Transcript: Kinh Nikaya 14 - Kinh Tứ Niệm Xứ - Quán Pháp

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:34:00

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:23]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:37]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:49]Mời quý thầy, quý Phật tử ngồi xuống. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta học phần chót của Tứ niệm xứ là Quán pháp. Thì sau bài này chúng ta cũng chấm dứt cái phần Trung bộ kinh để chuyển qua cái Trường bộ kinh. Qua Trường bộ kinh rồi qua một chút Tăng Chi, Tương Ưng rồi để kết thúc cái môn Nikaya sớm. Rồi chúng ta sẽ qua cái môn Quan điểm Phật sự, học cho tới hết cái khóa học luôn. Môn Quan điểm Phật sự chúng ta học bởi vì cái khóa cũng không còn bao lâu. Thì hết cái khóa này rồi tôi không có dạy ở đây nữa. Phải hết nghề rồi. Ứ, rồi đi qua khóa mới thì những cái môn cũ này thì chắc nhờ ai dạy chứ tôi không có dạy lại.

[1:38]Rồi chắc cũng từ giã Long An. Cái môn Quan điểm Phật sự thì nó cũng giống giống Tâm lý đạo đức, nhưng mà chắc nó không có dài bằng và không có thời gian để mình đi dài. Cũng ừm cũng cần thiết. Tại quý thầy nói rằng sau cái khóa này thì có thầy thì học lên cao cấp, có thầy thì phải về chùa để làm việc Phật pháp á. Cho nên ừm cần cái môn Quan điểm Phật sự để quý thầy biết cách làm việc. Hôm nay chúng ta học cái Quán pháp này thì trong Tứ niệm xứ bốn phần, quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp. Thì ừm pháp nó có hai nghĩa. Một á cái pháp có nghĩa là vạn pháp.

[2:21]Có nghĩa là ngoại cảnh. Và một cái nghĩa là có nghĩa là giáo pháp. Trong a Nikaya cũng như trong A-hàm á thì cái phần Quán pháp có nghĩa là giáo pháp, giáo pháp hay có nghĩa là đạo lý á. Nghĩa là chúng ta tu rồi từ từ tâm thanh tịnh, mình tiến sâu vào tâm linh trí tuệ thì mình nhìn thấy được những cái đạo lý mà Đức Phật đã thấy. Nghĩa là Đức Phật khi ngài tu, ngài thấy được những vấn đề gì thì chúng ta tu rồi chúng ta cũng bắt đầu tự nơi mình thấy được những điều này. Đó là cái giá trị của cái Quán pháp. Ví dụ như Đức Phật tu rồi ngài thấy được năm thủ uẩn, năm ấm, mình tu mình cũng thấy được như vậy.

[3:02]Đức Phật tu rồi ngài thấy 12 nhân duyên, mình cũng thấy như vậy. Đức Phật tu thấy được Tứ diệu đế rồi mình cũng thấy như vậy. Thì cái này là Quán pháp, thấy được giáo pháp sau khi mà công phu đã tiến bộ. Nói tiến bộ chứ phải đắc, phải chứng chứ không phải đơn giản. Đó là trong Nikaya và A-hàm đều như vậy. Nhưng mà các vị luận sư Bắc tông á thì lại phát sinh thêm một cái nghĩa cho chữ pháp thì pháp có nghĩa là ngoại cảnh, nghĩa là vạn pháp. Vì sao vậy? Bởi vì trong thực tế khi các ngài tu hành thì các ngài mới thấy thế này: là phần mà quán thân, quán thọ, quán tâm đều là xoay lại nơi mình để tu tập.

[3:41]Nên mình xoay lại mình thấy thân này là bất tịnh, là vô thường, là đờm, là máu, là dãi gì đó. Rồi quán thọ là những cảm giác vui, khổ, vân vân. Rồi quán tâm thì qua nhiều cái lớp tâm, nhiều quá trình tâm. Nhưng mà trong thực tế thì mình luôn luôn phải đối duyên tiếp cảnh. Ở trong cuộc sống tu hành đâu phải lúc nào mình cũng núp ở trong một chỗ yên được, nên thường hay là đối duyên tiếp cảnh. Thì khi đối duyên tiếp cảnh như vậy mình cũng phải có một cái nhìn về ngoại cảnh như là chúng ta đã nhìn lại tâm mình, nhìn lại thân mình. Thì bây giờ chúng ta cũng có một cái để nhìn ngoại cảnh để cho tâm không bị đắm nhiễm trước ngoại cảnh.

[4:21]Thì cái đó các ngài cho đó là ngoại cảnh, Quán pháp luôn, nên đây là cái nghĩa thứ hai. Thì cái nghĩa thứ hai, cái nghĩa phát sinh này nó có cái giá trị từ thực tế tu hành, cho nên qua bao nhiêu ngàn năm qua, cái ý nghĩa phát sinh thêm của các luận Bắc tông này không bao giờ mất giá trị. Mà chúng ta hay tóm tắt trong cái câu là quán thân là là gì? Bất tịnh. Quán thọ là khổ. Quán tâm là không? Đổi lại vô ngã đi, theo như thầy Lê Mạnh Thát á, đổi quán tâm là vô ngã nghe nó hợp lý hơn. Quán pháp là? Quán pháp vô thường. Đó là là bốn cái đó cho gọn để một người tu, người tu là lấy bốn cái điều quán đó như một

[5:05]câu thần chú để thủ thân vậy, để hộ thân. Thay vì người ta bỏ miếng gói gói cái Lăng Nghiêm cái gói này đeo cổ cửa sổ đeo cổ, hoặc là gói gói chú mà Chuẩn Đề đeo cổ, bây giờ mình gói bốn cái: quán thân, thọ, tâm, pháp mình đeo trong tâm mình. Nghĩa là khi mà không có ai không có việc gì mình đi một mình mình á thì mình thấy thân này là bất tịnh đó, tâm này là vô ngã, quán. Hễ mà đằng xa có một bóng hồng nào đi tới thì mình nói quán pháp là vô thường liền, quay chỗ khác đi, đó. Nghĩa là mình có cái bốn cái đó để mình thủ thân trong lòng mình mà mình đối phó ở bên trong thân tâm mình cũng như đối phó ngoại cảnh thành câu thần chú.

[5:44]Thì à pháp ở đây là ngoại cảnh, có hai nghĩa. Chúng ta sẽ triển khai hết cả hai nghĩa này. Thứ nhất là quán pháp là ngoại cảnh cái đã. Thì chúng ta thấy thế này: là đúng ra theo Nikaya với A-hàm á, Quán pháp là thường thiên về là giáo pháp, đạo lý, cho nên cái việc tu á là chú trọng ở quán thân, quán thọ, quán tâm, là xoay nơi mình để tu không. Thì việc này nó chỉ thích hợp nơi những người nào? Nơi những người mà hoặc là nhập thất, hoặc là những người mà tu trong rừng vắng, trong đồng hoang, không có tiếp xúc với ai nhiều, cái cảnh trí đơn sơ thì mình tu như như vậy được. Đó. Thời Đức Phật á cái khung cảnh nó đơn giản lắm,

[6:35]không phải bận tâm nhiều là các ngài cứ việc mà xoay lại nơi thân nơi tâm mình để tu tập, không có gì phải bon chen. Tới giờ đói bụng thì ôm bát đi vào làng khất thực, không có phải lo về sinh kế. Ăn xong rồi cái đi kiếm gốc cây, đồng vắng ngồi thiền. Cho nên các ngài ít có bận tâm với ngoại cảnh mà chỉ xoay chuyên về nơi thân nơi tâm để tu tập. Cho nên Đức Phật ở cuối bài kinh này nói: "Tu cái này chừng là 7 năm, hoặc 7 tháng, hoặc chỉ 7 ngày vẫn có thể chứng được." Đức Phật khẳng định như vậy. Là tại do cái khung cảnh thời đó như vậy. Hoặc là trong thời đây có những người gọi là bớt duyên, tránh duyên nhập thất cũng tu tập như vậy thì cái mà

[7:21]quán thân, quán thọ, quán tâm nó thích hợp. Nhưng chúng ta thấy đa phần chúng ta ngày hôm nay thì cái duyên như vậy nó không còn nhiều nữa mà chúng ta bị đối diện với trần cảnh thường xuyên. Chúng ta luôn luôn bị đối diện. Nhưng ngay nơi ở trong chùa mình cũng vậy, dù chúng ta đang ở chùa, chúng ta thấy nó cũng rất là nhiều việc, rất là nhiều việc phải lo toan. Rồi nhiều khi khách khứa, Phật tử đến chúng ta cũng phải đối tiếp. Rồi huynh đệ với nhau cũng phải có cái đối xử với nhau cho thích hợp, rồi có bổn phận phải lo, thì những cái đó đều gọi là trần cảnh. Đó là chưa kể tới hôm nào mà có nghĩa là mình hên mà được quý thầy chỉ

[8:03]định cho đi Sài Gòn có công việc nữa thì mình thấy thì thôi luôn. Trùng trùng ngựa xe ha, điệp trùng áo muôn màu sắc sỡ. Đi ngang qua quán bên này thì Tình em đã hết, đi quán qua bên kia Tình anh còn mãi. Rồi nhà lầu thì cao ngất. Nghĩa là tất cả những cảnh trí trần duyên đó nó đập vào con mắt và tai mình đầy hết. Thì lúc đó chúng ta thấy là cái duyên của cái người tu thời bữa nay không còn đơn giản như người xưa nữa, mà chúng ta phải thường đối duyên tiếp cảnh. Cho nên cái việc mà chúng ta chuẩn bị tâm tư mình sẵn sàng, vững vàng để khi những cái trần cảnh đó đến, chúng ta không bị lay động là một điều vô cùng cần thiết.

[8:48]Và cái Phật pháp ngày hôm nay nó cũng là một loại đạo Phật như vậy nữa, một loại đạo Phật mới như vậy. Mới là sao? Nói mới chứ cũng không có gì mới, nhưng mà cũng giống như mới vì cái phong cách nó bắt buộc như vậy. Là trong cái thời đại ngày hôm nay, chúng ta thấy là toàn cầu nó gần gần nó giao lưu chặt chẽ lại khi mà khoa học kỹ thuật cứ tiến bộ. Khoa học kỹ thuật tiến bộ đó thì cái việc mà thông tin liên lạc dễ dàng, người bên đây nhấc điện thoại lên nói chuyện với nửa vòng trái đất bên kia. Hoặc là nếu chúng ta có máy vi tính, chúng ta nối mạng internet gắn vào đường dây điện thoại thì chúng ta có thể đi vào các thư viện của các trường

[9:24]đại học trên thế giới, các cơ quan, nghĩa là các tổ chức, chúng ta vào tìm được tài liệu nó đem về để mình nghiên cứu học hỏi hết. Cả kiến thức con người mở đầy ra hết trong cái đường dây internet đó. Nên về cái phương tiện mà thông tin liên lạc con người đã gắn chặt lại. Một sự kiện vừa xảy ra ở một cái đất nước này, nếu là sự kiện đáng ghi nhớ thì trong hai ba giờ sau nhiều khi lên báo ở mấy nước bên kia rồi, hoặc là một ngày sau lên truyền hình rồi. Một chuyện gì nhúc nhích ở đây là cả thế giới biết hết. Rồi do cái phương tiện thông tin liên lạc nó chặt chẽ như vậy thì nó xuất hiện ba cái yếu tố mà gắn bó con người lại với nhau, gắn bó thế giới lại.

[10:06]Thứ nhất là giao lưu về văn hóa, nghĩa là cái văn hóa của nước này có thể chảy tràn qua nước kia, thẩm thấu qua nước kia khi đi qua đường biên giới hay là du nhập vào những phương tiện kỹ thuật cao. Do đó chúng ta thấy có thời gian tự nhiên giới trẻ mình ham hát nhạc Hồng Kông đó: "Bài trao em kỷ niệm... Em ơi em tình này dâng hết... đến em với bao mặn nồng" gì đó. Đi đâu cũng nghe, đi xe đò đó mình cũng nghe. Rồi hoặc là cái cái nhạc rap bên Mỹ nó rớt qua bên đây, mình thấy như ca sĩ mấy ca sĩ đứng lên nhảy như Ngọc Sơn đó, đứng lên nhảy quẹo chân quẹo tay rồi bẻ vặn đủ thứ hết trơn. Rồi một người đứng hát còn một người nhảy cuồng

[10:42]loạn, bao nhiêu người gọi là múa minh họa đó. Thì đó những cái văn hóa của nước ngoài nó du nhập vào từ từ. Rồi những cái lối vẽ, ví dụ như vẽ trừu tượng, lối vẽ mà lập thể trừu tượng, nghĩa là thay vì vẽ người phụ nữ thì hai con mắt nó nằm ở dưới bụng, hai cái chân nằm ở trên đầu. Mình dòm mình không hiểu vẽ cái gì, không biết cái này cái này nghĩa là nhà mình có con nít không dám cho coi nữa, nó tưởng là vẽ ma vẽ gì. Nhưng mà lối vẽ cái đó có từ Picasso không biết đâu, cái đầu ổng kỳ quá ổng vẽ tranh đó mà ổng nổi tiếng. Nổi tiếng á thiệt chứ tôi không đủ trình độ mà thưởng thức tranh lập thể Picasso, tôi dòm tôi sợ quá, không biết ai thích.

[11:20]Nhưng mà nhiều họa sĩ Việt Nam cũng đã bắt đầu bắt chước vẽ như vậy, vẽ dòm hình không hiểu gì hết. Thấy màu đắp đắp đắp đắp cục cục cục cục lên tùm lum rồi con mắt ở chỗ này, cái chân ở chỗ kia, không hiểu họ vẽ cái gì ở trỏng. Thì đó là những cái giao lưu văn hóa, rồi những tác phẩm văn chương nghệ thuật nước này nó ảnh hưởng qua nước kia vậy, cái lối sống ở nước này nó ảnh hưởng qua nước kia. Như một cái Á Đông khép kín của mình nghiêm túc, cẩn thận, kỹ lưỡng bắt đầu cũng trở thành buông tuồng, phóng túng giống như Tây phương. Chúng ta thấy, ta nhìn thấy cái màn hình vậy, như mấy bữa tôi về Sài Gòn gặp cái dịp mà có chiếu cái phim Bao

[11:57]Công thì tôi cũng thích coi Bao Công vì trong đó hay dạy đời với đạo lý nhiều. Nhưng mà xen vào giữa đoạn phim hay có cái quảng cáo, thì trong cái quảng cáo nhìn thấy họ hay gợi cái sức chú ý của người xem để mà mua món hàng đó bằng những hình ảnh tình tứ trai gái. Tôi nói văn hóa của dân tộc bị đánh phá dữ quá, mà cái ngành văn hóa thông tin không biết kiểm soát. Cho nên có một lần tôi giảng tôi cũng than điều đó. Tôi nói nhiều khi cha mẹ cũng giữ gìn con cái dữ lắm á, nhưng tới chừng nó lớn lên cái nó thành người khác à. Cha mẹ không biết tại sao. Không biết tại sao? Lý do gì? Lý do gì nó đi ra ngoài đường, những hình ảnh quảng cáo mà cứ nam nữ ôm nhau,

[12:36]nam nữ ôm nhau đầy hết ngoài đường phố, nó biến thành con người khác mình không hay. Đó, nó hấp thụ cái quan điểm đó rồi mình không hay. Cho nên cái văn hóa giao lưu nó cũng có tốt mà cũng có cái độc hại của nó, còn chúng ta phải biết cảnh giác. Kế nữa là cái giao lưu về cái kinh tế thương mại thì hàng của nước này có thể bán qua tới nửa vòng trái đất để qua nước kia. Thì cái kinh tế các nước họ ảnh hưởng với nhau mà họ đang kêu gọi là cái toàn cầu hóa về kinh tế, nhưng mà cái toàn cầu hóa về kinh tế này thì nó chỉ có lợi cho mấy nước giàu thôi, mấy nước nghèo chịu không nổi, mấy nước nghèo chết.

[13:12]Nên người ta cũng biểu tình chống đối cái toàn cầu hóa dữ dội lắm, không có chịu. Vì nếu mà toàn cầu hóa thì những cái nước mà giàu, kỹ thuật cao, hàng tốt giá rẻ thì bán tràn ngập hết, còn những nước nghèo chỉ biết làm nô lệ để mua hàng chứ không sản xuất nổi nữa. Nên sẽ xảy ra khủng hoảng trầm trọng trên thế giới. Vì lý do đó mà nhiều nước trên thế giới họ chống cái toàn cầu hóa. Rồi cái giao lưu về chính trị nữa, nghĩa là những nước họ dễ dàng để gây cái ảnh hưởng mình đến nước khác, hoặc họ có những cái thế lực chống đối thế này thế kia vậy. Thì đất nước chúng ta vậy cũng không phải là yên đâu, hiện nay chứ không phải là yên.

[13:53]Chúng ta vậy, có những quốc gia nằm gần chúng ta, họ có thế lực mạnh và muôn đời, đời nào cũng vậy, họ luôn luôn chờ một cơ hội để sang xâm chiếm nước mình. Luôn luôn như vậy. Ví dụ mình nói cái đơn giản nhất là đất nước Trung Quốc, mến yêu bạn bè chúng ta, ổng vẽ bản đồ của ổng, vẽ bản đồ của ổng là bao gồm cái nước Trung Quốc của ổng không nói rồi, bao gồm Đài Loan, xuống Hồng Kông không nói rồi, xuống hết Việt Nam, Lào, Campuchia, Mã Lai, Thái Lan, Singapore. Đó là một đất nước Trung Quốc tương lai mà họ phải làm cho được. Mà nếu trong đất nước chúng ta có một cái gì đó xáo trộn, nghĩa là có cái gì lộn xộn không ổn định,

[14:35]dân tình bị chia hai chia ba lên đường xuống đường á, là lúc sơ hở đó là họ tràn quân qua họ làm liền. Nên cái nguy cơ chiến tranh rồi đất nước lại chìm trong khói lửa lại, tắm trong máu lại, nên cái hòa bình mà chúng ta đang hưởng, chúng ta phải biết giữ gìn nó, chứ đừng có khờ dại mà đánh mất nó. Nên phải làm sao cho đất nước mình ổn định, mà trong vai trò đó đó, Phật giáo đóng vai trò quan trọng. Những điều này thì tôi không có nói sớm ở đây nhiều. Khi nào mà giảng tới quan điểm Phật sự rồi tôi sẽ nói nhiều về điều này, là vai trò của đạo Phật giữ cho đất nước được bình yên. Và vì sao vậy? Chúng ta thấy, nhìn trên thế giới có những cái tôn

[15:18]giáo mà họ luôn chực chờ để gây chiến tranh. Họ chưa có thế lực đủ á thì họ thu hút tín đồ, họ đi vào đất nước đó để họ tìm tín đồ. Khi tín đồ đủ rồi, có thể làm tay chân rồi, họ đưa vũ khí vào và họ kích động, chia cắt cái đất nước đó, đảo chính lật đổ đủ thứ chuyện hết. Chúng ta đang còn một chút may mắn thì ở đất nước mình Phật giáo đang là đa số. Nếu mà ngày nào đó, quý thầy quý cô tu thế nào đó không biết, thờ ơ hờ hững, chống phá lẫn nhau, cứ là chùa này nói xấu chùa kia, tông này nói xấu tông kia, thầy này nói xấu thầy kia, rồi làm cho đạo Phật tự yếu đi thì lúc đó các tôn giáo khác họ bành trướng mạnh được. Họ bành trướng.

[16:09]Thì khi họ bành trướng như vậy đến lúc nào đó đủ tín đồ của họ rồi, chúng ta sẽ thấy họ quậy tung cái đất nước này lên. Nên chúng ta phải thấy cái hiểm họa đó, quý thầy mình phải nhìn xa một chút, phải nhìn rộng, phải thấy được cái hiểm họa từ những cái tôn giáo mà nó có chứa cái mầm mống của cái ẩn ý chính trị ở trỏng, chính trị bạo lực, quân sự, nổi loạn á. Phải thấy điều đó và lo đoàn kết lẫn nhau ở trong cái đạo của mình. Mà mình phải tu vừa tích cực trên hai mặt: một á là đoàn kết với nhau, hai là lo mà hóa độ chúng sinh. Những người nào chưa biết đạo phải làm cho họ biết đạo Phật, và phải hóa độ những người mà ở tôn giáo khác cũng làm cho họ biết đạo Phật luôn.

[16:56]Và vì sao vậy? Chúng ta không cần họ theo đạo Phật, nhưng phải cần cho họ hiểu đạo Phật. Ví dụ người đó là người Hồi giáo, chúng ta phải làm cho họ hiểu nhân quả. Họ gây nhân độc ác họ sẽ chịu quả khổ, họ sống hiền lành họ sẽ được bình an. Hoặc là người Thiên Chúa giáo vậy, họ vẫn ở tôn giáo họ, mình không có kêu gọi đổi đạo, nhưng cũng phải làm cho họ hiểu đạo Phật. Thì lấy cái đạo Phật để làm cái nền tảng chung cho cái văn hóa của đất nước mình thì những cái tôn giáo đó họ sẽ bớt đi cái sắc thái chính trị, bạo lực nơi họ. Và như vậy đất nước mình sẽ được ổn định. Đó là cái mà gọi là phải hóa độ chúng sinh, quý thầy phải tích cực đó.

[17:41]Phải tích cực coi nơi cái vùng mình ở mình có làm cho Phật pháp được tràn lan hay chưa, hay là mình về đó mình chỉ biết có cái chùa mình, xây cho được cái chùa mình, tìm Phật tử đến làm làm cho cái chùa mình nó thịnh nào đó, sinh hoạt gì quanh quanh nơi mình mà không đi tìm tới những người chưa biết đạo. Trong cái xóm mình, trong cái làng mình còn những gia đình nào chưa biết đạo mình có tới độ được hay chưa? Phật tử mình mình có bảo tới đó tìm hiểu, tiếp cận để hóa độ được hay chưa? Là những gọi là Phật sự, chứ không thể nào chỉ lặng lẽ nghĩa là cứ tụng kinh gõ mõ gì trong chùa mình mà không có cái nhìn

[18:17]rộng ra ngoài xã hội để mà phát triển tín đồ, đó là một cái sai lầm. Chúng ta phải làm sao cho đạo Phật giữ vững được đa số ở đất nước này, chẳng những đa số mà tuyệt đại đa số chiếm gần hết luôn, mà ngay cả những người tôn giáo khác phải biết đạo Phật, quý mến đạo Phật, tin đạo Phật luôn. Phải như vậy đất nước mình mới ổn định lâu dài. Còn nếu quý thầy không làm được cái trách nhiệm đó, nghĩa là lo chống phá lẫn nhau, chùa này nói xấu chùa kia, thầy này nói xấu chùa kia, rồi không lo phát triển tín đồ thì lần lần đạo Phật không còn đa số nữa thì ngày đó chiến tranh trở lại, đất nước này lại chìm trong máu và lửa lại.

[18:57]Nên chúng ta vậy chúng ta góp phần ổn định đất nước, giữ gìn hòa bình cho đất nước bằng việc là ráng tu hành tinh tấn, ráng làm việc đạo cho năng nổ.

[19:09]Mà không phải với đất nước mình, tương lai là mấy chục năm sau, một trăm năm sau, vài trăm năm sau đối với thế giới, mình vẫn phải có cái trách nhiệm như vậy, truyền bá đạo Phật để lấy cái đạo Phật làm cái nền tư tưởng cho thế giới luôn. Và thế giới này sẽ trở nên hòa bình. Do chúng ta thấy cái trách nhiệm của mình như vậy đối với đất nước, đối với nhân loại nó nặng chứ nó không có nhẹ. Thì chúng ta thấy cái việc mà chúng ta phải đối duyên tiếp cảnh để hòa nhập vào cuộc đời nó còn nhiều hơn nữa. Mà đạo Phật muốn làm lợi ích cho nhân loại thì phải dấn thân, phải hòa nhập. Ở đây chúng ta có hai cái cực đoan.

[19:48]Hai cái cực đoan chúng ta thường hay bị vướng. Một là chúng ta sợ đắm nhiễm và chúng ta đi tìm cái vô nhiễm, đi tìm cái vô nhiễm tự tại, giải thoát cho phần mình cho xong. Cái thứ hai là chúng ta thích làm việc từ thiện dấn thân.

[20:09]Thích làm việc từ thiện dấn thân. Chúng ta đối xử tốt với cuộc đời. Nhưng mà hai cái này nó ngược nhau. Nghĩa là nếu chúng ta muốn đối xử tốt với cuộc đời thì chúng ta hay bị nhiễm. Còn nếu chúng ta sợ mình bị nhiễm bởi cuộc đời nên mình phải xa lánh, phải tránh để được cái vô nhiễm thì chúng ta không đối xử tốt với cuộc đời. Nhưng đây là hai cái mặt đối lập mà chúng ta phải dung hòa. Chúng ta phải tu làm sao đối với cái thế gian này, chúng ta vừa không bị đắm nhiễm mà vẫn vừa đối xử tử tế với cái thế gian này. Hai cái điều ngược nhau mà chúng ta phải dung hòa cho được. Vừa không có đắm nhiễm thế gian, mà vẫn vừa đối xử tốt với thế gian này.

[20:58]Cái khó đấy. Chứ còn cái gì dễ nó không phải đạo Phật. Cái gì dễ nó không phải đạo Phật. Chúng ta, ví dụ như chúng ta đi nghe giảng gặp ông thầy nào ông nói à: "Quý vị phải nhớ một câu này tu suốt cuộc đời. Chỉ một câu này là thành Phật thành tổ. Nghĩa là làm sao đối trước trần cảnh tâm không động. Một câu đó thôi là tu suốt đời." Nếu mình nghe ông thầy đó nói một câu mình biết ông này giảng trật, không hiểu đạo Phật. Đạo Phật không có một câu. Đạo Phật nhiều câu mà những câu nó ngược với nhau lại mà mình phải thực hiện cho được, dung hòa cho được. Chân lý muôn mặt có nhiều cái mặt đối lập nhau hẳn luôn, mà nó vẫn là chân lý.

[21:38]Thì cái chân lý nó phức tạp vậy, còn ai nói một chiều chắc chắn người đó hiểu không tới, thấy không tới. Hoặc có trường hợp như mà nói có người giảng niệm Phật vậy, nói: "Bây giờ quý Phật tử chỉ cần nghĩa là sáu chữ Di Đà vô biệt niệm này là tu cho tới ngày thành Phật. Không cần một cái gì khác." Mình nói ông này giảng trật. Đạo Phật không có kiểu đó. Đạo Phật không có kiểu một chiều mà đơn giản như vậy. Đạo Phật rất là phong phú, phức tạp, đa dạng. Cái chân lý nghĩa là đào hoài không hết được. Nên có nhiều vị nói đơn giản như chúng ta nghe một bài kệ của một vị thiền sư. Bài kệ tôi quên rồi, nhớ nhớ câu cuối là:

[22:16]"Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền." Nghĩa là đối trước trần cảnh mình đừng có khởi tâm thì đừng có hỏi thiền hỏi đạo nữa, vì đó chính là thiền đạo rồi. Thì đó, có những cái câu chúng ta thấy nghe đạo lý nó đơn giản nhưng mà rồi nó rơi vào một chiều thôi. Mà đạo Phật hễ một chiều không phải đạo Phật. Nó không có đơn giản vậy. Chỉ hai cái vừa cái vô nhiễm vừa tử tế đối với thế gian này chúng ta phải dung hòa làm cho được. Với chúng ta hiểu một điều này nữa. Ngày hôm nay đạo Phật thì có mặt trước các tôn giáo khác 600 năm, nhưng mà ngày hôm nay tín đồ đạo Phật là thấp nhất. Hồi giáo là 1,3 tỷ, Thiên Chúa giáo 1,1 tỷ, Phật giáo 300 mấy chục triệu.

[22:56]Nguyên nhân vì cái gì? Nó có nguyên nhân của nó là có một thời gian dài quý thầy mình hờ hững với thế gian. Miệng mở ra nói, nói đạo Phật từ bi, nhưng cái cách sống, cách tu của mình á, cái thái độ mình là hờ hững với thế gian vì sợ đắm nhiễm. Mà nhân quả hễ mình hờ hững với thế gian thì thế gian nó làm sao? Hờ hững lại với mình, nhân quả. Mình thương người ta người ta mới thương mình. Mình tôn trọng người ta người ta mới tôn trọng mình. Nghĩa là lòng mình thường khắc khoải, thường nghĩ về con người, nghĩ về thế giới thì con người và thế giới mới thương mình. Như rồi ở trên chùa tôi vậy. Tôi cho mấy thầy mấy cô mấy chú tập diễn giảng. Rồi có lần tôi hỏi:

[23:41]"Làm sao mà lên chỗ trước đông người đừng có run?" Thì có người trả lời nói: "Thưa thầy, mình coi như không có ai hết." Tôi mới nói: "Hễ mình coi không có ai hết thì người ta cũng coi như mình không có luôn. Nhân quả. Và mình giảng người ta không có nghe. Tại vì cái nhân ban đầu là vậy. Cho nên lúc đó là ông thầy, ông giảng sư trên giảng ở dưới bắt đầu họ ngồi họ nói chuyện, họ viết này viết kia rồi khều khều móc móc nhau. Họ coi như ông giảng sư không có. Tại vì ông giảng sư đã coi họ không có thì họ không coi. Đúng không? Nhân quả vậy. Cho nên đây là một bí mật của việc diễn giảng. Quý thầy nhớ ha.

[24:16]Vì sau này tôi giảng trong phương pháp diễn giảng là tôi nói nhưng mà sẽ không giảng ở đây. Tại vì trong cái khóa này không kịp. Nhưng mà đây là một cái mánh bí mật mà quan trọng. Trước khi bước ra bục giảng phải tâm nguyện là mình thương yêu những người nghe, tôn trọng những người nghe. Thì khi mà ta người ta thấy mình là người ta thấy thương rồi, vì nhân quả. Quý thầy dòm tôi thấy có thương không? Hổng thương? Cái nhân quả nó vậy. Và đối với thế giới cũng vậy. Mình thương yêu thế gian này thì thế gian này thương mình. Cho nên nào giờ chúng ta bị là chúng ta hờ hững với con người quá, cho nên thế gian họ cũng hờ hững và nghĩ đạo

[24:58]Phật thụ động, tiêu cực, không quan trọng. Nhưng mà nếu mình thay đổi lại cách nghĩ, toàn bộ những đệ tử Phật của mình dù là xuất gia hay tại gia vậy, mình thương yêu, mình quan tâm đối với thế giới này, mong làm sao cái giáo lý của Đức Phật tràn lan hết thế giới này để cho con người có được cuộc sống đẹp, đối xử tốt với nhau, thương yêu nhau, thế giới này được hòa bình. Mình hay bị suy nghĩ cái đó hoài ở trong đầu mình, nặng lòng vì điều đó thì tự nhiên thế giới này lần lần quý mến, tôn trọng đạo Phật lại và đạo Phật sẽ phát triển mạnh mẽ. Nó chỉ bằng cái ý nghĩ thôi. Nhưng mà đây nó là, nói là ý nghĩ chứ nó cả một cái lý tưởng mãnh

[25:37]liệt thôi thúc mà chúng ta phải nuôi dưỡng trong lòng mình. Mà tôi chỉ sợ là nhiều người không có được cái lý tưởng đó, không có bị thôi thúc, không có trăn trở về điều đó cho nên sống một đời tu hành hời hợt, uổng phí. Nên quý thầy, quý Phật tử cũng vậy, phải luôn luôn bị thôi thúc, bị trăn trở bởi cái nhân loại này. Nhưng tôi nhớ tới ông Hermann Hesse ông nói á, ông là nhà văn mà viết cái cuốn a Câu Chuyện Dòng Sông á: "Dù bị đau khổ tột cùng, tôi vẫn thương yêu cái trần gian điên dại này." Ống nói cái trần gian này điên dại vì con người ta kỳ khôi quá à. Ổng nói cũng đúng, mà làm cho ổng khổ lắm.

[26:18]Nhưng mà ổng vẫn thương yêu. Cái câu nói đó hay. Tức là biết cái trần gian này đau khổ, con người ở trần gian này thì điên dại nhưng mà xin vẫn thương yêu. Vì đó là đạo lý để sống. Chứ không phải là thấy thế gian này đau khổ rồi mình lật đật quay lưng với họ, họ thì họ cũng quay lưng với mình, thì Phật pháp không thể phát triển được. Cho nên chúng ta vậy, phải dấn thân, phải hòa nhập, phải thương yêu thì chúng ta mới đem đạo Phật đến với cuộc đời, mới làm lợi ích cho cuộc đời được. Mà khi chúng ta hiểu điều này thì chúng ta hiểu thêm một điều nữa là sắp tới cái sự đối duyên tiếp cảnh của chúng ta còn còn dữ dội hơn ngày xưa nữa.

[27:02]Cho nên tu là ở đây chúng ta tu với trần cảnh rất nhiều. Cho nên cái thái độ của mình mà đối với cái ngoại cảnh á là quan trọng lắm. Thì nào giờ là mình mình quan sát thân tâm, mình giữ gìn thân tâm mình để tu. Nhưng mà bây giờ chúng ta thấy cái trách nhiệm sắp tới, cái người mà có một cái lý tưởng đối với thế giới, đối với con người thì việc mà đối duyên tiếp cảnh là quan trọng. Vậy mình phải có cái thái độ đối với ngoại cảnh này, đối với thế gian này để làm sao mà không bị đắm nhiễm mà vẫn tử tế được. Hai cái này phải dung hòa. Là hôm nay chúng ta học bài này để chúng ta chúng ta biết làm như vậy.

[27:44]Ở đây người Phật tử mình á giữ cái thái độ đó là vừa không đắm nhiễm thế gian mà vừa đối xử tốt với thế gian. Chúng ta cũng phải thấy cái lỗi mình là từ lâu mình bị thiên về cái phía vô nhiễm á nên mình đã hờ hững với con người và làm cho mọi người cũng hờ hững với mình. Trước hết á nói về cái mà vô nhiễm á thì chúng ta phải giữ lòng mình trước ngoại cảnh. Vì sắp tới chúng ta phải đối duyên tiếp cảnh nhiều, mà giữ lòng mình trước ngoại cảnh là chúng ta có những cái phép quán các vị xưa đã dạy. Ví dụ như chúng ta nhìn các pháp, chúng ta thấy các pháp là vô thường hoặc là theo luận Bát Tông hệ Bát Nhã thấy các pháp này như một giấc mơ,

[28:28]như một giấc mộng, hư ảo thôi, huyễn hóa thôi thì để cho mình không bị đắm nhiễm. Đây là cái phép quán rất là hay. Là ví dụ khi mà chúng ta bước ra bên ngoài ở cái chợ đời xôn xao vậy, người đầy hết, nhà cao cửa rộng, xe cộ xênh xang, mình nhìn mình thấy lúc đó mình khởi lên cái tâm, mình nói: "Cuộc đời trước mắt mình như vậy chỉ là một giấc mơ không có thật. Mọi cái vô thường rồi tàn hoại." Mình nghĩ như vậy nên tâm mình không có chạy vào đó, không bám vào đó. Còn nếu mà mình không có khởi được cái ý quán đó lên á, cái tác ý nó lên á, mình bắt đầu mình nhìn vào cuộc đời cái mình nhìn vào từng chi tiết từ từ.

[29:10]Mình chấp giữ từ đại cương đến chi tiết. Ở đây trong kinh Nikaya hay nói vậy, mình nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Trong kinh Nikaya chúng ta sẽ hay gặp cái mà Phật nói mình bị bám víu, bị chấp á, bị đắm nhiễm á là nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Nghĩa là mình bị chấp trên đại cương và bị chấp trên chi tiết. Đại cương là sao? Ví dụ mình nhìn mình thấy cuộc đời vui quá, đẹp quá, rộn ràng quá, mình vui. Rồi sau đó mình nhìn vào chi tiết, trong cái rộn ràng của rừng người đó, mình sẽ nhìn bắt đầu nhìn một hai người. Nhìn một hai người và trong một hai người đó, bắt đầu mình lại chú ý nhỏ hơn nữa từ cái mái tóc và cái ánh

[29:45]mắt, cái dáng đi điệu đứng, cái nụ cười về ngủ không được nữa. Bắt đầu gọi là nắm giữ giữ tướng chung và nắm giữ tướng riêng, đó là từ từ như vậy. Nên đầu tiên khi mình đối diện như vậy, mình thấy thế gian này là vô thường, là hư ảo. Nhờ như vậy mà mình không bị đắm nhiễm. Đó là cái trước mắt, thực tế trước mắt. Rồi trường hợp mà khi mình ngồi thiền hoặc là khi mình đã đi về rồi, cái những cái cảnh đó nó hiện lại ở trong đầu mình, ở trong tâm tưởng của mình, Thì ngay khi nó hiện lại trong tâm tưởng của mình, mình phải nhớ mà cũng nhắc à cuộc đời như vậy đó, cái mà đang hiện ở trong tâm tưởng mình đó cái đó cũng

[30:26]là huyễn hóa, là hư ảo, là vô thường thôi. Mình nhắc như vậy thì tâm mình lặng xuống lại nó không bị trôi theo, vì nó hiện ở trong tâm tưởng của mình tức nó là vọng tưởng. Cho nên khi mà mình nó vọng tưởng mình không diệt, mình chỉ thấy nó là hư ảo, là không thật thì nó tan biến, tắt mất, tâm mình thanh tịnh lại để chờ cái niệm khác khởi nữa. Mà ở đây thấy thế này: nhiều khi mình đối diện với cái ngoại cảnh hay là đối diện với cái vọng tưởng trong tâm mình rồi mình chợt mình khởi được cái ý là mình tác ý được quán, tác ý được vô thường, thấy thế gian này là vô thường thì sự thật là không ngờ chính cái phước nó chi phối ngầm ở trong.

[31:07]Mình có cái phước á mình mới tác ý kịp. Là khi vọng tưởng nó khởi lên thì mình cũng có cái ý vô thường khởi theo liền, phá nó liền. Thì do phước mà được. Còn người không có phước thì chỗ đó không không khởi kịp, nó chạy mất à. Nó chạy rồi một lát mình mới sực tỉnh. Tức là mình biết cái phước mình thiếu. Hoặc là khi mình ra vậy, mình nhìn muôn người muôn cảnh mà mình lúc nào cũng nhớ cái tác ý á thế gian này là vô thường, là hư ảo thì đó là mình cũng có cái phước á, chứ còn không mình quán không kịp. Thấy thế gian đẹp quá cái mình ngồi ngắm đã đời một lát, tới chừng có người cú đầu một cái cóc nói:

[31:40]"Huynh làm gì huynh nhìn người ta say đắm vậy?". Ủa vậy hả? Lúc đó nhớ à quên thế gian này vô thường nãy tại mắt nhìn cái máy. Đó đó là cái là là mình không có phước thì mình không nhìn kịp, không có tác ý kịp để giữ đạo lý đó. Nhờ cái phước này quan trọng. Mà phước này lấy ở đâu ra? Phước này lấy đâu ra? Lạy Phật trước. Thứ hai nữa làm sống một đời vị tha. Phước này quan trọng, nói bởi vì nói cho tới tận cùng của lý luận chúng ta sẽ gặp một cái mờ, đó là cái nhân quả, cái hên xui, cái phước á. Chứ đừng có ai nói tài. Trong việc tu hành cũng như trong việc mọi việc ở trên đời này á đừng có ai nói tài.

[32:22]Vì cuối cùng nó vẫn là một cái hên. Tôi hay nói ví dụ như một tiến sĩ kinh tế học, ổng học ổng lấy bằng tiến sĩ rồi rồi sau đó ổng mới ra ổng mở một cái doanh nghiệp là ổng kêu gọi vốn, mở cổ phần, tín phiếu, lập ban giám đốc điều hành, hệ thống kế toán, hệ thống tiếp thị, nghiên cứu kỹ thuật của sản phẩm đầy đủ hết. Rồi có chắc ổng thành công không? Có không? Trên thế giới này rất nhiều ông tiến sĩ kinh tế học bị phá sản, rất nhiều. Vì ổng học là cái tài của ổng, cái lý luận của ổng, nhưng mà tới tận cùng của công việc nó vẫn có một cái chỗ nó mờ đó là cái phước, cái hên, những chuyện không bao giờ lường được.

[33:02]Nên dù là giỏi gì giỏi vẫn có thể thất bại hết. Vì sao vậy? Vì cái thành công hay không á trong nó có yếu tố hên xui, may rủi, chỗ đó là phước á, ai cũng vậy. Thì trong việc tu tập cũng vậy. Hay ngoài đời người ta hay nói á: "Hay không bằng hên" là vậy. Thì trong việc tu tập cái đó nó cũng quan trọng vậy. Nay chúng ta học đủ thứ đạo lý trên đời hết rồi, cuối cùng đụng vô chuyện áp dụng không được. Cũng quán thân này là bất tịnh, cái con người đó là là một bộ xương trắng, một cái đẫy da đựng những đồ hôi thối, học nát hết trơn rồi, nhưng mà khi thật sự gặp cái đẫy da đó nhớ hoài, chịu không được.

[33:41]Cái đạo lý nó không khởi, đạo lý nó không khởi.

[33:46]Giống như vậy, như chuyện mà chú tiểu á, ông thầy ổng dắt chú tiểu đi xuống phố đó, gặp cái cô đó rồi cái nói: "Thầy thầy, con gì đẹp quá vậy?". "Nói con cọp đó, đừng có dòm nó cắn chết á". Cái ông thầy ổng kéo đi kéo mà cái cái chú đó cứ quay lại dòm hoài, về cái chùa cái bỏ ăn, hỏi sao, "Dạ con nhớ con cọp đó quá". Chúng ta thấy nó vậy đó. Cho nên cái đó là cái thiện căn tu hành được hay không. Người có thiện căn á thì họ có thể vượt qua được. Khi không có thiện căn là mình cứ bị dính vào dính vào nên nó là phước đời trước, chứ không ai nói tài được hết trơn á. Thì đó là cái thứ nhất là để chúng ta vậy,

[34:24]đối với cảnh luôn luôn mình cho nó một cái nhìn thấy nó là giả. Cái này nó quan trọng lắm. Như bản thân tôi cũng vậy, ngày xưa tôi cũng vào đạo được là nhờ cái con đường này, nhờ cái quán Bát Nhã này. Nhưng một thời gian dài tôi tôi tán thán cái pháp môn Bát Nhã này dữ lắm, mà tôi hiểu nó sâu lắm, hiểu nó sâu, sau này mới thấy mình lầm. Mình mới hiểu đạo Phật càng lúc càng không đơn giản như vậy. Từ hồi đó bắt đầu tôi gặp đạo Phật á thì tôi tu tập, tôi tinh tấn lắm. Tôi ráng tu tập nhưng mà khó nhiếp tâm. Rồi lúc đó tôi đang học ở nơi tập thể, mà tôi vất vả lắm. Cho nên một hôm đó vào trong cái nhà ăn tập thể,

[35:05]trời ơi cái nhà ăn tập thể tôi sợ luôn. Thì tôi cứ ôm chén ôm đũa mình đứng một góc lặng lẽ, còn bên kia chén bát đũa ỳ xèo tiếng chửi tục chửi thề tùm lum tràn lan hết, mà ngay lúc đó tôi quán Bát Nhã được cái rồi tách mình ra khỏi thế giới. Bắt đầu thanh tịnh, nên tôi có niềm tin. Cái từ đó mình cứ tán thán cái pháp môn Bát Nhã là chúng ta cứ thấy thân tâm mình là giả, cuộc đời này là giả, quán chiếu thuần thục như vậy thì tâm tự nhiên nó thanh tịnh. Đó là một thời gian như vậy. Thời gian tôi tán thán á, nhưng mà tôi không ngờ tôi phạm cái lỗi lớn. Tôi phạm cái lỗi lớn rồi sau này tôi bị sốc vì cái quả báo

[35:45]nơi cái lỗi lầm đó, tôi mới giật mình tỉnh ngộ lại. Cái quả báo là cái gì? Quả báo là thế này: ví dụ như khi trước chỗ đông người như vậy, đông người, hằng lẽ thì tôi cứ đứng lặng lẽ nơi một cái góc của mình, tôi thấy tất cả đều là hư giả hết. Và như vậy tôi không có vướng không dính chuyện gì, thấy tâm mình thanh tịnh. Nhưng không ngờ đó là một cái lỗi lớn, lỗi lớn gì đố ai biết?

[36:18]Hử? Tức mình không tôn trọng con người á, tại mình coi như mọi người không có á. Cho nên mình mắc cái lỗi là không tôn trọng con người, coi thường mọi người. Tại vì bao nhiêu người trước mặt mình, những khuôn mặt đáng yêu đáng quý như vậy mà mình coi như không có, coi như hư ảo để giữ được tâm mình thanh tịnh là rơi đúng vào cái lỗi mình coi thường con người mà không hay. Và sau này tôi bị mắc quả báo, lúc đó tôi mặt tôi trở nên xấu dần dần xấu dần dần, cho tới ngày hôm nay vẫn chưa lấy lại được. Chứ hồi nhỏ cũng đẹp trai lắm. Nhỏ cũng gần bằng mấy thầy đây chứ không chơi đâu. Hồi nhỏ cũng gần bằng sư đây chứ chơi...

[37:01]Và cái lỗi đó mà tôi tỉnh ngộ được là cũng qua những cái sốc, qua những cái biến động trong sự tu hành dữ dội lắm, cũng phải trả cái giá bằng mồ hôi và nước mắt mới có thể tỉnh ngộ được. Nên tại sao mà tôi giảng pháp mà hay chi ly kỹ lưỡng là vậy đó. Bởi vì mình cũng quá đau khổ trong việc tu tập chứ không phải dễ. Cho nên cái quán mà vô thường, quán hư ảo nó được cái lợi là cho chúng ta cái sự vô nhiễm thanh tịnh, nhưng nó cũng chuẩn bị cho chúng ta một cái tai hại là chúng ta mắc cái tội là coi thường chúng sinh. Do vậy chúng ta phải bổ sung lại cái tử tế, cái thái độ thương yêu mà chắt lọc lại,

[37:40]để cái gì chúng ta phải bỏ đi để tâm mình không có phiền động, nhưng cái gì chúng ta phải giữ lại. Những cái gì mà chúng ta phải bỏ đi khi ngoại cảnh nó đến, và những cái gì chúng ta phải giữ lại khi ngoại cảnh nó đến để mình không mất lòng từ bi, để mình có cái đối xử tốt với chúng sinh. Đó cái này là cái chúng ta phải phải chắt lọc lại thì chúng ta mới dung hòa được hai cái cực đoan là cái vô nhiễm và cái tử tế. Những gì là những cái đắm nhiễm chúng ta phải xa lìa? Mà ví dụ như những ngoại cảnh nào mà đem đến cho chúng ta những cái phiền não, cái sân hận, cái tham lam, mình phải chắt lọc bỏ đi.

[38:19]Khi một người nào đó đến khen mình

[38:24]là mình biết cái khen đó là cái điều sẽ đem đến cho mình cái phiền toái, làm cho tâm mình tự cao tự đại, cái đó bỏ đi, mình coi cái lời nói đó như gió thoảng, như hư vô, bỏ đi. Hoặc người nào đó họ tới chê mình thì mình cũng biết cái này cũng làm cho mình bực bội nổi sân, bỏ đi, coi cái lời chê đó như là hư ảo đi. Rồi người nào đó họ tới họ mắng mình, họ vu khống, họ nói đủ thứ chuyện trên đời, coi như không có, bỏ. Đó là cái mà hễ cái ngoại cảnh mà tới đem mình phiền não, bỏ.

[38:59]Hoặc là ví dụ như là mình đi qua chỗ nào đó thấy người ta đánh rớt xuống xấp tiền thì sao, thái độ mình sao?

[39:10]Thái độ làm sao mới là đúng?

[39:14]Thứ nhất là coi tiền này chỉ là rơm rác, để đừng có tham. Mặc dầu mình biết tiền này nó sắm ra được đủ thứ á, nhưng mà mọi cái đủ thứ đó đó, sách vở, quần áo, xe cộ mà mình định sắm hư ảo, bỏ, không quan trọng, nên tiền sẽ không quan trọng. Chúng ta sở dĩ tham tiền là vì chúng ta tham những cái thứ mà tiền nó mua được. Nhưng bây giờ mình không tham thứ gì hết thì tiền nó vô nghĩa. Rồi còn sau đó mình lượm đem giao công an cho rồi để được đăng báo, phải không, là con người đã lượm tiền không lấy đem giao cho công an.

[39:49]Nên có những cái như vậy, tức là những cái kích động cái phiền não chúng ta thì mình vượt qua lẹ, bỏ đi. Mà đối với vấn đề tình cảm cũng vậy, ví dụ bây giờ ví dụ như mình tu, quý thầy là người tu hành thì mình cũng nguyện lòng là giữ lòng từ bi, giữ sự trong sạch. Nhưng rồi có một cái người Phật tử đến, họ cũng nguyện lòng thương yêu mình tha thiết, mà người này vừa là đẹp, vừa giàu, vừa ngoan nữa, giờ quý thầy tính sao giờ?

[40:25]Hử? Bỏ thì uổng, mà giữ thì mang tội, không biết tính sao nữa. Ở đây á, chúng ta phải chắt lọc. Vì nếu mà lúc đó nếu mình đắm nhiễm thì ngay lúc đó là mình không còn cái tư cách người tu. Nhưng mà nếu mà mình quay lưng hắt hủi, nói, "Cô là ác quỷ, cô đừng có tới đây hại tôi, kia nọ để cho tôi tu hành," thì ngay đó mình rơi vào cái lỗi là coi thường con người liền. Cái chỗ này chắc lọc hơi khó à. Ví dụ như bây giờ mình bỏ đi, mình coi cái sắc đẹp của cô là hư ảo, mình hiểu cô ta như là một chúng sinh như mọi chúng sinh để mình khởi lòng từ bi, thì cái đó là cái giữ lại đó, làm cho mình được cái tử tế đối với cuộc đời.

[41:08]Nhưng mà dễ giữ không? Dễ không? Dễ chắt lọc không? Trong trường hợp không dễ thì thôi trốn đi. Trốn cho nó gọn. Chứ đừng nói, "Tôi nghe lời thầy Chân Quang tôi chắt lọc, huynh đừng có sợ tôi. Tâm tôi là tôi coi cổ như là hư ảo, nhưng mà vì cổ là chúng sinh cho nên tôi phải thương yêu, phải nói chuyện hoài, cho nên huynh đừng có cản tôi nữa." Thì đổ thừa thầy Chân Quang, tội nghiệp tôi lắm. Ở đây á là chúng ta thấy nó cân đối giữa cái này, giữa vô nhiễm và cái tử tế. Có những lúc á chúng ta đối xử rất tử tế, thiên về cái tử tế; có những lúc chúng ta thiên về cái vô nhiễm. Ví dụ như cái người tàn tật, họ lỡ đường lỡ chợ,

[41:51]họ khổ khó khăn gì đó, mình giúp đỡ họ, lúc đó mình cái tâm của mình nó khởi thiên về cái tử tế nhiều hơn. Nhưng mà khi gặp một cái người nào mà họ có thể đem đến cho mình cái phiền não thì mình phải thiên về cái vô nhiễm nhiều hơn để mình thủ thế, để mình đề phòng, phòng ngự trong nội tâm của mình. Đó là hai cái chúng ta tùy lúc mà đổi qua đổi lại, chứ đừng có có đều đều bằng nhau, không phải đâu, tùy lúc như vậy. Ví dụ những lúc nghe Pháp như vậy á thì mình phải lắng nghe để hiểu cho sâu, gọi là tác ý hiểu sâu, chứ đừng có nói, "Ông thầy ổng giảng mọi chuyện như hư ảo, ổng cũng hư ảo," thì như vậy nó không đúng. Nè.

[42:30]Có lúc, tùy lúc mà chúng ta rơi vào cái chúng ta đi về cái tử tế, tùy lúc chúng ta trở qua cái vô nhiễm. Thì đó là hai cái khía cạnh chính, trong thái độ chính đối với quán Pháp ở cuộc đời. Nhưng mà sự thực, trong cái quán Pháp nó còn nhiều cái phức tạp lắm chứ không phải dễ. Nghĩa là chúng ta làm ông thầy, chúng ta sẽ gặp nhiều cái tình huống phức tạp, khó khăn mà phải xử trí chứ không phải là chỉ có hai cái khía cạnh này không. Mà nếu mình không có dùng đạo lý để mình giải thích được á thì nhiều khi người ta không có người ta không có kính tâm với đạo Phật. Nó nhiều trường hợp nó khác nhau. Như có một lần có một cái sư cô đó có cái chuyện nhà bận,

[43:12]đến hỏi ý kiến tôi là, nói, "Thầy cho phép con, thầy có khuyên con nên về nhà để lo cho gia đình hay không?" Tôi nói, "Không. Bỏ đi, lo tu à. Cứ ở chùa mà tu, thoải mái cho, thật tinh tấn, đừng bận tâm. Chuyện nhà để nhà lo, cứ ráng lo tu." Có sư cô tới nói, "Thưa thầy, con bận chuyện nhà như vậy, thầy có nghĩ con nên về nhà để lo gia đình không?" Tôi nói, "Chạy về lo liền à." Mà cô nói, "Chùa con không có cho." Nói, "Không cho cứ chạy về lo đi, tại chuyện này phải về." Hai trường hợp khác nhau hết trơn à. Tại sao vậy? Tại cái cô thứ nhất á, cái chuyện gia đình cổ á là cổ không có duyên để giải quyết chuyện gia đình,

[43:48]mà cổ cái nợ đối với gia đình cũng không còn nhiều. Nên cứ ở chùa lo tu, vậy chứ mà cái công đức nó hồi hướng về gia đình tốt, không có lo. Còn trường hợp cái cô thứ hai á, cái nợ cổ với gia đình còn, mà cổ có duyên để về khuyên gia đình. Tại vì nhà cổ là mở cái cái quán bia ôm gì á. Nên cổ phải về, cổ nói, "Con phải dứt khoát về để khuyên em con. Ở nhà không cho, nói đi tu rồi đừng có bận tâm." Tôi nói về, nói liền, về kêu bỏ liền, đổi nghề đi. Thì cổ về thì đúng là cổ thay đổi được. Rồi sau đó cổ trở lên chùa tu lại. Đó, chúng ta thấy nó không phải là chuyện nào mình cũng giải quyết theo nguyên tắc, mà phải tùy lúc, tùy cảnh.

[44:29]Thì đây cũng là cái quán Pháp á, cái đối xử với cuộc đời trong vô số những cái tình huống đến với mình là mình đối xử thích hợp. Như cũng có hai cái cô bạn đạo vậy. Hai cô bạn đạo cùng tu hành, cùng chung nhóm, cùng địa phương, cái gì cũng giống nhau hết trơn, đến xin tôi xuất gia. Thì cô thứ nhất đến thì nhận, cô thứ hai đến thì nói, "Chùa hết chỗ rồi." Tại vì cái duyên của cô thứ hai chưa được. Nó như vậy. Nên có nhiều chuyện trên đời gọi là, cái này gọi là cái thái độ hay là cái phương pháp mình ứng xử với cuộc đời nó khó. Ở đây nó gọi là thuộc về trí tuệ hay gọi là sai biệt trí, mà tùy lúc tùy hoàn cảnh.

[45:09]Trong nhất thời tôi không có nhớ để kể hết, chớ mà nếu tôi nhớ kể ra thì nhiều việc. Với Phật tử sau này cũng vậy. Vừa là cái thái độ đối xử, mình đối xử với Phật tử, đối với huynh đệ, rồi có nhiều khi người ta hỏi chuyện để mình cố vấn góp ý nữa. Thì những cái điều đó là người tu phải nhiều chuyện lắm. Tôi nhớ chuyện sáng mà tức cười. Thì tôi có giảng mấy cái bài về đạo Phật trong đời sống gia đình, có cái bài là quan hệ vợ chồng, có bài dạy con. Tôi mới cười cười, tôi định nói Phật tử là chắc kỳ tới thầy giảng cái bài hôn nhân nữa. Thì tôi mới quay sang có cái sư cô gần đó, hỏi cô có nghe bài quan hệ vợ chồng chưa?

[45:49]Nói, "Dạ chưa, con nghe con sợ phạm giới." Trời ơi trời! Tôi giảng mà nghe mà sợ phạm giới, chắc tôi giảng tầm bậy lắm á. Nói không phải, cái người tu vậy đó, mình làm thầy Phật tử, những chuyện đó mình phải biết hết. Những chuyện đó mình phải biết hết. Mà mình phải nhìn được mọi chuyện trên đạo lý hết, tại vì đạo Phật phải soi sáng được hết mọi điều của cuộc đời này, chứ không phải mờ mịt. Nên những chuyện đó biết hết. Như vậy, như tôi, bản thân tôi vậy á, nhiều khi thỉnh thoảng tôi vẫn lựa một cuốn phim phim Mỹ tôi xem. Tôi lựa một cuốn phim nào mà nó có chiều sâu về cuộc đời, về xã hội hay về khoa học tôi xem,

[46:28]để mình hiểu thêm coi thế giới họ đang suy nghĩ điều gì. Nhưng mà có những cuốn phim á thì tôi đem về chùa cho đệ tử tôi coi, tôi bắt phải coi, không sót một cái lời nói chuyện với nhau. Nhưng mà có những phim hay mà không dám đem về coi, tại phim Mỹ nó hay pha mấy cái màn tình tứ. Tôi về tôi cũng kể lại, tôi nói, "Thầy muốn cho tụi con coi lắm, tại vì cái phim đó cái ý nghĩa nó hay, nó có giá trị. Nhưng mà chỉ có cái là sợ tụi con động tâm, nên không dám đem về coi. Tới chừng nào mà không còn động tâm nữa thì cho coi mấy phim đó." Thì nó cũng không nhiều lắm, nhưng một vài cảnh rồi coi nó không nghiêm

[47:03]trang, người tu mà coi mấy cảnh đó nó không nghiêm trang. Đó, chúng ta thấy là đối với cuộc đời như vậy, mình học hỏi được nơi cuộc đời nhưng mà đừng để đắm nhiễm cuộc đời. Thì đây là cái bản lĩnh của người tu, cũng phải nhờ nhiều năm, nhiều tháng mình vừa lạy Phật mà vừa tọa thiền để mình có thể có thái độ thương yêu con người, đối xử tốt với con người, học hỏi được nơi cuộc đời mà vẫn vô nhiễm cuộc đời. Đó là bản lĩnh tu hành. Đây gọi là cái quán Pháp. Rồi khi chúng ta đụng chuyện trong mọi tình huống thì lúc nào mình cũng có cái đối xử thích hợp, hợp lý. Chính vì đó mà nếu quý thầy mà nghe tôi giảng

[47:43]mấy bài giảng khác á, tôi giảng tùm lum chuyện trên cuộc đời hết trơn á. Là nhờ đó đó. Là vì mọi việc mình phải có thái độ đối với cuộc đời này cho đúng. Từ cái lúc mà có những cái điều ví dụ người ta nói xấu mình, kệ, người ta nói, cười cười, coi, không thèm trả lời. Có những điều người ta nói xấu, trả lời rõ ràng, không có im lặng. Không phải lúc nào cũng giữ một thái độ một mực. Ví dụ như có người nói đến với, "Thưa thầy, cái chỗ đó nói xấu thầy." Tôi nói, "Thôi kệ, kệ cho họ đã rồi hết." Có người tới, "Thưa thầy, chỗ đó nói xấu thầy quá." Nói, "Lại đó cãi giùm thầy." Ờ nó tùy duyên tùy lúc như vậy,

[48:23]chứ không phải là lúc nào mình cũng xử một chiều đâu. Không phải. Nên phải tùy lúc. Mà miễn trong tâm mình là vô nhiễm, quan trọng cái nền tảng là mình không đắm nhiễm, không ham gì cuộc đời hết. Còn cái mà ứng xử, xử lý từng tình huống, đó là thuộc về trí tuệ, phải khéo. Cái này phải do tu hành, do khôn ngoan, do khiêm tốn học hỏi đủ thứ chuyện hết. Đây là cái bản lĩnh. Bản lĩnh phải như vậy. Nhưng mà nền tảng nó vẫn phải là vô nhiễm. Trước hết quý thầy muốn xông xáo, hòa nhập, dấn thân vào cuộc đời để làm lợi ích chúng sinh, phải có cái bản lĩnh vô nhiễm này trước. Mà cái bản lĩnh vô nhiễm này là phải nhất là do lạy Phật trước.

[49:02]Tôi nói thật sự á, cái công đức lạy Phật nó vi diệu, kỳ lạ lắm. Như gặp cái chuyện, tôi nói ví dụ, ví dụ như là Thôi bây giờ có cái ví dụ quý thầy dễ nhớ mà thích nhất á, ví dụ như có một người phụ nữ tới. Đẹp. Con trai nhà giàu, giỏi, ví dụ vậy, tới. Thì trường hợp như quý thầy mà thiếu lạy Phật, quý thầy động tâm liền. Nhưng mà nếu quý thầy lạy Phật nhiều, không động tâm. Bởi vì cái tư cách của Thánh rớt vào trong tâm mình, nó giữ mình được cái sự vô nhiễm đối với thế gian này. Cho nên ở đây không ai nói tài hết á, đừng có nói là ông đó tu giỏi, không giỏi, không có. Ông đó lạy Phật với lòng thiết tha tôn kính nhiều hay không?

[49:48]Mà phải thiết tha tôn kính nha, chứ mỗi ngày mình đều có cái thời khóa để lạy Phật mà mình lạy hờ hững thì gặp cũng là gặp ngoại cảnh là tâm động liền. Nhưng mà nếu mà mình lạy Phật với lòng thiết tha, từng lạy từng lạy rõ ràng thì mình gặp ngoại cảnh tâm mình không động, cái phước kỳ lạ. Nên chỗ này không ai nói tài hết á, không ai nói tài. Cái nền tảng chỗ đó, cái gốc ban đầu vậy. Nên dù sau này quý thầy có học lên những giáo pháp cao nữa cao nữa, quý thầy rời ghế trường cơ bản này để được học với cao cấp gì đó, vân vân, nhưng mà xin đừng bao giờ quên cái công đức lạy Phật làm nền tảng để giữ cho mình cái hạnh tu chân chính suốt cuộc đời này.

[50:29]Nhớ kỹ cái đó. Chúng ta nói cái giá trị của đạo Phật, mà nhất là đạo Phật trong thời đại mới này là như vậy, là chúng ta làm sao mà giữ được cái vô nhiễm, tự tại mà vẫn thương yêu được cuộc đời, đối xử tốt với cuộc đời. Đó là giá trị của đạo Phật trong thời đại ngày hôm nay nha. Thời đại đã qua mình miễn bàn, nhưng từ đây vào những thế kỷ tới, thế gian sẽ liên quan nhau chằng chịt thì mình phải cân đối này. Còn khi mà không tiếp duyên á, khi tọa thiền thì luôn luôn phải giữ tâm thanh tịnh. Cái giá trị vậy. Nếu mình có vọng tưởng mà chạy ra trần cảnh nhiều quá thì mình phải tác ý thích hợp. Khi lúc mình ngồi thiền mà mình thấy vọng tưởng nó khó dứt,

[51:14]biết cái nghiệp mình nặng, mình phải ngay đó niệm Phật sám hối, hoặc là mình quán từ bi, mình quán không. Nó phải tác ý khéo, thích hợp. Cái cái mà quán Pháp là như vậy đó. Cái quán Pháp, ý nghĩa thứ nhất ngoại cảnh là một là một là gì? Đừng đắm nhiễm ngoại cảnh, phải không? Thứ hai là?

[51:40]Hai là cái gì? Đối xử tốt được với thế gian này. Hai cái đó cân đối. Thứ ba nữa là cái gì?

[51:51]Nghe một lát tràng giang đại hải phải rút ra được liền mấy ý chính chứ. Thứ ba là xử lý thích hợp trong từng tình huống. Ba điều đó. Mỗi tình huống nó khác nhau hết á. Đó là cái mà quán pháp á, chúng ta để ý như vậy. Bây giờ chúng ta nói qua cái quán pháp mà giáo pháp. Giáo pháp này là đạo lý. Khi chúng ta tu tập có tiến bộ thì từ từ chúng ta thấy được những đạo lý như là Phật đã thấy. Ừ. Thì trong kinh trước hết là chúng ta thấy được năm triền cái nó mất dần, tan vỡ dần. Năm triền cái thứ nhất là gì? Có thuộc chưa? Thứ nhất là tham ái, thứ hai là sân, thứ ba là thụy miên, thứ tư là trạo hối, thứ năm là nghi.

[52:44]Đó là năm cái triền cái chúng ta phải phải thuộc. Mà năm triền cái này chúng ta phá được vào lúc nào? Vào lúc mà chúng ta thuần thục được chánh niệm - tỉnh giác. Cái chữ "chánh niệm - tỉnh giác" nó quan trọng. Tôi dùng cái chữ tỉnh giác chứ tôi không có dùng cái chữ tỉnh thức. Vì sao vậy? Cái chữ giác nó mạnh hơn. Cái chữ thức nó yếu lắm. Vì cái người mà tu mà tới cái chỗ tỉnh giác này hiểu á, hiểu cái chữ giác nó mạnh. Là lúc đó tâm mình nó sáng vằng vặc như ánh trăng ngày đêm. Sáng vằng vặc mà rỗng rang thì một cái niệm nhỏ nào cũng bị mình kiểm soát được hết. Cái đó gọi là trạng thái chánh niệm - tỉnh giác.

[53:25]Cái chữ đó dùng chữ giác mới đúng chứ thức không đúng, vì thức nó mờ mờ. Thức ví dụ tâm mình ý thức trong từng lúc việc làm, nó chưa có chứng gì nhiều thì cũng gọi là tỉnh thức được. Nhưng mà tới giai đoạn sâu nó là tỉnh giác chứ không phải tỉnh thức. Mình phải dùng cái chữ gọi là tỉnh giác. Cái giác chiếu cái tâm mình nó sáng vằng vặc vằng vặc, lúc nào cũng vậy. Thì cho tới giai đoạn thuần thục thì tự nhiên năm cái này biến mất. Chúng ta nói qua năm cái này một chút xíu. Tham ái, tham ái là gì? Chúng ta đã nói rồi phải không? Rất nhiều lần trong cái bài tham ái cũng như trong cái bài Mười kiết sử.

[54:02]Quý thầy biết tham ái không? Biết không? Biết rồi chứ hả? Biết rồi. Biết rồi, ừ. Thứ hai là sân hận, sân thì chúng ta nói trong bài nào rồi? Cũng bài trong Tâm lý đạo đức rồi, cũng trong Mười kiết sử rồi, phải không? Có nhắc lại nên không cần nói lại. Thụy miên là gì? Là buồn ngủ. Là ví dụ như khi mình ngồi thiền mình bị hôn trầm, cái đó là bị thụy miên. Nhưng mà bây giờ có người không bị thụy miên, ngồi tỉnh, nhưng mà tới chừng ngồi tới khuya mệt quá cũng phải ngủ, thì đó vẫn gọi là còn bị thụy miên. Cái phá được thụy miên này là gì? Là trong những trường hợp nào mà mình buộc phải thức, thức được luôn, không buồn không ngủ.

[54:48]Nghĩa là giữ an trú trong chánh niệm - tỉnh giác rồi là không buồn ngủ, thức được tỉnh táo bình thường. Tới chừng xong việc lăn ra ngủ như chết luôn. Nhưng mà lúc cần phải thức thì thức luôn. Ví dụ có trường hợp nào đó mình phải đàm luận đạo lý suốt đêm gì đó thì cũng ngồi lặng lẽ trong hội chúng vậy suốt một đêm từ đầu hôm tới sáng luôn. Không sao hết, thức tỉnh luôn, không có ngồi ngủ gà ngủ gật. Huống chi mà ngồi trong lớp học thì càng không ngủ gà ngủ gật nữa phải không? Quý thầy ít bị, chứ quý cô hoài. Ngồi nghe giảng ngủ riết à. Tôi cứ chọc miết, nhắc miết. Thì mình giữ được cái tâm tỉnh táo suốt như vậy đó gọi là phá được thụy miên.

[55:32]Nhưng mà đừng có lạm dụng, coi vậy chứ cũng đừng có lạm dụng, cũng phải cân đối cái giấc ngủ lại. Nhưng mà khi cần thức là thức, khi cần ngủ thì ngủ, thì đó gọi là phá được cái thụy miên này. Thứ tư là trạo hối. Trạo hối này mình cũng đã nói trong bài hối hận phải không? Nhưng chúng ta nhắc lại chút xíu. Nhắc lại chút là có ba hạng người. Người thứ nhất làm lỗi, người thứ nhất làm lỗi mà không biết lỗi, đây là hạng người mà vô lương tâm, người này sợ lắm, đừng có đụng. Con người này đọa chết, làm lỗi mà không biết lỗi. Thứ hai là làm lỗi mà biết hối hận đó, biết hối hận. Và thứ ba, hạng người mà không hối hận luôn.

[56:15]Hạng người thứ ba này là hạng người tu, tu mà chứng được cái phá được năm triền cái nè. Hạng người thứ nhất là hạng phàm phu đặc rồi mình không ý kiến không, làm lỗi mà ta nói không có nghe, cứ cãi riết à. Trong chùa mình có ai hay cãi không? Hi vọng là không. Thứ hai là mình biết hối hận là người tu có đạo đức á, khi mình làm cái lỗi xong rồi cái người khác nhắc cái mình biết à mình vừa làm phải lầm lỗi, mình hối hận. Mà tới trình độ thứ ba này là làm lỗi không hối hận nữa. Nhưng mà cái này nó không giống như cái trên, bởi vì cái này không hối hận là vì tâm không động thôi, chứ mình biết nhân quả, biết thiện ác và biết lỗi mình rất rõ.

[56:54]Biết lỗi nhưng mà tâm không động, không hối hận, mà quyết tâm không phạm lỗi nữa. Nó cái khác nhau giữa hạng thứ ba và hạng thứ nhất là như vậy. Hạng thứ nhất là thứ lỳ mà cứ làm hoài, nghĩa là cản đồ này, thậm chí đem nhốt trong tù rồi mà cũng quậy, cũng gây tội ác ở trong tù nữa, cái hạng thứ nhất này. Nhưng mà còn hạng thứ ba là lỡ trong một lúc mình trí tuệ không sáng, mình có làm điều gì sai thì tỉnh ngộ biết sai rồi là dứt khoát không bao giờ làm, cái quyết tâm rất mạnh. Nhưng mà tâm không bị hối hận dày vò, vì tâm thanh tịnh, tại vì để giữ cái thanh tịnh. Nên ở đây là cái cái triền cái mà phá được.

[57:31]Cái thứ năm là nghi thì mình đã nói trong cái Mười kiết sử rồi phải không? Có lập trường xác định vững vàng, trí tuệ phân biệt đâu ra đó nên không còn có mơ hồ nữa. Thì đây trong bài kinh Phật nói á là khi mình còn triền cái, mình thấy mình còn; hết triền cái, mình thấy mình hết. Nhưng mà từ từ phải hết được năm triền cái này. Vì cái công phu mà quán thân, quán thọ, quán tâm nó thuần thục rồi thì tự mình phải chứng được cái chánh niệm - tỉnh giác. Chứng được cái chánh niệm - tỉnh giác thì những cái điều đó mình phá được năm triền cái này. Mà phá năm triền cái này nè, quý thầy để ý nha, cái tham với sân này dễ phá không?

[58:09]Khó lắm. Mà chứng được chánh niệm - tỉnh giác phá được. Ở đây nói theo Thiền tông là "bát phong xuy bất động", tức là tám gió thổi tâm không động nữa. Tám gió là cái gì? Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc. Nói chung là mình nói là những thăng trầm, những thuận nghịch của cuộc đời, phải không? Những thăng trầm, thuận nghịch của cuộc đời đến với mình mà tâm mình bất động thì trạng thái này người ta gọi là bát phong xuy bất động, mà trong nhà thiền gọi là người này chứng thánh. Nhưng nếu mình so sánh với hệ Nikaya thì người này chưa chứng sơ thiền, mới chứng chánh niệm - tỉnh giác á. Mà chứng chánh niệm - tỉnh giác mà vĩ đại như vậy rồi, chúng ta thấy ghê chưa.

[58:54]Bởi vì cái chánh niệm - tỉnh giác là cái cửa ngõ để mới vào định. Ở trong Bát Chánh Đạo á, cái Chánh niệm là cái thứ bảy, quan trọng lắm. Rồi bắt đầu mới qua tới cái thứ tám là Chánh định. Thì cái chánh niệm - tỉnh giác, nội chánh niệm - tỉnh giác không mà mình phá được năm triền cái là người này đã bát phong xuy bất động, ngoại cảnh đến không làm lung lay tâm hồn nữa, vững chắc. Nên chúng ta thấy cái tỉnh giác, chánh niệm mà đúng nó vĩ đại như vậy. Thì như vậy chúng ta thấy cái sơ thiền còn vĩ đại hơn nữa, phải không? Sơ thiền khó chứng mà vĩ đại lắm, không có đơn giản. Nên có nhiều người không biết nói tu mà tu làm chi theo sơ

[59:34]thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, còn đây tôi tu theo gọi là tối thượng thừa thiền, trực chỉ quy đường chim. Mình biết người này nói nói hơi vội vàng, nói hơi vội vã.

[59:48]Tại vì sự thật là cái sơ thiền người đó chưa chứng được. Vì mà chứng được nội cái chánh niệm - tỉnh giác thôi là đã đã hết sức là vĩ đại, phá được năm triền cái này đâu phải giỡn, đó là tư cách của bậc thánh rồi. Tuy nhiên nếu mình so sánh cái năm triền cái này với Mười kiết sử thì chúng ta sẽ thấy có những điểm khác và điểm giống. Ví dụ như phá được tham sân thì giống như là bậc thánh nào?

[1:00:13]Phá được tham sân thì giống như là chứng được Tư-đà-hàm với A-na-hàm chứ không có ít, phải không? Đó, phá được cái trạo hối này giống như cái gì?

[1:00:24]Không, phá được cái nghi này giống như gì? Giống như Tu-đà-hoàn, phải không? Tu-đà-hoàn phá được, nhưng mà tuy nhiên nó lại không có đầy đủ, mà vì sao? Vì Tu-đà-hoàn là phải phá được gì nữa? Thân kiến, giới cấm thủ. Đó, chứ không phải phá được thân kiến, giới cấm thủ, nghi thì mới chứng Tu-đà-hoàn, còn ở đây chỉ có phá được cái nghi thôi nên chưa phải Tu-đà-hoàn. Chưa phải Tu-đà-hoàn nhưng mà lại phá được tham sân, lại giống như Tư-đà-hàm, A-na-hàm, kỳ khôi. Cho nên đây là chúng ta thấy nó khác nhau giữa cái thiền định và thánh quả, hai bên nó khác, nó đan xen, nó giống mà khác, giống mà khác đó.

[1:01:02]Nên cái người mà chứng được thiền định á, mình nhìn cái tư cách nó giống như thánh vậy á, giống như thánh vậy, vì họ cũng có phá được một số kiết sử như các vị thánh, nhưng mà không hoàn toàn, không có chắc, không vững chắc lắm. Là vì còn một số kiết sử quan trọng như là thân kiến, tức là cái ích kỷ á, hay là cái cố chấp chưa phá. Ở đây là chưa chắc ăn. Vì vậy mà chúng ta vẫn phải phân biệt rõ ràng. Cái một vị đó tu hành tinh tấn chứng được thiền định mình khoan nói là vị đó đã chứng thánh quả là vậy đó, mặc dầu cái tư cách của một người chứng được thiền định thì tư cách đó giống như là bậc thánh chứ không phải tầm thường.

[1:01:40]Cái thứ a kế nữa Đức Phật nói là quán pháp là mình thấy được năm thủ uẩn. Năm thủ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đây là cơ cấu về thân tâm, sinh lý và tâm lý mà Đức Phật chứng và thấy được. Mấy ngàn năm qua cũng không ai hiểu hết. Trước Đức Phật cũng không ai thấy được mà sau Đức Phật cũng không ai hiểu hết về năm ấm này. Thì tôi cũng gượng gạo, tôi có viết cái cuốn Năm Ấm Là Gì, hay là tôi có giảng trong cái băng là Năm Ấm Giảng Giải. Quý thầy đã xem chưa? Đã nghe cái băng Năm Ấm Giảng Giải chưa? Chưa hả? Chưa, ráng tìm nghe nha, tìm nghe, quan trọng lắm, phải hiểu về điều này. Nên tôi xin trân trọng giới thiệu là hãy tìm nghe Năm Ấm Giảng Giải của Chân Quang.

[1:02:28]Hay hay xem cuốn sách Năm Ấm Là Gì của Chân Quang. Ừ. Năm thủ uẩn á nó khó là vì sao? Vì ở chỗ là chỗ hành ấm, thức ấm á. Ví dụ như sắc ấm mình phân tích được, thọ ấm phân tích được, tưởng ấm phân tích được, nhưng tới hành ấm, thức ấm mình không nhìn ra nổi. Đây là chỗ những người chứng mới thấy được. Nên Đức Phật chứng, các vị A-la-hán chứng, nên các ngài nói về năm thủ uẩn nói tự tại và nói rành mạch, rõ ràng. Nhưng những đời sau không ai biết hết, không ai biết năm thủ uẩn là gì. Nên đã có nhiều lần có những cái hội nghị Phật giáo mà các ngài mới đem bàn coi năm ấm là cái gì. Là có những hội nghị đó mỗi người cứ đọc lên bài tham luận định

[1:03:10]nghĩa về năm ấm, rồi người khác định nghĩa về năm ấm. Nhưng mà thường thường hay bị hiểu khác nhau, nhất là cái tưởng ấm đó hay bị khác nhau. Tưởng ấm á tiếng Pali là saññā, mà saññā này cũng nhiều nghĩa nữa, khổ vậy. Saññā này có nghĩa là ghi dấu, cũng nghĩa là nhận thức, cũng nghĩa là tưởng tượng luôn. Nhưng mà các tổ của Trung Hoa thì dịch là tưởng, chính xác hơn. Còn bên Tây phương họ lại chọn cái nghĩa là nhận thức, dùng chữ perception, perception nó lộn qua bên thức ấm. Nên khi mà mình quán thân, quán thọ, quán tâm cho tới khi được định rồi, từ từ mình thấy được năm thủ uẩn này. Bây giờ mình nói qua Thất giác chi.

[1:03:51]Thất giác chi là chúng ta kể ra trước hết là gì? Quý thầy học chưa? Thầy Đức Hoàng dạy chưa kìa? Thất giác chi? Chưa hả? Thì thứ nhất là Niệm giác chi, chúng ta nhớ ghi vô đi, Niệm giác chi cái này phải nhớ. Thứ hai là Trạch pháp giác chi. Thứ ba là Tinh tấn giác chi. Thứ tư là Hỷ giác chi. Thứ năm là Khinh an. Thứ sáu là Định. Thứ bảy là Xả. Đó là bảy giác chi. Chúng ta định nghĩa một chút xíu để biết. Niệm giác chi này thì nó cũng trở lại là chánh niệm tỉnh giác đó. Tức là mình tu đạt được cái chánh niệm là cái chánh đạo thứ bảy thì gọi là Niệm giác chi. Cái niệm này nó có hai nghĩa. Một cái nghĩa là quán niệm, một cái nghĩa là tỉnh giác chánh niệm.

[1:04:47]Nhưng mà theo tôi hiểu thì Niệm giác chi này là giai đoạn chứng rồi. Nghĩa là Thất giác chi này là đều bảy giai đoạn chứng, chứ không còn phải là giai đoạn tu nữa, bảy giai đoạn chứng. Mình nói mà quán niệm, quán tưởng á thì đang giai đoạn tu. Ví dụ như mình xem cái thân này là vô thường, là bất tịnh, thì đó là giai đoạn tu, không phải giai đoạn chứng. Nhưng mà ví dụ như mình thấy cái thân này nó rỗng suốt hết, thì nó là giai đoạn chứng rồi. Thì ở đây vậy, cái Niệm giác chi này chúng ta không nên hiểu là nó là giai đoạn tu, đừng nghĩ đó là những cái quán tưởng, những cái suy niệm về cuộc đời, về thân, về tâm, mà phải hiểu Niệm giác chi này là giai

[1:05:30]đoạn chứng, thành tựu được chánh niệm tỉnh giác, nghĩa là tâm mình sáng vằng vặc vằng vặc và rỗng rang, rỗng suốt luôn. Như cái thùng không đáy luôn. Cái chữ mà tâm như cái thùng không đáy này không phải nói chơi đâu, tu chứng tới mới thấy. Đó là giai đoạn, cái đoạn chứng thứ nhất gọi là cái giác chi thứ nhất là cái chứng được. Thứ hai là Trạch pháp giác chi. Trạch là chọn lựa, là nhận định, là suy xét. Trạch pháp tức là nhận định, chọn lựa, suy xét được, là mình chứng được cái thứ hai kế tiếp. Chỗ này mới là lạ nha. Cái chỗ này trong cái Thất giác chi nêu ra mà những cái đạo lý khác thì ít có nêu.

[1:06:09]Nghĩa là Đức Phật lại cho rằng nghĩa là sau khi tâm chúng ta đạt được cái chánh niệm tỉnh giác sáng vằng vặc thường xuyên, thì chúng ta xuất hiện được cái trí tuệ nhận định được mọi vấn đề trong cuộc sống này. Lúc đó cái người này lanh. Cái người mà chứng được cái chánh niệm tỉnh giác rồi mình thấy họ nhanh nhẹn, lanh là học một hiểu 10, học một hiểu 100, ai hỏi một đáp 10, hỏi một đáp 100. Nè cái người mà chứng được cái chánh niệm tỉnh giác mà tới cái giai đoạn mà chứng được cái Trạch pháp giác chi này là trí tuệ họ sáng láng và lanh lợi dữ lắm. Đó là giai đoạn chứng chứ không phải là giai đoạn tu.

[1:06:46]Cho nên nhiều người không hiểu mà nếu mà định nghĩa cái Trạch pháp giác chi này là ngồi đó mình suy tư về giáo lý, à mình suy nghĩ về giáo lý Tứ diệu đế là gì, suy nghĩ 12 nhân duyên là cái gì, là hiểu trật rồi. Bị Thất giác chi này là chứng rồi chứ không phải giai đoạn mà suy tư tìm hiểu nữa. Thì ở giai đoạn chính này là sau khi tâm mình chứng được chánh niệm, lúc nào nó cũng thanh tịnh sáng tỏ, thanh tịnh sáng tỏ, thì mỗi khi mà gặp một việc gì gì là mình hiểu, hiểu rất rõ về công việc đó, tâm nó sáng nhận định mọi cái. Cái sáng đó thì nó hai cái, một cái là về đạo. Ví dụ mình khi mà nghe một cái câu giáo lý nhỏ nhỏ thì mình hiểu,

[1:07:22]hiểu sâu, hiểu tới nguồn tới cội tới chi tiết nhỏ nhỏ của nó luôn. Đó là nhờ cái Trạch pháp giác chi. Hoặc là trong chuyện trong đời sống vậy, trong cuộc đời cũng vậy, khi một người họ đến họ than họ nói: "Thưa thầy, giờ gia đình con bất an là vì có sự xung đột." Nói sơ sơ cái mình hiểu tới nguồn tới cội luôn, hiểu là do tại người chồng hay tại người vợ hay tại người con, mà trong cái nguyên nhân đó là ai lỗi như thế nào, trong tâm nó vì đâu mà có, bắt nguồn từ cái chỗ nào. Hiểu hiểu hiểu tuốt tuốt tuốt ra hết. Thì cái đó là Trạch pháp giác chi. Chi này là chỗ chứng chứ không phải là chỗ ấy, người này thông minh trí tuệ dữ lắm.

[1:07:59]Tu tới chỗ này rồi là rất thông minh trí tuệ. Nên quý thầy, ví dụ có thầy nào mà cảm thấy mình nhiều khi học, học hành không có được là sáng láng, thì mình ráng tu tập. Để mình chứng được cái Trạch pháp giác chi rồi là học rất là sáng. Mà muốn chứng được cái Trạch pháp giác chi này, thì trước hết là phải biết toàn thân, quán thân, là ngồi thiền lúc nào cũng biết toàn thân nhẹ nhàng, rõ ràng, đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng biết toàn thân rõ ràng, tu vậy một thời gian cái nó chứng được cái Niệm giác chi, là thân tâm rỗng suốt. Chứng được Niệm giác chi một thời gian rồi, nó chứng được cái Trạch pháp giác chi,

[1:08:38]thì tự nhiên đối với mọi việc trên cuộc đời việc học việc hành sáng láng lẹ làng. Người mới mở miệng nói nửa câu mình đã hiểu được người ta sắp nói điều gì và câu trả lời có sẵn luôn. Tôi nói lại chỗ này một chút. Ví dụ như cái người đó họ họ đến mình họ nói, nói nguyên câu mà họ nói vừa mới nói nhốm nửa câu cái là mình biết luôn nguyên cái ý họ, mà vừa biết luôn nguyên cái ý họ thì câu trả lời có nó sẵn rồi, chờ họ vừa dứt lời cái là mình trả lời luôn, khỏi suy nghĩ, tự động nó có luôn. Đó gọi là Trạch pháp giác chi, trắc. Thì cái Trạch pháp giác chi này nó cũng làm cho mình có cái lợi, là ví dụ khi quý thầy lớn lên quý thầy đi giảng,

[1:09:21]mình bước vào hội chúng mình tự tại, không có lo sợ. Là vào trong đó, ví dụ trường hợp khi mình giảng rồi người ta đặt vấn đề người ta hỏi, thì không bao giờ bí. Hỏi cỡ nào hỏi, hỏi gì đó hỏi, luôn luôn trả lời hết luôn. Đó là chứng được Trạch pháp giác chi. Vì có nhiều người tôi biết vậy, có nhiều người nói hỏi sao? Nói: "Dạ, con giảng giảng mà sợ người ta hỏi nhiều câu hỏi khó tẩy quá, khó trả lời." Nên tôi biết là người này chưa chứng được Trạch pháp giác chi. Nên chứng được rồi không có sợ. Tại vì giáo lý bản thân mình là mình hoàn thiện, mình tu riết rồi khi đó đụng chuyện đối duyên xúc sự gì là thông suốt thông suốt hết.

[1:10:06]Mà cái vấn đề khéo là mình nhìn vấn đề toàn diện chứ không có nhìn một chiều. Như nãy chúng ta nói về cái thái độ đối với quán pháp á, cân đối giữa vô nhiễm và tử tế vậy là chúng ta nhìn, nhìn được nhiều khía cạnh của đạo lý chứ không có nhìn một khía cạnh. Có một lần có người nói với tôi, nói ổng đó ổng giảng ổng là vua rào. Ổng giảng xong bài pháp ổng rào kín mít mà không ai hỏi không ai chen vô bắt bẻ gì được hết. Khi tôi nghe thuật lại tôi ngồi tôi suy nghĩ, tôi nói tôi đâu có cố ý rào đón gì đâu, nhưng chỉ có cái là mỗi khi mình nhìn cái vấn đề nào thì mình cố gắng nhìn cho hết mọi khía cạnh của nó, để cho người nghe

[1:10:45]nhận ra hết được mọi điều của lẽ phải, của đạo lý, mà tu tập nó dễ, mình chỉ vì vậy thôi chứ không phải rào. Nhưng mà người ta nhìn vô người ta nói mình rào. Thì ở đây cũng là cái Trạch pháp giác chi á. Trạch pháp giác chi là chúng ta nhìn vấn đề nào cố gắng luôn luôn nhìn nhiều khía cạnh, là vì sao? Vì chân lý giống như viên kim cương vậy đó, nhiều mặt, nhiều mặt mà mặt nào cũng đẹp, có những mặt nó đối lập với nhau nhưng nó vẫn là của chân lý. Thì đây là cái vai trò của Trạch pháp giác chi là vậy. Qua tới Tinh tấn giác chi là nó xuất hiện cái ý chí, cái nghị lực, cái ham thích tu tập mà nó nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng mạnh mẽ.

[1:11:26]Đó là tới cái Tinh tấn giác chi. Tới chỗ này cũng phải là chứng nha, chứ không phải là do quyết tâm, do cố gắng, do ráng đâu. Ví như mình tu tập mình ráng tu thì cái này không phải Tinh tấn giác chi. Còn cái Tinh tấn giác chi á là tự nhiên như không có ráng gì hết, không cố gắng hết, mà luôn luôn lúc nào mình cũng miên mật giữ gìn được. Ở người ngoài họ nhìn vô họ thấy mình rất tinh tấn, rất miên mật, mà bản thân mình thì mình chả thấy cố gắng gì hết trơn. Vì sao? Vì cái định nó tạo cho chúng ta được cái đó. Ở đây, trong cái Thất giác chi này thì nó hơi ngược với Bát Chánh Đạo một chút. Vì trong Bát Chánh Đạo á, trước khi mà chứng được

[1:12:04]Chánh niệm là mình phải chứng được cái gì trước? Chánh tinh tấn trước. Quý thầy nhớ không? Đó, phải Chánh tinh tấn rồi mới tới Chánh niệm. Nhưng trong Thất giác chi thì lại ngược lại, là chúng ta chứng được Chánh niệm trước, rồi chứng được Trạch pháp, rồi mới chứng được cái Tinh tấn giác chi. Cái Tinh tấn giác chi này chứng được á, quý thầy để ý lại, là tự nhiên lúc đó mình ham tu tập một cách rất tự nhiên, nhẹ nhàng. Trong từng giờ, từng phút lúc nào cũng kiểm soát được tâm mình, mà ham thích kiểm soát lắm, không thích chuyện gì khác trên đời. Lúc đó mà ai tới rủ coi Euro 2000 từ chối liền. Sợ, thấy lúc mình dữ.

[1:12:44]À, xin hỏi nhỏ nha, mấy bữa nay có coi Euro 2000 không? Có không? Đừng coi nha. Quý thầy tu mình coi đá banh kỳ lắm á. Đừng coi. Mấy Phật tử nghi lắm à, mấy mặt này nghi lắm. Có không? Đừng nha, đừng Euro 2000. Vì trong đó sao? Vì mặc dầu họ cũng có cái nghệ thuật thể thao, nhưng mà rồi nó bị lạm dụng để trở thành nó hiếu động và hơn thua quá đáng. Chính cái hiếu động và hơn thua nó làm cho chúng ta rời xa đạo lý. Chứ ông thầy tu mà đứng coi đá banh mà đứng nhảy nhót rồi vỗ tay vô vô coi không giống ai hết trơn. Là đúng là ngoại cảnh nó vô trong tâm mình hết. Có tức cười nhất đi ngang ngôi chùa mà nghe mấy thầy la vô vô thì coi không được.

[1:13:31]Cho nên thôi, mặc dù nó cũng là nghệ thuật, là thể thao, nhưng thôi, vì cái hiếu động và hơn thua quá đáng của nó đã bị lạm dụng, nên chúng ta thôi, tránh. Thì ở đây cái người mà chứng được Tinh tấn giác chi á, tự họ họ giữ tâm họ lắm, ngoại cảnh tới vô không lọt. Vì tới cái giờ đó, nhiều khi mình mình là người chưa chứng được Tinh tấn giác chi, nhiều khi mình dãi đãi, mình nói thôi ráng ráng 5 phút nữa rồi vô ngồi thiền trễ chút cũng được. Nhưng người mà chứng được Tinh tấn giác chi, chưa tới giờ ngồi thiền họ leo vô họ ngồi mất rồi. Chứng được tinh tấn á. Còn cái người mà mình thấy tới giờ ngồi thiền cứ lãng lãng né né né,

[1:14:07]trễ trễ mấy phút là biết người này chưa chứng Tinh tấn giác chi. Ở đây ai mà chứng được Tinh tấn giác chi rồi? Tức là ham thích ngồi thiền. Ai? Còn ai chứng được chưa Tinh tấn giác chi đâu? Tới giờ ngồi thiền né né đâu? Giơ tay lên coi.

[1:14:29]Kế nữa là chứng được cái Hỷ giác chi, thì thật ra cái Hỷ giác chi này nó thuộc về Sơ thiền rồi. Sơ thiền này chúng ta cũng đã nói sơ sơ trong cái bài kinh ví dụ con rắn thôi, phải không? Hình như ví dụ con rắn chúng ta có nói Sơ thiền. Nếu như những cái trạng thái Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thì chúng ta chỉ học trên văn tự thôi, chứ chúng ta không bao giờ diễn tả được hết. Lý do tại sao? Vì chúng ta chưa chứng. Nên chúng ta chỉ nói cái con đường, rồi tới chừng ai chứng thì sẽ biết, đó, chứ còn mà chưa chứng thì mình cũng chỉ đành biết mấy chữ Sơ thiền là Sơ thiền, hai chữ, chứ còn nói như thế nào,

[1:15:09]nó thuộc về vấn đề của nội tâm mà chúng ta tu rồi chứng rồi mới biết. Nhưng mà Hỷ giác chi là tức là Sơ thiền, và tâm vào định được ban đầu. Ở đây cái hỷ lạc nó xuất hiện mạnh, cái lòng vui mừng nó mạnh, nhưng mà cái vui mừng đó nguy hiểm và phải nhanh chóng vượt qua liền, phải vượt qua đừng có giữ. Cái kế đó nữa là Khinh an giác chi, này thì tương đương với với Nhị thiền. Tức là cái trạng thái mình vào định mà nó nhẹ nhàng chứ nó không còn cái nó xuất hiện cái cảm thọ hỷ mạnh quá. Cái hỷ này nó cũng làm cho chúng ta tinh tấn tu tập, ham ngồi thiền, ghiền ngồi thiền á, nhưng mà nó cũng là cái cảm thọ.

[1:15:48]Đây có một cái điều lạ nha, thì tôi cũng không hiểu hết, tôi không hiểu hết nhưng mà tôi nghi nghi. Vì có một thời gian trên chùa tôi cũng cũng nuôi mấy cái người mà cai nghiện ma túy á, mình giúp cho họ cai nghiện trên khung cảnh chùa, nhưng rồi thất bại. Thất bại vì chùa mình không có kỷ luật sắt, mà cái ma túy thì nó mạnh, mạnh khủng khiếp lắm, nên không ai có thể cưỡng lại được cái sự thèm muốn và họ đã tái phạm, bỏ ấy ra đi. Nên chùa tôi không có nuôi nữa. Tuy nhiên tôi mới hỏi cặn kẽ việc mà tại sao họ ghiền dữ như vậy? Mình không có hiểu, mình không ghiền, mình không hiểu. Đa số thì chúng ta ở đây chỉ ghiền có ghiền ớt thôi, phải không?

[1:16:25]Ăn cơm mà không có ớt thì nó hơi thèm thèm vậy thôi, chứ còn những món khác thì thường chúng ta không ghiền, nên chúng ta càng không hiểu được cái ma túy nó như thế nào. Nỗi cái thuốc lá mà tôi cũng không hiểu tại sao người ta ghiền nữa. Này quý thầy có ghiền không? Đừng nha, chớ nha. Mấy Phật tử có không? Nhớ nha, bỏ nha. Nói chung là thuốc lá mình không hiểu được tại sao người ta ghiền thì ma túy mình không hiểu được, thì tôi có hỏi. Tôi hỏi xong tôi mới ngạc nhiên, tôi nói: "Ủa, sao cái cảm giác của ma túy nó giống chứng thiền định quá vậy ta?" Y chang à. Là vì khi mà họ nói là: "Dạ, khi hút vào thì người lâng lâng nhẹ nhàng bay bổng rồi quên

[1:17:01]hết mọi chuyện trong đời, chỉ muốn an trú một chỗ, không muốn tránh duyên hết." Ủa, hơi giống chứng thiền định à. Rồi nói nó như tụi con mà lái xe vậy đó. Khi mà chưa có thuốc vô đó thì lái ào ào, lái bạt mạng bất kể, mà hễ có thuốc vô rồi một cái là lái từ từ không cần đi mà không cần phải tới nữa, cứ tàn tàn đi. Nói trời, sao mà giống Phật quá vậy nè. Tức là nó có nhiều cái trạng thái kể ra thì tôi thấy nó bắt đầu nó hơi giống, thì tôi mới nghi thế này, tôi mới nghi thế này. Tôi mới nghi rằng cái cảm thọ mà của Sơ thiền, cái hỷ nó xuất hiện á, cái cảm giác đó với một người mà mà hút ma túy có thể nó gần giống nhau.

[1:17:39]Tuy nhiên, nó khác nhau ở chỗ nào? Ở chỗ là một cái là bên ngoài đem vào, cho nên nó tàn phá lần lần. Cũng đem lại cái hỷ lạc mà rồi nó tàn phá làm người ta lệ thuộc và không làm chủ, tăng sự ích kỷ. Còn một cái mà do người tu tự tìm thấy được, cái niềm vui tự tìm được thì đạo đức được tăng trưởng, thanh tịnh, tự tại, hai cái đó nó khác nhau. Cũng giống như trường hợp mà chúng ta thấy những người lực sĩ đẹp á. Thì một người thì do luyện tập, họ luyện tập chuyên cần rồi cái bắp thịt nở ra từ từ, nó vững chắc. Còn một người do chích cái nội tiết tố để làm cho cơ bắp nó nở nhanh ra, thì người thứ hai mà do chích nội tiết tố một thời gian

[1:18:21]cơ thể tiêu tan hết trơn, bị tàn phá không còn gì hết. Hủy hoại hết từ cái não cho tới cái cái nội tạng bị phá tan hết, nhưng chỉ được mà nhanh chóng cơ bắp nở ngay lúc đầu để có thể đi thi được, nhưng mà lâu dài thì tai hại. Còn cái người mà tự luyện tập thì họ bền vững cho tới già, tới chết vậy. Giống như có một lần mà Olympic năm nào đó, mà một ông già ngày xưa ổng cũng từng đoạt huy chương vàng, chín mấy tuổi, là vẫn còn đi ra để thắp đuốc được. Là do họ luyện tập một cách mà chân chính, không có cái ăn gian. Nên tôi hơi nghi nghi như vậy, vì có nhiều trạng thái. Còn cái Khinh an là cảm giác mà mình vào định sâu hơn,

[1:19:02]nên cái cảm thọ nó lắng đi, cái hạnh phúc nó nằm ở chỗ khác. Cái thứ ba là Định giác chi là tương đương với Tam thiền, là tâm thực sự an trú trong định vững chắc. Cái nhất tâm nội tĩnh của Nhị thiền cũng không bằng nữa. Cái Định giác chi này tương đương với Tam thiền. Tam thiền thì nó sâu lắm rồi, chúng ta không diễn tả nổi, là vì nó thấy được hành ấm, biết kiểm soát được hành ấm, kiểm soát được bản ngã. Chưa diệt được bản ngã nhưng đã kiểm soát được khá nhiều. Xả giác chi thì tương đương với Tứ thiền, người ta gọi là xả niệm thanh tịnh đó, tương đương với Tứ thiền. Nên cái Thất giác chi là như vậy.

[1:19:38]Rồi kế nữa là thấy được Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế thì nó quá lớn lao, chúng ta không thể nói được trong cái ngày hôm nay. Nên là quý thầy chịu khó tham khảo, vì Tứ Diệu Đế thì nhiều thầy giảng lắm. Chúng ta xem trong cái Phật học phổ thông của Hòa thượng Thiện Hoa cũng thấy, chúng ta xem trong Đức Phật và Phật pháp của Đại đức Narada chúng ta cũng thấy, và nhiều thầy cũng đều có giảng Tứ Diệu Đế, thì mỗi thầy có thể hơi khác nhau một chút nhưng cũng căn bản là như vậy. Thì tôi cũng có giảng về Tứ Diệu Đế, nếu quý thầy có duyên thì tham khảo xem để biết được. Chứ đúng ra là Nikaya mình phải học một bài chuyên về Tứ Diệu Đế,

[1:20:15]nhưng vì không có thời gian, dài quá nên chúng ta không học. Quý thầy ráng cố gắng tự nghiên cứu. Trong cái Tứ Diệu Đế á, nó có cái là ý nghĩa khổ của cuộc đời đó nó là căn bản, với lại là nó quan trọng lắm. Vì cái nhìn được cuộc đời này là khổ nó là trí tuệ, chứ không phải là bi quan mà là trí tuệ. Chúng ta nhìn á, mấy đứa con nít mới lớn lên có thấy cuộc đời là khổ không? Ví dụ mấy đứa bé 4, 5 tuổi có thấy cuộc đời khổ không? Có không? Không, phải không? Chúng ta nhớ lại bản thân mình cũng vậy, lúc chúng ta còn nhỏ chúng ta không thấy cuộc đời là khổ. Nhưng cái người lớn lên rồi, nhất là những người mà

[1:20:54]già đi qua cuộc đời tới 50, 60 tuổi rồi thì nhìn thấy cuộc đời đúng là không phải là niềm vui. Luôn luôn không phải niềm vui. Phải không mấy Phật tử lớn lớn tuổi? Đúng không? Có cụ kia không gật đầu, vậy là còn thấy cuộc đời vui à? Đó nên chúng ta thấy đó, cái mà thấy được cuộc đời này là khổ là cái trí tuệ vì người lớn từ từ mới thấy được, người nhỏ không thấy được. Mà cái thấy được này đó, ở mỗi người cũng khác nhau nữa. Ví dụ như cũng là 18, 19 tuổi thì có người vẫn chưa thấy cuộc đời là khổ, mà có người đã thấy cuộc đời là khổ rồi. Có những người 18, 19 tuổi còn ham vui, ham chơi, đua đòi đủ thứ hết,

[1:21:36]nhưng có những người 18, 19 tuổi là đã nhìn cuộc đời này là khổ. Thấy con người ta sống, sinh ra, lớn lên rồi chết, tạo nghiệp, không đáng gì, cuộc đời vô nghĩa. Đó, người đó đã là trí tuệ rồi. Cho nên cái việc mà thấy cuộc đời là khổ là trí tuệ. Nhưng mà thấy khổ đó bằng được như Đức Phật thì mới gọi là thấy thật sự thấy hết Tứ diệu đế. Chứ còn như chúng ta, mình thấy hơi hơi thôi. Thấy hơi hơi mà thấy có cơn nữa. Lúc nào ai mắng cho một trận, buồn: "Đời sao khổ quá!" Nhưng mà tới lại ai vuốt ve: "Thầy đẹp trai quá! Thôi tối nay thì mời thầy lại nhà con chơi", cái cuộc đời hết khổ rồi. Chúng ta thấy có cơn, nhưng mà cái người một bậc thánh á mà chứng

[1:22:18]được thiền định, thấy được Tứ diệu đế thấy vững chắc. Nghĩa là lúc mà cuộc đời họ vùi dập mình thấy là khổ, mà tới lúc cuộc đời nâng niu mình cũng bình tĩnh thoát ra mỉm cười. Không bị đắm nhiễm vì biết bản chất bên trong của những lời mời gọi, ngợi khen này vẫn là ẩn chứa nỗi đau khổ, ẩn chứa nỗi đau khổ. Bước vô rồi sẽ thấy tùm lum chuyện ở trỏng. Cho nên quý thầy vậy, nhìn cuộc đời mà thấy khổ cũng làm cái để cho mình được vô nhiễm á, nó là trí tuệ. Còn những cái khác nữa thì tùy chúng ta tìm. Bây giờ chúng ta nói sơ về chỉ và quán. Quý thầy không có đem bài thiền số 8 chỉ và quán qua Thiên Phước hả?

[1:22:59]Hỏi không ai biết hết trơn. Ở đây có chưa? Ừ, nhớ gửi giùm cho mấy cô em tổng giùm.

[1:23:08]Vì đã nói trong đó rồi nên hôm nay tôi không có nói kỹ, tôi chỉ nói phớt phớt một chút. Vì chúng ta nói về Tứ niệm xứ nên mình cũng nói qua công phu chỉ quán một chút. Chỉ là dừng lắng tâm. Chỉ có nghĩa là dừng, mà dừng lắng tâm bằng cái gì? Bằng một mệnh lệnh, bằng sự kềm chế, bằng ý muốn hay là bằng cách trụ tâm vào một đối tượng. Ví dụ như là khi chúng ta có người nào đó nói nặng để làm cho mình nổi sân, mình thấy cái sân nó vừa nổi lên, mình ra lệnh: "Không có sân nha!" Mình buộc cái tâm mình như vậy cái nó tắt luôn. Đó là dùng một mệnh lệnh mà làm cho tâm mình an trú lại, thanh tịnh lại, đó gọi là chỉ đó, phương pháp đó gọi là pháp chỉ.

[1:23:51]Hoặc là à ví dụ như mình thấy ai cầm me ăn trước mặt mình chấm muối ớt, nước miếng mình chảy, mình nói: "Không có chảy nước miếng nữa nha." Thì nó hết liền, phải không? Hết không? Nếu không hết thôi mình quay lưng chỗ khác cho rồi, đừng dòm nữa. Rồi bằng cái sự kềm chế, ví dụ khi mình ngồi thiền, mình bắt chân kiết già, trong hai ba phút đầu cái tâm mình nó bị vọng tưởng, cái mình hơi kềm kềm nhẹ nhẹ kềm kềm nhẹ nhẹ đó, cái từ từ nó lắng xuống lắng xuống cái nó yên luôn, đó cũng gọi là chỉ. Hoặc là bằng cái ý muốn, ý muốn ví dụ mình ngồi thiền cái mình muốn cho thân mình nóng lên một chút cho nó đỡ lạnh,

[1:24:33]cái nó nóng lên từ từ, đó cũng là bằng cái ý muốn. Hoặc là bằng an trú tâm vào một đối tượng, ví dụ mình an trú tâm vào bụng dưới, ở đan điền, hoặc mình an trú tâm vào chấn thủy, thì đó cũng gọi là an trú vào một đối tượng mà tâm mình nó thanh tịnh lại. Có người an trú tâm vào hai lòng bàn tay cũng làm cho tâm thanh tịnh lại. Như có cô Phật tử đó, cô bị chuyện hôn nhân nó thất bại, không thành công, cô buồn. Cô buồn quá, một lần đó cô ngồi trước bàn Phật, cô chú tâm vào cái nỗi buồn của mình luôn, nó biến mất luôn. Từ từ nó biến mất rồi vào định luôn. Đó cũng gọi là thiền chỉ, thiền chỉ. Cho nên quý thầy nhớ cái phương pháp đó cũng rất là hay.

[1:25:14]Cho nên sau này quý thầy vì có trường hợp nào có Phật tử nào mà hắt hủi xua đuổi mình buồn quá cũng vậy, cũng ngồi đó lặng lẽ an trú trong cái nỗi buồn có khi cũng chứng được thiền định nghe không? Nhớ. Còn quán á là có phân tích, có nhận định để cho mình lìa chấp, mà lìa chấp xong thì cũng vào định. Ví dụ như hồi nãy, khi mà ai nói câu gì nặng cái mình nổi sân, cái mình ra lệnh: "Không có sân nha", cái hết sân, cái đó là dùng chỉ, nhưng chỉ phải có đạo lực nó mới dùng được. Còn trường hợp mà mình ra lệnh nó hết sân nó không hết thì mình phải phân tích, tức là dùng qua cái quán. Quán là mình nói:

[1:25:50]"Ờ, cái này chắc cũng là duyên nợ, nợ quá khứ. Này mình phải coi cái này cái lời nói người ta như mây bay như gió thoảng, mình thấy bản ngã mình không có gì." Thì nhờ mình quán mình lý luận một lát cái mình không sân. Đó là nên cái không sân này là nhờ quán. Còn cái kia bằng cái mệnh lệnh thì mình thấy mệnh lệnh nó mạnh hơn. Người phải có cái tinh thần mạnh mới dùng cái chỉ được. Còn bình thường mình tinh thần mình không mạnh, mình cứ dùng cái quán là nhận định phân tích cho đúng đạo lý thì tâm mình cũng vào được cái thanh tịnh, đó là quán. Thì cả hai nó đều có cái vai trò quan trọng trong cái công phu tu tập thiền

[1:26:25]định, chứ không có cái nào hơn cái nào kém, nên chúng ta để ý như vậy. Chứ ở bên bên Nam tông á họ coi thường cái chỉ lắm, họ phê bình họ nói tu thiền chỉ là thiền ngoại đạo, chỉ có thiền quán mới đúng đạo Phật. Nhưng mà nếu chúng ta xem kỹ lại trong Nikàya chúng ta sẽ thấy là Phật dạy cả hai, cả thiền chỉ thiền quán hết vì cả hai đó đều cần thiết trong công phu thiền định hết. Ai có tu tập kinh nghiệm đều thấy cả hai đều được sử dụng, ha. Ví dụ như là tâm chúng ta thanh tịnh thì chúng ta xuất hiện được cái trí tuệ phán đoán, lìa được chấp. Ví dụ tâm mình đang trong cái thanh tịnh đi, rồi ngoại cảnh nó ập tới,

[1:27:04]người ta đem tiền đem bạc tới dụ dỗ, mình khởi lên cái tâm quán chiếu mình thấy: "Cái này đều là những cái phù du." Đó là nhờ tâm thanh tịnh mà trí tuệ quán chiếu nó khởi lên, tức là chỉ mà sinh ra quán. Thì cũng vậy, quán nó cũng sinh ra chỉ nữa. Nghĩa là khi mình phán đoán được thế gian này hư ảo, mình lìa chấp thì tâm mình thanh tịnh, tức là quán mà làm sinh ra chỉ. Đó, nên hai cái nó tương tác như vậy. Tuy nhiên khi mà ở mức độ cao rồi, khi mình tu tập thiền định mức độ cao rồi thì tâm mình luôn luôn thuần thục, luôn luôn mình an trú trong định hằng ngày hằng giờ vậy, lúc nào cũng an trú trong định.

[1:27:44]Nhưng khi gặp việc một cái thì trí tuệ nó phát ra, phán đoán giải quyết rất nhanh. Đó, đó là mình tu tập như vậy. Thì cái mà trí tuệ phát ra đó gọi là trí tuệ của huệ hay của quán. Còn thường thường lúc nào mình cũng an trú trong định thì có khi đó gọi là định hay là chỉ. Định và chỉ tương đương, quán hay là tuệ tương đương. Mà thông thường á là chúng ta phải an trú trong cái định nhiều hơn trong tuệ. Bình thường vậy, chúng ta tu tập thuần rồi đó, tâm có định rồi, thường an trú trong định. Rồi khi đụng chuyện thì khởi quán chiếu để hành sự. Thì ở đây chúng ta để ý nè, khi mà chúng ta an trú trong định nhiều

[1:28:25]quá đó, mình dễ mình rơi vào một cái cực đoan này là giữ tâm vô nhiễm chặt chẽ, cảnh tới chúng ta xa lánh, không muốn giải quyết vì sợ tâm động, rồi đi rơi vào cực đoan trở lại. Nên tu mà tới mức độ mà tâm được định thường xuyên rồi thì cũng phải chịu khó, chịu khó là có thêm cái này, cái lòng từ bi để đối xử tốt với cuộc đời. Là tuy mình giữ tâm thanh tịnh hằng giờ từng phút vậy đó, khi người ta tới gặp việc mình thì cái việc mà ta tới người ta trình bày, người ta nhờ vả, nó làm mình phải phân tâm, phải động, phải quay ra ngoài một chút. Nhưng mà kệ nó, cứ chịu khó, chịu cực quay ra để mà phân tích, nhận định, giúp đỡ, có ý kiến, có thương yêu người ta.

[1:29:07]Là lòng tử tế đó, lúc đó chịu cực chút chứ đừng chứ còn nếu mà chúng ta cứ ca ngợi cái định quá, cái vô nhiễm, mình sẽ hờ hững với thế gian. Mà thế gian hờ hững lại mình và đạo Phật sẽ yếu đi. Cứ như vậy, nên chúng ta phải nghĩ tới chúng sinh, nghĩ tới Phật pháp lâu dài và tu cân đối, đừng có thiên lệch một bên. Một điều nữa chúng ta để ý nữa, là việc giáo hóa và việc tu chứng không có luôn luôn giống nhau nha. Có những người tu chứng á nhưng mà giáo hóa cũng không khéo nữa, mà có khi nói cũng trật nữa. Ủa kì vậy? À có đó. Vì Phật cũng nói mà: "Chưa chứng tới Phật vẫn còn tà kiến." Nghĩa là nhìn về đạo lý, nhìn con người, nhìn vũ trụ vẫn nhìn chưa hết.

[1:29:52]Đây đây là điều lạ. Đây là điều mà chúng ta phải khiêm tốn. Là dù chúng ta học rất nhiều, dù chúng ta tu chứng được những tầng bậc nào đó, đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã luôn luôn thấy đúng hết mọi vấn đề. Biết rằng mình còn có nhiều điều mình chưa thấy, phải khiêm tốn. Và do như vậy chúng ta cũng hiểu vậy. Ví dụ mình nghe một vị nào đó chứng được rồi, thiền sư rồi, cũng đừng bao giờ tin rằng những điều vị đó nói đúng hết. Tôi nói câu này nghe kỳ nhưng mà đó là sự thật quý thầy phải cảnh giác. Nên có một lần có vị bàn về một vị hòa thượng đó là đã đắc đạo, tôi công nhận. Nói vị đó đắc đạo tôi công nhận, mà ai nói vị đó không đắc đạo tôi phản đối liền,

[1:30:32]vì tôi biết chắc vị đó đắc đạo, tin chắc như vậy và tôi vô cùng kính phục. Nhưng mà những điều vị đó giảng thì không phải điều nào tôi cũng nghe. Có điều nghe điều không nghe. Nói sao kỳ vậy thầy? Thầy nói vị này đắc đạo mà sao sách của vị này thầy không chấp nhận? Nói: "Ờ, nè thầy lật ra một trang phân tích cho coi." Tôi lật ra một trang tôi phân tích cho nghe rồi mấy Phật tử đồng ý là vị đó nói cũng chưa hết ý, chưa chuẩn. Nó là kỳ lạ như vậy đó, cho nên chúng ta đừng có nghe cái mác bên ngoài là vị đó đắc thiền, đắc định, đắc đạo rồi, rồi vị đó giảng cái gì mình cũng chấp nhận hết thì coi chừng đấy nha.

[1:31:09]Vẫn có thể là lạc đó. Vì đó là lý do mà tại sao đạo Phật bị phân hóa đó. Từ một đạo Phật ban đầu của Đức Phật, càng về sau những vị đạo sư cứ giảng, phân tích theo ý mình cái bị phân hóa dần, phân hóa dần chia thành tông phái quá chừng luôn. Nên hôm nay vậy chúng ta tu tập, chúng ta lấy lại căn bản Tứ Niệm Xứ trước, tìm lại một cái đạo Phật chung để bớt bị phân hóa. Dù cái người đó tu Tịnh độ niệm Phật, dù người đó tu Thiền tông, dù người đó tu Mật tông, vân vân, thì xin phải lấy trên cái nền tảng Tứ Niệm Xứ là phải quán thân, biết thọ, biết tâm, biết pháp rõ ràng. Nay có cái chùa đó, có cái chùa ở Long Khánh vậy,

[1:31:50]trong mùa hạ này Phật tử tới tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền rất đông. Thì quý Phật tử tới năn nỉ vị trụ trì, Thượng tọa trụ trì là xin cho những người ngồi thiền được học phương pháp điều thân lại. Dù là đang niệm Phật, dù là ngồi niệm Phật, nhưng phải ngồi đúng cách, điều thân biết toàn thân rõ ràng rồi hãy niệm Phật. Đó là chúng ta lấy cái Tứ Niệm Xứ làm nền tảng cho tất cả mọi pháp môn hết để tìm lại một đạo Phật chung. Dù chúng ta có duyên với tông này tông kia, nhưng nhờ có cái Tứ Niệm Xứ làm cái nền tảng chung này, chúng ta sẽ thấy lại được một đạo Phật chung để chúng ta bớt chia rẽ, gắn bó với nhau, thương yêu nhau,

[1:32:28]không chống đối nhau nữa, làm cho đạo Phật mạnh lên, mà có thể truyền bá lan rộng đi đến với thế gian, đến với con người, cho đất nước được ổn định, cho thế giới được hòa bình. Đây có câu hỏi. Hình như lần trước hỏi 10 câu phải không? Dạ. Bữa nay hỏi mấy câu? Dạ bạch Thầy, trong những cái điều mà giới luật mà cấm đó thì con thấy là hợp lý và đúng đắn, nhưng mà có những cái mà con còn hơi lấn cấn, chẳng hạn như từ ái, không tham dục thì cái đó là trái với quy luật của tự nhiên, của tạo hóa, của Thượng đế. Bởi vì á tạo hóa đã ban cho tất cả muôn loài, trong đó có loài vật thì loài vật thì có đực, có cái, có trống, có mái,

[1:33:16]còn loài người thì có nam, có nữ, có trai, có gái, có âm, có dương. Hả nếu mà giữ đúng giới luật như vậy á thì năm bảy chục năm nữa không còn người để đi theo con đường của Phật. Tạo hóa? Xin cho biết địa chỉ của tạo hóa. Con chưa biết địa chỉ. Thấy không? Chúng ta hay đặt ra một tạo hóa giống như là một người có quyền đối với chúng ta, với thân phận con người, giống như là một người, một đấng có cái quyền đối với vũ trụ, với thế giới, với con người. Chúng ta tưởng tượng ra, chứ nó không phải tạo hóa. Đó là sự tiến hóa thôi, tiến hóa của con người trong cái môi trường mà có thể có sự sống,