Transcript: Tiến Trình Của Tâm

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:12

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:11]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:25]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:36]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:50]Mời quý sư, cô ngồi xuống.

[0:58]Kỳ này thì là bữa cuối của năm nay, qua Tết thì tôi chưa có định là giảng lại tiếp. Cho nên nếu qua Tết mà tôi nghỉ thì chắc cũng hơi lâu lâu rồi mới gặp lại nhau. Tuy nhiên không phải vì vậy mà kỳ này không làm bài. Sau buổi học này thì quý sư cũng cố gắng làm bài. Khoảng 22 cho người đem lên đưa tôi chấm, 25 là tôi cho người đưa xuống trả lại để tổng kết điểm. Sư Hải tổng kết lại đưa Thượng tọa và có thưởng cho những người mà siêng làm bài, làm bài tốt, trình lên Thượng tọa. Vì là tôi không có định là qua Tết giảng tiếp cho nên hôm nay tôi giảng cái bài cuối luôn, chứ đúng ra là chưa giảng cái bài hôm nay,

[1:47]là Tiến trình của tâm, đó là tiến trình tu hành của tâm. Tiến trình của tâm á có nghĩa là chúng ta không có nói đến cái hành vi mà chúng ta chú trọng vào cái tác ý của tâm. Khi một người mà muốn tu hành giải thoát thì bước ban đầu phải tác ý nơi tâm những cái công hạnh gì, những công hạnh gì, rồi từ đó tiến lên dần dần thành những công hạnh gì?

[2:22]Thường á thì chúng ta nghe cái tam vô lậu học là giới, định, huệ, trong đó giới là căn bản phải không? Giới là căn bản. Nhưng mà sự thật thì chúng ta thấy nó không đơn giản như vậy, không đơn giản. Giới không phải nằm ở căn bản mà nằm ở một vị trí khá cao. Bây giờ phần thứ nhất là chúng ta nói về ba cái tâm hạnh căn bản không thể thiếu mà chúng ta phải tác ý để thành lập cho một người mới vào tu, dù người đó là cư sĩ hay là xuất gia gì cũng vậy hết. Ba cái công hạnh căn bản này hình như tôi cũng đã có nhắc đi nhắc lại mấy lần phải không? Tôi đã nhắc đi nhắc lại mấy lần, nhưng mà tôi chỉ nhắc lát

[3:11]đát vì có liên quan trong những bài giảng trước, chứ tôi không có chính thức đề cập nó như là cái ngày hôm nay. Ba cái tâm hạnh căn bản đó là gì ai còn nhớ không?

[3:26]Kỳ mà quý sư thọ giới xong tôi cũng có nói lại mà.

[3:33]Sư Đạo nhớ không?

[3:38]Cái này quan trọng không thể quên được. Mô Phật, bạch thầy nếu con nhớ không lầm thì đó là một là tôn kính Phật, hai là lòng từ bi, ba là lòng khiêm hạ. À, thưa đúng rồi, cám ơn. Điều này không được quên. Thứ nhất á là lòng tôn kính Phật, vì đây là cái nhân căn bản của một người muốn đạt đến sự giải thoát. Thiếu lòng tôn kính Phật này thì không một công hạnh nào có thể được thành lập tiếp đó được nữa hết, nó thuộc về nhân quả. Phân tích cái lòng tôn kính Phật này á thì chúng ta không nói hết được đâu, nhưng mà chúng ta chỉ nói một vài khía cạnh căn bản thôi, chứ cái công đức của lòng tôn kính Phật thì không thể nói hết được.

[4:28]Trên cái nhân quả đó thì chúng ta nghe dân gian có câu là kính thầy mới được làm thầy, phải không? Thì trong cuộc đời tu hành cũng vậy, khi chúng ta kính trọng một bậc thánh thì dần dần nơi chúng ta xuất hiện được một số tính chất, tư cách của bậc thánh đó, đó là cái nhân quả. Đây là nhân quả rất công bình, rất đương nhiên. Như một người mà ở ngoài đời họ kính trọng một ông bác sĩ nào đó thì đó là cái nhân để cho hoặc đời này hoặc đời sau họ sẽ thành công trong nghề y khoa, hoặc là họ kính trọng một người giáo viên thì đời này, đời sau họ thành công trong cái nghề dạy học. Đó, nó là nhân quả. Và ở đây chúng ta đi tìm cái sự giải thoát,

[5:24]cái sự chứng ngộ thì cái bậc thánh mà tiêu biểu cao nhất cho cái tính chất giải thoát giác ngộ đó là Đức Phật. Vì vậy, cái lòng tôn kính Phật là điều không thể thiếu cho một người muốn đi tìm sự giải thoát, nhất là những đệ tử Phật. Ở đây chúng ta có quyền mở rộng cái khái niệm tôn kính Phật này

[5:53]là mình nói tôn kính Phật thì đầu tiên mình hiểu là Phật nào? Phật Bổn Sư Thích Ca phải không? Và khi chúng ta mở rộng tức là những vị nào nữa?

[6:07]Những vị nào nữa?

[6:14]Di Đà, ai nữa?

[6:19]Di Lặc, rồi ai nữa? Tam thế chư Phật, mười phương nữa luôn mới đủ. Tức là chư Phật đó, đại khái tất cả những đấng giác ngộ, Phật Đà khắp trong pháp giới vũ trụ, nhưng mà tiêu biểu cái vị mà có thật trong lịch sử là Phật Thích Ca. Rồi chúng ta mở rộng nữa là đến những vị nào nữa?

[6:48]Những vị nào?

[6:52]Sư Trung, hử?

[6:57]Những vị thánh đệ tử. À, cảm ơn sư. Ai nữa? Ai nữa sư Phương?

[7:12]Sư có nụ cười dễ thương, hiền lành, ngây thơ. Ai nữa, mở rộng xong tới ai nữa?

[7:20]Không trả lời là cô Ký cô giành cô trả lời đó.

[7:27]Những vị A-la-hán, những vị Bồ Tát. Và chúng ta mở rộng nữa là đến những vị chân tu có tư cách một bậc thánh mà xuất hiện trong cuộc đời thực này là những vị đáng kính, tất cả những vị đáng kính. Nhưng mà dĩ nhiên cái nhân chính vẫn là chư Phật, những vị đắc đạo giải thoát hoàn toàn. Là chúng ta tập tôn kính tất cả những người có những tính chất đáng kính mà chúng ta gặp trong cuộc đời hoặc là chúng ta biết được, cảm nhận được bằng ý niệm của mình. Có những vị rất là trừu tượng như hình ảnh của vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Di Lặc, Văn Thù gì đó, hoặc là những vị A-la-hán à trong cái lịch sử của Phật

[8:10]giáo mà chúng ta không gặp mặt, những tuồng không cụ thể lắm. Nhưng mà khi mình tin được, mình cảm nhận được thì mình đều có gởi gắm cái lòng tôn kính. Nhưng mà tại sao à chúng ta lại tôn kính? Tại sao chúng ta có thể khởi được lòng tôn kính? Bởi vì sao, sư Hải? Mô Phật, vì ta hiểu được những cái cái đạo đức, những cái nét tôn kính nơi các ngài đã nơi sự giác ngộ của các ngài và cái cái lòng vị tha của các ngài đã đem đến ích lợi cho tất cả chúng sanh. Cám ơn sư.

[8:53]Đây là cái hiểu biết, do hiểu được Phật mình mới kính Phật. Thật ra hình ảnh của Đức Phật á có cái gì vừa bình thường mà vừa cao cả. Cái bình thường á chứng tỏ rằng Đức Phật là một con người có thật trong lịch sử chứ không có tính thần thoại, từ ở trên trời hiện xuống đầy hào quang. Nhưng mà cái cao cả của Đức Phật nằm ở cái nội tâm, nằm ở tư cách, mà chỉ có những con người có trí tuệ mới cảm nhận được điều đó. Chúng ta thấy đọc lại lịch sử Đức Phật á, cũng là một Đức Phật đó, nhưng mà bao nhiêu người là tôn kính nhưng cũng bao nhiêu người là chống đối. Vì sao? Vì những người mà tôn kính á, họ vừa có duyên mà vừa có cái lương tâm

[9:48]biết phân biệt phải trái, tìm thấy được cái hay cao cả của Đức Phật. Còn những người chống đối, cũng cái con người của Đức Phật như vậy, thế mà họ bị cái gì che lấp, họ không nhìn ra được những điểm hay của Đức Phật. Và những cái hay của bậc Thánh á thì chúng ta có nhiều cái để phân tích, nhưng mà đây là những cái tiêu biểu, chúng ta nói ra những cái tiêu biểu. Là ừm nói cái cao nhất á là cái tâm giải thoát, tâm thanh tịnh, tâm ở trong cái định á. Vì chúng ta là kẻ phàm phu, ngày tối suy nghĩ lăng xăng, đối trước mọi cảnh của cuộc đời, tâm chúng ta bị biến động, bị chao đảo, bị phiền muộn, mà tâm của một bậc Thánh đó không bị những cái đó.

[10:40]Nhưng mà nếu chúng ta nói rằng à, không bị phiền muộn, chao đảo, xao động, vọng tưởng như chúng ta, chúng ta vẫn không cảm nhận được cái hay để chúng ta kính trọng. Cho nên đây là cái chỗ mà Đại thừa phải bổ khuyết của Nguyên Thủy là vậy. Nếu nói rằng à, tâm một vị Thánh tự tại thoát khỏi mọi xao động, điên đảo, không có phiền muộn, mình nghe mình cũng không hiểu gì hết trơn, không biết hay chỗ nào. Mà cái chỗ này làm sao cảm nhận được? Khi mà chúng ta chưa đạt được điều đó, nhưng làm sao chúng ta cảm nhận được cái đó là cái hay? Cô Thúy nhấp nhổm chân tính nói trả lời không? Dạ. Đưa cái micro coi.

[11:21]Thưa thầy, cái hay là tại vì à mình không thể làm được như các bậc Thánh, với chư Phật, chư Tổ cho nên mình phải tôn kính. A Di Đà Phật. Không đơn giản như vậy đâu. Mình cảm nhận được cái vĩ đại của một nội tâm bất động trước mọi cảnh. Cái tâm thanh tịnh đó nó không tướng, nó trùm phủ, nó thẩm thấu trong từng những cái nhỏ nhất mà phủ trùm những cái gì lớn nhất. Cái tự tại đó thì không có dùng lời để diễn tả hết được. Nó tùy theo cái sức hiểu của chúng ta khi mà chúng ta đọc những bản kinh Nguyên Thủy hoặc Đại thừa đó, và chúng ta cảm nhận được cái vĩ đại của một cái nội tâm an định bất động tuyệt đối đó.

[12:04]Chứ còn mà dùng cái ngôn từ thì chúng ta không cảm nhận được cái hay hết, chỉ biết hay hơi hơi vậy thôi. À, nói mình phiền muộn ổng không phiền, mình suy nghĩ ổng không suy nghĩ gì hết, thì vẫn không có cái gì hay. Nhưng chỉ có người trí đó, cùng cái câu nói là không phiền muộn, không vọng tưởng, thoát hết mọi tâm thức, tâm đạt được sự an định, những người trí họ nghe câu này thì họ hiểu được kiểu khác. Họ hiểu được cái phủ trùm mênh mông của cái tâm đó mà cái thẩm thấu trong từng những cái nhỏ nhất, từng trong tâm niệm của tất cả chúng sinh. Cái định nó như vậy á. Nó phủ trùm Pháp giới nhưng mà nó lại đi sâu vào

[12:41]trong tâm niệm vi tế nhất của chúng sinh. Thì những cái điều đó thì chỉ có người trí cảm nhận được. Và khi họ cảm nhận được điều đó thì họ mới thấy rằng cái an định đó nó quá vĩ đại, nó không có bình thường đơn giản. Cho nên nhiều khi có những bản kinh Phật không muốn tô vẽ, ngài nói đơn giản thôi, mà vì cái đơn giản đó mà chúng ta không hiểu thì chúng ta không khởi được cái lòng kính trọng. Cho nên đây chỉ có người trí mới hiểu được. Hoặc là chúng ta nói tới cái lòng từ bi của chư Phật. Bây giờ chúng ta cứ thử so sánh coi, là ví dụ như mình là một người bình thường, mình không phải người tu đi, mình là người đời,

[13:22]cũng lành lặn, hôm nào đó mình đi trên đường xa, mình hết tiền, hết tiền rồi cái mình bị khát nước và đói bụng, mà lúc đó mình không biết làm sao để mà có tiền xe hoặc có ăn để đi tiếp. Thì lúc đó mình vào cái nhà mình xin đỡ, xin đỡ thì người ta trả lời sao? Người ta trả lời là: “Tay chân còn lành lặn, ráng đi làm mà ăn, đừng đi xin, nhục nhã lắm.” Cái mình phải quay ra chứ trả lời sao giờ? Chẳng lẽ nói: “Tôi lỡ hết tiền, có chuyện gì bất ngờ lỡ hết tiền”? Cũng không trả lời được. Nghĩa là mình đi xin luôn năm nhà, chắc đời trước cũng quở ai đồ ăn xin á, thành thử bây giờ phải đi xin luôn năm nhà, không ai cho.

[14:12]Nhưng rồi mình gặp một người nào đó họ nhìn mình với cặp mắt thương cảm, họ thông cảm, họ không phê phán trên cái suy nghĩ thường tình của cuộc đời là cái người lành lặn mà không chịu làm, mà họ thông cảm, họ có cái lắng tâm họ hiểu mình. Họ nói: “Có khi người này trong cái hoàn cảnh bế tắc chứ không phải là như vậy.” Và họ thương mình, họ giúp đỡ, họ mời mình vào uống nước, ăn cơm, đối xử tử tế rồi cho tiền xe đi về nữa. Thì với một con người như vậy, lòng mình mình nghĩ sao về họ? Mà cho mình ăn, cho tiền xe về với lòng thương mà nói chuyện đàng hoàng, lịch sự thì người đó mình nghĩ sao? Lúc đó dám kêu quỳ xuống lạy, em lạy cũng lạy liền phải không?

[14:51]Con người quá hay đi! Ngoài cái mà giúp mình trong cơn bức ngặt mà có cái tư cách quá đặc biệt, không có phê phán người ta một cách nông nổi, mà đối xử bằng lòng thương và sự thông cảm. Tình thương yêu và sự thông cảm nó đi chung với nhau á. Có thương nhau mình mới lắng tâm để thông cảm cái hoàn cảnh của người khác, nên có lòng thương yêu và có sự thông cảm. Đó, một hình ảnh, một cái rất nhỏ như vậy thôi, cũng đủ làm mình cảm động và nhớ ơn người đó suốt đời. Còn ở đây, lòng từ bi của chư Phật thì triệu triệu lần, tỷ tỷ lần hơn đó nữa. Cho nên nếu mà chúng ta có duyên trực tiếp được gặp Phật thì cái tư cách của ngài trong đời sống cũng như trong vô lượng kiếp,

[15:35]cái ân nghĩa, cái lòng thương cảm, sự độ lượng của ngài thì chúng ta chỉ có biết cúi xuống, quỳ đảnh lễ với trọn tấm lòng tôn kính. Những cái lòng thương yêu của ngài đối với chúng sinh trong vô lượng kiếp mà ngài tích lũy bởi trái tim và hành động, nó vô biên vô lượng không thể tính kể được. Cho nên cái tính cách cao quý của bậc Thánh thì nói muôn đời không hết. Hoặc là cái bậc chứng ngộ khi đạt được cái trí tuệ, đạt được thần thông thì bao nhiêu điều mầu nhiệm còn dễ sợ nữa. Cho nên hôm nay những điều đó thì chúng ta gợi ý nói với nhau thôi chứ không phải mình phân tích trong cái bài học hôm nay.

[16:21]Đó, khi làm bài thì quý sư có thể phân tích tiếp, vì những điều đó quá mênh mông đó. Mà lòng tôn kính Phật thì phải nói là nó là nền tảng của mọi cái tác ý cho sự tu hành. Không có cái tác ý về lòng tôn kính Phật thì đường tu hành chúng ta không tiến bộ được. Có những người nhiều khi họ có cái tính chất tốt lắm, ví dụ như thông minh, à có ý chí, biết phải trái, mộ đạo, tu hành, nhưng mà đôi khi không tiến đạo được, hoặc là vẫn có những lúc nào đó họ vấp ngã. Nếu mình trách họ đó, trên cái việc làm à nói tại sao tu hoài không tiến, cứ rề rề hoài, hoặc là tại sao họ vấp ngã, vân vân, mình đứng đó mình trách họ vô ích.

[17:10]Chỉ có cái tìm được nguyên nhân, mà có khi chúng ta tìm cái nguyên nhân là ở chỗ người này ít khởi lòng tôn kính Phật. Nhiều khi chạy trên những giáo lý gì khác thôi, mà cái pháp môn họ tu đôi khi nó đưa đến một cái sự hơi ngạo mạn. Tôi ví dụ điều này: có một cái tông phái, vì để tránh mất lòng cho nên tôi không nói tông phái nào. Khi một người tín đồ đến á thì ông thầy ổng dạy thế này: “Con hãy tự tin con là Phật, không tìm Phật bên ngoài.” Nghe có lý không? Nhiều khi cũng có lý lắm. Mới đầu cái người đệ tử: “Ủa, mình Phật đâu mình không thấy? Thấy sao mình cũng điên đảo, si mê?” Mà ông thầy cứ nói hoài à:

[17:53]“Con phải tin chính con là Phật, không có Phật bên ngoài.” Nghe ổng ám thị riết cái lần lần mình tin mình là Phật. Bắt đầu từ lúc mà khởi tin mình là Phật rồi thì cái ngã mình nằm ở đâu? Ngã mình nằm ở đâu? Nó nằm ở trên mây á. Cái đó lòng tự kiêu á là nó xuất hiện khủng khiếp, không thể nào tưởng tượng được. Mà đó là do cái lỗi của ông thầy, ổng đem một cái giáo lý rất là kỳ lạ. Chính mình là Phật, nên cái chữ chính mình là Phật là một điều rất nguy hiểm, đáng sợ. Và do cái tông môn nó đi theo con đường đó nên như hôm trước tôi đã nói cái công thức á, hễ cái kiêu mạn xuất hiện thì cái gì nó đi theo? Ai nhớ?

[18:33]Ừ, Sư Tiến? Đúng, cái ô nhiễm đi theo. Hễ cái kiêu mạn xuất hiện thì cái ô nhiễm nó đi theo. Cho nên từ khi cái kiêu mạn, cái tác ý kiêu mạn cho mình là Phật nó xuất hiện thì cái ô nhiễm nó kéo tới. Ô nhiễm thì nó có tới năm cái lận. Năm cái, không biết có ai nhớ không? Thứ nhất là tham ái, thứ hai tham dục, thứ ba sân hận, thứ tư là tham lam vật chất và thứ năm là chú trọng hình thức. Đó là những cái của nhiễm ô nó xuất hiện. Thì những cái này nó xuất hiện mà bắt đầu họ có những lý luận. Khi họ bị nhiễm ô rồi đó họ không giật mình nhìn lại để mà thấy mình đang đi xuống mà lại dùng một cái lý thuyết để binh vực cho cái nhiễm ô của mình.

[19:24]Làm ví dụ như có người nói rằng à như vậy là cấu nhiễm như vậy những cái điều biểu hiện như vậy là cấu nhiễm thì ông thầy ổng trả lời là con phải nhớ là trong cái Phật tánh không có cấu, không có tịnh. Làm sao làm cái việc cấu nhiễm mà vẫn không cấu nhiễm, tâm mình vẫn không thấy phân biệt cấu hay tịnh gì hết thì đó mới là đúng. Thế là thầy trò cứ kéo nhau đi tuốt luốt hết luôn, không còn dính líu gì nữa. Thì con với sư cô vậy, tu hành cũng rất là tốt, cũng rất là trí tuệ cho đến khi gặp cái tông phái đó. Gặp cái tông phái đó nghe cái chữ mà mình là Phật, tự tin mình là Phật, đừng có Phật bên ngoài

[20:10]rồi bắt đầu đụng những chuyện cấu nhiễm thì ông thầy ổng lại nói: "Không cấu không tịnh, đừng phân biệt cấu tịnh." Rồi xúm nhau tuốt luốt làm đủ thứ chuyện trên đời hết trơn. Chúng ta thấy cái nguy hiểm của nó như vậy. Còn cái người mà lúc nào cũng tác ý sự khiêm tốn, thấy mình nhỏ nhoi như một hạt cát đối với những cái vĩ đại của Phật, của chư vị A La Hán, Bồ Tát thì người ta vậy đó mà tiếp tục giữ vững được cái chân chánh trong sự tu hành. Cho nên tông phái trong đạo Phật thì nhiều, nhưng mà có một điều tôi khuyên quý sư khi mà chọn lựa tông phái á thì coi coi cái sự giải thích của họ có đưa mình đến sự khiêm tốn hay không?

[20:53]Chứ cái giải thích nào nghe cũng mê hết trơn á. Bất cứ tông phái nào cũng có những lối giải thích rất là cao mà nghe cũng có lý lắm. Khi mình chưa đủ trí tuệ của một bậc chứng ngộ thì mình nghe họ nói sao ông nào nói cũng hay hết. Nhưng bây giờ đây là một cái tiêu chuẩn đây là tiêu chuẩn mà chúng ta có thể chọn lựa là cái lý luận nào mà làm sao mình càng tiếp nhận nó thì tâm mình càng trở nên khiêm tốn, mình càng cảm thấy mình nhỏ bé và cố gắng tu hành, nhỏ bé cố gắng tu hành vươn tới, càng tôn kính được các bậc thánh thì tác ý đó là tốt. Và cái đầu tiên á khi mà mình hiểu được điều này nữa thì cái tôn kính Phật này biểu hiện qua những hành vi nào?

[21:43]Cái lòng tôn kính Phật nè.

[21:47]Cô gì đó nè, ngồi đầu bàn. À đó đó. Lòng tôn kính Phật là biểu lộ bằng những hành vi nào á? Dạ,

[21:57]bạch thầy, hôm nay con không có học rồi con... Nói gì kỳ vậy? Tôn kính Phật gì mà không chịu học? Có nhưng mấy ngày trước con không có nghe thầy giảng rồi con... Thì đâu cần, thì đâu cần là phải đợi nghe. Ngay đây thôi. Ngay đây mình vẫn phải có những cái suy nghĩ chứ. Dạ, thưa thầy, như lòng tôn kính Phật là những giáo pháp của ngài đưa... Không, phải biểu hiện bằng những hành vi nào? Cái nãy là nói tâm, bây giờ nói biểu hiện trên hành vi. Con chỉ biết là những giáo pháp của ngài mà đưa ra thì tụi con nương theo đó để tụng hằng ngày, đó là cung kính Ngài. Thôi đưa cô sau kia nữa đi. Cô ngồi giữa sau có mắt kiếng á.

[22:42]Nhìn cô bồ đẹp trai đó, đứng lên trả lời coi. Mô Phật, a bạch thầy, lòng tôn kính Phật... Ừm, làm gì để mà bày tỏ lòng tôn kính Phật? Mô Phật. Theo con á thì trước là sự lễ lạy, sau nữa là tôn trọng các a quý chư sư, quý chư ni, sau nữa là vâng theo những cái hạnh của Đức Phật đã giảng dạy. À, cảm ơn cô. Mô Phật. Đó, cái căn bản là lễ kính đó. Tại vì mình nói là làm theo lời dạy của Phật thì đó là lòng tôn kính Phật, đó là đúng. Nhưng mà nếu không có cái hạnh căn bản, cái sự lễ kính, mình không đủ sức mạnh để làm theo lời dạy của Phật đâu. Nó thuộc về sức mạnh tinh thần, không phải dễ làm theo

[23:34]lời dạy của Phật nếu mình chưa có sức mạnh tinh thần. Mà lòng tôn kính Phật và cái hành vi lễ lạy đó làm cho mình có công đức, có sức mạnh tinh thần rồi mình muốn làm được gì đó thì sau đó mới làm nổi. Cho nên coi vậy đó, nghĩa là dù mình tu có pháp môn nào cao siêu tới đâu thì tu nhưng cái mà lễ bái Phật hằng ngày không nên thiếu. Dù cho mình tu cho tới Hòa thượng hay Đại lão Hòa thượng gì thì suốt một đời mình lạy Phật vẫn chưa bao giờ đủ, chưa bao giờ đủ. Mình có chết 10 kiếp đem cái thân này mà đốt 10 lần để cúng dường Phật cũng chưa bao giờ đủ để nói là kính trọng Phật, huống hồ là cái mình lễ bái, lễ bái được tỷ mới tu thì mình

[24:19]siêng năng mình lạy được chừng 5 năm, ai siêng thì ráng lạy được 10 năm, sau đó bắt đầu thấy công đức đủ thôi nghỉ, giờ tới phiên đệ tử mình lạy mình khỏi lạy nữa. Coi chừng, tới lúc phước hết có chuyện xảy ra đó. Cho nên đây là điều mà quý sư, quý cô để ý, tới khi mình già mòn mỏi rồi nhưng mà còn chút sức lực nào cũng đừng quên việc lễ bái Phật, lễ bái mà với cái lòng rất là tôn kính. Vì mình làm như hết kiếp này lễ bái Phật vẫn chưa đủ đâu, chưa đủ đâu, còn nhiều kiếp lễ bái Phật nữa. Đó, cho nên phải nghĩ như vậy mà ráng siêng năng tinh tấn. Và khi mình ngồi thiền cũng vậy, khi mình ngồi bắt chân lên ngồi thiền

[24:59]thì cái tác ý đầu tiên á là khởi lòng tôn kính Phật trước. Mà cái lòng tôn kính nó là cái gì? Nó thuộc về tình cảm rồi mà như chúng ta đã nói, hễ tình cảm mình không giải thích được, chỉ có tự nó làm được thôi. Đó, mình chỉ tự ám thị mình, tự nhắc nhở lòng mình là khởi lòng tôn kính Phật vô biên như vậy, dù có phải bỏ thân mạng này cũng không tiếc. Cái tác ý thứ hai là lòng từ bi với chúng sinh. Những công hạnh này là phải tự tác ý nha, không có tự nhiên nó khởi được đâu. Thứ hai là lòng từ bi với chúng sinh là trải lòng thương yêu chúng sinh vô hạn, nghĩa là mình tác ý, mình tưởng tượng, mình tự nhủ, mình ám thị lấy mình để cho lòng từ bi nó xuất hiện.

[25:42]Nhờ cái công đức trước đó là lòng tôn kính Phật tạo cái nhân, tạo cái đà, sau này mình mới khởi lòng từ bi với chúng sinh được. Chứ trước đây mà không có lòng tôn kính Phật, mình cũng rất khó khởi lòng từ bi, nó có cái bước thứ nhất nó hỗ trợ bước thứ hai. Thì cái tác ý này á chúng ta tu nhiều lúc à hoặc á là khi mình lễ Phật, khi lễ Phật xong thì mình phát nguyện, mình nguyện là đời đời à mình trải lòng thương yêu khắp tất cả chúng sinh, đó luôn là chịu khó, chịu khổ làm bất cứ điều gì để làm sao đem lại đạo đức, đem lại hạnh phúc, ừ đem lại sự giải thoát cho tất cả chúng sinh. Đó là lời mình phát nguyện mỗi khi mình lễ bái Phật.

[26:24]Và khi mình ngồi thiền cũng vậy. Đầu tiên là mình tác ý lòng tôn kính Phật, kế đó mình tác ý là rải lòng thương đến tất cả chúng sinh, đó. Thì đây là cái lòng từ bi thương yêu chúng sinh á là cái tính chất không bao giờ thiếu nơi tâm hồn của một vị thánh. Hễ mà gọi là vị thánh thì cái biểu hiện rõ rệt nhất phải là lòng từ bi. Như trên lịch sử, trên tôn giáo thì chúng ta không nói, trên tôn giáo thì mỗi tôn giáo đều có những vị thánh của họ. Nhưng mà trên lịch sử mà được nhân loại công nhận thì Ấn Độ có hai vị thánh là ai với ai?

[27:04]Ai với ai Sư Hải? Mô Phật, theo con biết thì thứ nhất là Đức Phật. Cận đại sau này á thì có ngài Gandhi được đúng người ta nhắc đến. Nói đến tôn giáo á thì tôn giáo nào cũng có rất nhiều vị thánh mà chỉ có tôn giáo đó mới công nhận. Như bên Thiên Chúa vậy, họ cũng vô số những bậc thánh. Ở trong đạo Phật mình không biết bao nhiêu là vị thiền sư đắc đạo phải không? Nhưng mà trên lịch sử, những người không tôn giáo họ vẫn phải công nhận thì Ấn Độ sản sinh được hai vị thánh: một là Phật Thích Ca và hai là Thánh Gandhi. Phật Thích Ca thì thôi mình miễn bàn. Nhưng mà Thánh Gandhi, tại sao được người ta tôn xưng là bậc thánh? Tại sao?

[27:48]Ai biết? Cũng vì lòng thương yêu của ông ta. Lối đấu tranh bất bạo động để giành độc lập cho Ấn Độ. Kẻ thù của Ấn Độ lúc đó là người Anh đang cai trị Ấn Độ. Vậy mà khi Anh đang lâm nguy, ông lại vận động thanh niên Ấn Độ đi sang Anh để đi lính giùm cho Anh. Nghĩa là đối với ông không có kẻ thù nha. Nghĩa là khi ông đấu tranh chống người Anh là vì lúc đó người Ấn đang bị ức hiếp, cho nên ông phải đấu tranh. Nhưng những khi mà người Anh gặp khó khăn thì ông vẫn thương yêu, vẫn giúp đỡ họ. Cho nên cái hành vi của ông là những người mà đứng ở phía đối nghịch ông vẫn phải cảm phục ông. Cái lòng thương yêu mênh mông như vậy không có kẻ thù trong cuộc đời của mình.

[28:35]Mặc dầu nơi hành vi thì rất quyết liệt, nơi hành vi rất quyết liệt để bênh vực lẽ phải, bênh vực những người cô thế. Nhưng mà chúng ta có cái tật như tất cả những nhà chính trị đều bị á, hễ binh bên này thì trở thành kẻ thù căm hờn bên kia. Mà Thánh Gandhi làm một điều mà xưa nay không ai làm được á. Binh bên này mà vẫn thương yêu cái bên đối nghịch lại. Chuyện không ai làm được. Cho nên, khi người Ấn Độ gọi Gandhi là thánh thì cả nhân loại cũng phải gọi ngài là thánh, công nhận cái tư cách quá vĩ đại bởi cái lòng thương yêu đó. Cho nên, khi mà chúng ta đi trên con đường giải thoát, tức là con đường làm thánh á, mặc dầu mình không có nhắc cái chữ

[29:18]làm thánh nhiều vì nhắc nhiều cái chữ làm thánh nó sinh cái tự kiêu. Nhưng mà một tính chất không thể thiếu của sự giải thoát giác ngộ đó là lòng từ bi thương yêu chúng sinh. Chúng ta phải huân tập nó một cách sâu dày, vững chắc hết kiếp này sang những kiếp khác. Với con cái điều nữa mặc dù có thể là chúng ta không làm được điều gì cho chúng sinh nhiều, không được làm gì vì chúng ta không có cái duyên, có phước. Đôi khi chúng ta thương yêu chúng sinh cũng muốn đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh nhưng mà vì những cái phước đời trước mình ít quá, mình nói chẳng ai thèm nghe, muốn làm chuyện gì cũng chả làm được vân vân.

[29:55]Nhưng mà cái tâm từ bi vẫn phải được nuôi dưỡng và phát triển để cho nó thành cái nhân cho những đời sau. Đồng thời, trong cái hiện tại nó xóa được cái tâm ích kỷ của mình. Mà cái ích kỷ thì nó đưa cái gì tới, ai nhớ? Ác độc, đúng. Đó, coi vậy cũng còn nhớ đó. Hễ ích kỷ xuất hiện thì nó kéo cái ác độc tới. Mà ác độc nó tới thì mình đọa rất nặng. Đọa vào súc sinh, ngạ quỷ vào nhiều đời không có ngóc đầu lên được. Đó là tác ý thứ hai. Cái tác ý thứ ba là đối với mình, bản thân mình thì là tác ý tâm khiêm hạ. Mình tôn kính Phật đối với chư thánh nè, thương yêu đối với chúng sinh nè, quay trở lại với mình là

[30:39]cái tâm khiêm tốn là luôn luôn thấy mình nhỏ bé, thấy mình dở, kém. Đó.

[30:49]Mà tại sao mình thấy mình nhỏ bé và dở kém? Vì sao? À, Sư Tiến hả? Mô Phật, kính bạch thầy, tại vì mình thấy các bậc mà... chẳng hạn như các bậc thánh còn trên mình nữa, cho nên mình cảm nhận điều đó thì mình có tánh khiêm hạ. Đúng, đúng. Khoan, để trả lời tiếp: nhưng mà gặp những chúng sinh chung quanh họ thấp hơn mình thì sao? Dạ mình cũng vẫn là tôn kính họ vậy. Mình không dám chê họ. Không dám chê nhưng mà... Đó, khi mình thấy mình nhỏ bé, kém dở là vì mình so sánh mình với với những bậc thánh, so với Phật, với Bồ Tát thì đúng các ngài là một đại dương thì mình chưa là một giọt nước nữa, các ngài là một sa mạc thì mình chưa là một hạt cát.

[31:37]Nhưng mà khi mình so sánh với một vài người chung quanh, có khi mình thấy mình hơn thì giờ phải làm sao đây? Phải sao đây Sư Vinh? Lườm mắt hả? Sao Sư Vinh? Mô Phật, bạch thầy, khi mà mình thấy mình hơn những người chung quanh mình thì mình phải tìm cách làm sao trợ duyên cho người ta là có thể là phát triển bằng mình hoặc hơn mình chứ không nên có cái chê đè hoặc là là hiếp người hoặc là cho mình hơn. Cảm ơn sư. À sư nói thì hơi kỹ, ở đây mình chỉ cần cái tác ý thôi chứ không phải là ai mà mình cũng kêu là giúp cho người ta có thể tiến lên được vì có những người không có duyên. Ví dụ như là mình ở chùa này nhưng mình nhìn qua tuốt cái cốc bên

[32:26]kia mình thấy người ta tu không tu mà học không học, rất kém dở mà mình lại kêu người ta học người ta chửi, ví dụ vậy. Thành thử có những trường hợp như vậy là mình không có tác động gì tới người ta được thì ở đây chỉ cần cái tác ý nơi tâm mình. Là mình so sánh mình với chư thánh thì là mình một hạt bụi rồi, không nói ha, nhưng mình so sánh với những chúng sinh chung quanh mình thì phải có cái tác ý là luôn luôn cầu mong cho mọi người giỏi hơn mình. Chỉ tác ý vậy thôi. Còn ai có duyên thì mình mới hỗ trợ ví dụ như Sư Hải vậy đó là tốt á, lúc nào cũng trợ duyên cho huynh đệ tu hành là tốt. Đó là ba cái tác ý đó là phải nuôi dưỡng, phải huân tập suốt đời mình.

[33:04]Ba cái này mà thiếu là cái việc tu hành của mình bắt đầu có vấp váp liền á dù không biết mấy sư tu pháp môn cỡ nào. Dù tối tối thượng thừa hay sáng sáng thượng thừa gì không biết, mà hễ ba cái tác ý này mà thiếu thì có tối thượng thừa cũng coi chừng sáng thượng thừa luôn. Thế nào cũng có khuyết lở ở trong sự tu hành của mình. Nên cẩn thận ba cái tác ý này phải giữ gìn ghê gớm lắm. Đó là nền tảng của mọi công hạnh về sau này. Tức là mình nói là ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh thì bắt đầu bằng ba cái tác ý này trước. Thời đó đó, Đức Phật ngài biết cái tác ý mà lòng tôn kính Phật rất quan trọng nên có những bài kinh ngài cũng gợi ý lắm để cho chúng

[33:43]sinh khởi được cái tâm đó nhưng mà ngài không dám nói nhiều. Ngài nói nhiều thì người ta sẽ trở lại công kích ngài là buộc đệ tử mình phải tôn kính mình nên nó phản tác dụng. Mà không có nói điều này đó thì chúng sinh không biết mà tác ý. Cho nên những bài kinh ngài ngài nói nhẹ nhẹ, khéo khéo, nhẹ nhẹ, khéo khéo để cho mình suy luận thêm mà tác ý thêm. Còn bây giờ thì mình có quyền nói điều đó một cách mạnh dạn, thẳng thắn là lòng tôn kính Phật rất là quan trọng. Bây giờ phần thứ hai là những cái tâm hạnh chuyển tiếp. Nãy là cơ bản đạo đức, bây giờ tới trung cấp đạo đức.

[34:21]Từ đây cho tới già đó, nhớ ba cái đó mình lúc nào cũng phải giữ gìn kỹ lưỡng, đừng để nó khuyết lở nha. Rồi bắt đầu tới những cái công hạnh chuyển tiếp. Những tâm hạnh chuyển tiếp: Phần một là quyết tâm giữ sự trong sạch. Là cái tác ý gọi là tác ý thứ tư đó: quyết tâm giữ sự trong sạch. Đáng lẽ tôi dùng chữ này là giới. Ừ tác ý giữ giới nhưng mà tôi không dùng chữ giữ giới vì sự thật á cái hình thức giới luật á nó có nhiều điều nó cũng lặt vặt và hình thức quá đi, nhất là vì Phật chế ra trong cái khung cảnh của Ấn Độ thời đó mà đến cái thời mình nhiều cái nó không hết hợp rồi. Nhưng mà cái bản chất á, cái ý nghĩa chính của giới là sự trong sạch.

[35:07]Mà sự trong sạch là đỉnh cao đó của đạo đức đó. Mình nói chữ đỉnh cao thì hơi quá nhưng mà nó là một giai đoạn rất cao. Nên có người mình thấy họ rất đạo đức, rất tốt nha, cũng giàu lòng quảng đại, thương yêu mọi người, bố thí người này, giúp đỡ người kia, khiêm tốn đủ thứ á mà đều chưa trong sạch được. Nên cái người giữ được trong sạch là ở mức độ cao hơn. Đầu tiên mà chúng ta học, hồi xưa lúc mà mình học á, học cái bài Sa-môn quả mà kể lại cái chuyện khi mà vua A-xà-thế hỏi Phật thế nào là lợi ích thiết thực hiện tại của cái hạnh Sa-môn á thì Đức Phật mới đặt một cái vấn đề là có một người hầu cận đại vương,

[35:51]ngày đêm lo cho đại vương, lúc nào cũng theo dõi nét mặt của đại vương để làm vừa lòng đại vương. Bây giờ thì chợt người đó khởi tâm xuất gia, thấy cuộc đời này là vô thường, ràng buộc và xuất gia. Vì đã xuất gia sống trọn vẹn với giới luật, nghĩa là với tác ý đúng, chân chính trong chánh pháp với lòng thương tưởng chúng sinh thì bây giờ đại vương đối với người đó sao? Có còn xem người đó là người hầu của mình nữa hay không? Thì vua A-xà-thế ổng mới tự ngẫm tự ổng trả lời, không ai bắt á. Ổng nói: "Dạ thưa không, con sẽ cung kính vị đó, sẽ cúng dường vị đó và bảo vệ vị đó một cách đúng theo pháp luật." Thì thấy không?

[36:33]Từ một cái người hầu cận là cái phước rất thấp, nhưng mà hễ vị đó giữ được sự trong sạch thì chính ông vua phải công nhận cái người này cao hơn mình liền. Mặc dù về cái phước thì ông vua vượt hơn hẳn một cái người dân bình thường, phải không? Ví dụ như có khi đời trước á, ông này ít bố thí hơn vua, ông vua bố thí quá nhiều ông mới lên làm vua được. Nên về cái phước mà giúp đỡ chúng sinh á, thì cái ông hầu cận mà đi xuất gia này thua ông vua hẳn. Nhưng mà nếu ổng ráng lết lết ra ổng giữ được sự trong sạch, tự nhiên trên cái mức độ so sánh chính vua A-xà-thế phải công nhận là lúc đó ổng cao hơn vua, vua phải tôn kính ổng.

[37:08]Và đây là một cái nhận định khách quan, hợp với lương tâm con người, chứ không có ai gán ép ai hết trơn á, không ai gán ép ai hết. Và chúng ta công nhận, á? Và bây giờ cái lương tâm mình mình cũng nhìn điều đó nữa. Ví dụ như bây giờ chúng ta nhìn một người đời, ông đó ổng có vợ có con, à sống đầy đủ, sung túc, thọ hưởng mọi cái khoái lạc của cuộc đời, và ổng là người rất tốt, có tâm đạo, biết cúng dường, biết bố thí, à không kiêu căng, siêng năng học hỏi giáo lý, tới ngày thọ Bát Quan Trai thì ráng đi thọ, vân vân. Cái người đó là người quá hay phải không? Cái người vừa có phước mà vừa biết tu hành, ha?

[37:50]Nhưng rồi mình so sánh với một ông sư, quần áo thì đơn giản, chất phác, sống cuộc đời nghèo nàn, không có gì, nhưng mà một ông sư này thì giữ sự trong sạch rất kỹ. Thì qua hai hình ảnh đó mình nể phục ai hơn? Nhìn đi nhìn lại rồi mình vẫn có một cái gì đó mình nể cái người sống cuộc đời đạm bạc, trong sạch hơn, mặc dầu cái người kia mình cũng rất là quý, vì cái phước của họ và cái hạnh của họ. Nhưng mà khi họ còn hưởng cái lạc thú cuộc đời, mình vẫn thấy họ đứng ở vị trí thấp hơn cái người mà giữ được sự trong sạch. Đúng không? Đúng không? Sư Sư Đạo? Công nhận không? Sư Đạo. Nhận định chưa kịp?

[38:34]Sư Đạo nhận định kịp chưa? Sao? Sư Hải á thầy ơi. Ờ, thôi Sư Hải đi.

[38:44]Sư Hải có nhận định giống như vậy không? Sư có thấy gì? Bạch thầy à xin thầy nhắc lại a Cái này thì cũng không phải là câu hỏi gì, là tôi muốn tìm sự đồng cảm với các sư, giống như cái bài kinh Sa-môn Quả là sự đồng cảm giữa quý sư với cái tâm trạng của vua A-xà-thế, tức là cái người xưa cách đây mấy ngàn năm và cái tâm trạng của mình ngày hôm nay. Tức là ngày xưa vậy, chính ông vua mới là uy quyền, phước đức tột bực, mà khiêm gặp một người sống cuộc đời đạm bạc, đơn giản nhưng mà trong sạch thì ổng cảm thấy người đó hơn ổng liền. Bây giờ mình so sánh với cái thời đại mình hôm nay, mình không nói vua chúa

[39:24]gì hết, mà mình nói với một cái người cư sĩ rất là giàu có, cũng tốt lắm, nhưng mà họ có hưởng những lạc thú của cuộc đời, có vợ, có con, có xem xi-nê, rồi đôi khi ăn mặn, vân vân, mặc dầu ổng rất tốt, rất bố thí, biết cúng dường, biết bố thí, học hỏi, vân vân, với một người tu hành nghèo nàn, ở một cái mái tranh vách lá, nhưng đời sống rất là trong sạch, đạo đức, chuẩn mực,

[40:15]thì hai người đó mà giữ được cái giới

[40:39]mà chư thánh đời đời chư thánh luôn luôn trân trọng quý hóa. Cái chỗ này nè, trong tất cả những bài kinh Nikaya, Đức Phật hay nhắc cái điểm này, là giữ được những cái giới mà bậc thánh ái kính, ái kính, tức là nói tới sự trong sạch. Nó là một tiêu chuẩn để làm thánh. Cho nên dù cái người đó họ có tốt, họ làm từ thiện cỡ nào, nhưng mà khi họ chưa đạt được sự trong sạch thì chưa gọi là thánh được. Hễ hễ gọi là thánh, thì phải giữ được những cái giới mà các bậc thánh đã từng ái kính, tức là sự trong sạch. Nhưng đây là cái bước tiến rất cao về tâm linh, nên tôi mới nói là ở cái trung cấp đạo đức á, ở mức độ cao mà khi nhờ ba

[41:21]cái tâm hạnh trước đó mình mới tác ý được cái tâm hạnh thứ tư này. Do đó, tôi chủ trương thế này, khi một người vào chùa xuất gia làm điệu, tập sự thì làm sao cái vị thầy ở trong chùa đó phải cho người này tu tập ba cái tâm hạnh trước, ba tâm hạnh trước đó, tôn kính Phật, từ bi và khiêm hạ trước. Tức là vị thầy đó phải có cái phương pháp vừa nhắc nhở cho người mới vào đó tu tập cái tâm đó và kiểm soát coi cái tâm họ tiến tới đâu rồi, thuần chưa, phát triển được nhiều chưa? Nên tôi nói phải có phương pháp nha. Thì cái phương pháp này tùy thì sau này ví dụ như nữa làm thầy thì Sư Hải, rồi Sư Đạo,

[42:00]Sư Trung, Sư Vinh gì đó, tự mình nghĩ ra những phương pháp gì đó mà để vừa hướng dẫn đệ tử mình phát triển ba cái tâm này và theo dõi nó tiến tới đâu rồi, thật hay giả nè. Thật hay giả, trong nội tâm nó thật hay giả. Rồi khi mà thấy ba tâm này tương đối vững thì bắt đầu mới cho thọ giới. Tại vì hễ nó là bước cao rồi, chứ còn không giữ không được. Rồi có những cái vị tu hành nhiều khi trong những năm đầu vì mới vào thì cái tâm khiêm hạ nó có, lúc mình mới làm điệu tâm mình khiêm hạ, mình biết kính trọng những bậc tôn túc, vân vân, nên nó thành cái phước. Thì lúc đó tác ý giữ được giới, giữ sự trong sạch.

[42:37]Nhưng đến khi lớn, khi mà lớn lên nhiều khi mình lơi lỏng, hoặc là do mình tiếp nhận một cái giáo lý sai lầm, cái giáo lý mà cho rằng chính mình là Phật, nên cái tâm kiêu mạn xuất hiện, thấy mình bằng như Phật vậy đó, và tâm khiêm hạ biến mất.

[43:04]Muốn giữ được cái thứ tư này thì ba cái trước giữ kỹ giùm một chút. Thì lúc đó mới tác ý tới cái thứ tư, là hằng đêm trước Phật cũng như trong lúc ngồi thiền, chúng ta tác ý là quyết tâm giữ sự trong sạch. Mà cái quyết tâm giữ sự trong sạch này đó là chúng ta sẽ bị thử thách suốt cuộc đời tu hành của mình. Vì những cái như lòng tôn kính Phật á mình làm không làm cũng không ai bắt lỗi, mình có khởi tâm từ bi hay không từ bi chúng sinh cũng không ai để ý, bắt đầu mình khiêm hạ mình tự cao quá thì người ta mới phê bình chút. Nhưng mà cái giữ sự trong sạch là cái luôn luôn mình bị thử thách suốt cuộc đời của mình.

[43:40]Bên tăng cũng như bên ni. Làm sao, Sư Đạo?

[43:46]Tôi nói đó, thế mình quyết tâm giữ sự trong sạch nè, là cái thứ tư nè, thì cái điều này ba cái trước á mình tác ý âm thầm được không được không ai biết á, nhưng mà bắt đầu bước vào cái thứ tư là cái mình sẽ bị thử thách suốt cuộc đời của mình. Nghĩa là làm sao? Ai hiểu được cái câu này? Sư Đạo trả lời trước á, rồi tới Huệ Huyền. Mô Phật, kính bạch thầy. Suốt cả một cuộc đời mình tu hành, quyết chí để giữ sự trong sạch mà mình phải bị thử thách luôn luôn. Đó là theo con hiểu thì chúng ta bị thử thách trước nhất là với cái vọng tâm của mình, mình tự chiến đấu với cái nghiệp lực của mình. Còn bên ngoài, chúng ta phải tự kềm chế những cái ngoại cảnh

[44:37]vì lúc nào nó cũng đến với chúng ta những cái điều phiền muộn. Không bên ngoài thì bên trong chúng ta cũng tự chế ngự tâm mình, cho nên nếu còn là một người đang tu thì lúc nào cũng phải chế ngự cho nên nó thử thách mình. Cảm ơn sư. Đưa xuống Huệ Huyền trả lời luôn. Cái sự thử thách suốt đời mình về cái sự trong sạch hiểu như thế nào? Theo con hiểu thì à nói tóm tắt là mình lúc nào cũng giữ cái tâm khiêm hạ, có nghĩa là đối xử với người Không phải, không phải, không phải. Ý tôi muốn nói là cái gì gọi là cái thử thách suốt trong cuộc đời tu hành của mình? Cái gì xảy ra cho mình mà gọi là thử thách,

[45:20]chứ không phải là tôi nói mình tác ý mình phải làm Những cái mà mình luôn gặp, đó là trong những cái mà à huynh đệ thường à nói những gì đó mà mình cho là trái ý với mình, không có như mình nghĩ, và những cái mà ngoại cảnh nó không có thuận theo như ý mình mong muốn và nó gặp những trướng ngại làm cho mình à cho là mình không tiến trên đường đạo hay là những cái lý tưởng nào đó mình đã chọn. Đó là những cái mà thử thách. Và muốn tiến qua những cái thử thách đó thì trước hết là mình có tâm khiêm hạ, có nghĩa lúc nào cũng coi mình là nhỏ nhoi. À có nghĩa là vẫn luôn tôn trọng người đó thì cái tâm kiêu căng và ngã mạn của mình nó không bao giờ trổi dậy.

[46:15]Đó là mình luôn giữ cái tâm trong sạch ở cái điểm đó thầy. Rồi, cảm ơn sư. Được rồi, tới Sư Tiến. Mô Phật, theo như con hiểu thì chẳng hạn như trong một tịnh xá hoặc là tất cả mọi người, chẳng hạn là người khác phạm giới, nhưng đối tâm mình có lòng thương xót hay không, giúp đỡ họ hay không, và khuyên thắng họ vượt lên hay không? Thấy con hiểu vậy. Cảm ơn sư. Ai nữa? Rồi, có người giơ tay gần dưới kia. Vô hấp dẫn à. Mô Phật, kính bạch thầy, thì con nghĩ như thế này. Huệ Thiền phải không? Muốn giữ được cái sự trong sạch Không phải, không phải. Tôi không nói muốn giữ sự trong sạch. Tôi muốn hỏi là cái gì gọi là sự thử thách sự trong sạch

[46:58]của mình trong suốt cuộc đời tu hành của mình đó? À có Sư ở đây?

[47:07]Mô Phật bạch Thầy. Cái thử thách của một người tu là có ba món chướng đạo: món thứ nhất là phiền não, thứ hai là nghiệp báo, thứ ba là oán chướng quả... mà người tu của chúng ta thường gặp. Nếu như mình gặp mà lấy sự lòng trong sạch của mình thì... thì mình phải lấy trí tuệ và tỉnh giác mọi phương diện và đối mặt với mọi người là tỉnh giác. Mô Phật bạch Thầy. Cảm ơn Sư. Rồi, tới ai đó giơ tay... Sư Trung hả?

[47:47]Mô Phật, kính bạch Thầy. Cái mà được gọi là thử thách trong cái vấn đề tu hành của mình, theo con hiểu thì cái đó là vấn đề sắc dục. Bởi vì theo trong cái oai nghi của sa di có nói thì trong những cái các thứ tình dục, duy có cái thói say mê sắc tốt là dữ hơn hết. Nhưng cũng may thay cho chúng ta thì bởi chỉ có một mình nó, chứ nếu mà có một cái thứ dục tình nào khác mà mạnh như cái cái dục tình mà say mê sắc tốt á thì chúng ta chắc khó có thể mà tu hành được. Có ai bổ sung gì nữa? Rồi, mời tới Sư Hải nè. Mô Phật, ở ở cái phần thứ tư này á thì khi Thầy nói đến vấn đề trong sạch á thì nó thể hiện ra rõ ràng ở ba chi thân khẩu ý của một người tu giữ giới.

[48:40]Và trong cái giới này thì nó có thể hiện ra cái hành tướng. Thành ra Đức Phật chế mỗi cái giới vậy á nó đều có một cái phạm vi để mà ngăn ngăn ngừa. Thì khi chúng ta thí dụ giữ cái giới sát sanh, thì nếu mà ở cái môi trường sát sanh mà chúng ta gặp cái thử thách đó mà chúng ta sát sanh gì đó, thì chúng ta đã không còn giữ được sự trong sạch. Hay là ở cái giới dâm dục mà có thử thách đến gặp một người nữ nào đó, họ đến mà mình không có thu thúc, vậy chúng ta không có giữ được cái tâm ý chúng ta, thì trước thử thách đó chúng ta đã thất bại. Thì con nghĩ là đó là một trong những thử thách, không riêng gì ở một cái mặt giới dâm,

[49:18]mà có thể nói là rất nhiều rất nhiều cái giới, mỗi cái giới đều thử thách chúng ta. Mô Phật. Cảm ơn Sư. Thì đó, Sư Trung với Sư Hải nói là đúng vấn đề đó. Là những cái ngoại cảnh mà nó làm cho mình động những tâm tham, tâm dâm, tâm sân. Mà những cái ngoại cảnh đó đó, thì trong đó đó, ví dụ nói cái giới sát sinh, coi vậy chứ nó cũng khó xảy ra lắm. Tại vì nó là do sự ác độc mà tới sát sinh. Người tu mình thì nói gì nói chứ cũng khó ai ác đến độ mà có thể giết người hay giết những con vật lớn phải không? Đó vậy. Nhưng mà riêng cái cái tham ái, tham dục, thì nãy Sư Trung nói trong giới nói là đúng đó.

[49:58]Cái thử thách khủng khiếp nhất của con người, cả tăng cũng như ni. Đây là cái vấn đề bản năng mà tạo hóa đã đặt sẵn nơi mỗi con người, nên nó là một chuyện gì rất bình thường, rất bình thường. Và đến nỗi rằng người ta xem nó là một bổn phận của con người sống mà để truyền giống nữa. Như tôi có nhớ cái câu chuyện khi mà tôi về em tôi nó mới kể. Tại em tôi nó học cái khóa gì mà thế đối ngoại gì đó, quan hệ đối ngoại gì đó, thì có cái phần học về luật pháp. Thì nó kể lại có cái ông giảng viên giảng về luật pháp, ổng có phân tích về cái điểm này. Ổng kể chuyện rằng bây giờ những người tu sĩ của các tôn

[50:41]giáo đó, ví dụ họ có quan hệ tình dục với người khác, thì luật pháp không bắt tội, vì đó là chuyện bình thường. Mà tội là tội ở trong tôn giáo họ, giáo hội họ xử gì đó xử, nhưng mà luật pháp không có xử chuyện đó. Và ổng kể ra những cái sự kiện có thật. Nghe lạ lùng lắm! Nghe rất là kỳ lạ. Em tôi nó kể lại, không biết chuyện có hay không nữa, mà không biết ổng căn cứ có lẽ chắc ổng cũng nói cũng không sai lắm, tại vì họ giảng dạy ở nhà trường thì họ phải có những chứng cứ thực. Nó nói như có chuyện có một ông đó là linh mục, nhưng mà lại ăn ở như vợ chồng với một ni cô Phật giáo, và hai người sống rất hạnh phúc.

[51:20]Nghĩa là ổng đến nhà thờ thì ổng làm linh mục, ổng về đó ổng ở với... chuyện rất hạnh phúc, mà chuyện đó nhà nước không nói tới. Tại vì nó là chuyện bình thường, và những đứa con sinh ra thì được quyền làm khai sinh bình thường vì nó vô tội. Nhưng mà trong đạo thì phê phán gì đó phê họ, không biết. Cho nên chúng ta thấy cái chuyện tham ái, tham dục trên cái phương diện của loài người, của xã hội học họ xem nó là bình thường, không ai phê phán hết. Nhưng mà người tu đi tìm cái sự giải thoát thì nó lại là vấn đề gọi là trở ngại nhất. Nên đây là chúng ta thấy nó khủng khiếp chỗ này: một cái gì rất bình thường mà lại là một cái gì rất là khủng khiếp.

[52:01]Ta bị mâu thuẫn với hai cái đó, mà nó nằm nơi trong con người mình, nó nằm trong từng tế bào, trong từng cái sợi dây thần kinh á, và nó nằm ở trong cái nghiệp lực từ quá khứ kéo lại nữa. Cho nên đây là cái sự thử thách suốt cuộc đời của con người. Nó theo sinh lý học á, thì đến cái tuổi con người ta suy thoái về nội tiết tố, như người nữ mà đến cái tuổi tắt kinh, người nam mà đến cái tuổi mà tinh hoàn bắt đầu thiểu năng, thì những cái tác động của nội tiết tố lên thần kinh não á để cho khởi cái tâm mà tham ái, tham dục thì bắt đầu nó mới bớt. Nhưng mà khi nó bớt thì mình cũng hết sức để tu rồi,

[52:40]mình cũng hết hơi rồi, ngồi thiền ngồi đồ cũng hết nổi rồi. Còn khi mình đang còn sức lực mạnh mẽ để có thể lễ Phật, ngồi thiền, tụng kinh đồ được thì lúc đó những cái kia nó cũng đang còn hoạt động rất mạnh, rất mạnh. Đây là chỗ mà chúng ta phải thấy, phải nhìn cho ra cái này, phải đối diện thẳng với nó, không được tránh né. Phải thấy nó là một cái bản năng luôn luôn nằm tồn tại trong từng cái thớ thịt của mình, mà chúng ta phải vượt qua. Cho nên ở đây mà không biết phương pháp thì không vượt qua nổi. Nhất là không có phước thì không vượt qua nổi. Tôi muốn dùng cái chữ phước là vậy đó. Vì nó khủng khiếp quá đi, mà tự sức của con người không đủ,

[53:19]không đủ vượt qua, vì nó nằm ở sau lưng mình, nó nằm nó là chính mình. Mình muốn vượt qua chính mình vượt không nổi, trừ khi mình có cái phước, chính cái phước đó nó hỗ trợ. Là sao? Nó hỗ trợ là làm sao? Là khi mà những tác động của nội tiết tố đó nó tác động lên não để tạo thành cái ý muốn, cái ý muốn cái tình cảm đối với một cái người khác phái, thì tự nó nó có một cái phước, cái phước đó lại xuất hiện một cái tác ý khác. Cái tác ý bằng một cái sức mạnh tinh thần, cái tác ý khác nó hóa giải được cái niệm kia, cái niệm mà do cơ thể đưa lên. Và cái niệm này nó do phước xuất hiện, nó hóa giải được, làm cho mình lúc đó tự nhiên mình

[54:00]vững tâm được, mình mạnh mẽ, mình cứng cỏi được đối trước những cái thử thách đó, đối trước những cái cám dỗ đó. Tôi nói ví dụ như là như ông Sư Đạo đi, ông sư đẹp trai nhất nhì chùa mình đi. Ngày nào đó thì đối diện với một cái người nữ, họ đến họ thấy quý Sư vừa có tâm hạnh tốt, hiền lành, đẹp trai, đạo đức rồi gì. Họ cứ rề rề rà rà hoài đến hỏi đạo, mới đầu hỏi đạo thôi, chưa hỏi gì khác. Thì chúng ta thấy cái lúc đó cái bản năng trong con người mình nó xuất hiện, đúng vậy không? Tự nhiên một cái người nữ tới tuổi dậy thì, họ hấp dẫn rồi đôi khi ở ngoài họ cũng giàu có nữa, họ sẵn sàng nuôi mình suốt cuộc đời.

[54:39]Nói chứ không hết cuộc đời đâu, ít bữa thôi, hết nợ rồi bắt đầu chửi nhau. Thì ví dụ như thấy như hứa hẹn đi, thấy về đó có một hạnh phúc chờ đón. Thì nếu mình thiếu phước á, trong tâm mình không khởi được cái tác ý về đạo mãnh liệt thì những cái kia bắt đầu nó cuốn hút. Khi tối nằm ngủ thì chứ cứ nằm trăn trở chuyện gì đâu. Còn khi mình có phước là do ba cái tâm trước mình giữ được rồi mình có tác ý quyết tâm giữ sự trong sạch, có tác ý cái thứ tư khi hằng đêm mình lễ Phật, ngồi thiền, thì trong trường hợp trước sự cám dỗ đó có một cái tâm rất là mạnh khởi lên, giữ mình lại, giữ mình không cho động tâm,

[55:16]dù một cái tâm động nhỏ, giữ mình không cho động đó. Nên nó thuộc về phước, về công đức và quyết tâm. Tôi nói quyết tâm giữ sự trong sạch, cái quyết tâm này có được là do ba công đức phía trước mình mới quyết tâm được. Thiếu ba công đức phía trước cái quyết tâm khởi không lên. Khởi không lên nha! Nhớ điều đó đó. Giờ muốn quyết tâm, khởi không lên. Nên có một lần mà Sư Hải hỏi tôi cái lần nói là nếu mà người mà cứ đổ thừa cho nghiệp mà buông xuôi theo á là người đê hèn. Thì cái câu hỏi đó nó không phải là sai, nhưng mà nó chưa hoàn chỉnh thôi. Vì sao? Vì cái quyết tâm đó đó cái ý chí quyết tâm mà khởi

[55:52]được á là do ba công đức trước mà thành. Thiếu ba công đức, mình muốn khởi khởi không nổi. Cho nên ở cái phần mà quyết tâm giữ sự trong sạch là cái giai đoạn cao của đạo đức, thì cũng phải nhờ ba cái tâm trước hỗ trợ. Mà đây là điều suốt cuộc đời mình phải tác ý giữ gìn bốn cái tâm này, ba tâm đó với cái tâm thứ tư là quyết tâm giữ sự trong sạch, phải tác ý hằng đêm hằng ngày. Quên tác ý nó đụng chuyện coi chừng cái tâm của đạo không khởi lên nổi, sẽ bị những cái niệm khác nó len lỏi len lỏi do bản năng mình nó thúc đẩy. Cái tâm hành chuyển tiếp thứ hai là quán Bát Nhã. Bát Nhã này như mấy năm trước là bữa đó Sư Nhã có dạy phải không? Phải không Sư Hải?

[56:35]Mô Phật. Đó, có rồi cho nên hôm nay chúng ta không có phải lặp lại nhiều. Chúng ta chỉ điểm sơ qua là quán cái gì? Quán Bát Nhã là quán cái gì? Quán vạn vật vô... vô thường, phải không? Các pháp là do duyên sinh. Ờ là một hợp thể không có chủ thể, không có ngã. Ờ hợp rồi tan. Rồi thân này là bất tịnh, vân vân. Đó, những tác ý về thân á. Là khi chúng ta ngồi thiền mà điều thân á, mình ngồi mình quan sát khắp thân mình, giữ cho nó bất động mềm mại, thì mình khéo léo khởi thêm một chút tâm nữa là cái thân này vô thường, bất tịnh. Đó, mình khởi thêm một chút nữa. Nó là những cái tác ý về Bát Nhã. Hoặc là mình nhìn vạn hữu, mọi chuyện rồi sẽ thay đổi.

[57:25]Có cái gì đó rồi nó theo duyên nó khởi, rồi nó sẽ theo duyên nó mất. Rồi đúng duyên lại khởi, đúng duyên nó lại mất. Mình nhìn như vậy cho nên khi mà nó xuất hiện một cái tốt thì mình không mừng, tại biết trước cái ngày nó sẽ tàn. Và khi mình thấy một cái gì đến cái ngày nó hoại diệt, mình cũng không có buồn, vì biết đâu lúc nào có duyên nó lại khởi lại. Như chúng ta thấy chùa viện mình xây dựng nguy nga, nhưng mình biết đến lúc nào đó nó cũng biến mất. Có những ngôi đền nguy nga tráng lệ trong lịch sử rồi bị chôn vùi xuống bao nhiêu lớp đất. Rồi có những cái từ cái đống hoang tàn không có gì,

[58:01]một cái đống rác, một bãi rác rồi chợt dựng lên những cái tòa nhà cao ốc, sang trọng, đẹp đẽ. Cuộc đời nó là như thế, biến đổi tốt thành xấu, xấu thành tốt, tốt thành xấu cứ hoài mãi mãi như vậy. Đó là cái mình nhìn vạn hữu, nhờ vậy mình không động tâm. Hình như có một lần tôi nói về cái lý này rồi, phải không nè? Tức là cái lý vô thường á, mình nhìn vạn hữu đổi từ tốt thành xấu và xấu thành tốt á. Khi mình nhìn vạn hữu thay đổi từ tốt thành xấu thì mình sẽ xuất hiện cái tâm trạng gì? Bi quan, đúng rồi. Khi mình thấy nó từ xấu thành tốt thì xuất hiện tâm trạng lạc quan. Thì cả hai đó đều là phiến diện, cho nên phải nhìn nó từ tốt

[58:40]thành xấu, từ xấu thành tốt thì không bi quan, không lạc quan mà đó là thái độ trầm tĩnh, bình thản, giải thoát. Đó là mình quán sát lý vô thường. Lý vô thường còn nhiều nữa, ý nghĩa của không gian, của thời gian trong cái lý vô thường như thế nào thì nó là phải một chuyên đề khi nào mình học về cái này. Rồi cái lý duyên hợp, mọi cái hợp lại nó thành sự vật, sự việc trong lúc nào đó tạm thời rồi nó tan rã. Vô thường và duyên hợp nó chi phối vạn hữu như vậy. Cho nên mình nhìn thấy đó mà sự thật không phải là đó. Nó mà không phải nó. Đó, mình quan sát như vậy, nhờ vậy tâm mình bớt bớt tham đắm, bớt bận tâm vì cuộc đời.

[59:22]À tôi dùng cái chữ "bận tâm" á là nó chính xác nhất. Sở dĩ khi ngồi thiền mà mình hay động tâm, vọng tưởng là vì mình bận tâm vì những chuyện của cuộc đời. Thật ra nó nghiệp nữa, nhưng mà ở đây mình cứ nói trên khía cạnh tâm lý đi. Sở dĩ mình ngồi thiền mình bị động tâm, vọng tưởng là vì mình bận tâm với cuộc đời, với con người. Còn bây giờ khi mình nhìn cuộc đời, nhìn con người mình thấy nó là cái gì hư ảo, thì mình không bận tâm nữa, do đó mình dễ nhiếp tâm. Đó, nguyên tắc của lý Bát Nhã là vậy đó, cái quán Bát Nhã là vậy đó. Nhờ cái mà không có động tâm với cuộc đời, không bận tâm với cuộc đời,

[59:59]nó là một cái đạo đức, là một bước tiến về tâm linh, là một bước tiến về tâm linh. Có người nghĩa là nhờ quán cái lý Bát Nhã này mà vào định luôn á, như ngài Thái Hư ngài ngồi đọc ngài đọc kinh Bát Nhã thì ngồi đó ngài ngộ đạo rồi nhập định luôn. Có nhiều người lắm, nhờ cái lý này rất là sâu. Mà kinh Bát Nhã thì khó hiểu, nhất là bộ Đại Bát Nhã, Tiểu Phẩm Bát Nhã. Cái bộ đó thì nói đến cái lý thẳm thâm Bát Nhã. Nhưng cái lý Bát Nhã mà chúng ta học được á, chúng ta học được mà thường thường các giảng sư hay triển khai á, là những Bát Nhã thường thường thôi. Nhưng mà giảng giải thế này thế kia là cuộc đời là hư ảo,

[1:00:44]có hay là không là duyên hợp á, thì là những cái Bát Nhã cạn. Còn cái Bát Nhã mà giảng ở trong bộ Đại Bát Nhã đó, 600 quyển á là thậm thâm Bát Nhã. Cái Bát Nhã này sâu lắm, rất là sâu. Mà cái người hiểu được cái lý này là tâm vào định liền tại chỗ. Khi mà hiểu được cái lý này thì nó có hai cái, một là tâm vào định liền, và hai là có thể ngồi viết ra 600 quyển khác. Bát Nhã nó khủng khiếp lắm. Mà để dẫn chứng, tôi trích một đoạn thôi, tôi trích một đoạn là trong cái pháp hội Bát Nhã đó, lúc đó là lâu quá rồi thầy, chư thiên nè, ngài Tu-bồ-đề nè, Bồ-tát Văn Thù, ngài Xá-lợi-phất, vân vân, vân tập rất là đông để nghe nói về kinh Bát Nhã này.

[1:01:29]Thì lúc đó như là chư thiên thì phải, chư thiên tử, chư thiên tử Đế Thích á mới trình bày, mới nói rằng là các pháp dù là thế gian pháp hay Phật pháp, đều là như mộng, như huyễn, như hóa. Thì lúc đó ngài A Nan thắc mắc mới hỏi ngài Tu-bồ-đề là: "Bây giờ nói thế gian pháp á là như mộng huyễn thì được, nhưng mà nói Phật pháp như mộng như huyễn là làm sao?". Thì ngài Tu-bồ-đề mới nói rằng: "Chẳng những tôi nói thế gian pháp, Phật pháp là như mộng, như huyễn, như hóa, mà tôi nói Niết bàn của Phật cũng là mộng, là huyễn, là hóa mà thôi". Ngài A Nan mới kinh ngạc, nói: "Trời ơi, Niết bàn của Phật mà ngài nói là như mộng, như huyễn, như hóa?".

[1:02:17]Thì ngài Tu-bồ-đề mới nói: "Nếu có một pháp cao hơn Niết bàn của Phật, tôi cũng nói là như mộng, như huyễn, như hóa mà thôi". Cái đoạn kinh khủng khiếp như vậy. Mà đó là lý thậm thâm Bát Nhã đó. Hôm nay thì mình không có giải thích về lý Bát Nhã. Bài này thì cái Bát Nhã thì khó hiểu lắm. Tại cái lý Bát Nhã thậm thâm này tôi giảng cho 10 người chẳng ai hiểu hết. Cái riết tôi nản tôi không nói tới nữa, bỏ luôn. Chỉ có một người hiểu được, ngày xưa có một lần mà tôi nói cái lý này có một người, ổng là họa sĩ, ổng hiểu được thì đêm đó ổng vào định luôn, tâm thay đổi luôn. Cái lý nó rất là sâu xa.

[1:02:59]Cái tác ý của thứ hai trong cái giai đoạn tâm hành chuyển tiếp là quán Bát Nhã. Cái thứ ba của cái phần trung cấp đạo đức là một số tâm hạnh cần thiết. Đáng lẽ ra đó là tôi giảng cái phần này dài dài là mỗi tâm hạnh này tôi giảng một bài nè. Nhưng mà vì sợ không còn thời gian cho nên tôi đã không giảng mà tôi đúc kết luôn vào đây, tôi nhắc ra một số điểm thôi. Ví dụ như cái hạnh mình phải lập những cái hạnh là nói vừa đủ. Ở đây ai nói nhiều nhất? Thưa là tôi, nãy giờ có mình tôi lảm nhảm. Thì vì là không phải là học của bài này cho nên tôi không có giải, tôi không có giảng ra. Chứ cái hạnh mà nói vừa đủ thì nó cũng nhiều vấn đề phải nói lắm.

[1:03:48]Thí dụ như là: trước khi nói đó, mình phải có những cái cân nhắc là lời nói của mình có đúng đối tượng hay không? Những điều mình nói có đúng đối tượng không? Cái ông chả biết gì về đạo, mới vô chùa chơi chơi cái ngồi mình nói toàn Phật tánh, Bát Nhã không, không đúng đối tượng. Hoặc là cái điều mình sắp nói ra đó, có lan truyền rộng rãi hay không? Có tác hại khi mà lan truyền rộng rãi hay không? Ví dụ như là có một cái vị tôn túc nào đó có lỗi lầm, có lỗi lầm, thì nhiều khi mình vui miệng mình đem cái chuyện lỗi lầm của vị tôn túc đó mình kể cho một người nào đó nghe. Nếu một người đó nghe không thì cũng không có chuyện gì xảy ra lắm.

[1:04:32]Nhưng mà mình không lường được cái tác hại là khi cái người đó đem những chuyện đó nói ra tùm lum. Như vậy là mất cái danh dự của vị tôn túc đó, vị đó không làm được việc đạo, rồi bên ngoài họ công kích vào trong đạo Phật, vân vân. Những cái tác hại mà mình phải thấy, đó là điều phải xét. Thứ hai là cái điều mình sắp nói ra nó có tác hại khi mà lan truyền rộng rãi hay không? Chứ đừng có vui miệng nói đại. Những điều mình nói cho một người đó, nhiều khi mình dặn: "Tôi nói mình huynh, huynh đừng nói ai nha". Cái người đó cũng qua người khác nói: "Tôi nói mình huynh, huynh đừng nói ai nha". Người đó qua người khác nói: "Đừng nói ai, đừng nói ai".

[1:05:03]Riết cả thế giới cũng dặn nhau đừng nói ai, ai cũng biết hết. Đó, con người ta thích nói những chuyện giật gân, chuyện mà dường như một mình mình biết cho hay đó. Phải nín cái miệng mình lại biết mấy cái chuyện không đáng nói đó. Và cái điều thứ ba mình phải cân nhắc là cái người kia thực lòng muốn nghe hay là chỉ ngồi vì lịch sự? Có khi họ lịch sự họ phải ngồi, họ ráng họ cắn răng họ ngồi. Họ không thích nghe rồi mình cứ nói nói nói cho đã miệng mình. Ở đây là mình không có cái tâm ứng cơ. Rồi mình nói coi mình phải xét mình nói có dài dòng. Nói tới đó vừa đủ, mình nói thêm coi chừng mất tác dụng á.

[1:05:39]Tôi nhớ có cái ông thầy đó cũng vậy, sao tự nhiên trong thời gian đó ổng phát cái tâm từ bi lớn muốn giáo hóa chúng sinh. Ai ghé ngang cốc ổng ổng ngồi lại, ổng bắt ngồi nghe ổng nói chuyện 3 tiếng đồng hồ. Họ nghe một lần từ đó về sau họ họ vĩnh biệt trần gian luôn, không bao giờ họ bén mảng tới đó, họ sợ quá rồi. Mà muốn đi lên ra mà rửa mặt, ra đi vệ sinh gì không được nữa, nói ổng không dừng được. Một thời gian rồi đâu chừng năm cái thôi ổng hết cái tâm từ bi đó bắt đầu ổng bớt nói lại, cái người ta mới mừng, từ từ mới ghé thăm ổng lại. Cẩn thận, xét. Rồi cái điều mình nói ra có hàm ý khoe khoang hay không?

[1:06:13]Nhiều khi mình nói ra một cái điều gì đó à mình chứng tỏ cái hay Phật pháp, nhưng rồi mình vô tình mình nói cái hay của mình lọt vào trong đó nữa, có hàm ý khoe khoang đó, nên phải cẩn thận xét. Rồi cái điều mình nói ra có làm người khác bận tâm vô ích hay không? Nhiều khi chuyện nó không đáng để người đó biết mà họ bận tâm, cũng chẳng nên nói làm cái gì. Rồi đây là một cái chuyện, một cái mình phải xét nữa nè, mà nhiều người bị nè: Có phải vì mình cảm thấy trống trải, cô đơn nên tìm người nói chuyện cho đỡ buồn hay không? Ngồi buồn quá cái bắt đầu qua cốc kia ngồi nói chuyện đỡ buồn. Cho nên cái hạnh mà ít nói nó nhiều vấn đề lắm chứ không phải không.

[1:06:52]Rồi như cái không chỉ trích là hôm trước mình học rồi ha. Cái hạnh lễ độ. Cái lễ độ thì mấy sư mình thì cũng tốt. Rồi cái hạnh nhẫn nhục. Nhẫn nhục là gì?

[1:07:07]Nhẫn nhục là gì? Ai trả lời? Sư Trung Huy nè, thử trả lời nhẫn nhục là làm sao? Thưa Thầy, nhẫn nhục là theo con hiểu thì mình kham nhẫn với những cái hoàn cảnh mà nó trái nghịch với cái ý của mình. Kham nhẫn là sao? Mình chịu đựng, chấp nhận những cái... Chịu đựng, chấp nhận. ... cái nghịch cảnh đối với mình. Nghịch cảnh. Thôi được rồi, cảm ơn sư. Có ai bổ sung gì nữa không?

[1:07:43]Người thiện đi, sư Huệ Thiện. Đưa cái micro. Nhẫn nhục là sao? Mô Phật, kính bạch thầy. Theo con cái sự nhẫn nhục này đối với chúng con thì thực hiện chưa được.

[1:08:03]Cho nên là cái người mà có sự nhẫn nhục cao thì người đó có cái sự giác ngộ cũng là cao. Chê, giờ sư trả lời thế này: Là nhẫn nhục là đừng có làm gì mà con nào giờ làm. Đưa qua Huệ Hiền coi. Dạ bạch thầy, theo con hiểu nhẫn nhục là mình vui vẻ chịu đựng dù là nghịch cảnh hay là những đối tượng nào đó thấp kém hơn mình mà có những cái cử chỉ, lời nói gì đó nó không được tốt. Nhưng mình vẫn vui vẻ để nhận những cái lời đó mà không có nóng giận, sân hận với người đó đã gây oan cho mình. Đúng rồi đó. Cái chữ mà không sân là đúng đó. Là giữ tâm không có giận hờn khi có chuyện trái ý, là nhẫn nhục đó.

[1:08:56]Định nghĩa của nhẫn nhục nó vậy đó, giữ tâm không giận hờn, không hận thù, không oán ghét khi có chuyện trái ý của mình. Như vậy cái mốc của nhẫn nhục là giữ tâm không giận hờn đó thì làm sao đây? Cái phương pháp nó là sao? Pháp nó sao, cô Tri?

[1:09:17]Thầy Ngọc Hạnh đây trả lời coi. Lọt qua trốn đâu mất. Cái nhẫn nhục á tức là mình giữ tâm không sân hận khi gặp chuyện trái ý là đúng rồi đó. Nhưng làm sao để giữ tâm không sân hận đây? Cái cách nó như thế nào? Tỉnh giác lại lấy mình. Thôi thâm

[1:09:41]tâm mình... Cũng hay, đó cũng là một cái ý hay đó. Khi sân mà nghĩ rằng chư Phật không sân rồi mình bắt chước thì cũng là ý hay. Cảm ơn cô. Còn Ngọc Hạnh trả lời sao? Dạ giữ tâm không sân hận khi, thí dụ như ai có lời nói có ý chỉ trích mình thì thí dụ mình thường quán như, quán với thương cái người đó cũng như người ta như... Cũng như cái lời nói có khi không có tác động được mình nhưng mà người ta đã gây nghiệp thì mình phải quán là mình thương và mình tha thứ, mình không có cố chấp. Quán dùng từ bi phải không? Tức là dùng từ bi để không giận. Dạ, như người ta đó vô tình người ta tạo nghiệp.

[1:10:22]Vô tình tạo nghiệp thì thương người ta. Từ bi cũng là ý hay. Rồi, ai có cách nào khác nữa? Cái này là quan trọng lắm đó, trong cuộc đời tu hành mình mấy cái này đụng hoài, mỗi người phải có cái phương pháp để mà hóa giải cái sân của mình. Đây. Rồi rồi, đưa lên cô này giùm.

[1:10:43]Từ bi với trí tuệ là nói khơi khơi, nói khôn quá, nói hết trơn rồi. Nhưng ở đây tôi muốn nói cái gì cụ thể đó, mình tác ý cụ thể cái phương pháp nào để hóa giải nó. Không, thiệt nãy cô nói ý đó là đúng rồi đó, là một trong những phương pháp. Ngọc Hạnh thì dùng từ bi, cô thì liên tưởng tới Phật, đó cũng là ý hay. Mấy cô hay sân mấy cô trả lời nè, cô gì đó? Cái cô ngồi giữa của cái bàn hai đi. Liên gì? Liên Ngộ. Dạ mình dùng cái tâm niệm Phật á, bạch thầy. Tâm niệm Phật thì giống như cô Tri, thôi cũng được. Hai nữa là con cứ nghĩ là chắc kiếp trước mình gây tạo thì kiếp này mình phải chịu thôi. Dùng tác ý nhân quả, cũng là ý hay, một phương pháp hay.

[1:11:32]Rồi, ai nữa? Rồi Huệ Hiền, Hiền nói lại. Dạ bạch thầy, nói trong phương pháp để đối trị cái tâm sân hận thì trước hết là mình lấy tâm từ bi thương yêu và thứ hai nữa là trí tuệ. Cái trí tuệ là như là nói trong theo kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa mà nói là có nghĩa là mình quán những cái lời đó là nó không thật. Nó có nghĩa là mình không có bận lòng những cái lời đó. Có nghĩa là dù người đó nói những cái gì đó nhưng mình coi đó là nó không thật và mình luôn giữ một cái tâm bình thản và không cho niệm khởi. Đó là mình luôn quán xét lại mình và mình luôn luôn thương người, không có mang oán hờn. Đó là hai điều mà con hiểu như vậy.

[1:12:29]Ờ, cảm ơn Huệ, sự thật siết đúng vào chủ yếu nhất. Rồi Sư Tiến. Mô Phật, kính bạch thầy. Theo như con thì phải dùng trí tuệ, phải quán sát để giải những cái tâm bất thiện trong lòng mình. Giải tâm bất thiện trong lòng mình ra. Rồi, cảm ơn sư. Rồi, Sư Hải đi. Mô Phật. Con cũng nhất trí một số ý là khi đối với lại sân hận thì mình lấy cái trí huệ làm gốc. Thứ nhất mình thấy là cái sân hận nó là một cái chất độc, là một cái chất lửa đốt cháy mình trước. Trước khi mà giải quyết vấn đề thì nó đã làm cho mình bực não trước rồi. Như vậy là mình lãnh lấy nó một cái sự đau khổ riêng cho mình. Thứ hai mình sân hận vậy mình không giải quyết

[1:13:17]được vấn đề đối với nghịch cảnh tới với mình. Cái thứ ba là đó là cũng là cái gốc vì thế do mình đã vướng mắc trong cái cái chấp ngã. Đúng, đúng. Đây là cái chỗ gốc đấy. Nói chung là sự trả lời của quý sư, quý cô đều hay, những người đều có phương pháp nó hay. Là tự nhiên mình liên tưởng tới Phật, làm cho mình có cái phước, chính cái phước này nó tạo cái tâm niệm, giữ cho mình sự bình yên. Đây là ý của cô Tri, cô Liên Ngộ là hay đó. Rồi dùng lòng từ bi nè để hóa giải sân hận là rất đúng, hoặc liên tưởng tới nhân quả để mình có cái sự chịu đựng hơn, vì thấy đó là sự công bằng. Và dùng trí tuệ quán ở bên ngoài là thấy lời nói hay là việc làm của họ tổn

[1:13:58]hại mình nó không có thật, nhưng cái quan trọng là xoay lại mình á. Phải quán mình không thật trước, thì nó tan hết á. Mình hư vô thì không có cái gì đánh được nữa hết. Cho nên nếu mà thấy lòng mình có sân hận thì mình phải biết cái chấp ngã mình còn nhiều. Đó, lúc đó cứ đó mà tư duy thôi. Hễ ai làm cái gì mình có hơi sân thì mình biết à như vậy là chấp ngã mình còn nhiều, cái tự cao mình còn nhiều, mình mới sân. Còn nếu mình nhẹ chấp ngã, nhẹ tự cao thì mình sẽ không sân. Đó là dùng trí tuệ quan sát. Còn ở mức độ mà một người giữ được chánh niệm thiền định á mà sắp sửa vào sơ thiền á, cái vị chánh niệm người này tỉnh giác thường xuyên thường

[1:14:37]xuyên không có vọng tưởng nhưng mà chưa vào được sơ thiền đâu. Trước khi vào sơ thiền á, họ phá được năm triền cái thì cái sân đã biến mất rồi. Người này hết sân rồi. Người này không có nói chuyện tới vụ nhẫn nhục nữa, ai làm gì làm tâm không có đụng, không có động tới, không có hạt bụi nhỏ khởi lên á. Chửi tát mặc ai làm gì làm, họ bình thản, không có gì. Chưa vào sơ thiền nữa nha, là đã phá được năm triền cái rồi, giữ chánh niệm thuần, phá được năm triền cái, tâm không còn sân nữa. Mà lúc đó vẫn chưa phải sơ thiền á, chúng ta thấy sơ thiền vĩ đại lắm, không đơn giản đâu. Thôi mình qua phần thứ ba, nó nhiều hạnh lắm,

[1:15:12]nhưng mà thôi mình nói phất phất, mình phải tự suy nghĩ. Phần thứ ba, tức là đỉnh cao của cái tiến trình tu hành của tâm là thiền định. Là thiền định thì mình biết là nhiếp tâm qua các tầng bậc thiền định phải không? Nào giờ mình nói cũng nhiều, bây giờ mình nói những điểm chủ yếu. Đây là những điều mà chúng ta để ý nè, trong khi việc tu thiền là đừng chọn cái pháp môn mà đưa đến thái độ độc tôn, cẩn thận điều đó. Có những cái pháp môn mà mình nghe nói là họ cao nhất, à pháp môn này không pháp môn nào bằng, à các pháp môn khác là đều sai lầm vân vân. Cứ nghe mà chỉ trích bên này, công kích bên kia thì mình né cho lẹ cái pháp môn đó.

[1:15:50]Mình tu theo là mình mang họa đó, nó sẽ làm cho mình ngạo mạn không khủng khiếp đó. Có một lần, có một lần, cái chuyện này tôi nói làm tôi cũng hơi khoe nhưng mà vì nó liên hệ tới, thông cảm tha thứ giùm. Hôm đó tôi còn ở trong chúng, hình như tôi có kể chuyện này một lần. Hôm đó tôi còn ở trong chúng rồi có một cái thầy, đó là thầy giáo nhỏ tuổi hơn tôi, coi như em thôi, ổng tới ổng thăm, ổng mượn cuốn từ điển. Tôi đang ở trong Tăng đường, khi nghe nói có người kiếm cái tôi bước ra. Bước ra cửa tôi gặp ổng cái tôi thót hồn liền. Tôi nói: Trời ơi, lúc này em tu pháp môn gì trật rồi, nguy hiểm rồi, đọa rồi đó.

[1:16:29]Cười không có nói gì hết, cứ hỏi nói là cho mượn mấy cuốn từ điển Hán - Việt, rồi tôi lấy cuốn từ điển tôi đưa. Năm sau tôi nghe ổng điên rồi, phát điên, cầm con dao rượt cha mẹ chạy, vắt giò lên cổ chạy nữa. Khủng khiếp luôn. Là gì? Là bởi vì lúc đó tôi không phải là tôi làm thánh hay ho gì, mà chỉ vì tôi bước ra tôi nhìn mặt cái tôi thấy cái ngạo mạn nó quá nặng đi. Mà cái ngạo mạn này đó, nó có nhiều loại ngạo mạn nhưng riêng cái ngạo mạn của người này mà tôi đọc được là do pháp môn. Tức là ông này ổng gặp một cái ông thầy nào dạy cho ổng nói là ta là Phật kia. Mà cái này là ngạo mạn do pháp môn chứ không

[1:17:04]phải do cái khác, do tác ý của pháp môn. Tôi thấy rất nguy hiểm. Tôi nói: Chết rồi, em tu vậy là sai rồi. Ngồi ngó tôi cười cười, lúc đó ổng trên trời rồi, nói đâu nghe. Mình người dưới đất nói đâu có nghe người trên trời. Nên năm sau phát điên luôn. Mà nhiều người bị như vậy lắm. Nhiều người tu thiền mà điên là do tác ý sai chỗ này đó. Thấy mình quá hay, quá lớn, rồi chê nơi này, chê nơi kia đó. Mấy cái pháp môn mà cứ gặp đâu cũng chê hết là mình coi chừng mình né cho lẹ, cẩn thận. Cái thứ hai nữa trong cái việc dặn dò về tu hành thiền định là mình biết thêm lý âm dương để điều hòa khí lực. Đúng ra là nếu mà còn có duyên

[1:17:42]á, hôm nào tôi sẽ giới thiệu về cái triết lý âm dương, triết lý của Trung Hoa để cho quý sư tham khảo thêm mà áp dụng vào trong đời sống sinh hoạt cũng như sự tu hành. Triết lý âm dương hay lắm, rất là hay, nhưng phải biết cho đúng mà biết trật thì nó tào lao, buồn cười lắm, nhưng biết cho đúng thì thâm thúy lắm. Hẹn là sau này nếu mình còn có duyên gặp lại nhau thì chúng ta sẽ tham khảo về lý âm dương. Còn hôm nay tôi chỉ nói vậy thôi. Và có kiến thức y học, có kiến thức y học để đừng có làm bị mê tín. Có kiến thức y học là nên hiểu cả Tây y và Đông y thì mình may mắn là mình nằm ở giữa cái giao điểm, phải hiểu cả hai.

[1:18:22]Có những cái bệnh á chữa bằng thuốc Tây rất là gọn, nhưng có những cái bệnh chữa bằng thuốc Bắc rất là hay, cái đó mình phải biết, biết cho hết. Và cái khởi đầu của thiền định á là không biết có ai nhớ không? Hồi xưa tôi giảng trong quần chúng á. Muốn bắt đầu vào tu thiền định là phải tu cái gì trước? Thanh lọc tâm, thấy không? Thanh lọc tâm. Nhiều người á tu thiền là cứ chú trọng vào cái định, là không vọng tưởng chứ. Cứ tập trung làm sao mà cứ đạt cho được cái này, là đi không có căn bản nè. Phải nhớ là cái tâm mình á mà thuần thiện rồi đó, thì lúc đó là cái việc mà chấm dứt vọng tưởng cũng đã sát một bên rồi.

[1:19:06]Đầu tiên cái tâm mình á là thiện ác nó lẫn lộn nè. Thiện ác nó còn lẫn lộn. Thì mình đầu tiên là cứ thanh lọc tâm trước, cứ bỏ tâm ác, làm sao chỉ được cái tâm thiện thôi. Cứ theo dõi tâm để giữ tâm cho nó càng ngày càng thanh tịnh, càng đi vào cái giới vức của thiện thôi. Còn mình nói cái thanh tịnh tức là không thiện không ác rồi, nhưng mà bỏ ác còn là thiện, thì tới ngày nó thuần thiện. Tới thuần thiện rồi mới đạt được cái không thiện không ác, cái định không thiện không ác. Chúng ta nên nhớ nha, cái định mà không thiện không ác á là nó cao hơn cái thuần thiện. Còn cái thuần thiện thì nó cao hơn cái lẫn lộn của thiện và ác.

[1:19:45]Thì tâm mình bây giờ đó, thôi mình cứ coi như ở đây có ai thuần thiện hay gì tôi không biết, nhưng mà cứ coi như mình là, tâm hiện nay mình có thiện có ác nó lẫn lộn, thì bước đầu vào tu thiền á thì mình thanh lọc tâm trước. Bỏ cái tâm ác, chỉ còn lại tâm thiện thôi. Cứ mỗi ngày mình tự kiểm điểm mình từng giờ từng phút. Khi chiều tối mình ngồi mình nghĩ lại trong ngày nay có gì hay không. Lần lần từng giờ mình đã thấy được cái thiện ác vi tế trong lòng mình, vi tế nhỏ nhỏ đã thấy rồi. Cho tới cái ngày mình thanh lọc tâm thuần thiện, thì lúc đó bước sang cái bước thứ hai rất là dễ, là cái định, cái thanh tịnh không thiện không ác, vượt qua địa ngục.

[1:20:22]Thấy nhiều người không biết chỗ này, đang còn thiện ác lẫn lộn tùm lum, rồi cứ nói tôi là, vào cái là không thiện không ác, không có chấp thiện. Cứ nói là không chấp thiện, không chấp ác là Phật tánh này kia nọ, là sai á. Phải đi qua giai đoạn thuần thiện trước, rồi mới đạt được cái định không thiện không ác sau. Nên cái gì đi chậm mới chắc, đừng có ham đốn. Đốn coi chừng ngã. Cái gì cũng phải công phu nhiều đời nhiều kiếp. Và cái bước kế tiếp nữa là cái chánh niệm, tức là tới cái giai đoạn mà mình kiểm soát được cái không thiện không ác á, là không vọng tưởng á, hễ động niệm dù thiện dù ác đều bỏ hết.

[1:21:00]Mà thật ra lúc đó chỉ còn niệm thiện thôi, chỉ bỏ niệm thiện thôi. Bỏ niệm thiện thôi nhưng mà cái chất thiện không bỏ nha, vì cái chất thiện mình là trí tuệ biết nhân quả. Chúng ta nhớ cái điều này nè. Tuy không thiện, không ác, nhưng mà luôn luôn nó còn cái biết nhân quả rất rõ. Niệm thì không khởi, nhưng mà cái trí tuệ biết nhân quả thì không bao giờ mất. Cho nên là nói không thiện không ác cái kỳ thực là luôn luôn nằm trong giới vức của thuần thiện, mặc dầu không khởi niệm. Nên lúc đó mình khi mà giữ tới cái chánh niệm tỉnh giác á, chánh niệm chứ chưa phải vào chánh định đâu, giữ chánh niệm tỉnh giác là bỏ vọng tưởng,

[1:21:35]lúc nào giữ thanh tịnh biết thôi, mà giữ từ phía sau ót á. Nói ót chứ đâu nằm phải ngoài da đâu, nó nằm ở trong não á. Nhưng mà cái niệm của mình nó khởi từ phía sau nó khởi tràn ra phía trước, nó chực tới cái trán của mình. Từ cái thùy não, từ cái thùy chẩm nè nó tràn tới cái thùy trán, mà nó tràn tới thùy trán là tâm mình nó có hiện ra hình ảnh và ngôn ngữ tùm lum ở trỏng rồi, là tâm mình đang động, thất niệm. Còn mà mình có niệm, có chánh niệm là mình đã kiểm soát nó từ đầu niệm là ở phía sau, lui phía sau một chút, ở trong não mà lui phía sau một chút. Đó là đầu niệm nó khởi á, thấy được nó mình chặn lại là

[1:22:08]tâm nó thanh tịnh, thanh tịnh mà vẫn rất là rỗng rang. Đó là cái chánh niệm tỉnh giác á. Tuy vậy mà đụng chuyện là biết nhân, biết quả, biết thiện, biết ác liền. Mặc dù lúc đó là tâm bất động, không thiện không ác, nhưng biết thiện, biết ác rất rõ và luôn luôn là thuần thiện. Vì do cái lý âm dương cho nên quý sư chịu khó tập thở bụng chút. Hít vào phình bụng ra, thở ra hóp bụng lại, căn bản của dưỡng sinh để làm cái, tìm được tinh thần ở trên não. Cái hơi thở dưới bụng á, cái gốc của sức mạnh tinh thần ở trên đầu cái nó lại nằm ở dưới bụng. Cho nên mình tập thở bụng nhẹ nhàng, chậm rãi, hít vào phình bụng ra,

[1:22:46]thở ra hóp bụng lại, vậy đó mà nó hỗ trợ cái sức nhiếp tâm ở trên đầu. Đó là điều mà một cái lý âm dương khi mình biết thì mình sẽ giải thích được tại sao. Và kế đến là khi mình thuần cái chánh niệm tỉnh giác rồi mình sẽ từ từ vào nhập sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, đó là những cái tầng bực thiền định mà phải trải qua. Thì ai mà chứng tới từ từ sẽ biết, chứ còn tôi chưa chứng, không biết. Nhưng ở đây khi tâm được vào định rồi thì nó xuất hiện một cái này, đây là vấn đề mà chúng ta đi tìm suốt cuộc đời mình: sự tự tại. Đây là cái chỗ mà mình gọi là giải thoát hay gì đó, bây giờ gọi là sự tự tại.

[1:23:24]Thì chúng ta tu á, cái tự tại này đó chưa phải là giải thoát, nhưng mà tùy cái mức định, ví dụ như ở cái chánh niệm nó có cái tự tại của chánh niệm, ở sơ thiền có cái tự tại sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền nó có cái tự tại của nó. Mà người vào định càng sâu thì cái sự tự tại này càng, càng lớn. Đây là cái mình đi tìm, nhưng mà chưa hết chuyện đâu. Cái tự tại này nó là an lạc, thanh tịnh, sáng suốt, trí tuệ, từ bi, đạo đức gì đó là tự tại. Nhưng, nhưng lại có vấn đề lớn xuất hiện ở chỗ này là do một cái nghiệp gì đó, nhưng mà nó gần với ba cái điểm này. Cái tự tại nè, nó gần trong đường tơ kẽ tóc với ba cái tâm này.

[1:24:04]Nó không phải là ba cái này, nhưng mà nó rất gần. Cái tự tại đó thì nó không phải ba cái tâm này, nhưng một cái rất kỳ lạ, rất nguy hiểm là nó cách ba cái tâm này trong đường tơ kẽ tóc. Lạ lùng quý vị. Và đây là cái chỗ mà người ta bị thối đọa. Nên nhiều người đạt được tự tại rồi cái dính tâm này lại cái rớt trở lại liền. Mà tại sao dính? Tại vì hiểu lầm những cái công án...