[0:00]Hôm nay là chúng ta nói về Bồ Tát Quán Đức một chút xíu vậy, là vậy. Là ngài xuất thân từ ở nơi khu vực Ninh Hòa, đại khái là Vạn Giã, Vạn Ninh gì đó ha, về Vạn Ninh đó. Rồi hồi ngài lớn lên tu hành và hành đạo đây, và cuộc đời hành đạo của ngài cũng nhiều điều thú vị. Tại vì cũng ngày cũng cận đại đó, nên những vị Hòa thượng lớn đều biết về ngài rất là nhiều, biết nhiều câu chuyện cũng hấp dẫn lắm về ngài, hấp dẫn lắm, kể lại những cái chuyện giống như...
[0:32]Thậm chí có những lúc mà mà ngài binh người nghèo mà ngài đánh nhau với cái người giàu nữa. Thậm chí, tức là ngài cũng rất là giỏi võ chứ không phải là không, vậy. Rồi trên đường mà đi từ đây vô tới Sài Gòn thì ngài tạo ra được nhiều cái chùa lắm, tới ba mươi mấy ngôi chùa, cũng hay vậy. Ngôi chùa cuối cùng ngài tạo là chùa Quán Thế Âm ở Sài Gòn. Rồi rồi các vị đó các vị lúc đó các vị ở Giáo hội mới mời ngài về ở chùa Ấn Quang ngài phụ trách về nghi lễ. Thì như vậy có nghĩa là ngài tụng kinh rất hay. Đó, và không ai biết ngài đắc đạo cả, không ai biết ngài là một vị thánh. Cho tới cái ngày mà ngài viết thư tình nguyện để tự thiêu.
[1:08]Lúc mà bị Phật giáo bị Ngô Đình Diệm áp bức dữ dội, ngài ngài tự thiêu. Thì thế này, ở cái ngã tư mà hồi xưa là đường Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng, bây giờ ta là đường Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám. Lúc mà ta chặn lại hết, con đường xe ngừng lại đi, rồi ngài lặng lẽ ngồi xuống như vậy. Đổ xăng lên rồi bật quẹt mà đốt cháy, ngồi bình thản trong lòng lửa, không nhúc nhích, ngồi bất động. Sau đó thì ngài yên khi ngài thấy đã tới lúc rồi thì ngài chắp tay xá và người cái ngài ngã ngửa ra rồi đi. Cái chết rất tự tại và chấn động cả thế giới, buộc Mỹ phải thay đổi chính sách hết tất cả.
[1:47]Cũng là một bước trong cái vấn đề mà góp phần để ta giải phóng miền Nam, nên nhà nước ta cũng ghi nhận cái công công công ơn của ngài rất là lớn. Ở đây ta quay trở lại cái cái ý niệm tu hành đó. Ngài tu như thế nào mà khi lửa cháy, ngài mà cháy toàn thân nha, mà da mà bị bỏng đau lắm á. Tại sư phụ mỗi ngày đều xuống múc canh cho đệ tử mình ăn, mà lỡ mà chạm vô cái xô một cái là giật nảy người ra liền. Nắm cái cái cái cái quai thì không sao, mà lúc quên cái gì đó, lúc kiếm ôm cái cái cái cái thành của cái xô canh đó, chạm cái giật mình hết hồn la liền, giãy nảy liền. Thì lúc mới thấy rằng lửa cháy mà ngài ngồi
[2:28]không nhúc nhích, bình thản, điềm đạm, thì cái định lực đó kinh hồn lắm của một bậc thánh đắc đạo không đùa được. Trong đạo Phật chúng ta vậy, tất cả những vị thánh đắc đạo đều phải đắc thiền định. Cái người đắc thiền định thì chưa chắc là một vị thánh, nhưng một vị thánh thì phải đắc thiền định. Cái yếu tố để làm thánh trong đạo Phật nó khác hết với những cái tôn giáo khác. Cái vị thánh trong đạo Phật được Phật định nghĩa vậy, là đạo đức ở tầm rất cao và kết hợp với thiền định. Cho nên vì vậy, ví dụ trong cuộc đời tu hành của chúng ta, chúng ta nghe những người có kết quả trong thiền định nhưng đừng mừng, đừng tôn vinh, đừng ca ngợi.
[3:27]Tại vì chưa chắc gì. Thứ nhất, con người ta có cái khuynh hướng tự nhiên là tự đề cao cái cảnh giới thiền định của mình. Đó là một trong ba cái bệnh của người chứng thiền. Một trong ba bệnh người chứng thiền, bệnh cái bệnh thứ nhất của người chứng thiền là tận hưởng cái cảm giác hỷ lạc. Khi tâm mà vào định, cảm giác hỷ lạc, hạnh phúc nó tràn ngập. Và cái hỷ lạc trong cái thiền định nó đủ sức làm cho người ta lìa bỏ những niềm vui thế gian. Đó là lý do mà người ta mê tu rồi tự nhiên người ta nhạt nhòa với chuyện thế gian. Mình thấy cái người đó họ tự tại, họ bất cần, họ không tham lam, không ham muốn chỉ bởi vì tự thiền định nó là một điều hạnh phúc.
[4:14]Nhưng chính cái tận hưởng hạnh phúc đó lại trở thành một tà kiến, là một cái bệnh mà không ai tránh được. Một lát nữa ta sẽ nói về vấn đề đó. Cái bệnh thứ hai của người đắc thiền định là thụ động. Vì ta thấy, ví dụ ta muốn làm việc gì trên đời này, mà nhất là muốn làm việc tốt, thì tâm ta phải khởi động. Ta phải thích chuyện này, phân tích đúng sai điều kia, lên kế hoạch, hợp tác, kêu gọi. Cả một cái bộ đầu của ta hoạt động khủng khiếp lắm ta mới có thể làm việc thiện được. Giống như hôm nay vậy, chúng ta về đây với nhau tưởng niệm Bồ Tát Thích Quảng Đức, trước đó phải tính bao nhiêu điều trong đầu rồi mới cùng nhau ngồi đây được.
[4:59]Đâu phải khi không và chúng ta ngồi đây trong khung cảnh hạnh phúc, trăng soi, gió thổi, mây trôi,
[5:07]cơm ngon như thế này, đâu có dễ đâu. Tính toán dữ lắm chứ không phải là dễ. Và vì vậy, khi một người đạt nhập vào trong thiền định, cái sức định nó khóa tâm người ta lại, người ta trở thành thụ động liền. Đó là cái điều không ai tránh khỏi. Mà cái khóa người ta lại trong cái thụ động nó là một cái nhược điểm của thiền định, một mặt trái của thiền định. Mặc dù cái thiền định nó là con đường đưa đến thánh vị nhưng cái thụ động của nó là một cái mặt trái. Nhưng tiếc là rất nhiều người không hiểu nó là mặt trái. Khi tâm mình trong thụ động rồi dâng lên một quan niệm, một khái niệm trong tâm mình là không cần làm gì nữa.
[5:55]Khi xuất hiện cái ý niệm đó khởi lên rồi ta rơi vào tà kiến liền. Ta rơi vào tà kiến thì một mình mình có lỗi thôi, nhưng tiếc là rất nhiều thiền sư đem tà kiến đó truyền dạy. Kêu dạy mọi người đừng làm gì, tất cả là hư vô, thanh thản, không cần gì hết. Gieo tà kiến đó cho rất nhiều người, và rất nhiều người bắt đầu trở nên lười biếng, thụ động, không làm gì, không làm phước, không cống hiến. Toàn bộ Phật giáo đồ, tức là những người đệ tử Đức Phật, không còn phước. Hễ là ai là đệ tử Phật thì trở thành người thiếu phước, cù bơ cù bất, không có nhiều chọn lựa, không có nguồn lực để có một cuộc sống đàng hoàng,
[6:40]chứ đừng nói tới việc mà có thể xây dựng Phật pháp, xây dựng Tổ quốc. Đó là cái nhược điểm của ta. Mà đó là cái tà kiến của do mấy cái ông đắc định ổng ổng đưa ra. Mà đâu biết Đức Phật đã nói đó là một loại kiết sử. Ngày xưa Đức Phật đã dạy đó rồi mà không ai hiểu. Đức Phật đã khi một người đắc định cái Đức Phật nói liền, bị kiết sử dã dãi. Đức Phật ngày xưa gọi là dã dãi, dã dãi nghĩa là lười biếng. Đức Phật nói rất đơn giản mà không ai hiểu rằng nó là một điều nguy hiểm trầm trọng. Nên và ta lại hợp thức hóa cái điều sai lầm tà kiến đó thành cái đạo lý để dạy cho nhau, hết đời này tới dạy tới đời kia.
[7:23]Cho nên hễ là thiền sư thì làm biếng, hễ đệ tử mấy ông thiền sư thì làm biếng. Thành ra là lây trong đạo Phật một cái tình trạng lười biếng. Nên tu theo sư phụ, sư phụ không có cho lười biếng là vậy. Hễ làm đệ tử thì phải cực khổ, phải phụng sự, phải cống hiến, phải làm phước để mình chính mình có cái phước và sự có mặt của mình là điều lợi ích cho cuộc đời này. Đó là cái bệnh thứ hai đó là bị thụ động. Cái lỗi thứ ba của người vào định nữa là tự phong, tự khen.
[7:58]Nó giống như một người bỗng nhiên làm ăn gì đó cái bữa đó trúng cái mối làm ăn gì, ví dụ à ví dụ như mua được miếng đất. Mua được miếng đất hồi xưa mua miếng đất nó sư phụ không rành mua bán bất động sản nên không biết nói nhiêu. Đất thì nhiều tiền hay ít chả hiểu nha. Thì miếng đất 200 mét vuông đi, ờ miếng đất 200 mét vuông giá nhiêu cà? À ví dụ như là 200 mét vuông có ai bán mình 100 triệu, à ví dụ vậy. Cái cái ở đó trồng ba cây chuối tầm bậy tầm bạ, cái tới mấy năm sau bỗng nhiên nhà nước phát phóng con đường qua gần đó, cái miếng đất nó nhảy lên một cái thành ra 10 tỷ, 200 mét vuông thành 10 tỷ.
[8:38]Nó lớn như thế, không, có những trường hợp như vậy đó, đất nó vọt lên tới mức độ đó. Nghĩa là là là lời như vậy rồi cái là từ đó là sao, tuyên bố mình là đại gia. Mới có 10 tỷ rồi tuyên bố mình là đại gia. Thực ra 10 tỷ nếu mà tính trên thời giá của thế giới ngày hôm nay không bao nhiêu tiền, nếu tính ra tiền đô nhiêu tiền? Mấy trăm nghìn gì đó, mấy trăm nghìn đô, ha, không đáng gì, không đáng gì. À nhưng mà cái người đó tự cho mình là đại gia chỉ bởi vì họ cứ nghĩ 10 tỷ lớn quá. Nhưng sự thực cái người giàu thực sự bây giờ nó phải là mấy trăm tỷ đô kìa, mới gọi là người giàu chứ không phải là 10 tỷ đồng Việt Nam.
[9:15]Nhưng mà họ tự phong sớm quá, người trong thiền định cũng vậy. Khi người ta vào định một cái rồi, một loại tà kiến cứ âm thầm khởi lên rất là lớn, tự khen, tự phong mình. Đó là cái cái sai thứ ba, sai này rất trầm trọng, sai này phá tan hết mọi công đức mà ta tu hành tích lũy từ nhiều kiếp. Nhưng không ai chống đỡ nổi. Cái khủng khiếp là không ai chống đỡ nó nổi. Leo lên giống như mình leo lên được ngọn đồi, lơ tới vừa chừng thôi là bắt đầu tuột xuống. Bao nhiêu công khó tu tập leo lên một ngọn đồi thoai thoải rồi đi xuống, đứng trên đó la làng rồi tuột xuống liền. Còn cái người nào mà không tuyên bố đó thì sẽ leo lên được cái
[9:54]độ cao hơn một chút nữa, rồi leo xuống bởi vì tự phong. Chỉ có người nào mà không bao giờ khen mình thì mới leo được tới đỉnh núi, đỉnh núi cao vót, rồi cũng rơi xuống luôn.
[10:08]Chỉ có Phật mới dạy ta một con đường leo lên tới đỉnh chót vót rồi bay lên luôn, không rơi xuống nữa. Đó là vô ngã thật sự. Nên khi mà ta đắc cái thiền định rồi, ta bị ba cái nó vây hãm. Một là cảm giác hỷ lạc, hạnh phúc, cái ta tận hưởng trong đó. Mà nhớ khi ta tận hưởng hạnh phúc bằng bất cứ hình thức nào, chúng ta đều tổn phước, bất cứ hình thức nào.
[10:37]Mà trong thế gian này, nó có một cái gọi là cái khoái cảm sung sướng nhất là cái ái dục. Đó là lý do Phật không cho cái đó, bởi vì giữ để giữ cái phước của chúng sinh. Thì hôm nay thì chúng ta chưa tiện nói sâu về điều này. Hôm nay thôi để qua lúc khác rồi nói. Chứ có nhiều người hỏi sư phụ lắm, nhiều người nhắn tin hỏi sư phụ, sư phụ trả lời rất là ngắn gọn những điều đó. Để ừ chưa tiện lúc mà sư phụ phải nói rất sâu về vấn đề đó. Bất cứ điều gì làm chúng ta hưởng thụ, đều làm ta tổn phước từ từ. Thì không ngờ cái hỷ lạc của thành định của thiền định là một cảm giác rất thanh cao, xin thưa cũng làm ta tổn phước.
[11:20]Mà chỗ này vì nó tràn ngập tâm hồn ta, tràn ngập cả thân ta, ta không cưỡng lại nổi nếu không biết phương pháp, nếu không đủ quyết tâm. Cái thứ hai ta nhắc lại cái thụ động, cũng vậy, khi ta vào định, tâm mình tự khóa chính mình lại và không muốn làm gì nữa thì ta rơi vào thụ động. Mà coi chừng thành tà kiến đi truyền bá, ta đọa luôn. Và cái thứ ba, tự phong, tự khen, tự cho mình chân tâm, Phật tánh, thành Phật này kia nọ rồi chết luôn! Là mất hết sạch phước là cứ những kiếp sau trôi tuột mất tiêu luôn, thành con người rất tầm thường, rất hư hỏng luôn á. Sợ nhất là ba cái đó. Đó là lý do mà nhiều người tu tập thiền định rồi,
[11:59]vướng ba cái này rồi, rơi vào cái bẫy của ba cái điều sai lầm này rồi không thành thánh được, không thành thánh. Hiểu như vậy rồi ta mới thấy có một vị thánh điềm đạm, hư vô, đủ đạo đức và xuất hiện khi cần thiết để cứu nguy cho Phật giáo là một điều không hề dễ trên cuộc đời này, mà chúng ta may mắn có Bồ Tát Quảng Đức. Chứ ví dụ ta nghe nói người này vào định, người kia vào định nhiều lắm, sư phụ gặp nhiều lắm rồi. Nhưng mà sư phụ thờ ơ lắm, tại sư phụ biết mà, thiền định thì thiền, chứ chưa phải là thánh. Và cái thiền định thì thiền, vào định được cũng chưa phải là đạo đức, chưa hề. Có một lần bị con Phật tử dắt cái cô lên, cô tuyên bố cô ngồi cô muốn chết giờ
[12:42]nào cô chết, sư phụ không có tiếp, kêu nói thầy Pháp Tâm ra nói chuyện. Có gì báo sư phụ, sư phụ dặn cho mấy điều, nhắn tin nói ừ vậy tu vậy đi, sư phụ không tiếp. Mặc dù tự thấy mình là tự đặt cho mình cái tên, một cái tên username trên Facebook là Tâm Thường Định, là tự tin đến như vậy, nhưng sư phụ không tin cái điều đó. Kể cả người có thần thông, sư phụ cũng không tin. Tại vì dù có thiền thiền định thì có thần thông, có thiền định thì sẽ có thần thông, nhưng mà chưa chắc có đạo đức, mà nếu chưa có đạo đức thì không phải thánh. Thiền thì thiền chứ không phải thánh. Hôm nay sư phụ nói điều này để mọi người cũng tự cảnh
[13:16]giác cho cái con đường tu tập của mình là vậy. Và để ta đạt được sự giác ngộ, giải thoát như Đức Phật dạy, nghĩa là ta phải đắc thiền định, đắc thánh quả. Để có thể đắc thiền định, đắc thánh quả, chúng ta phải đi qua Bát Chánh Đạo vất vả vô cùng. Nổi cái đầu tiên là chánh kiến, một cái nhãn quan hiểu hết mọi điều cho đúng, chính xác, không phải ai cũng có thể làm được. Rồi chánh tư duy, mỗi ý nghĩ nhỏ nhỏ mỗi khi gặp một việc gì đều tác ý đúng. Cái đó đòi hỏi ta thông minh ghê gớm lắm chứ không phải là không phải là dễ đâu. Lúc nào đặt mình vào trong mọi hoàn cảnh, khi đối diện với mọi tình huống luôn luôn có những suy nghĩ đúng.
[14:04]Không suy nghĩ cũng sai nha. Suy nghĩ bậy là đã sai, mà có khi không suy nghĩ cũng sai và phải suy nghĩ đúng mới là đúng, đó gọi là chánh tư duy. Không phải dễ, phải rất thông minh mới có được chánh tư duy. Chứ người kém thông minh không đủ sức có chánh tư duy, mà khi có chánh tư duy, Đức Phật gọi đó là như lý tác ý. Tức là ta tác ý ha luôn luôn đúng với đạo lý. Mặc dù có những tình huống rất là rất là khó xử lý chứ không phải là dễ. Rất là tâm Trong cuộc đời này có nhiều tình huống cực kỳ khó xử lý. Xử cách này thì đúng chỗ này mà sai chỗ kia, xử cách kia thì sai đúng chỗ kia mà sai chỗ nọ. Trong cuộc đời này là như vậy.
[14:47]Để có thể mà có ý nghĩ đúng phải cực kỳ thông minh. Mà Phật gọi là như lý tác ý, không phải dễ. Ngay một kiếp này có khi chúng ta chưa đạt được cái chánh tư duy hoàn toàn. Rồi chánh ngữ là mỗi một lời nói là một điều lợi ích cho chúng sinh, không bao giờ nói một điều gì mà làm cho người khác mất lợi ích.
[15:13]Đó là vấn đề lớn rồi. Chánh nghiệp là cái làm phước. Làm phước thì đòi hỏi ta phải có nguồn lực, ta phải có sức khỏe, ta có tiền, ta có tài, ta mới giúp người khác được. Làm phước tức là giúp người đó, giúp người giúp chúng sinh đó. Ờ thì ta phải có khả năng, ta có nguồn lực, nghĩa là ta có phước cái đã. Mà nếu ta chưa có phước cũng không thể làm phước. Do đó, phải làm phước từng chút, từng chút nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ rồi khi có phước rồi, không hưởng, lấy cái phước đó để làm phước tiếp nữa. Giống như ta có một ngụm lúa, đừng có đem xay ăn hết, đem trồng đi, đem trồng nó ra một đám lúa, cũng đừng ăn hết,
[15:52]lấy đám lúa ra gieo trồng lớn nữa thì nó ra thành Đó, cứ vậy đó. Ráng hưởng rất ít, phải ăn, không ăn thì cũng chết, ăn rất ít thôi để dành cái phước đó mà làm phước tiếp, làm phước tiếp cho tới khi nó vô tận. Mà nó vô tận rồi để làm cái gì?
[16:11]Khi cái người phước lớn quá rồi thì làm cái gì?
[16:16]Hôm trước sư phụ giảng rồi, để che chở cho cả thế giới này, để cho mọi người được hưởng, chúng sinh đều được hưởng cái phước của mình. Nên mình làm phước không phải để mình hưởng mà làm phước để cho mọi người chung quanh mình đều được hưởng, đủ sức bao qua, che qua, phủ qua, gánh qua cho các chúng sinh hết. Ví dụ khi chúng ta gặp tai họa, chúng ta niệm Bồ Tát Quan Âm, chúng ta được cứu giúp liền. Cái điều linh ứng của Bồ Tát Quan Âm là vô số kể. Biết bao nhiêu người được Bồ Tát Quan Âm cứu giúp trong trong đời. Nếu ngài không có phước, làm sao ngài gánh hết cả cái thế gian chúng sinh này. Ai cầu ngài cũng linh hết trơn á, cũng đều được cảm ứng hết, thành tựu hết.
[16:59]Như mới hôm qua có người nhắn tin nói, "Con bị cái bướu tuyến giáp to bằng trái cái như trái cam nó lấn vào thanh quản, con không nói được. Thế là các huynh đệ Phật tử kêu con niệm Bồ Tát Quan Âm. Con niệm ròng rã ngài thì con mới đi siêu âm lại nó còn nhỏ bằng trái tắc, bằng trái nho chứ bằng hột nho." Tức là nó giảm nguy cơ liền, thấy là có hy vọng sống liền. Mà chữa gì không được á mà cứ niệm Quan Âm thì bỗng nhiên nhỏ lại. Chúng Sư phụ cũng quen cái anh đó, anh về hưu rồi chắc hình như cũng là thượng tá, anh bị ung thư vòm họng. Ung thư nặng, nó đi không nổi, nhưng mà ngày nào cũng nhờ người
[17:34]dìu lên đến cái đài Quan Âm á để lễ bái, hết bệnh ung thư hoàn toàn, đi làm trở lại bình thường cho tới khi về hưu luôn. Đó, mà nếu ngài không có phước vô tận thì làm sao ngài gánh hết tất cả những cái cái nghiệp, cái cái cần của chúng sinh được. Vậy chúng ta cũng vậy, chúng ta phải tu chánh nghiệp nghĩa là làm phước, làm cho tới vô tận. Mà không để mình hưởng, tại ngày ăn phải mấy chén cơm thì có gì đâu nhiều. Thì cái phước ta dư đó để bao qua cho chúng sinh, để che cho chúng chúng sinh, để gánh cho chúng sinh. Cái lý tưởng mình là vậy, cuối cùng chả có sống gì cho mình cả. Mà sống cho mình chi?
[18:08]Ngu sao sống cho mình? Mình là cái gì đâu mà cứ lo sống cho mình. Cuộc đời chỉ còn có một điều: tôn kính Phật và yêu thương chúng sinh. Ta sống bằng hai cái tình cảm đó. Nói vậy khi ta ta phải cầu tu đắc đạo, hôm nay sư phụ nói thật một điều:
[18:26]Nếu chúng ta đủ lòng tôn kính Phật, thật sự ta không cần đắc đạo luôn. Đến mức độ như vậy. Chỉ cần có lòng tôn kính Phật để sống và để chết, không cần gì nữa hết, kể cả đắc đạo. Sư phụ nói câu này thì nghe kỳ kỳ, nhưng đó là sự thật. Nhưng mà rồi khổ cái là hễ người tôn kính Phật tột độ rồi thì lại đắc đạo. Thì thế nào sẽ được Phật gia hộ, vì nhân nó là quả đó mà, mình tôn kính bậc thánh thì mình sẽ làm thánh. Nhưng mà khi cái người mà tôn kính Phật đến tột độ thì không cần đắc đạo nữa, họ an trú trong đó, họ yên tâm trong đó rồi và rõ ràng có một điều là không cần gì nữa hết. Trần gian vô tận, danh lợi, phú quý, không cần, bỏ hết.
[19:08]Thậm chí cái người ta mơ ước nhất là cái đắc đạo cũng không cần luôn, chỉ cần tôn kính Phật thôi. Đến mức độ như vậy. Nhưng thực sự mà cái người tôn kính Phật thì lại sẽ đắc đạo, ý vậy. Nhưng mà người tôn kính Phật đến đến tột độ rồi, không cần nữa. Hạnh phúc trong điều đó, yên tâm trong điều đó rồi. Khi cái ta Nhưng mà vì ta nghe lời Phật dạy, ta tôn kính Phật, ta nghe lời Phật dạy, buộc ta phải tu tập thiền định để nhiếp tâm, buộc phải như vậy. Mà con đường thiền định để nhiếp tâm, cái tâm mình nó suy nghĩ và không ai hiểu về nó cả. Không ai hiểu về tâm mình cả. Nó nằm trong cái bộ óc gói gọn một chút xíu à.
[19:50]Đem ra cân được hổng biết tới một kí lô chưa nhở? Nhưng trong đó cả một vũ trụ mênh mông ở trong. Và cho đến giờ phút này, đừng ai nói mình đã khám phá được hết tâm mình. Chưa. Khoa học chưa bao giờ biết được hết tâm mình là gì ở trong. Và khi ta không biết về tâm thì làm sao ta nhiếp được tâm? Nên thường ta tu tập thiền định để nhiếp tâm trong thanh tịnh, hầu hết ta bị sai. Vì ta không hiểu về tâm, hầu hết ta bị sai. Khắp thế giới cũng thích về thiền định, cũng quảng cáo về thiền định, hướng dẫn về thiền, mở các lớp thiền nhưng hầu hết là sai. Khó, vậy tâm khó vô cùng. Mà Đức Phật dạy vào thời xưa, ngài phải nói cô đọng vì thời đó đâu có
[20:36]chữ viết đâu, phải nói ngắn gọn cho đệ tử nhớ mà truyền đời chứ. Truyền miệng từ người này qua người kia. Nói gọn người ta mới nhớ, chứ nói dài dòng như kiểu mình viết sách thì ai mà nhớ. Cho nên thời xưa Phật cũng không nói rõ hết. Nhưng mà các vị thời đó do các vị công đức lớn, những lời nói ngắn gọn của Phật, các vị hiểu, các ngài thực hành và đắc đạo. Nhưng mang cái lời gắn ngắn gọn đó đến ngày hôm nay nói ta không hiểu. Hầu hết ta hiểu sai. Rồi có những vị giữ chắc cái lời của Phật, nguyên văn vậy, và cho mình là người trung thành với Đức Phật. Sự thực cũng sai luôn, vì hổng hiểu lấy gì mình trung thành.
[21:13]Nếu ta giữ gìn cái lời đó chỉ là giữ cái ngôn ngữ thôi. Chứ còn cái ý nghĩa thực sự trong đó nó lớn hơn gấp gấp ngàn lần nó nằm giấu trong những cái câu văn của Phật dạy, lớn hơn gấp ngàn lần ở trong mà ta không đủ sức hiểu thì chưa thực sự gọi là trung thành với Đức Phật nữa. Khổ vậy. Cho nên cái việc mà thiền định rất là khó. Tuy nhiên nếu ta biết cái lộ trình thì
[21:38]ta có thể tu tập được. Đầu tiên căn bản vẫn là phước. Nhớ như vậy. Mọi chuyện quyết định là do phước hết. Cố gắng làm phước cho cho nhiều, tôn kính Phật, từ bi yêu thương giúp đỡ chúng sinh mọi thứ hết. Phước cho lớn cho dày thì chính cái phước tự động dẫn ta đi. Dẫn ta đi. Nhưng chỉ có cái điều để ý thế này. Ta coi chừng ta đắc thiền định mà không chứng quả thánh, chỉ bởi vì cái đạo đức không đủ. Đây là cái điều rất là đáng sợ. Nên vì vậy, bước đầu của sự tu tập ta phải trau dồi đạo đức rất là kĩ. Và ta nhìn con người vậy. Ví dụ người đó, nhiều khi ta thấy người đó giàu ta cũng quý thiệt, tại ta biết cái người này làm phước dữ lắm mới giàu.
[22:21]Nhưng ta cũng đề phòng coi đạo đức hay không, tại cái đạo đức cuối cùng nó vẫn là quý hơn cái cái giàu sang, cái phước của người ta. Tại phước có khi hết, nhưng nếu người đó có cái bản bản sắc, bản chất đạo đức thì người đó sẽ đi rất bền qua nhiều kiếp sau. Nên cái đạo đức mà ví dụ ta đến gần một người giàu và ta đến gần một người đạo đức thì ta thích người nào? Nói thiệt coi! Đúng rồi, vừa giàu vừa đạo đức, ông này khôn nè.
[22:52]Đó, vậy đó, đáp án đúng á.
[22:58]Người giàu tức là có phước mà có đạo đức nữa thì thật là là tuyệt vời. Thì chắc chắn nếu ta may mắn ta gần được cái người vừa giàu vừa đạo đức thì chắc chắn ta được lợi ích, vì thế nào họ cũng chia cho mình ít.
[23:13]Còn người giàu mà không có đạo đức thì họ vừa khinh mình mà họ vừa không cho mình cái gì hết trơn á. Nên mình gần cái người giàu mà không có đạo đức nó phiền vô cùng. Nhìn thấy tài sản họ thấy ham mà họ họ khinh mình, họ lấy tài sản họ ra để họ khinh mình chứ họ không có giúp mình thì rất là phiền. Còn cái người có đạo đức mà không giàu lắm, thật ra ta vẫn làm bạn được. Phải không? Họ vẫn có thể nói những lời tốt đẹp, họ thông cảm khi ta sai lầm, họ họ chia sẻ khi ta đau khổ, rồi họ vui mừng khi ta thành công.
[23:51]Thì những con người như vậy ta ở gần họ ta rất là dễ chịu. Dù có thể họ không có tiền nhiều để giúp ta, nhưng nếu họ có đạo đức thì vẫn làm cho những người chung quanh ấm cúng, ấm lòng, hạnh phúc là vậy. Nên cái đạo đức là quan trọng. Và trên con đường đi rất là dài đó, cái đạo đức luôn luôn là cái lõi. Vì vậy khi ta bước vào thiền định, ta yêu cầu tu tập đạo đức cho kĩ, từng li từng tí, cho tới khi không còn lỗi lầm. Ồ, cho tới khi không còn lỗi lầm. Nghe sợ chưa? Giữa một thế gian đầy cám dỗ, đầy nghịch cảnh, đầy thử thách mà ta tu đạo đức đến mức độ nào đó ta không bao giờ phạm lỗi lầm, dễ không ạ?
[24:39]Nhưng đó là điều Phật yêu cầu. Phật có nói trong bài kinh vậy, Như Lai nhìn thấy người nào mà trong tâm còn hắc pháp, tức là còn cái điều bất thiện, kém đạo đức, thì Như Lai biết người đó có tu tập nhưng cũng không thể chứng được quả thánh quả hoàn toàn A-la-hán được. Khi Như Lai nhìn thấy trong tâm một người nào không còn hắc pháp, tức là đạo đức hoàn toàn á, không còn hắc pháp, Như Lai biết người đó tu tập sẽ chứng được thánh quả A-la-hán. Như vậy, đạo đức là một cái nhân rất là quan trọng đối với việc chứng thánh quả giải thoát. Còn không, ta chứng những quả thấp thấp hơn thôi, vì mình còn lỗi lầm ở trong tâm, nên ta sẽ chứng quả thấp thấp.
[25:16]Còn một người mà không còn lỗi lầm thì mới có thể chứng quả cao được. Nghe thấy không còn một chút lỗi lầm nào, thấy sợ không ạ? Rất là sợ phải không ạ? Không phải dễ tí nào. Sống một đời sống mà không một chút lỗi lầm nào thực sự không có phải là dễ. Nhưng đó là con đường ta phải đi. Buộc từng ngày, từng giờ, từng phút, trong những ý nghĩ rất thầm kín của mình, trong những lời nói trao đổi, trong cả những tin nhắn, những cái post lên status trên Facebook, mạng xã hội vân vân vậy, đừng nói một cái gì sai, đừng làm một gì sai.
[25:53]Khi mà có đạo đức rồi, cho ta làm phước, ta biết chia sẻ rồi, bắt đầu mình có phước rồi, phải bắt chân ngồi thiền. Thì bắt chân ngồi thiền thì ta có chỉ và và quán.
[26:06]Ta có con đường chỉ quán là phương pháp để ngồi thiền. Đó. Thì hôm nay sư phụ không có nói tỉ mỉ được, không có nói tỉ mỉ được vì nó cũng dài dòng lắm. Nhưng mà ta cần biết hết. Khi cái người bước vào thiền phải biết chỉ là gì, quán là gì, từng từng điều nhỏ nhỏ nhỏ nhỏ phải biết hết, giống như là trước khi ta đi, ta phải lật cái bản đồ coi cái đã. Hồi xưa thì mở cái tờ giấy ra để coi đường đi, bây giờ thì ta mở điện thoại ra coi Google Maps, vậy đó, để coi đường đi nó sẽ bao lâu và biết trước với tốc độ này thì bao lâu nữa sẽ tới nơi, đường đi quanh co. Phải biết rồi bắt đầu mới tự tin. Còn chút đi chút dừng lại ghé vô,
[26:42]"Cái đường đi tới chùa đi đâu chị?", ghé vô vậy nó rất là phiền. Hồi xưa thì cứ phải đi phải hỏi mà hồi đó là đi chậm không có xe. Bây giờ mà cứ ghé ra ghé vào hỏi người ta, rất là phiền. Bây giờ ta may mắn có bản đồ và yêu cầu thiền định cũng vậy, trước khi bắt chân ngồi thiền, ta phải hiểu hết về con đường đó. Nhưng mà thực sự thì sư phụ dạy từng chút, từng chút, chứ không có phải là biết hết tại sư phụ cũng không phải là một bậc thánh, sư phụ cũng không phải là thiền sư. Sư phụ chỉ là một người có biết tu tập chút chút rồi share lại những cái gì mình biết thôi, nên nó không phải là nhiều. Nhưng tuy nhiên nếu ai tu theo sư phụ phải có kết quả. Đó là điều sư phụ bảo đảm.
[27:22]Dù sư phụ không có kết quả nhưng ai tu theo sư phụ phải có kết quả. Đây là điều rất kì cục, kì ngộ, kì diệu. Là sư phụ tu thì không có kết quả nhưng ai tu theo sư phụ sẽ phải có kết quả. Kì lạ như vậy. À kì lạ, kì cục, kì ngộ và cũng kì diệu.
[27:43]Cái chỉ và quán, chỉ nó là kĩ thuật, không có lý luận, không có đạo lý, nó chỉ là kĩ thuật. Nó khai thác cái đặc tính của cơ thể, sinh lý để giúp cho cái việc nhiếp tâm, để vọng tưởng đừng khởi, nên nó là kĩ thuật, không có đạo lý gì hết trơn. Nhưng bên cạnh đó, nó có cái quán, phép quán tức là đạo lý. Là dùng đạo lý để đánh lại những cái sai lầm, cái mê chấp tiềm ẩn trong tâm ta. Vì khi ta khởi lên vọng tưởng, nó gồm hai yếu tố để cho vọng tưởng khởi lên, những suy nghĩ, cái động tâm khởi lên gồm hai yếu tố. Một yếu tố nó thuộc về sinh lý, là cái cấu tạo của bộ não như thế, cấu tạo của cơ thể như thế thì buộc ta phải suy nghĩ,
[28:32]não luôn luôn thúc đẩy ta phải suy nghĩ, bản chất của bộ não là phải suy nghĩ. Đó, bản chất tự nhiên của bộ não là cứ phải suy nghĩ. Cũng giống như vậy, bản chất của bộ não là tự nhiên phải đau khổ. Đức Phật dạy bản chất cuộc đời là đau khổ chỉ bởi vì Đức Phật nhìn thấy từ lâu, bản chất của bộ não tự nhiên là đau khổ. Nhưng mà tại sao ta ngồi đây ta đâu thấy đau khổ đâu? Bởi vì não, tế bào não vẫn đang tự tiết ra cái dopamine để chận cảm giác đau khổ đó lại, nên ta ngồi đây ta rất bình an. Một ngày nào não nó nó giận, nó giận, nó không tiết ra dopamine nữa, lập tức ta xuất hiện cảm giác buồn mà không biết tại sao.
[29:15]Đó là những người bệnh trầm cảm, depression. Và họ khi buồn lên rồi họ cứ nghĩ nghĩ tới việc tự tử, gia đình mà hở không cản được là họ đâm đầu vào xe, họ nhảy xuống sông tự tử chết liền, mà không biết lý do, không biết lý do. Chỉ biết lý do đặt cái tên gọi là trầm cảm, mà không biết sao, chỉ trong đạo Phật mới biết điều đó. Chỉ bởi vì bộ não chúng ta tự nó là tự nhiên nó là buồn. Còn khi ta có phước, cái não nó cứ tiết ra dopamine nhè nhẹ nhẹ, nó chận cái cảm giác buồn ta lại, cái ta thấy ta rất là bình thường, thanh thản vậy đó. Nghĩa là đang còn phước, chứ bản chất tự nhiên nó là buồn. Cũng giống như bản chất tự nhiên bộ não phải suy
[29:51]nghĩ, nên nó thuộc về cơ thể, cơ chế sinh lý. Và cơ chế sinh lý thì nó cần một kỹ thuật để chận cái cơ chế sinh lý đó lại. Thì cái biện pháp kỹ thuật đó ta gọi là chỉ, dừng, cease, cessation, à stop, đại khái là vậy, là một kỹ thuật, một technique để dừng mà không có cần có đạo lý. Và có những người dạy đệ tử tu chỉ dạy cái chỉ thôi, dạy kỹ thuật để người ta nhiếp tâm à, nhưng nó không đủ, vì nó chỉ là cơ chế sinh lý. Nhưng bên bên cạnh cái cơ chế sinh lý bộ não phải suy nghĩ đó, ta còn bị yếu tố của cái tâm lý, của đạo đức, của nghiệp nữa. Là ví ví dụ sao tai ta sao ta suy nghĩ? Vì ta lòng ta có ham muốn. Vì sao ta suy nghĩ? Vì ta đang giận hờn.
[30:33]Vì sao ta suy nghĩ? Vì ta đang si mê. Đó là những yếu tố thuộc về tâm lý đạo đức. Và ta cần cái phép quán để phá những cái yếu tố tâm lý đạo đức, những cái sai lầm trong tâm lý đó lại để cho vọng tưởng đừng khởi. Là như vậy, để cho vọng tưởng đừng khởi, ta cần cái phép chỉ kỹ thuật để giữ nó lại, và ta cần những phép quán về đạo lý để tiêu diệt cái nguồn của suy nghĩ là tham, sân, si. Cứ như vậy, hai cái bên nó kết hợp lại thì tâm ta mới mới yên được. Thì những phép chỉ kỹ thuật đó như thế nào, thì ta nhiều năm chúng ta cũng đã thực hành: biết toàn thân, dụng công lúc nào cũng nhẹ nhàng, không bao giờ dằn ép;
[31:14]rồi biết xuống dưới bụng, rồi biết hơi thở, rồi biết hơi thở mà không điều khiển; rồi từ từ khéo giữ hơi thở chậm, ít, êm; rồi từ từ cái hơi thở chậm chậm, ít, êm nó đạt được cái tự nhiên là nó dính với tâm. Điều đó nó nghĩa là cái cái cái kỹ thuật để góp phần vào làm lắng dịu cái não bộ ta đừng suy nghĩ, ta đi qua nhiều bước như vậy. Đi đi đi qua nhiều bước như vậy cái kỹ thuật. Nhưng mà có người đi qua nhiều bước vậy rồi đắc đạo luôn á, nhập định mất tiêu, bởi vì á thiện căn đời trước họ có nhiều. Nhưng có những người đi qua hết các bước rồi vẫn chưa. Rồi bắt đầu cái phép quán. Cái quán đầu tiên của ta là gì?
[31:52]Khi cái ta biết toàn thân thì ngay lúc cái quán kèm theo, phải biết thân này vô thường đi kèm theo vậy. Rồi khi ta biết hơi thở, ta thấy cái vọng tưởng của mình nó cứ bám vào cái thế gian. À khi nó nghĩ tới cái nhà lầu, khi nghĩ tới xe hơi, khi nghĩ tới người hàng xóm, khi nghĩ tới danh, khi nghĩ tới lợi, thì ta phải có cái phép quán khởi lên: "Thế thế gian này coi vậy vô thường, tạm bợ và nguy hiểm, trong đó đầy cám dỗ. Những cái danh lợi chỉ là tạm, nhưng mà cái cái công thì tốn rất là nhiều." Tức là những cái lý luận như vậy để nó chận cái mà tham sân si của tâm bám vào ngoại cảnh là vậy. Rồi ta nhìn sâu vào bản chất tâm mình, thân tâm mình, thì ta thấy là sao?
[32:41]Thấy ta thấy ta trong ta là một bản ngã. Trong bản ngã ta có tham, có sân, có si, có ích kỷ, có cái chấp ngã, và tận cùng ta biết có cái vô minh nữa. Vô minh là cái không định nghĩa được, nhưng theo lời Phật dạy, ta biết còn một cái vô minh là một cái ngu si thẳm sâu cuối cùng. Chính cái ngu si thẳm sâu cuối cùng đó, vô hình, ta không dễ thấy được, tạo nên cho chúng ta cái chấp ngã, cái tham, cái sân, cái si, đủ thứ chuyện trong đó. Là ta nhận ra nó thôi chứ diệt thì không diệt được, nhưng biết nó có, và đó là phép quán. Phép quán là nhận ra bản chất của sự vật, sự việc, bản thân, nội tâm mình, biết rõ nó thôi, biết rõ bản chất thôi chứ đừng làm gì.
[33:22]Và cái hay của cái gọi là biết nó thôi mà không làm gì, đây là điều đặc biệt. À hôm trước vừa rồi, trong cái lễ Thành đạo buổi chiều, Sư phụ có hướng dẫn thiền, Sư phụ có nói cái chỗ này một chút, hôm nay nói lại một chút xíu. Ví dụ như giờ ta có ba bước: một, hai, bước ba. Ở bước một là vọng tưởng cuốn ta trôi mất, ta cứ suy nghĩ lăng xăng đủ thứ theo chuyện trong đời. Bước thứ ba là ta hết vọng tưởng, và ta thanh tịnh giống như có kết quả. Bước thứ nhất là ta trôi theo vọng tưởng, bị cuốn theo vọng tưởng, không làm chủ được. Bước thứ ba là ta không có vọng tưởng, hết vọng tưởng, là ta tu tập có kết quả,
[34:03]tuy kết quả nó cũng nhỏ thôi, nhưng mà đại khái gọi là kết quả. Nhưng cái bước ở giữa là bước tu tập. Và ta cần là cần cái bước thứ hai ở giữa này nè, đừng có vọng động cái bước thứ ba. Tại vì nếu ta vọng động bước thứ ba là phải làm cho tâm phải thanh tịnh, phải có kết quả, ngay cái vọng động, cái vọng cầu đó lại là một siêu vọng tưởng, làm cho ta tổn phước rất là nặng và rất là dễ điên, vì đó là một cái vọng cầu. Nên ta ở cái bước thứ hai. Bước thứ hai là gì? Biết mình đang động, vậy thôi. Biết mình đang vô minh, vậy thôi. Biết mình đang sân. Biết mình đang tham. Nên Đức Phật có dạy một bài kinh rất hay là:
[34:43]"Có pháp môn nào..." (Is there any way?) "Có pháp môn nào? Có pháp môn..." Đức Phật dạy: "Này các Tỳ-kheo, có pháp môn nào để tu tập chứng được giác ngộ giải thoát? Này các Tỳ-kheo, khi tâm ta tham, biết là tâm tham; khi tâm ta sân, biết là tâm sân; khi tâm ta si, biết là tâm si; khi tâm ta loạn động, biết là tâm ta loạn động. Này các Tỳ-kheo, đây là con đường đưa đến giác ngộ giải thoát." Bài kinh độc đáo luôn. Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ Kinh. Đó, chính là bước thứ hai. Ta không để ở bước thứ nhất là mê trôi theo vọng tưởng, ta không vọng cầu ở bước thứ ba là hết vọng tưởng để có kết quả, ta ở bước thứ hai:
[35:30]biết từng giờ từng phút biết mình đang vọng động, vậy thôi. Từng giờ từng phút biết mình đang vọng động, đó chính là đang tu. Nếu biết mình đang vọng động, nó vọng động hoài thì làm sao? Đừng... yên tâm. Khi ta biết mình đang vọng động thì ta đang rơi vào một cái hiệu ứng lưỡi kiếm của Banzo. Hôm trước Sư giảng cái lưỡi kiếm của Banzo rồi, nhớ không ạ? Lưỡi kiếm của Banzo là sao?
[36:00]Là có một học trò đến học kiếm với ông thầy, ông thầy ông không dạy, ông từ chối, ông đuổi về. Cứ học trò năn nỉ quá, cái sau đó là ông thầy ông ra điều kiện: không được nói về kiếm nữa, mà sai làm gì là phải làm. Cái ông kia ông mê kiếm quá cái ổng đồng ý. Rồi khi đồng ý rồi ông thầy dặn là không được nói về kiếm nữa, cái thôi ổng xụi lơ luôn, mặc dầu trong lòng rất ham học kiếm, cái bên bên Nhật mà. Buồn lòng, 3 năm cứ đi mà nấu cơm, chẻ củi cho ổng vậy thôi mà không được nói về kiếm. Bắt đầu năm thứ ba mới sinh chuyện. Đang đi vậy, bỗng nhiên ổng ở đâu trong bụi ổng bước ra ổng chém cho một cái.
[36:37]Không không chém trúng đâu, nhưng mà hết hồn liền, bằng cái kiếm gỗ, chém hết hồn. Đang đi ra khỏi cửa, ổng trên nóc ổng ló đầu xuống ổng chém cho một cái hết hồn, mà không biết ổng núp ở đâu. Thế là từ đó sống trong cái gì? Sống trong cái cảnh giác, không biết ông thầy ổng đang ở đâu. Đi đi tới đâu cũng đi đâu cũng sợ sệt đi. Cứ vậy, tức là và cái câu chuyện Thiền ngạn đó và câu kết luận thế này: Sau này, tên cái ông gì Hayagoto gì đó trở thành một kiếm sĩ vĩ đại nhất nước Nhật. Không biết cái quá trình theo đó là cái gì, nhưng mà nếu người nào đạt được cái hiệu ứng Banzo này sẽ trở thành kiếm sĩ vĩ đại nhất nước Nhật.
[37:13]Chúng chúng ta tu thiền cũng vậy, lúc nào mình cũng biết mình đang vọng động, lúc nào cũng biết đang loạn động. Nó thành một cái hiệu ứng không được nói, không nên nói, và cái người nào thực hành sẽ tự biết, gọi là hiệu ứng của lưỡi kiếm Banzo, Sư không nói nữa. Cái ở bước thứ hai đó là biết mình đang loạn động, vậy thôi, và không đầu không đòi hỏi ở bước thứ ba. Tất cả chúng ta bị lầm thế này: một là chúng ta mê theo vọng tưởng, chạy theo đời, không tu hành gì hết trơn à; hai là khi bước vô ngồi thiền là cứ đòi cái bước thứ ba: tâm phải thanh tịnh, tâm phải thanh tịnh, đừng suy nghĩ nữa, đừng suy nghĩ,
[37:52]là bị một cái loại vọng tưởng siêu vọng tưởng, lại mình quên mất cái bước thứ hai nhẹ nhàng hơn rất là nhiều mà cái hiệu quả nằm ở đó: biết mình đang loạn động. Rồi có người nói: "Thôi con cũng nghe lời Thầy, con cũng biết mình đang loạn động, nhưng biết được ba cái là nó bay mất, vọng tưởng kéo đi mất." Chỉ bởi vì gì? Không có một chỗ neo tâm lại.
[38:17]Nếu đã vun bồi phước rất nhiều, lòng tôn kính Phật biết bao nhiêu, công phu chỉ quán đều thuần thục, bây giờ chỉ việc tìm chỗ neo. Bây giờ tới lúc tìm chỗ neo. Tức là ta đã tạo phước nhiều, lòng tôn kính Phật mình đã vô biên, thực hành chỉ quán trong ngồi thiền định kỹ thuật quán chiếu đã biết hết rồi, nhưng mà vẫn chập chờn chập chờn, bây giờ tới lúc tìm chỗ neo. Nên Sư phụ mới nói với các thầy cô vậy: "Bao nhiêu năm Sư dạy tụi con chỉ này quán kia, quán kia chỉ nọ, hôm nay bắt đầu Sư dạy Kanda thì không được đứa nào nói không có kết quả. Đã tới lúc rồi, tới lúc hễ ngồi thiền phải có kết quả khi
[39:02]bắt đầu biết Kanda, cái chỗ neo được tâm mình vào."
[39:08]Sáu phân dưới rốn ở ngoài da, một điểm, kinh xưa gọi Kanda, giữ tâm nơi ấy không thay đổi, vọng tưởng tự nhiên không đi xa.
[39:27]Ta vừa nghe thấy cái chữ neo. Cái chữ neo là hình ảnh của cái gì? Nó là cái tàu á đều có cái mỏ neo. Nó là một khối sắt có một hình dáng đặc biệt gì đó. Khi tới nơi nào đó người ta sợ cái gió thổi trôi thuyền, hoặc là dòng nước ngầm thổi kéo cuốn trôi thuyền, người ta phải neo cái thuyền lại. Thả cái dây neo xuống, thả cái khối sắt nó xuống và nó móc ở dưới đáy sông, nó móc ở dưới sình á. Thế là ở trên này, ở trên mặt nước cái thuyền nó có thể là bị cái dòng nước trôi qua, gió đẩy lại, nhưng không trôi đi mất bởi vì cái neo nó còn dính ở dưới đáy biển. Cái neo là vậy. Nên dù gió vọng tưởng thổi, dù nước
[40:09]tình cảm kéo, nhưng không bao giờ ta mất cái tỉnh giác. Bởi vì ta có một chỗ neo cái tâm mình là Kanda. Cái điểm đó, điểm đó rất là kỳ lạ. Nó là một điểm, nó là một loại kỹ thuật bí truyền nên từ xưa đến giờ không ai dạy.
[40:29]Nghĩa là ông thầy ổng biết rồi ổng cũng giấu, ổng chỉ dạy cho những người mà ổng rất cưng. Thì ra sư phụ cưng quá nhiều người nha. Ổng rất cưng ổng mới dạy cái Kanda. Bởi vì sao vậy?
[40:46]Bởi vì khi mà biết cái điểm Kanda này rồi, nó nhẹ nhàng, không tốn tiền, điểm ngoài da, vô hình, không có gì phức tạp. Nhưng an trú tâm được chỗ đó rồi, bắt buộc phải có kết quả. Bắt buộc phải có kết quả. Nhưng mà có hai loại có kết quả. Cái người mà đã có trước đó có chỉ quán, có công đức, có tôn kính Phật, thì cái kết quả khi mà có Kanda, thì sau đó ta sẽ đắc thiền và có thể đắc Thánh. Cái hay của nó là vậy. Còn cái người có Kanda rồi mà trước đó không có tôn kính Phật, không có công đức, không có đạo đức, không có chỉ quán, thì nhiếp Kanda rồi, xuất hiện kết quả rồi, có thể thành một nhà võ sĩ phi thường, nhưng có thể đi ăn cướp luôn.
[41:28]Bởi vì không có đạo đức mà đạt được cái công lực phi thường giống như trong phim vậy đó, trong mấy phim cổ trang là như vậy đó. Nên ở đây ta có cái Kanda để nhiếp tâm, ta đi vào vô ngã. Nhưng mà coi chừng những cái hiệu ứng khác của nó sẽ làm cho ta mê. Và đây chính là cái đó. Khi ta neo tâm ở Kanda, cứ ngồi cứ chú chú tâm một điểm ở dưới dưới à 6 phân dưới rốn ở ngoài da, không sâu vào trong thịt, không rơi lầm ngoài không khí. Và cứ để tâm nhẹ nhàng nhẹ nhàng ở đó. Nhớ nhẹ nhàng nha, có người một thời gian qua khi sư phụ nói Kanda cứ cứ tập trung căng thẳng để tìm Kanda, mất ngủ hoặc là nóng người lên vân vân đủ thứ là do dằn ép.
[42:12]Nhớ trong thiền định cái gì cũng nhẹ nhàng. Để tâm ở đây rất nhẹ nhàng nhẹ nhàng. Mà Kanda nó có cái đặc biệt là không bao giờ có cảm giác. Ví dụ như ta để tâm ở đầu ngón tay, ta nhắm mắt ta để, ta sẽ có cảm giác liền khi tâm ta để đó. Hoặc là ta để tâm ở đây một lát là có cảm giác đó, để đây là lát có cảm giác liền. Khi tâm mình chú ý ở đâu thì ta sẽ xuất hiện một cảm giác ở đó, nhưng riêng Kanda ta để tâm đó không có cảm giác. Và không có cảm giác là đúng. Có nhiều người nói: "Sao con tìm mãi không ra Kanda?" Tại vì muốn sao? Muốn có một cái cảm giác, à để đó rồi con có cảm giác rồi, à đó là Kanda.
[42:48]Rồi cứ cố tìm cố tìm rồi phát điên luôn đổ thừa tại tu theo sư phụ phát điên. Tự nhiên tập trung rồi đòi cái cảm giác Kanda rồi đổ thừa sư phụ. Nên là cái Kanda là cái không có cảm giác. Mà chính khi ta an trú nơi tâm nơi Kanda chứ ta ta ta an trú tâm nơi Kanda là ta an trú nơi một cái không có cảm giác. Đúng rồi đó, mà không ngờ. Không phải, cứ đi loay hoay loay hoay tìm, rồi cái điên đầu rồi mất ngủ đổ thừa sư phụ. Nói: "Sao con tu sư phụ bữa nay con phát điên?" Nói: "Tại con khùng rồi chứ..." Rồi thế. Nó đúng rồi đó, khi mà nó cái điểm đó mà không cảm giác gì là nó đó. Thì cứ để tâm nhẹ nhàng ở đó thì tự nhiên vọng tưởng tự nhiên không đi xa.
[43:31]Giống như con thuyền ở trên rồi gió thổi nó cũng không bứt đi, nước cuốn không cuốn đi, còn điểm nó nó neo đó hoài. Nói: "Như vậy nó cứ neo hoài rồi cái thuyền nó cứ gió thổi qua, thổi lại, thổi qua, đưa lại muôn đời hả?" Nó không mất. Lúc nào cũng tỉnh giác vì có cái Kanda nên không bị mất tâm. Lúc nào cũng nhớ cái Kanda nên không bị vọng tưởng cuốn trôi, nhưng vọng tưởng vẫn khởi. Nói: "Thổi qua, thổi lại, thổi qua, thổi lại rồi con cứ để tâm Kanda hoài hả? Hết kiếp này tới kiếp kia hả?"
[44:05]Cái thiền nó khác với neo neo con thuyền. Khi ta neo con thuyền á, ta thả neo xuống rồi thì nó sẽ không trôi nữa, nhưng mà muôn đời gió thổi qua qua, gió thổi lại đẩy qua lại, nước cuốn tới, nước kéo lui thì nó cứ cà nhúc nhích nhúc nhích. Mặc dầu nó không sứt ra, cái neo nó còn nằm đó không sứt ra, nhưng trong thiền định thì nó khác. Trong thiền định nó khác ở chỗ này. Ví dụ như ta an trú được ở Kanda, vọng tưởng khởi ta biết, biết thôi chứ không cầu hết vọng tưởng nha. Và biết tâm mình đang loạn động, ta trở lại cái bước thứ hai nãy vừa nói, ta chỉ biết mình đang loạn động giống như là Phật dạy trong Tăng Chi:
[44:42]tâm động biết mình động, chứ không cầu cho nó hết động. Ta chỉ biết thôi. Và khi biết như vậy ta không bị mất cái Kanda, vẫn giữ tâm đó. Và cái thời gian nó bắt đầu nó dài dần dần. Mới đầu á thì vài ba giây cái nó mất, vọng tưởng kéo mất. Trở lại Kanda. Mai mốt ta tu qua vài tháng sau nó tới hai ba phút nó mới mất cái Kanda là do vọng tưởng đánh ngầm lên nó mất. Người tu lâu nữa tới 15 phút nó mới mất Kanda. Người tu lâu nữa nửa tiếng nó mới mất Kanda. Người tu lâu nữa 45 phút mới mất Kanda. Tới 45 phút là đắc đạo mất tiêu rồi, nhập định luôn. Khi kéo dài quá, khi ta kéo dài quá với cái Kanda mà không bị mất thì nó không giống như con thuyền
[45:23]là cứ trôi qua trôi lại trôi qua trôi lại, còn ở trong Kanda mà ta kéo quá dài cái trạng thái không mất Kanda thì bất ngờ nó cứng luôn. Nó không giống như là nước cứ trôi qua trôi lại mà nước nó cứng luôn, gió dừng luôn, ánh sáng bừng lên luôn. Đây cái khác nhau giữa cái Kanda và cái thuyền neo. Mặc dù ban đầu ta dùng cái hình ảnh chiếc neo để ví dụ cho cái con thuyền được đứng yên, nhưng cái thiền, cái Kanda nó khác với con thuyền có cái neo dưới biển. Con thuyền neo dưới biển dù có neo gì neo ngàn năm thì gió nó cứ phất qua phất lại hoài mặc dầu nó không trôi thiệt, nhưng ở trong thiền định an trú tâm được
[46:01]Kanda, cái thời gian mà neo tâm, thời gian mà không mất tâm á, thời gian mà không bị vọng tưởng cuốn á, nó bắt đầu nó dài từ từ dài từ từ. Thì có người dài 5 phút đắc đạo rồi, có người dài 15 phút đắc đạo, có người dài tới 1 tiếng mới đắc đạo. Nhưng chính cái kéo dài quá mà không mất tâm á, vẫn an trú được không bị mất thì bất ngờ một lúc nào đó nhập định được, giống như mà ngày xưa Phật cũng trụ Kanda năm 12 tuổi theo vua cha ra đồng dự lễ nhưng tĩnh tọa, bất ngờ nhập định quên nắng tà. Rồi khi mà ta an trú được Kanda, bất ngờ ta có kết quả. Thì khi có kết quả trong thiền định, nhắc lại ba cái điều sai lầm.
[46:47]Một là gì? Hỷ lạc làm ta hưởng thụ. Hai: ta thụ động, lười biếng. Ba: tự khen mình, trên mây á, tự cho mình là thánh này kia nọ. Thì làm sao để chống bị ba cái đó? Nó khởi lên rất là mạnh, khi nhập định rồi ba cái đó khởi lên mạnh mẽ, không ai đủ sức cưỡng lại nếu ta không biết phương pháp. Ngoài cái việc là càng có kết quả chừng nào thì mỗi ngày phải lạy Phật nhiều chừng nấy. Tại vì có nhiều cái đức tính ta không bao giờ tự mình dựng lập được. Ví dụ như cái đức tính đầu tiên là từ bi yêu thương mọi người, đố hòng ai có thể yêu thương được mọi người. Nếu tự mình, sư phụ thách á. Chỉ có khi nào ta lạy Phật ta xin thôi.
[47:32]Xin Phật gia hộ cho con có được lòng từ bi yêu thương tất cả chúng sinh. Ngày nào cũng lạy cầu xin điều đó, 10 năm sau bắt đầu có. Chứ còn mà tự mình yêu đi, yêu đi, không dám đâu, yêu tầm bậy tầm bạ chả yêu ai cả. Hoặc là khiêm hạ cũng vậy. Khiêm hạ là lúc nào cũng biết tôn trọng người khác, biết nào tìm điểm dở của mình, thấy mình không là gì, đố ai thành tựu được nếu không lạy Phật xin. Những đạo đức đó đều phải xin Phật mới có. Hoặc là nhẫn nhục, hoặc là tinh tấn, hoặc là biết lỗi mình, hoặc là sống đời vị tha, phụng sự, nếu ta không xin Phật những đức tính đó không bao giờ xuất hiện. Phật là nguồn phước vô tận,
[48:12]những điều tốt đẹp thì ta cứ xin Phật rồi từ từ ta sẽ được. Thì cũng vậy, khi ta nhập định rồi ba cái điều sai lầm nó xuất hiện: một là sự thụ hưởng hỷ lạc, hai là cái thụ động lười biếng, và ba là tự khen kiêu mạn. Nó nổi lên nếu không có công đức lạy Phật, ai cũng dính với nó rồi chết với nó. Nên phải lạy Phật mỗi ngày, tu tới đâu thì tu vẫn phải tôn kính Phật. Rồi bắt đầu ta dùng kỹ thuật và quán chiếu để chống lại ba cái tên giặc đó. Kỹ thuật thứ nhất vẫn là Kanda. Khi ta ngồi thiền mà cái hỷ lạc nó tràn ngập lên, trốn trong cái Kanda liền, nhiếp sâu trong Kanda để không bị cái hưởng thụ. Còn ta buông Kanda ra một cái là ta thụ hưởng cảm giác
[48:54]hỷ lạc tràn toàn thân liền, nó hết phước liền. Cho nên mà khi ta nhiếp tâm vào định được, hỷ lạc nó tràn ngập, càng phải cố gắng núp trong Kanda cho thật sâu, núp mất trong đó luôn để trốn cái cảm giác hỷ lạc. Rồi cái thụ động, lười biếng, cái này phải do phát nguyện. Trước khi đi tu đã phát nguyện rồi, sống một đời hy sinh, phụng sự, vị tha, giáo hóa, chia sẻ, không bao giờ sống vì mình. Nhờ những cái lời nguyện từ cái buổi đầu tu tập đến khi mà sau này ta vào định, cái tâm nó khóa ta vào trong thụ động thì cái lời nguyện kia tiếp tục đưa ta đi. Chứ còn không thì cái định nó khóa ta lại một chỗ,
[49:36]ta không làm gì hết, không thích làm gì hết. Nhưng chính nhờ cái lời phát nguyện từ buổi đầu mới gặp Phật, ta đã lạy xin điều đó rồi: xin cho con biết sống một đời hy sinh, phụng sự, vị tha vì chúng sinh. Cái lời phát nguyện ban đầu đó đến sau này sau này 10 năm sau, 50 năm sau gì đó, hoặc là kiếp sau khi ta đắc đạo rồi cái thụ cái cái khi ta nhập định rồi cái thụ động xuất hiện kềm thì cái lời phát nguyện nó dẫn ta đi, nó là nhân quả, nhân quả nó mạnh hơn. Thế là dù trong cái thụ động đó nhưng ta vẫn ráng làm chuyện này, vẫn ráng làm chuyện kia, vẫn quán đi ráng đi rửa chén, đại khái vậy, ráng đi khiêng cát, khiêng xi măng.
[50:17]Mặc dầu trong tâm là muốn đi vô ngồi trốn chỗ nào ngồi cho nó yên nhìn trời hiu quạnh. Nhưng mà cái nguyện nó dắt ta đi, nó không cho ta ngồi yên đó. Nên ta cứ làm này làm kia, yêu thương và phụng sự con người, chính là nhờ cái đó. Và cái thứ ba là cái mà tự khen mình, khi có định rồi tự khen mình, thì bắt đầu ta dùng cái phép chỉ cái phép quán tối cao là cái gì? Lúc nào cũng nhớ mình vô minh tội lỗi và dùng cái đó để công kích, đánh phá, chống đỡ lại cái ý niệm tự khen mình. Chứ nó khen khủng khiếp lắm lúc đó, tràn ngập không ai cưỡng lại nổi. Nhưng mà chính nhờ cái phép quán tối cao lúc nào cũng
[50:54]nhớ mình chỉ là vô minh tội lỗi, chưa phải là hết. Cứ nhờ cái đó nhắc đi nhắc lại nhắc đi nhắc lại giống như thiệt thật sự lúc đó giống như là ra đa ra trận đánh đánh giặc vậy đó. Một bên kia là giặc nó nhào vô cầm gươm, bên này mình cũng cầm gươm và đánh lại dữ dội, đánh vất vả để chống cự lại giặc. Chính là vậy, khi cái ý niệm kiêu mạn nó tràn ngập tràn ngập lên thì cứ phải nhắc mình chỉ là vô minh tội lỗi, mình chỉ là vô minh tội lỗi để chống lại nó. Buông một cái là nó tràn ngập tâm hồn mình cái mình lên mây ở liền á. Như vậy, nên vậy khi nhập định rồi ta nhớ ba cái tên giặc này: một là thụ hưởng sự hỷ lạc, núp sâu trong Kanda;
[51:29]hai là thụ động, nhờ lời phát nguyện buổi đầu mới tu; và thứ ba: kiêu mạn, thì dùng cái phép quán tối cao, nhớ mình là vô minh tội lỗi. Ba cái đó này để trị ba cái tên giặc kia, chứ không là chịu không nổi với nó đó, không phải... Thì hôm nay vậy, chúng ta vô tình có mặt ở đây vậy để tưởng niệm Bồ Tát Quảng Đức, rất cảm ơn đã về đây có mặt trong cái không khí thiêng liêng này, vậy...