà đi khám thì nó không ra bệnh, nội soi nội gì cũng không ra bệnh hết trơn." Thì mình biết ngay cái này là bệnh gì? Nghiệp.

[1:07:12]Nghiệp nó tạo nên một cái ảo giác về đau, sinh thiết cũng không ra u bướu gì hết, nội soi không thấy vết lở vết loét mà cứ bị đau ngầm ngầm, thì đây là một loại nghiệp. Nghiệp gì? Thì tùy cái vị thầy đó có khả năng nhìn hay không. Nếu mà vị đó có khả năng nhìn, có khi thấy là vì đời xưa đã một lần rút dao đâm người ta ngay đúng cái vị trí đó, có lần trong lúc đánh nhau gì đó rút dao đâm người ta đúng ngay vị trí đó, người ta đau đớn người ta chết. Thì cái người này nghĩa là sau này cũng bị quả báo đâm lại, nhưng mà cái dư báo nó còn á là cứ bị đau vô cớ ở cái vùng bụng này, bị đau vô cớ không lý do, cái đó là cái tàn tích,

[1:07:50]chứ còn trước đó là cũng trả quả báo rồi, bị đâm lại rồi chứ không phải không. Nhưng mà cái dư báo nó cứ làm cho người này cứ bị đau đau hoài. Và như vậy giải quyết cái dư báo này bằng cách gì? Thì làm sao cứu chúng sinh thôi, phải không? Đi ra chợ mua cá thả, đó, rồi thấy ai bệnh đau mình giúp người ta, xoa dịu nỗi đau người ta. Thì như vậy là nhờ cái tạo phước này cái nó hóa giải cái dư báo, cái từ đó không còn đau bụng nữa, nó vậy thôi. Tức là Bồ Tát chỉ chỉnh nhân quả thôi, chứ không nói: "Lại đây, ta ém cho, úm ba la úm ba la hết", cái rồi. Là cái bệnh đó nó bay qua ông thầy liền nha. Nhớ nha, khi chúng ta dùng phép chúng ta chữa bệnh

[1:08:30]thì cái bệnh đó nó bay qua ông thầy, nhớ điều đó. Cho nên hầu hết những vị thầy nào mà dùng phép để chữa bệnh thì cuối đời đều thê thảm. Tại vì lấy hết nghiệp chúng sinh là mình hứng hết luôn, hứng hết luôn. Ví dụ như bây giờ tại sao như vậy? Tại vì ví dụ như thấy có một người nói bị tội nhân, họ nói: "Con bị bị bắt, bị đày đau khổ", chạy đến cái ông nhà giàu. Cái ông nhà giàu ổng thấy tội ổng nuôi. Người khác tới cũng vậy: "Nói con trốn nợ thằng kia", tới ổng vô ổng nuôi. "Nói con mới giết người thằng kia", cái vô ổng nuôi. Thì cuối cùng sao? Ngày nào đó luật pháp xử lý ông này, phải không? Bởi vì ông đã chứa chấp tội phạm,

[1:09:12]tịch thu hết toàn bộ gia tài sản ổng bắt ổng ở tù luôn. Mà những người kia sao? Cũng bị lôi ra xử lại hết, không có người nào mà hết nghiệp hết, không người nào hết tội hết, phải không? Vẫn phải bị xử lại hết. Cái người này trước đây trốn nợ, rồi, đi trả nợ; người này giết người, rồi, vô tù. Xử lại hết và cái ông gia chủ chứa cũng bị xử luôn. Đó là trường hợp mà dùng phép để chữa bệnh á, nghĩa là người ta nhức đầu, vuốt vuốt cái đầu: "Hết", hết liền, vì mình có phép mà. Đau bụng: "Úm ba la", hết liền. Thì cái đó là dùng phép để chữa bệnh thì sau này tất cả những vị thầy đó đều thê thảm hết. Còn Bồ Tát không có, Bồ Tát nghĩa là: "Nhức đầu hả con?

[1:09:51]Rồi, đi làm cái phước này giùm thầy. Chân đau hả con? Đi đắp cái đoạn đường kia giùm thầy. Hay là cứ xốn xang cái ruột như cồn cào hả? Đem vác gạo cho người kia giùm thầy." Tức là luôn luôn dùng nhân quả điều chỉnh, thì cái người kia họ hết nghiệp thật sự mà mình không bị tổn hại. Đó là Bồ Tát dùng nhân quả điều chỉnh không, chứ không có dùng dùng thần lực của mình để mà can thiệp nhân quả người ta. Đó là hai con đường khác nhau, quý Phật tử để ý điều này. Nên sau này bây giờ quý vị Phật tử còn cần có phép không? Cần thì cần, nhưng mà nhớ nhân quả quan trọng hơn. Khi thấy người ta gặp nạn gặp gì, mình cũng chỉ dùng nhân quả điều

[1:10:28]chỉnh người ta qua lại thôi và người ta sẽ tốt đẹp, sẽ tốt đẹp. Nhớ như vậy ha.

[1:10:38]Còn riêng Bồ Tát á khi mà tu tới cái mức độ này nghĩa là công đức giáo hóa chúng sinh đã dày rồi, thì Bồ Tát được cái uy đức, một cái uy lực, một cái công đức tràn đầy thì không một cái khổ nạn nào xâm phạm vào trong cõi giới Bồ Tát được nữa. Nhá. Hay là Bồ Tát đi tới đâu là không có khổ nạn xâm phạm. Ví dụ sinh xuống làm người thì không có đau khổ nào đụng tới được. Ở trên cõi trời, cõi giới của mình vinh quang không có khổ nạn nào xâm phạm tới được. Đó là cái công đức của mình. Thì đây mới là cảnh giới thứ tư, nghĩa là hoàn cảnh không bao giờ có ngặt và tâm luôn luôn bình an là cảnh giới của Bồ Tát như vậy.

[1:11:15]Còn cái chữ mà nói là "viễn ly điên đảo mộng tưởng", xa lìa cái ảo tưởng điên đảo là sao? Bồ Tát tới mức độ này làm gì có chuyện mà mà mà ảo tưởng điên đảo để mà xa lìa? Mà đây nghĩa là gì? Chữ ảo tưởng điên đảo này chúng ta dùng từ khác là tà kiến á. Tà kiến nghĩa là gì? Nghĩa là hiểu sai sự thật. Thì ở đây mày tới Bồ Tát Thập địa mới hết tà kiến nha. Bồ Tát Thập địa mới hết tà kiến. Còn phía dưới dù chúng ta biết rất nhiều, chúng ta vẫn hiểu sai một số vấn đề. Nên phàm phu chúng ta hầu hết đều hiểu sai mọi chuyện trên đời. Bồ Tát bớt sai hơn, nhưng mà tới Bồ Tát Thập địa mới hoàn toàn không còn

[1:11:59]sai lầm là nhìn vào trong vũ trụ biết hết, thấy hết và thấy rất rõ. Nên một cái điều đau khổ cho chúng ta là ai chấp cái ý của mình á, nên mình nghĩ cái gì lên mình cho là đúng, nghĩ gì lên cho là đúng thì đó là người rất đáng thương. Vì sao vậy? Bởi vì trong kinh nói rõ: tới Bồ Tát Thập địa mới hết hiểu sai mọi chuyện trên đời. Nhìn đâu biết hết, biết rõ từng chút từng chút không có gì lầm lẫn hết. Mà mọi chuyện của đạo lý biết hết, biết hết không có bao giờ nói một đạo lý sai lầm, chứ còn chưa phải Bồ Tát Thập địa ra giảng một bài pháp, trong bài pháp đó coi chừng sáu phần đúng, bốn phần sai trong đó á.

[1:12:37]Nên quý Phật tử nhớ nha, không phải giảng sư nào ngồi trên bục giảng giảng ra đúng vanh vách hết đạo lý tuyệt đối nha. Nhớ giùm thầy cái đó. Đừng bao giờ mê tín giảng sư. Nhớ như vậy, đừng bao giờ mê tín giảng sư. Giảng sư xấu như vầy á thì đừng tin, giảng sư đẹp cũng bớt tin giùm luôn. Vì sao vậy? Chừng nào vị đó là Bồ Tát Thập địa thì nói gì cũng trúng hết, nói đạo lý nào cũng trúng, còn vị đó chưa phải Bồ Tát Thập địa trong một bài giảng sáu phần đúng coi chừng bốn phần sai. Và chính mình cũng vậy, những ý nghĩ mình khởi lên đừng bao giờ cho nó là đúng. Vì vậy mà chúng ta phải tu thiền là vậy đó.

[1:13:25]Chúng ta ngồi thiền lặng lẽ, ý nghĩ nào mình cũng bỏ hết, rồi lúc đó mình mới biết thế nào là đúng, thế nào là sai. Còn cái người tâm còn loạn quá, tâm cứ lăng xăng nghĩ này nghĩ kia rồi, bảo đảm người đó nhìn việc gì cũng chủ quan theo ý mình, tưởng ý mình là đúng. Còn cái người khi họ ngồi thiền họ buông bỏ hết mọi cái vọng tưởng, không suy nghĩ gì hết, tâm trống hết thì người đó dễ có những suy nghĩ đúng, thầy nói "dễ" thôi chứ không phải luôn luôn đúng nha. Người đó dễ có những suy nghĩ đúng. Nên chúng ta vậy, chúng ta muốn biết được lẽ phải, muốn biết được sự thật cuộc đời, xin vui lòng siêng tu tập thiền định.

[1:14:01]Chúng ta bắt chân ngồi đúng tư thế, buông hết vọng tưởng, không suy nghĩ, không giữ một ý niệm nào hết thì chúng ta mới biết được cái tâm mình sai hay đúng, những điều mình biết là sai hay đúng. Còn người nào mà tâm loạn, đã loạn rồi mà còn chấp cái ý của mình nữa, mỗi lần khởi lên đều cho rằng nó đúng hoàn toàn thì người đó rất đáng thương, người đó mang tội rất nặng. Đó, nhớ như vậy.

[1:14:28]Một vị A-la-hán á thì phần lợi mình là đã xong, nhưng mà để đủ cái sáng suốt giáo hóa thì cũng chưa có giỏi, nên chúng ta vậy, chúng ta kính trọng sự chứng đắc của một vị thánh, nhưng đừng đặt hết niềm tin vào cái sự hướng dẫn của vị đó. Chúng ta kính trọng nhân cách, đạo đức, sự giải thoát, sự giác ngộ của vị đó, nhưng mà vị đó dạy cái gì phải xét lại giùm nha. Phật nói thì không sai, Bồ Tát Thập địa nói không sai, nhưng một vị mới đắc đạo nói vẫn còn có thể sai. Do đó, chúng ta phải cảnh giác. Còn cái câu cuối cùng là "cứu cánh Niết Bàn" thì chúng ta ngạc nhiên ngay cái đoạn đầu kinh Bát Nhã

[1:15:07]là đã nói là vượt hết đau khổ khi mà hành thâm Bát Nhã rồi, thì tại sao ở đây cứu cánh Niết Bàn nào đây? Nhưng mà thực ra chúng ta thấy thế này, vượt khỏi năm uẩn đã là giải thoát rồi, nhưng mà cái cứu cánh Niết Bàn ở đây á có nghĩa là cái trí tuệ mà thấy biết tuyệt đối, cái công đức tuyệt đối. Còn khi tâm ta tự tại rồi mà công đức chưa tuyệt đối, Phật vẫn chưa cho đó là Niết Bàn. Cho nên Niết Bàn là một nơi mà công đức cũng phải tuyệt đối, cái thiền định phải tuyệt đối, trí tuệ phải tuyệt đối, biết hết không còn nghi ngại một điều gì trong vũ trụ này, tâm thanh tịnh tự tại với tất cả mọi điều trong vũ trụ này và

[1:15:49]công đức trùm phủ chúng sinh, lòng từ bi thương yêu trùm phủ chúng sinh, phải được bao nhiêu cái yếu tố đó Phật mới gọi là... Phật mới gọi là cứu cánh Niết Bàn. Nên dễ hay khó? Rất là khó, nên vì vậy chúng ta học bài kinh Bát Nhã, càng hiểu chừng nào ta càng khiêm tốn chừng nấy. Nên người hiểu Bát Nhã đúng thì sẽ khiêm tốn, còn người nào học xong bài kinh Bát Nhã mà kênh kênh là người hiểu, hiểu sai, nhớ như vậy. Thì cái bài kinh đến đây là chúng ta tạm dừng. Chúng ta sẽ nghe Bảo Phúc hát một chút, mà thầy cũng nói chuyện Bảo Phúc một chút. Vừa rồi có vài bài báo đăng về việc Bảo Phúc với Anh Thoa, quý Phật tử có đọc không? Có.

[1:16:34]Thì khi thầy đọc bài báo thì thầy không ngạc nhiên, bởi vì chuyện này anh Bảo Phúc đã kể cho thầy nghe từ rất là lâu. Lúc thời gian rảnh rỗi trà dư tửu hậu, không có tửu, nhưng mà đại khái ảnh kể chuyện thầy nghe về chuyện Anh Thoa là một người bạn với anh Bảo Phúc.

[1:16:51]Thì về trình độ âm nhạc thì Anh Thoa chắc là giỏi hơn thầy, bởi vì cả thầy và Anh Thoa không ai có bằng cấp gì về âm nhạc hết. Thì Anh Thoa với anh Bảo Phúc hay chở nhau đi để mà trình diễn thôi, rồi sau đó Anh Thoa bị một tai nạn rồi bị liệt chân, nằm một chỗ và anh muốn tự tử. Khi anh muốn tự tử á thì anh Bảo Phúc mới thương bạn mình mới dụ anh bạn mình là: thôi, soạn nhạc chung để cho anh Thoa cảm thấy là mình sống vẫn có cái ý nghĩa, do đó mới khuyến khích. Thường thường anh Thoa cũng phác thảo cái ý sơ sơ thôi, tại vì người cũng không qua trường lớp nhiều nên những cái ý về nhạc phát sơ, thì anh Bảo Phúc mới dùng cái chuyên môn của mình

[1:17:32]hoàn chỉnh lại cái bài nhạc đó để cho được đưa ra công chúng. Và luôn luôn để tên là Bảo Phúc - Anh Thoa, và khi có tiền tác quyền đều chia cho Anh Thoa và chia luôn luôn cái số nhiều hơn mình. Có một lần vậy, lúc đó anh Thoa đã bị bệnh nằm một chỗ thì người vợ phải đi làm. Thời đó cái tiền còn ít ỏi lắm, anh Bảo Phúc đi với vợ là chị Thanh Phương á, đem cho anh Thoa cái tiền để mua cho đứa con một chiếc xe đạp đi học, nhưng mà anh Bảo Phúc bí mật giấu vợ, mua cho vợ của anh Thoa một chiếc xe gắn máy để đi làm. Và giấu, sợ chị Thanh Phương nóng ruột nên không cho vợ mình biết, nhưng mà giấu chiếc xe đó gửi nơi nhà văn Nguyễn Quang Sáng á.

[1:18:09]Ông Nguyễn Quang Sáng làm chứng chuyện này. Tức là số tiền và sự đối xử của anh Bảo Phúc đối với anh Thoa là đầy đủ tình nghĩa và hơn cả tình nghĩa, nhân hậu. Thì mọi chuyện trôi qua cứ ổn định, tốt đẹp thôi, không có chuyện gì xảy ra. Thì mỗi lần cái tác phẩm đưa ra đều để tên là Bảo Phúc - Anh Thoa, bình thường, làm cho anh Thoa vui, cảm thấy mình tuy liệt chân nhưng mình vẫn sống có cái giá trị trên đời như vậy. Mà sắp tới thì anh Thoa sẽ đi định cư nước ngoài và không biết ai kích động, ai kích động, thì anh Thoa mới ngồi trên giường bốc điện thoại gọi cho các nhà báo nói là nhạc không phải Bảo

[1:18:42]Phúc, do Anh Thoa soạn chứ không phải Bảo Phúc, Bảo Phúc giành bản quyền, nên nó gây ra một sự hiểu lầm, bất mãn, xáo trộn và anh Bảo Phúc bị ảnh hưởng uy tín. Thầy, thầy biết rõ chuyện này và thầy có viết bài báo giải thích, nhưng mà thời gian qua thì báo nó chỉ đăng những bài tấn công anh Bảo Phúc chứ không đăng cái bài bênh vực anh Bảo Phúc. Mặc dầu rất nhiều người viết bài bênh vực Bảo Phúc nhưng báo không đăng, Báo Tuổi Trẻ không đăng, chỉ đăng bài chống Bảo Phúc thôi. Cũng không công bằng lắm. Thì sau này thì dường như báo cũng có bắt đầu hiểu ra bởi vì là những chứng cứ rất đầy đủ. Từ trước đến giờ những lời anh Thoa nói,

[1:19:15]những lời anh Thoa phát biểu trước đây báo đã đăng hết. Và hôm nay thầy cũng vậy, thầy trước sau như một, thầy chơi với anh Bảo Phúc, thầy quý mến anh bởi vì anh nhân hậu, là một nhạc sĩ Phật giáo nhân hậu, tốt bụng. Trước cái điều mà người khác gọi là oan, thầy, thầy phải lên tiếng nói trong khi thầy có thể làm được. Thì thầy mong các Phật tử bắt chước thầy trong cuộc sống này như vậy. Những điều mình biết mà mình không nói thì mình mắc quả báo gì? Câm, nhớ, đệ tử thầy nhớ cái đó. Những điều mình có thể nói được để bênh vực con người mà không nói thì sẽ bị câm, nhớ như vậy giùm, nhớ như vậy nha.

[1:19:55]Nên thầy sợ câm thầy phải nói thôi chứ thầy cũng không tốt lành gì. Ai có hỏi gì thì đưa câu hỏi lên giùm thầy nha. Giờ thầy mời Bảo Phúc lên hát một bài anh mới soạn. À, anh mới soạn cái bài Đồng Dao Hòa Bình. Cho mượn cái đàn guitar, có ai có cái đàn guitar không? Bảo Phúc xin kính chào quý vị Phật tử. Vừa qua thì các vị Phật tử nghe một câu chuyện cũng không hay. Tuy là như vậy nhưng mà tôi rất nhớ một câu của thầy nhắc là: "Thà làm một người phàm phu tốt hơn là một người tu không tốt." Thì cái điều đó có nghĩa là gì? Tôi tự hỏi trong lòng tôi hai câu hỏi. Cái thứ nhất: Tôi có tốt với bạn tôi không? Và tôi trả lời: Tốt.

[1:20:46]Nhưng tôi có lúc tôi xấu với những người bạn không tốt với tôi. Cái thứ hai: Tôi có thực tài và có khả năng không? Tôi xin trả lời: Tôi có thực tài. Đó là sự tự tin của tôi. Hai câu hỏi đó để mà hôm nay xin phép hát một bài hát Đồng Dao Hòa Bình, bài hát mà tôi viết chung với thầy Chân Quang. Và chắc chắn bài hát này thì sẽ không có kiện cáo gì cả, bởi vì thầy trò chúng tôi là viết cái này cho một mục đích. Sau này chừng ít tháng nữa, xin mời quý vị Phật tử xuống khu Bến Dược, Củ Chi sẽ nghe chín đoạn nhạc trong cái khu tưởng niệm. Cái bài hát này sẽ gồm có một trăm em thiếu nhi hát kết thúc cái bài hát của tôi và thầy Chân Quang.

[1:21:38]Và mong là hát hôm nay là quý vị là những người nhân chứng được nghe trước và xin đừng ăn cắp bản quyền.

[1:21:54]Thầy đang đi vô cái đàn nó bị... Dạ, không cần...

[1:22:04]Ngàn lời yêu thương gửi khắp trên hành tinh, rộn ràng chung sức bình minh.

[1:22:14]Người người quanh ta gìn giữ ngôi nhà chung với muôn cánh tay tấm lòng.

[1:22:24]Biển cả bao la và núi xanh trời xanh, quanh ta non nước đẹp xinh.

[1:22:33]Cùng là anh em của trái đất đẹp xinh, công đang đắp xây thái bình.

[1:22:43]Dòng lệ tuôn rơi vì tim ai xa xôi, bầy đàn ly tán khóc than.

[1:22:53]Mẹ nhìn con đi chìm trong khói mờ, che chở tình cha ngẩn ngơ.

[1:23:02]Một ngày mai đây lửa khói không còn rơi, hòa bình hoan ca khắp nơi.

[1:23:11]Cuộc đời tình yêu nồng ấm không còn xa, nỗi vui chiếu soi đất trời.

[1:23:23]Ngàn lời yêu thương gửi khắp trên hành tinh, rộn ràng chung đón bình minh.

[1:23:32]Người người bên nhau gìn giữ ngôi nhà chung với muôn cánh tay tấm lòng.

[1:23:41]Biển cả bao la và núi xanh trời xanh, quanh ta non nước đẹp xinh.

[1:23:51]Cùng là anh em của trái đất đẹp xinh, gắng công đắp xây thái bình.

[1:24:00]Dòng lệ tuôn rơi vì tim ai xa xôi, bầy đàn ly tán khóc than.

[1:24:09]Mẹ nhìn con đi chìm trong khói mờ, che chở tình cha ngẩn ngơ.

[1:24:18]Một ngày nơi đây lửa khói không còn rơi, hòa bình hoan ca khắp trời. Cuộc đời tình yêu nồng ấm không còn xa, nỗi vui chiếu soi đất trời. Rồi, cảm ơn anh Bảo Phúc nha.

[1:24:45]Giờ thầy trả lời một số câu hỏi.

[1:24:49]Hôm nay có rất là nhiều câu hỏi và nhiều câu cũng rất là lắt léo. "Nếu như đồ dùng của người khác mà không dùng nữa, con đem về dùng có mang tội không?" Nhưng mà người ta có cho chưa? Đó, thêm cái vấn đề đó nữa nha, người ta cho thì mình không hoàn toàn mang tội. Người ta không dùng nữa, mình tự ý mang về nó cũng có một phần ăn cắp trỏng. Nên có thể là không mang tội phân nửa.

[1:25:13]"Nhà thờ tượng cốt có được không?" Nhà thờ tượng cốt vẫn được, nhưng mà phải cái bàn thờ và phòng thờ phải rất là nghiêm trang, rất là nghiêm trang. "Con thường hay ngồi thiền vào buổi sáng nhưng sao đầu óc cứ nghĩ lung tung không yên được và đôi lúc ngồi một lúc tự nhiên nước mắt chảy và ngáp, không hiểu vì sao?" Vì công đức chúng ta chưa đủ nên nhiếp tâm hơi khó. Và khi mình ngồi mình tu hơi có cái vong nào nó gần gần đó, không có nhập vô được nhưng lại gần gần cũng làm mình ngáp một chút. Còn buồn ngủ ngáp nó khác. "Con có người bạn rất đạo đức, tu hành nghiêm túc và trí tuệ hơn con nhiều. Khi làm có tiền, con đưa cho bạn con làm phước giúp đỡ mọi người để bạn

[1:25:46]nhiều phước và những người thọ ơn bạn sau này sẽ nghe lời bạn tu hành. Họ sẽ có phước và tiến tu mãi trên con đường đạo. Như vậy có đúng hay không?" Quá đúng rồi chứ. "Hay là con phải tự tay mình làm vì con tu chưa tốt nên con sợ những người thọ ơn này chỉ mắc nợ con chứ không được lợi lạc về sau?" Không, cái người mà có tâm như vậy rất là tốt nha. Cái người mà làm như vậy là thầy rất là khen á. Tức là mình muốn cho người bạn mình được phước, mình muốn người khác được tiến tu, phần mình không cần gì hết, đây là người rất cao thượng, thầy khen á. "Kính bạch thầy, con xin thầy cho hỏi khóa tu thiền,

[1:26:14]người mới tập tu thiền lần đầu tiên ngồi được khoảng bao nhiêu phút?" Mỗi tháng Từ Tân á thì trụ trì với thầy có tổ chức khóa tu thiền ở đây, vào ngày chiều thứ Sáu tới sáng Chủ nhật. À trong khóa thiền đó chúng ta giống như một người tu, tức là bỏ gia đình mình trong hai ngày đó, về đây ngồi tu thiền thì mới tu thầy cho ngồi 30 phút thôi. Rồi tập khí công, nghe pháp, vân vân, rất là tốt. Nên nếu ai sắp xếp được thời gian mỗi tháng về đây tu một lần từ chiều thứ Sáu tới sáng Chủ nhật nha, sẽ được quý thầy quý cô hướng dẫn trực tiếp tỉ mỉ hơn. "Con bệnh khớp, tu ngồi kiết già không được, xin thầy con ngồi cách nào?" Nếu đau quá thì buộc lòng

[1:26:51]phải ngồi trên ghế nha, rồi cố gắng nhiếp tâm, ngồi ưỡn thẳng lưng, bỏ chân xuống rồi cố gắng làm phước. Có khi nhờ phước chuyển được nghiệp mà hết đau khớp thì ngồi kiết già. Vì dù sao ngồi kiết già mới nhiếp tâm tốt được. Sau này mình nhập định mà không có ngồi kiết già, không nhập định được, nha. "Cách đây 4 năm, gia đình con bán đất cho gia đình rất giàu, đến nay chưa chuyển quyền sử dụng đất. Lúc bán đất quá rẻ, bây giờ đất sốt cao gấp 10 lần. Xong gia đình con có nhờ con ký tên sang quyền, con có xin cho con 3 triệu đồng để chia sớt cho nhiều người thân đau ốm, riêng con không xài, như vậy có tội không?" Xin có 3 triệu mà mà sợ tội cái gì?

[1:27:26]Đất lên cao gấp 10 lần xin 30 triệu cũng không tội nữa, để mình cho làm phước á. Không đừng đừng có sợ. Tiền không có tội, chỉ có tội không, mình xài bậy mới tội. Nếu người ta sẵn sàng cho 30 triệu, xin luôn 30 triệu cho thầy. Không biết xài đem lên đây thầy sẽ xài giùm cho cũng được, không sao. "Chồng con bị bệnh xơ gan nhẹ do ứ sắt trong lách, hiện đang cắt lách bỏ cách đây tháng, vẫn còn bị cảm sốt nhẹ. Theo lời bác sĩ thì mỗi ngày phải chích thuốc và uống là 150.000 đồng, chích hoài. Bác sĩ nói bệnh bẩm sinh. Còn đi thuốc Bắc thì thuốc Bắc nói sẽ chữa hết, hiện đang uống thuốc Bắc và thuốc Nam.

[1:27:59]Vậy con xin thầy cho con lời khuyên uống thuốc nào?" Có hỏi lộn địa chỉ không? Trời ơi!

[1:28:08]Nhưng mà thật ra thì thầy vẫn thích thuốc Bắc, thuốc Nam hơn, thuốc mà nó thiên nhiên hơn nha. Đó là thầy thích thôi chứ thầy không dám khuyên, khuyên có người cự thầy, thầy đâu có... "Mấy hôm nay ở miền Nam Thái Lan, đạo Phật chúng ta đang bị Hồi giáo tấn công và một số Phật tử bị giết chết thật dã man. Trước tình hình này, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thế giới có tiếng nói hoặc thái độ phản ứng gì chưa? Làm thế nào để đạo Phật thế giới có một sự chỉ đạo thống nhất chung? Con rất căm phẫn trước sự kiện này và rất lo lắng." Cái điều này thầy đã nói rất nhiều lần, trong bốn năm năm trước, năm sáu năm trước thầy đã nói rồi.

[1:28:36]Thầy nói quý thầy mà không ráng tu á, truyền đạo, sau này không có đất để tu á. Tại Hồi giáo họ tràn tới đâu rồi, khi họ củng cố rồi là họ đuổi người đạo Phật ra khỏi, họ giết họ đuổi hết. Họ chiếm đất từ từ, từ từ. Cho nên trong suốt mấy ngàn năm qua là Iran, Iraq đều là đạo Phật nha, Afghanistan đạo Phật, cả Ấn Độ đạo Phật, bây giờ mất sạch không còn, chỉ còn vài quốc gia nhỏ nhỏ ở Đông Nam Á này thôi. Đó, chỉ bởi vì chúng ta không biết bảo vệ đạo Phật mình, không quyết liệt. Chúng ta hiền quá không được. Hôm qua thầy giảng cái bài mà thầy nói về ý nghĩa hộ pháp á, thầy nói người tu đạo Phật có bốn mức độ theo bốn cái chữ H:

[1:29:10]thứ nhất là Học giáo pháp, thứ hai là Hành giáo pháp, thứ ba là Hoằng hóa giáo pháp và thứ tư là Hộ giáo pháp. Ba cái trước dễ: học giáo pháp dễ nè, hành giáo pháp dễ nè, hoằng truyền giáo pháp dễ, nhưng hộ pháp rất khó. Hộ pháp rất khó tại sao? Bởi vì phải biết dữ, khi nào cần hiền phải hiền, khi nào cần dữ phải dữ, người đó mới hộ giáo pháp được. Mà đạo Phật mình cái người hộ pháp ít quá, chúng ta không học được cái môn về hộ pháp cho nên chúng ta từ từ thua hết, thua hết. Mà sau này chúng ta phải nghiên cứu vấn đề hộ pháp và chúng ta phải biết cứng rắn lại, đoàn kết lại. Nên nếu để tình trạng này mà không cải thiện,

[1:29:45]từ từ mình không còn đất để tu, không còn đất để tu, Hồi giáo chiếm hết. Ai mà không theo Hồi giáo, giết liền. Thái Lan là quốc giáo đó mà bây giờ còn bị đó. Nên Việt Nam mình Phật giáo không phải quốc giáo rất là đáng lo. Mọi người phải ráng lên, ráng truyền đạo. Một năm mình phải truyền cho được 10 người, dắt 10 người về chùa quy y, bất cứ chùa nào cũng được. Một năm, mỗi người phải đem được 10 người về chùa quy y, được không? Làm thinh hết trơn vậy rồi sao mà thắng Hồi giáo trời? Một năm phải đưa được 10 người về chùa quy y và mình quản lý cái số người mình đã độ được vững chắc giúp người ta tiến tu mãi mãi suốt đời, được không?

[1:30:24]Rồi, làm thinh không, chết rồi. Phải ráng như vậy nha. Phải ráng giùm thầy. Như vừa rồi là thầy in xong cái cuốn Tâm Lý Đạo Đức á, thầy nói bây giờ mỗi người ráng bán giùm thầy 10 cuốn, dụ bán làm sao cho người không biết đạo Phật cũng phải có một cuốn trong nhà. Để trong nhà người ta nhiều khi người ta rảnh người ta đọc một hai trang vẫn có lợi. Mình không phải vì lợi nhuận để bán nhiều mà vì mong được lợi ích, ai cũng có một một cuốn trong nhà. Mà thầy thì không đủ sức cho tại chùa thì bán không được bao nhiêu tiền. Cho nên mỗi người ráng làm sao dụ một người bán được 10 cuốn nha, bán giùm thầy.

[1:30:56]Lát ra đó thỉnh đem về, thầy bán thiếu. Đem đi bán xong đem tiền lại đưa đây. Nhất là lát nữa ráng mua giùm thầy mấy tờ lịch kìa, ế kìa. "Mong thầy giải thích khác nhau về cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà và Niết bàn của Phật Thích Ca?" Cái đích cuối cùng vẫn là Niết bàn, bởi vì đó là không hình không tướng, tuyệt đối phủ trùm vũ trụ. Cái Niết bàn vẫn là cái đích, còn cái Tịnh độ chỉ là một cái chỗ đến tạm thời thôi. Tức là chỗ đến mà chúng ta được nhiều thuận tiện để tu hơn, vậy thôi nha. Tịnh độ là một cái cõi mà có nhiều vị thánh ở với chúng ta, hoàn cảnh thuận tiện hơn để ta tiến tu. Nhưng mà tu rồi vẫn phải đến cái đích cuối cùng là Niết bàn nha.