Transcript: Đêm Giao Thừa Nhớ Cội Nguồn

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:17:18

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:02]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thật là... vui sướng, thật là ấm cúng khi mà quý Phật tử ở xa xôi đã xem chùa như là cái ngôi nhà của mình để về đây đón giao thừa với thầy, với chùa. Thì à, thầy rất là trân trọng cái tình cảm à thắm thiết đó. Ừm... và thầy cũng mong cho quý Phật tử là mãi mãi được cái đạo tâm kiên cố, việc tu tập được tiến bộ, và trong năm mới, những ai mà lên đi đón nhà thừa thì sẽ được hên suốt năm.

[0:52]Thật ra á, chúng ta biết á, Tết không phải là cái nghi lễ trong đạo Phật, mà là cái gì? Là lễ hội truyền thống của quốc gia. Và cái phong tục của ta

[1:06]không lệ thuộc tôn giáo, chỉ có cái là ta lệ thuộc vào thời tiết. Và Tết là cái ngày đầu năm biến thành một cái lễ hội mà buộc ta phải vui, không biết tại sao, buộc ta phải vui, không vui là nghỉ chơi. Nghĩa là ngày 3 ngày Tết thì kiêng cái gì? Không được gì? Không được khóc, không được gì? Không được gây lộn, ờ không được ơ buồn so, nói chung là không được làm cái gì mà có vẻ tiêu cực. Phải ráng mà vui cho đủ 3 ngày, bởi vì ai cũng tin rằng là nếu 3 ngày Tết mà ta vui thì suốt năm sẽ được vui. Cái ý như vậy không biết tại sao, nhưng mà từ lâu đã thành cái truyền thống của dân tộc ta. Cứ đến gần Tết là ai cũng nô nao, rộn rã, vui mừng.

[1:54]Ờm và cái người này vui cái khiến người khác vui lây và tất cả cùng vui. Và cứ mỗi năm đến gần Tết ta lại ờ hân hoan, trộn rộn để mà đón mừng cái ngày tất cả đều vui. Mà hỏi ra vui gì không ai biết. Mà tất cả đều vui, rồi ta phải tạo thành niềm vui cho nhau bằng cách gì? Ta phải đành dựa vào một cái công thức muôn đời. Nghĩa là hạnh phúc là cái hệ quả phía sau của lòng thương yêu. À, muốn vui thì phải, phải thương nhau. Đó là cái công thức bắt buộc của muôn đời. Muốn vui thì phải thương nhau, không còn cách nào khác. Và như vậy, thế là ngày Tết là bằng mọi cái phương tiện, bằng mọi cách thức, con người ta cứ biểu lộ

[2:41]cái tình thương với nhau để cho, cho nhau vui. Chúng ta để ý lại phải không? Phải không? Ví dụ ta gặp con nít thì ta làm sao? Đó là biểu hiện của gì? Của gì? Của tình thương, phải không? Rồi ta gửi thiệp là biểu hiện của gì? Tình thương, sự quan tâm, sự nhớ mong. Gặp nhau ta chúc cho nhau lời tốt lành cũng là biểu hiện của gì? Của tình thương thôi. Chỉ có mấy đám đánh bài đó là không có thương nhau thôi. Mong thắng tiền người kia thì đúng là chỉ có đám đánh bài, nên nơi đó thường xảy ra gây gỗ mà đủ thứ chuyện lộn xộn. Còn bình thường, vì cái yêu cầu Tết của ông bà ta là phải vui, nên phải thương nhau.

[3:22]Và cái ngày lễ đó nó không phải lễ đạo Phật. Ừm, đó chính là lễ hội quốc gia. Vậy bây giờ ta đi tu rồi, rồi những cái người quý thầy quý cô đi tu rồi, hoặc là quý Phật tử cũng theo Phật rồi. Nhưng mà tới ngày Tết thì sao, cũng sao? Cũng không khác gì em bé. Chúng ta cũng nôn nao, cũng đón Tết. Bởi vì sao? Bởi vì sao ta theo đạo, theo Phật rồi mà ta vẫn nôn nao đón Tết? Chỉ bởi vì thẳm sâu trong lòng ta, cái cội nguồn dân tộc ta vẫn tiếp tục tồn tại, đúng không? Nên là ta đi tu rồi chứ mình vẫn không mất cái gốc của người Việt Nam. Nên tu thì tu mà Việt Nam cứ Việt Nam, ta cứ ta. À, và như vậy cái cái ngày Tết vẫn ảnh hưởng lên vào trong lòng ta

[4:13]bởi vì cái cội nguồn dân tộc còn ở trong lòng ta, còn nguyên. Nên ta vừa là con dân của Việt Nam mà vừa là đệ tử của Phật. Hai điều đó hòa quyện đẹp đẽ trong con người của ta, nó thành một cái khối thống nhất, không tách ra được. Hỏi ta là ai? Thì ta nói ta là dân Việt Nam, nhưng ta là ai? Ta cũng là đệ tử Phật. Hai điều đó hòa quyện một cách rất là tự nhiên mà ta không thể khước từ được, và Phật cũng chẳng bắt ta khước từ làm gì. Vì sao vậy? Muốn hiểu vì sao mà Phật không bắt ta khước từ những điều này thì xin mời đến sáng mùng 6, ta sẽ nghe cái bài thuyết pháp là vô tình. Vô tình chứ không phải là vô tình kiếm như là trong cái chuyện kiếm hiệp.

[5:01]Không biết sao ngày mùng 6 thầy cứ bị cái chữ vô ám ảnh. Cái năm kia thì vô tâm, năm vừa rồi vô trú, kỳ này là vô tình. Không biết sao kỳ cứ mấy cái ngày mùng 6 nó vô, mà không vô đồng nào, cứ vô tâm vô gì đó. Thì ở đây nơi chúng ta có hai cái chất trong con người của mình, cho nên chúng ta vừa yêu thương tất cả chúng sinh, không có ranh giới theo cái lòng, theo cái tinh thần từ bi của Phật dạy, và ta cũng yêu thương cái đất nước thiêng liêng này vì ta là là người Việt Nam. Hai cái, hai cái chất đó hòa quyện trong ta nên ta có hai cái tình yêu thương nó tồn tại cùng một lúc và không hề mâu thuẫn với nhau.

[5:42]Và ta yêu thương đất nước này và ta cũng yêu thương tất cả chúng sinh. Hai cái đó hòa quyện lại. Và hôm nay để nhấn mạnh về điểm này thì chúng ta cùng nhau nghe cái đề tài là đêm giao thừa nhớ cội nguồn. Cái cội nguồn này là gì? Tức là cái nguồn gốc của dân tộc ta, từ đâu đất nước Việt Nam được thành hình, truyền thuyết là Lạc Long Quân mẹ Ô Cơ là như thế nào? Hôm nay ta nghe cái bài hơi dài dòng nên sương sẽ xuống hơi lạnh, nên mọi người ráng nha. Nhiều khi mà nghe mà mình muốn ngủ thì mình uống nước trà tỉnh. Bây giờ ta nghe về truyền sử của dân tộc ta. À, dân tộc ta thật ra có cái cội nguồn từ cái phương Bắc của Trung Hoa,

[6:31]nên cái mặt chúng ta cũng hơi giống mặt người Trung Hoa là vậy. Là vì sao vậy? Vì đầu tiên là có một vị vua tên là Hoàng đế. Ừm, tên là Hoàng đế. Chữ Hoàng đế là cái tên, sau này người ta dùng cái chữ Hoàng đế nó giống như là một cái chức danh của một người đứng đầu cái đất nước, chứ ban đầu Hoàng đế chỉ là cái tên của ông vua thôi. Và ông vua này là một con người phi phàm, siêu việt, không phải người thường. Nên có một cái cuốn, bên Đông Y có một cuốn để lại gọi là cuốn Nội Kinh mà tương truyền tác giả là của Hoàng đế. Là vị Hoàng đế này có cái thần thông gì đó mà biết rất nhiều về con người và vũ trụ,

[7:16]nên ông viết cái cuốn nội kinh từ thời xưa. Chúng ta chưa có những phương tiện khoa học mà ông bằng cái tâm của ông, ông có thể biết hết về cái cơ thể học của con người và những điều mà kể cả ngày nay khoa học chưa biết. Ví dụ như hệ thống huyệt đạo. Hệ thống huyệt đạo thì ngày nay thế giới công nhận là có tác dụng với con người. Ví dụ đối với một vài bệnh châm vô đúng điểm nào hết bệnh, châm vài điểm nào tê mất cảm giác có thể mổ được, vân vân, là ngày nay khoa học công nhận. Nhưng mà mổ ra thì không thấy. Nói ở đó có cái huyệt hợp cốc, mổ ra không thấy, cũng thịt, cũng da, cũng máu bình thường, không khác gì các điểm khác.

[7:55]Nhưng mà hễ châm vô trị được cái bệnh nhức đầu, lạ lùng như vậy. Ừm, rồi sau này người ta chỉ tin, rồi cái bên Nhật và những cái nước Đông Âu có chế được cái loại cái viết dò huyệt á, nên là chúng ta đặt cái viết mà đúng cái huyệt là cái đầu bút nó sáng ánh đèn lên liền. Nên là điểm đó đúng là có cái huyệt, nhưng mà mổ không thấy à. Nhưng mà ngày xưa là trong cuốn Hoàng đế Nội Kinh đã nói về điều này. Người ta không biết là người xưa nhìn bằng cái gì. Nên phải thấy rằng là cái vị gọi là hoàng đế đó là một người không phải người thường, người như có phép. Rồi cái hệ thống mà âm dương, cấu trúc cái lực của con người,

[8:32]cái lực mà nó tàn ẩn phía dưới, cái lực bốc phía trên, được lý luận rất là rành mạch và ứng dụng vào trong đời sống và trong y học. Và chẳng những là ứng dụng vào trong y học, là các vị ứng dụng vào trong bói toán. Nhìn con người âm như thế nào, dương như thế nào, biết được cuộc đời của người đó sẽ ra sao. Và nhìn trời đất cũng vậy, nhìn các vì sao di chuyển và biết được cái là xã hội sẽ đi về hướng nào, lạ lùng như vậy. Nghĩa là từ cái vị hoàng đế mà viết cuốn Nội Kinh đến ngày nay người ta vẫn còn học á, là tương truyền cái vị hoàng đế gần như là, gần như là đầu tiên, là người dựng nên các quốc gia.

[9:08]À, và chúng ta biết á, vào thời xưa, rừng núi là còn dày đặc, các phương tiện giao thông rất là khó khăn. Tàu bè không phải là dễ có phương tiện đóng một chiếc tàu to, không có chiếc xe di chuyển đi xa, hầu hết là cưỡi ngựa, mà cưỡi ngựa cũng không phải là có nhiều con đường để đi. Nhưng mà cái vị hoàng đế đó có cái phương tiện di chuyển gì đó để có thể kiểm soát cả một cái lãnh thổ mênh mông của Trung Hoa ngày hôm nay, từ Bắc cho tới Nam. Ta phải đặt lại vấn đề, vì vào cái thời đó với một con người bình thường, ta chỉ có những cái tiểu quốc nho nhỏ, nho nhỏ, những cái xứ nho nhỏ, nho nhỏ. Một cái xứ mà của một quốc gia thời đó

[9:51]nó bằng cái tỉnh của mình bây giờ, tỉnh, hai tỉnh gì đó. Rồi sau này khi mà khoa học tiến bộ người ta chế được những cỗ xe chạy đi xa, những cái nòi ngựa nuôi được những đàn ngựa to, chế được những vũ khí mạnh người ta mới đi xâm chiếm thì mới mở rộng lãnh thổ, thì bắt đầu ta mới có những quốc gia lớn hơn dần dần, lớn hơn dần dần. Chứ còn thuở ban đầu chỉ là những cái xứ như một, hai tỉnh mình. Vậy mà cái vị hoàng đế này vào thời đó, bằng phương tiện gì đến ngày nay ta không biết, vị đó có thể kiểm soát được cả một quốc gia mênh mông, từ giáp Mông Cổ mà chạy xuống phía nam tới Việt Nam ta luôn, gần tới Việt Nam ta, mênh mông như vậy.

[10:30]Nên cái vấn đề này nó không phải là chuyện của con người nữa mà đúng là chuyện của thần thánh. Một lát ta sẽ giải thích tại sao là có chuyện thần tiên lọt vào chỗ này trong cái truyền sử này. Nếu mà ta cứ căn cứ theo cái khoa học, cứ suy luận rằng cứ người càng thời xưa thì càng sơ khai, càng lạc hậu, càng đơn giản, không có gì kỹ thuật, văn minh cả thì ta hiểu lầm. Ta có một cái hiểu lầm rất là lớn. Khoa học vẫn thường hay suy luận lầm như vậy. Ta không có thể ngờ rằng chính cái người càng xưa vậy họ có những cái văn minh tâm linh kỳ lạ mà ngày nay ta không giải thích được. Vì vậy là ta phải hiểu thế này, những cái vị làm vua thời xưa mà được

[11:11]mọi người tôn vinh lên làm vua là vì họ có khả năng rất đặc biệt, mà ta có thể gọi là quyền phép chứ không phải là bình thường. Thì những vị hoàng đế đó nối nhau tới năm đời, thì đến cái vị tên gọi là Thần Nông hay còn gọi là Viêm Đế. Thì cái vị này lại gọi là Thần Nông bởi vì vị này có cái hai cái khả năng đặc biệt. Một á là khả năng trồng cây, và hai là khả năng chữa bệnh bằng những loại cây cỏ, khả năng chữa bệnh rất là lớn.

[11:48]Cái vị Thần Nông này mở mang về nông nghiệp, dạy cho dân biết cách trồng trọt, biết cách chăn nuôi và biết cách là tự chữa bệnh bằng những cái phương thuốc mà những phương thuốc đó rất là hiệu quả. Ta đừng có nghĩ rằng người xưa họ chỉ là nhổ nhổ cây thuốc rồi đem nấu đại hết bệnh, không có đâu. Vị Thần Nông này cũng được kế thừa cái phép thuật tâm linh của cha ông từ cái vị hoàng đế, nên vị này có cái thần thông. Nên cái thần thông này không phải là vị đó là nếm cây thuốc rồi cái đoán ra để chữa bệnh, không có. Vị này bằng cái thần thông của mình, nhìn cái loài cây cảm nhận được cây này có dược tính gì,

[12:31]và nên bằng cái trực quan thôi và truyền nối từ đời này đến đời kia. Cứ đến ngày hôm nay bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, ta mới phân chất là xem cái cấu trúc phân tử của những cái hợp chất ở trong cái cây cỏ đó, thử nghiệm nhiều trên nhiều bệnh nhân khác nhau rồi để kết luận là cái vị đó chữa được bệnh gì. Còn ngày xưa, ông vua Thần Nông này ổng chỉ nhìn bằng thần thông, ổng biết được dược tính của cây liền. Những cái đời vua đó nối nhau như vậy. Và cháu ba đời của Viêm Đế tức là của Thần Nông á là bắt đầu tới khúc quanh đây là ngài Đế Minh, Đế Minh. Cái chữ Đế Minh này á, cái tên mà Đế Minh á là ta bắt

[13:11]đầu thấy phảng phất cái văn phạm của Việt Nam.

[13:17]Tại vì văn phạm của người Việt Nam á là làm sao? Cái tính từ để để sau, mà danh từ để để trước. Ta nói là cái "nhà trắng" là cái văn phạm Việt Nam, vì cái màu trắng là tính từ để sau, cái nhà danh từ để trước. Còn cái người Trung Hoa ngược lại, tính từ để để trước. Và muốn gọi là nhà trắng thì người Trung Hoa gọi là bạch gì? Bạch ốc, bạch ốc. Tính từ để trước. Nên qua tới cái tới cái vị mà Đế Minh này á, thì ta lại thấy ngạc nhiên là bắt đầu lại có cái văn phạm Việt Nam. Hoàng đế hay là Thần Nông, cái chữ "thần" để trước là văn phạm Trung Hoa, nhưng tới chữ "Đế Minh", từ cái Viêm Đế là văn phạm của Trung Hoa nha.

[14:01]Nhưng mà qua tới Đế Minh, cái chữ "đế" đi trước là Minh là sáng để phía sau bắt đầu chuyển qua văn phạm Việt Nam. Mà những cái từ này là từ trong sách sử Trung Hoa không phải của Việt Nam. Nếu vì sách sử Việt Nam viết lại á thì ta nói vì Việt Nam viết nên viết theo văn phạm Việt Nam, nhưng không, cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Lê Văn Hưu là hoàn toàn lấy của Trung Hoa về. Cho nên ổng viết nhiều cái hỗn xược của Trung Hoa, cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Lê Văn Hưu viết hỗn xược lắm, viết mà tối ngày cứ công kích tổ tiên không, thầy đọc thấy rất là phiền. Ổng lấy dữ liệu của Trung Hoa, ảnh hưởng tư tưởng của Trung Hoa.

[14:34]Thì cái chữ Đế Minh này bắt đầu là có văn phạm Việt Nam rớt vào. Đây là một cái nghi vấn ta để yên, tại sao ta để yên. Bắt đầu ta thấy ảnh hưởng của phương nam đã tràn lên tới phương bắc rồi, mà tại sao để đó. Thì câu chuyện như thế này, thì ông vua Đế Minh này ông có hai người con. Ông lấy cái người vợ cả đầu tiên sinh ra Đế Nghi, tức là người con trưởng. Rồi khi ông đi tuần về phương nam cho đến cái vùng Ngũ Lĩnh, đến cái vùng núi là vùng núi thiêng, thì ông lấy con của một vị lãnh chúa ở đó, một vị lãnh chúa. Tức là vị lãnh chúa có thể cũng thuần phục hoàng đế từ thời xưa. Nhưng mà cái vị lãnh chúa này cũng có phép tiên.

[15:18]Đời xưa chỉ có người nào có phép mới mới được làm vua, còn người thường thường nó giết liền, nó oánh liền. Không ai không ai bây giờ mà được dân bầu mà tôn xưng lên rồi có luật pháp hay là là lực lượng quân đội công an bảo vệ để mình giữ cái chức của mình đâu. Người xưa không có phép thì đừng hòng làm vua. Người ta chỉ phục, người ta lạy mình, xưng mình là con trên trời xuống vì mình có phép. Chúng ta nhớ điều đó. Nên lúc đó khi mà vua Đế Minh này ông sinh ra người con Đế Nghi với vợ đầu, rồi ông đi tuần suốt phương nam đến cái vùng núi Ngũ Lĩnh ở phía nam Trung Hoa thì ông gặp một người con gái cực kỳ đẹp.

[15:53]Đó là con của một một lãnh chúa ở phương đó và cũng là một vị thần tiên, là tên là Vụ Tiên. Thì ông xin cưới cô này và đẻ ra Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương. Chúng ta có cái đường Kinh Dương Vương nhớ không? Gần tới Bình Chánh đó, nhớ không? Cái người nào đi từ Sài Gòn ra Bình Chánh ta sẽ đi ngang qua con đường Kinh Dương Vương. Tức là vị này đây, vị khai quốc của ta đây, Kinh Dương Vương. Tức là Kinh Dương Vương cũng là con của Đế Minh mà là em của Đế Nghi, nhưng mà lại đặt tên là Kinh Dương Vương. Mà khi sinh hai người con như vậy thì vua Đế Minh mới thấy thế này, cái thằng em á có người mẹ là tiên.

[16:32]Kinh Dương Vương này cực kỳ thông minh, sáng láng và đạo đức, có cái bẩm sinh siêu việt. Là khi mà dạy những cái phép thuật của cha, những cái thần thông của cha thì Kinh Dương Vương học rất là lẹ và Kinh Dương Vương cũng học luôn được cái phép thuật của mẹ. Cho nên người này có thần thông, có cái tâm linh rất là đặc biệt, và cũng có đạo đức nữa. Nên lúc đó thì vua Đế Minh ổng làm cai trị suốt từ phía bắc từ Mông Cổ kéo dài dài dài tới Việt Nam. Thì ổng hai người con, ổng thấy cái người anh thì cũng hiền hậu, chất phác, cũng có được một số phép thuật nhưng mà không có siêu đẳng bằng cái người em là Kinh Dương Vương. Thì ông mới nói rồi:

[17:09]"Thôi ta sẽ truyền ngôi cho con. Ta truyền ngôi cho con vì con mới đủ bản lĩnh hơn cái người anh của mình." Nhưng mà Kinh Dương Vương là người có đức độ hiền lành, tại lúc đó cái người anh là Đế Nghi tuổi cũng lớn hơn rất là nhiều, đã trưởng thành, cũng đã có con có cháu rồi. Thì cái người em mới nói thế này: "Con hãy còn trẻ, con xin phép vua cha là con không nhận cái cái ngôi vua này. Xin cha hãy để cho anh con được là truyền thừa ngôi báu." Cái đạo đức không nhường, nên ta thấy đây là cái mốc son, cái dấu ấn đặc biệt mà ta sẽ thấy lác đác, lác đác cái đạo đức này nó rớt lại trong cái đất nước ta rất nhiều lần.

[17:48]Cái đạo đức mà người em đã nhường ngôi chứ không chịu nhận cái ngôi của mình. Cái cái đạo đức mà nhường ngôi vua, cái mà người ta giết nhau coi là không tiếc xương máu, ruột thịt, máu mủ đồng bào gì hết để mà giành cho được, thì cái người em nhường một cách rất nhẹ nhàng cho anh của mình. Cái người anh á rất là có phước nhưng mà cái tài và đức á là của người em, Kinh Dương Vương á. Thì khi mà Kinh Dương Vương quyết liệt không chịu nhận ngôi, mà mới thấy là anh mình cũng có đức, mặc dầu cái tài không bằng mình nhưng dù sao cũng là người anh cả. Lúc đó phía bắc là theo phụ hệ nha, theo cha. Thế thì vua vua Đế Minh mới thương con quá, mới thương thấy cái thằng em này

[18:26]nó quá xứng đáng để làm vua mà nó cương quyết từ chối, không biết làm sao. Cái ổng ổng bèn ổng cắt cái nước ra phía làm đôi luôn. Tức là từ cái cái hồ Động Đình mà chạy về phía bắc á thì giao cho người anh là Đế Nghi làm vua, từ cái hồ Động Đình mà chạy thốt về tới cái Quảng Trị là Quảng Trị Việt Nam mình á là giao cho Kinh Dương Vương. Thì lúc đó sự thật là Kinh Dương chỉ nói trên cái miệng thôi chứ Kinh Dương Vương cũng chưa bao giờ đi tới, mà sợ vua Đế Minh cũng chả bao giờ ổng đi tới cái xứ, nhưng mà biết rằng các xứ đó là trong tầm tay của mình bởi vì dân ở đó còn ít. Và cứ đắn tiếng là cai trị tới đó thôi chứ sự thật là dân còn ít lắm.

[19:03]Thì như vậy cái buộc lòng là người em phải nhận, tại vì đó là lệnh của vua cha, không từ chối được. Thôi thấy anh mình cũng làm vua, đất nước cũng tương đối lớn hơn mình, nói lớn hơn chứ chỉ lớn hơn xấp xỉ một chút à. Nên do đó, cái nước ở phía nam, nghĩa là cái khởi thủy của nước Việt Nam ta á nó gần bằng nước Trung Hoa vào thời đó luôn, xấp xỉ bằng phân nửa của nhau. Tại vì vua cha Đế Minh thương cái người em rất là nhiều, thương hơn người anh. Nhưng mà cái người em quá có đức á, quá có đạo đức cho nên nhường cho anh mình luôn. Thế là lúc đó sau khi mà nhận cái ngôi báu của vua cha rồi thì Kinh Dương Vương mới đi tuần dần dần về phía nam, đi tuần về phía nam.

[19:44]Thì sau này có gặp đến cái cái cái khu vực của một cái lãnh chúa khác nữa là có một vị đó tên là Thần Long ở cái hồ Động Đình. Cái hồ Động Đình là cái một cái hồ lớn của Trung Hoa, tương truyền là hồ rất là lớn và phong cảnh cực kỳ đẹp. Và cái vị mà lãnh chúa vùng đó tên là Thần Long, chữ "long" nghĩa là gì? Là rồng. Cái vị đó là rồng thần. Mà tại sao được tôn xưng là Thần Long? Không phải chuyện chơi, không phải đó là một cái mỹ từ mà ta gán cho một người để ta ca ngợi như bây giờ, mà sự thật có cái lý do, lý do bởi vì này: vì cái vị Thần Long này, vị lãnh chúa này có quyền phép rất lớn như một con rồng.

[20:26]Vị đó luôn luôn ở đầm ở nước, có thể nghĩa là làm phép để kéo mưa xuống, có thể đi trên nước, đi trên mây và có thể lặn ở dưới nước rất là nhiều giờ, nghĩa là có cái thần thông thật sự. Thì thì do Kinh Dương Vương cũng là một vị vua lớn hơn và cũng có quyền phép đến đó thì Kinh Dương Vương mới lấy con gái của vua Thần Long này. Cũng cầu hôn người con gái này và sinh ra một nhân vật mà ta đời đời phải kính thờ. Đó là đó là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân. Còn tên gọi là Sùng Lãm, Lạc Long Quân. Chữ Lạc coi như là một cái họ, chữ Long là rồng, Quân là vua. Và đến đời của Lạc Long Quân thì một lần nữa Lạc Long

[21:16]Quân được học cái phép thuật của cha mình là Kinh Dương Vương, học tiếp được cái phép thuật của ông ngoại mình là Thần Long, của mẹ mình là cô công chúa. À cho nên Lạc Long Quân là một vị mà phải nói là thần thông phép thuật quảng đại, không phải người thường. Nên sau này không biết, các nhà sử không biết cứ vẽ hình Lạc Long Quân với mẹ Âu Cơ là làm hai người quấn khố, giống những người mà sơ khai á, là một sai lầm lớn của lịch sử á, của những nhà khoa học á. Cứ hiểu lầm, đúng không ạ? Cứ suy theo cái cái bụng của mình là cứ càng ngược về phía trước thì người ta còn sơ khai hoang dã, không phải.

[21:51]Những cái vị vào thời đó họ văn minh hơn mình bây giờ rất nhiều bởi vì họ có cái khả năng tâm linh rất là siêu việt. Rất là siêu việt. Thì đến cái chỗ này, đến cái chỗ mà khi mà Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân thì đương nhiên là Lạc Long Quân là người nối ngôi vua, nối ngôi vua. Mà cái sự tích nó có thêm cái chỗ này lắt léo một chút là sử của Trung Hoa á mới chơi trác mình, viết rằng Lạc Long Quân đi ngược về phương Bắc để cầu hôn con của con của Đế Đế Lai. Đế Lai là người là con của Đế Nghi, là Âu Cơ. Cho rằng Âu Cơ là cháu ngoại của Đế Nghi, cháu nội của Đế Nghi, nhưng không phải.

[22:31]Không phải. Đây là một điều mà Trung Hoa đã chơi trác Việt Nam và làm cho nhiều đời cái người Việt Nam mình cứ bị lầm, nhưng không phải, thầy bảo đảm, thầy guarantee. Không phải điều này. Đây là điều thầy nói: Mẹ Âu Cơ là một nàng tiên ở cái vùng Bắc Ninh, Hà Nội.

[22:52]Ở cái khu vực đó vừa có những dãy núi, vừa có những cái sông hồ đẹp. Và mẹ Âu Cơ là cái nàng tiên bản địa ở đó, có phép thuật, cũng có phép thuật tiếp luôn. Vì lúc đó ở cái vùng phía bắc của Việt Nam ta đó, những cái ngọn núi nó chầu về ở cái vùng đồng bằng Bắc Bộ mà cái điểm tụ trung là vùng Hà Nội đó, có những cái hồ, có những cái dòng sông lớn, có những cánh đồng bằng và những ngọn núi giao hòa rất là đẹp. Và ở nơi đó thần tiên cư ngụ và ở đó có một nàng tiên rất là đẹp là tên là Âu Cơ. Thì một ngày, cũng giống như những ông nội mình vậy, giống như là những ông cố, ông nội mình, thì Lạc Long Quân lại đi tuần về phía Nam.

[23:32]Lúc còn trẻ và có phép thuật cho nên thường là đời đó không phải đi ngựa mà các vị dùng phép thuật bay không à. Đi dần về phía Nam đến đâu thì đáp xuống. Thầy sẽ nói tại sao đây là chuyện thần tiên, lát nữa sẽ nói. Thì Lạc Long Quân đi dần xuống tới cái vùng Hà Nội á mới gặp mẹ Âu Cơ và xin cầu hôn. Thì hai người mới lấy nhau, tương truyền đẻ ra được 100 người con.

[23:56]Đẻ 100 người con. Mọi người tin không ta? Tin không? Thầy bắt đầu tin. Khi mà chiều nay thầy nói chuyện với Thái Huy. Thái Huy đứng lên thầy coi coi. Thái Huy là người con thứ 11 của gia đình và mẹ Thái Huy sinh Thái Huy năm bà 52 tuổi mà đẹp như thế này, đẹp trai như thế này. Thôi ngồi xuống đi em. Mà vào cái thời của Lạc Long Quân và Âu Cơ đó, những vị đó sống vài trăm năm do có phép thuật thần tiên nên sống vài trăm năm. Cho nên đẻ mỗi năm một, đẻ luôn 100 năm, để dành 100 năm đẻ không. Có những năm đẻ sinh đôi, sinh ba nữa. Và đẻ rất đông con và ta gọi là 100 cho tròn con số. Chứ sự thật con số thật sự có thể là 107 hay là 96, con số nó không có tròn lắm.

[24:42]Nhưng mà ta cứ gọi 100 cho nó chẵn vậy, cho nghe nó nghe nó khủng bố chơi. Nhưng mà sự thật là con số nó có thể lẻ. Thì thì lúc đó đó, trong một 100 người con này, người con Hùng Vương á Hùng Vương là cái người con đầu tiên, sau này cứ nối tiếp nhau tới 10 Hùng Lân là người người con đầu, là Hùng Vương á nối ngôi nối ngôi của Lạc Long Quân. Nhưng mà ta để ý điều này một chút nè: là vì ngày xưa, Kinh Dương Vương nhường ngôi cho anh là Đế Nghi. Và sau này cái nước đàn anh cứ tiếp tục ăn hiếp nước đàn em, đánh chiếm, đánh chiếm, ép biên giới ta bây giờ còn nhỏ lại. Và tới ngày hôm nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục lấn biên giới ta từng tấc một.

[25:33]Từng tấc họ cứ cất nhà sát biên giới lấn dần lấn dần. Đến ngày hôm nay chưa hết cái tật đó, cái tật đó chưa bỏ. Mà ngày xưa là người em đã nhường ngôi cho anh. Nhưng mà người anh cứ lấn em. Tuy nhiên, cái đức đó nó thành một cái nhân quả, nó thành một cái nhân quả đời đời để lại cho con cháu. Mặc dù bước ban đầu đất nước ta có vẻ chịu thiệt, ta nhiều lần phải bị cái ách đô hộ ngoại xâm, nhưng mà để thành cái đức. Cái đức đó nó sẽ lác đác lác đác và khiến cho ta cứ kiên cường mà không bao giờ bị mất hẳn đất nước của mình. Hễ là ai có chiếm ta một thời gian ta oánh bay chạy mất là vậy. Rồi khi mà không còn ai thì ta oánh nhau chơi,

[26:15]nhưng mà hễ có ai thì ta lại oánh cái người giặc đó bay mất luôn. Đó là một cái đức. Đồng thời nó còn một cái đức lớn hơn nữa mà sau này ta sẽ thấy, đó là gì? Đó là sau này bỗng nhiên người Việt Nam được cả thế giới kính trọng. Sau này tự nhiên người Việt Nam, đất nước Việt Nam được cả thế giới kính trọng giống như là lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm ổng nói: "Sau ông 500 năm, đất nước cường thịnh đời đời, sáng rỡ luôn trên năm châu bốn biển luôn." Và nhiều cái ông đạo gần đây trong những thập niên vào đầu thế kỷ cũng có tiên tri là nói: "Việt Nam như thể cái lầu, về sau các nước đâu đâu cũng chầu." Thì ta có thể

[26:54]nói đó là một sự hy vọng thôi, nhưng mà cũng làm cho ta thấy có nhiều sự trùng hợp là sau này Việt Nam sẽ phát triển rất là đặc biệt, rất là rực rỡ. Và đặc biệt đó là Phật giáo sẽ phát triển cực thịnh tại Việt Nam chứ không phải tại một nước khác. Cái nền văn minh tâm linh của thế giới cũng sẽ bắt nguồn từ Việt Nam. Mà khởi đầu chính là Đạo Phật. À, sau này Việt Nam sẽ đặc biệt như thế là do cái đức ngày xưa mà Kinh Dương Vương đã nhường ngôi cho anh mình. Con cháu sẽ được hưởng, mặc dù chúng ta đã đi qua nhiều ngàn năm và ta rất là vất vả.

[27:30]Bây giờ ta trở lại cái cái truyền thuyết á, ta phân tích chút. Âu Cơ là một vị thần tiên bản địa như là một cái nữ thần, nữ tiên ở cái vùng, công chúa ở cái vùng Bắc Ninh á. Và nói cái ngôn ngữ khác hẳn cái tiếng Trung Hoa ở phương Bắc, tiếng khác hẳn luôn. Cái tiếng đó là tiếng mà ta đang nói, người Bắc đang nói. Còn từ đời Hoàng Đế tới đời Thần Nông, tới đời Đế Minh, tới đời Kinh Dương Vương, tới đời Lạc Long Quân vẫn còn nói tiếng Tàu. Nhưng mà khi Lạc Long Quân về rồi không chịu trở lên phía Bắc ở nữa. Mà tại sao? Đáng lẽ lấy vợ về rồi đưa vợ về cái chỗ của mình là cái kinh đô của mình ở gần hồ Động Đình.

[28:17]Nhưng mà rồi không chịu, không về được nữa, ở lại Hà Nội luôn. Tại sao? Ai biết? Tại sao ai biết? Ban đầu thầy cũng không biết, nhưng hồi nãy thầy nhìn thấy cái hình ảnh mà chị Quảng Nguyện đội cái nón cho anh Quảng Đạt, thầy chợt hiểu rồi, thầy chợt hiểu ra. Thì ra ngày xưa cũng bị dụ như vậy. Thì ra...

[28:41]Lúc đó, Lạc Long Quân phải nói là một chàng trai anh tuấn, phi phàm. Tướng mạo cực kỳ đẹp, cực kỳ giỏi, thần thông phép tắc quảng đại. Nhưng đến gặp Âu Cơ chịu phép liền. Chịu phép chưa? Đó là một người thiếu nữ xinh đẹp, duyên dáng, phúc hậu, vững vàng, bản lĩnh và cũng đầy phép thuật nữa. Con người sắc sảo trí tuệ nên nể liền. Và cái tình yêu nó đến do từ sự kính trọng đó. Phải không anh Quảng Đạt? Phải không? Đó, hỏi chính xác không trật người nữa. Và khi mà cầu hôn cưới nhau xong thì Lạc Long Quân có đặt cái vấn đề là về cái kinh đô rộng lớn ở hồ Động Đình để sống thì Âu Cơ sao? Âu Cơ làm sao?

[29:26]Ai đoán coi. Âu Cơ trả lời làm sao? "No anh à. No."

[29:35]Thứ nhất là không thể bỏ quê hương mà mình đã là một nữ thần để cai trị, không bỏ được. Và con cái cũng đã đầy đàn và nói cái tiếng tiếng Hà Nội. À nếu anh cảm thấy thích thì anh cứ về. Nhưng Lạc Long Quân sao? Bị nàng tiên mê hoặc, bị nàng tiên quá tuyệt vời, nên vua bỏ luôn cái phương Bắc, cả một lãnh thổ mênh mông. Thế là các quan cứ tiếp tục cai trị, còn ta thôi ở đây với vợ ta. Vợ ta là tiên trên đời này rồi, không còn đâu tuyệt vời hơn nữa. Ngài ở lại. Và do đó, cái những cái vị quan mà cai trị đó nên bị phía bắc cứ tràn lấn xuống lần lần cái họ quy phục phương Bắc luôn. Nên không hề có chiến tranh, mà nước mất từ từ ở phía trên đó luôn.

[30:19]Qua khỏi cái cái biên giới gần tới Quảng Đông Quảng Tây là nước ta mất từ từ trong hòa bình. Bởi vì những vị quan đó, cái ông vua mình không thấy, mà chỉ toàn thấy phương Bắc cứ tới lui tới lui này coi, thôi đi theo luôn. Rồi ông kia ổng thôi, thế là đất nước thì cũng cha ông chú mình chứ có ai đâu, thôi ai cai trị cũng được, miễn mình ở đây với vợ vô cùng hạnh phúc. Hạnh phúc không anh Quảng Đạt? Nhưng không ngờ, nhưng không ngờ. Nhưng không ngờ hạnh phúc không bền lâu. Giờ ta trở lại nè. Ta nói á, hiện nay đó cái người Bắc ta ta nói giọng của mẹ Âu Cơ, một cái giọng nói khác hẳn với giọng nói

[30:57]của người Trung Hoa phía phía phía phương Bắc. Cái giọng nói người Trung Hoa phương Bắc là sao? Xì xô xì xoa ta nghe thấy khó chịu. Như là ngộ thá lỳ sẩy á, tức là sao? Tao oánh mày chết á, ngộ thá lỳ sẩy. Còn cái tiếng của phương Bắc á trau chuốt, nó diễm lệ, hòa nhã, khả ái, đẹp đẽ, khác hẳn nhau, khác hẳn nhau. Và chúng ta hiểu một điều thế này, ta có một cái nguyên tắc nữa nè, là những đội quân à xâm lược luôn luôn bị đồng hóa bởi người bản địa. Cái người Mãn Thanh á sau khi họ chiếm xong Trung Hoa rồi thì họ không làm cho người Trung Hoa nói tiếng Mãn Thanh mà ngược lại chính người Mãn Thanh phải nói tiếng tiếng Trung Hoa.

[31:38]Đội quân xâm lược đều bị nghĩa là người bản địa đồng hóa. Nguyễn Hoàng là người Thanh Hóa nói giọng Bắc đặc, mà khi vô tới Huế thì nói thành giọng gì? Giọng Huế luôn, trọ trẹ luôn, mất tiêu luôn. Và ai mà chạy tuột vô tới Bình Định thì sao? Nói giọng Bình Định luôn. Giọng Bình Định sao ta? Tự nhiên quên mất rồi. À sư Thể nè. Sư Thể, thế là vô là nói sao sư? Không thể được thì người Bình Định sẽ nói là không thở được. Không thở được, cái chữ ê thành chữ ơ, ví dụ vân vân vậy. Mình nghe mình tưởng không thở được, không thở được làm sao sống? Không phải, ổng vẫn sống, vẫn sống. Bị đồng hóa lần lần về cái ngôn ngữ, cho nên là Lạc Long Quân cũng vậy.

[32:19]Quốc tổ của ta vậy, là người phương Bắc, ban đầu là nói tiếng xì xô xì xoa ngộ thá lỳ sẩy. Nhưng mà vô gặp mẹ Âu Cơ, mẹ Âu Cơ quá vững vàng, mẹ Âu Cơ quá đẹp, bản lĩnh, điềm đạm, trầm tĩnh, siêu việt, phép thuật. Và nói giọng hay quá. Thế là vua Lạc Long Quân mê. Mê cái con người mà từ cái giọng nói tới nhân cách, trí tuệ, khả năng siêu việt. Và đẻ ra một trăm người con, thì một trăm người con nói tiếng của ai? Tiếng của mẹ hay của cha? Tiếng của mẹ. Cho nên là ta ngày nay ta kế thừa giọng nói của mẹ Âu Cơ, giọng nói của tiên. Xin nhớ điều đó. Ta nói giọng của tiên mà ta không biết á. Từ cái thời mà Đế Minh cho đến Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân á

[33:05]mà đi vào nam từ từ, ta nên nhớ là cái người đàn ông đã bị bên vợ đồng hóa dần dần cho tới cái ngày mà Lạc Long Quân về với Âu Cơ, này là Âu Cơ tuyệt đối. Bây giờ thế này, là trong sử có ghi thế này: Lạc Long Quân nói với mẹ Âu Cơ: "Ta với nàng vốn là hai dòng khác nhau, ta là rồng, nàng là tiên nên không hợp giống như thủy và hỏa, cho nên ta thôi chia tay. Nàng đưa 50 con lên trên núi, ta đưa 50 con ở đồng bằng." Cái câu chuyện nói vậy thật ra không đơn giản như vậy, không đơn giản như vậy. Cái sự thật nó như thế này. Tình yêu nào rồi cũng sao? Cũng phôi pha.

[33:53]Sự nhớ nhung nào rồi cũng đi qua.

[34:00]Cái nồng nàn nào rồi cũng chia xa.

[34:05]Sau khi đẻ một trăm người con rồi thì hai bên đều oải. Cả hai đều oải. Cái mặn nồng ngày xưa bắt đầu nó không còn nữa mà đã trở thành còn lại là cái bổn phận, chỉ là cái trách nhiệm và bổn phận. Và lúc đó đó, hai giữa hai người xuất hiện một sự mâu thuẫn. Mà ta nhớ cái mâu thuẫn muôn đời của con người, của những tình yêu, của hôn nhân, của lứa đôi là làm sao? Lúc đó miền Nam ta theo mẫu hệ.

[34:33]Là mẹ Âu Cơ lúc nào cũng có cái cảm giác mình mới là người làm chủ gia đình. Lúc nào cũng có cái cảm giác đó. Nhưng mà Lạc Long Quân thì theo cái gì? Theo phụ hệ, lúc nào cũng có cảm giác mình là chủ gia đình. Mà trong gia đình có hai chủ được không? Bắt đầu đó, nên có hai người đôi khi không đồng quan điểm mà nhiều khi hơi giữ quan điểm của mình vì một chút tự ái, vì một chút tự ái. Và đó là thứ nhất là cái quan điểm về phụ hệ và mẫu hệ không đồng nhau, một cái mâu thuẫn thứ nhất. Cứ day rứt day rứt, khi mà tình yêu còn nồng nàn á thì còn nhường nhau được, đến khi lớn tuổi rồi, cái tình yêu nó lắng rồi thì cái mâu thuẫn nó bộc lộ rõ ra là cái thứ nhất.

[35:13]Cái thứ hai nữa là do cái phép thuật của tiên cho nên mẹ Âu Cơ lại thích vân du ở trên núi trên mây. Bà có phép, bà bay không à. Thì lát nữa thầy sẽ nói tại sao. Bà có phép bà bay không à và bà cứ theo cái sở thích của mình bà dạy nhiều phép thuật cho các con. Nhưng mà trong một trăm người con đó, mỗi người có một cái gen, một cái giống hay một cái chủng tử gì đó, thì có người lại thích cái phép của cha mà có người lại học được cái phép của mẹ. Hai cái loại phép khác nhau: một cái loại phép của rồng là bơi lặn trong nước, tung hô tạo thành mây tạo mưa, nghĩa là biến hóa một cách tự tại. Số người khác thì lại học được phép của mẹ là thích vân du đi giữa núi non,

[35:55]bay từ đỉnh núi này qua đỉnh núi kia, đứng trên núi nhìn cái cảnh vật nghĩa là mênh mông, rộng rãi và tu những phép thuật nghĩa là sống hoài không chết. Vân vân như vậy, sống sống trường thọ. Và hai cái phép thuật làm cho con bắt đầu tự nhiên tách thành hai nhánh. Mặc dầu là đều được học của cha của mẹ, nhưng có người tự nhiên học của cha hợp cứ theo học của cha, phép của cha. Còn người học phép của mẹ hợp cứ theo học cái phép của mẹ. Và những người học theo cái phép của mẹ rồi bị ảnh hưởng cái tính của mẹ là thích ở trên núi cao. Bởi vì tiên thích ở trên cao. Do họ có phép thần thông họ thích bay.

[36:28]Và lúc khi mà già rồi mỗi người bắt đầu thích sống theo cái sở thích của mình, chứ không còn bị ràng buộc bởi tình yêu mà cứ một ngày không gặp nhau lòng buồn như vạn thuở, không còn cái kiểu đó nữa. Mà bây giờ là bắt đầu già rồi, thích sống theo sở thích. Lúc đó Lạc Long Quân lại thích là giẫm trên nước, đạp qua những cái bờ hồ mênh mông như vậy, lặn xuống bờ hồ, bay lên mây rồi rồi những cái phép thuật như vậy làm cho ổng thích. Ổng đứng trên nước, ừ ổng bơi xuống nước vậy ổng cảm thấy thích. Nhưng mẹ Âu Cơ thì lại thích đứng trên núi nhìn đất trời mênh mông. Hai cái sở thích ngược nhau và đến lúc

[37:05]và cái cái cái cái giọt nước cuối cùng nó tràn vì một sự việc gì đó và hai người nói lời chia tay, hai người nói lời chia tay. Chia tay thì những người con mà học được phép của mẹ thì thích theo mẹ đi lên núi ở. Và những người con thích học phép được của cha thì ở lại với cha. Và chúng ta biết ở trên núi dễ xây dựng nhà cửa không? Dễ không? Khó. Cho nên lúc mẹ Âu Cơ mà dẫn đàn con lên núi cũng thành lập được một quốc gia và nước đó chính là nước của vua Thục, Thục Phán. Ở phía tây bắc, đất nước đó không phát triển về về phố thị. Vì cái phép thuật của tiên ở trên đồi trên dốc thì đâu cất nhà được nhiều.

[37:48]Còn 50 con mà theo vua cha Lạc Long Quân xuống á, đất đồng bằng nhiều nên rất dễ cất nhà. Nên cái thành lập những cái phố phường nhà cửa, thành lập những khu vực đô thị dần dần, những thị trấn dần dần. Nên lập thành quốc gia nó rõ rệt, có nền hành chánh nó rõ rệt hơn. Đó là lý do như vậy. Và lúc đó hai quốc gia cũng coi như một, bởi vì cùng máu mủ mà, như anh em. Tuy là hai xứ nhưng mà cũng qua lại với nhau bình thường. Mặc dầu là cũng cảm thấy giống như hai quốc gia nhưng mà cũng như một vào những đời ban đầu như vậy, đời ban đầu như vậy. Và ở lại đồng bằng thì ta có sử có sách, còn mẹ Âu Cơ mà dắt 50 người con về lập cái quốc gia ở phía

[38:30]trên núi á, trên núi cao á, sống chung với những người sắc tộc bản địa đó đó, thì nó không thành quốc gia rõ rệt nhưng mà cũng thành cũng thành được một cái lực lượng hùng mạnh. Phép thuật cũng truyền lại từng từ từ cho tới Thục Phán luôn. Nhưng mà có cái này là những đời phía sau sau 18 đời vua Hùng là những vị đó sống tới mấy trăm tuổi mấy trăm tuổi, cho nên hai vị coi như truyền nhau là suốt 2.622 năm. 18 đời vua Hùng mà truyền nhau tới 2.622 năm, bởi vì vị nào cũng sống vài trăm tuổi không à. Bên kia cũng vậy, bên kia cái sử không rõ ràng nhưng mà những đời mà nối tiếp trị vì cái vương quốc ở phương Bắc thành cái

[39:10]nước Thục á cũng là truyền đi truyền đi dần dần. Nhưng có một điều khác chút xíu là không hiểu tại sao thì 18 đời vua Hùng á, cái phép thuật của vua cha á của loài rồng á thì truyền giữ được. Còn ở cái phía nước Thục ở Tây Bắc á, phép của mẹ lại thất truyền từ từ, những người sau không thành công bằng. Do đó cái quyền phép mà tung bay thành những thần lực trên trời trên mây á bị giảm lần giảm lần chỉ còn biến thành cái võ công siêu đẳng nè. Võ công siêu đẳng chứ không còn là phép thuật như là những đời vua Hùng nữa. À và cái đời vua Hùng thứ 18 là vua Hùng Duệ Vương có một cái sự kiện xảy ra rất là lớn,

[39:52]đó là việc mà Sơn Tinh, Thủy Tinh cầu hôn công chúa Mỵ Nương, ta có nhớ không? Nhớ không? Thì đến đời đó cái khiến giống như là cái cái triều đại của vua Hùng đã tới lúc phải kết thúc nên vua không có con trai. Chỉ có một người con gái rất xinh đẹp mà vua cũng dạy phép thuật và công chúa cũng có phép. Thì à thầy quên nói là là các đời vua Hùng lập cái nước gọi là nước Văn Lang. Nước Văn Lang là cái nước đầu tiên, cái tên gọi đầu tiên của ta như vậy. Còn cái nước của vua Thục, ta không có cái tên rõ ràng, chỉ có cái họ của vua Thục thôi. Ừ. Lúc đó à trong cái trận chiến Sơn Tinh, Thủy Tinh là thế này, bởi vì cái thời cái vùng

[40:30]đó thần tiên nhiều lắm chứ không phải. Từ lúc mà mẹ Âu Cơ ở đó là đã có thần tiên rồi. Những người đó họ không thuộc dòng họ của vua Hùng Vương hay là họ cũng là cháu xa xa gì đó nên họ cũng được học cái phép thuật. Bởi vì trong 50 người con mà ở với cha thì có những người cũng đã được học phép thuật rồi truyền cho con mình. Rồi nó truyền đời xa đời xa nên thành có hai nhân vật rất là lạ đó là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Ta dùng cái chữ tinh chứ ngày xưa nó là chữ tinh có nghĩa là thần thánh á, chứ không phải tinh ta hiểu bây giờ là yêu tinh quỷ mị đâu. Chữ tinh ngày xưa có nghĩa là thần thánh á, những vị đó có phép lớn.

[40:59]Và cả hai vị đều đến cầu hôn công chúa Mỵ Nương, nhưng mà rồi Sơn Tinh đã thắng, đã thắng và cầu hôn được công chúa nên về ở rể trong triều đình với vua Hùng Vương thứ 18 là Hùng Duệ Vương. Thì vào cái thời đó à lúc đó là phía Tây Bắc cái vua vua Thục đem quân qua đánh. Rồi ổng bắt đầu ổng có cái tham vọng là đánh chiếm cái nước Văn Lang để mở rộng cái vương quốc của mình. Bởi vương quốc của mình ở phía Tây Bắc nó hẹp, núi đồi nhiều quá, không mở mang được mà thấy thấy cái vùng đồng bằng Bắc Bộ nó mênh mông, nó văn minh hơn nên ổng muốn dùng vũ lực để ổng đánh chiếm. Nhưng mỗi lần mà kéo quân sang đánh thì vua Hùng như khảy ngón

[41:42]tay cái là bay liền, tại vì ổng có sức sức thần thông. Mà vua Thục thì bây giờ chỉ còn là võ công cao siêu chứ không có sức thần. Nên đánh đi đánh lại không được, rồi truyền cho tới đời Thục Phán. Tới đời Thục Phán là sau này thành vua An Dương Vương á, thì Thục Phán cũng đem quân qua đánh mà đánh cũng không được. Thì vua Hùng Vương có nói một câu mà sử có ghi: "Sao mà nó cứ ham nó đánh hoài? Nó đã biết rằng ta có phép thần, nó không thể nào đánh bại ta được, ta đánh là tan mà cứ đánh hoài." Thì cái câu đó còn ghi trong sử. Rồi có chuyện thế này nữa là sau khi mọi việc ổn định thì vua Hùng mới nghĩ đến chuyện là truyền ngôi vua cho con rể.

[42:21]Bởi vì không có con trai. Truyền ngôi cho Sơn Tinh mà bây giờ ta hay gọi là Sơn Thánh á chứ không gọi là Sơn Tinh. Thì Sơn Tinh lại là một cái người cực kỳ cao siêu đức độ. Ồ! Nước Việt Nam ta lại xuất hiện một lần nữa. Là từ cái đời Kinh Dương Vương ta thấy xuất hiện một lần, bây giờ tới đời Sơn Tinh xuất hiện một lần nữa. Thì khi vua Hùng Vương mới đặt vấn đề đối với Sơn Tinh: "Bây giờ ta không có con trai, à chỉ có Mỵ Nương và con là con rể mà con là một người cũng rất tài giỏi, phép thuật, thông minh, đạo đức nên bây giờ ta truyền ngôi cho con." Thì Sơn Tinh mới nói thế này: "Là tâu phụ vương, con không có tham vọng làm vua. Con không có tham vọng làm vua.

[43:00]Ừ. Con có một đề nghị nếu vua cha hoan hỷ hãy cho con được trình bày." Nói: "Con cứ nói." Thì Sơn Tinh mới nói thế này: "Nếu xét theo lịch sử thì Thục Phán cũng là con cháu của ta, cũng là ruột thịt của ta, từ cũng là theo 50 người con mà theo nghĩa là Quốc Mẫu ngày xưa mà đi về phía đó lập quốc. Bây giờ nó có chút tham vọng tại nó không có đạo đức, mà cũng là cái nỗi khổ tâm của nó, bởi vì đất nước nó chật quá mà đồi núi không, nên nó muốn là mở rộng đất nước. Vì cái đây là cũng cái áp lực do cho nó nó thương nước thôi, nhưng mà nó không có nghĩ ra cách nào khác, nên lòng nó cũng tốt chứ không phải.

[43:41]Mà nó cũng là ruột thịt của mình chẳng ai xa lạ. Nên con đề nghị vua cha thôi giao đất nước cho nó để thống nhất thành một quốc gia chung. Để thành một cái quốc gia chung. Với lại là Thục Phán cũng là người có tài, tuy không có phép chi nhưng võ công cũng siêu đẳng và người cũng có trách nhiệm." Sau khi mà Sơn Sơn Tinh trình bày như vậy thì vua Hùng Duệ Vương cúi đầu suy nghĩ một lát mới thấy: "Thôi cũng được, với lại là bây giờ còn ai truyền, Sơn Tinh không chịu thì chỉ còn..." Thì vua Hùng Vương mới cho sứ giả qua gọi Thục Phán nói cho biết cái ý định là giao đất nước này luôn. Thục Phán nằm mơ không thấy, tưởng là còn phải đánh rất là vất vả,

[44:22]không ngờ là là là vua cha vua Hùng Vương kêu qua cho luôn. Nhưng mà khi lúc đó Thục Phán mới đi qua chầu thì vua Hùng Vương mới bắt một điều kiện là phải thề. Cái lời thề được khắc trên tảng đá mà bây giờ còn ở trên cái cái núi ở Phú Thọ. Là thề là: "Đời đời giữ gìn đất nước này bình yên, ổn định, tốt đẹp, thịnh vượng, đời đời thương yêu, chăm sóc cho dân." Cái lời thề của Thục Phán An Dương Vương. Sau khi mà Thục Phán làm lễ thề như vậy thì vua Hùng Vương mới tuyên bố trước toàn dân là từ đây Thục Phán cai trị cái quốc gia Văn Lang này. À lúc đó là kết hợp quốc gia luôn, đất nước ta mới rộng luôn từ cái Tây Bắc

[45:07]kéo về hết luôn tới cái đồng bằng Bắc Bộ về tới Quảng Trị là khoảng đó. Còn lại thì vua Hùng Vương với Sơn Thánh và Mỵ Nương dùng cái phép của mình bay lên mây đi mất. Bay mất đi về một cái cõi thần tiên mà ta không biết, nhưng sau này Sơn Tinh không đi được. Sau này Sơn Tinh không đi được vì có cái lý do thế này. Thì khi mà An Dương Vương lên ngôi thì lúc đó là ở phía Bắc cái nước có cái nước tên là Nam Việt là Triệu Đà cai trị, và Triệu Đà lom lom dòm ngó cái phía Nam này và đem quân xuống đánh. Vua Thục Phán An Dương Vương phải cầm quân đánh lại mà phía Bắc đánh rát quá, Triệu Đà giỏi quá, cầm quân quân đội hùng mạnh quá, đánh rất là vất vả.

[45:51]Nhưng mà may là An Dương Vương có một cái đại tướng tên là Cao Lỗ. Thì Cao Lỗ là một cái người cực kỳ giỏi võ mà đầu óc cũng cực kỳ có cái giỏi về kỹ thuật khoa học. Cho nên Cao Lỗ đã chế ra được cái nỏ thần, đó là một cái cỗ máy. Và Cao Lỗ rèn sắt chế ra cái cỗ máy, mỗi cái mũi tên cái đầu nó bằng sắt nặng mà chế trong kho đầy như là kho đạn á. Một lần ôm một bó để vào cỗ máy, mà cỗ máy này rất nhiều cỗ máy và bắn một cái là bay cả mấy ngàn mũi tên nó đập xuống quân địch. Chết như rạ. Triệu Đà đánh không nổi. Cao Lỗ cũng là người mà góp ý để để xây cái thành Cổ Loa rất là hiểm trở mà không ai có thể đột nhập một cách là

[46:29]là là là dễ dàng được, là đột nhập bị khám phá liền. Cái thành Cổ Loa ngày nay là bị chìm xuống bớt mất hết cái cái dấu vết thành quách. Nhưng mà thời đó cái cái kiến trúc của thành Cổ Loa rất là bí hiểm. Không ai mà nếu mà không được phép không bao giờ có thể đột nhập vào tới cung điện bên trong được. Nhưng mà rồi cái sự tình xảy ra ta biết là chuyện gì xảy ra làm mất nước? Trọng Thủy, Mỵ Châu phải không? Trọng Thủy, Mỵ Châu thì Thục Phán cũng không có con trai. Có một cô con gái rất đẹp mà rất chảnh.

[47:00]Rất chảnh và mê trai nữa. Và lúc đó là Triệu Đà đánh không nổi thì mới dùng tới cái cái là nam nhân kế là đưa Trọng Thủy sang cầu hòa và cầu hôn xin ở rể luôn. Ở rể với tính cách là làm con tin, tức là nếu mà Triệu Đà mà đánh thì ở đây vua Hùng Vương cứ giết Triệu giết Trọng Thủy. Đó, nên cái vua An Dương Vương thấy có lý, có lý. Và lúc đó là khổ cái là Mỵ Châu nhìn Trọng Thủy một cái rụng rời tay chân. Đẹp hơn Thái Thiện nhiều. Trọng Thủy đẹp trai hơn Thái Thiện nhiều, Thái Thiện đứng lên cho mọi người coi mặt coi. Đó, thấy không? Cười cười vậy đó, rùng rợn chưa? Mà Trọng Thủy đẹp trai hơn rất nhiều.

[47:40]Và... Mị Châu mê, nên Mị Châu, chính Mị Châu đã tác động Vũ An Diên Vương là đồng ý cuộc hôn nhân này. Vũ An Diên Vương thương con gái, đồng ý. Thì lúc đó chỉ có một mình Cao Lỗ là cực kỳ can ngăn nói, thưa tâu hoàng thượng, gián điệp mất nước. Một bên thì Vũ An Diên Vương cũng nghe Cao Lỗ, một bên thì thấy con gái mình thương quá. Dòm thấy mặt thằng kia nó cứ lạy, nó nó nó khiêm tốn, nó lễ độ, nó ngoan ngoãn, cũng siêu lòng, đồng thời bí mật cái gián điệp của Trọng Thủy là đi mua chuộc các quan. Ta cứ bị cái nghiệp từ muôn đời là những người làm quan trong đất nước ta thường hay bị nước ngoài bí mật mua chuộc.

[48:21]Tới bây giờ vẫn chưa hết cái nghiệp đó, từ thời An Nhân Vương. Tới bây giờ vẫn chưa hết. Ta hay bị gián điệp nước ngoài mua chuộc các quan chức á. Thì ờm, các quan bắt đầu khi bị mua chuộc rồi cứ nói vô, nói vô, nói vô, ô, sợ gì Triệu Đà mà mà phản phúc cầm quân bên đây chém Trọng Thủy. Cái vua bị thuyết phục quá, cái vua chấp nhận cuộc hôn nhân. Và Cao Lỗ can ngăn không được, cuối cùng bị Mỹ Châu dèm pha, vua cách chức Cao Lỗ đuổi về quê luôn. Cao Lỗ về mang nỗi buồn mênh mông vì lòng yêu thương nước mà biết trước là đất nước sẽ mất, phải về quê dạy võ và dạy cho dân rèn sắt tại ổng có nghề. Nên sau này cái cứ xưng Cao Lỗ là ông tổ rèn sắt, chứ sự thực đó là sai.

[49:04]Cao Lỗ là ông tổ của công nghiệp quốc phòng Việt Nam, vì đó là người chế ra cái cỗ máy nỏ thần, chứ không phải là là ông tổ rèn sắt như bây giờ người ta hiểu lầm đánh giá thấp á. Vào cái thời đó là rèn sắt là cái kỹ thuật rất là khó. Ừm. Thì ờm, cho đến khi mà Trọng Thủy mua chuộc được hết các ông quan, sĩ quan mà chỉ huy cái các máy nỏ thần, mua chuộc hết toàn bộ, rồi mới báo về vua cha, bí mật nỏ thần con đã nắm được. Các quan chức con nắm được hết, quan trong triều đình nắm được hết. Bây giờ cha cất quân sang đánh. Triều Đà mới hỏi, thế còn Cao Lỗ chết chưa? Nói dạ chưa, nói không, chừng nào Cao Lỗ chết ta mới đem quân qua đánh.

[49:42]Vẫn sợ Cao Lỗ. Tại vì Cao Lỗ, khả năng của Cao Lỗ là võ công phi thường, bay như chim. Một mình địch 1000 người bình thường, không xi nhê gì hết. Nên hễ Cao Lỗ còn thì Triệu Đà không dám oánh. Tại đụng Cao Lỗ nhiều lần sợ. Ra mặt đối mặt Cao Lỗ là oánh chạy liền, không còn. Thì lúc đó giao Trọng Thủy giết Cao Lỗ. Lúc đó là Trọng Thủy không biết cách nào giết, không ai đánh nổi Cao Lỗ hết. Mới bàn với các quan trong triều đình, thì trong đó có những cái vị quan mới bày ra cái kế. Tại vì lúc An Dương Vương ổng chủ quan quá rồi, ổng thấy đất nước bình yên, ổng chủ quan. Ổng lấy, nói Mị Châu lấy cái mộc, đóng cái dấu là triệu Cao Lỗ về kinh.

[50:23]Và giữa đường, trên đường đi, phục kích bằng chính những cái nỏ thần mà Cao Lỗ đã chế ra. Đây là nhân quả, nhân quả. Thì Cao Lỗ cầm cái chiếu chỉ mà vua triệu về kinh thì lòng buồn rười rượi. Biết kỳ này là là tai họa chứ không phải là sự thật, nhưng mà cái chiếu chỉ không dám cãi. Lúc đó cái thẻ tre đó có dấu có ống, cầm không dám cãi. Từ giã hết gia đình, biết đi vào cõi chết nhưng mà không cưỡng lại được. Ừm. Mà đúng vậy, đi trên đường đi đúng vào hẻm núi thì những cỗ máy kia nó xả tên xuống. Mấy ngàn mũi tên dập một lúc như vậy, Cao Lỗ, tên găm đầy người, tên găm đầy người. Một lát là chết thôi, chết bỏ thây giữa rừng giữa núi luôn, mất luôn.

[51:03]Và sau khi tin báo cho Triều Đà là Cao Lỗ đã bị muôn ngàn mũi tên dập rồi, Triều Đà cất quân đánh liền. Khi nghe tin báo là Triều Đà cất quân đánh, Vũ An Như Vương nổi xung đi kiếm Trọng Thủy để chém. Trọng Thủy có còn đó không? Trốn mất tiêu. Lúc đó mới chỉ kêu sai các quan, các quan biến mất không một người nào vâng lời. Chỉ một mình một cha, một con gái, cõng nhau trên một cái tuấn mã chạy mất về Thanh Hóa. Chạy mất về Thanh Hóa. Và ta nhớ cái truyền tích mà rắc long ngỗng để cho Trồng Thủy theo tìm á, theo tìm. Lúc chỉ còn thấy cái xác của Mị Châu đã bị vua chém bay đầu. Bởi vì biết đã lầm.

[51:41]Cái việc rất là đau lòng. Bây giờ ta... ta ngừng ngang chỗ này một chút. Cái chuyện còn dài lắm. Nghe nổi không? Nghe nổi nha. Hấp dẫn không? Bữa nay nghe để cho biết rõ cái cái nguồn gốc mình chút xíu nào giờ nghe sử không có biết hết. Bây giờ ta nói ngắt ngang cái tại sao có chuyện thần tiên ở đây, có chuyện phép thuật nằm ở đây. Tại sao? Tại sao có chuyện thần tiên ở chỗ này? Muốn biết tại sao có chuyện thần tiên, ta phải truy ngược, truy ngược lại nguồn gốc tại sao loài người xuất hiện trên trái đất này, ta mới biết tại sao có chuyện thần tiên. Chúng ta nói lại, từ cái thời mà trái đất bắt

[52:20]đầu ổn định vào cái kỷ mà tạo thành được cái sự sống, lúc đó rừng cây xanh mướt, à sông suối ổn định, nhiệt độ trái đất đã điều hòa, cây trái đã sum xuê, hoa mọc, nhiều cái loại cây trái ăn được đã xuất hiện, thú tung tăng trên những cánh đồng, những khỉ vượn leo chuyền trong các cành cây và những cái thác nước cực kỳ đẹp, sóng biển thì dập dìu, à mây bay trên đỉnh núi, trăng qua đầu non, là cái trái đất của ta làm sao? Như một thiên đường, như một thiên đường cực kỳ đẹp. Bây giờ thì ta cứ nghĩ rằng trái đất ta không đẹp thôi, chứ ngày xưa vào cái thời đó, trái đất ta rất là đẹp. Lúc đó có nhiều thiên tử hết phước cõi trời, nhìn xuống trái đất bị động tâm.

[53:07]Bị động tâm vì lúc đó trái đất không có cái gì? Không có, không có chiến tranh, ừm, không có đại bác mà bắn ầm ầm, không có bệnh tật, không có khủng bố mà lái máy bay đâm vô nhà người ta, không có bom nổ mà mà tự sát giết người vô tội, thì không có cún gà, không có sida, không có nhạc rap giật la ầm ầm, không có bán độ đá banh, không có bán độ bóng đá. Tức là không những chuyện mà làm người ta ta đau lòng, khó chịu lúc có trái đất còn thanh bình, hoang sơ, đẹp đẽ. Tới mùa này thì hoa lựu nở, mùa kia thì hoa cúc vàng, cái mùa nọ thì đào đơm bông, như vậy cứ nối như nhau. Những mùa mà trái chín rụng đầy gốc cây,

[53:53]những con sóc, những con thú lại ăn, vân vân. Những đồng cỏ xanh tươi, những đàn hươu nai nhởn nhơ, đẹp đẹp đẹp ghê lắm. Và những thiên tử cõi trời bị động tâm vì cái cảnh địa đàng. Thiên đàng ở biết nhiều quá chán rồi, giờ bỗng nhiên bị mê cái cảnh địa đàng, là một loại chúng sinh thứ nhất, động tâm muốn sinh về cái cõi đất này. Cái loại chúng sinh thứ hai là có những cái chúng sinh khác, họ không ở cõi trời, nhưng mà họ là những cái chúng sinh ở cái phước thấp. Họ lãng bạt trong những cõi giới thấp gần với cõi đất này, và họ cũng thiết tha có một cái thân vật chất để họ tận hưởng cái cuộc sống này.

[54:29]À, nó nó nó thêm những cái những cái chúng sinh ở trong cái cõi siêu hình, cái tâm linh của họ bị cái thúc đẩy bởi cái ham muốn xuất hiện bằng cái thân vật chất trên cõi đất này. Và cái tâm ham muốn đó nó tồn tại, tồn tại, nó kéo dài cả mấy triệu năm. Cái nơi này mấy chục ngàn năm, nơi kia mấy trăm ngàn năm như vậy. Và chính cái tâm ham muốn nó thúc đẩy loài người xuất hiện. Loài người xuất hiện như thế nào thì hôm nay thầy xin phép được giữ bí mật tiếp. Và có khi ta nói là do đột biến gen, do cái sự thúc đẩy đó quá nên gen bị đột biến. Có những con vật bị đột biến gen, những cái gen ngủ ngầm nó

[55:02]nó thức dậy và nó truyền cái gen thức dậy đó vào cho loài người, cho cái thế hệ con đó và con nó thành người. Ta có thể nói như kiểu đặc huynh, nhưng thật ra vẫn còn cách xuất hiện khác bí mật hơn nhiều, thần thoại hơn nhiều. Hôm nay thầy chưa tiện nói, tại nói ra không ai tin. Nhưng mà chính cái ý muốn đó, loài người xuất hiện, và loài người không phải xuất hiện một lần, không phải xuất hiện một lần, không phải từ một cái cặp vợ chồng đầu tiên rồi đẻ ra hết cả thế giới này. Bởi vì nếu từ một cặp vợ chồng đầu tiên mà đẻ hết thế giới này thì ta bị bệnh đồng huyết chết hết, cơ thể suy nhược chết hết, phải không anh Quảng Đạt?

[55:39]Đó, theo luật di truyền. Cho nên lúc đó ở cái góc Âu Châu có một nhúm người xuất hiện, ở phía bên Nga nhúm người xuất hiện, mấy chục ngàn năm sau một nhúm người xuất hiện, một triệu năm trước một nhúm người xuất hiện ở Trung Hoa, ở cái lác đác ở Úc Châu, một nhúm người xuất hiện của mấy chục ngàn năm sau, mấy trăm ngàn năm sau. Nghĩa là quá trình mà để xuất hiện con người là không phải một lúc mà xuất hiện đồng bộ người trên Trái Đất, mà nơi đây xuất hiện rải rác, nơi này nhúm, nơi kia nhúm, mà cái thời gian nó xê dịch nhau, cách nhau mấy chục ngàn năm, mấy trăm ngàn năm, thậm chí cả triệu năm mới xuất hiện được con người như vậy, không phải dễ.

[56:15]Đó, và chính những con người mà xuất hiện xa xa nhau, gặp nhau mà kết hôn á, nó tạo thành những cái gen di truyền rất là mạnh, khiến loài người được tồn tại là vì. Ừm. Thì ở đây còn có cái này nữa. Khi mà những thiên tử họ hóa sinh xuống thành loài người thì họ còn nhiều bạn bè ở trên trời, và những người bạn bè đó theo dõi họ, nhắc cho họ nhớ lại và dạy cho họ nhiều cái phép thuật của cõi trời. Những người đó do còn cái tâm linh ở cõi trời nên mới đầu thai xuống làm người và được bạn bè thiên tử nhắc nhở nên họ nhanh chóng họ khai mở tâm linh và họ có quyền phép liền. Nên lúc đó là bắt đầu có những con người đầu tiên đã có quyền

[56:55]phép, không cần học, không cần phải là đi tìm thầy học đạo. Bởi vì trong cái tâm linh họ được chư thiên xuống nhắc nhở thường xuyên vì những người bạn của họ và họ mới đầu thai xuống nên tâm linh họ còn minh mẫn và linh mẫn, họ nhanh chóng có phép, họ nhanh chóng có phép, những người đầu tiên như vậy. Thì những cái người mà có phép như vậy, họ sống với nhau như vậy, và lúc đó họ gặp những cái người cũng là loài người, nhưng mà không phải từ cõi trời xuống, mà có khi từ cõi thú đi lên. Những con khủng long đầu thai lại, những con hươu con nai đầu thai lại. Thì những cái loài người đó tầm thường, không có phép thuật.

[57:28]Và khi thấy cái người mà không có phép thuật, không có tâm linh mẫn tiệp, thì gặp một người có phép thuật, gặp một người có tâm linh mẫn tiệp thì sao? Thì phải làm sao? Phải làm sao? Ngưỡng mộ, kính trọng và tôn lên làm, làm vua, làm người lãnh đạo. Cho nên những thế hệ lãnh đạo đầu tiên của loài người là đều là những người thần tiên có phép thuật. Nên cái chữ mà thiên tử còn để lại là vua của con của trời để tôn xưng một ông vua là không phải là người ta dùng mỹ từ, người ta đặt cho vui, mà bởi vì có thật, những thần thoại có thật. Chính vì vậy mà cái phép thuật thần tiên đã có mặt từ cái buổi sơ khai khi mà loài người mới xuất hiện trên trái đất này.

[58:11]Và cái phép thuật đó được truyền đi, truyền đi từ nhiều đời, cho đến cái đời mà Kinh Dương Vương, tới cái đời Lạc Long Quân của ta, đến các đời vua Hùng thì những phép thuật đó đều tồn tại.

[58:25]Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Văn Hư viết á, vì viết dựa vào cái sử Trung Quốc nên bôi bác và toàn là mắng chửi tổ tiên, rất là rất là sai lầm. Cho thật sự tổ tiên ta rất là là đẹp. Ừm.

[58:40]À, sau khi mà Triệu Đà cai trị, rồi Triệu Đà cũng bị phía Bắc đánh tan thôn tính, đất nước ta bị bị nội thuộc phương Bắc bao nhiêu, nhiều gần cả ngàn năm, và trong suốt ngàn năm đó có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra. Và hôm nay thầy muốn giới thiệu cái cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng một chút. Cuộc khởi nghĩa đó đã xảy ra như thế nào? Hai bà bà Trưng là ai? Là ai? Là vợ của? Của Thi Sách. Thi Sách là ai? Thi Sách là chồng của? Bà Trưng. Sự thật là Thi Sách là con của một lạc tướng ở huyện Chu Diên, còn bà Trưng là con cũng của một lạc tướng ở huyện Mê Linh. Mà lạc tướng nghĩa là gì? Ngày xưa đời vua Hùng có hai cái chức quan, một là lạc hầu, hai là lạc tướng.

[59:33]Lạc Hầu tức là quan võ, mà Lạc... ế, Lạc Tướng là quan võ, Lạc Hầu là quan văn. Mà những vị mà quan võ giỏi khủng khiếp lắm à, võ công khủng khiếp lắm, không có như bây giờ. Thì Thi Sách là con của Lạc Tướng, cho nên võ công sao? Siêu đẳng. Võ công mà có lai lai phép ở ổng nên giỏi khủng khiếp lắm. Chứ không phải võ như ta bây giờ mà đánh ạch đuội như bây giờ đâu. Hồi xưa võ nó có lai phép, cho nên đánh khủng khiếp lắm mà ta gọi là đánh chưởng á. Nó có thể nhảy rất cao, phất một tay là đánh cái kình lực phát ra từ xa, đánh như phép, võ mà lai phép, nên khủng khiếp lắm. Thì Thi Sách, Thi Sách là cái con người như vậy á.

[1:00:12]Võ công rất là cao siêu và trí tuệ cực kỳ mẫn tiệp và có cái chí muốn giành độc lập cho đất nước. Thì lúc mà gặp bà Trưng, thì gặp một người con gái vừa đẹp vừa cực kỳ giỏi võ. Bà Trưng cũng là con của một lạc tướng, được cha truyền thụ võ nghệ hết luôn. Bà Trưng rất là giỏi võ, cũng rất là đẹp và cũng rất có trí tuệ và cũng có chí lớn như chồng mình. Nên khi họ, họ yêu nhau nhanh chóng, là khi mà cưới nhau về thì hai vợ chồng mới là bàn kế hoạch khởi nghĩa. Nhưng mà cái đầu chính là của Thi Sách chứ không phải của bà Trưng. Ta sẽ giải thích tại sao. Là mọi cái kế hoạch, mọi cái chí hướng là của Thi Sách hết.

[1:00:53]Thi Sách á, bắt đầu là vì vì nhà mình rất là giàu, nhà của Thi Sách và của của bà Trưng rất là giàu. Nên Thi Sách mới ngoại giao với Tô Định. Tô Định lúc đó là đại diện cho phương Bắc cai trị nước Việt Nam ta. Thì ờ... thì Thi Sách mới ngoại giao với Tô Định để làm cho Tô Định chủ quan, mờ mắt không, mất cảnh giác. Nhưng một mặt thì Thi Sách bí mật cho người đi liên kết hết các châu quận hết. Lúc đó người ta giỏi võ khắp nơi còn nhiều lắm, người khắp nơi còn nhiều và lên kế hoạch bí mật hết, buộc là phải rèn luyện binh sĩ, chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị vũ khí, thống nhất kế hoạch, thống nhất cái phương án hiệu lệnh.

[1:01:35]Hễ lệnh nào thì bên nào khởi nghĩa, lệnh nào, bên nào nổi lên. Hễ đánh thì đánh từ phía nào, nên là Thi Sách vạch kế hoạch hết. Và bà Trương cũng biết được một phần kế hoạch đó. Nhưng mà bà Trương không biết một cái mà Thi Sách giỏi hơn. Thi Sách biết điều thế này, đánh cái đám Tô Định nó chạy xong á thì trong 3 ngày. Tại vì lực lượng mà Thi Sách chuẩn bị xong á, oánh Tô Định 3 ngày bay liền. Nhưng 3 năm sau, phía Bắc kéo xuống đánh nữa, lần sau đánh nó khủng khiếp. Và Thi Sách cũng đang xây dựng khả năng để mà 3 năm sau nó trở qua đập một trận nữa cho đời đời không bao giờ nó dám trở qua nữa.

[1:02:13]Trong đầu Thi Sách có hết á. Nhưng mà chỉ tiếc một điều là vận nước ta chưa hanh thông. Thì những thám tử của Tô Định á liên tiếp báo cáo cho Tô Định biết là Thi Sách có những hành tung rất đáng ngờ. Là luôn luôn là có những cái nhóm mà học võ rèn luyện rất là khủng khiếp, đánh rất là rát, những thế võ đánh rất là hiểm độc, đánh ra chết người chứ không phải là là rèn luyện mà thể dục, không phải là đánh vật cho vui, mà đánh ra đòn là giết đối phương liền. Mà nhiều nhóm như vậy, Thi Sách thường hay vắng nhà, đi đâu rất xa, bám theo thì đi những cái vùng mà hầu hết là liên lạc với những cái nhóm này nhóm kia.

[1:02:48]Thám tử liên tiếp báo về. Tô Định bắt đầu nghi ngờ, nhưng mà Thi Sách thì cứ đem tiền vàng để mua chuộc, cứ cho đồ tới nhậu, đem đồ tới cống để che mắt, à che mắt Tô Định. Nhưng mà Tô Định một bên á thì ăn nhậu với Thi Sách, được Thi Sách cho tiền cho vàng, nhưng một bên thì thám tử cứ báo về những hành tung của Thi Sách rất đáng ngờ. Rồi lần Tô Định hỏi Thi Sách, 3 tháng qua ngài đi đâu mà vắng nhà suốt 3 tháng? Thì ông Thi Thi Sách cũng trả lời ỏm mờ, nói đi thăm bà con bà con kia. Nhưng mà Tô Định nhìn chăm chăm bởi vì thám tử báo rất chính xác, báo chính xác. Đến lúc mà lực lượng khắp nơi đã

[1:03:25]gần xong rồi, thì thám tử báo rác cho Tô Định buộc lòng phải hành động. Tô Định bắt đầu buộc lòng phải đập tan cái âm mưu mà khởi nghĩa này, mà biết đánh đánh hổng lại. Bây giờ có 1.000 quân đã đánh lại hổng lại Thi Sách tại biết Thi Sách quá giỏi võ. Thì lúc đó Tô Định mới dùng cái kế là chuốc thuốc độc. Cũng vì hai người hay ăn nhậu với nhau mà. Chuốc thuốc độc vô, Thi Sách búng rủng tay chân liền, rồi võ sĩ xông vào mới giết được Thi Sách. Lúc đó là tin báo về thì bà Trưng, bà Trưng nghe tin chồng mình bị giết thì biết liền. Biết sao? Biết chuyện gì xảy ra? Bị lộ rồi. Biết kế hoạch mà nào giờ chồng mình xây dựng

[1:04:04]để chuẩn bị là không phải năm nay oánh, 2 năm nữa mới đánh. Mà đánh rồi là giữ gìn đất nước bền vững luôn. Thì bị lộ, thì lúc đó làm sao? Lúc mà ngồi chờ cho Tô Định kéo quân tới bắt hả? Phải buộc làm sao? Khởi nghĩa luôn và khởi nghĩa non. Thế là bà phất hiệu lệnh luôn, lên quân đánh luôn, kéo voi đánh đi đánh luôn. Chính vì thi sách có nuôi voi mà Tô Định nghi. Đánh ầm ầm thì đúng là trong 3 ngày Tô Định chạy mất. Rồi các huyện bị nghe hiệu lệnh, hiệu lệnh đã phát ra hết. Toàn bộ các châu quận khác nổi lên quánh. Đó là các quan quân cai trị của Trung Hoa trong vài ba ngày dẹp sạch sẽ, không còn một bóng quân thù. Tô Định phước lớn chạy mất,

[1:04:42]chạy kịp, cũng giỏi võ, ngựa cũng giỏi, chạy bay vèo mất tiêu. Do ổng cũng cảnh giác rồi, ngày đêm cũng suy nghĩ tùm lum rồi. Hễ mà bị đánh thì chạy sao, mà nếu thắng thì sao? Thì không ngờ kế hoạch rút quân ổng thành công, chạy mất tiêu luôn. Thì bà Trưng nắm được, nhưng mà chỉ vì thứ nhất là khởi nghĩa non, kế hoạch sự việc đào tạo lực lượng chưa thành, và thứ hai là cái đầu của bà Trưng không bằng Thi Sách, trí tuệ không bằng Thi Sách. Nếu lúc đó mà Thi Sách khởi nghĩa non, Thi Sách vẫn tiếp tục chuẩn bị lực lượng đón quân phương Bắc qua được, nhưng bà Trưng thì không đủ sức. Người nữ dù sao cũng thua.

[1:05:16]Nên khi Mã Viện kéo quân qua thì, thì ta biết cái kết cục rất là, rất là thảm thương. Bà thua. Quân sĩ là bà ra lệnh phải tẩu tán hết để bảo toàn lực lượng mà khởi nghĩa về sau, bà ra lệnh quân sĩ bỏ chạy không đánh. Phần hai bà thì sao? Nhảy xuống sông hát gian, tự tử. Đó. Trở thành cái bi hùng ca của dân tộc ta mà muôn đời ta cứ ca ngợi là như vậy. Hôm nay á, thầy ta ngồi đây, đất nước ta được được thanh bình. Thì ta phải hiểu một điều là máu xương của cha ông ta đã đổ quá nhiều trong suốt mấy ngàn năm lịch sử như vậy. Cũng như nhiều quốc gia khác cũng vậy, cũng đi qua nhiều cuộc chiến tranh, ít có quốc gia nào được yên bình. Lý do vì sao?

[1:05:59]Vì cái nghiệp sát á, nghiệp sát, nghiệp sát còn cứ chiến tranh xảy ra, cứ nước này đánh nước kia. Nhưng mà bây giờ ta nói riêng cái cục diện đất nước mình thì ta cũng phải vậy, thấy thấy buồn vì ta sống trong được đất nước thanh bình ngày hôm nay, không biết là máu xương của bao nhiêu tiền nhân đã đổ xuống, đổ xuống đã gần như là nhuộm đỏ, nhuộm đỏ mất cái đất nước này.

[1:06:24]Ta có hai điều để suy ngẫm. Một á là các phép thuật thần tiên của mẹ Ô Cơ, cha Lạc Long Quân đã thất truyền. Thứ hai là các môn võ cao siêu của Thục Phán, của Cao Lỗ, của Thi Sách, của Trưng Trắc cũng mai một dần dần mất. Đó là điều là những cái di sản thực sự là quý giá của dân tộc ta không còn tồn tại. Thứ hai, cái điều ta phải suy ngẫm nữa là cái đức mà Kinh Dương Vương đã nhường ngôi cho anh của mình sẽ tạo thành cái phúc của dân tộc ta về sau. Qua mấy ngàn năm, đến một ngày nào đó, người Việt Nam sẽ đứng lên với thế giới, chính vì cái đức này. Cái đức mà Kinh Nhân Vương nhường ngôi cho Anh,

[1:07:08]cái đức mà Sơn Tinh nhường ngôi cho Thục Phán. Ờ. Và nhiều lần trong lịch sử ta, các vị vua đã cư xử một cách nhân ái, khoan hòa.

[1:07:22]đều tạo thành cái cái phúc cho dân tộc ta lâu dài và làm cho ta có cái hy vọng sau này dân tộc ta sẽ cường thịnh như là ông Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiên tri, là 500 năm sau ông thì đất nước Vạn Xuân này sẽ vẻ vang và bền vững. Vì ngày hôm nay đất nước ta có nhiều cái tôn giáo đến xuất hiện, trong đó Đạo Phật là một đạo đồng hành với dân tộc và Đạo Phật đến để góp sức cho cái sự sống của dân tộc, cái nền độc lập của dân tộc trong bao nhiêu mấy trăm năm qua gần cả ngàn năm qua. Đạo Phật của Việt Nam giống như là Đạo Phật của dân tộc ta. Và cũng có nhiều cái tôn giáo bạn lần lượt xuất hiện trên đất nước này,

[1:08:11]mà ta chỉ mong một điều là các tôn giáo bạn hãy hiểu một điều: người dân Việt Nam ta có một cái cội nguồn thiêng liêng cao cả, và tôn giáo đến đây xin hãy góp thêm với tín đồ của họ cái tình yêu nước, chứ đừng có cạnh tranh cái tình yêu nước với tín đồ. Vì có những tôn giáo họ đã quên mất cái cội nguồn thiêng liêng của ta, tối ngày họ xúi cho tín đồ của họ yêu đạo hơn yêu nước. Đây là một cái điều mà ta không vui, nên ta muốn nhắc các tôn giáo bạn hãy nhớ lại: cội nguồn của ta rất thiêng liêng. Ngay cả cái vị giáo sĩ của tôn giáo bạn họ cũng là người Việt Nam, hãy nhớ đến cội nguồn thiêng liêng của dân tộc mà nhắc nhở tín đồ của mình

[1:09:02]yêu nước, mà cái tôn giáo có mặt hãy làm cho cái tình yêu nước nó đậm đà hơn thay vì là cạnh tranh với cái tình yêu nước đó, phải không?

[1:09:15]Còn ta thì ta may mắn ta có Phật pháp đồng hành với dân tộc, nên ta vừa yêu nước mà ta vừa có cái đạo lý siêu thoát của Phật đà, cho nên ta vừa yêu nước mà vừa mở lòng thương yêu chúng sinh. Ta vừa làm tròn cái bổn phận với đất nước ta mà ta cũng biết làm tròn cái bổn phận mình đối với nhân loại, mà ta cũng biết tu hành để giải thoát khỏi luân hồi sinh tử. Là những cái hạnh nguyện đó, những cái lý tưởng đó tồn tại đồng thời trong tâm hồn của ta thành một sự hòa quyện vô cùng đẹp đẽ, vô cùng đẹp đẽ. Nên ai thấm nhuần giáo lý của Phật đều sẽ biết yêu thương nhau, yêu thương đất nước, chung tay xây dựng quê hương giàu đẹp và góp công xây dựng hòa bình cho thế giới.

[1:10:08]Đây là cái bổn phận của ta, là ước mơ của ta, cũng là lý tưởng của ta. Hôm nay ta ngồi đây với nhau giao thừa của năm 2006, ngày mai chúng ta bước sang cái năm Bính Tuất. Ta ngồi ôn lại cội nguồn, chúng ta nhớ lại cái lịch sử lập quốc của ta. Ta biết ơn các vị Quốc Tổ đã vất vả dựng nước, giữ gìn đất nước, nên ta cũng nguyện với nhau là sẽ làm tất cả để xây dựng quê hương này mãi mãi yên vui, giàu đẹp và chung tay góp với năm châu bốn biển thành một cái nền đạo lý, đạo đức, hòa bình cho thế giới. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:11:32]Sóng xô thời gian nước non ngàn đời. Đây Hồng Bàng thị nơi huyền thoại Long Quân - Âu Cơ. Trái tim mẹ cha thành hương lúa và hoa, thành sông núi cháu con cùng hòa lời ca.

[1:12:00]Những khi loạn ly chớ quên cội nguồn, chung một mẹ cha, chung huyền thoại Long Quân - Âu Cơ.

[1:12:14]Nắm tay cùng nhau tình non nước đậm sâu, đừng chia cắt hỡi ai cùng nòi Rồng Tiên.

[1:12:27]Người Việt Nam còn nghe tiếng dịu dàng hỡi Mẹ Âu Cơ, triệu con tim cùng mang chung dòng máu.

[1:12:41]Quỳ nơi đây để nghe tiếng đồng bào à ha, muôn đời ơn Người Lạc Long Quân, muôn đời ơn Người Âu Cơ.

[1:13:29]Sóng xô thời gian nước non ngàn đời. Đây Hồng Bàng thị nơi huyền thoại Long Quân - Âu Cơ. Trái tim mẹ cha thành hương lúa và hoa, thành sông núi cháu con cùng hòa lời ca.

[1:13:56]Những khi loạn ly chớ quên cội nguồn, chung một mẹ cha, chung huyền thoại Long Quân - Âu Cơ. Nắm tay cùng nhau tình non nước đậm sâu, đừng chia cắt hỡi ai cùng nòi Rồng Tiên.

[1:14:24]Ngàn năm sau nhịp theo bước hào hùng hỡi Lạc Long Quân, vì quê hương, vì tương lai ngời sáng.

[1:14:38]Quỳ nơi đây để nghe tiếng đồng bào à ha, muôn đời ơn Người Lạc Long Quân,

[1:14:51]muôn đời ơn Người Âu Cơ.

[1:14:58]Người Việt Nam còn nghe tiếng dịu dàng hỡi Mẹ Âu Cơ, triệu con tim cùng mang chung dòng máu. Quỳ nơi đây để nghe tiếng đồng bào à ha, muôn đời ơn Người Lạc Long Quân, muôn đời ơn Người Âu Cơ.

[1:15:32]Ngàn năm sau nhịp theo bước hào hùng hỡi Lạc Long Quân, vì quê hương, vì tương lai ngời sáng. Quỳ nơi đây để nghe tiếng đồng bào à ha, muôn đời ơn Người Lạc Long Quân, muôn đời ơn Người Âu Cơ.

[1:16:07]Rồi mai đây nhìn non nước đẹp giàu hỡi Mẹ Âu Cơ, hồn thiêng liêng tình nồng ấm đẹp mãi. Quỳ nơi đây để nghe tiếng đồng bào à

[1:16:27]ha, muôn đời ơn Người Lạc Long Quân, muôn đời ơn Người Âu Cơ.

[1:16:41]Cùng năm châu mở ánh sáng đại đồng hỡi Lạc Long Quân, cả hành tinh cùng đi chung một lối.

[1:16:55]Quỳ nơi đây để nghe tiếng đồng bào à ha, muôn đời ơn Người Lạc Long Quân, muôn đời ơn Người Âu Cơ.