Transcript: Luận Về Nhân Quả 07 - Giọng Đọc Hướng Dương

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:29:26

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Sa-di 14 giỏi giảng kinh, tuổi nhỏ như ông chỉ cầm bình. Sa-di thuyết pháp sa-môn thính, chẳng bởi tuổi cao trọng tánh linh. Thập tứ sa-di năng giảng kinh, tợ sư niên kỷ chỉ huề bình. Sa-di thuyết pháp sa-môn thính, bất tại niên cao tại tánh linh. Nhưng chẳng những ngài thông minh trí tuệ thôi, mà đức hạnh cũng rất chu toàn đặc biệt. Nhà sư bệnh cùi bị mọi người ghê tởm xa lánh, thế mà ngài lại ân cần chăm sóc trị liệu chu đáo. Không ngờ ngài đã tác thành phước duyên to lớn là hầu hạ một bậc Bồ-tát siêu phàm. Chính tôn giả cố ý thị hiện bệnh nặng để tạo cơ hội cho Ngộ Đạt làm phước, và rồi chính phước nghiệp đó sẽ hóa giải oan ức về sau

[1:11]mà tôn giả biết trước Ngộ Đạt không thể nào vượt qua nổi. Tôn giả là người chứng ngộ, thấu suốt đường đi phức tạp của nhân quả nghiệp báo, nên không dùng thần thông phép lạ để chặn đứng nghiệp báo của Ngộ Đạt. Tôn giả chỉ dùng thần thông tạo cơ hội cho Ngộ Đạt tác phước, và có lẽ trong cõi giới khác đã khuyên bảo Triệu Thố khá nhiều.

[1:35]Bồ-tát làm lợi ích cho chúng sinh không chỉ bằng cách đem tài vật bố thí cho họ, mà phải biết tạo điều kiện cho họ tác phước. Sự thọ nhận tài vật giúp họ qua cơn thiếu thốn nhất thời, nhưng lại tiếp tục tổn phước về sau; còn sự chịu khó tạo phước mới đem lại cho họ an vui lâu dài. Những khi Bồ-tát ra đời làm vua, quan, hướng dẫn sư đều dùng uy lực của mình khuyên bảo nhân dân tu hành thập thiện, khuyên họ vui vẻ cùng nhau đắp đường, sửa đê, đào kinh, cất trường học, mở bệnh viện, trồng rừng. Những công trình phúc lợi công cộng là cơ hội để nhiều người tạo phước, nó khác với những công trình bắt dân xâu dịch khổ

[2:18]sở để kiến tạo điện đài cho tập đoàn thống trị phong kiến. Nếu chúng ta có tâm từ ái với chúng sinh nào, hãy khéo léo tạo điều kiện cho chính họ tác phước. Điều kiện đó là những lời khuyên bảo ân cần, là ý kiến chỉ vẽ phương pháp, là phương tiện tài vật cụ thể. Ví như ta khuyên họ hãy đắp lại đoạn đường trong làng, ta bảo họ cố gắng lên, chỉ họ cách thức tu sửa đường xá, cấp cho họ thức ăn và dụng cụ; làm được điều này, họ sẽ bớt khổ về sau.

[2:55]Chúng ta cũng thấy công đức trì giới tinh nghiêm có năng lực chặn đứng nghiệp lực quá khứ. 10 đời làm cao tăng khiến cho oan hồn Triệu Thố không có cơ hội đột nhập phá tán duyên án. Nếu chúng ta phát tâm tu hành chân chính, trì giới cẩn trọng, thiền định chuyên cần thì những nghiệp lực cũ bị chặn lại. Nhờ vậy, chúng ta được yên ổn thuận tiện tiến tu đạo nghiệp cho đến viên mãn. Tới khi đạo nghiệp viên thành, quả báo cũ xuất hiện, chúng ta không cảm thấy đau khổ. Chỉ vì niệm tự mãn bất ngờ khởi lên không kiểm soát được, uy đức bị khiếm khuyết, ác nghiệp xưa mới có cơ hội làm thành mụn ghẻ mặt người gây ra đau đớn.

[3:38]Vì vậy, người phát tâm tu hành cần phải giữ gìn chánh niệm trong từng phút giây miên mật, kiểm soát đừng để ác niệm, tà niệm xen vào làm tổn thương uy đức. Nhưng ngài Ngộ Đạt có công đức quá khứ giữ gìn, nên oan hồn Triệu Thố không xâm nhập vào trong tư tưởng để gây thành đồng cốt điên loạn, chỉ biểu lộ nơi cơ thể, dưới đầu gối làm thành mụn ghẻ đau đớn mà thôi. Có những người thiếu công đức quá khứ, chê bai thánh hiền, đã từng dùng bùa chú hại người, đời này những oan trái xưa trổ quả thường báo ứng vào tư tưởng để sai sử làm thác loạn, mê mờ. Tôn giả Ca-nhã-ca thấy trước cái lúc vinh quang trong đời Ngộ Đạt

[4:22]và biết cơ hội cho nghiệp cũ sẽ đến, nên đã ân cần dặn dò mọi điều.

[4:28]Khi nạn xảy ra, Ngộ Đạt tìm đến nơi hẹn ước thì trông thấy cảnh chùa viện nguy nga, lầu vàng điện ngọc, ánh sáng chói lọi giao xen rực rỡ. Sáng hôm sau, khi bệnh được chữa xong thì tất cả biến mất, chỉ còn lại núi rừng tĩnh mịch hoang vu như thuở nào. Do công đức vĩ đại từ nhiều kiếp, một vị Bồ-tát được tùy nguyện tạo thành những Tịnh độ theo ý muốn để giáo hóa chúng sinh. Tôn giả Ca-nhã-ca đã thị hiện một chút Tịnh độ của mình qua một đêm làm chỗ trú ngụ cho Ngộ Đạt, và cũng để an ủi, gây thêm niềm tin, sức mạnh cho ngài. Khi công việc đã xong, tôn giả thu hồi thần lực, trả lại núi rừng cảnh cũ người xưa.

[5:15]Tịnh độ không phải là cứu cánh của chư Phật. Nó chỉ là huyễn cảnh được dựng nên tạm thời để giáo hóa chúng sinh. Cứu cánh mà chư Phật, chư Bồ-tát nhắm đến là làm sao cho chúng sinh thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát. Còn Tịnh độ chỉ là việc bên ngoài không chân thật. Nếu chúng sinh ngay nơi tự tâm được thanh tịnh giải thoát thì Tịnh độ là thừa. 3.

[6:14]Nhẫn nhục. Chuyện về vị tiên nhân và Ca Lợi Vương chúng tôi đã có dịp đề cập trong tập bút Cuối Hàng Dưa, ở đây xin phép được lặp lại. Thuở xưa có một vị tiên nhân tu tập thiền định trong rừng vắng. Một hôm vua Ca Lợi, tức Ca-li, dẫn cung phi đi vào rừng dạo chơi. Đoàn người đông đảo chia nhau tản mát khắp nơi. Có một số cung nữ vào sâu gặp vị tiên nhân đang tọa thiền trên bệ đá dưới hàng cây. Họ sinh lòng cung kính, liền đem hoa quả dâng cúng và ngồi quanh thưa hỏi. Vị tiên nhân vì họ thuyết pháp. Chợt vua Ca Lợi xuất hiện, trông thấy cảnh tượng một gã đàn ông ngồi giữa đám cung phi xinh đẹp của mình, bất giác sinh lòng tức giận, đến hỏi:

[7:06]"Ngươi ở trong rừng này làm gì?" Vị tiên nhân thưa: "Thưa, tôi tu hạnh nhẫn nhục."

[7:16]"Ngươi đã nhẫn nhục được chưa?" "Đã nhẫn nhục được." Vua liền lấy gươm cắt đứt cánh tay của vị tiên rồi hỏi: "Ngươi nhẫn nhục được chăng?" "Tôi nhẫn nhục được." Vua lại lấy gươm chặt đứt cánh tay còn lại và hỏi: "Ngươi nhẫn nhục được chăng?" "Tôi nhẫn nhục được." Đến đây, vua Ca Lợi kinh hoảng trước thái độ hiền lành bất động của tiên nhân, quăng gươm xuống cầu xin sám hối. Tiên nhân bảo: "Đại vương, tôi không hề oán hận đại vương, vẫn thương yêu đại vương như tôi vẫn thương yêu tất cả chúng sinh khác. Tôi nguyện đến khi thành Phật sẽ độ đại vương trước hết." Vua Ca Lợi chính là tiền thân của tôn giả Kiều Trần Như,

[8:13]vị đệ tử đầu tiên chứng A-la-hán của Đức Phật. Nhận xét: Nhẫn nhục là một trong những công hạnh nổi bật của Bồ-tát. Dĩ nhiên, sự nhẫn nhục của Bồ-tát khác người phàm phu với những đè nén, ức chế. Bồ-tát nhẫn nhục bằng định lực sâu xa của mình. Không một sự oán hận nào có thể khởi lên trong tâm thể thênh thang của Bồ-tát. Từ nhiều kiếp si mê chưa thông đạt Chánh pháp, Bồ-tát vẫn đã từng gây oan trái với chúng sinh. Rồi đến khi đạt đạo giải thoát, nếu Bồ-tát an trụ Niết-bàn thì oan trái ngày xưa không ảnh hưởng tới được. Nhưng vì đại bi tâm thúc đẩy, Bồ-tát, tức là vị A-la-hán đủ tam minh, không bao giờ rời bỏ chúng sinh.

[9:03]Trong Niết-bàn tịch tĩnh, Bồ-tát biết rõ tình trạng của chúng sinh, của thế gian, của Phật pháp. Khi thấy cần trở lại giáo hóa, Bồ-tát lập tức thọ thân sinh tử vào nơi thích hợp. Một khi đã thọ thân sinh tử thì oan trái xưa phải gặp lại. Bồ-tát sẽ nhẫn nhục để trả xong những tiền khiên túc trái và luôn tiện kết duyên giáo hóa cho kẻ thù. Thù hận cũng không cố định. Chưa trả được hận thù thì chúng sinh tức giận, căm hờn. Khi trả xong rồi thì có khi khởi lòng thương hại. Vua Ca Lợi cũng vậy, chưa trả được mối thù trước thì hậm hực dữ dằn, sau khi trả thù xong thì hối hận, sợ hãi. Thái độ nhẫn nhục hiền lành của Bồ-tát tiên nhân

[9:52]làm tăng nỗi hối hận của vua thêm bội phần. Nỗi hối hận đó giúp cho Bồ-tát dễ dàng kết duyên giáo hóa về sau. Có lẽ những đời kiếp tiếp theo, vua Ca Lợi đã được Bồ-tát nhiếp hóa mãi, để rồi vua trở thành tôn giả Kiều Trần Như, vị đệ tử chứng ngộ đầu tiên của Đức Phật như lời Phật đã hứa. Nhưng sức nhẫn nhục của Bồ-tát không phải chỉ dùng để trả nghiệp xưa, mà còn để quá độ chúng sinh. Bồ-tát muốn đem từ bi bủa khắp chúng sinh thì cần phải có sức nhẫn nhục vô biên, vì chúng sinh vốn can cường khó bảo. Dù có giúp họ 100 lần, chỉ cần một lần trái ý họ là họ liền quên hết ơn xưa và tỏ thái độ thù oán.

[10:40]Thiếu kiên nhẫn, Bồ-tát không thể viên mãn sự nghiệp độ sinh.

[10:46]Chư Tổ đã biểu tượng ý nghĩa này khi vẽ hình tượng Bồ Tát Quan Âm dùng cành dương mềm mại tượng trưng hạnh nhẫn nhục để rưới nước cam lồ tượng trưng hạnh từ bi. Phải có nhẫn nhục mới tỏ được từ bi. Kết duyên giáo hóa chúng sinh không phải là chuyện trong một đời hai đời. Bồ Tát phải kiên nhẫn đi theo họ mãi từ đời kiếp này sang đời kiếp khác. Họ đọa làm thân thú thì Bồ Tát thọ thân thú. Họ sinh làm người thì Bồ Tát thọ thân người. Họ sinh cõi trời thì Bồ Tát hiện thân thiên chủ. Nhưng trong mỗi thân đến với họ, Bồ Tát luôn luôn ở một địa vị cao quý khiến họ phải kính phục vâng lời. Dĩ nhiên không phải luôn luôn như vậy.

[11:35]Sức kiên nhẫn của Bồ Tát đi theo chúng sinh để giáo hóa thật là không bờ không bến. Bốn: Tự trang nghiêm bằng công đức. Trích phẩm Phổ Hiền, kinh Hoa Nghiêm: "Nếu ai muốn thành tựu công đức vô tận như thế, cần phải tu theo mười hạnh nguyện rộng lớn sau đây: Một là lễ kính chư Phật. Hai là xưng tán Như Lai. Ba là quảng tu cúng dường. Bốn là sám hối nghiệp chướng. Năm là tùy hỷ công đức. Sáu là thỉnh chuyển pháp luân. Bảy là thỉnh Phật trụ thế. Tám là thường tùy Phật học. Chín là hằng thuận chúng sinh. Mười là phổ giai hồi hướng." Nhận xét: Bồ Tát là những bậc thấu rõ đường đi của nhân quả nghiệp báo hơn ai hết.

[12:41]Các ngài biết gây tạo vô lượng thiện nghiệp để tập hội về công đức vĩ đại cho tự thân. Khác với chúng sinh phàm phu chỉ đi tìm hạnh phúc cho riêng mình, Bồ Tát tích lũy công đức để đủ uy lực giáo hóa chúng sinh. Không còn ngã chấp vị kỷ, mọi công hạnh của Bồ Tát đều hướng về sự nghiệp lợi ích chúng sinh. Phẩm Phổ Hiền đưa ra mười phương pháp tiêu chuẩn để một Bồ Tát thực hành hầu tích lũy vô lượng công đức. Thứ nhất: Lễ kính chư Phật. Trong nhân quả xuất thế gian, chúng ta đã xem công đức lễ kính bậc giác ngộ là cái mầm đầu tiên giúp một người đi dần đến với sự giác ngộ của chính mình. Nhưng trong nhân quả Bồ Tát đạo,

[13:26]Bồ Tát lễ kính chư Phật để thành tựu quả báo khả kính cho mình. Khi thành tựu sự khả kính này, Bồ Tát xuất hiện giữa thế gian rực rỡ như ánh mặt trời sáng chói khiến chúng sinh trông thấy đều sinh tâm kính ngưỡng thiết tha. Và khi tâm kính ngưỡng đã phát khởi rồi, họ sẽ dễ dàng tiếp nhận sự dạy bảo của Bồ Tát. Thế nên muốn nhiếp hóa chúng sinh, Bồ Tát phải thành tựu sự khả kính bằng công đức lễ kính chư Phật. Thứ hai: Xưng tán Như Lai. Như biển cả âm vang dào dạt sóng, rất nhiệm mầu con khởi những ngôn từ. Từ nghìn xưa và mãi đến nghìn sau, ngợi ca Phật biển muôn trùng công đức.

[14:20]Cũng như hạnh lễ kính đã đưa đến niềm quý kính của chúng sinh, hạnh xưng tán Như Lai khiến cho Bồ Tát thị hiện ở đời không bị chúng sinh chê bai gièm nghẽ. Không gì nguy hiểm cho họ hơn sự chê bai nhằm một vị Bồ Tát và cũng không gì lợi lạc cho họ hơn sự khen ngợi đúng bậc siêu phàm. Để tránh cho chúng sinh tội lỗi hủy báng thánh hiền và cũng để gợi cho chúng sinh công đức tán dương bậc thánh, Bồ Tát phải thành tựu cho mình quả báo đáng được khen ngợi. Bồ Tát thành tựu công đức như thế sẽ dễ dàng giáo hóa chúng sinh mà ít bị công kích tị hiềm. Thứ ba: Quảng tu cúng dường. Muốn gieo duyên lành với chúng sinh, Bồ Tát thường dùng hạnh bố thí tài vật.

[15:07]Chúng sinh luôn luôn trở nên nhu thuận vâng phục với một người đã ban ơn cho họ mà bố thí tài vật là hình thức ban ơn cụ thể nhất. Thế nên, Bồ Tát phải thành tựu tài sản lớn lao mới có thể thực hiện công hạnh rộng rãi này. Để thành tựu tài sản đó, Bồ Tát đã phải cúng dường lên chư Phật một cách trọn vẹn, chân thành và vĩ đại. Tuy nhiên, phẩm Phổ Hiền đã thăng hoa ý nghĩa cúng dường trở nên cao cả hơn như sau:

[15:37]Thiện nam tử, trong các cách cúng dường thì pháp cúng dường là tuyệt vời hơn cả. Đó là tu hành theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sinh để cúng dường, chấp nhận giữ gìn chúng sinh để cúng dường, chịu khổ thay cho chúng sinh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không bỏ hạnh Bồ Tát để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ đề để cúng dường. Thứ tư:

[16:16]Sám hối nghiệp chướng. Thật ra công đức của một vị đại Bồ Tát như biển lớn mà nghiệp chướng từ lâu chỉ như nắm muối nhỏ. Nên ra hạnh sám hối này, phẩm Phổ Hiền muốn làm gương cho chúng sinh hơn là dành cho bậc giác ngộ. Có thể một vị Bồ Tát có những ác duyên với vài chúng sinh khác khiến cho sau này gặp lại họ sẽ có thái độ chống đối. Nhưng sức nhẫn nhục và lòng từ ái của Bồ Tát sẽ dần dần cảm hóa tất cả. Thứ năm: Tùy hỷ công đức. Một vị Bồ Tát thì vĩnh viễn không còn đố kỵ với bất cứ ai nữa. Tâm tùy hỷ sẽ hiện hữu tự nhiên không cần cố gắng. Quả báo của công đức tùy hỷ này khiến cho Bồ Tát ít bị tị hiềm

[17:02]ganh ghét, nghĩa là bớt đi sự sa đọa cho chúng sinh. Thứ sáu: Thỉnh chuyển pháp luân. Khi Đức Thế Tôn vừa thành Chánh Đẳng Giác, tâm ngài hướng về thụ động, kinh Nikaya, thì có trời Phạm Thiên hiện thân thỉnh ngài tuyên giảng Chánh pháp cho tất cả chúng sinh. Đức Phật chấp nhận lời thỉnh cầu này và bắt đầu sự nghiệp giáo hóa vĩ đại của một đức Như Lai. Công đức của vị Phạm Thiên kia khó có thể nói cho cùng tận. Đôi khi Bồ Tát thị hiện ở những cương vị không thể trực tiếp thuyết pháp cho chúng sinh, nhưng luôn luôn khéo thỉnh pháp từ những pháp sư xứng đáng khiến cho mọi người được nghe những giáo lý quý giá.

[17:47]Quả báo trở lại cho Bồ Tát là trí tuệ thêm vi diệu và được nhiều cơ hội giáo hóa chúng sinh. Thứ bảy: Thỉnh Phật trụ thế. Bồ Tát thỉnh Phật trụ thế lâu dài để cho chúng sinh được nhiều lợi lạc và cũng để kết thành thọ mạng lâu dài cho chính mình ở Phật quả mai sau. Thứ tám: Thường tùy Phật học. Bản thể giải thoát của một vị A La Hán, Bồ Tát thì không khác với Phật, nhưng trí tuệ thần lực thì kém xa. Chính vì trí tuệ chưa bằng Phật nên phương tiện giáo hóa chúng sinh của Bồ Tát không toàn bị như Đức Phật. Ví dụ cùng tốt nghiệp bằng bác sĩ y khoa, nhưng một bác sĩ mới ra trường và một bác sĩ lão thành vẫn

[18:34]có trình độ chữa bệnh khác nhau, mặc dù kiến thức cơ bản thì không khác. Bồ Tát cũng vậy, cần phải tham khảo nhiều nơi phương tiện giáo hóa của Đức Phật. Chúng ta cũng dễ thấy điều này xuyên qua lịch sử của Phật giáo. Thứ chín: Hằng thuận chúng sinh. Hằng thuận chúng sinh có nghĩa là phụng sự chúng sinh. Hạnh nguyện này khiến cho chúng ta nhớ đến lời kinh cầu của thánh Francisco: "Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người." Và phẩm Phổ Hiền giải thích: "Đối với tất cả chúng sinh như thế, ta đều dâng đến mọi điều hầu hạ, mọi thứ cúng dường như ta đã kính trọng cha mẹ ta, như ta đã tôn thờ sư trưởng ta,

[19:25]như ta đã phụng sự các bậc A La Hán, các đấng Như Lai không hề khác biệt. Với người bệnh khổ, ta sẽ là lương y. Với người lạc lối, ta sẽ chỉ đường về. Với người trong đêm, ta sẽ làm ánh sáng. Với người nghèo khó, ta giúp được kho tàng." Hạnh nguyện thứ chín này là hạnh nguyện cần thiết nhất để Bồ Tát có thể kết duyên giáo hóa tất cả chúng sinh và thành tựu công đức cho chính mình. Thứ mười: Phổ giai hồi hướng. Ngã chấp đã tan biến, nơi bản thể bình đẳng không còn phân biệt, một là tất cả, tất cả là một. Bồ Tát không còn thấy những công đức như thế chỉ thuộc về riêng mình, mà thuộc về tất cả chúng sinh.

[20:19]Công hạnh phổ giai hồi hướng này tự nhiên thành tựu viên mãn. Bồ Tát luôn luôn tích lũy công đức để trang nghiêm tự thân, mà sự trang nghiêm tự thân này chỉ vì sự nghiệp cứu giúp chúng sinh trong các cõi. 5. Nghịch hạnh. Trong suốt những bài kinh Bổn sinh, Devadatta luôn luôn xuất hiện như một chướng ngại quấy phá Bồ Tát. Đến khi Bồ Tát ra đời thành tựu đạo quả vô thượng, Devadatta vẫn còn đeo đuổi để gây trở ngại cho Ngài. Devadatta đã chia rẽ, lôi kéo tăng chúng về phe với mình, đã cấu kết với vua Ajātasattu thả voi say toan giẫm đạp Đức Phật, đã xô đá từ núi cao làm thân Phật chảy máu. Cuối cùng, trong hiện đời, Devadatta bị đọa vào địa ngục A Tỳ.

[21:14]Nhưng kỳ lạ thay, về sau kinh Pháp Hoa đã ca ngợi Devadatta hết lời và còn thọ ký cho Devadatta sẽ thành Phật hiệu Thiên Vương Như Lai.

[21:28]Cho đến hôm nay thì ai ai cũng đã rõ rằng tất cả kinh Đại thừa không phải do chính Đức Phật thuyết khi còn tại thế. Có những vị tổ vô danh nào đó đã âm thầm biên soạn và đưa vào kinh tạng dần dần. Kinh Đại Bát Nhã 600 quyển xuất hiện sớm nhất vào khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt. Đa phần các kinh còn lại xuất hiện vào thời ngài Long Thọ. Các kinh Mật tông xuất hiện trễ nhất. Cũng có vài bản kinh xuất hiện ở Trung Hoa mà trong tạng Phạn ngữ không có như Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, Tam Thế Nhân Quả Kinh. Tuy nhiên không phải vì kinh Đại thừa không được chính Đức Phật tuyên thuyết mà chúng ta phủ nhận giá trị của nó.

[22:15]Kinh Đại thừa có một giá trị lớn trong nền văn học của Phật giáo. Chúng ta sẽ bàn kỹ với nhau về ý nghĩa và vai trò của kinh Đại thừa trong một chuyên đề khác sau này. Ta sẽ thấy rằng kinh Nguyên thủy là cội nguồn vững chắc mà kinh Đại thừa là sự trình bày một cách hiểu về kinh Nguyên thủy. Hoàn toàn không có hai Phật giáo riêng rẽ. Ở đây, kinh Pháp Hoa đã nêu ra mật hạnh của Bồ Tát Devadatta. Đúng vậy, chỉ cần vài đời quấy phá Bồ Tát thiện tuệ, một kẻ phàm phu sẽ đọa vào ác đạo khó có ngày ra khỏi. Nhưng Devadatta có những nguồn phước vô hạn nào đó khiến ông đủ sức đeo đuổi Đức Phật từ đời này sang đời

[23:01]khác và luôn luôn ở vào một vị trí tương đương với Phật. Bồ Tát sinh làm người thì ông cũng sinh làm người. Bồ Tát sinh làm thú thì ông cũng sinh làm thú. Bồ Tát sinh vào địa vị vua chúa thì ông cũng sinh vào địa vị vua chúa. Trong đời sống cuối cùng, Bồ Tát sinh vào cung thành Kapilavastu với 32 tướng tốt, Devadatta cũng sinh vào đấy làm anh em chú bác với Thái tử và cũng có một dung nghi đẹp đẽ vô cùng dù không bằng Phật. Devadatta đã trợ duyên cho Đức Phật từ vô lượng kiếp không phải bằng sự cung kính thừa sự, sự tán dương tôn vinh nhưng bằng sự chống đối quấy rầy, sự mưu hại ác độc. Một Đức Phật vượt hơn một vị A La Hán về phương diện hùng lực và trí tuệ.

[23:55]Khi một vị A La Hán đi vào sinh tử để hành Bồ Tát đạo thì những sự chướng ngại chống đối là điều kiện cần thiết để các ngài tăng trưởng đại hùng đại lực và viên mãn công đức nhẫn nhục Ba La Mật.

[24:10]Devadatta đã can đảm chấp nhận tổn phước để gây chướng ngại cho Bồ Tát, giúp Bồ Tát vượt lên trên phương diện hùng lực này. Đến khi Đức Phật thành tựu Phật quả thì nghịch hạnh của Devadatta có công năng làm tăng thêm giá trị cho nhân cách siêu phàm của Phật. Đối với những vị A La Hán còn phải tu tập, nếu thiếu những trở ngại trên đường tu họ sẽ tắt bớt ý chí. Đây là một quy luật khách quan. Chính vì muốn giúp cho một hành giả tăng trưởng ý chí nên những bậc Đại Bồ Tát luôn luôn tìm cách gây ra những trở ngại cho họ. Đối diện với những trở ngại, hành giả được khơi dậy sức tinh tiến mạnh mẽ hơn và Bồ Tát cũng biết khi nào phải tạm dừng nghịch hạnh

[24:52]để cho hành giả thuận tiện tiến nhanh trên đường tu tập. Muốn thị hiện nghịch hạnh, Bồ Tát phải đủ hai điều kiện: biết khả năng chịu đựng của hành giả đến mức độ nào và chính mình có nguồn phước vô hạn để hóa giải quả báo do nghịch hạnh gây ra.

[25:11]Dù nghịch hạnh đó xuất phát từ một tâm đại bi nhưng trên hiện tướng nó vẫn có quả báo tương ứng. Bậc nghịch hạnh Bồ Tát có phước rất lớn, có khi đang thị hiện nghịch hạnh với người này nhưng Bồ Tát vẫn đang dùng thuận hạnh với những chúng sinh khác để phước không bị vơi. Có những giai đoạn Phật giáo được xem là cực thịnh tại các quốc gia như Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, Miến Điện, Campuchia. Khi Phật giáo được tôn trọng quá sức thì bắt đầu xuất hiện tệ kiêu căng. Sẽ có những kẻ xuất gia không cầu giải thoát mà chỉ cầu lợi dưỡng, danh văn. Khi chí nguyện giải thoát vắng bóng thì tâm tham dục không bị đoạn trừ.

[25:55]Khi tâm tham dục không bị đoạn trừ thì những lỗi lầm về giới luật có mặt dù lộ liễu hay kín đáo. Lúc đó sẽ có những Đại Bồ Tát thị hiện vào ngôi quốc vương, đại thần thẳng tay ra lệnh đàn áp, tiêu diệt Phật giáo. Chùa bị đập phá, tăng bị cởi y, kinh sách bị đốt. Những kẻ ngụy tâm xuất gia sẽ lẹ làng giã biệt Phật pháp. Đến khi nghịch hạnh tạm đủ, vị vua liền hiện tướng bệnh hoạn rồi mất để lại trách nhiệm khôi phục cho những vị chân tu về sau. Bù đắp cho một nghịch hạnh kinh khủng này, Bồ Tát phải tích lũy vô vàn công đức nơi khác.

[26:35]Tuy nhiên bạn đừng tưởng rằng mọi việc đập phá đều là tác phẩm của Bồ Tát. Bồ Tát đập phá để xây dựng, còn ma vương đập phá để hủy diệt. Nếu Bồ Tát thị hiện thuận hạnh thì mới dùng đến hình tướng tỳ kheo, nếu dùng nghịch hạnh ác độc, ngang tàng thì Bồ Tát không bao giờ dùng đến hình tướng tỳ kheo. 6. Các vị Bồ Tát trong kinh Đại thừa. Lẽ ra chúng tôi dành đề tài này cho luận bản Nguyên Thủy và Đại Thừa nhưng ở đây đang bàn về nhân quả Bồ Tát đạo, nếu không nêu rõ vai trò của đại Bồ Tát quen thuộc như Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền thì không giải quyết được các nghi vấn hiện nay. Chúng tôi đặt vấn đề này như muốn để hóa giải những thiên kiến

[27:19]của những vị học giả Nguyên Thủy và học giả Đại Thừa. Chúng tôi muốn nhấn mạnh từ ngữ học giả để xác nhận rằng chỉ có những bậc hành giả chứng ngộ mới hiểu đúng giáo lý của Đức Phật. Những vị học giả Nguyên Thủy cực lực phủ nhận các đại Bồ Tát như Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền, Đại Thế Chí vì các vị này không được đề cập tới trong kinh tạng Nguyên Thủy. Còn những vị học giả Đại Thừa thì một bề công kích quả vị A La Hán là tiêu nha bại chủng, trầm không trệ tịch và thụ động tiêu cực không thể đi đến Phật quả. Những thiên kiến của cả hai bên như thế đều hết sức sai lầm và tai hại, đưa Phật giáo thành hai mối riêng biệt khó có thể hàn gắn lại được.

[28:04]Trước hết, chúng ta nói đến thiên kiến sai lầm của Đại thừa. Quả vị A La Hán được Đức Phật xác nhận là vô minh đã hết, lậu hoặc đã sạch. Nếu người nào nghe như vậy liền hiểu rằng hết vô minh chỉ là hết vô minh, không còn có gì nữa phải biết người như vậy chưa chứng ngộ đã đành mà còn kém cỏi về lý luận triết học. Khi bóng đêm đã qua nghĩa là ánh sáng đã trùng chiếu. Khi vô minh đã hết có nghĩa là trí tuệ đã viên mãn. Thế nên ở một số trường hợp chứng A La Hán khác, Đức Phật gọi là khởi lên thắng trí hoặc gọi là minh đã sanh. Như vậy dù nói là hết vô minh hay nói là đủ trí tuệ cũng chỉ là hai cách nói của

[28:49]một vấn đề duy nhất như lưng và lòng của một bàn tay không thể tách rời.

[28:56]Tâm ta nay sáng chói hơn ngàn ánh mặt trời. (Tiểu Bộ Kinh) Ai bảo rằng quả vị A La Hán là trầm không trệ tịch, kẻ đó đã hiểu lầm quá đáng. Tôn giả Cūḷapanthaka vừa mới chứng A La Hán xong liền lập tức có thể hóa hiện thành một ngàn thân khác nhau đầy cả vườn xoài. Diệu dụng vĩ đại như thế không thể xuất phát từ một nội tâm trầm trệ được mà phải xuất phát từ một nội tâm chân không diệu hữu cùng cực phi thường. Các thiền sư tự nhận ngộ được Phật tánh diệu hữu tối thượng thừa, thật ra vẫn chưa đủ năng lực để thể hiện chỗ diệu hữu siêu việt như các vị A La Hán. Lại nữa, quả vị A La Hán được Phật ứng chứng là vô ngã hoàn toàn,

[29:44]trong khi các vị Đại thừa đả kích A La Hán tuy không còn chấp ngã nhưng vẫn còn chấp pháp, chưa thành tựu đại bi tâm. Lời đả kích như thế chỉ xuất phát từ một tâm hồn thiếu bao dung, chưa chứng ngộ và kém lý luận. Ngã và pháp là hai sự kiện đối lập với nhau, cái này lập nên cái kia lập. Ngã đã hết thì pháp cũng không. Chỉ cần nói hết chấp ngã tức là đã ngầm nói hết chấp pháp. Ai hiểu rằng vô ngã chỉ là vô ngã mà pháp vẫn còn, kẻ đó cần được chỉnh đốn lại kiến giải. Vô ngã cũng có nghĩa là không còn vị kỷ, mà không còn vị kỷ tức là tâm vị tha đã tràn đầy. Chỉ cần nói không vị kỷ, chúng ta phải hiểu là vị tha trọn vẹn.

[30:33]Chỉ cần nói vô ngã, chúng ta phải hiểu là đại bi vô biên. Như vậy nói vô ngã hay nói đại bi cũng chỉ là hai cách nói khác nhau của một vấn đề duy nhất như lưng và lòng của một bàn tay không thể tách rời. Trong kinh Nguyên thủy, Đức Phật nói rằng vị A La Hán nhập Niết bàn không còn trở lui lại trong trạng thái này nữa. Các vị học giả Đại thừa, có lẽ cả Nguyên thủy, liền hiểu rằng Niết bàn như là một cảnh giới tù túng mới giam chặt vị A La Hán ấy trong hư vô buồn tẻ không còn hay biết gì nữa. Hiểu như vậy thật là đáng thương.

[31:12]Niết bàn là giải thoát, không phải là ràng buộc. Niết bàn là có năng lực làm chủ, không phải không có năng lực làm chủ. Niết bàn là trí tuệ sáng suốt, không phải là hư vô mờ mịt. Niết bàn là đại bi, không phải là vị kỷ.

[31:35]Một vị ở trong Niết bàn vẫn biết rõ tình trạng của Phật pháp, của thế gian, và khi cần phải độ thì lập tức trở lại liền. Thầy Chân Như. Phật không muốn tiết lộ công hạnh Bồ tát của một vị A-la-hán, ngại chúng sinh nghe rồi tô điểm, tưởng tượng, chỉ để cho ai đến rồi sẽ tự biết. Công hạnh Bồ tát chỉ là giai đoạn phía sau của một vị A-la-hán, từ lâu vẫn được giấu kín. Mãi đến mấy trăm năm sau Phật nhập diệt, kinh Đại thừa lần lượt xuất hiện thì công hạnh Bồ tát mới được tiết lộ đủ điều. Trên bản thể giải thoát, thì A-la-hán và Phật hoàn toàn đồng nhau với tam minh lục thông, còn sự sai biệt sẽ được đề cập ở mục kế tiếp.

[32:19]Chúng ta trách các học giả Đại thừa hiểu không trọn vẹn lời dạy của Đức Phật thời nguyên thủy, để rồi chê bai, chỉ trích đủ cách và vô tình chê bai luôn những vị Bồ tát của mình đang tôn thờ, vì các vị Bồ tát ấy không ai khác hơn, chính là những đại đệ tử A-la-hán thời Đức Phật. Chúng ta cũng trách các nhà học giả nguyên thủy không thấy công hạnh Bồ tát của một vị A-la-hán, nên đã vội vàng phủ nhận sự có mặt của các Bồ tát trong kinh điển Đại thừa. Họ đã bị danh từ che đậy để không thấy được thực chất giấu đằng sau những danh từ ấy. Có một câu hỏi: "Không tham lam nghĩa là gì?", một người đáp lập tức:

[33:01]"Là không xâm phạm đến tài vật của người khác.", một người trầm ngâm giây lâu rồi đáp: "Là rộng rãi bố thí.". Cũng một câu nói ban đầu: "Không tham lam", nhưng người hiểu cạn, người hiểu sâu. Cũng vậy, không khéo các học giả của cả nguyên thủy và Đại thừa hiểu lời dạy của Đức Phật mới được phân nửa, rồi sinh nhiều thành kiến. Giáo lý nguyên thủy là cội gốc. Tiểu thừa và Đại thừa là hai cách hiểu về giáo lý nguyên thủy. Chúng ta phải công nhận rằng Đại thừa hiểu giáo lý nguyên thủy sâu sắc hơn Tiểu thừa. Tiểu thừa hiểu giáo lý nguyên thủy mới được phân nửa. Thời đại hôm nay, các bộ phái Tiểu thừa đã vắng bóng,

[33:44]chỉ còn lại phái Theravada đại diện cho những người trung thành với giáo lý nguyên thủy, và phái Đại thừa đại diện cho những người ủng hộ giáo lý phát triển. Nhưng chúng ta đang e ngại một điều là nếu không khéo, hoặc chúng ta sẽ hiểu giáo lý nguyên thủy thành Tiểu thừa, hoặc hiểu giáo lý Đại thừa thành ngoại đạo. Nếu không hiểu công hạnh Bồ tát của một vị A-la-hán, chúng ta đã hiểu A-la-hán theo Tiểu thừa. Nếu trông đợi một sự cứu rỗi từ quyền năng của một Đức Phật, chúng ta đã hiểu đạo Phật thành ngoại đạo. Chúng ta nêu mục này ra để nói rằng, sự hiện diện của các vị Bồ tát trong kinh Đại thừa như Quán Thế Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc không phải là vô lý.

[34:32]Đôi khi các ngài bộc lộ thân phận như Bố Đại Hòa thượng, Hàn Sơn, Thập Đắc, hoặc giấu giếm thân phận như bà lão bán bánh ở Đức Sơn, ông già ở Ngũ Đài Sơn (xem Thiền sư Trung Hoa, Hòa thượng Thích Thanh Từ).

[34:49]Và Bồ tát có nghĩa là hạnh của một vị A-la-hán mà thôi. Đứng trên khía cạnh giải thoát thì gọi là A-la-hán, đứng trên khía cạnh lợi ích chúng sinh thì gọi là Bồ tát. Dù nói A-la-hán hay Bồ tát thì đó cũng chỉ là hai khía cạnh của một vấn đề duy nhất, như lưng và lòng của một bàn tay không thể tách rời. 7. Phật quả. Khi một vị A-la-hán đã viên mãn Bồ tát đạo rồi thì thành tựu Phật quả. Vị này hiện thân tối hậu, xuất gia, tọa thiền, thành đạo, thuyết pháp và nhập diệt. Ở địa vị A-la-hán ban đầu, vị này không bị nghiệp lôi kéo trở lại tam giới, nhưng họ sẽ theo nguyện lực đại bi mà đi vào tam giới làm lợi ích chúng sinh.

[35:38]Còn một vị Phật đã nhập Niết bàn rồi, thì vĩnh viễn không trở lại theo nghiệp hay nguyện nữa, chỉ ở yên trong Niết bàn trợ duyên cho các Bồ tát khác làm Phật sự mà thôi. Nơi bản thể giải thoát, một vị A-la-hán bình đẳng với Đức Phật như tam minh lục thông. Nhưng Đức Phật có công đức vĩ đại từ vô lượng kiếp giáo hóa chúng sinh, nên sai khác với vị sơ địa A-la-hán trên những phương diện: trí tuệ, hùng lực, thần lực, uy đức, dung mạo.

[36:13]Trí tuệ của Phật vượt xa một vị sơ địa A-la-hán. Phật thấu rõ mọi nguyên lý vận hành của vũ trụ, thấu rõ căn cơ sai biệt của chúng sinh, khéo khởi những phương tiện giáo hóa được lợi ích tối đa mà tai hại tối thiểu. Một Thiền sư, đôi khi nói một lời làm lợi ích cho người trước mặt, nhưng để lại tai hại cho người sau. Còn Đức Phật có những giáo pháp ích lợi cho người trước mặt, mà vẫn ích lợi cho người về sau. Một vị A-la-hán không thể biết được hành trạng của Đức Phật quá khứ, nhưng Đức Phật thì biết rõ điều đó. Đức Phật Thích Ca có thể biết cả trong quá khứ khi Tôn giả Culapanthaka đang làm vua,

[36:55]đã khởi niệm nhận thức lý vô thường, để dạy Cula một pháp môn tu hành thích hợp. Điều này, các vị A-la-hán khác không tìm thấy. Phân tích chỗ vi diệu của Phật trí thì suốt đời không thể hết. Bốn mươi chín năm, hoặc bốn mươi lăm năm giáo hóa của Phật đã chứng tỏ một trí tuệ phi thường mà mọi tính từ (adjective) của ngôn ngữ thế gian không đủ để diễn tả trọn vẹn.

[37:25]Abhibhu. Tăng Chi Bộ kinh 1, trang 259. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn: "Con đã từng được nghe Thế Tôn nói rằng Abhibhu, đệ tử Đức Phật Sikhī, đứng ở Phạm thiên giới có thể làm cho ngàn thế giới nghe tiếng của mình. Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, có thể làm cho tiếng nghe xa như thế nào?".

[38:01]"Nó chỉ là một đệ tử, này Ananda, còn các Như Lai là vô lượng.".

[38:10]Tôn giả Ananda ba lần muốn tìm hiểu về thần lực của Phật, Đức Phật bèn hỏi: "Này Ananda, ngươi có được nghe nói đến Tiểu thiên thế giới không?".

[38:25]"Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn, nay đã đến thời, bạch Thiện Thệ, để Thế Tôn nói về vấn đề này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.". "Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.". "Thưa vâng, bạch Thế Tôn.". "Xa cho đến mặt trăng, mặt trời chạy trong quỹ đạo của chúng ta và chói sáng khắp bốn phương với ánh sáng của chúng. Xa như vậy là một ngàn thế giới. Trong ấy có một ngàn mặt trăng, một ngàn mặt trời, một ngàn núi Sineru (Tu-di), một ngàn Jambudīpa (Diêm-phù-đề), một ngàn Aparagoyāna (Tây Ngưu Hóa châu), một ngàn Uttarakuru (Bắc Câu Lô châu), một ngàn Pubbavideha (Đông Thắng Thần châu), bốn ngàn biển lớn,

[39:39]bốn ngàn đại dương, một ngàn cõi Trời Tứ Thiên Vương, một ngàn cõi Trời Ba Mươi Ba, một ngàn Dạ Ma thiên, một ngàn Tusita (Đâu Suất), một ngàn Hóa Lạc thiên, một ngàn Tha Hóa Tự Tại thiên, một ngàn Phạm thiên.

[40:04]Này Ananda, đây gọi là một Tiểu thiên thế giới. Này Ananda, cho đến một ngàn lần Tiểu thiên thế giới được gọi là hai Trung thiên thế giới. Cho đến một ngàn Trung thiên thế giới được gọi là ba Đại thiên thế giới. Này Ananda, Như Lai có thể làm cho tiếng mình nghe xa đến ba ngàn Đại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.".

[40:43]"Làm sao, bạch Thế Tôn? Thế Tôn có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba nghìn Đại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn?".

[40:55]Ở đây, này A-nan-đa, Như Lai chiếu ánh sáng cho đến ba ngàn đại thiên thế giới, cho đến khi các chúng sinh nhận thức được ánh sáng ấy. Rồi Thế Tôn phát âm và làm cho tiếng mình được nghe rền vang như sấm lan dập vô tận. Như vậy, này A-nan-đa, Như Lai làm cho tiếng mình được nghe xa cho đến ba ngàn đại thiên thế giới, hay xa hơn nữa nếu muốn. Khi nghe như vậy, tôn giả A-nan-đa nói với tôn giả U-da-di: "Được lợi thay cho tôi, được lợi thay cho tôi, có được bậc Đạo sư có thần lực như vậy, có uy lực như vậy!" Tôn giả U-da-di nói: "Này hiền giả A-nan-đa, ở đây bản thân hiền giả có được gì, nếu bậc Đạo sư của hiền giả có đại thần lực như vậy,

[42:00]có đại uy lực như vậy?" Thế Tôn bảo U-da-di: "Chớ có nói vậy, này U-da-di! Chớ có nói vậy, này U-da-di! Nếu dù rằng A-nan-đa chưa đoạn tận vô minh và mệnh chung, nhưng với tâm tịnh tín của mình về thần lực của Như Lai, A-nan-đa có thể bảy lần ngự trị trên thế giới chư Thiên, có thể bảy lần ngự trị trên cõi Jambudipa này. Nhưng này U-da-di, A-nan-đa ngay trong hiện tại sẽ được Bát-niết-bàn."

[42:50]Đoạn kinh này nói lên sự sai biệt muôn trùng giữa thần lực của một vị A-la-hán và một Đức Phật. Đồng là A-la-hán, mà tôn giả Xá-lợi-phất thì trí tuệ đệ nhất, tôn giả Mục-kiền-liên thì thần thông đệ nhất. Dụng lực khác nhau bởi vì tác nhân khác nhau. Nhiều đời tôn giả Xá-lợi-phất thường dùng trí tuệ làm lợi ích chúng sinh, tôn giả Mục-kiền-liên thường dùng thần thông làm lợi ích chúng sinh, nên quả báo về dụng lực thù thắng khác nhau. Còn một Đức Phật thì viên mãn trên mọi phương tiện hóa độ chúng sinh, nên tất cả dụng lực đều thành tựu vô hạn. Ở thân tối hậu thành Chánh Đẳng Giác, Đức Phật chói ngời uy đức như ngàn ánh mặt trời.

[43:34]Uy đức của Phật vừa thể hiện một cách hữu hình, vừa cảm ứng một cách vô hình. Mỗi ánh mắt, cử chỉ, dáng đi, điệu đứng của Phật đều toát ra vẻ trầm hùng, đường bệ, khiến cho chúng sinh trông thấy đều phát tâm kính mến. Ngoài ra, uy đức vô hình của Đức Phật luôn luôn trùm phủ mọi loài, thẩm thấu trong tâm tư thầm kín của chúng sinh. Uy đức này tồn tại lâu dài, đủ để cho những đệ tử Phật về sau luôn luôn được cúng dường, cung kính, dĩ nhiên kết hợp với công đức riêng của mỗi người. Khi Đức Phật vừa mới đản sinh, Phụ vương Tịnh Phạn, Suddhodana, nhìn thấy dung nghi của Ngài rực rỡ như cả tòa núi châu báu, bất giác không kềm mình được đã cúi xuống lạy Ngài.

[44:24]Một lần Ngài đi ra ngoài chơi, ngồi nghỉ trưa dưới bóng cây trong tư thế kiết già và tâm nhập vào sơ thiền. Mặt trời đã ngả dần về tây, mà nơi chỗ Ngài ngồi bóng râm không xê dịch, như để che mát cho Ngài. Trông thấy cảnh tượng lạ thường đó và hình dáng tọa thiền uy nghi của Ngài, Phụ vương lại sụp xuống lạy Ngài lần nữa. Khi đạo Phật lan sang các quốc gia khác, tùy theo phong tục tập quán của địa phương mà đạo Phật cũng thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh để có thể gần gũi giáo hóa quần chúng. Việc này có hay mà cũng không hay. Sự tùy thuận nhân tình có thể gây được tình cảm với dân bản xứ, nhưng làm loãng mất phong thái siêu thoát của đạo Phật.

[45:10]Những nghi lễ tụng táng rườm rà của tập quán địa phương đã xâm nhập dần dần vào sinh hoạt của đạo Phật, khác với một đạo Phật thuở ban đầu rất đơn sơ, bình dị. Đạo Phật chinh phục quần chúng, nhưng cũng bị tập quán của quần chúng chinh phục trở lại. Sở dĩ như vậy vì người truyền bá giáo pháp không đủ uy đức cuốn hút quần chúng theo mình trọn vẹn, phải tùy thuận tâm tình của họ rồi mới đưa kèm theo Phật pháp. Và như vậy, đạo Phật tại đấy đã pha lẫn nhiều hình thức của ngoại đạo địa phương. Còn Đức Phật với uy đức và trí tuệ trùm phủ, đã giữ vững phong thái độc lập, siêu thoát trước...

[45:53]Người Bà-la-môn đến hỏi Phật: "Thưa tôn giả Gotama, khi một người mệnh chung, các tu sĩ Bà-la-môn lập đàn tế lễ để cầu nguyện cho người chết được sinh về cõi trời. Việc này đúng chăng?" Đức Phật bảo: "Này Bà-la-môn, ví như một hòn đá to quăng xuống hồ nước, và các tu sĩ Bà-la-môn đi quanh bờ hồ đọc kinh cầu nguyện cho hòn đá nổi lên, nhưng hòn đá cũng không thể nào nổi lên được. Cũng vậy, khi một người với ác nghiệp cực trọng mạng chung, dù cho các thầy cúng có tụ hội đọc nhiều kinh cầu nguyện, thì người này vẫn rơi vào đọa xứ. Lại ví như có chiếc ghe chở đầy dầu bị vỡ, dầu nổi lênh láng trên mặt nước, và các thầy cúng đi quanh nguyền

[46:54]rủa cho nó chìm xuống, nhưng dầu kia không thể nào chìm xuống được. Cũng vậy, khi một người với thiện nghiệp thuần thục mạng chung, dù cho các phù thủy đọc lời nguyền rủa, thì người này vẫn sinh về thiên giới."

[47:15]Sau những lời này, người Bà-la-môn tán thán và xin quy y Đức Phật, theo kinh Nikaya. Đức Phật không tùy thuận một chút xíu nào với tập quán đã in sâu vào lòng dân tộc Ấn Độ, vốn đã từng chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo. Ngài giữ vững phong thái độc lập của mình mà vẫn cảm hóa được quần chúng ngoại đạo. Chúng ta ngày nay phải tùy thuận nhân tình mới đưa Phật pháp đến với họ được, thì biết rằng chúng ta kém uy đức và trí tuệ so với Đức Phật và các Tỳ-kheo ngày xưa thời Nguyên thủy. Uy đức rộng lớn của Phật được kết thành bởi công đức làm lợi ích chúng sinh trong vô lượng kiếp. Công đức vô hạn của Đức Phật cũng đưa đến một dung nghi tuyệt diệu nơi Đức Phật

[48:00]mà các kinh thường diễn tả bằng ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.

[48:07]Đức Phật ngồi lặng lẽ mà uy nghi như chói ngời ánh sáng. Gương mặt Người sáng tỏ, đẹp đẽ như ánh trăng rạng rỡ giữa trời không. Dáng Người toát ra sự bình an vô hạn. Từng ngón tay, sợi tóc cũng giải thoát mênh mang. Làn da Phật từ đầu đến chân đều bóng sáng như màu hoàng kim. Đôi tai to và trái tai dài buông thõng đến gần vai. Nhưng kỳ diệu nhất vẫn là đôi mắt. Đôi mắt Phật dịu dàng, từ ái, xanh biếc như biển cả, lấp lánh như sao trời, điềm đạm như hư vô, như bao phủ và thấu suốt tâm hồn người đối diện. Trích Tạt Bạt Hốt cúi hàng vương. Âm thanh Phật vang vang như sóng biển, thanh tao như chuông ngân, trong vắt như ngọc vỡ,

[49:11]êm ái mà xác quyết, thong thả mà tung bay, khiến chúng sinh một lần nghe qua liền cảm thấy hân hoan, an lạc. Chúng sinh cõi người trông thấy hào quang của Phật tỏa xa một tầm mà trên cõi đời này không người nào có được. Chư thiên tử có hào quang sáng chói, lại trông thấy hào quang của Phật vượt hơn mình gấp bội lần. Những thiên tử ở các tầng trời cao hơn có hào quang rực rỡ hơn vẫn trông thấy hào quang Phật thù diệu hơn mình nhiều lần. Mặc dù Đức Phật hiện thân thành Chánh Đẳng Giác ở cõi người, nhưng uy đức và dung mạo của Ngài vượt thắng mọi chúng sinh trong tam giới. Bồ Tát, nghĩa là vị A-la-hán đoạn tận lậu hoặc,

[49:56]từ sơ địa lên đến thập địa, rồi thành tựu Phật quả, không có thêm gì nơi bản thể giải thoát, chỉ có năm điều trên: trí tuệ, hùng lực, thần lực, uy đức, dung mạo tăng trưởng mà thôi. Trong đó, nơi Phật quả, năm điều trên được xem là vô hạn.

[50:16]Suy luận nhân quả. Chúng ta đã đi qua những trường hợp điển hình của nhân quả với ba giai đoạn: nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian và nhân quả Bồ Tát đạo. Như vậy tạm đủ để chúng ta có kinh nghiệm phần nào về đường đi của nhân quả nghiệp báo. Bây giờ chúng ta tự suy luận lấy những trường hợp nhân quả khác bởi lương tâm và trí tuệ của chính mình. Chúng ta cần phải luôn luôn suy nghiệm lấy đường đi của nhân quả nghiệp báo để lương tâm có cơ hội trỗi dậy và ngự trị nơi cõi lòng thánh thiện của chúng ta. Hỏi: Một thiền sư đã giác ngộ thì không còn lầm về nhân quả. Thế tại sao Nam Tuyền lại chém mèo? Đáp:

[51:00]Lúc đại chúng có hai nhà Đông và Tây giành nhau con mèo, trên hiện tướng họ đang bị mất chánh niệm. Nam Tuyền muốn nghiệm xem trong những người này có ai đang đùa mà vẫn không bị thất niệm, và muốn cảnh tỉnh đại chúng ra khỏi sự tranh giành những cái bên ngoài, cần xoay lại bên trong để tỉnh giác tu hành. Nếu vật họ đang giành là một cái bình tích, một lẵng hoa, một chiếc tách, thì Nam Tuyền sẽ hỏi: "Nói được thì không đập." Không ai đáp được, nghĩa là họ đều bị thất niệm, ngài sẽ đập vỡ chiếc bình để cảnh tỉnh họ. Nhưng không may cho ngài, vật đó là con mèo. Chém mèo để cảnh tỉnh đại chúng, ngài mang tiếng sát sanh đến tận hôm nay.

[51:42]Dĩ nhiên ngài phải chấp nhận lấy quả báo của việc làm này, nhưng đức độ từ tâm thì không mất vì ngài không có ác tâm đối với con mèo, chỉ vì từ tâm muốn răn dạy đệ tử mà thôi. Hỏi: Tại sao Đơn Hà bịt tai không nghe Thạch Đầu thuyết giới, phải chăng bậc ngộ đạo không cần giữ giới? Đáp: Đơn Hà là một con người xuất cách, âm thầm công quả ở nhà bếp ba năm và đã thấu triệt nguồn tâm. Khi Thạch Đầu nói chung chung giữa đại chúng: "Ngày mai cắt cỏ trước điện Phật", chỉ có Đơn Hà đủ trực giác để hiểu Thạch Đầu muốn làm lễ thế phát cho mình. Ngày hôm sau, toàn chúng đem liềm, cuốc loay hoay làm cỏ trước sân chánh

[52:24]điện, thì Đơn Hà mang chậu nước và dao cạo đến quỳ trước Thạch Đầu. Thạch Đầu cười, cạo tóc cho, và sau đó thuyết giới. Đơn Hà bịt tai đi ra. Ngài bịt tai đi ra không phải vì chê giới luật, mà biểu thị rằng với sức giác ngộ của tự tâm, ngài không thể nào phạm giới nữa.

[52:47]Sức thanh tịnh tỉnh giác của tâm đã ngăn chặn mọi sai lầm từ trong tâm thức sâu kín, còn đâu lọt ra ngoài thành lời nói và việc làm? Chúng ta hiểu điều này, bậc đại tu hành là người đủ sức giữ giới, không phải là người giới luật lôi thôi. Thời Đức Phật tại thế, tín nữ Visakha lúc còn thiếu nữ đến nghe Phật thuyết pháp liền chứng quả Dự lưu, sau đó cô cũng có chồng có con bình thường như mọi người, mặc dù đang ở quả vị Dự lưu. Chẳng những quả vị Dự lưu, mà ngay cả ngoại đạo đắc thiền định rồi, vẫn còn có thể không bị mất dù có phạm một số giới, bởi vì phước tu tập đời trước còn thừa. Khi nào phước tu tập quá khứ đã hết,

[53:29]việc phạm giới hiện tại đã nhiều, họ mới bị thối thất thiền định và đọa vào ác đạo. Như vậy, các vị tối thượng thừa phá giới hãy cảnh giác lại mình, đừng xem thường giới luật của Phật, vừa hại mình và hại luôn những người khác. Giá trị và sức mạnh của người giác ngộ là không còn bị phạm giới, chứ không phải là phá giới một cách tự tại. Hỏi: Người thông minh trí tuệ là do nhân gì? Đáp: Có nhiều loại thông minh. Loại thứ nhất là do học nhiều rồi nói lại những điều mình đã học mà không có sức sáng tạo. Loại thứ hai, có sức nhận thức sắc bén hơn trong một số lãnh vực giới hạn, như chỉ trong ngành y khoa,

[54:13]điện tử, là do đã từng dùng nghề nghiệp phục vụ xã hội đắc lực. Hoặc có người do công đức ấn tống kinh điển, cúng đèn dầu cho chúng Tăng, cất trường học cho trẻ em, cũng được quả báo sáng suốt thông minh. Nhưng có một loại thông minh phi thường, trực giác nhạy bén, sức sáng tạo vô hạn là do công năng tập định ở những đời trước. Có khi đời này họ chưa tìm lại trình độ định lực của đời trước, nhưng họ đã có trí tuệ phi thường. Khi nhìn đến bất cứ lãnh vực nào, họ đều có sự nhận thức sắc bén và độc đáo. Các vị A-la-hán và các thiền sư khi chưa chứng ngộ đều đã biểu lộ sức trí tuệ đặc biệt này. Thế nên một quốc gia muốn có nhiều nhân tài cần phải áp

[54:55]dụng tu tập thiền định cho sinh viên và học sinh. Nhật Bản đang khai thác triệt để về điểm này, nên họ đã vượt xa các nước về nghệ thuật và kỹ thuật. Hỏi: Tại sao có những người cùng sống bằng nghề viết lách, giáo dục, hội họa, nhưng kẻ thì giàu mà người thì nghèo? Đáp: Người được giàu có từ sự nghiệp văn hóa là bởi hai lý do: hoặc họ biết bố thí nhiều bằng đồng tiền kiếm được, hoặc họ dùng phương tiện văn hóa để kêu gọi mọi người sống đạo đức, thương yêu, hy sinh, phụng sự. Nếu thiếu hai nguyên nhân này: bố thí và giáo hóa, người cầm bút sẽ chôn đời mình trong khó nghèo, hiu quạnh. Thỉnh thoảng chúng ta đọc vài tác phẩm văn chương cũng nhận thấy rằng,

[55:39]có những tác phẩm không chuyển hóa tâm hồn người đọc trở nên thánh thiện, cao cả, chỉ vùi họ trong mơ mộng, bâng quơ, ích kỷ, hận thù. Tác giả của những tác phẩm này đi dần vào khốn đốn, khổ sở. Ngược lại, những tác phẩm chuyển hóa tâm hồn con người trở nên thuần lương, đạo đức, sẽ đưa tác giả của nó đi về nơi hạnh phúc lâu dài. Nhưng muốn tạo được những tác phẩm có tác dụng giáo dục mạnh mẽ như vậy, thì chính tác giả phải tự gột rửa tâm hồn mình cho trong sạch trước đã. Hỏi: Có những người quá nghèo không thể bố thí, làm cách nào để họ có thể chuyển nghiệp nghèo khổ đó được? Đáp: Không còn con đường nào khác hơn nữa.

[56:20]Họ phải chấp nhận khó khăn hơn nữa, thiếu thốn hơn nữa để san sẻ từng nắm gạo, từng muỗng đường, từng đồng ít ỏi cho người có giới và người làm thiện. Sự cố gắng quá độ đó sẽ trở thành công đức lớn lao cho họ và đập vỡ thói quen bỏn xẻn từ nhiều kiếp trong tâm họ. Nếu không biết bố thí từng chút như vậy, họ sẽ mãi mãi chìm sâu trong nghèo nàn, túng thiếu. Người hiểu đạo sẽ khát khao bố thí như người mù khát khao được ánh sáng. Ngoài việc bố thí tài vật ra, họ còn phải dùng công sức đắp đường cho người đi, đào giếng nơi công cộng cho người dùng. Nếu họ là công nhân, họ phải lao động tích cực với ý nghĩ vì xây dựng đất nước.

[57:05]Thật vậy, cùng làm tám tiếng đồng hồ trong một xí nghiệp, nhưng một người chỉ hướng đến mục đích kiếm tiền lương về cho bản thân và gia đình, còn một người biết hướng đến mục đích xây dựng đất nước, phước của hai người này khác nhau rất xa. Do mục đích khác nhau nên thái độ làm việc cũng khác nhau. Người vị kỷ sẽ làm việc một cách uể oải, thiếu trách nhiệm, đôi khi tăng thu nhập bằng sự không thành thật. Người vị tha, yêu đất nước sẽ làm việc một cách nhiệt tình và kỹ lưỡng. Mỗi ngày trôi qua là mỗi ngày họ cách xa nhau trên phương diện phước đức. Hơn nữa, người nghèo, tức là phước rất ít, họ cần phải giữ giới luật thật kỹ lưỡng,

[57:43]không sát sinh hại vật, không tà dâm, không trộm cắp, vì sự vi phạm một giới nhỏ cũng đủ đưa họ về địa ngục.

[57:52]Hỏi: Người này làm phước rồi chú nguyện cho người kia được chăng? Đáp: Được. Ví dụ trong gia đình có người bệnh nằm một chỗ không thể tự làm phước để chuyển nghiệp, thân quyến của người ấy có thể làm các công đức như phóng sinh, bố thí, đắp đường, in kinh để hồi hướng chú nguyện cho người ấy khỏi bệnh. Nhưng dù sao thì người tự tay làm vẫn hưởng được phước nhiều hơn người được chú nguyện. Một người đạo hữu đã phóng sinh để chú nguyện cho người cha mình qua khỏi bệnh huyết áp cao và tai biến mạch máu não. Trong cơn bệnh, ông la hét, đập tay chân, chửi mắng mọi người. Người đạo hữu ngừng thức ăn huyết nhục,

[58:33]cho ông ăn chay, đồng thời mua chim cá phóng sinh chú nguyện cho ông. Ông giảm bệnh một cách rõ rệt và bắt đầu bình tĩnh, trở dậy đi đứng bình thường. Hỏi: Ăn chay và ăn mặn ảnh hưởng khác nhau ra sao? Đáp: Theo y học thì thức ăn động vật có nhiều chất bổ dưỡng cần thiết cho cơ thể hơn thức ăn thực vật. Nhưng thú tính ẩn tàng trong xác thịt của động vật, nỗi đau khổ hận thù khi bị giết hại của con vật, dần dần hòa tan vào máu huyết, tim óc của người dùng, khiến cho người này tăng trưởng nhiều phiền não, si mê. Nếu họ phát tâm tu tập thiền định thì sẽ bị trở ngại cả hai phương diện thân và tâm:

[59:14]thân thì đau nhức khó tọa thiền, tâm thì loạn động, hôn trầm khó làm chủ. Thời nguyên thủy, Đức Phật cho phép đệ tử khất thực được thứ gì thì dùng thứ nấy, vì nếu hạn chế với thức ăn chay, họ sẽ gặp khó khăn rất nhiều. Các cư sĩ tại gia đâu phải luôn luôn có sẵn thức ăn chay để cúng dường khi các Tỳ-kheo bất ngờ đi ngang qua ngưỡng cửa. Tuy nhiên, tận trong thâm tâm, ai cũng biết dùng thức ăn động vật có liên hệ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với sự giết hại. Nhiều vị sư danh tiếng Theravada như Hòa thượng Narada, Hòa thượng Minh Châu đều suốt đời dùng chay. Nhiều vị sư Bắc tông ăn chay cũng vẫn khỏe mạnh, hồng hào.

[59:56]Chúng ta tu tập từ tâm vô lượng thì nên ăn chay, để bồi đắp lòng từ ngày càng thêm lớn, và cũng chiêu tập rất nhiều phước cho mai sau. Có một vài người may mắn kỳ lạ, xông pha giữa lằn tên mũi đạn vẫn không bị thương tích, đó là do phước ăn chay từ đời trước còn ảnh hưởng đến hôm nay. Hỏi: Những người sinh sống bằng nghề câu cá, săn bắn, bẫy rập sẽ cảm quả báo gì? Đáp: Hình ảnh con cá vùng vẫy trong tuyệt vọng đau đớn sau khi đớp phải miếng mồi dụ dỗ sẽ trở thành hình ảnh của người cầm cần câu. Nếu người này còn phước, không bị đọa thân súc sinh, họ cũng phải cảm báo bị lừa gạt đến tuyệt vọng đau khổ.

[1:00:39]Người giăng bẫy giết thú rừng lớn thì tội càng nặng hơn nữa. Hình ảnh con thú đang đi bị sụp hầm, bị treo chân, cũng sẽ trở lại là hình ảnh của người giăng bẫy. Sau khi đền trả tội lỗi ở đọa xứ, họ sẽ được làm người với hầm chông, thòng lọng đang chờ đón. Nếu những con thú được trở lại thân người, chúng sẽ là những kẻ thù của những ai đã giăng bẫy bắt chúng. Một nhân xấu luôn luôn để lại phía sau đó những ảnh hưởng tai hại lâu dài. Người săn bắn thì sẽ bị chết bởi vũ khí và chó săn cắn xé. Khi Giu-đa dẫn lính đến bắt Chúa Giê-su, Simon Pierre rút gươm chém rớt vành tai của người lính để bảo vệ Chúa, Chúa phán:

[1:01:26]"Simon, hãy buông gươm xuống, vì ai dùng gươm sẽ phải chết bằng gươm." Hỏi:

[1:01:36]Có phải những người giúp nhau hay hại nhau là do đã từng giúp nhau hay hại nhau từ quá khứ? Đáp: Không hẳn như thế. Bản thể bao hàm, trùm khắp không riêng ai. Ông A giúp ông B, nhưng sẽ được giúp lại bởi ông C. Bà E hại bà D, nhưng sẽ bị hại lại bởi bà F. Còn đã từng giúp hay hại nhau thì khi gặp lại sẽ khởi sinh thương hay ghét mà thôi. Người gieo duyên với vị Phật này, nhưng sẽ được tiếp độ bởi vị Phật khác; gieo duyên với vị A La Hán này, nhưng vẫn được tiếp độ bởi vị A La Hán khác. Hỏi: Những khuyết tật về mắt là do nhân gì? Đáp: Một quả báo không phải sinh ra từ một nhân duy nhất. Trước hết, mắt là cơ quan để nhìn thấy mọi vật.

[1:02:28]Nếu cản trở sự nhìn thấy của mọi người, chúng ta sẽ cảm báo bị khuyết tật về mắt. Sự cản trở đó có thể là lấy mất đèn đuốc nơi công cộng, hoặc chỉ dẫn đường lối sai lầm, hoặc gieo rắc tà kiến lệch lạc, hoặc giam hãm chúng sinh trong tối tăm, hoặc biết là sai mà vẫn nhắm mắt làm bừa, hoặc thấy người khác khổ mà làm ngơ. Muốn chuyển nghiệp này, chúng ta phải làm ngược lại, nghĩa là cúng đèn đuốc thắp sáng nơi công cộng, chỉ đường dẫn lối cho chính xác, ấn tống kinh sách đạo đức nhân quả, phóng sinh thú vật khỏi chỗ tối tăm tù túng, giữ giới cấm một cách kỹ lưỡng. Thực hiện được như vậy, mắt sẽ khá hơn, nếu nhẹ sẽ hết hẳn. Hỏi:

[1:03:18]Những khuyết tật về chân là do nhân gì? Đáp: Chân là cơ quan để di chuyển. Làm trở ngại sự di chuyển của chúng sinh, người này sẽ bị khuyết tật về chân. Những trở ngại đó được xem là phá đường, lấp ngõ, dở cầu, hoặc giam cầm thú vật chim chóc, hoặc bẻ gãy đùi ếch, cắt nhượng bò. Nếu chặt chân người thì đọa địa ngục. Muốn chuyển nghiệp này, chúng ta cần phải làm ngược lại, nghĩa là đắp đường, bắc cầu nơi công cộng. Nếu gần nhà bạn có đội thi công làm đường, bạn hãy đóng góp bằng cách bồi dưỡng thức ăn uống cho anh em công nhân. Công đắp đường bắc cầu rất lớn, vì giao thông là điều kiện quan trọng trong đời sống xã hội.

[1:04:02]Ngoài việc giải những ác nghiệp về thân thể, người tạo công đức này sẽ được khỏe mạnh, giàu có, xe cộ xênh xang. Tôi có nghe một người bị bại chân, sau khi bỏ tiền đắp lại đoạn đường trong làng đã đi đứng bình thường. Hỏi: Tại sao có những người giàu có mà không để ý gì đến đạo đức? Đáp: Dù hiện tại họ dường như không biết đến đạo... tất cả mọi người rồi sẽ đánh giá tội phước của họ, vì vấn đề này rất rắc rối. Trên hình thức cạn cợt, chúng ta dễ cho rằng nhân viên an ninh đã đối xử tàn nhẫn với tội nhân như còng trói, giam giữ, đôi khi phải quật ngã họ. Nhưng nhìn trên bình diện xã hội, thì việc làm bắt giữ tội nhân có hai cái lợi:

[1:04:47]Thứ nhất là giữ gìn an ninh cho xã hội; thứ hai là buộc tội nhân trong tình trạng không thể gây thêm tội lỗi trong đời họ nữa. Trên hai ý nghĩa này, thì việc làm của nhân viên an ninh được xem là công đức. Tuy nhiên chúng ta mong mỏi họ vẫn có lòng thương yêu tội nhân, mặc dù bất đắc dĩ phải đối xử cứng rắn. Hỏi: Việc xịt thuốc rầy để bảo vệ cây trồng là tội hay phước? Đáp: Ngày nay chúng ta phát minh ra quá nhiều loại thuốc độc để diệt trừ sâu rầy, với quan niệm bảo vệ cây trồng, bảo đảm nguồn thực phẩm cho xã hội. Thuốc giết những sâu bọ có hại và cũng giết luôn cả những sâu bọ có lợi. Những ốc, trùng, cá, sinh vật trong môi trường đất và nước đó đều bị tiêu diệt.

[1:05:30]Những vi khuẩn cho đất cũng bị tổn hại. Thuốc còn đọng lại trong cây, như Furadan, sẽ cung cấp độc tố cho cơ thể con người. Đó là lý do tại sao ngày nay nhiều bệnh lạ xuất hiện hơn ngày xưa. Chúng ta không vững niềm tin với luật nhân quả nghiệp báo, không tin rằng do phước lực của mình mà mùa màng đi đến thạnh mậu hay thất thu. Trái lại chúng ta đã tạo thêm ác nghiệp trong việc xịt thuốc giết côn trùng. Nếu có thu được nông phẩm, thì nông phẩm đó là một loại thuốc độc tai hại lâu dài cho cơ thể. Chúng ta hãy gan dạ làm phước, như giữ giới, bố thí, và sẽ thấy được hiệu quả của phước đức mạnh gấp bội lần thuốc diệt côn trùng.

[1:06:10]Hy vọng thuốc trừ sâu sinh học sẽ giúp giải quyết phần nào sự trở ngại mà thuốc trừ sâu hóa học vướng phải. Hỏi: Tại sao có những dòng tộc nối liền nhiều đời và luôn luôn đạt được sung túc, nguyên nhân đó là gì? Đáp: Bởi hai nguyên nhân: một, vị tổ tiên ban đầu là người có phước lớn; hai, dòng tộc này có một truyền thống đạo đức để dạy bảo cho con cháu. Dòng tộc nhiều đời phú quý, thịnh đạt có nghĩa là những vị tổ tiên ban đầu luôn luôn được nhắc nhở, tưởng niệm, cúng thờ chu đáo. Để được quả báo này, những vị đó phải là những người có phước lớn. Những triều đại vua chúa là một bằng chứng cụ thể.

[1:06:53]Có những triều đại nối tiếp qua mấy trăm năm và vị vua khai sáng ban đầu được cúng thờ như thần thánh. Hơn... Hơn nữa, nếu dòng tộc này có một nền đạo đức tốt đẹp để dạy bảo cho con cháu, thì sự thịnh đạt của họ không thể định được giới hạn cuối cùng. Thế nên từ nay, mỗi gia đình đều phải lập cho mình một truyền thống đạo đức, nhất là đánh thức sự hiểu biết về đường đi của nghiệp báo cho mọi người. Trong những buổi họp mặt gia đình, bậc cha mẹ hãy đặt những câu hỏi về nghiệp báo để cho các con cháu tự suy ngẫm trả lời, hoặc kể những mẩu chuyện liên quan đến nhân quả và bảo mọi người rút ra một nhận xét.

[1:07:35]Những buổi sinh hoạt đạo đức như vậy dần dần tạo cho con cháu một lương tâm sáng tỏ, chúng sẽ tự biết tránh ác làm lành, và dòng họ sẽ trở nên phú quý, thịnh đạt. Hỏi: Tại sao có những người vừa gặp nhau đã đem lòng quý mến hoặc ác cảm? Đáp: Khi luận về đường đi phức tạp của nhân quả nghiệp báo, chúng ta không thể bỏ qua sự liên quan, duyên của các chúng sinh từ quá khứ với nhau. Không phải ngẫu nhiên khi gặp nhau hai người đã có thiện cảm từ buổi đầu, cũng không phải ngẫu nhiên khi gặp nhau vài kẻ đã sinh ác cảm từ sơ ngộ. Sự đối đãi ân oán với nhau từ quá khứ sẽ biến thành thái độ trong hiện tại.

[1:08:20]Nếu đời này gặp lại, một kẻ trở nên kính phục, thương mến, vâng lời, hầu hạ cho người khác, phải biết do nợ nần ân nghĩa quá khứ thúc đẩy chi phối. Sự thọ ân khiến một người trở thành kẻ thuộc hạ, và sự ban ân khiến một người trở thành thủ lĩnh. Trong gia đình, người làm anh làm chị là những người ban ân, và người làm em làm út là người thọ ân. Dù một đám cướp thì tên đại ca vẫn là kẻ đã ban ân và lâu la là kẻ đã thọ ân. Người được làm lãnh tụ quốc gia cũng chỉ vì đã ban phát ân nghĩa cho quá nhiều người trong quá khứ. Sự ban ân luôn luôn đưa một người đến địa vị quan trọng. Biết được nguyên lý này, chúng ta sẽ dè dặt khi thọ ân người khác.

[1:09:05]Nếu ân nhân là người chân chính, quảng đại, chúng ta có thể thọ chút ân cũng không đến nỗi nguy hiểm, vì trở thành người dưới tay của một chính nhân quân tử cũng tốt thôi. Nếu thọ ân của người ác, sau này chúng ta phải chịu họ sai sử, tạo nhiều ác nghiệp, rồi theo họ vào đọa xứ. Đối với kẻ xấu, Bồ Tát thường rộng rãi ban ân để tạo thành thiện duyên về sau có thể nhiếp hóa họ, khác với chúng ta thường ruồng rẫy kẻ xấu. Tuy nhiên việc giáo hóa kẻ ác tâm không đơn giản một chiều, vì phải vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo. Luyến ái là một duyên mạnh mẽ dễ được lặp đi lặp lại nhiều lần. Đã từng thương yêu nhau trong quá khứ, đời này gặp lại, tình yêu dễ phát sinh.

[1:09:55]Các văn sĩ đã thi vị hóa sự kiện này và gọi là: tiếng sét ái tình. Vừa gặp nhau lần đầu, trái tim hai bên đã nghe bồi hồi, xao xuyến như đã từng thương yêu nhau từ lâu lắm. Tuy nhiên một đời người thường trải qua nhiều mối yêu đương, chỉ vì trong nhiều kiếp luân hồi họ đã gặp gỡ rất nhiều người yêu, nhiều tơ duyên vợ chồng khác nhau. Những người đã từng làm vua quan trong xã hội phong kiến, với thê thê thiếp thiếp, các đời về sau họ phải nhận lấy cung mạng đào hoa lăng nhăng tình ái. Tuy nhiên nếu buông thả phóng túng, họ sẽ đọa vào ác đạo. Dĩ nhiên sự tương duyên nghiệp báo không có tính cách cố định như khái niệm số mệnh.

[1:10:36]Nó có thể được chuyển đổi bởi ý chí của con người. Ví dụ khi gặp lại người nghịch duyên, nghĩa là sẽ đi tới chỗ ác cảm, ganh ghét, nhưng nếu chúng ta khéo léo nhẫn nhục, rộng rãi bố thí, ban ơn, dùng lời ái ngữ dịu dàng thì nghịch duyên ngày xưa sẽ chuyển thành thiện duyên ngày nay. Ví dụ một người phát tâm tu giải thoát bất chợt gặp lại người vợ trong tiền kiếp, điều chắc chắn là người này sẽ nghe lòng bận tâm, ưu tư, xao xuyến. Nếu buông thả theo tình cảm, họ sẽ lui lại sự ràng buộc trong luyến ái. Nếu họ phát tâm mạnh mẽ, dùng ý chí sắt đá, gan dạ vượt qua thì duyên xưa cũng được hóa giải. Nếu cố gắng, chúng ta đều có thể chuyển đổi tương

[1:11:24]duyên ngày xưa đi theo một chiều hướng khác. Hỏi: Vì sao một người có tâm hồn ít bị xao động hoặc nhiều xao động? Đáp: Nếu họ hay làm bận tâm người khác vì sự hiện diện của họ, họ sẽ cảm quả báo tâm hồn thường xuyên xao động khó yên. Việc làm người bận tâm được hiểu như nói năng ồn ào giữa chốn đông người, hoặc gieo tình cảm nơi người nào khiến họ thương nhớ khôn nguôi, hoặc nói nặng lời khiến người đau khổ, nhục nhã, hoặc dùng văn thơ, nhạc kịch kích động tình cảm hận thù nơi mọi người, hoặc kêu gọi đấu tranh chém giết lẫn nhau, hoặc tuyên giảng tà kiến phi chân lý, hoặc làm mai mối, hợp tác cưới gả, hoặc tổ chức chọi gà, đấu võ đài.

[1:12:13]Làm bận tâm người thì tâm ta không thể nào an ổn được. Muốn tránh quả báo bất an nơi tâm, chúng ta nên dè dặt đừng làm loạn tâm người dù dưới bất cứ cách nào, chỉ nên sống đời trầm lặng, ít nói, bớt duyên. Nếu phải trình bày với mọi người, chỉ nên đem luật nhân quả và thiền định để khuyến hóa họ tu tập. Làm sao cho sự hiện diện của chúng ta khiến mọi người cảm nghe an ổn, thanh lương, thoải mái và phát khởi tinh tiến tu hành. Hỏi: Do đâu một người tu thiền không bị chìm trong định không ngơ? Đáp: Phật bảo người đã từng khởi quán từ tâm trùm phủ chúng sinh sẽ không bị chìm trong định không ngơ, theo kinh Nikaya.

[1:13:01]Hơn nữa, phương pháp dụng công nào cũng cần phải có sự tỉnh giác, biết rõ ràng. Hỏi: Những đức hạnh ảnh hưởng tới việc tu tập thiền định ra sao? Đáp: Phật bảo: Khi ta thấy một người còn một phần hắc pháp, ta biết kẻ ấy trong đời này chưa thể được Niết-bàn viên mãn. Khi ta thấy một người đã hết hắc pháp, ta biết kẻ ấy ngay đời hiện tại được viên mãn Niết-bàn. Hắc pháp mà Phật nói lên ở đây nghĩa là những thói hư tật xấu như tham lam, sân hận, đố kỵ, cố chấp, hơn thua, khoe khoang, tự cao, nhu nhược, ích kỷ, hẹp hòi. Nếu những hắc pháp này còn tồn tại, người này chưa thể chứng Niết-bàn viên mãn trong hiện đời.

[1:13:57]Thế nên, người muốn tiến tu giải thoát phải tư duy rất kỹ về đức hạnh, phải kiểm soát lại để loại trừ những tánh xấu còn tiềm ẩn trong người, không cần phải đợi đối duyên tiếp cảnh để những phiền não đó trỗi dậy, mà bình thường chúng ta phải tư duy về sự loại trừ tham lam, đố kỵ, dựng lập tâm quảng đại tùy hỷ từ trước. Khi đức hạnh thuần thục thì công phu thiền định bớt bị chướng ngại, có thể tiến rất xa. Hỏi: Có một số nơi nói rằng Bồ-tát cách ấm vào thai bị vô minh một thời gian, đúng chăng? Đáp: Nếu đúng là Bồ-tát đã viên mãn đạo quả A-la-hán thì suốt từ lúc đoạn tận vô minh đến lúc thành Phật quả, trong khoảng đó không một sát-na

[1:14:46]gián đoạn chánh niệm, dù đang lúc vào thai hay xuất thai, hiện thuận hạnh hay nghịch hạnh, ở thân người hay thân thú. Vị này là những bậc thần đồng phi thường, chưa học đã biết hết mọi chuyện trừ phi các ngài giấu giếm. Trường hợp Tài Tòng đạo giả là một điển hình. Tổ Đạo Tín muốn truyền y bát cho Tài Tòng đạo giả vì thấy ông đã viên mãn Niết-bàn, nhưng ngại ông quá già sẽ không giáo hóa được lâu nên khuyên ông đổi thân trở lại, Tổ sẽ chờ. Ông đến bờ sông gặp cô gái giặt quần áo, hỏi: "Tôi muốn nghỉ nhờ nhà cô một đêm, được chăng?" "Dạ, con không tự quyết định được, sư hãy đến hỏi cha mẹ con." "Nhưng riêng cô,

[1:15:35]thì cô có đồng ý không?" "Dạ, phần con thì được." Đạo giả liền đi đến gốc cây ngồi kiết-già bỏ thân, gá thai vào cô gái. Cô gái lấy làm lạ vì nào giờ không gần gũi ai, tại sao có mang? Cha mẹ cô giận lắm, đuổi cô ra khỏi nhà. Cô phải sống vất vưởng xin ăn để chờ ngày sinh nở. Đến khi sinh ngài, cô cho là quái dị nên thả xuống sông. Sáng hôm sau, thấy đứa bé ngồi kiết-già nổi trên mặt nước, vẻ mặt điềm nhiên, bình thường, cô bèn đem về nuôi. Khi ngài được 7 tuổi thì Tổ Đạo Tín đến, hỏi:

[1:16:17]"Ngươi tánh gì?" (nhữ hà tánh). Có hai chữ "tánh" đồng âm, một chữ "tánh" là họ, một chữ "tánh" là tâm tánh. Ở đây Tổ dùng thuật chơi chữ để nghiệm đứa bé. Đứa bé đáp: "Tánh thì có, mà không phải tánh thường." (tánh tắc hữu nhi phi thường tánh). "Là tánh gì?" (thị hà tánh). "Là Phật tánh." (thị Phật tánh).

[1:16:45]"Ngươi không tánh à?" (nhữ vô tánh da). "Vì tánh ấy là không." (dĩ kỳ tánh thị vô cố). Tổ Đạo Tín nhìn những thị tùng, bảo: "Đứa bé này không phải hạng tầm thường, sau này sẽ làm Phật pháp hưng thịnh." Đứa bé đó trở thành Đệ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Tổ Hoằng Nhẫn đúng nghĩa là Bồ-tát tái lai không bị cách ấm, vô minh. Còn những đạo quả thấp hơn từ A-na-hàm trở xuống, khi vào thai liền bị mờ mịt vô minh. Nhưng vị này ở thân sau rất là thông minh, trí tuệ, có trực giác nhạy bén, sức sáng tạo dồi dào và kiến giải linh lợi. Hỏi: Trong một gia đình, tại sao có những đứa con dễ dạy, hiếu hạnh, làm đẹp lòng cha mẹ, nhưng lại cũng có những

[1:17:38]đứa con khó dạy, ngỗ nghịch, làm buồn lòng cha mẹ? Đáp: Cũng do nhiều nguyên nhân. Nếu những đời trước cha mẹ thường dạy con cái đạo đức thì đời này trở lại gặp nhau, cha mẹ được hưởng quả báo vui sướng, đẹp lòng khi có những người con ngoan ngoãn. Nếu đời... nếu đời trước cha mẹ không biết dạy con đạo đức, lại hay xúi giục, đồng ý cho con cái gây gổ, phá phách người khác thì đời này trở lại gặp nhau, cha mẹ sẽ bị quả báo đau khổ, buồn lòng vì những đứa con ngỗ nghịch. Cũng có khi bậc cha mẹ đó thuở trước là những người con bất hiếu, ngỗ nghịch, đối xử tệ bạc với cha mẹ mình, sau này chính mình phải gặp những đứa con tệ bạc trở lại.

[1:18:21]Hoặc bậc cha mẹ đó đời trước quỵt nợ của ai một số tiền lớn, sau này chủ nợ trở lại làm con để nhận sự chăm sóc đền bù. Mặc dù làm con nhưng niềm hận thù chưa nguôi, nên đứa con này thường hay nói nặng lời và hắt hủi cha mẹ nó. Muốn hóa giải nỗi khổ tâm này, bậc cha mẹ phải ấn tống, truyền bá những kinh sách về nhân quả nghiệp báo để tích lũy cho mình một nguồn phước lớn. Từ nguồn phước lớn này họ mới đủ sức cảm hóa những đứa con ngỗ nghịch kia hồi tâm thuận thảo. Họ phải trì giới, phải thương người, bố thí rộng rãi để làm gương cho con cái, phải nhẫn nhục để trả nghiệp với nó và khi nào thuận tiện, uy đức mình đã đủ sẽ khuyên bảo chuyển hóa nó dần dần.

[1:19:10]Những bậc cha mẹ kém đạo đức, nói năng thô lỗ, làm nhiều việc ác thì không thể có những người con hiếu hạnh được. Con cái sẽ khinh bỉ bậc cha mẹ thiếu nhân cách. Bậc cha mẹ phải hoàn chỉnh nhân cách đạo đức của mình trước đã, rồi mọi chuyện tốt đẹp sẽ dần dần xuất hiện sau. Hỏi: Người được danh tiếng vang lừng là do nhân gì? Đáp: Hoặc là họ là những người đã từng rộng rãi bố thí, đạo đức kính thiện, từ tâm vô biên; hoặc họ đã từng biết tùy hỷ, khen ngợi những bậc đáng ca ngợi, biết tôn trọng tài năng và đạo quả của những người khác, họ sẽ được danh tiếng vang lừng. Những văn nghệ sĩ nổi danh được nhiều người ái mộ

[1:19:55]cũng vì đã từng dùng tài nghệ ca ngợi những bậc thánh đáng kính và biết sống đời rộng rãi, Hỏi: Có những người phát tâm tu hành trì giới, tọa thiền, bố thí, liền gặp hoàn cảnh khó khăn khốn đốn; còn những kẻ làm ác, giết hại súc sinh, lừa lọc lại sống nhởn nhơ thoải mái. Vì sao như vậy? Đáp: Người này tích chứa ác nghiệp nặng nề đáng lẽ sẽ phải đền trả ở ba ác đạo, nhưng nhờ phát tâm hành thiện nên ác nghiệp vơi bớt, chỉ dồn trả trong hiện đời nơi thân người mà thôi. Người làm ác một cách thuần thục thì sinh thú kế đó là địa ngục. Vì thế, bao nhiêu phước quá khứ sẽ hiện ra để họ hưởng cho hết.

[1:20:41]Chính vì chỗ lắt léo này mà người phàm phu không đánh giá được hiệu quả của nghiệp báo, rồi cho rằng không có nhân quả. Hỏi: Vì sao một người đi đến tự sát? Đáp: Họ đã từng bức ngặt, oan ức ai quá đáng. Phương tiện họ dùng để tự sát cũng là phương tiện họ đã dùng để sát sinh. Hỏi: Một số người tu theo Mật tông chuyên trì chú và đạt được sự linh ứng như trừ tà, chữa bệnh, cầu nguyện được như ý, có thần thông biết điều này điều nọ. Nhân quả dự phần ở chỗ nào? Đáp: Đó là do phước quá khứ cộng với năng lực của hành ấm tạo thành. Xin xem “Năm ấm là gì”, Chân Quang. Hỏi: Thiên Chúa giáo và Hồi giáo quan niệm sự vui khổ

[1:21:28]của con người là do Thượng đế thưởng phạt. Việc này trái với luật nhân quả nghiệp báo chăng? Đáp: Thượng đế không thưởng cho người ác, cũng như không phạt người thiện. Như vậy, sự thưởng phạt của Thượng đế chính là cụ thể hóa luật nhân quả. Nói luật nhân quả trừu tượng thì người ta không thể hiểu nổi, nên các tiên tri đưa ra một Thượng đế có toàn quyền sinh hóa và thưởng phạt để răn dạy tín đồ. Hơn nữa, chính con người phải làm thiện thì mới được Thượng đế thưởng, cũng như có tạo ác thì mới bị Thượng đế phạt. Như vậy, trách nhiệm ban đầu đã đặt ra nơi con người, chứ đâu phải đặt nơi Thượng đế.

[1:22:10]Họ có quyền đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, nhưng phải đặt trách nhiệm nơi chính họ. Chính hành vi thiện ác của họ đã gợi nên sự thưởng phạt của Thiên Chúa. Nhiều tín đồ không rõ điều này, cứ giam mình cầu xin mãi mà không biết rằng họ cần phải mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người, lời của thánh François d'Assise. Đầu sách, chúng tôi có trích một đoạn Phúc Âm dẫn lời Chúa Jesus: “Thiên Chúa chính là tinh thần, là sự thật.” Nếu Thiên Chúa chính là tinh thần, là sự thật thì sự thưởng phạt của Chúa cũng chính là sự thưởng phạt của tinh thần, tức thể tánh, và của sự thật, luật nhân quả khách quan.

[1:23:02]Chính Chúa Jesus cũng nói: “Người chen lên đứng trước sẽ phải lùi lại phía sau, và người nhường nhịn đứng sau sẽ được đưa lên đứng trước.

[1:23:18]Hãy tha thứ người để được tha thứ trở lại. Đừng phê phán ai để không bị phê phán.” Khi một người đàn bà đã bị bệnh hoại huyết đã mười năm chen đến chạm vào tà áo Chúa thì lập tức bệnh chấm dứt. Chúa bảo: “Hỡi con gái ta, đức tin của con đã chữa lành cho con.” Chúa Jesus đã dùng phép lạ chữa bệnh cho rất nhiều người, những người kính tin Chúa. Công đức kính tin Chúa đã xứng đáng để được Chúa san sẻ phước lực của Chúa cho họ. Người phàm phu không có thần lực thì không thể san sẻ phước cho ai. Bậc Thánh có thể làm việc này với những chúng sinh có chút duyên nào đó với các Ngài. Chúng ta có thể nói rằng sự thưởng phạt của Thiên Chúa cũng chỉ

[1:24:09]là công cụ của luật nhân quả, hay ngược lại, luật nhân quả chính là công cụ thực hiện sự thưởng phạt của Thiên Chúa. Mỗi người sẽ chọn lấy một kết luận thích hợp.

[1:24:49]Phần kết luận. Khi mà khoa học đã vươn lên đến đỉnh cao tột độ như hiện nay thì nhân loại bắt đầu hoảng sợ. Hành tinh giòn bở của con người bỗng trở nên mong manh, dễ vỡ vì mấy trái bom hạt nhân đang nằm sẵn trên giàn chờ một kẻ bấm nút. Một số nước Âu Mỹ cho phép mua bán súng đạn tự do và mạng sống con người trở nên hồi hộp, âu lo. Phim ảnh khiêu dâm, bạo lực lan tràn trong mọi ngõ ngách của cuộc sống và tâm hồn con người đã trở nên băng hoại.

[1:25:28]Những người có lương tâm đang khắc khoải suy tư về nền đạo đức của thế giới, muốn tìm một giá trị đạo đức chân chính và vững chắc để chuyển hóa tâm hồn con người khỏi những khát vọng điên cuồng hiện nay. Những giá trị đạo đức dựa vào thần quyền đã sụp đổ vì sự công phá tàn bạo của khoa học. Những giá trị đạo đức dựa vào sự phê phán của dư luận cũng èo uột vì sự giấu giếm tinh vi của tội phạm. Cần phải có một nền đạo đức dựa vào chính con người, bởi con người và không nô lệ nơi một ai khác. Phải kêu gọi lương tâm của con người thức dậy sau thời gian dài yên ngủ, để tự nó phán xét lấy mọi hành vi thiện ác của nó.

[1:26:21]Chỉ khi nào lương tâm con người lên tiếng nói và bước lên ngự trị trên đỉnh cao của tâm hồn thì con người sẽ trở nên thánh thiện, thế giới sẽ tìm thấy hòa bình và cuộc đời sẽ tràn đầy hạnh phúc. Lương tâm đó chính là trí tuệ hiểu biết đường đi của nhân quả nghiệp báo. Thật vậy, không một nền đạo đức nào gần gũi với con người hơn là sự hiểu biết nhân quả. Con người không phải sợ hãi một thần linh nào khác, không phải giấu giếm mọi dư luận nào khác, mà chỉ tự biết rõ thiện ác nơi mình để bỏ ác, làm thiện. Họ chỉ tự phán xét lấy nội tâm của họ và tránh xa những ý nghĩ ích kỷ, thấp hèn để trải tình thương đến muôn loài yêu mến.

[1:27:14]Họ không cần phải mơ ước về một thiên đường xa vắng, mà chỉ cần sống nơi mảnh đất này với trọn vẹn tình người. Cuộc đời đang cần đôi tay, khối óc và trái tim của họ để đóng góp xây dựng. Họ sẽ tìm thấy hạnh phúc và ý nghĩa của cuộc sống ngay nơi cõi trần gian bụi bặm này, khi mà họ biết dâng trọn cuộc đời mình để thương yêu và phụng sự. Hạnh phúc sẽ vắng bóng nơi những người có đôi bàn tay nắm lại, và chỉ hiện hữu nơi những tâm hồn rực sáng thương yêu.

[1:27:58]Luật nhân quả đã cho con người quyền làm chủ tối cao nơi cuộc đời họ. Họ sẽ đưa cuộc đời mình đi theo ý muốn khi họ đã có trong tay chiếc chìa khóa vạn năng của luật nhân quả. Nếu có Thượng đế thì Thượng đế đó chính là họ, chứ không phải một ông già râu dài ngự trên ngôi cao của tầng trời xa thẳm. Chính họ sẽ đem đến khổ đau hay hạnh phúc cho họ bởi hành vi thiện ác. Vinh quang hay tủi nhục, sung túc hay khó khăn, tự do hay ngục tù đều là sản phẩm của họ mà không một thần linh nào làm giúp.

[1:28:40]Đã đến lúc chúng ta phải tìm lại quyền làm chủ của mình, hơn là nô lệ vào thần linh, thả trôi theo ngẫu nhiên và an phận theo số mệnh. Chúng ta có lương tâm và có quyền làm chủ. Đạo đức sẽ được dựng lập bởi lương tâm và quyền làm chủ, để từ nay chúng ta biết đem cả cuộc sống mình vì mọi người nơi thế gian thực tại này. Dĩ nhiên, quyền làm chủ đó phải được hiểu theo nghĩa rất rộng rãi, là làm chủ trong phạm vi thế gian, xuất thế gian hay Bồ Tát đạo.

[1:29:20]Viết xong tại Chân Như, ngày 10 tháng 10 năm 199...