Transcript: Bố Thí Ba La Mật

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:03

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:14]Nay chúng ta học về các pháp Ba-la-mật.

[0:21]Cái khái niệm về Ba-la-mật xuất hiện nhiều trong các kinh điển Đại thừa,

[0:29]thì có nhiều Ba-la-mật. Nhưng chúng ta nói sơ về khái niệm rồi đi vào từng tích, để biết cái con đường tu tập mà các vị Bồ tát đã đi qua. Và hôm nay chúng ta cũng học hỏi, cũng bắt chước, để dần dần thành tựu được những điều như vậy. Thì định nghĩa cái chữ Ba-la-mật, chữ Ba-la-mật là cái âm mà mình phiên âm qua trung gian cái chữ Nho, chứ cái gốc nó bắt nguồn từ tiếng Phạn, Sanskrit, Ấn Độ, là cái chữ paramita, paramita. Cái chữ param là đi qua, đi qua bên kia, mita là đến bờ bên kia, bờ. Nên paramita là sang đến bờ bên kia. Cái từ nó dịch sát là như vậy. Nhưng mà thường thì chúng ta biết trong một cái ngôn ngữ,

[1:37]giữa cái chữ và cái nghĩa đôi khi nó có cái khoảng cách xa. Mình nghe cái chữ mà mình hiểu theo cái chữ thì không hiểu đúng theo cái nghĩa mà người xưa muốn nói. Nên cái chữ paramita, chữ Ba-la-mật là sang đến bờ bên kia thì nó không có cái nghĩa là mình lội sông để mà đi qua bờ bên kia, mà nó có cái nghĩa là chúng ta đã hoàn thành một cái gì trọn vẹn. Bên Ấn Độ có nhiều cái con sông lớn, như con sông Hằng và nhiều con sông như vậy, thì cái việc mà cái thời đó người ta dùng thuyền, dùng bè hay gì đó lội gì đó mà băng được qua một con sông là đã làm được một cái chuyện khó làm, đã hoàn thành một cái chuyện mà khó hoàn thành,

[2:35]và họ xem đó như là một cái sự thành công, một cái sự thành công trong những cái sự thành công khác của cuộc đời. Và như vậy, cái chữ Ba-la-mật đầu tiên nó có cái nghĩa là chúng ta làm xong cái công việc của cuộc đời này, ý nghĩa là như vậy. Nhưng rồi cái nghĩa Ba-la-mật mà dùng ở trong cái kinh á lại có nghĩa khác hơn một chút nữa, nó có nghĩa là mình làm một cái gì mà làm cho đến mức độ hoàn hảo tuyệt đối, không có sơ hở, mà chưa hẳn là làm xong, thì cái việc làm được gọi là Ba-la-mật. Cái nghĩa đầu tiên của cái Ba-la-mật á là lội qua bờ bên kia, cái nghĩa thứ hai của nó là làm xong được cái việc gì của

[3:29]cuộc đời, nhưng mà cái nghĩa thứ ba mà bây giờ mới là cái nghĩa của kinh dùng á, nghĩa là mình làm cái gì với cái ý nghĩa, với tính chất, với cái tâm nguyện hoàn hảo như tuyệt đối luôn, thì gọi là làm một cách Ba-la-mật. Nên Ba-la-mật ở đây nó là một trạng từ, một adverb, một trạng từ nói lên tính cách của cái công việc làm của chúng ta. Nó có những cái ví dụ như khi chúng ta làm một việc gì rồi làm một cách do dự, làm một cách ngập ngừng, làm một cách nửa vời, thì cái chữ do dự, ngập ngừng, nửa vời nó là tính cách của cái công việc làm. Hoặc cái người đó đang đi nhưng mà người đó đang đi một cách thong thả hay đi một cách vội vàng,

[4:15]thì cái thong thả hay vội vàng nó là tính chất của cái hành động đi. Đó, thì chữ Ba-la-mật cũng vậy, Ba-la-mật nó là cái tính chất của cái việc tu hành trong đạo Phật, mà ví như cái người tu đi, cái người đó tu một cách lừng khừng, tu không có triệt để, à tu hơi hơi, tu sơ sơ, hoặc là một cái người tu mà tu quyết liệt, tu triệt để, tu tinh tấn, vân vân, hai thái độ nó khác nhau. Và Ba-la-mật là một cái trạng từ nói lên một cái thái độ khi mà chúng ta tu một cái hạnh gì đó mà quyết tâm đạt cho bằng được cái tuyệt đối hoàn hảo của cái hạnh đó. Nên chữ Ba-la-mật nó là một vấn đề lớn, các pháp Ba-la-mật là một cái vấn đề lớn trong

[5:07]Phật pháp, nó là một lý tưởng rất là lớn. Chúng ta có những cái Ba-la-mật mà mình thường nghe như là Lục Ba-la-mật, phải không? Lục độ đó, Lục Ba-la-mật. Mình nghe là những pháp gì? Thứ nhất là gì? Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Đó là sáu pháp Ba-la-mật mà chúng ta thường hay nghe nhắc tới. Rồi chúng ta cũng nghe nói tới Thập Ba-la-mật, mà thú thật là tôi quên mất tiêu rồi. Nó trong một cái tài liệu, sau này người ta triển khai trong cái luận hình như luận Thành Thật á, sau này tôi không có tìm ra nữa. Rồi có cái pháp Vô Lượng Ba-la-mật, đại khái là như vậy, lần lần rồi chúng ta triển khai.

[5:56]Nó là những cái pháp tu tập mà người ta phải thực hiện một cách quyết tâm triệt để đến tận cùng của sự hoàn hảo. Nên khi mà Phật giáo phát triển dần cho đến cái giáo lý Ba-la-mật thì chúng ta thấy cái việc mà trong cái lý luận, trong cái lý luận thôi chứ chưa nói tới trong cái hành động tu tập, thì đạo Phật đã phát triển tới một mức độ rất rực rỡ. Đầu tiên là giáo lý nguyên thủy, rồi sau đó là các bộ phái, rồi đi dần tới các giai đoạn Đại thừa. Giai đoạn Đại thừa thì khoảng sau Phật 600 năm mới xuất hiện, nhưng mà nó là một sự phát triển rất lớn lao trong cái lịch sử phát triển của Phật giáo, và làm cho những người Ấn Độ giáo

[6:39]trong cùng thời đó cũng bị ảnh hưởng rất là nặng. Nên cái việc mà người Ấn Độ giáo ngày nay họ ăn chay vậy, cũng là ảnh hưởng của Đại thừa Phật giáo. Và như vậy, nơi các pháp Ba-la-mật này chúng ta gặp các hình ảnh các vị Bồ tát, cũng như Đức Phật, các vị tổ sư, gửi gắm lại cho chúng ta một cái lý tưởng, một lý tưởng lớn, những cái ước mơ lớn, lớn đến không còn cái giới hạn nữa mà phải đến tận cùng của tuyệt đối. Có thể trước kia chúng ta học cái pháp bố thí, à phải cố gắng người sống như Đức Phật nói trong các kinh là có người đó không có đôi bàn tay nắm lại, là bố thí rất là trọn vẹn, nhưng mà đến cái chỗ mà

[7:27]Ba-la-mật thì người này bố thí đến tuyệt đối hoàn hảo triệt để, mà chữ này mình khó hiểu lầm lắm nha, vì nhiều khi người bố thí liều mạng rồi cũng tưởng mình bố thí Ba-la-mật, không phải. Cho nên cái ý nghĩa của Ba-la-mật nó trí tuệ nhưng mà nó quyết tâm triệt để, nó hoàn hảo, nó khó. Hoặc là khi chúng ta tu tập cái hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật đi, tức là cái sức chịu đựng mình đối với cái khó khăn, cái nghịch cảnh của cuộc đời này nó đến tuyệt đối luôn, không bao giờ lung lay, không bao giờ sân hận, cái chịu đựng không còn giới hạn nào nữa, thì những cái mức độ mà ở các pháp Ba-la-mật các vị tổ sư gửi

[8:09]gắm trong đây nó quá sức đi, nó đập vỡ hết mọi giới hạn mà mình có thể nghĩ ra được. Trước kia ví dụ chúng ta tu nhẫn nhục thì mình nghĩ mình thôi mình ráng chịu đựng mọi cái nghịch cảnh, những lời nói nặng của người này người kia với mình thì mình chỉ nghĩ như vậy thôi. Nhưng mà riêng cái gọi là Ba-la-mật, hễ đặt cái chữ Ba-la-mật vào trong cái chữ đó rồi thì mình không được nghĩ cái đơn sơ như vậy nữa mà phải nghĩ rằng bây giờ mình thay cho tất cả chúng sinh mà chịu cái khổ nạn cho họ mình vẫn thay được, nghĩa là cái lý tưởng nó nó vượt lên trên như vậy luôn, chứ không còn cái đơn giản phía kia nữa, nghĩa là cái tâm nguyện của mình nó khác hẳn.

[8:50]Hồi xưa mình nghĩ thường thường vậy là đủ rồi, là đúng cái pháp đạo Phật rồi, hễ mình nói rằng mình chịu cái nỗi khổ cuộc đời là đủ rồi, nhưng mà tới Ba-la-mật này không đủ nữa, phải chịu đựng hết những cái cho mình và gánh thay cho tất cả chúng sinh những nỗi khổ của họ. Dĩ nhiên là trong luật nhân quả thì chả ai gánh thay cho ai được, nhưng mà trong tâm của một người tu hạnh Ba-la-mật thì luôn luôn có cái tâm nguyện như vậy, luôn luôn là như vậy. Nó triệt để, nó tận cùng, nó tuyệt đối vì nó hoàn hảo như vậy. Nên đây là một cái ước mơ quá sức lớn, có thể gọi là cái lý tưởng mà đến như là không tưởng, những điều không thể thực hiện được, như vậy á.

[9:26]Nhưng mà cái lý tưởng mà Phật và tổ sư gửi gắm ở nơi các giáo pháp về Ba-la-mật nó quá sức, là những ước mơ nó vượt khỏi cái tầm suy nghĩ của người bình thường. Dĩ nhiên khi mà nó lớn như vậy thì nó cũng là cái nỗi tự hào của người Phật tử khi chúng ta có được cái giáo pháp cao cả như vậy. Tức là tu cái gì mà tu cho tới tận cùng hoàn hảo không còn ngằn mé. Đó là cái niềm tự hào. Nhưng mà nó cũng là một cái thách đố với tất cả chúng ta, là chúng ta là đệ tử Phật thì chúng ta thực hiện được cái phần nào của những cái phần Ba-la-mật như vậy. Ước mơ là như vậy, lý tưởng là như vậy, nhưng mà liệu chúng ta có làm được hay không hay

[10:15]chỉ là đem cái pháp Ba-la-mật đó ra mình tụng niệm, hoặc là mình khoe khoang, mà trong đời sống thường ngày chúng mình sống vẫn phàm phu như cũ. Chúng ta dễ bị cái bịnh khi chúng ta tự hào về giáo pháp thì chúng ta không có thực hành về giáo pháp nữa. Đây là cái bịnh rất kỳ lạ mà đạo Phật thường hay bị mắc phải. Nên thật ra đó, tôi có cái hơi ngại khi mà thấy những cái từ chữ mà viết nhiều trong chùa này nọ thì thấy cũng hay để đi đâu mình cũng có thể gặp một cái câu pháp để nhắc nhở. Vì tự nhiên mình đi lang thang trong vườn chùa góc này gặp mấy câu pháp, góc kia gặp mấy câu pháp thì đó là những cái lời nhắc nhở.

[11:00]Nhưng mà nếu nó là những lời nhắc nhở thì rất là tốt, rất là tốt, khuyên về đạo đức. Nhưng mà đôi khi nó có những cái tiêu đề giống như là tôn vinh Phật pháp quá đáng, hay là có Phật pháp là có tất cả vân vân, thì nó lại làm giảm cái sức tu hành của những người trong chùa. Đây là một cái nghịch lý rất là kỳ lạ. Hễ mình tôn vinh giáo pháp là tất cả, Tam Bảo là tất cả này kia nọ thì chính mình lại là người không có tu hành gì hết trơn. Đây là một nghịch lý tôi không hiểu tại sao. Tôi không hiểu, mà rất là có thực. Cũng vì vậy những cái như người có lòng tin vào trong Phật pháp tự do lấy của báu, mấy cái đó cũng hơi có tính cách hơi phô trương.

[11:47]Còn ví dụ như khuyên với người đó là đừng có tham sẻn tiếc, lúc nào cũng hành cái hạnh nhẫn nhục vân vân thì những câu về đạo lý thì lại được. Nhưng mà còn những cái ca ngợi về giáo pháp Đức Phật là hay thì lần lần mình không thực hiện được. Nó có cái kỳ như vậy, nên chúng ta thấy chúng ta quy y Tam Bảo nè, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng thì Tăng đúng ra là chỗ nương tựa, những người xuất gia là chỗ nương tựa, nhưng mà nếu không khéo cái người xuất gia trở thành một cái một cái gì để trang hoàng thì những người đó lại không tu hành gì nữa. Đây là cái chỗ rất là kỳ lạ. Cho nên cái gì kín đáo thì cái đó có thể thực hiện được,

[12:26]còn cái gì bộc lộ ra nhiều quá thì lại không thực hiện được. Nhưng các pháp Ba-la-mật cũng vậy. Nó là những cái giáo pháp cao cả, những lý tưởng tuyệt vời mà Phật và các vị tổ sư gửi lại cho chúng sinh, nhưng mà nếu chúng ta không khéo, chúng ta thường nói về nó nhiều thì chúng ta sẽ không thực hiện được. Nên cái gì cao thì cái đó phải giữ cho kín. Như cái câu chuyện thế này: trong một tiền kiếp xưa thì Đức Phật là một vị hoàng tử. Lúc đó Ngài mới cùng các người anh của mình đi vào rừng chơi. Họ đi lang thang như vậy, đi vào rừng ngắm cảnh đi, rồi đi đến nhìn xuống cái vực, đứng trên nhìn xuống cái vực

[13:15]thì thấy một bầy cọp, có một con cọp mẹ và những con cọp con. Rồi vì lý do gì đó mà con cọp nó bị đói. Lâu lắm nó không có thức ăn, và con nó không có sữa để bú, mà nó đói lả nên nó không thể cử động nữa, nghĩa là cái bầy đó đang chờ chết. Thì các anh của Ngài cũng than: "Nó tội nghiệp", rồi thôi họ bỏ đi về. Họ đi về nửa chừng, cái đang đi nửa đường thì Ngài mới, là tiền thân Đức Phật á, người hoàng tử út á, mới nói: "Các anh đi về trước, em còn ít việc, em sẽ về sau". Thế Ngài quay trở lại cái vực thẳm á, Ngài cởi áo ra, máng lên cây, rồi Ngài nhảy xuống luôn. Ngài nhảy xuống để cho cọp nó ăn luôn.

[14:06]Nhưng con cọp nó ăn không nổi nữa, nó yếu và nó cũng không đủ sức để xé Ngài ra nữa. Lúc mà Ngài nhảy xuống Ngài bị thương rồi, gãy tay gãy chân rồi, mà con cọp đó cũng không làm gì nổi, Ngài mới với tay lấy cái khúc cây gần đó, Ngài tự cắt cái cổ mình cho máu nó chảy ra, đổ vào cái chỗ cái miệng con cọp cho nó liếm trước, cho nó liếm máu, cho ăn được cho nó có sức. Lúc đó Ngài cũng chết gục ngay trước miệng nó luôn. Để cho nó nó liếm máu nó có sức rồi nó mới đủ sức nó xé Ngài ra nó ăn thịt rồi mới có sữa cho con nó ăn. Các anh thì đi về tới cung điện rồi chờ lâu quá không thấy em mình về mới cho người túa ra đi tìm.

[14:46]Đi ngược lại thì lần lần tới cái vực thì nhìn thấy cái áo em mình mắc ở trên đó, nhìn xuống chỉ còn lại huyết xương, và thấy con cọp mẹ nó đang đùa giỡn với những con cọp con. Cái chuyện này là như vậy. Sau này Đức Phật có chỉ cái chỗ mà Ngài đã thí thân cho cọp đói, rồi vua A Dục được biết cái điều đó đã dựng lên đó một cái tháp. Vào thời vua A Dục là có dựng cái tháp mà Phật đã thí thân cho cọp đói. Thường cái câu chuyện đó được dẫn ra để minh họa cho cái gọi là bố thí Ba-la-mật, nghĩa là một người dám cho chúng sinh không phân biệt, thứ nhất là không phân biệt bất kể người đó là người thiện hay là một con vật ác.

[15:30]Nghĩa là nói người thiện người ác là trên loài người mình thấy đã khó rồi, mình giúp đỡ người thiện chứ mình khó giúp người ác, mà ở đây là giúp luôn con vật mà lại là con vật rất là ác, mà không kể cái giá trị của mình nữa. Thấy chúng sinh cần thiết là Ngài cứu, nghĩa là cần cái gì thì cứu lúc đó mà lúc đó là cần thịt nhất mà không kiếm đâu ra thịt thì Ngài nằm liền không có đợi nữa. Nghĩa là tâm hồn không có một chút gì ngần ngại trong việc giúp đỡ chúng sinh, không một chút ngần ngại. Có thể chúng ta dám bố thí những điều lớn nhưng mà có những chuyện nho nhỏ chúng ta sẽ bị ngần ngại. Nên cái khác nhau giữa các pháp Ba-la-mật hay không Ba-la-mật là chỗ chúng

[16:14]ta ngần ngại, ngần ngại vì thấy cái điều mà giúp đỡ người khác nó tấn công vào cái quyền lợi của mình nhiều quá, mình bị thiệt thòi quá. Nên nó là cái đó là mình chưa đạt được cái Ba-la-mật ở trong tâm của mình. Nên đây là điều rất là khó làm. Khi mà tôi giảng các pháp này cũng vậy, không có nghĩa là tôi đã thực hiện được vì cái Ba-la-mật này nó quá sức lý tưởng, quá sức lý tưởng, quá sức tuyệt vời, hoàn hảo. Chúng ta học các pháp Ba-la-mật này để chúng ta ước mơ, để chúng ta tâm nguyện. Chúng ta tâm nguyện thì hoặc là kiếp này hoặc là những kiếp sau dần dần chúng ta phấn đấu tới. Nhưng mà chúng ta phải hiểu một điều là chúng ta chưa hề thực hiện được.

[17:06]Khi chúng ta nghe pháp này, chúng ta nghe một cách... chúng ta nghe và chúng ta tôn thờ, chúng ta tôn thờ và tâm nguyện mình sẽ từng bước cố gắng thực hiện được chứ không có nghĩa là chúng ta đã thực hiện được. Dù chúng ta đã hiểu rồi, chúng ta vẫn chưa thực hiện được. Và càng tuyệt đối không bao giờ đem điều này ra khoe, không bao giờ đem ra khoe, không bao giờ ngồi mình có thể giảng cho ai nghe trong những lúc mà gặp bạn bè vui với nhau. Không có được đem cái pháp Ba-la-mật này ra giảng một cách bừa bãi với cái ý nghĩa như là khoe khoang, như là ta đây có thực hiện được. Vì nếu chúng ta đem cái pháp Ba-la-mật này ra nói một cách bừa bãi

[17:50]thì vĩnh viễn chúng ta không còn cái phước để thực hiện được nữa. Do đó cái pháp này là pháp để học để tôn thờ, để tâm nguyện chứ không phải để khoe khoang. Vì đây cái pháp này quá sức lý tưởng, như cái hành động của Đức Phật như vậy. Chúng ta biết cái đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Phật là cái tâm chứng đã đạt đến tuyệt đối, phủ trùm cả vũ trụ. Chúng ta dùng cái chữ "phủ trùm" là gượng gạo mà nói để cho cái người phàm phu chúng ta có thể dễ lĩnh hội được chứ cái chữ "phủ trùm" nó không có chính xác. Tuy nhiên tạm dùng như vậy. Mà cái tâm chứng này nó đạt đến cái tuyệt đối mà. Tuyệt đối như thế nào thì cái suy tư không thể nào đạt tới được.

[18:44]Bây giờ chúng ta có cố gắng giảng, chúng ta cũng không nói hết. Và cái người nghe có thông minh cỡ nào vẫn không có thể hiểu được cái tâm chứng đó. Đó là lý do khi mà Phật chứng được cái đạo này rồi, Ngài ngồi yên, Ngài ngồi yên và Ngài đã có một thoáng do dự, có một thoáng do dự vì Ngài thấy cái tâm chứng này nó quá khó. Nó quá tuyệt vời, quá cao cả nhưng quá khó. Quá khó nên Ngài đã một thoáng do dự là không muốn đem cái giáo pháp này để đến với chúng sinh vì sợ người ta không hiểu nổi. Nhưng cuối cùng rồi Ngài cũng mạnh dạn Ngài đem ra Ngài giảng. Cái tâm chứng tuyệt đối mà mọi cái trong đó đều tuyệt đối.

[19:32]Ví dụ như về cái ngã chấp. Thường tất cả chúng ta, trong thẳm sâu của tâm hồn mình, mình đều có một cái chấp ngã, cái chấp ta, thấy cái ta này là cái có thực. Cái cảm giác chấp ngã nó như thế nào? Ví dụ như chúng ta ngồi đây, chúng ta tự thấy mình là một cái gì rất là thật, khác với mọi người chung quanh, phải không? Như tôi ngồi đây vậy, tôi thấy tôi khác với cái bàn, khác với cái đồng hồ, khác với cái cây cỏ, khác với những người ngồi đây. Và tôi là một cái gì rất riêng, rất sâu thẳm, rất riêng của tôi không có lẫn với ai được. Và quý Phật tử cũng vậy, tự thấy nơi mình là một cái gì rất riêng,

[20:18]khác với cái người ngồi bên cạnh mình, khác với đất trời, khác với cây cỏ. Đó, cái cảm giác mà thấy có một cái gì riêng của ta, nó chấp ngã, đó là cái chấp ngã. Nhưng cái chấp ngã đó nó sâu lắm chứ nó không có đơn giản. Và đôi khi chúng ta vẫn bị lừa. Nó có ba cái mức độ chấp ngã. Cái mức độ chấp ngã thứ nhất là cái chấp thân. Mình thấy thân này là ta. Mà cái chấp này cũng khó vượt qua lắm. Nào giờ cả một đời sống từ nhỏ tới lớn, mà nói vô lượng kiếp, chúng ta mang cái hình hài này, cho nên luôn luôn thấy đây là ta. Vì thấy cái tay này là ta, chân này là ta, thân thể, nét mặt này là ta, nên ai đụng tới mình có cái cảm giác khó chịu.

[21:06]Ví dụ như ai đánh mình đau nơi thân, mình có cái khó chịu và cảm thấy như mình bị xúc phạm. Người ta nói mình xấu hay đẹp là tâm mình bị dao động, bị thay đổi. Người ta khen mình đẹp, mình vui; chê mình xấu, mình buồn. Đó là mới chạm tới cái thân là mình đã bị, tâm tư mình bị thay đổi, vì mình thấy cái thân này thật là ta. Hồi xưa lúc tôi còn nhỏ, tôi có nghe cái anh này ảnh kể chuyện của ảnh mà tôi không biết ảnh có kể chuyện xạo hay không mà nghe thấy ghê quá. Anh này thì có gương mặt rất là ác, là xấu. Mà con người sống, nếu mình nhìn trên tổng quát thì thấy đây là con người thủ đoạn. Sau giải phóng thì anh mới đi làm công nhân,

[21:56]thì được phát gần chỗ cái nhà của tôi ở. Thì vì nhà tôi bán quán nên họ hay lui tới, mà tánh tôi hồi nhỏ thì vậy, tôi hay lắng nghe mọi người nói chuyện. Mình còn nhỏ thì mình khiêm tốn, người lớn nào nói chuyện gì mình cũng hay lắng nghe để tìm cái hay để học hỏi. Thì cũng nghe anh này ảnh kể chuyện, mà anh thì kể thì toàn mấy chuyện thủ đoạn trên đời, mà tôi nghe cho biết coi coi thủ đoạn cuộc đời này nó gồm những cái gì. Anh có kể một chuyện vầy. Có một buổi tối, nhà ở Biên Hòa, anh mới dắt xe ra ngoài để đi chơi. Lúc đó là vào mùa mưa thì đường có những cái vũng lầy. Hồi trước giải phóng thì đường xá cũng không có hoàn chỉnh lắm.

[22:40]Thì bất ngờ cũng ở trong cái xóm đó, trong phía trong xóm có một thanh niên khác họ cũng chạy chiếc xe gắn máy, họ chạy nhanh ra mà đi ngang anh mà chạy lạng thế nào, cái sình văng bắn lên người của anh. Anh là mặc bộ đồ đẹp để đi chơi

[23:00]mà bị sình nó văng bắn lên dơ hết, thế là anh không thể đi chơi nữa, anh vào nhà. Anh mới thay đồ rồi lấy khẩu súng giấu vào người. Thì tôi không biết ảnh kể thiệt hay không, hỏi sao nhà có súng mà người ta không biết. Cái mới ra chặn ở ngoài xa lộ, tại biết cái tay này là đi về Sài Gòn, chặn ở đó. Kiên nhẫn chặn cho tới khi mà anh chàng kia từ Sài Gòn về là núp trong bóng tối bắn người ta thù, bắn văng rớt chết ngoài đường luôn. Anh kể chuyện rất là tỉnh, thì tôi không biết là anh nói thật hay nói dối mà nghe thấy ghê quá. Thế thì tôi nghe thì tôi mình vẫn giữ cái vẻ mặt bình thản mà không có thái thái độ gì.

[23:39]Chỉ có cái điều là cái gương mặt anh này thì rất là ác, nên có thể câu chuyện có thật. Và anh kể là người ta không điều tra gì được hết, rồi chuyện chìm vào quên lãng luôn. Câu chuyện chìm sâu rồi bây giờ thì qua giải phóng rồi nên cũng chẳng còn ai mà có trách nhiệm truy cứu gì nữa, chuyện chìm vào... Mà không biết sao ổng kể cho tôi tôi cũng chẳng hiểu, mà lúc đó có mình tôi ngồi đó. Nhưng mà qua cái đó thì thấy rằng con người ta bị cái chấp thân người ta như vậy đó. Khi mà mới chạm tới cái thân thể, người ta đã thấy bị xúc phạm và khó chịu. Đó là cái chấp thân quý vị. Phật gọi cái chấp thân là "thô phù ngã chấp",

[24:16]cái chấp ta rất là thô, cho cái thân này là ta rất là thô. Chúng ta mà không có vượt qua được cái chấp thân á, khi chết là mình sẽ về nghĩa địa mà ở. Khi mình chết, thần thức thoát ra khỏi cái thân này, thì lúc đó mình nhìn thấy cái thân mình nằm sóng soài ở đó, lạnh ngắt ở đó, chung quanh là người thân than khóc, là mình rất đau khổ, rất là đau khổ vì cảm thấy mình mất hết rồi, không còn người thân yêu, không còn tiếp xúc với ai được. Mình nói chuyện với ai không ai nghe, họ cứ ôm cái thây đó mà họ khóc, rồi cho cái thây vào trong hòm, vác đi, đào lỗ chôn xuống. Và vì từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ mình biết được đạo,

[24:59]chưa bao giờ mình quán cái thân này là vô thường, hư ảo, cho nên mình thấy cái thân quá quý giá, cái chấp đó nó thành cái nghiệp. Và khi nó thành cái nghiệp rồi, mình không gỡ được. Vì không gỡ được cho nên mình theo cái thây đó mình ở nghĩa địa luôn. Và nghĩa địa nó hình thành một cái xóm nhà lá. Mình vô đó cũng vui lắm, tại cũng rất nhiều chúng sinh cũng có cái chấp giống mình, họ cũng ở đó luôn. Thế là thì thôi cũng có bạn bè ở đó rất là vui, ở lại giữ cái thân đó. Đó là lý do tại sao mình vô nghĩa địa hay gặp ma là vậy, ma nhiều lắm đừng cẩn thận. Mà cái chấp thân nó khổ lắm. Cái chấp thứ hai là ý sở thành ngã chấp, Đức Phật gọi như vậy,

[25:43]ý sở thành ngã chấp, nghĩa là chấp cái ý nghĩ này, cái tư tưởng này là ta. Mà ở đây là cái người hầu hết người nào cũng bị, nhưng mà những hạng như triết gia, văn nhân, những nhà tư tưởng thì bị nhiều hơn. Những ý nghĩ mình nghĩ ra mình cho đó là ta nên ai đụng chạm, ai tấn công, ai công kích, ai chỉ trích, chê bai cái ý kiến của mình, mình cảm thấy khó chịu. Đó là cái chấp ta, cho rằng ý nghĩ là ta. Ở đây nó cảm thấy nó vô hình rồi, nhưng mà nó về ý thức hệ. Ở mức độ nhỏ thì mình cãi lộn với nhau thôi. Chẳng hạn mình nói ý này cái người kia họ cãi, họ không chịu, thế là cứ cãi lộn với nhau. Mà cãi nhẹ nhẹ thì thôi, còn cãi nặng có thể là ẩu đả.

[26:31]Rồi lần lần nó tăng lên một mức là tới cái tôn giáo của tôi, nó cũng thuộc về cái tư tưởng tôn giáo của tôi. Hay là người đạo Phật, người đạo Chúa mà cãi lộn hồi coi chừng có thể là có cái xô xát, gây gổ nếu mình quá nhiệt tình mà quá cuồng tín, không hiểu đạo. Như bên Hồi giáo cũng vậy. Hồi giáo họ vì cho cái tôn giáo của họ là chân lý. Vì họ không đủ vũ khí để mà tiêu diệt hết thế giới này nên họ tạm họ nhịn. Một ngày nào đó họ sắm được vũ khí nguyên tử, sắm được những cái xe tăng, tên lửa, sắm được hơi độc thì người Hồi giáo họ sẽ tấn công cả thế giới này, tiêu diệt những người nào mà không theo đạo Hồi.

[27:18]Đó là cái ước mơ sâu xa của những người theo đạo Hồi. Đó là cũng cái chấp ta, chấp cái tư tưởng, cái tôn giáo của ta, rất là nguy hiểm. Cho nên đạo Hồi nhiều nước mà sợ lắm, nhà nước mình cũng sợ nữa, không dám đụng tới, đụng tới là nó dùng bom đạn để nói chuyện không. Mà ngày xưa vậy, giữa đạo Hồi và đạo Thiên Chúa cũng đánh nhau hoài. Họ đánh nhau, tiêu diệt nhau mà cái xứ Jerusalem á, cái thành đó, ngựa cưỡi vào là là máu chảy ngập ngang đầu gối của ngựa, đánh nhau tơi bời. Bây giờ cũng vậy, giữa Thiên Chúa và Tin Lành cũng không có hòa thuận. Ở cái xứ Bắc Ireland á, một số thì theo Tin Lành, một số theo Thiên Chúa.

[28:03]Mà cứ tới cái ngày à ngày mới vừa qua nè, cái ngày vừa qua tôi quên mất cái ngày gì, hằng năm người Tin Lành lại đi diễn hành kỷ niệm là bao nhiêu trăm năm trước họ đã giết được, chiến thắng được rất nhiều người Thiên Chúa giáo, họ vui mừng kỷ niệm cái ngày đó. Cái ngày mà họ tàn sát người Thiên Chúa giáo hồi đó không còn manh giáp. Thật ra bây giờ mình nhìn lại mình nghĩ đó là một cái ngày nhục nhã là đúng hơn, mà họ cho đó là ngày vinh quang. Rồi cứ mỗi năm họ diễn hành rồi chiến tranh lại xảy ra, hai bên lại xô xát đánh nhau tùm lum. Đó cũng chấp về ý thức. Ai cũng cho ý nghĩ mình là đúng, mà nếu mình có quyền lực thì mình buộc người khác phải tuân theo mình.

[28:45]Cái đó là cái chấp ý sở thành chấp. Cái chấp thứ ba này là cái chấp cực kỳ khó thoát, khó thoát, mà tôi hay nói cái điều này cho nên bây giờ thì mới có ít người chống tôi thôi, sau này chắc cũng nhiều người chống tôi. Phật gọi là "vô sắc ngã chấp". Phật nói rằng các ngoại đạo tu tập thiền định, đắc được định sâu thẳm, tâm rỗng rang, phủ trùm, vi diệu và cho đó là đại ngã.

[29:20]Thì Phật nói đó là cái chấp ngã. Hồi xưa khi mà học tới chỗ này tôi giật mình, tôi bàng hoàng hết trơn, vì tôi thấy con đường mà tôi đang đi đã bị Phật phê phán rồi. Cái con đường mà tôi đi tìm, con đường mà tôi đang đi tìm, nghĩa là tôi đi tìm một cái tâm nơi chính mình, mà cái tâm đó nó thanh tịnh, rỗng rang, sáng suốt, phủ trùm. Tôi tôn vinh nó, tôi tôn thờ nó, tôi hướng về đó, tôi đi tìm nó. Thì đến khi lật kinh ra thì Phật đã nói đã phê phán từ mấy ngàn năm trước: Đây là cái bệnh gọi là vô sắc ngã chấp, cái bệnh của ngoại đạo thời Đức Phật và trước Đức Phật người ta mắc phải. Những ngoại đạo của Ấn Độ thời xưa họ tu thiền định rất là tốt.

[30:15]Họ có khiếu lắm, họ tu thiền định rất là tốt, nên họ đắc được nhiều cái mức định rất là sâu. Chỉ có cái là không đạt được cái vô ngã đến tuyệt đối, không đủ sức đạt được. Đức Phật cũng vậy, Ngài xuất gia, Ngài cũng chịu khó lặn lội đến học đạo với rất nhiều vị đạo sĩ nổi tiếng thời đó. Ngài cũng đạt được những cái mức định mà các vị thầy của Ngài lúc đó đạt được. Những cái định đó là đến, đến là Vô sở hữu xứ định, Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, những cái định mà nó rất gần với Niết-bàn của Phật, rất gần, cái định cực kỳ cao, thần thông là rất là lớn. Khi mà chết, an trụ trong cái cõi đó vài triệu năm

[31:03]mà cứ tưởng cái cõi đó là Niết-bàn bất diệt. Ngoại đạo họ đạt được. Và khi họ đạt được cái định đó thì cái tâm của họ nó thanh tịnh, rỗng rang, phủ trùm, sáng suốt. Và họ xem cái tâm đó là bến bờ, là Paramita, Ba-la-mật, là bến bờ, là chỗ đến cuối cùng. Thì Đức Phật, Ngài mới hỏi vị thầy của Ngài: "Thưa thầy, cái định này còn ngã hay không còn ngã?" Ngài đạt được rồi đó, nhưng mà bởi cái trí tuệ của một vị Phật tương lai, cho nên Ngài có cái cảm nhận được nó chưa phải là cái đích cuối cùng. Mà đây là đúng cái trí tuệ của một vị Phật tương lai mới cảm nhận được, chứ như mình, mình mà đạt được cái đó rồi

[31:46]thì mình thỏa mãn rồi, mình sẽ không đủ sức tưởng tượng, hình dung được có một cái gì cao hơn cái định đó nữa. Nhưng mà Đức Phật cảm nhận được còn một cái gì vượt khỏi cái này, cái này chưa phải. Thế Ngài mới hỏi mấy ông thầy Ngài: "Cái định này còn chấp ngã hay không còn chấp ngã? Còn ngã hay không?" Nếu còn ngã thì cái định này chưa giải thoát. Còn nếu không còn ngã thì ai là người tự biết mình chứng được cái định này? Ngài hỏi cái câu khá lắt léo. Và mấy ông đạo sĩ, thầy của Ngài không trả lời được, và Ngài từ giã ra đi. Cái câu chuyện này nó ngắn. Đọc trong lịch sử Đức Phật chúng ta vẫn thường bắt

[32:30]gặp, nhưng chúng ta không hiểu được cái câu chuyện này nó hay thế nào, nó sâu sắc tới cỡ nào. Nó sâu sắc tới chỗ cái câu hỏi đó mà ông đạo sĩ không trả lời nổi. Mà Đức Phật cảm nhận nó không phải là viên mãn mà Ngài đã ra đi.

[32:46]Sau nhiều năm khổ hạnh, Ngài dùng sữa vân vân, Ngài đến gốc bồ-đề, Ngài nhập định 49 ngày. Ngài thành tựu được cái điều mà Ngài cảm nhận là Ngài vượt qua được cái chấp ngã cuối cùng, Ngài thành tựu được cái tâm chứng tuyệt đối, Ngài thành tựu một vị Phật. Như vậy, chúng ta thấy cái chấp ngã rất khó vượt qua, rất khó vượt. Chúng ta tu chứng rất cao, nhưng mà vẫn chưa thể vượt qua được ngã chấp. Chúng ta tu, chúng ta tìm được cái tâm thênh thang, vi diệu, sáng suốt, vân vân, là chúng ta vẫn còn chấp ngã ở trong đó chưa hết.

[33:27]Và cái mà ngoại đạo nghĩa là đã vướng phải, đã không vượt qua được, rồi Đức Phật vượt qua được. Và bây giờ chúng ta mắc lại đúng cái kiến giải của ngoại đạo thời xưa ở trong đạo Phật. Vì Đức Phật và các vị A-la-hán lần lần đã vắng bóng. Những người sau này tu dù rất tinh tấn, dù có đạt được những cái chứng đắc gì đó vẫn chưa thể vượt qua được ngã chấp cuối cùng. Đó là một sự thật không ai có thể phủ nhận được, đó là một sự thật. Dù đó là vị Tổ sư, dù đó là một vị Đại sư danh tiếng lừng lẫy trong Phật pháp, tên tuổi lừng lẫy để lại trong lịch sử, thì vẫn chưa phải là một người đủ sức vượt qua được cái ngã chấp cuối cùng.

[34:21]Cái tích chứng của vị đó trên thiền định bằng lại các ngoại đạo của Ấn Độ thời trước Đức Phật và thời ngang Đức Phật. Nhưng về cái nhân á thì tốt hơn. Cái nhân của những vị Thiền sư, những vị Đại sư, những vị Tổ sư thì tốt hơn ngoại đạo, vì sao? Vì các vị đó kính thờ Đức Phật, cho nên đã có cái nhân, một kiếp nào đó sẽ đạt được cái sự giải thoát giác ngộ viên mãn như Đức Phật, thì nó là cái nhân. Hễ mình kính vị thánh thì mình sẽ thành tựu được cái quả vị của vị thánh đó, đó là nhân quả. Nhưng còn trong thực tế về cái tâm chứng lúc bấy giờ thì chỉ bằng các ngoại đạo Ấn Độ mà thôi. Cho nên cái kiến giải vẫn giống như ngoại đạo.

[35:12]Đây là một sự thật hết sức phũ phàng, một sự thật hết sức phũ phàng. Sự thật hết sức phũ phàng là gì? Là cái kiến giải của người trong đạo Phật đã giống trở lại với kiến giải của ngoại đạo thời trước Đức Phật. Một sự thật hết sức phũ phàng mà chúng ta phải nhận định ra, phải nhận định ra để thoát khỏi nó. Chúng ta trở lại, nghĩa là cái vô ngã mà Đức Phật đạt được là cái vô ngã hoàn toàn tuyệt đối. Nơi cái vô ngã hoàn toàn tuyệt đối này thì mọi cái tính chất khác nơi cái tâm chứng đó nó cũng đều tuyệt đối hết luôn. Cái thứ nhất là lòng từ bi. Lòng từ bi của Phật cũng đạt được đến cái sự viên mãn tuyệt đối luôn.

[36:01]Khi mà Ngài đã chứng được cái vô ngã rồi thì lòng Ngài thương yêu chúng sinh không còn giới hạn nữa. Bây giờ chúng ta có dùng muôn ngàn lời nói vẫn không diễn tả được cái tình thương yêu mà Đức Phật đã đem đến, đã ban rải cho chúng sinh. Ngài thương yêu loài người, rồi Ngài thương yêu loài trời, Ngài thương yêu tất cả những loài súc sinh, Ngài thương yêu những chúng sinh lầm lỗi, kể cả những chúng sinh phải đọa địa ngục, những người làm ác. Ngài thương yêu đến cả cái cây cỏ, cả mây trời. Cái lòng từ bi của Phật phủ trùm trong vũ trụ mà không còn phân biệt là loài hữu tình hay loài vô tình. Tôi nói lại chỗ này.

[36:50]Cái loài hữu tình là những động vật có tâm thức, như con người, con vật, con chim, con giun, con rắn, con cọp, tức là những động vật là loài hữu tình. Còn loài vô tình mình gọi là không có tâm thức, như là cây, là cỏ, là đá, là đất. Thì ở đây, khi mà Đức Phật tan biến được cái ngã chấp thì cái tình thương yêu của Ngài nó đạt được sự tuyệt đối, Ngài thương yêu cả loài hữu tình đến những loài vô tình. Nghĩa là tất cả đều có tình thương yêu của Phật hiện diện. Mà chúng ta ngồi đây vậy, tình thương yêu của chư Phật trong Niết-bàn vẫn phủ trùm nơi chúng ta, trong từng cái tâm niệm nhỏ của chúng ta và phủ trùm đến tất cả cây cỏ lá hoa và đến cả cái bàn này, cái ly này, vân vân.

[37:42]Đó là cái tình thương của Phật là như vậy, tuyệt đối như vậy. Thế nữa, cái trí tuệ của Phật là đến chỗ tuyệt đối. Ngài phủ trùm vũ trụ và biết tất cả mọi điều trong vũ trụ. Những cái điều bí ẩn nhất mà chúng ta không biết được thì Phật biết hết. Cho nên ông Pascal, Pascal là một nhà toán học và cũng là một nhà triết học, ông nói thế này: "Những điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước, còn những điều chúng ta không biết là cả một đại dương." Nghe chưa? Nghe câu này hay không? Những điều chúng ta không biết là cả một đại dương. Tôi nghe câu này tôi hết sức kính phục Pascal. Hết sức kính phục. Vì thường thường con người ta có cái bệnh khi mình khám phá ra được điều gì

[38:39]mới thì mình cho à mình đã nắm được chân lý rồi, đã hiểu được chân lý rồi. Nhưng mà phải là người có cái trí tuệ của Pascal á, ông mới biết được là còn vô số điều trong vũ trụ này chúng ta không biết. Mà cái người cảm nhận được cái điều mà mình không biết là con người cực kỳ trí tuệ. Cái sự minh mẫn của tuệ giác rất là sáng. Bây giờ như chúng ta đây. À như hôm nay chúng ta học bài các pháp Ba-la-mật là mình thấy rằng à hôm nay đúng là mình học được tới cái bài pháp nói về các hạnh tu tuyệt đối trong đạo Phật. Vô cùng vi diệu, tuyệt, đây đầy đủ hết rồi không còn cái gì nữa. Phật pháp nơi đây là đã trọn vẹn.

[39:23]Thường chúng ta mắc cái bệnh như vậy. Nhưng một cái người có trí tuệ học xong bài này rồi biết rằng các bài này nói về các pháp tuyệt đối trong Phật pháp, nhưng mà vẫn cảm nhận được vô số điều, ví dụ như chư thiên tử ở trên trời họ tu cái gì, họ sống thế nào mình không biết. Rồi các vị Bồ Tát thị hiện vào trong thế gian làm cái hạnh gì, ẩn khuất nơi chỗ nào mình không biết. Rồi vô số những cái hành tinh khác, các cõi Phật khác hay là chư Phật ở đấy giáo hóa như thế nào mình không biết. Nên cái người mà nghĩ ra điều này mình không biết, nghĩ ra được cái điều kia mình không biết, cái người đó cực kỳ trí tuệ.

[39:59]Nó hiểu ra được điều mình không biết. Nghĩa là hiểu được một số điều đã là trí tuệ rồi, vậy mà còn hiểu được còn những điều mình không biết thì trí tuệ hơn nữa. Cho nên khi mà chúng ta nói chuyện với người khác mà chúng ta muốn chứng tỏ mình trí tuệ thì chúng ta phải làm sao? Thì phải chứng tỏ rằng: "Còn nhiều điều tôi chưa biết." Là mình có trí tuệ. Cho nên từ đây về sau hễ ai hỏi gì mình thì mình phải chứng tỏ rằng mình có có trí tuệ. Họ hỏi tới điều đó: "Huynh có biết điều đó không?" - "Đây là điều tôi chưa biết." Thì mình là người có trí tuệ rồi. Thì cái trí tuệ của Phật vậy, Ngài soi sáng hết mọi vấn đề trong vũ trụ này,

[40:44]từ những cái ẩn khuất nhất, li ti nhất, tới một người đó với nhân quả gì trong vô lượng kiếp đã làm thành cái gì, vân vân, thì Phật biết hết. Một câu chuyện nhỏ mà tôi có trích trong cái cuốn Luận Về Nhân Quả như một vị ngài Châu-lợi-bàn-đặc á, ngài nhờ cái pháp quán vô thường mà ngài đắc đạo thì người ta mới hỏi Phật vì sao. Đức Phật mới nói về rất nhiều kiếp trước, lúc mà Châu-lợi-bàn-đặc còn là một ông vua, thì ngài có một lần lấy cái khăn lau mặt thấy nó dơ và khởi ý nghĩ vô thường, tức là một ý nghĩ thoáng qua cách đây không biết bao nhiêu kiếp xưa mà bây giờ Đức Phật biết hết. Đức Phật biết luôn cả ý nghĩ của ngài Châu-lợi-bàn-đặc

[41:29]luôn, để mà giáo hóa cho ông một cái giáo pháp thích hợp. Nên đọc cái chuyện đó thì tôi phục lăn Phật luôn. Nói thiệt cái trí tuệ của Phật mình không thể lường nổi. Một ý nghĩ thoáng qua của một con người trong vô lượng kiếp nào mà Đức Phật thấy được, lôi ra để giáo hóa cho chính xác thì quá tuyệt vời, quá tuyệt vời. Còn bây giờ như chúng ta đây nè, nội cái ý nghĩ của mình mà mình nghĩ cách đây 10 năm bây giờ hỏi lại: "Thôi quên rồi, không nhớ. Ủa, hồi trước tôi có nói câu đó hả? Thôi quên mất rồi." Phải từ từ suy nghĩ lại. Thì như cái người nói khác, nhiều người gặp mình á: "Trời ơi, sao hồi trước là chị nhớ, chị hứa là chị cho em là một cái đồng hồ?

[42:07]Hồi 2 tháng trước, chị hứa cho em cái đồng hồ." - "Ủa, vậy sao? Tôi quên rồi. Thôi, chừng nào tôi nhớ lại tôi cho." Mới 2 tháng là mình quên liền. Còn chuyện của thiên hạ, vô lượng kiếp trước mà Đức Phật vẫn nhớ, lôi lại để mà dạy dỗ. Cái trí tuệ tuyệt vời như vậy. Rồi theo đó, theo cái từ bi và trí tuệ đó thì vô lượng cái hạnh của Phật cũng đều đạt đến sự tuyệt đối. Như cái nhẫn nhục, cái sự bình an trong nội tâm thì đúng là Ngài bình an hơn cả hư không. Cái hư không thì đúng là mình quơ qua quơ lại không động, không nhúc nhích gì được hết á. Nhưng mà nói tâm Ngài bất động như hư không thì tôi vẫn cảm thấy chưa đủ.

[42:48]Cho nên trong bài Lễ Phật Sám Hối tôi có nói rằng: "Núi có thể lung lay, hả, nhưng Người là bất động. Tâm bình an của Người còn hơn cả hư không, rất nhỏ nhiệm sâu mầu đến tận cùng tuyệt đối." Đó, tôi ca ngợi như vậy, mà quả thật như vậy. Nghĩa là khi mà Ngài cái bản ngã của Ngài chấm dứt, tắt, Ngài vượt đến cái tuyệt đối không còn ngã thì vô lượng trí, vô lượng từ bi, vô lượng tâm hạnh Ngài đều đạt đến tuyệt đối. Cái tâm chứng của một vị Phật là như vậy. Cái quả là tuyệt đối thì cái nhân nó làm sao? Nhân nó làm sao? Phải là cái nhân tuyệt đối mới đạt được cái quả tuyệt đối. Và nhân tuyệt đối là gì?

[43:34]Chính là các pháp Ba-la-mật mà chúng ta học ngày hôm nay. Phải không? Nên ngày hôm nay chúng ta học các pháp Ba-la-mật nghĩa là chúng ta tập gieo những cái nhân tuyệt đối để sau này mình mới thành sự giác ngộ tuyệt đối nếu chúng ta thực hiện được từng bước, từng bước cái nhân tuyệt đối này. Vậy cái nhân tuyệt đối là cái gì? Trước hết nó là cái tâm nguyện của chúng ta, nó là cái con tim biết ước mơ, dám ước mơ đến những điều tuyệt đối. Hôm trước là lúc mà giảng ở Ngọc Phương thì tôi có hỏi một số cô, Phật tử nói lên những cái ước mơ của mình, thì mỗi người đều nên nói lên cái ước mơ của mình nhưng mà đều chưa tuyệt đối.

[44:23]Ước mơ còn nhẹ nhàng quá, chưa đủ, chưa dám, chưa gan. Người chưa dám ước mơ đến tuyệt đối. Nên mà ai hỏi tôi vậy, tôi hay nói: "Thôi, thầy ước mơ nhiều lắm, nói nói không hết." Từ những ước mơ nho nhỏ cho đến ước mơ mà nhìn thấy cả thế giới này, cả vũ trụ này đều thành Phật hết, vân vân, những cái điều mà nó như không tưởng. Nhưng mà chúng ta phải dám ước mơ không? Bây giờ thử tôi hỏi, nói hơi tiết lộ một chút rồi đó, bây giờ hỏi quý Phật tử thử coi. Trong tâm mình từ khi mình biết Phật pháp, từ khi biết tu, mình đã ước mơ điều gì? Đứng lên nói cho tôi và mọi người nghe đi. Rồi, mời, mời dâng mic.

[45:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[45:19]Mô Phật, con

[45:23]kính bạch thầy. Con là Phật tử.

[45:36]Cái ước mơ của con là cho con có điều kiện à tương đối là an lành để mà tìm được các vị chân tu để học hỏi và tu học. Dạ, cảm ơn cô. Ai có gì nữa không? Ai có những ước mơ... Ước mơ của tôi là của chúng ta sống, chúng ta sống bằng tâm Phật để mà thế giới được an lành và những cái những người mà thông tri huệ, sáng suốt lo cho con người. Dạ, cảm ơn. Có ai có ước mơ gì nữa không? Ước mơ không có tốn tiền, mình cứ ước mơ, cứ mơ mộng. Bởi vì những người mà biết tu, nhất là khi mà tới tu các pháp Ba-la-mật là những người mơ mộng, những người lãng mạn, sống không có thực tế. Và chúng ta thấy ví dụ một cái người Phật tử

[46:25]mà tu cho đúng rồi đó, nhiều khi mình nhìn hơi giống người mát một chút. Hơi giống người man man, khùng khùng vì họ sống không thực tế. Sống không thực tế nhưng mà lại rất là tốt, rất là chuẩn. Họ có cái sáng suốt của họ nhưng mà cái việc làm của họ người đời không hiểu được. Nên hay chê, không biết cái thằng đó sao nó giống khùng khùng. Người đời không hiểu được họ. Ai còn có ước mơ gì nữa không? À, ông cụ, cụ râu đây.

[47:00]Kính thưa thầy, tất cả các huynh đệ Phật pháp ngày hôm nay. Tôi cái sự tu tại gia á nó cũng nhiều năm nhưng mà chân lý thấy cũng chưa đứng vững. Ngày nay tôi nghe lời thuyết pháp của các nhà giác ngộ, tôi rất là ngưỡng mộ.

[47:25]Nhưng mà sự thật thấy tôi, tôi lại cũng ước mơ, ước mơ thì có lòng, cái lòng tham lam tôi mới ước mơ cái điều tốt. Nhưng mà tham này tham với cõi thiện, không phải là tham với cõi ác. Nhưng mà tôi ước mơ làm sao tôi sáng suốt để làm chủ được cái bản thân tôi, từng bước tôi bước theo con đường của Đức Phật dạy, nghe lời Phật dạy, để rồi đi đến một điểm cuối cùng là ra khỏi vũ trụ theo Đức

[48:04]Phật, không tới lui nữa. Thấy ông cụ gan chưa?

[48:11]Đó con người ta phải dám ước mơ và trước khi chúng ta đi vào tu tập các pháp Ba-la-mật này, chúng ta phải có cái gọi là nguyện Ba-la-mật. Nguyện Ba-la-mật là một trong các pháp Ba-la-mật. Mà nguyện Ba-la-mật là gì? Tức là ước mơ đến những điều vô cùng lý tưởng, vô cùng đẹp. Nên về quý phật tử phải tập ngồi đó tập ước mơ. Mỗi khi như tôi vậy, mỗi hằng ngày thì tôi cũng phải tọa thiền một chút thì đầu tiên vào giờ tọa thiền thì tôi phải ước mơ trước.

[48:51]Lúc đó tôi ước mơ rằng trên thế gian này tất cả mọi người đều mở được lòng từ bi, thương yêu lẫn nhau. Từ những con vật nhỏ, ngay cả những người bị đọa địa ngục khởi được tâm từ bi để thoát cái cảnh khổ. Và những người trên thế gian này cũng vậy, ai ai cũng thương yêu nhau hết. Đó là một ước mơ gọi là viển vông đó, nhưng mà phải ước mơ, phải cầu nguyện như vậy. Rồi còn vô số những cái ước mơ khác nữa, vô số những ước mơ khác nữa mà phải giấu. Ước mơ vì mình nó quá vĩ đại, quá mênh mông đi, mình nói ra hết cái tự nhiên mình cũng hơi bị hạn chế. Cho nên và ở đây tôi chỉ gợi ý cái nguyện Ba-la-mật

[49:43]là những cái tâm nguyện mà không còn giới hạn nữa. Như khi chúng ta tâm nguyện mình đạt được cái sự giải thoát thì cái tâm nguyện đó mình phải hiểu rằng mình giải thoát hết cái thế gian này. Ra khỏi cái thế gian cõi người, vượt luôn cả cái cõi trời, dù cõi trời đó vi diệu cỡ nào mình vẫn không chấp nhận, không đắm, không chấp, không dựa, không an trú. Nhưng mà như vậy đã Ba-la-mật chưa? Khi mình có cái tâm nguyện giải thoát như vậy là trong ba cõi mình nguyện không còn đắm vào một cõi nào nữa, như vậy đã Ba-la-mật chưa? Thế làm sao mới Ba-la-mật? Hả? Ra thế nào mới Ba-la-mật? Đúng là chưa Ba-la-mật đâu nhưng mà chỗ nào, vì sao?

[50:34]Tức là khi mình mơ ước, mình tâm nguyện là mình sẽ tu đạt được sự giải thoát, vượt khỏi ba cõi, ra khỏi sáu đường, không còn một cái cõi nào có thể giữ mình được nữa. Ước mơ như vậy thì đúng là chưa Ba-la-mật, nhưng mà tại sao? Hả? Đúng đúng đúng, đúng. Nghĩa là vẫn nói chuyện của mình đúng không? Vẫn là mình, vẫn tôi ra giải thoát. Nên ở đây, khi mà nghĩ ước mơ đến sự giải thoát thì phải ước mơ đến tất cả chúng sinh như vậy, ai cũng thoát khổ hết chứ không phải riêng một mình mình. Đó, đó mới Ba-la-mật đó. Và cái điều đó giống như không tưởng ha, nội mình lo thân mình chưa xong mà lo chuyện thiên hạ.

[51:17]Nhưng mà người đệ tử Phật phải là người như vậy, phải dám ước mơ. Phải vậy, phải dám tâm nguyện những điều đó. Qua cái chỗ này là chúng ta thấy là khi mà chúng ta nói đến cái sự giải thoát, coi chừng chúng ta lại đang đi về phía ràng buộc. Đây là một cái nghịch lý. Như nói tu theo đạo Phật để làm gì? Nói, "Dạ, tôi tu theo Phật để được giải thoát", thì người này đang đi ngược lại con đường giải thoát, đang đi về phía ràng buộc. Là vì chỉ nghĩ tới mình, chỉ nghĩ tới sự giải thoát của mình. Đó là vị kỷ, mà vị kỷ thì không bao giờ giải thoát được. Cho nên mình đang nói tới cái giải thoát, đang hướng về sự giải thoát mà

[51:59]kỳ thực cái bước chân mình đang đi về ngược lại, đi về phía ràng buộc. Đây là chỗ mà tất cả người tu Phật phải hết sức khéo léo. Thấy người đó tu dữ dội lắm, tụng kinh, ngồi thiền, nhập thất đồ tùm lum, nhưng mà kỳ thực đang đi về phía ràng buộc, lạ lùng như vậy. Nên tôi vẫn thường hay nói tới nói lui lúc mà giảng mấy nơi kia cũng vậy, chỉ có người cái tâm hết sức vị tha, tâm hết sức từ ái, cuộc sống hết sức vị tha thì người đó mới xứng đáng, mới xứng đáng là vào trong thất mà ngồi tu hành. Thầy cho con nói. Dạ, dạ. Mời cô lên đây.

[52:50]Thưa thầy, hôm nay con đến trễ một chút. Giỏi. Con chưa hiểu qua bài nguyện. Nhưng mà con có ước mơ thì con đến rất là trễ. Con có một cái ước mơ là làm sao khi con mà đến được với trên cõi tịnh độ đời này thì làm sao cho con cái tâm con được tịnh và con thương tất cả. Xin lỗi con, con nói sao mà con không có được như người... học thức. Làm sao con thương được tất cả những người tàn tật, thí dụ những người đó bại liệt, người mù, tai, câm, điếc, quặc quẹo thì làm sao con có được một cái lòng thương để con không... không có nhìn... không có cầu mong có một cái lòng thương này để con gửi đến những người đó.

[53:42]Con có một cái ước mơ khi mà con đến nơi cửa Phật thì làm sao con được một cái tâm như vậy toàn diện. Con sẽ làm một điều tốt thật sự, con không nói, nói được mà không... và con xin một cái ước mơ nữa là làm sao con gom được tất cả những người cùng một quê hương Việt Nam mình con có một cái ước mơ như thế.

[54:12]Nhưng mà trên đời này có người nghèo, người giàu.

[54:18]Làm sao gom hết các con em mà ở thôn quê này được đi học. Những người tàn tật được che chở. Tất cả mọi nơi cũng như những người tu Phật sẽ được tiếp tục kêu rằng những phật tử hay là các cấp lãnh đạo có một sự hiểu biết của chính quyền. Để xây những ngôi chùa, những trường học dinh dưỡng cho những con em chưa chưa đến được. Những khi mà con cái mà đi học rồi lúc đó thì gia đình được an mới bắt đầu nghĩ đến Phật. Lúc đó người ta mới lớn đến với Phật với tất cả tấm lòng. Thì đó là ước mơ nhỏ nhen của con. Cảm ơn cô. Cảm ơn cô. Chắc là cô cũng trăn trở, ray rứt về những điều này nhiều nên hôm nay mới nói mà cảm xúc như vậy.

[55:20]Thì khi chúng ta ước mơ mà có cái thiết tha thì chúng ta từ từ sẽ thực hiện được, rất là tốt.

[55:29]Thì cũng mong rằng những điều cô mơ ước nó sẽ thành sự thật. Và lần lần mình sẽ có ước mơ lớn hơn, không riêng gì người Việt Nam mà trên toàn thế giới như vậy, tất cả chúng sinh đều như vậy. Chúng ta trở lại cái nguyện Ba-la-mật là những cái tâm nguyện khi chúng ta bước chân tu hành, lần lần chúng ta phá vỡ, tan tành nó không còn cái giới hạn nữa. Thì cái nhân ban đầu nó đã là sự tuyệt đối thì kết quả tuyệt đối ngày nào nó sẽ đến. Mà cái chữ ngày nào nó có thể còn nhiều kiếp lắm, chuyện đó thấy, rất nhiều kiếp. Bây giờ chúng ta bước sang phần thứ hai. Chúng ta nói cái lý tưởng và hiện thực. Giữa cái lý tưởng và hiện thực nó có cái khoảng cách.

[56:19]Không phải chúng ta có ước mơ, có lý tưởng rồi mà đều có thể thực hiện được, phải không? Luôn luôn như vậy. Như cái cô phật tử vừa nói về những điều cô ước mơ rất là tốt, nhưng mà chúng ta trong trước mắt chúng ta vẫn không làm được. Ở đây ngồi đây vậy, chúng ta vẫn ước mơ mình được giác ngộ, được giải thoát, ai cũng biết Phật pháp, điều đó rồi cũng chưa làm được. Hoặc nội cái đơn giản nhất nơi bản thân mình thôi, mình nguyện mình đủ được lòng thương yêu tất cả chúng sinh vẫn chưa làm được, mình vẫn chưa thương yêu được trọn vẹn. Mặc dù mỗi buổi tối khi lễ Phật, khi ngồi thiền mình đều rải tâm

[57:00]từ, đều ước mơ nhưng mà vẫn chưa hoàn toàn thực hiện được. Nên giữa cái lý tưởng và cái hiện thực nó có cái cái khoảng cách. Ví dụ như nói tinh tấn Ba-la-mật, nó là một sự nỗ lực quyết liệt không ngừng nghỉ trong cái sự tu hành để mà sớm thành được đạo quả, Nhưng mà cái hiện thực không phải luôn luôn như vậy. Có những vị họ có cái sức khỏe tốt, họ suốt năm ngồi không nằm, nghĩa là không bao giờ đặt lưng xuống chiếu. Khi mà mệt thì ngủ ngồi ha, ngủ ngồi, nghỉ chút xíu rồi dựng thẳng đứng lưng lại ngồi thiền tiếp. Có nhiều vị như vậy như ngài Quảng Khâm thời nay, Hòa thượng Quảng Khâm, thời xưa ngài Hiếp Tôn Giả.

[57:51]Là những vị mà vừa có sức định, vừa có cái sức khỏe phi thường, nhưng ngài vô cùng tinh tấn. Nhìn vào ngài cả ngày quanh năm suốt tháng, ngày cũng như đêm, ngày cũng như đêm, lúc nào cũng tinh tấn tu hành mà mình không thể thực hiện được. Có thể là cái tâm mình có đó, có thể là mình cũng có cái tinh tấn Ba-la-mật ở trong tâm đó, nhưng mà trên thực hiện mình không thực hiện được. Không thực hiện được vì cái điều kiện chưa cho phép. Giữa cái thực hiện này, ví dụ như bây giờ trì giới Ba-la-mật là giữ gìn cái sự trong sạch, không phạm vào một điều ác nhỏ, một điều bất thiện nhỏ, một điều nhiễm ô nhỏ,

[58:33]nghĩa là giữ cho đến tuyệt đối tận cùng. Nhưng mà trong cái cuộc sống hiện thực này, có những điều mình không nhịn được. Mình nói như là dẫn lịch sử như vua Trần Nhân Tông, ổng cũng đâu muốn chiến tranh giết chóc làm cái gì, mà đến cái lúc đó như vậy không làm không được. Không leo lên lưng ngựa mà ngồi đi chiến đấu thì không được, thì trở thành cái ác. Lúc đó gọi là giữ được cái thiện cho mình, nhưng mà để lại đau khổ cho người khác thì cái thiện nó biến thành cái ác lập tức liền. Nên mình giữ được cái yên cho mình gọi là được là mình thiện thì không ngờ cái đó lại là một cái cực ác vì để cả một dân tộc chìm trong cái đau khổ. Đó, chúng ta thấy vậy.

[59:16]Chúng ta mơ ước cái hoàn hảo, nhưng trong cuộc sống không bao giờ những điều đó nó được trọn vẹn, nó được mặt này rồi nó phải mất mặt kia. Và chúng ta phải luôn luôn cân nhắc, cân nhắc suy xét để hành động, chứ không có phải dễ. Giữa những cái điều như vậy là chúng ta thấy là trong cuộc sống của chúng ta cũng như trong sự tu tập, nó bị chi phối bởi nhiều cái điều kiện, nhiều yếu tố mà mình không thể thiên vào một cái yếu tố nào, thiên riêng một cái nào được. Như nãy mình dẫn cái trường hợp vua Trần Nhân Tông vậy. Lúc đó mà nếu mà ổng giữ cái trì giới thì ổng không thành tựu được cái cái vị tha.

[1:00:02]Cái chữ bố thí Ba-la-mật cũng đồng nghĩa với vị tha, khi mình học sang cái bố thí mình sẽ thấy nó đồng nghĩa như vậy, nên hễ được cái này mất cái kia. Ví dụ ngài muốn nhẫn nhục, ngài chịu đựng cho một mình mình, là để là ai làm gì ngài cũng chịu, chém giết gì ngài cũng chịu hết, ngài chịu thua luôn để đạt được cái nhẫn nhục Ba-la-mật riêng mình, thì rõ ràng lại không thành tựu được cái bố thí Ba-la-mật, không đem được cái an vui cho những người khác. Đó, nên nó nhiều cái chi phối. Bây giờ trong gia đình đi, là chúng ta cũng muốn thực hành cái hạnh bố thí Ba-la-mật, nhưng mà được không? Đem xấp tiền đem hết cho được không?

[1:00:41]Mình cho người ta hết cũng được nhưng mà con mình đói thì sao? Thì như vậy mình thiện với người này và ác với người kia. Cho nên Ba-la-mật là hoàn toàn không có nghĩa liều mạng, không có làm bừa, mà hết sức là được suy xét bởi trí tuệ. Như vừa rồi có hai vợ chồng lên núi đi chơi, bữa thứ bảy, thì người vợ mới nói thấy có một người bệnh, cái người ngồi ở đây nè chứ không đâu, thấy có người bệnh, bệnh thận, muốn thôi cho người ta bớt cái thận, mổ bớt một cái thận đem cho người đó. Thì mới mà nói bây giờ gia đình không chịu, rồi cân nhắc đủ thứ nên hỏi tôi coi biết là cái việc làm này đúng hay không rồi cái người đó cũng bệnh rồi hình như chết luôn phải không?

[1:01:25]Lúc mà hỏi thầy người đó chết rồi phải không? Thì tôi mới nói thế này, khi mình có cái tâm như vậy thì đã là tốt rồi, nó là bố thí rồi đó, đúng rồi đó. Nhưng mà sau đó cái thực hiện, để thực hiện điều đó còn phải cân nhắc rất nhiều điều. Bây giờ khi mình cho người ta thì mình phải chấp nhận cái thiệt thòi nơi mình là tuổi thọ mình không còn nữa. Sức khỏe và tuổi thọ mình nó sẽ không còn bình thường nữa, tuổi thọ sẽ ngắn bớt và sức khỏe sẽ giảm sút. Thì cái việc mà về phía mình á cái sức khỏe giảm bớt, cái tuổi thọ rút ngắn lại có ảnh hưởng gì người khác nữa hay không? Phải coi lại. Vì cái người mà được mình cho quả thận thì người đó được

[1:02:04]lợi, nhưng mà cái người khác có bị hại hay không? Phải cân nhắc lại. Đó, phải tính lại, chứ không phải là làm liều cho một người thấy một người khổ dồn hết người đó, còn những người mà họ phải dựa vào mình thì họ bị tổn hại thì điều này cũng không được. Rồi điều khác nữa, về phía cái người được cho, sau khi họ có thêm được sức khỏe, họ làm nghề gì? Họ làm điều gì cho cuộc đời này? Phải tính kỹ nữa. Tức là mình không có phước nhiều để bừa bãi nên phải cân nhắc. Rồi người đó sau khi họ khỏe rồi họ có đi nhậu hay không, họ có hút xì ke hay không, hay là họ sẽ làm được việc thiện hay là họ sẽ tu hành tốt đẹp?

[1:02:45]Còn phải tới cái đó nữa. Không có đơn giản, không đơn giản. Cho nên cái vậy nghĩa là chúng ta nghĩ đến cái gì nó hoàn hảo, trọn vẹn, tuyệt đối, nhưng mà phải dùng trí tuệ để suy xét chứ không có liều mạng. Cái gốc á là tâm phải Ba-la-mật, cái tâm mình là trọn vẹn, nghĩa là nội cái mình nghĩ tới mình dám đem quả thận cho người ta thì coi như tâm mình đã được Ba-la-mật. Nhưng mà thực hiện thì phải khoan, tính lại giùm, cân nhắc trước sau đủ thứ chung quanh hết. Nhưng mà có cái đỡ khổ là mình tính lát hồi thôi khỏi cho nữa, cũng khỏe. Cũng đỡ cái đó. Nhờ vậy. Chứ không mà hễ mà tính cho tính cho hoài thế giới

[1:03:27]này lộn tùng phèo lên hết á, không còn gì hết. Nhưng nhờ vậy, nhờ có trí tuệ suy xét nên cũng đỡ khổ. Tâm mình á thì không có nghĩ gì cho mình, giữ gì cho mình, nhưng mình phải bảo đảm những cái mà tu tập của mình như cái sự chịu đựng nhẫn nhục của mình hoặc là cái bố thí của mình nó phải thực sự nó có cái lợi ích lớn chứ không để tổn hại. Như cái tên ăn cướp mà nó xông vô nhà mình, nói: "mình tu hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật thôi kệ, nó làm gì nó làm". Đáng lẽ mình có thể báo được cảnh sát, có thể chạy thoát được ra ngoài kêu hàng xóm, "thôi nhịn, kệ nó, tập nhẫn nhục Ba-la-mật cho quen", thì người trong nhà mình nghĩa là bị nó giết sạch,

[1:04:08]nó đánh rồi lấy đồ hết, rồi bắt đầu khóc lóc la hét, hỏi: "tôi tu nhẫn nhục Ba-la-mật". Như có cái chuyện ở trong cái chùa đó, cái chùa đó tu thiền, thế có cái kho đã có một cô đó, cũng ni cô đó ngồi đó tu thiền giữ nhà kho. Biết sao ăn trộm nó cạy cửa nó vô được nhằm cái lúc cô ngồi thiền. Cái thời mới giải phóng mà, cái gì nó cũng thiếu thốn, cái gì cũng quý, chiếc xe đạp cũng rất là quý. Bây giờ chiếc xe đạp coi không ra gì chứ cái thời đó chiếc xe đạp cũng quý lắm. Nó vô chùa thì có chiếc xe đạp, dắt đi mất. Thì cô ngồi thiền cô thấy nó dắt ngay trước mặt cô, nhưng vì cô nghĩ mình ngồi thiền không được

[1:04:45]nhúc nhích, phải nhẫn nhục thôi kệ nó dắt. Trời ơi ra chùa la quá chừng, chùa có chiếc xe đạp đi chợ trong chùa thì xa chợ. Tu cái kiểu đó không không hay tí nào. Đó, chúng ta thấy vậy đó. Cho nên mình giữ cho mình được gọi là cái điều tốt thì nó đem cái tổn hại người chung quanh thì cái đó phải xét lại, cái đó không có trí tuệ. Cẩn thận vậy. Mà bây giờ như vấn đề ăn xin hiện nay đi. Vấn đề ăn xin hiện nay mình nên cho hay không nên cho? Rất là khó xử. Nhưng có những người người ta khổ, thực sự người ta khổ, người ta cần mình giúp mà mình không giúp thì rất là đáng thương, mình cũng sai mà tội nghiệp người ta.

[1:05:26]Nhưng mà giúp được một người, cái người khác nói: "làm nghề này bộ khỏe", người khác bắt chước đi ăn xin. Đó là nói chuyện đơn giản nhất á, mà bây giờ cái ăn xin nó thành cái nghề chuyên nghiệp rồi. Bắt đầu trong đó họ có trang bị, có đầu tư đủ thứ hết, có thuốc đỏ, có bông gòn đủ thứ, nghĩa là trang bị đầy đủ hết. Hồi hôm có cái người này, tôi nghe kể, bình thường ổng là một con người tôi nói sợ đụng tới người Vũng Tàu, người Vũng Tàu buồn thầy. Thôi thầy nói người Vũng Tàu đừng có tự ái nghe không? Để thầy kể chuyện. Thì có cái ông đó ổng có một chân, cái chân còn lại là không phải là chân thật, nhưng người không có chân thật.

[1:06:05]Bình thường ổng vậy, ổng với vợ con sống bình thường, nhưng mà khi mà thấy có một đoàn hành hương mà lên tới núi, có cái núi ở Thị Vải cao lắm, thì ổng cũng đi lên mặc đồ bình thường như mọi người không ai biết. Sau khi mà lên tới nơi rồi, hai vợ chồng mới chui vào trong bụi, ổng mới tháo bớt cái chân ra, mặc cái đồ xấu vô, lấy cái nón ra và ngồi trước mọi người đưa cái chân cụt ra, còn cái chân kia giấu lại vô trong. Vậy đó. Sau một ngày như vậy thì chui vào trong bụi ráp cái chân vô, mặc đồ đẹp rồi từ từ đi xuống thì trong túi đầy tiền hết trơn. Cứ một ngày làm rất là nhiều tiền. Chúng ta thấy cái vấn đề như vậy mình nên cho hay không nên cho người ăn xin? Đó đó.

[1:06:41]Khi người ta khổ thực sự mà không giúp thì đúng là áy náy, mà mình giúp dễ dãi quá thì nó làm cho người ta phát sinh. Nói những cái điều bắt chước vậy ha.

[1:06:53]Rồi có người mới hỏi tôi, như vậy là mình nên cho ăn xin hay không nên cho? Tôi nói không thể kết luận một chiều được. Vì có những người nhiều khi họ khỏe mạnh chứ nhưng lúc đó là người lúc cần cho á. Thấy thanh niên vạm vỡ, khỏe mạnh mà ngày đó họ đói thiệt sự, xin việc làm không ai cho, rơi vào những lúc ngặt như vậy nên có khi cần giúp. Nhưng có những khi thấy người tật nguyền nên không nên cho, vì đúng họ tật thiệt sự đó nhưng mà họ đã lấy cái này làm cái nghề rồi. Và họ xin rất là nhiều tiền, đi về bắt đầu đánh bài, nhậu nhẹt, cho vay, mặc dầu họ có tật. Còn người kia thật sự là mạnh khỏe nhưng mà đúng là thiệt,

[1:07:31]ổng đang đói thiệt sự, không phải là ổng hèn hạ làm cái nghề này, mà bữa đó đi xin việc làm không đâu có hết. Nên mình không thể mà kết luận một chiều, thà thì bây giờ hên xui may rủi, dùng cái cảm nhận của mình mà thôi. Cho nên có cái cô Phật tử cô nói đúng nè, cô nói như trường hợp có người ăn xin đến thấy tới mình rồi đó mình không cho, quay đi, nhưng có người đi qua rồi mình rượt theo mình cho, không hiểu tại sao, không giải thích được. Và tôi nói đúng, chỉ dùng cái đó để mà quyết định nên cho hay không nên cho thôi, chứ còn bây giờ không kết luận được một chiều từ đây không cho ăn xin hay từ nay cứ tiếp tục cho, không kết luận được.

[1:08:06]Đó cái Ba-la-mật nó vậy, nó có cái trí tuệ của nó. Thôi bây giờ vấn đề phóng sinh. Mình có nên mua chim phóng sinh, mua cá phóng sinh không? Thấy không? Không kết luận được chặt nữa. Như vậy cũng khổ thiệt đó. Vì mình mua chim phóng sinh miết nên người ta biết người ta cứ bắt miết, bắt miết để cho mình phóng sinh. Rồi thành ra vì cái việc mà mình gọi là cứu con chim mà làm khổ con chim quá chừng đi. Khổ thành cái nghề người ta cứ bắt miết để cho mình phóng sinh. Thiện mà rồi lần lần thành cái ác thấy không? Không kết luận được. Rồi cá, cá thì chắc có khi phóng sinh được. Thì thường người ta mua ăn á, người ta hay ở chợ mà những con cá còn sống

[1:08:46]mà lâu lâu mình muốn làm phước, mình có tiền muốn làm phước, cứ ra chợ mua một mớ cá đem thả xuống sông, chừng nào bị bắt lại không hay. Nhưng mà cá thì thường thường là dễ hơn, chứ chim thì hay bị thành cái nghề. Đó, ở bên Ấn Độ là không có cái vụ phóng sanh nha. Bên Ấn Độ không có, sao vậy? Vì không hề có người sát sanh. 60% người Ấn Độ là họ ăn chay và họ theo Ấn Giáo họ ăn chay trường, họ không có sát sanh nên không có chuyện phóng sanh. Chim chóc bay đầy đường, bò đi lổn ngổn ngang ngạnh giữa đường, chim bay sà xuống nóc nhà qua bên cạnh mình, không có chuyện gì hết. Chúng ta thấy không? Nên tâm chúng ta thì phải ba la mật, như mình ước mơ tới cái thiện tuyệt đối.

[1:09:28]Nhưng mà trong khi thực hành phải cân nhắc lại, cân nhắc cái lợi, cái hại, cái thiệt hơn nhiều lắm. Và tùy cái phước của mình nữa, tùy cái phước của mình mà mình quyết định làm nhiều hay làm ít, làm như thế nào. Một lát nữa thì mình nói không biết kịp giờ không. Bây giờ chúng ta học vào bố thí ba la mật. Bố thí nghĩa là cho phải không? Cái chữ bố thí là dùng chung thôi, chứ nghĩa là mình san sẻ, mình cúng dường các chùa cũng gọi là bố thí, mình cho người nghèo cũng là bố thí, gọi chung là san sẻ. Nhưng mà ba la mật tuyệt đối, hoàn hảo là cho sạch, cho hết, cho không còn gì nữa. Chữ ba la mật là vậy đó, cho cho hết, cho sạch luôn, có gì cho hết.

[1:10:14]Dĩ nhiên mình nói vậy thôi chứ làm sao cho hết được, phải không? Nhưng mà cái ý nghĩa của nó như vậy đó, là trọn vẹn hết. Mà chúng ta không thể thực hiện được như vậy, vì nó còn những cái yếu tố bên cạnh. Thôi bây giờ thế này, thường thường người ta hay nói câu này: "Cho tất cả là được tất cả", phải không? Thì chúng ta vẫn nghe như vậy. Nhưng mà ta biết câu đó nó như thế nào không quý vị? Có gì trong đó không? Có gì trong đó? Nó còn có cái mưu đồ ở trỏng á. Mình cho tất cả là để để được tất cả. Hồi xưa lúc mà thầy Minh Phát thầy còn sống á, thầy hay nói câu đó, thầy hay nói: "Cho tất cả để được tất cả".

[1:10:56]Nhưng mà bản thân thầy á thì ổng không bao giờ nghĩ tới cái được tất cả. Thấy cái hạnh của thầy Minh Phát là ổng giống như Bồ Tát thật sự á, nhưng mà ổng hay dụ Phật tử. Tại người Phật tử đến á muốn tập cái hạnh bố thí á, ổng hay nói cho tất cả là được tất cả. Vì người ta nghe chữ "được tất cả" khoái quá mới đưa tiền cho thầy. Rồi thầy ổng mới đi làm phước cái này cái kia. Nên là cái chữ "được tất cả" là để dụ, để dụ mấy cái người còn tham, muốn cho nhưng mà cũng muốn được, phải còn tham. Chứ còn các vị Bồ Tát thực sự thì cho tất cả mà không nghĩ tới cái được tất cả. Biết cái bố thí là có phước, hễ mình bố thí thì bảo đảm sau này mình giàu sang.

[1:11:35]Nhưng mà không cần, không nghĩ tới điều đó, chỉ nghĩ tới cần thiết giúp người trước mắt thôi, sẽ không hưởng. Cái người như vậy đó sau này họ sẽ giàu nha, nhưng mà giàu rồi họ không giữ, họ đem cho nữa, họ đem cho nữa. Trong cái bố thí ba la mật á thì ở đây là chúng ta sẽ có tâm nguyện cho sạch, cho hết, không còn tham đắm, không còn giữ gì cho mình nữa. Đó là tâm nguyện trước trong cái việc bố thí ba la mật này. Không tiếc, không giữ một cái gì cho mình khi mà có chúng sinh cần. Đây là cái căn bản về cái tâm nguyện, còn hành động thì một lát mình bàn bàn nhau sau. Bây giờ hỏi các Phật tử dám ước mơ điều đó không?

[1:12:16]Dám tâm nguyện điều đó không? Là không tiếc, không giữ gì cho mình hết nếu có người cần, có dám không? Rồi tất cả im lặng như thánh vậy đó. Thôi ráng đi, bởi vì đây cái hạnh bố thí nó quan trọng lắm. Từ cái cửa bố thí này để mình bước vào cái thánh vị luôn á. Nó vô lượng công hạnh về sau là nhờ cái bố thí nó đi trước. Nên trong cái lục độ này, trong sáu cái ba la mật này thì cái bố thí nó mở đường rồi mình mới đạt được những cái ba la mật khác. Nếu một người tu tập hướng về cái sự giác ngộ tuyệt đối mà không dám bố thí tuyệt đối thì không thành được. Nên trong tâm của mình mình phải dám có cái tâm nguyện đó.

[1:13:03]Nhưng mà các Phật tử cứ yên tâm, cứ tâm nguyện tuyệt đối đi, cứ tâm nguyện sẽ cho sạch hết, không tiếc giữ gì cho mình. Nhưng mà trên hành động thực tế thì thầy cũng dặn là từ từ chưa cho đâu, đừng có lo, đừng có lo. Cứ tâm nguyện đi, đừng có sợ, đừng có sợ thầy nói rồi một lát không cho rồi kỳ quá. Đừng có sợ, cứ từ từ. Nhưng mà cái tâm mình phải có trước, là phải tâm nguyện trước. Cứ dám tâm nguyện đi, cứ tối nay về lạy Phật cầu nguyện là: "Từ đây con không còn tiếc giữ gì cho mình nữa, con sẽ bố thí tất cả khi nào có chúng sinh cần, kể cả thân mạng này". Cái người tu pháp bố thí ba la mật phải dám nói cái câu đó:

[1:13:43]"Kể cả thân mạng này của con, nếu làm lợi ích được cho chúng sinh con sẵn sàng chết". Người đệ tử Phật phải dám nói câu đó. Quý Phật tử dám không? Nói mạnh đi, chưa cần phải làm liền. Nghĩa là muốn, nên đừng có lo, không ai bắt làm liền. Nhưng mà cái tâm nguyện mình phải như vậy trước, phải như vậy trước. Như là tôi vẫn có tâm nguyện, bây giờ tôi hơi tiết lộ một chút, mỗi khi tôi lạy Phật thì tôi vẫn tâm nguyện: "Nếu vì Phật mà tôi chết tôi chấp nhận". Nhưng mà dĩ nhiên Phật chưa bắt tôi chết cho nên tôi khỏe không có sợ, cứ tâm nguyện, không có gì phải lo. Nhưng mà rồi sẽ có kiếp mình làm. Khi mình có cái tâm nguyện rằng nếu vì chúng sinh mà mình chết

[1:14:25]mình chấp nhận thì bây giờ mình chưa làm, có khi kiếp này điều đó chưa xảy ra, nhưng một kiếp nào sẽ có xảy ra chuyện đó. Sẽ có một kiếp nào đó mình sẽ hy sinh thân mạng mình vì chúng sinh. Như mới ngày hôm qua có cái báo Tuổi Trẻ đăng về em Bùi Thu Nội, không biết quý Phật tử có đọc không? Cái câu chuyện này ở ngoài Bắc, hình như Hải Phòng hay Hải Dương gì, hình như Hải Phòng. Thì mấy em đi bắt rốc là một loại cua gì đó, rồi nước lớn, bốn em bị dòng nước cuốn trôi. Thì em bé này tên là Bùi Thu Nội mới nhảy xuống biết lội cứu các bạn mình. Cứu tới đứa thứ ba là em muốn chết rồi, tại vì bơi sông nó mệt lắm.

[1:15:03]Em mệt lả rồi, nằm dài trên đất mà nghe còn người bạn thứ tư mình đang vùng vẫy dưới nước, không kể cái mình đã kiệt sức, phóng luôn xuống dưới để cứu người thứ tư. Đẩy được cái người thứ tư vô bờ thì em bị nước cuốn trôi luôn, không còn gượng được nữa mà chết luôn. Thì xác đem về được. Cái điều đó làm cảm động cả nước mình. Và tôi nghe tôi vẫn hết sức là cảm phục. Và so với con người như vậy, không biết em hôm nay chắc chừng mười mấy tuổi, mấy? 16. Nhưng mà nếu cái em đó trước mặt tôi thì tôi chắc tôi phải quỳ xuống. Vì như Goethe nói đó: "Đứng trước một bộ óc vĩ đại tôi cúi đầu, nhưng trước một trái tim vĩ đại tôi quỳ xuống".

[1:15:42]Thì tôi cảm thấy như là tôi năm nay 40, mình là người đi thuyết pháp nhưng không thể làm được cái việc đó, không thể. Và đứng trước cái con người như vậy mình phải quỳ xuống dưới chân họ. Hoặc là bên Thiên Chúa có cái chuyện cha Kolbe mà tôi vẫn hay kể, dám đổi mạng mình cho người khác vì biết mình độc thân, còn mấy người kia họ có gia đình, có vợ có con, cần cái sự sống hơn, đổi mạng mình liền. Thì những cái tâm nguyện như vậy nó không phải mới xuất hiện. Những người làm được điều đó không phải là mới đời này, mà trong một kiếp nào đó họ đã có cái tâm nguyện rằng: "Nếu vì chúng sinh mà con bỏ thân mạng này con sẵn sàng".

[1:16:22]Thì kiếp này chưa làm nhưng một kiếp nào đó sẽ làm điều đó. Thì bây giờ cũng vậy, hôm nay chúng ta học cái pháp ba la mật thì tối nay về chúng ta lạy Phật, chúng ta sẽ nói lên cái tâm nguyện đó: "Con nguyện không còn tiếc giữ, tham lam gì cho mình nữa, con nguyện con sẽ bố thí, san sẻ giúp đỡ tất cả mọi người, kể cả cái thân mạng tầm thường này của con". Thì mình tâm nguyện như vậy mỗi ngày, mình cũng không làm gì đâu, chưa làm. Nhưng mà sang một kiếp khác bắt đầu những chuyện đó thành sự thật, mình sẽ bố thí, bố thí rất nhiều, bố thí không phân biệt luôn. Và khi cần mình hy sinh thân mạng mình chấp nhận

[1:16:58]chết liền, một kiếp nào chuyện đó sẽ thành tựu. Và hôm trước tôi có nghe một câu chuyện, nhưng cái người này đây là một người thật mà tôi gặp và tôi nói chuyện, nhưng mà nghe một sư cô kể lại. Cái cô này là người miền quê không biết chữ, học lớp 1 biết chữ chưa rành, lớn lên đi bán cá, bán cá ở Vũng Tàu, rồi vào chùa quy y, tu hành sơ sơ thôi.

[1:17:26]Rồi từ ba... 3.000 đồng, 3.000 đồng hồi xưa thì không có giá trị, ba đồng chứ, ba đồng lúc mới giải phóng á, mà làm ăn được 30 đồng thì đem cho 27 đồng, đem cúng dường, bố thí 27 đồng, giữ lại ba đồng đi làm ăn tiếp. Con người bởi vì nghĩ rằng mình có ba đồng mà mình làm được thì không cần nữa, đem hai mấy đồng cho, lấy ba đồng làm tiếp, làm và nó thành được. 30 đồng rồi đem cho nữa, giữ lại ba đồng. Nhưng mà rồi cái người như vậy rồi cái phước nó tới, từ từ cái của cải tăng lên làm, cứ làm chuyện lớn, làm chuyện lớn, càng ngày trở thành giám đốc của rất nhiều cái chi nhánh, nhiều công ty làm rất lớn

[1:18:04]và cứ bố thí tiếp, bố thí tiếp, bố thí mà không ai cản được nữa. Và người ta giựt... người ta tới hỏi mượn tiền đưa, không bao giờ người ta trả, đưa không bao giờ người ta trả. Cái con người bố thí không phân biệt bất cứ người nào, kể cả một chàng xì ke tới cử không có tiền lại xin, móc tiền 500 ngàn cho đi hút liền. Hút xong kêu lại nói chuyện, thấy nó tỉnh táo rồi nói chuyện khuyên, khuyên nên bỏ hút. Vậy mà người ta bỏ hút được. Như trường hợp đó như mình là mình không cho liền. Không cho, mà cái người đó cỡ nào cũng cho hết. Du thủ du thực đâu cũng cho. Nghĩa là quay qua mà nhìn ra ngoài đường thấy người ăn

[1:18:38]xin vừa đi ngang khuất, móc tiền chạy rượt theo cho. Mình thì tới ngang mình thì mình tiện tay mình móc túi cho ha, còn ra khỏi cửa đi khuất rồi, móc túi rượt theo, chạy kêu lại cho. Không biết con người sao tôi không hiểu. Tôi nói cái người đó làm thầy mình chứ không phải mình làm thầy người ta, họ cư sĩ. Bố thí rất là hồn nhiên, không kể không tiếc gì hết. Có cái nhà cửa ai cần: "À thôi lấy cái nhà ở tạm đi, dùng làm cái gì đó làm", kể không tính gì của mình hết trơn. Đang ở cái nhà to lớn mênh mông vậy đó rồi có cái chuyện cần làm phước, dọn qua cái nhà nhỏ xíu ở chật hẹp, nhường cái nhà to để làm chuyện phước cho ai làm thì làm, không màng tới.

[1:19:16]Có kể nhiều cái con người lạ lùng như vậy. Giữa thế gian này cái hạnh bố thí đúng là ba la mật như một Bồ Tát, như một Bồ Tát.

[1:19:27]Ừ, nhưng mà phải phước rất nhiều. Lần lần rồi kể lại. Mà từ cái bố thí như vậy bắt đầu những cái tâm khác nó mở ra. Rồi ta lìa những cái đắm nhiễm, tâm hồn được thanh tịnh, an vui, có cái trí tuệ giải quyết mọi điều rất là sáng suốt, mà học không có nhiều, viết chữ bây giờ vẫn chưa chạy. Mà chỉ có cái tâm hạnh bố thí tuyệt vời không thể tưởng tượng được. Cỡ nào cũng cho. Rồi có người nghe như vậy khuyên, nói thật, "Em cho phải đúng người, chứ cho bậy bạ vậy đâu có được." Nhưng mà cứ làm phước quá, nói: "Em phải giữ lại, giữ lại cho bản thân mình để mà còn tiếp tục làm việc." Thì cô mới trả lời:

[1:20:05]"Em nhớ hồi xưa em có mấy đồng bạc mà em còn sống được nè, giờ của cải còn nhiều quá, lo nghĩ mấy chuyện đó." Cứ tỉnh queo không có gì. Con người tự tại như vậy. Bây giờ có cái này: Giữa cái bố thí Ba-la-mật và cái không sở hữu tài sản có giống nhau không? Ví dụ như một người tu hành, một người xuất gia, một người tỳ kheo đúng trong luật là không có giữ tài sản, không giữ tiền. Thì một người tỳ kheo không giữ tiền và một người thực hiện cái hạnh bố thí Ba-la-mật có giống nhau không? Có giống nhau không? Hử? Có giống không? Khác. Khác. Đúng, đúng. Vì cái bố thí Ba-la-mật á là làm lợi được cho người khác, ha?

[1:20:54]Còn cái mình không giữ tài sản gì hết, thì mình được lợi phần mình không tham. Tức là mình chứng tỏ rằng mình là người thanh khiết, nhưng mà chung quanh ít có khi người ta được lợi, nếu chỉ có cái được lợi là người ta bắt chước mình thôi, người ta không tham thôi. Như cái người tỳ kheo không giữ tiền thì nêu được cái hạnh không có tham lam. Thì có thể là những người chung quanh mình nhờ cái tấm gương đó mà người ta bớt tích trữ, tham lam, giành giựt tài sản. Đó, nó cái lợi là cái lợi chỗ đó. Nhưng mà nó không mạnh bằng cái người mà bố thí. Cho nên cái chủ trương mà không giữ tài sản, nó khác với cái chủ trương là ai cần gì nơi

[1:21:35]mình thì mình sẵn sàng giúp đỡ, bố thí. Mình không chủ trương là vô sản, không chủ trương là không giữ đồng nào. Hễ mà tiền nó tới thì cũng bỏ túi, cũng giữ, nhưng mà giữ để đó không phải cho mình. Mà khi thấy chuyện gì cần, ai cần thì lại móc ra lại. Đó, hai cái đó nó khác, hai thái độ nó khác nhau. Và chỗ này chúng ta thấy: Cả hai đều là không tham. Nhưng mà cái người mà tu cái hạnh bố thí Ba-la-mật thì người đó dám giữ tiền và dùng đồng tiền đó cho có lợi người khác. Cho nên cái hạnh bố thí Ba-la-mật nó vẫn cao hơn cái hạnh là không giữ tài sản, không giữ tiền bạc. Nó vẫn cao. Cả hai trên căn bản đều là không tham.

[1:22:21]Trên căn bản đều là không tham. Giống nhau nhưng mà cái hành vi nó khác nhau. Đồng tiền nó không có lỗi. Mà chỉ vì Đức Phật ngày xưa không muốn cho các tỳ kheo giữ tiền sợ phát sinh lòng tham và cũng muốn cho các tỳ kheo để lại cái tấm gương không tham cho mọi người, cho nên Phật không cho người tỳ kheo giữ tiền. Nhưng mà cái bản chất thực sự của cái giới đó đó là không tham lam chứ không phải là không giữ tiền là cái đứng tận cùng của ý nghĩa nó. Nên hiểu như vậy, chúng ta không có sợ tiền bạc, cứ giữ tiền nhưng mà rồi để đem cho, chứ không có dùng cho mình nhiều. Giữ cho mình được thanh khiết nó cũng khác với làm cho người khác được lợi ích.

[1:23:11]Như vậy, cái định nghĩa của bố thí Ba-la-mật là: Sẵn sàng sử dụng tài sản của mình để làm lợi ích cho người khác. Sẵn sàng sử dụng tài sản của mình để làm lợi ích cho người khác. Chúng ta phân tích chia nó làm hai vế. Cái thứ nhất là cái chữ "sẵn sàng". Như nãy chúng ta nói đó, cái người tu hạnh bố thí Ba-la-mật thì không còn tiếc giữ, tâm hoàn toàn không còn nghĩ gì cho mình nữa là trong cái chữ "sẵn sàng". Còn nếu mà chúng ta còn một chút ngần ngại, do dự, tiếc rẻ thì chúng ta chưa được cái chữ cái chữ "sẵn sàng". Chúng ta chưa được cái chữ "sẵn sàng". Chúng ta tu phải luôn luôn sẵn sàng, lúc nào đụng chuyện, sẵn sàng là mình giúp đỡ người khác liền.

[1:23:55]Một lát mà phân tích còn tới cái nghĩa là giúp đỡ nữa, nhưng một lát từ từ mình nói tới, bữa nay nói không kịp. Cái phân tích vế sau là "vì lợi ích của người khác". Nghĩa là chúng ta sẵn sàng sử dụng tài sản của mình để làm lợi ích cho người khác. Thì vì lợi ích của người khác thì chỗ này chúng ta cân nhắc một chút. Là chúng ta phải biết chắc cái người mà mình giúp á sẽ được lợi ích về trong đời sống, trong đạo đức, trong sự tu tập. Chứ không phải là cái việc giúp đỡ mình làm cho người khác được hưởng thụ, đồi trụy hay là thù ác. Giống như cái người đó nè, họ muốn đi cướp giựt họ cần chiếc xe Honda,

[1:24:33]mình cho họ chiếc xe Honda thì cái này không phải bố thí Ba-la-mật, phải không? Không phải. Vì nó sẽ tổn hại tới người khác. Rồi ví dụ như ông đó ổng muốn nhậu mà mỗi lần ổng nhậu xong về say sưa là đánh vợ, chửi con thì mình cho ổng tiền để đi nhậu thì không phải bố thí Ba-la-mật. Nên ở đây để giúp đỡ họ là trong cái đời sống nè, trong cái đạo đức nè, trong sự tu tập. Ví dụ họ cần tiền trong đời sống thật sự cái người nghèo, giúp họ. Vì để tu dưỡng đạo đức, người này có thể tu dưỡng đạo đức được, họ muốn mua sách về đạo đức, muốn đi nghe giảng, hoặc là họ sống là họ đang tăng trưởng đạo đức thì giúp đỡ họ.

[1:25:10]Hoặc là cái người muốn tu hành, muốn tọa thiền, muốn tụng kinh, lễ Phật, vân vân, mình giúp đỡ tìm cách để họ được thuận tiện, thì đó. Nên cái việc mà mình sẵn sàng, phần mình thì sẵn sàng không tiếc nhưng mà phải xét cái việc đồng tiền cái được sử dụng như thế nào. Có một cô đó cổ ở bên Mỹ về thì cổ tu hạnh bố thí Ba-la-mật. Cỡ nào cổ cũng cho, thì cái người bạn trai của cổ mà sau này thành chồng. Cái người bạn trai á mới nói rằng: "Con không có đồng ý cái việc mà bạn con gặp ai xin cũng cho, ngay cả mấy cái đứa mà nó xin 10 đô la xong nó vô nó hút xì ke cũng cho là con không chịu, mà nói là bạn con nói là bố thí

[1:25:49]Ba-la-mật." Thì hai người mới nhờ tôi xử thì tôi cũng, đúng là tôi phân tích là không thể để cho người ta dùng cái sự giúp đỡ của mình mà đi vào cái đường bất thiện. Trừ cái trường hợp mà cái cô Phật tử hồi nãy mà tôi kể, dám cho tiền người ta hút xì ke để rồi sau đó khuyên người ta bỏ xì ke thì cái hạnh đó hạnh Bồ Tát rồi, có trí tuệ và họ làm chủ được, họ làm chủ được cái đồng tiền của họ, làm chủ được cái sự giúp đỡ của họ. Còn bình thường mình cho bừa mà không kiểm soát để người ta đi vào cái bất thiện thì mình mình có tội. Hôm nay chúng ta giảng như vậy thì sẽ tạm ngưng bài giảng sau đây ha.

[1:26:27]Những lần tới chúng ta học tiếp. Bây giờ còn vài phút thì để quý Phật tử có hỏi gì thì hỏi. Thôi, đứng đó đi tại không có micro, đứng

[1:26:39]đứng đó la lên.

[1:26:52]À tu đốn và tu tiệm

[1:27:02]ha?

[1:27:18]Tịnh độ tông. Tiệm có nghĩa là dần dần. Tiệm là cái chữ Nho đó, dần dần. Đốn là bất ngờ. Thì tu có hai trường hợp mà gọi là đạt được cái kết quả trong tâm linh: Một là cái định của mình từ từ mình vào định sâu dần, sâu dần, sâu dần. Còn trường hợp này kia bất ngờ một cái, bình thường cái mình đạt được nhảy vọt được cái mức định rất là cao, người ta gọi là đốn ngộ. Còn tiệm ngộ là nó thành tựu từ từ, cũng đạt được cái định bằng nhau. Hai bên bằng nhau hết á. Nhưng một bên là đến cái đó dần dần, dần dần. Nhưng một bên là bất ngờ cái đạt được cái đó liền. Thì cái người đốn ngộ là người kiếp trước đã đạt được cái trình độ đó rồi.

[1:28:00]Kiếp này tu bất ngờ trở lại đúng nó thôi. Còn cái người tiệm ngộ là người kiếp trước chưa phải là được, hoặc là bị gián đoạn nhiều kiếp á bây giờ phải từ từ mới leo lại cái vị trí đó, đốn tiệm. Còn cái Tịnh độ tông nghĩa là thế này: Nói rằng thấy cuộc đời này khổ cho nên niệm Phật, cầu nguyện là khi mình chết mình được sinh về cõi Phật A Di Đà. Thì cái điều này nó là một biểu tượng. Người nào mà sống trong đời này mình sống đạo đức, thánh thiện, vì người và mình hướng tâm về Phật, biết kính Phật. Niệm Phật là một hình thức kính Phật. Thì khi mình bỏ thân này mình sẽ được về gần Đức Phật. Về gần Đức Phật không phải là Phật A Di Đà mà là Phật Di Lặc về cõi trời Đâu Xuất á.

[1:28:49]Mà lúc đó là cái chấp của mình tan biến liền. Khi mình mà vừa xuất hiện trên cõi trời Đâu Xuất gặp Bồ Tát Di Lặc ngay đó cái chấp mình tan vỡ liền, mình không còn phân biệt Phật nào với Phật nào nữa hết, không còn phân biệt Bồ Tát, không còn phân biệt là phải về Tây phương, Đông phương rồi cõi trời gì nữa hết. Ngay đó là tan biến liền và biết rằng tất cả cõi Phật đều như nhau hết. Và một vị Phật là tất cả các vị Phật khác. Như vậy á. Có người viết bức thư hỏi thì nãy giờ: "Bạch với thầy, là con từ nơi ngưỡng cửa Thiên Chúa mới trở về. Bảy năm dài sống tha phương nơi xứ đạo, nghiệp chướng nặng nề, màn vô minh tăm tối, vân vân.

[1:29:29]Thì bây giờ về thì cái mặc cảm nặng nề, thấy mình bơ vơ, lạc lõng." Thôi, có gì đâu mà lạc lõng.

[1:29:39]Thực sự thì chúng ta cũng không muốn nói rằng đạo này hơn đạo kia. Chúng ta cũng không muốn nói điều đó. Nhưng mà tuy nhiên, thì chúng ta vẫn có niềm tin rằng cái giáo lý mà làm cho chúng ta chấm dứt tan biến tất cả cái chấp ngã vẫn là một cái gì rất là đẹp, phải không? Vẫn là cái đáng để chúng ta đi theo. Và chúng ta cũng hy vọng rằng