[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta nghe tiếp cái Pháp Cú. Nay ta đi nhanh qua một chút xíu, cái tựa là "Niềm tin và Trí tuệ". Bài kệ là: "Người tâm ý an tịnh, có trí tuệ giải thoát, lời nói hay việc làm đều thanh tịnh, an vui." Bài kệ thì nghe rất là dễ hiểu. Và xuất phát từ một cái chuyện tích là thế này: là có một vị trưởng lão nuôi một cái Sa-di đệ tử. Nhưng mà không ngờ là cái chú Sa-di này thì lại có cái đạo hạnh vượt hơn cả thầy của mình. Chú đắc quả mà ông thầy ổng không hay biết. Nhưng mà chú rất là kín đáo, lúc nào cũng kính trọng, tận tụy hầu thầy mình mà không có bộc lộ.
[1:00]Có lần thầy bị bệnh nên chú hầu hạ cơm nước. Thì hôm đó thầy ổng mới ném cái cây quạt cho chú để như nhờ chú quạt gì đó thì ném sao lại trúng con mắt. Nên mắt chú bị hư. Mà chú giấu, một cái tay thì hầu, một tay vẫn bịt con mắt lại. Thì lúc ông thầy mới thấy cái chú nói năng thì vẫn lễ độ nhưng mà cái hành động thì kỳ kỳ, xử lý việc gì cứ một tay, ổng mới cự. Cái chú mới nói thật, nói là: "Bạch thầy, là vì nãy thầy ném cái cây quạt nó bị đụng con mắt con, bị có cái gì đó thì con đau, thì con không có chu đáo, xin thầy tha lỗi cho con." Chú rất là lễ độ thì ông mới hối hận. Ông mới hối hận là tại vì mình ném cái cây quạt
[1:52]chú đau mắt mà chú cũng chịu đựng để hầu thầy vì thầy đang bệnh. Nên sau khi ông hết bệnh ông đến ông trình Phật. Ông mới nói là ông có một chú Sa-di đệ tử mà thật là đạo đức, cái lời nói, ngôn từ, tâm ý thì thật là hiền lành, khiêm nhu.
[2:12]Đức Phật mới khen chú Sa-di đó bằng một bài kệ để ám chỉ biết rằng chú đã đã đắc đạo. Cái chuyện là như vậy. Thì chúng ta phân tích chút xíu. Trong cái câu chuyện này, thì cái chú Sa-di đệ tử lại có đạo hạnh vượt hơn thầy mình mà ông thầy không biết. Chuyện trong đạo cũng thường hay có như vậy, mà chuyện ngoài đời cũng thường hay có như vậy. Mà khi một cái người đệ tử giỏi hơn thầy thì đó là điều tốt lành cho đạo. Giống như ở trong nhà mà thế hệ con cháu giỏi hơn thế hệ của cha ông là tốt cho dòng họ. Như một đất nước vậy, cái thế hệ lãnh đạo của lớp trẻ mà giỏi hơn cái thế hệ lãnh đạo đi trước là điều đáng mừng cho đất nước.
[3:01]Vì vậy, cái chuyện mà cái người sau giỏi hơn người trước là một chuyện tốt lành. Và cái người thầy chân chính phải là một người luôn luôn mong cho điều đó xảy ra. Ví dụ như một người cha thương con, ông cha cày sâu cuốc bẫm nhưng phải mong rằng con mình sau này là kỹ sư, bác sĩ. Ví dụ một nhà lãnh đạo tốt thì thì đời này mình làm được điều này cho đất nước thì mong rằng cái lớp lãnh đạo kế sau mình phải làm được nhiều chuyện tiến bộ hơn nữa, chứ không phải là chỉ duy trì những gì mình có. Thì ở trong đạo, điều đó cũng quan trọng như vậy. Nhiều khi ông thầy lúc nào cũng quan sát đệ tử của mình,
[3:43]mà phát hiện ra đệ tử có những dấu hiệu vượt trội hơn mình thì phải ghi nhận và lấy làm mừng, nhưng mà đừng có nói ra sớm. Tại vì chuyện tốt mà nói ra sớm rồi nó sẽ thành cái tổn phước, thì người đệ tử mình lại khó tu. Cho nên ông thầy có biết cũng im lặng mà tạo điều kiện để phát huy người đệ tử mình lên thêm, chứ không nên nói gì. Còn cái người đệ tử mà chân chính, nhiều khi cũng biết rõ mình đã hơn thầy mình rồi chứ không phải là không, nhưng lúc nào cũng tôn kính, lễ độ, biết ơn và hầu hạ thầy mình đúng mực vì cái lòng hiếu, chứ không phải là khi phát hiện ra mình giỏi hơn thầy mình rồi thì bắt đầu xấc xược,
[4:26]hỗn láo, muốn ly khai, muốn làm cái chuyện để qua mặt, tranh giành ảnh hưởng với thầy, thì đó không phải là một người đệ tử chân chính. Trong Thiền tông cũng vậy, có cái ngài thiền sư là Nham Đầu Toàn Hoát, ngài là đệ tử của ngài Tuyết Phong. Nhưng mà sự thực cái chỗ ngộ của ngài giỏi hơn cả ngài Tuyết Phong. Có một lần khi mà thấy thầy mình nói một câu thiền ngữ không có sâu, ngài mới đến thất gặp riêng. Và chính vì cái sự nhắc nhở của người đệ tử này mà ngài Tuyết Phong sau đó mới đại ngộ vượt lên trên. Tức là chính đệ tử đã gợi ý để mà cho thầy mình ngộ sâu hơn. Câu chuyện như vậy. Thì ngài Nham Đầu Toàn Hoát là một con người như
[5:10]thế, ngài có cái quả chứng rất là kỳ đặc. Nhưng mà cuối đời của ngài cũng có một cái bi thảm. Khi ngài sau này ngài dạy đệ tử thì ngài ít nói và cứ càng về lớn tuổi thì ngài càng không nói gì. Ai hỏi gì cứ ừ ừ trong miệng mà không nói thành câu. Nhiều người cứ rất là thắc mắc, rồi thắc mắc quá cái ngài mới nói một câu. Nói: "Sau này khi ta đi ta sẽ rống một tiếng, giống như để bù lại cả suốt thời gian dài mà không nói gì." Mà quả thật, sau này ngài bị trả cái nghiệp lúc ấy giặc giã nổi lên ở Trung Quốc, thì giặc nó đến cái chùa của ngài. Mà đám hung tợn nó nói trong chùa không có cái gì cho nó hết trơn nó lấy giáo nó đâm ngài một phát. Đâm ngài chết.
[5:51]Mà ngay lúc đó thì ngài rống một tiếng mà tiếng rống vang xa 10 dặm, đúng như là ngài đã báo trước. Tại vì ngài đắc đạo nên ngài biết trước quá khứ, vị lai. Thì đây là một trường hợp thì mà đệ tử mà giỏi hơn thầy mà giỏi hơn rất rõ luôn á, siêu xuất luôn á. Trừ Đức Phật là một Đấng Vô Thượng Sư không ai vượt lên, nghĩa là trong khoảng bao nhiêu trăm ngàn năm bao nhiêu triệu năm mới có một vị, không ai có thể vượt hơn được. Còn lại trong cái lịch sử mà truyền bá Phật giáo đã có rất nhiều lần đệ tử giỏi hơn thầy. Đã có rất nhiều lần. Và chuyện đó là chuyện đáng mừng. Cho nên trong cái câu chuyện này ta học được hai điều:
[6:29]Cái điều thứ nhất, nếu đó là một người làm thầy thì phải biết vui mừng khi mà thấy đệ tử mình giỏi hơn mình. Và điều thứ hai, nếu ta là học trò, mà nếu lỡ mình có phát hiện ra là một số kiến giải của mình vượt hơn thầy mình thì cũng phải giữ cái sự kín đáo, khiêm cung, lễ độ, hầu hạ thầy mình và phát huy cho thầy mình để đền ơn thầy mình, chứ không phải là phát hiện mình giỏi hơn thầy mình rồi tách ra để làm một cái gì riêng thành ra là một sự chia rẽ và phá hoại Phật pháp. Cái ý nghĩa là như vậy. Còn ở đây cái bài kệ của Phật khen là nói rằng là: cái người mà tâm ý an tịnh rồi, đã có trí tuệ giải thoát
[7:13]rồi thì lời nói hay việc làm đều thanh tịnh, an vui. Vì tâm thanh tịnh thì buộc cái lời nói và cái hành động ở bên ngoài phải là thanh tịnh, phải an vui. Đó là điều hẳn nhiên. Nhưng mà có trường hợp ta nghe những trường hợp như là một thiền sư nghiêm khắc lấy gậy đập đệ tử hay là hét cái người đệ tử của mình. Đôi khi giống như ngài Tế Công Phật Sống mà còn cà rỡn, cà rỡn mà coi vẻ như không thanh tịnh thì nhiều khi ta ngạc nhiên. Như có một lần có một người đệ tử hỏi, hỏi thầy nói: "Thưa thầy, thời Đức Phật chư Tăng nghiêm trang, tề chỉnh và xem đó là oai nghi của Thánh. Nhưng tại sao trong đạo Phật lại có những vị cũng được gọi là
[7:57]Thánh Tăng mà cái ngôn hạnh lại lung tung giống như ngài Tế Công hoặc như ngài Kim Sơn, Kim Sơn, Phật Sống chùa Kim Sơn? Đây là Diệu Thiền, Phật Sống chùa Kim Sơn ở thời đương đại gần đây. Còn như ngày xưa thì có ngài Tế Công hòa thượng. Ngài Tế Công mình gọi là Tế Công cái tên của ngài thật sự là Đạo Tế, Đạo Tế thiền sư. Thực sự cái gốc của đạo là nằm ở trong tâm của mình, còn cái biểu hiện ra bên ngoài là lời nói hay việc làm. Phật ngày xưa là cho đi theo cái công thức chuẩn để ai cũng có thể chấp nhận: là một người đang đi đến con đường để làm Thánh thì cái lời nói hay việc làm phải biểu hiện như là một bậc Thánh,
[8:41]không được có sai sót, không được để người khác nhìn vào người ta đánh giá thấp Tăng đoàn, nói Tăng đoàn là đám người hỗn lốn, bừa bãi. Còn cái người đã chứng rồi thì buộc cái ngôn hạnh ở bên ngoài cũng phải nghiêm trang, tề chỉnh. Thì đó là cái công thức chuẩn. Nhưng mà trong cái công thức chuẩn đó không phải luôn luôn là như thế. Cho nên có một thời gian ta thấy là trong đạo Phật tách ra một cái tông là Luật tông. Tức là ngoài có những cái tông chính như Thiền tông, Giáo tông, Tịnh Độ tông, Mật tông, Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai giáo quán tông, thì có một cái tông rất đặc thù là Luật tông. Luật tông là nối truyền nhau bởi những vị luật sư.
[9:22]Là những vị đó khi đi vào tu trong đạo Phật là chỉ nghiên cứu giới và luật mà thôi. Các vị nghiên cứu giới và luật, và hành trì, và dạy giới luật lại, và xem như đó là biểu hiện quan trọng của sự giải thoát. Và các vị tin rằng cái sự hành trì giới luật cẩn thận như vậy đưa đến giải thoát. Cho nên các vị chú trọng cực độ. Và khi nghiên cứu một cái hệ thống, một cái bộ giới điều, một bộ luật, các vị chia chẻ từng chút từng chút một: cái này là đúng, cái kia là sai, phạm cái này là phạm tội gì, phạm kia là phạm tội gì, bước một bước là phạm mấy tội, bước thêm mấy bước là phạm mấy tội nữa. Nếu mà nghiên cứu theo Luật tông là ta hết hồn liền, không dám nhúc nhích luôn.
[10:03]Đó là cái luật Phật mà ràng buộc con người còn dễ sợ hơn là luật pháp quốc gia. Một người tu, người xuất gia ở trong đạo Phật mà nếu mà ứng dụng cho đầy đủ Tạng luật rồi, ngồi một chỗ hết dám nhúc nhích á. Tại bước tới bước lui coi chừng phạm, mà hễ đã phạm rồi mà phạm lần nữa tức là tội chồng lên tội, tội chồng lên tội. Cho nên cái Luật tông cũng rất là chi ly và rất là chuyên sâu. Tuy nhiên, có những vị Thánh sau này thì các ngài lại phá lệ. Tuy bên trong đắc đạo cao siêu nhưng bên ngoài làm ra một loại hình dung cổ quái, kỳ quái, khiến cho nhiều người không hiểu được mà để lại một cái dấu hỏi muôn đời.
[10:48]Giống như ngày xưa vậy, có những vị thiền sư coi là không có ăn nói đàng hoàng mà mở miệng là nạt, là chửi, đánh rồi lật đổ mâm cơm người ta đi, vân vân. Cái ngôn hạnh không đàng hoàng, hoặc ngài Tế Công có truyền thuyết là ngài cả uống rượu, ăn thịt, vân vân. Còn ngài chùa Kim Sơn thì tối ngày cứ đùa giỡn, vân vân, có những cái trường hợp như vậy. Hoặc là như ngài Bố Đại Hòa thượng vậy, cứ tối ngày cứ cười khề hề khà hà giỡn với mấy đứa nít. Nhưng mà bây giờ ta nghe lại những chuyện đó ta sẽ thắc mắc. Nhưng nếu ta sống trong thời đại, ta chứng kiến việc làm các ngài, ta không dám đánh giá thấp.
[11:24]Ví dụ như khi một thiền sư mắng đệ tử một câu, cái mắng của một ông thiền sư với đệ tử nó khác với cái người phàm phu mà mắng chửi nhau, hoặc là cái người cha mẹ phàm phu mắng chửi con mình, khác liền. Vì sao vậy? Bởi vì cái người phàm phu á mà khi mắng chửi ai á, cái sân nó bốc lên, nó hiện ra gương mặt. Ta nhìn thấy rất rõ là người này đang nóng, đang giận, đang dữ. Còn ông thiền sư nghi mặt lại ổng nạt, nhưng mà khi mình nhìn suốt vô tâm mình thấy gương mặt ổng trống bốc à, tâm không có gì hết. Tức là cái nạt của ông là bởi vì lúc đó phải nghiêm khắc như thế chứ không phải là bởi vì ông sân, khác nhau.
[12:01]Mà mình có đứng chứng kiến tại chỗ, mình nhìn thật sâu mình mới thấy cái khác nhau trong cái việc la mắng của một người phàm phu và một bậc thánh, khác nhau. Hoặc là như Đạo Tế thiền sư ổng cầm chai rượu uống ực ực ực ực, mình mà nghe thuật lại mình tưởng là cứ giống như cái ông ông say xỉn ở trong xóm mình ổng cũng say xỉn tối ngày, nhưng mà thực ra khác. Nếu mình đứng đó mình nhìn mình sẽ thấy khác. Ổng uống ực ực nhưng mà sự thật cái rượu đó là vô biến thành nước lã liền, và người ổng tỉnh táo, vẫn sáng suốt, tâm vẫn thanh thản. Còn khác với cái ông say xỉn uống vô là nó thấm từng giọt, nghe nó đã từng miếng, nghe nó khoan khoái, đã gì nó sướng gì đâu không biết.
[12:39]Nhưng mà còn bậc thánh uống vô nó biến thành nước lã liền, nên ổng không hề biến sắc, thái độ không thay đổi, nên chỉ thị hiện ra bên ngoài chứ tâm không có bị biến động. Mà như để phá một cái chấp gì đó về hình tướng nhiều quá. Khi mà người đệ tử hỏi thầy, thầy mới nói câu này, nói trong đời tu của thầy, thầy cũng có cái kinh nghiệm là có một cái giai đoạn á thầy rất là nghiêm chỉnh. Để nếu mà bước nhìn vô chùa thấy thầy như nghiêm chỉnh nhất chùa, đi đứng đàng hoàng, khoan thai, ngồi tụng kinh là đâu đó nghiêm chỉnh. Nhưng mà chỉ có thầy biết là lúc đó tâm thầy dở nhất. Chính cái lúc mà tâm thầy dở nhất thì thầy giữ cái hình tướng thầy nghiêm trang nhất.
[13:19]Nên sau này khi đọc tới cuốn Đạo Đức Kinh của Lão Tử, thầy mới thấm một cái câu này. Đạo Lão Tử nói câu này, "Khi mà đạo mất rồi á thì phải giữ lấy cái đức, mà khi đức mất rồi thì giữ lấy cái lễ." Nghĩa là cái đạo tâm cao siêu mà mất á thì người ta buộc phải giữ cái đức hạnh để làm cái nề nếp cho cuộc đời, cho cuộc sống của mình. Phải đưa ra những tiêu chuẩn đức hạnh: à thế này là không được gian tham, trộm cắp, không được sân si, đó là những cái tiêu chuẩn của đức hạnh. Nhưng mà cao hơn cái đó là đạo. Người ta nắm được cái đạo rồi thì người ta nắm hết tất cả mọi đức hạnh. Nhưng mà cái đạo mất rồi thì buộc phải giữ đức hạnh để làm quy chuẩn cho đời.
[13:59]Mà nếu cái đức hạnh mất rồi, giữ cái lễ. Là gì? Là những cái nghi lễ, đối đãi, hình thức bên ngoài. Bây giờ gặp nhau không được chửi, đó là hình thức. Gặp nhau phải khiêm cung, phải chào đón, phải cười, phải này kia nọ, phải lịch sự, đó là cái lễ. Để giữ quy chuẩn lại cho xã hội đừng có loạn. Lão Tử nói rất là hay. Đạo sâu xa bên trong, cái đạo vi diệu, huyền nhiệm bên trong mất, phải giữ cái đức hạnh để làm quy chuẩn cho đời, mô phạm cho đời. Mà bây giờ có ai có đạo không? Có ai chứng đạo chưa? Không ai đắc đạo hết, buộc ta phải giữ cái đức hạnh. Giữ cái đức hạnh đúng như Lão Tử nói. Mà nếu mà đến cái xứ nào mà đức hạnh cũng không có luôn,
[14:38]phải giữ cái lễ, tức là cái lịch sự, hình thức, đãi bôi, nghi thức ở bên ngoài để cho nó đừng loạn. Lão Tử nói ngang tới đó thôi, bây giờ ta suy luận thêm: Vì nếu cái lễ mất rồi, ta giữ cái gì? Như vậy trong xã hội không có người đắc đạo, buộc lòng ta phải giữ cái đức hạnh, phải không? Bây giờ trong xã hội đó nếu đức hạnh không có luôn, buộc ta phải giữ cái lễ, cái lịch sự đối đãi với nhau để cho nó ổn định xã hội. Bây giờ ở một cái xã hội mà cái lễ nó không có luôn, không có lịch sự luôn thì ta giữ cái gì? Giữ cái gì? Cái luật. Lúc đó là phải có luật pháp. Nghĩa là làm sai phải có luật để cai trị để cho xã hội đừng loạn.
[15:18]Thì đó là cái quá trình, hễ cái người đắc đạo, cái tâm đạo cao siêu mà không có chứng được nữa thì phải lo giữ cái đức là cái mà chúng ta đang tu hiện nay. Hiện nay chúng ta chưa có cái đắc đạo trong tâm nên chúng ta đang giữ gìn cái đức hạnh từng chút, từng chút một, đúng không ạ? Hiện nay ta đang đi con đường này. Mà nếu cái đức hạnh không có mà đãi bôi ngoài miệng thì còn cái lễ. Lịch sự gặp nhau cũng cười tươi, sao chị ăn cơm chưa? Chưa ăn cơm hả? Thôi ráng nhịn nha. Mày cái thứ vậy, tức là ta dùng cái lịch sự đối với nhau là cái lễ mà thôi. Mà nếu cái lễ không còn nữa, gặp nhau bốp chát á thì lo giữ cái luật.
[15:53]Anh làm bậy anh vi phạm luật điều mấy, khoản mấy nha, tôi kiện tôi thưa anh liền à, để giữ xã hội cho đỡ loạn. Thì cũng vậy, khi mà bậc thánh mà có cái đạo, nắm cái gốc rồi thì toàn bộ những điều còn lại đều tốt đẹp. Là tự nhiên tỏa ra cái lời nói, việc làm đều nằm trong cái đức hạnh, nằm trong cái lễ nghĩa và phù hợp với luật pháp. Còn mà khi mà không có cái đắc đạo thì ta hiện nay ráng giữ cái đức hạnh mà tu để một ngày nào đó ta chứng đạt được cái đỉnh cao của cái đạo, của cái đạo mầu nhiệm gọi là đắc đạo. Cái quy trình này rất đúng với Lão Tử đã nói. Còn việc mà những vị thánh họ tự tại, an nhiên, đôi khi cư xử vượt ngoài cái thường tình,
[16:35]nhưng kỳ thực không bao giờ mất cái đạo bên trong. Mà không mất cái đạo bên trong mình nhìn mặt mình biết liền, nhìn mặt mình biết liền. Là cái vị đó bình an, tự tại, trí tuệ, từ bi chứ không có lộn xộn, không có loạn. Có một lần thầy nghe kể câu chuyện này. Nói rằng ở dưới miền Tây có cái vùng đó có cái ông thầy thuốc ổng trị bệnh như thần. Ổng là trị bệnh Đông y, mà khi thấy người đó cần phải thuốc Tây ổng ra một cái toa thuốc Tây bằng cái tiếng nước ngoài, mà sự thật ổng chưa bao giờ học tiếng nước ngoài. Nó như có thần thông vậy đó. Tức là những cái hành vi của ổng thì giống như là người có phép,
[17:11]nhưng mà không biết ổng đắc đạo thế nào thôi, không biết. Thì kể chuyện có một lần ổng xuống sông ổng tắm, ổng xuống sông ổng tắm rồi có ai lấy mất đồ của ổng, tại dưới miền Tây hay xuống sông tắm á. Thì ổng lên bờ ổng không thấy đồ thì ổng đi luôn về nhà ổng mới mặc đồ sao. Thì thầy tin rằng là ông tự tại. Ổng cảm thấy có đồ hay không có đồ chẳng động loạn gì tới ổng. Thì bây giờ nếu mà ta nhìn vào ta thấy cái ông mà ổng đi từ bờ sông đi về tới nhà ổng không biết bao xa thì ta không hiểu. Không hiểu nói là một vị thánh thì phải nghiêm trang, tề chỉnh chứ gì đâu kỳ lạ như vậy. Nhưng mà sự thật vì đó cái lễ bên ngoài không có, thấy không?
[17:47]Trong ba giai đoạn mà Lão Tử nói đạo, đức, lễ thì ngang cái chỗ mà ổng đi tồng ngồng như vậy thì ổng không có cái lễ. Vì người ta lấy đồ rồi ổng đi luôn về chứ không có đứng như kiểu mà ngập dưới ló cái đầu lên dưới bờ sông, ơ chạy về kiếm tôi bộ đồ, kiếm tôi bộ đồ tôi bị kẹt không lên được, không có vậy. Tỉnh bơ ổng đi về. Thì có những cái lễ mất, nhưng mà cái đạo không có mất. Cái đạo trong tâm vẫn đắc đạo, vẫn sáng ngời, vẫn tự tại. Ta nhìn ta không dám chê, ta không dám nói ông này bị tâm thần đi ngoài đường. Tại ổng đi bình an, gương mặt tự tại, khác với cái bà điên cũng cởi trần truồng hết đi ngoài đường mà mắt loạn xạ, láo liên, nói lải nhải, khác hẳn nha.
[18:21]Cho nên cái bà điên ta biết bả điên ta coi thường, nhưng ông thánh cũng đúng trường hợp y như vậy ta không dám coi thường. Tại ổng đi trong cái điềm đạm, an nhiên, tự tại, tâm không có động, nó khác liền. Cũng vậy, nên nói là khi một bậc thánh mà tâm thanh tịnh rồi thì lời nói và hành vi bên ngoài rất là an nhiên. Nhưng ta đừng nghĩ là luôn luôn có định lý đảo. Không có định lý đảo là sao? Có những người mà lời nói, hành động bên ngoài rất là an nhiên, thanh tịnh nhưng ta đừng nghĩ vị đó đã đắc đạo. Vì sao vậy? Vì cái này có thể luyện tập được. Ví dụ một cái người nào đó họ qua một khóa luyện tập
[19:01]lời nói và hành vi như những người reception ở trong các nhà hàng, khách sạn họ được đào tạo qua sáu tháng rồi, họ nói chuyện mình mình rất là vừa lòng. Hoặc là những cái tour guide, những người hướng dẫn du lịch á, họ có những lời nói rất là vừa lòng, những cử chỉ tận tụy chăm sóc, hoặc là những tiếp viên trên máy bay vậy, thì đừng nghĩ mấy người đó đắc đạo nha. Tại cái nó tập luyện, cái bên ngoài tập luyện được, chứ cái bên trong thì không phải là tập luyện mà phải tu chứng đàng hoàng. Câu chuyện vậy. Giờ ta qua một cái bài kệ khác: Không tin vào ai khác, thấu triệt lý vô vi, nhân tái sinh cắt đứt, hơn thua đều không màng,
[19:39]đã xả ly tham ái, vị ấy thật tối thượng. Sở dĩ mà Phật nói bài kệ Pháp Cú này vì có cái chuyện này cũng liên quan đến ngài Xá Lợi Phất. Một lần Phật hỏi ngài Xá Lợi Phất trước mặt nhiều vị Tỳ-kheo là: "Ông có tin khi cái niềm tin, tức là tín lực đó, ở trong cái ngũ lực, trong ngũ lực là có tín, tấn, niệm, định, tuệ. Cái bài này thầy có giảng rồi, nếu ai muốn nghe thì xin vui lòng lấy nghe lại cái bài này: ngũ lực, ngũ căn ngũ lực, bài này cũng rất là hay. Ông có tin rằng khi tín lực được khai mở và phát triển có thể đưa đến giải thoát hay không?" Phật hỏi ngài Xá Lợi Phất như vậy. Tức là cái niềm tin mà khi được phát triển,
[20:24]khai mở đưa đến giải thoát hay không? Ngài Xá Lợi Phất trả lời thế này, là: "Bạch Thế Tôn, con không hành trì dựa vào niềm tin. Con không hành trì dựa vào niềm tin. Tuy nhiên, con nghĩ rằng những ai chưa đắc quả thì nếu mà tin được vào một bậc Đạo sư, một bậc thánh chân chính thì có thể đưa đến giác ngộ được." Cái câu nói của ngài hợp lý phải không? Vì sao mà ngài nói là con không hành trì dựa vào niềm tin? Vì ta nhớ lần trước kể chuyện của ngài á, lúc đó là ngài gặp ngài A-sa-ji, ngài mới hỏi là: "Tôn giả tu theo pháp môn nào, thầy của tôn giả là ai mà sao thân tâm của tôn giả an lạc quá?" Ngài A-sa-ji mới trả lời bằng bốn câu kệ:
[21:13]"Các pháp do duyên sinh, rồi cũng do duyên diệt. Thầy ta Đại Sa-môn đã giảng dạy như thế." Thì ngài ngộ đạo liền, chứng quả Tu-đà-hoàn liền. Thì như vậy ngài có tin cái gì không? Có tin gì không? Không tin gì hết. Tức là ngài vừa gặp giây phút đầu tiên nghe một cái câu kệ đầy trí tuệ: "Các pháp do duyên sinh rồi sẽ do duyên diệt", ngài chứng ngộ liền, ngài chứng sơ quả liền. Như vậy là ngài chưa hề có niềm tin mà đã chứng sơ quả, mà chứng sơ quả rồi từ đó chỉ có trí tuệ mà thôi. Cho nên ngài mới nói là: "Dạ, con không có hành trì theo niềm tin. Con không hành trì theo niềm tin. Nhưng con nghĩ rằng những ai mà chưa đắc quả
[21:59]mà nếu có đặt niềm tin vào một bậc Đạo sư nào cũng có thể sau này giải thoát được, con nghĩ như vậy." Thì lúc đó có một số vị Tỳ-kheo mới bất bình ngài Xá Lợi Phất. Không biết ngài Xá Lợi Phất làm sao cứ hay bị người ta cự nự, hiểu lầm hoài cả đời. Có một số vị Tỳ-kheo mới nhao nhao lên, nói là: "Đức Thế Tôn đã dạy niềm tin trong ngũ lực, vậy mà ngài Xá Lợi Phất dám bác lời Phật dạy." Thì Đức Phật mới cải chính, nói: "Không. Xá Lợi Phất sự thật là hành trì không dựa vào niềm tin, nhưng Xá Lợi Phất có xác nhận là ngũ căn, ngũ lực: tín, tấn, niệm, định, tuệ là cần thiết để tu tập, nên các ông không nên nói Xá Lợi Phất là phản đối
[22:41]Như Lai." Đức Phật mới đọc lại cái bài kệ đó. Ta đọc lại một lần nữa là: "Không tin vào ai khác, thấu triệt lý vô vi, nhân tái sinh cắt đứt, hơn thua đều không màng, đã xả ly tham ái, vị ấy thật tối thượng." Câu chuyện là như vậy. Giờ ta phân tích một chút: là thường có hai cái ngõ để vào đạo, ta nói là vào đạo Phật thôi, các đạo khác thì ta không có ý kiến, là một ngõ đi bằng con đường trí tuệ và một ngõ đi bằng con đường của cái niềm tin, của tình cảm, mà Đức Phật có nói là có hai hạng người: Tùy pháp hành và Tùy tín hành. Tùy pháp hành tức là cái người đi vào bằng trí tuệ, nghe giáo lý hiểu kỹ, chấp nhận rồi đi vào đạo tu theo, theo đạo Phật.
[23:30]Còn cái người Tùy tín hành là người tin mà vào, có tình cảm mà vào. Nghe một khúc nhạc thấy hay, nghe một bài thơ ca ngợi đạo thấy thích, rồi ai hứa hẹn mạnh quá cái tin đi theo. Thí dụ hứa hẹn thế này: "Nếu mà ông trì cái câu mật chú này thì ngay đời này ông giải thoát, ông giàu sang, ông khỏe mạnh." Hứa thôi chứ không có thấy gì là chắc, nhưng mình tin cái thôi mình đi theo luôn. Hoặc có người hứa thế này: là "Nếu ông niệm câu niệm Phật này thì chắc chắn khi chết ông được vãng sinh về cõi Tịnh độ." Hứa, ông nói mạnh quá, nghe phát người ta tin và đi theo đạo Phật bằng cái con đường hứa hẹn đó luôn.
[24:06]Hoặc là có người hứa thế này: là "Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Nếu ông tu theo cái pháp môn này, một ngày nào đó ông khai ngộ được Phật tánh rồi ông đắc đạo như là Phật." Thì mình nghe hứa hẹn mạnh quá cái thôi mình tin mình đi theo luôn. Thì đó là hạng người Tùy tín hành. Tùy tín hành là tin mà đi theo. Còn cái người Tùy pháp hành thì ai hứa hứa không tin. Bây giờ có người nói chứ: "Ông tụng cái mật chú này là bao nhiêu biến như vậy ông sẽ đắc được cái gì, cái gì." Tôi cười, không tin. Nghiên cứu lại, đi quan sát coi có ai làm vậy mà đã được chưa. Hỏi: "Bao nhiêu người tu theo ngài, kể tôi nghe?"
[24:47]"Đây, tôi có một ngàn đệ tử." "Cho tôi đi gặp một vài người mà nghĩ rằng đã tụng mà đã được cái gì rồi, nói cho đúng." Tới chừng đi gặp thấy chưa, một ngàn người kia có người cũng trầy vi lên trật xuống, người thì vất vả, khổ sở, bệnh tật, bữa cơm bữa có bữa không. Cái ông này ổng nghi liền, ổng nói: "Như vậy ngài nói rằng mà tụng câu chú mà có thể giàu sang, no đủ là tôi hoài nghi. Ngài hứa rất là mạnh, nhưng mà những người đã tin ngài, đã đi trước tin theo ngài không phải có kết quả như vậy." Cho nên cái người này là người không có Tùy tín hành, mà người này thuộc loại Tùy pháp hành, phải giải thích giáo lý cho rõ rồi mới chịu đi theo.
[25:22]Hoặc là gặp một cái vị mà nói là: "Anh niệm Phật cái câu này chắc như vậy chết vãng sinh vào Tịnh độ." "Nếu mà nói như vậy thì làm sao biết rằng khi chết người này vãng sinh? Dấu hiệu nào để ta tin là một người khi chết rồi đã vãng sanh? Người đó có về báo cho ta biết xác nhận rằng là à tôi đã vãng sanh? Có người nào đã thật sự sau khi mà bỏ thân này, vãng sinh về Tịnh độ trở về đây hiện đứng giữa hư không nói: 'Ta nhờ niệm Phật, bây giờ ta đã về Tịnh độ', có chưa?" Nói: "Cũng chưa, nhưng mà phải tin." Nói: "Cũng chỉ là tin. Nên là tôi không đi theo con đường của niềm tin, và yêu cầu là cho tôi một cái giáo lý hợp lý,
[26:00]cụ thể, logic tôi mới đi theo." Rồi một người mới nói rằng: "Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh." Nói: "Phật tánh như thế nào?" "Phật tánh là cao siêu, là tuyệt đối, ở trong sẵn trong tâm mỗi người." Cái người này nói: "Nếu có Phật tánh trong tâm thì cái Phật tánh đó có bảo vệ chúng sinh khỏi điều ác không?" Nói: "Không, có Phật tánh rồi là không có cái gì xâm nhập rồi không có điều gì ác." Nói: "Tại sao rất nhiều người đi làm ăn cướp, ăn trộm? Tại nếu có Phật tánh thì người bảo vệ cái điều thiện thì tự chúng sinh là phải tốt lên tại có Phật tánh sẵn ở trỏng mà? Nhưng tại sao họ vẫn không làm điều tốt được?
[26:35]Thì Phật tánh lúc đó đang ở đâu? Mà nếu có sẵn Phật tánh thì Phật tánh đang ở đâu? Cho nên để nghiên cứu lại, không tin liền", vân vân. Thì cái trường hợp mà có một người mà khi nghe giáo lý mà cứ bắt bẻ như vậy thì ta biết rằng loại người này không phải là người Tùy tín hành, mà người này người nếu vào đạo phải là người Tùy pháp hành, tức là người do giáo lý giải thích hợp lý rồi mới đi vào chứ không có Tùy tín hành. Thấy hai hạng người như vậy. Thì ở đây chúng ta thuộc hạng người nào? Tùy tín hành hay là Tùy pháp hành? Thì tùy, thầy không có ý kiến. Không có ý kiến, tùy mình thôi, tùy căn cơ thôi.
[27:12]Mình nghe ai dụ dụ ngọt ngọt mà hứa hẹn mạnh quá cái mình tin theo thì mình thuộc loại Tùy tín hành. Còn mà ai hứa gì hứa không tin, đợi cân nhắc, kiểm tra, đối chiếu rồi kiểm chứng đầy đủ hết, chừng nào giáo lý mà cực kỳ hợp lý tôi mới theo thì mình thuộc loại Tùy pháp hành. Thì ngài Xá Lợi Phất là thuộc loại Tùy pháp hành. Cho nên là nói cái gì hợp lý: "Các pháp do duyên sinh", tức là nhiều yếu tố hợp lại, điều này hợp lý không? Bây giờ khoa học bác bỏ được không? Không, khoa học cũng phải công nhận là tất cả mọi điều, mọi sự trên đời này đều do nhiều yếu tố hợp thành. Khoa học bây giờ cũng phải chấp nhận mà Đức Phật đã nói:
[27:54]"Và cũng sẽ do nhiều yếu tố mà tan hoại." Cực kỳ hợp lý. Và nơi cái giáo lý cực kỳ hợp lý này ngài Xá Lợi Phất đắc đạo luôn, chứng sơ quả luôn. Cho nên ngài đi bằng con đường Tùy pháp hành. Cho nên khi Phật hỏi thì ngài nói: "Dạ, sự thật là con không hành trì bằng niềm tin." Vô ngay cái câu đầy trí tuệ ngài chứng, và từ cái chứng rồi trí tuệ ngài mở ra, ngài tiếp tục đi con đường trí tuệ luôn cho tới A-la-hán, không bao lâu sau đó. Và khi chứng A-la-hán rồi, trí tuệ tràn đầy rồi thì suốt cuộc đời ngài chỉ là trí tuệ chứ không có niềm tin suông. Tuy nhiên tôn giáo là một cái gì khai thác niềm tin cực
[28:33]độ mà chúng sinh khoái tin hơn là khoái kiểm chứng. Cái bệnh của chúng sinh là thích tin. Cái ông thầy đó ổng nói mạnh quá, ổng hứa hẹn nghe tốt quá, tin hết trơn. Một trăm người tin hết 95 người. Mà những nhà hoạt động tôn giáo, chính trị, tình báo thì luôn luôn khai thác cái niềm tin con người vì biết con người rất là dễ tin, con người cả tin. Và hôm nay nói cái bài này, học cái bài này ta phải xem lại mình, mình thuộc loại người còn một chút dễ tin nào trong lòng hay không. Ví dụ những người mà như ngài Xá Lợi Phất á, là người có căn cơ từ nhiều đời, cho nên ngài có cái trí tuệ sẵn, đến với đạo đến bằng trí tuệ.
[29:17]Còn những người căn cơ thấp, thường là ta đến với đạo đến bằng niềm tin, vì ta không đủ sức để kiểm chứng, kiểm tra để vạch ra những cái bất hợp lý trong cái lý luận của một ông thầy. Cho nên chúng ta cứ thấy ông thầy ổng nói mạnh mạnh cái ta tin. Thậm chí có người ăn chơi trác táng, tầm bậy tầm bạ mà dám xưng mình là bằng như Phật, vậy mà vẫn có người tin. Nên con người ta cực kỳ dễ tin, cực kỳ dễ tin. Và có nhiều nhà tôn giáo kiêm chính trị tình báo khai thác cái niềm tin chỗ này, biết con người dễ tin cứ nói cho mạnh người ta sẽ tin. Và người ta người này tin rồi rủ người khác sẽ thấy dấy thành một phong trào quần chúng.
[29:56]Và đây cũng là một cái điều mà tệ hại cho thế giới, tệ hại cho thế giới. Tuy nhiên ngài Xá Lợi Phất có nói thế này, là nếu một người chưa đắc quả mà đặt được cái niềm tin vào một bậc thầy tốt thì cũng có thể tu hành tiến bộ giải thoát được. Cái điều kiện tin nó phải thêm cái may nữa, làm cái may cho ta là ta tin đúng bậc chân sư thì vị đó sẽ đưa ta đến giác ngộ giải thoát thật. Còn nếu xui, ta tin bằng cái ông thầy háo danh háo lợi, giả dối, không có đạo hạnh thật sự thì đời ta tăm tối luôn. Ổng sẽ nói bậy bừa bạ, lừa gạt ta đủ thứ chuyện, chẳng dạy ta được điều gì ích lợi, ta hết tiền hết bạc và cũng hết phước luôn.
[30:42]Tại ta làm bậy thì phước hết, và đời ta rơi vào tăm tối ngõ cụt, còn lại là sự buồn bã ở cuối cuộc đời của mình. Cho nên cái niềm tin nó phải đi thêm với cái may mắn nữa. Nếu mà ta may mắn, ta tin đúng một vị chân sư thì ta tăng dần cái đạo nghiệp của mình, cho đến cái trí tuệ cuối cùng là tín, tấn, niệm, định, tuệ, cuối cùng vẫn lại kết thúc ở trí tuệ. Tức là một bậc thầy đúng á, khi ta gặp một vị đó, ta cũng chẳng biết ông thầy đó tốt hay xấu, nhưng mà do cái duyên ở đời xưa khiến ta tin ổng, ta theo ổng. Mặc dầu thấy ổng ốm ốm, xấu xấu vậy đó, nhưng ta tin theo. Có người thì ổng không tin, mà có người tin là do cái duyên của mình đời xưa.
[31:26]Mà nếu ổng đúng á, khi mình đến với ổng, ổng dạy mình câu niệm Phật chết vãng sinh, nhưng mà khi mình càng đến tu bắt đầu ổng dạy mình vô số điều trí tuệ. Nói: bản ngã là thế này, là thế kia, tham sân si là thế này thế kia, ngay trong cái đời sống này ta phải vượt khỏi tham lam, vượt khỏi sân hận, ta phải chấm dứt cái sự ganh tị đố kỵ, ta phải khai mở lòng từ bi thương yêu, phải làm vô số công đức phục vụ cho đời. Và chính những cái nhân đó xứng đáng để một ngày kia ta rời bỏ cuộc đời này, ta về với cõi Phật. Thì ông này ổng khai thác nhân quả, ổng dạy mình đạo đức, ổng dạy tiếp mình thiền định
[32:05]thì như vậy, buổi đầu mình đến vì niềm tin, nhưng qua một hai năm sau là ông thầy mở ra trí tuệ cho mình liền. Thì đây là bậc chân sư.
[32:15]Ổng đưa mình vào cái cửa của niềm tin nhưng mà ổng đẩy mình vào cái tòa nhà của trí tuệ. Còn một bậc tà sư ổng cho mình vào cái niềm tin, sau đó mình đi loay hoay trong mê mờ của niềm tin hoài, không có lối ra, cứ niềm tin cho tới chết. Như cũng bị, ví dụ như mình tin một ông thầy Mật Tông cũng vậy, trong lúc mình đang bấn loạn quá ổng nói: thôi, con vô đây, con tụng câu chú này đi là tai ách đau khổ con biến mất liền. Cái mình tụng, tụng tụng tụng mà không biết tai ách biến mất, bắt đầu ổng dạy tiếp, ổng nói là: cái đau khổ của con nó có nguồn gốc từ tham sân si, từ sự ích kỷ, từ quả báo kiếp trước. Giờ con phải làm thêm những điều này,
[32:54]con phải vượt qua tham, sân, si, ích kỷ, lừa dối, hơn thua, ganh tị, con phải làm những công đức này, công đức này. Tức là mới đầu ổng cho mình câu chú niềm tin, nhưng sau đó ổng mở ra trí tuệ, mình đi vào nhân quả, đi vào đạo đức liền. Thì đó là ông thầy chân sư. Nhưng mà thí dụ còn một ông mình cho một câu mật chú, nói: sao con tụng hoài thầy nói tụng cái này hết đau khổ, con không hết đau khổ. Ổng cho con câu thần chú khác, ổng nói: vậy câu này linh hơn. Tức là ổng cứ dắt mình đi trong niềm tin hoài là biết gặp ông tà sư cho tới khi ngày mình chết. Có một lần thầy gặp một ông cư sĩ, ông này ổng đẹp trai,
[33:27]râu quai nón, hào hoa phong nhã và ổng ca ngợi ông thầy Mật Tông của ổng. Ổng ca ngợi lên mây xanh làm thầy cũng ngạc nhiên luôn, thầy nói: không lẽ ông đó ổng đắc đạo cao siêu như vậy? Cho tới cái ngày cái ông cư sĩ đó ổng vì công quả cho cái chùa đó ổng bị tai nạn, ổng nằm liệt giường, và vẫn có niềm tin với thầy mình là ông thầy mình hô biến một cái mình đứng dậy mình tẩ... đi tiếp liền. Tại ổng vác cái bao xi măng cái té xuống, bao xi măng đánh vào xương sống cái ổng bị liệt. Cái ổng nằm đó ổng cứ xin được gặp thầy để thầy làm phép một cái cho con đứng dậy, tại ổng niềm tin mà, nhưng ông thầy ổng trốn luôn cho tới ngày anh đó nằm và chết tại chỗ luôn.
[34:03]Chuyện đó thầy chứng kiến trước mắt. Nên ông thầy không đưa mình đến trí tuệ mà cứ khai thác niềm tin, cứ nối tiếp niềm tin, biết ngay gặp tà sư liền, rút lui giùm thầy. Như vậy Phật tử ở đây kiểm tra lại trong suốt cuộc đời mình gặp bao nhiêu ông thầy, mình đi vào đạo bằng cái ngõ niềm tin hay trí tuệ giáo lý? Nếu mình đã đi vào con đường của niềm tin thì sau đó ông thầy đó có đưa mình đến trí tuệ hay vẫn tiếp tục giữ mình ở niềm tin mà biết rằng ông thầy đó tà hay là chánh. Nha, từ đây có chìa khóa rồi đó, có bí quyết rồi. Bây giờ có người hỏi: thưa thầy, giờ làm sao con biết lựa ông thầy nào chánh để đi theo?
[34:44]Không có biết đâu. Tại vì nó lệ thuộc vào cái duyên của mình đời xưa, ví đời xưa mình mắc nợ ổng thì bây giờ ổng nói bậy bạ mình vẫn đi theo. Ví dụ thế này, vào cái đời xưa ông đó là ông quan ở trong vùng, ổng làm nhiều điều tốt cho dân. Ví dụ ổng đắp đường, ổng khai hoang, lập ấp, ổng cất nhà, ổng chăm lo cho dân, mình sống trong cái sự cai trị tốt của ổng cái mình mắc ơn, thương ổng. Rồi sau này cái đời sau gặp lại cái ổng lên ổng làm giáo lãnh, tức là tự nhiên ổng phát ổng đi tu, ổng mở mối đạo, tín đồ theo ào ào, tức là cái dân mà ngày xưa mà làm dân của ổng ở trong cái vùng á, bây giờ lại theo làm đệ tử ổng,
[35:23]làm tín đồ phục vụ cho ổng hết, để trả cái nợ ngày xưa của ổng. Nhưng mà không biết là ổng tu chánh hay tu tà, cái đó mình chưa nói. Chỉ biết là mình theo một ông thầy thường là vì cái duyên mắc nợ đời xưa. Còn bây giờ mọi người ngồi ở đây là đối với thầy là như thế nào? Là vì thầy mắc nợ những người này đời xưa, giờ phải ráng mà trả chứ... Có
[35:49]ông thầy nào nói mình đúng nhì không? Nói: theo thầy đi, thầy là người đúng hạng nhì thế giới. Có ông nào nói mình đứng đúng nhì không? Ông nào cũng nói mình là đúng nhất không à. Ông nào cũng nói đúng nhất. Còn ta theo chọn nào để ta theo là do trí tuệ của ta, cái duyên xưa của ta. Vậy thôi. Nhưng mà không lẽ là ta cứ vì cái duyên nó ràng buộc mà lỡ ta gặp tà sư thì sao? Có một cái bí quyết khác nữa là nhờ Phật. Cứ ngày đêm ta cầu nguyện Phật: Kính bạch Đức Thế Tôn, con sinh ra đời là đã vô minh mê muội, nay gặp được Phật Pháp nhiệm màu soi sáng, con muốn được đi theo cả cuộc đời của mình ở kiếp này và kiếp
[36:33]sau để nương theo ánh sáng Phật Pháp tu hành mà thoát được trầm luân vô minh sinh tử và có đủ đạo lực để cứu giúp chúng sinh, nhưng con không biết ai là chân sư để con đi theo, cho nên xin Phật gia hộ cho con gặp được một bậc chân sư mẫu mực để con nương tựa, xin Phật hãy gia hộ cho con chứ con không tự biết được. Mình cứ cầu nguyện vậy riết à, thế nào Phật cũng sẽ đưa mình đến gặp một bậc chân sư, mập, đẹp trai rồi vân vân.
[37:07]Rồi hiện nay cũng vậy nữa, bỗng nhiên nó có một sự cạnh tranh tôn giáo kỳ lạ vào trong thế kỷ này. Thế kỷ 21 này không hiểu tại sao lại là thế kỷ của tâm linh. Vào thế kỷ thứ 18, 19, khi khoa học tiến bộ thì người ta tưởng rằng đã đào mồ chôn được tôn giáo. Đến nỗi thế kỷ thứ 20 con người bay lên được Mặt Trăng, cái lại những thành tích của khoa học quá hiển nhiên và quá thuyết phục, người ta tin rằng là khoa học đã đào mồ chôn tôn giáo. Rồi đến thế kỷ 21 nữa người ta nghĩ rằng con người sẽ chế được những cái đĩa bay, những phi thuyền bay liên hành tinh vượt qua những tinh hệ này tới những tinh
[37:43]hệ kia trong dải Ngân Hà và không còn ai có thể nhắc tới tôn giáo nữa. Nhưng không! Điều bất ngờ ngược lại hẳn luôn là trong thế kỷ này, con người đổ xô tin vào tôn giáo hơn bao giờ hết, các tôn giáo tranh nhau phát triển hơn bao giờ hết. Họ dùng đủ kỹ thuật, mánh khóe, phương tiện tình báo, chính trị, tiền bạc tài chánh để mà gom, dụ dỗ và thu hút tín đồ, rất là lạ, không hiểu tại sao. Không hiểu tại sao là cái thế kỷ này con người ta lại đâm ra mê tôn giáo hơn cả thế kỷ trước, mặc dầu khoa học tiến cứ tiến, máy vi tính, không gian điều khiển từ xa cứ tiến, bay ở đâu cứ bay, lặn ở đâu cứ lặn,
[38:24]lái xe đâu cứ lái, nhưng theo đạo cứ theo, không sao hết, không hiểu sao kỳ lạ. Và bắt đầu những thế lực chính trị họ mới thấy rằng là tôn giáo là quan trọng vì tôn giáo thu hút được quần chúng, mà ai nắm được quần chúng là người đó có quyền lực. Cho nên các thế lực chính trị đều kết hợp với tôn giáo. Chữ "kết hợp" là mình nói nhẹ nhàng, có khi cái thế lực chính trị bị tôn giáo điều khiển, có khi có thế lực chính trị điều khiển tôn giáo theo ý mình. Nên cái thời đại này phức tạp. Và vì vậy ta không ngạc nhiên khi thấy là cái phương tiện truyền đạo của các tôn giáo bây giờ tinh vi hơn, rộng rãi hơn, đa dạng hơn ngày xưa rất là nhiều. Vì sao?
[39:12]Vì có những nguồn tài trợ bí mật họ đưa vào. Nói: tại sao cái chùa đó nhiều tiền quá? Tại sao cái đạo đó, mấy ông giáo sĩ đó nhiều tiền quá? Thì ta phải hiểu rằng bản thân ổng không có tiền mà có một thế lực tình báo chính trị phía sau đã cung cấp để thu hút tín đồ. Và người tín đồ lúc này chẳng phải tùy tín hành, mà cũng chẳng phải tùy pháp hành, mà sự thật là tùy tiền hành. Ai cho tiền theo, nhiều tiền theo. Chính vì vậy, mà nếu dựa trên cái sự thu hút tín đồ, truyền bá đạo để đánh giá rằng cái đạo đó là hay thì hoàn toàn không còn chính xác nữa, không chính xác. Có thời đại này như vậy. Vì vậy, hôm nay khi ta nghiên cứu về một tôn giáo, ta phải hết sức là tỉnh táo.
[39:57]Đừng hùa theo số đông người, đừng hùa theo những lời hứa hẹn gì hết thì ta mới hy vọng tìm ra được một bậc chân sư để mà nương tựa. Còn thấy ai đông đông đi theo mình cũng hùa đi theo, ai hứa hẹn gì mình cũng tin, rồi ai nói gì phép lạ thần thông mình cũng tin là mình có thể lọt bẫy liền. Lọt bẫy vào một thế lực của tôn giáo mà kiêm với tình báo chính trị, và mình mất cuộc đời của mình luôn, rất là uổng phí để mình phục vụ cho một thế lực tình báo chính trị nào đó mà mình không hay biết. Còn mình muốn đi con đường đạo chân chính thật sự thì phải tùy pháp hành, phải đi bằng con đường trí tuệ, trí tuệ.
[40:36]Không tin, không tin vào ai khác, thấu triệt lý vô vi, đó là những cái điều như vậy, ta phải hiểu giáo lý cho kỹ để đừng có tin vội. Có cái câu mà Phật nói thế này, là không tin vào ai khác. Cái câu này nghe đó nếu mà ta không hiểu ta sẽ nghĩ rằng cái người tu vào đạo có thể trở thành người bướng bỉnh vì không tin ai. Nhưng mà ở đây ý Phật nói thế này, là cái tính độc lập của một người có trí tuệ. Khi một người mà họ có trí tuệ thì ta thấy họ có cái độc lập trong suy nghĩ, mà tuy có độc lập trong suy nghĩ họ lại không phải là một người bướng bỉnh, à cái khác nhau như vậy. Còn cái người mà độc lập trong suy nghĩ,
[41:17]cá tính mạnh, trở nên bướng bỉnh lại là người không có trí tuệ. Vì hễ bướng là không có trí tuệ, nhớ một câu giùm câu đó, hễ bướng là không có đạo đức, không có trí tuệ. Còn cái người có trí tuệ, họ độc lập trong suy nghĩ, nhưng mà họ luôn luôn hòa thuận được với mọi người, hiền lành, tử tế được với mọi người thì đó là người có trí tuệ. Cho nên chúng ta hãy xem lại mình. Nếu chúng ta luôn luôn lệ thuộc vào suy nghĩ, ý kiến của người khác biết rằng ta không có trí tuệ. Còn nếu ta độc lập được trong suy nghĩ thì có thể ta có trí tuệ, nhưng kiểm thêm một điểm nữa là ta có bướng hay không. Nếu ta độc lập được trong suy nghĩ mà kiêm thêm
[42:00]bướng bỉnh thì ta cũng không có trí tuệ luôn. Cho nên ta có ba hạng người trong cái mức độ này để ta để ý nè: người thứ nhất là lệ thuộc sự suy nghĩ của người khác, nghĩa là ai nói gì nghe xuôi xuôi tai là mình tin mà không suy xét nổi, không có trí tuệ suy xét, đó là hạng người thứ nhất; hạng người thứ hai là độc lập trong suy nghĩ nhưng có bướng bỉnh, người này cũng không trí tuệ luôn; và chỉ có hạng người thứ ba là hạng người có trí tuệ thực sự là độc lập trong suy nghĩ nhưng hòa thuận, khả ái, tử tế được với mọi người thì đây mới là người có trí tuệ. Cho nên ta phấn đấu để ta được là người thứ thứ ba này,
[42:39]tức là ta độc lập được trong suy nghĩ, nhưng mà ta xử sự nhân ái, hòa nhã với mọi người, không có ngang bướng. Giờ ta qua cái câu chuyện khác. Bài kệ thế này: Làng mạc hay rừng núi, thung lũng hay đồi cao, La Hán trú chỗ nào, nơi ấy thật khả ái. Đây từ một câu chuyện tích dài dòng rắc rối. Ngài Xá Lợi Phất sau khi ngài đi tu đắc đạo rồi thì ngài lặng lẽ độ các em mình đi tu hết. Đạo lực ngài rất là mạnh. Chỉ có cha mẹ ngài thì bất mãn, chống đối. Cuối cùng giữ được người em út. Người em út năm đó cũng lên khoảng mười mấy tuổi, và cha mẹ mới lật đật cho đi hứa hôn cưới vợ vì sợ là nếu mà không hứa hôn cưới vợ kịp thì ngài Xá Lợi Phất cũng bưng
[43:31]đi tu mất luôn thì không ai kế thừa cái gia sản rất là lớn. Thì trong buổi lễ đính hôn thì cái người em này tên là Revata, người em Revata mới được dắt đến nhà gái gặp cái cô dâu tương lai. Cô dâu cũng còn trẻ tại lúc đó hứa bên Ấn Độ thời đó cũng tảo hôn, cưới vợ sớm lắm, mới 16, 17 tuổi cưới vợ, cưới chồng hết, mà hứa hôn là năm 13, 14 tuổi là hứa hôn. Thì hôm đó hai người gặp nhau cũng xấp xỉ khoảng 13, 14 tuổi thì cô bé kia cũng vừa mới cái tuổi dậy thì, nên cái người cũng rất là xinh xắn, đẹp, vân vân. Nhưng mà chỉ tại con cái ông mai. Cái lỗi tất cả mọi chuyện là tại cái ông mai. Mọi cái đau khổ, ly tan này tại cái ông mai. Lý do thế này:
[44:16]khi mà dắt cô dâu ra thì có cha mẹ, ông bà ngồi đầy đủ và có chú rể là cái chú Revata là em út của ngài Xá Lợi Phất đó. Sau khi ông chúc phúc, nói đẹp hết rồi ông mới nói về cô dâu, ông nói thế này: "Dạ, xin chúc cho cô dâu sau này cũng được sống lâu như bà cố ở đây." Mà bà cố năm đó bả 102 tuổi, bả ngồi bả mắt bả lờ đờ, da bả nhăn, răng không còn cái nào, bả khòm khòm, cái lưng bả còm, tóc bả bạc, bả nhìn không rõ ai là ai hết. Cái chú Revata chú nhìn trừng mắt lên: "Trời ơi, nữa cái bà vợ mình đây cô này sẽ trở thành giống như bà này?" Chú quay chú đâm đầu chú chạy một mạch, trốn luôn cái lễ hứa hôn đó luôn.
[44:55]Chú chạy quá chừng chạy. Khi chú đâm đầu chú chạy như vậy thì ngài Xá Lợi Phất đã biết trước, đã dặn hết. Ngài Xá Lợi Phất đã biết cái đoạn đường chú sẽ đi qua tới đâu và dặn chư Tăng đón đón tại chỗ đó. Và nói nếu chú đó lại xin xuất gia, chấp nhận bưng đi giấu liền cho ngài, mà không cần cha mẹ cho phép, phá lệ luôn. Thì vì ngài biết mà, nếu mà để trễ gia đình đi bắt lại liền. Tại vì chú đâm đầu chú chạy, nhỏ con thì chạy nhanh nhưng mà gia nhân đang rượt theo. Thì đúng như ngài dự đoán, chú đi qua những cung đường đó lại gặp Tỳ kheo sụp xuống lạy "con xin xuất gia", ông kia xốc hai nách giấu vô bụi đi chạy mất luôn.
[45:34]Người nhà đi tìm không ra tại lũi ngang tắt ngang đường rừng đi luôn về tịnh xá rồi cạo tóc, tu hành cho một đề mục thiền quán. Rồi chú cũng sợ gia đình đi tìm, chú trốn về một cái khu rừng keo đầy gai, chú giấu trong đó chú tu luôn. Chú tu chú đắc đạo, chứng A La Hán luôn. Sau đó thì ngài Xá Lợi Phất biết em mình chứng A La Hán rồi mới xin Phật cho con đến thăm em. Đức Phật nói: "Thôi đợi, ngài cũng đi thăm." Đức Phật nói ngài cũng đi thăm. Đi đến cái khu rừng đó có người mới nói: "Bạch Thế Tôn, từ đây đến cái khu rừng keo đó không có làng mạc, không có người, cách 60 dặm đường rất là xa." Tức là chú nhỏ chú sợ cái cô
[46:10]dâu đến nỗi mà chú chạy mất 60 dặm đường, trốn luôn khu rừng keo là biết cỡ nào. Sợ kinh khiếp như vậy. Cái 60 dặm này không có làng mạc, không ai cúng dường, không có gì hết. Thế Tôn đi qua 60 dặm đường sẽ rất là vất vả. Đức Phật mới hỏi: "Trong đoàn đi có Sīvali đi hay không?" Nói: "Dạ thưa có Sīvali." Đức Phật nói: "Vậy không sao, hãy đi." Tôn giả Sīvali là một tôn giả siêu việt về phước đức. Tức là ngài xuất hiện chỗ nào là ở đó quỷ thần, chư thiên đều phải cúng dường hết. Cái phước cúng dường của ngài kinh khủng luôn, sau này ta sẽ học tới ngài. Sau này sẽ có một bài kệ liên quan tới cái công đức của
[46:48]ngài, mà tại sao mà ngài công đức cúng dường của ngài mà bây giờ được cái phước nuôi luôn cả chư Tăng được. Phật tin chắc đi qua một cái khu vực không có làng mạc, không có người mà nếu có ngài Sīvali đi thì không ai bị đói, cái phước của ngài đến như vậy. Và Phật không dùng phước của mình, nương vào phước của đệ tử mình, điều rất là lạ. Thì là đoàn người cất bước đi. Đức Phật cũng không dùng thần thông nha, ngài không bay, không gì hết, ngài cứ đi bộ bình thường. Trên đường đi nhưng mà vừa tới buổi phải ăn cơm thì chỗ đó hiện ra nhà cửa, làng mạc, dân chúng liền. Người ta đến cúng dường hết cả đoàn. Ai vậy?
[47:23]Quỷ thần trên đường đi và chư thiên phối hợp nhau cúng dường. Cứ đi đến khúc nào cần phải ăn cơm, cần phải nghỉ ngơi có nhà cửa, tinh xá hiện ra. Đi ra khỏi, nhà cửa biến mất hết, người biến mất hết. Và đi tới khu rừng keo, đi mấy ngày như vậy tới khu rừng keo thì ngài Revata lúc này hãy còn nhỏ, ngài dùng thần lực của mình hiện ra cả lầu các, tinh xá đầy đủ luôn. Tại vì ngài nghĩa là A La Hán mà, hiện ra hết và đón Phật và chư Tăng. Ở đó cúng dường, Đức Phật thuyết pháp này kia nọ. Và cái tin đó lan ra, tin đó lan ra là nơi cái khu rừng keo gai góc đó nghĩa là Revata đã dùng thần lực của mình hiện lên cả lầu các,
[48:03]cả tinh xá, đầy đủ thức ăn, vật uống để cúng dường Phật và chư Tăng. Có hai vị Tỳ kheo nghe tin đó lật đật chạy tới, nhưng mà hai ông đi tới mà với cái tâm nghi ngờ. Nói: "Cái người mới xuất gia không bao lâu làm sao có thể mà đắc đạo có thần lực được như vậy?" Tới mà không tin, mà đúng hai ông tới mấy ông thấy rừng keo không à. Cái gai của cây keo móc rách áo y luôn. Hai ông đi loanh quanh mấy ông bỏ về, mấy ông bỏ về cái gặp bà tín nữ Visākha. Hôm trước ta đã từng nói về tín nữ Visākha, một bà nữ cư sĩ mà vĩ đại nhất nhì trong cái thời Đức Phật, tín nữ Visākha. Thì hai ông Tỳ kheo mới nói thế này:
[48:40]"Chúng tôi nghe nói rằng ở trong khu rừng keo đó thần lực của Revata đã tạo nên cả lầu các, tinh xá, cúng dường Phật và chư Tăng mà tôi đến không thấy." Thì bà Visākha bả nghe bả cũng ghi nhận vậy thôi. Sau này thì khi mà Đức Phật và chư Tăng cùng Revata lui khỏi khu rừng đó rồi thì khu rừng đó trở thành cái rừng keo trở lại, thì cũng có hai vị Tỳ kheo đi trong cái đoàn đó cũng đến gặp bà Visākha cũng nói chuyện như vậy, cũng nói là thần lực của Revata thật là phi thường, hiện ra cả lầu các, tinh xá, đầy đủ vật thực hết. Thì bà lại cũng nghe hai Tỳ kheo trước thì nói thế này, hai Tỳ kheo sau nói ngược lại thì bà mới hoang mang và bà
[49:17]đoán ở trong đây có cái gì bí ẩn thuộc về thần thông. Thì một lần bà gặp Phật, bà mới hỏi: "Bạch Thế Tôn, con nghe hai vị Tỳ kheo ban đầu nói ở đó chỉ là rừng keo gai góc, Thế Tôn đã vào đó ở trong rừng keo gai góc không có gì hết. Nhưng có hai vị Tỳ kheo lại về đây kể với con lại ngược lại, là Revata đã dùng thần lực mà biến cả cái khu rừng thành lầu các, tinh xá đẹp đẽ thì sự thật là thế nào?" Đức Phật lại không trả lời. Đức Phật lại không nói là thực hư. Đức Phật chỉ mỉm cười nói một bài kệ hiểu sao đó hiểu: Làng mạc hay rừng núi, thung lũng hay đồi cao, La Hán trú chỗ nào, nơi ấy thật khả ái.
[49:59]Đức Phật của chúng ta cũng cũng rất là bí hiểm, có những lúc mà ngài không thèm nói thẳng. Không nói là ông này mới nói đúng, ông kia nói đúng, mà sự thật ông nào cũng nói đúng hết, ông nào cũng không nào nói dối hết, phải không? Hai ông mà bị cái gai keo quẹt rách y, ổng cũng về ổng nói thật. Mà hai ông về nói lầu các, điện đài, ổng cũng nói thật. Vậy cái nào mới là thật? Phật không nói cái nào thật, Phật chỉ nói là: Làng mạc hay rừng núi, thung lũng hay đồi cao, chỗ nào mà Thánh ở là chỗ đó dễ thương, dễ thương.
[50:30]Hôm nay là ngày Chủ nhật, báo Thanh Niên có ra cái số báo Chủ nhật. Mà hễ báo Thanh Niên Chủ nhật thì có mục trả lời của anh Bồ Câu về chuyện tình yêu, hôn nhân, tình cảm nam nữ. Thì hôm nay có một cái câu hỏi của một cái người hỏi anh Bồ Câu thế này: "Thưa anh Bồ Câu, em thương cổ mà cổ không thương em. Bây giờ em phải làm sao để đừng thương cổ?" Thì anh Bồ Câu mới trả lời: "Em hãy tưởng tượng 70 năm sau, cổ sẽ là một bà già rụng răng, tóc bạc, lưng còm, da nhăn, khó tánh, bệnh hoạn, và thậm chí đi cầu một chỗ thì bây giờ em hết thương liền." Mới sáng nay, ai mở báo Thanh Niên, thầy không nói dối nha, mới sáng nay.
[51:14]Mà cái câu của anh Bồ Câu trả lời hoàn toàn chính xác, đúng với cái cái câu chuyện hôm nay, đúng câu chuyện hôm nay. Mà anh Bồ Câu chơi độc địa là thêm câu cuối cùng: bả đi cầu một chỗ luôn, cho em quét dọn luôn, nếu em thương bả tới ngày cuối cùng của cuộc đời.
[51:32]Đó là những câu chuyện như đùa mà là một sự thật. Mà Revata tỉnh ngộ, sợ hãi cuộc đời cũng từ cái hình ảnh này. Cái ông mai xí xọn nói bậy đó, tại cái ông mai đó không à, ổng đừng xí xọn nói câu đó người ta êm rồi. Nói: "Cầu chúc cho cô dâu nữa sẽ sống thọ như bà cố." Trời ơi, cái chú ngước lên nhìn bà cố, chú tá hỏa lên liền. Bà người không phải người, ma không phải ma, sống không sống mà chết không chết, khủng khiếp quá. Nói: "Trời, nữa vợ mình mà thành cái bà này đây hả?" Cái tình yêu, hôn nhân gì đó biến mất sạch hết trơn, không còn, yêu hết nổi luôn, ngay đó yêu mất liền. Và như vậy ta mới thấy một cái công dụng
[52:12]của cái việc mà thấy được cái thân này vô thường là ái và dục biến mất. Ngày lễ Thành Đạo tới ở trên núi thầy sẽ giảng cái bài này, Lợi ích của sự quán thân vô thường sẽ giảng sâu hơn. Chứ nhiều người cứ tưởng rằng khi ngồi thiền ta quán thân vô thường là ta tu một cái pháp môn thấp thấp, không có thấp đâu, rất là cao siêu. Bằng chứng là khi cái chú Revata này hiểu được cái sự vô thường của thân như thế, cái ái dục biến mất liền, chạy trốn đi tu liền. Mà tại sao giờ này ta vẫn còn ngồi đây ta chưa đi tu? Vì ta chưa quán cái thân vô thường tới mức độ đó. Chứ nếu mọi người ngồi đây, nhất là những thanh niên á,
[52:52]mà quán được cái thân vô thường như bà cố như vậy thì thầy nói là một lát nữa sẽ từ từ lũ lượt xin Sư phụ Trụ trì ở đây là xin xuất gia sạch sẽ, không còn gì nữa hết trơn. Mà bởi vì chưa nhìn thấy cái bà cố của Revata cho nên vẫn còn yêu đời lắm, nên ái và dục vẫn tràn đầy. Chứ nếu mà nhìn thấy được bà cố của cô dâu Revata thì đi tu liền, chạy nghĩa là chạy toé khói luôn, lúc đó sẽ có một chư Tăng đón ở đâu đó. Cái vô thường của thân xác nó đưa đến cái vô thường của nhan sắc và nó kéo theo cho ta một cái minh triết nhìn hết mọi điều trong cuộc sống này đều là tạm bợ. Và bỗng nhiên mọi cái chấp trước của mình buông xuống,
[53:37]cái lòng mình thanh thản, tự tại và trí tuệ khởi lên. Nhớ vậy, khi cái chấp rớt xuống thì cái trí tuệ khởi lên, ta bỗng nhiên trở thành một người có minh triết. Điều này sẽ được nói trong cái bài giảng ở Thành Đạo, thầy sẽ nói rất là kỹ. Bây giờ thì cũng vậy, vô tình mà cậu bé Revata này cảm nhận cái sự vô thường hết sức là thuyết phục, ấn tượng hơn là cả chúng ta ngồi thiền mà quán mấy năm. Ví dụ ta ngồi ta cũng quán thân này vô thường, nó sẽ già, sẽ chết vậy, nhưng mà khi ta bỏ thời ngồi thiền ra ta bước ra ngoài ta gặp một cô gái đẹp ta thấy mến liền. Tức là cái quán thân của ta nó chưa kỹ, chưa tới, chưa thấu đáo.
[54:23]Chứ còn nếu ta quán thân ta vô thường mà thấu đáo, ta bước ra ngoài ta gặp một người đẹp ta dửng dưng liền, quán mà nó tới vậy. Ngài Revata thì không hiểu, có lẽ do đời trước nữa và đồng thời cái bà cố đó quá ấn tượng, quá ấn tượng. Cho nên chỉ trong khoảnh khắc mà ngài ngước lên ngài nhìn cái nó bằng ta quán vô thường 10 năm. Ta quán vô thường 10 năm ta mới dám là rũ bỏ hết ái dục, rũ bỏ hết cái mọi đắm luyến của tình cảm nam nữ để mà chạy đi tu liền. Ta phải quán 10 năm ta mới chạy vô chùa nổi, còn Revata chỉ một khoảnh khắc ngước lên nhìn bà cố cái là chạy liền. Một giây một bằng ta tu 10 năm,
[55:02]do bà cố đó cũng quá tuyệt vời, quá ấn tượng, thấy không? Cảm ơn bà cố.
[55:11]Có nhiều người sẽ nói rằng là đạo Phật bi quan quá. Tại sao không nhìn khía cạnh tốt của cuộc sống để sống và yêu đời mà cứ nhìn khía cạnh xấu, người ta còn trẻ mà cứ tưởng tượng người ta già để rồi mình chán đời bỏ đi tu, như vậy đạo Phật có bi quan quá chăng? Bi quan quá chăng? Thoạt nghe thì ta thấy là bi quan, nhưng mà nếu ta có hành trì ta mới thấy đây là một trí tuệ chứ không phải bi quan, không phải bi quan. Ví dụ như thế này, có một người rủ ta hút ma túy thì ta mới nói thế này, tôi mới nói: "Tôi không bao giờ thử dù chỉ một lần." Ta đưa ra lý luận là khi mà ta thử một lần ta sẽ bị nghiện.
[55:54]Khi ta bị nghiện vậy ta bị lệ thuộc và ta sẽ không còn làm gì được, chỉ lo kiếm tiền thậm chí lừa dối cả người thân của mình để lấy tiền mà đốt hết vào ma túy, mua hết. Đến khi mà không thể tìm nữa ta sẽ dùng tới dao, súng để cướp bóc và ta không tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật. Cho nên một cái phút ngắn ngủi tạo cho ta một cảm giác đê mê gì đó trong não gây ra bởi ma túy nhưng nó để lại bao nhiêu là thảm cảnh ở phía sau, thảm cảnh ở phía sau. Thì ta nói câu đó là ta trí tuệ hay ta bi quan? Bây giờ cái người bán ma túy nó mới nói thế này: "Mày sao bi quan quá, thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt còn hơn buồn
[56:36]le lói suốt trăm năm, mày cứ phê cho đã còn tới đâu tính tới đó kệ nó, bất cần phía sau." Câu nói đó là bi quan hay lạc quan? Câu nói đó là ngu si chứ không phải bi quan hay lạc quan. Cho nên chính cái mà ta thấy được cái hậu quả xấu phía sau ta mới là trí tuệ. Thì cũng vậy, người nữ gặp người nam, người nam gặp người nữ ở trong cái tuổi vừa mới lớn vậy, đầy cái sức sống, ta yêu mến nhau. Hứa hẹn với nhau và nghĩ rằng sẽ đem cho nhau hạnh phúc mãi mãi. "Em không thể sống khi vắng anh, anh cũng vậy, anh không thể sống khi vắng em." Có không? Nghe nói hoài chứ gì? Nghe nói hoài. Có nghe nói, hồi đó nghe nói vậy.
[57:18]Nhưng hôm qua ở trên đường Trương Quốc Dung có ông đó ổng chở bà vợ ổng đi, bất chợt quẹo ngay cái chỗ có cái ngõ hẻm vắng vắng ổng dừng lại ổng đấm bà vợ té rớt xuống xe, ổng dặm bà vợ mấy cái, ổng đánh tát túi bụi, bà kia thứ điều muốn chết luôn. Chuyện nữa mình không biết, nhưng mà có một vài người xe ôm chạy lại can, đòi bắt ổng đi vô công an. Thì ta đâu có ngờ rằng cái người mà mà đánh bà vợ, dặm lên bà vợ như vậy thì cách đây khoảng 10 năm ổng cũng đã nói: "Anh không thể sống nếu thiếu em, không thể sống nếu thiếu em."
[57:54]Cho nên khi mà ta yêu thương một người nào thì khi mà ta nhìn thấy điều này, ta nhìn thấy đây là lời hứa hẹn, đây là sự nhớ nhung, đây là nhan sắc, đây là sắc đẹp, thì hãy nhìn thêm cái phía sau có cái ngày cãi nhau, không nhìn mặt nhau, đánh nhau, bệnh tật, ràng buộc đủ thứ thì phải nhìn luôn cái đó. Thì cái đó không phải là bi quan mà đó là trí tuệ. Và đạo Phật là trí tuệ như thế, không phải bi quan. Hãy nhìn như vậy và đối diện và thấy trước tương lai, thấy trước tương lai. Đó là trí tuệ.
[58:32]Trong câu chuyện này có cái hay thế này: là chuyện ngài Xá Lợi Phất biết căn cơ em mình có thể đắc đạo cho nên dặn chư Tăng là tiếp nhận em mình phá lệ luôn. Mặc dù cái luật đưa ra là một người muốn xuất gia phải có sự đồng ý của cha mẹ, nhưng mà trong trường hợp này ngài Xá Lợi Phất biết mà không nhận thì mất một vị A La Hán nên ngài phá lệ. Và ta phải hiểu thế này: một bậc thánh là như vậy. Vì cái lợi ích cuối cùng chứ không chấp vào nguyên tắc. Nguyên tắc hay luật pháp hay đường lối đều đưa đến cái cứu cánh, mục đích cao cả cuối cùng. Ví dụ như bây giờ cái người đưa đơn đến nói rằng thế này, nói:
[59:09]"Bây giờ thưa ông vì nhà tôi bị mưa nó dột, bây giờ tôi làm cái đơn xin sửa nóc nhà, xin phòng nhà đất sửa nóc nhà." Người kia nhìn vô cái đơn nói là: "Cái đơn của bà làm không hợp lệ, bà khai thiếu chỗ này, bà khai thiếu chỗ kia, bà đưa đến vào cái lúc ngày không phải ngày hành chánh." Nêu ra một vạt: "Vì nguyên tắc thế này, vì nguyên tắc thế kia nên không duyệt cho bà." Thì cái người này đưa ra nguyên tắc mà quên mất cái lý tưởng của một người công chức phục vụ dân là gì? Là phục vụ cho đời sống của dân là được hạnh phúc, được no đủ. Mà lúc đó mình quên mất cái mục đích đó đi mà mình chỉ thấy có nguyên tắc là
[59:48]tối thượng, chấp nguyên tắc là tối thượng, vô tình làm cho dân đau khổ. Cho nên khi ta học nhiều cái luật lệ, học nhiều nguyên tắc nhưng phải hiểu rằng nguyên tắc luật lệ chỉ là phương tiện đưa đến cứu cánh là xây dựng đời sống hạnh phúc, ấm no cho dân, chứ còn nguyên tắc luật lệ không bao giờ là cứu cánh. Đừng dại khờ mà chấp nguyên tắc luật lệ mà hại dân mình. Hoặc là người chỉ huy mà chấp nguyên tắc luật lệ là giết lính mình. Nên ngài Xá Lợi Phất ngài lúc đó ngài bỏ, phá lệ liền, nói nhận liền, nhận cho ngài. Mà đúng là nhờ vậy mà ta có một vị A La Hán giữa cuộc đời này. Nên nhớ điều đó, thế nào là phương tiện, cái gì là cứu cánh, đừng bị lẫn lộn.
[1:00:31]Mà ta chấp là cái gì? Là ta quên cứu cánh để chấp phương tiện mà thôi. Đó là bệnh cố chấp của con người. Trong câu chuyện này có một điều thú vị nữa là Phật không dùng thần thông để đi nhanh, mà Ngài cũng không có tác ý kêu chư Thiên cúng dường cái đoàn của mình, mà đi bộ bình thường và sống nhờ cái phước của đệ tử mình là ngài Sīvali. Mà biết rằng cái phước của Sīvali là dư để trang trải hết cho chư Tăng. Mà Sīvali tại sao mà phước lớn đến như vậy, là do công hạnh cúng dường của ngài từ nhiều kiếp rất là đặc biệt, cho đến thậm chí đến cái kiếp này. Cái lòng thương tưởng của ngài đối với chúng sinh
[1:01:10]thật là lớn, cái này thầy đã từng có kể. Lúc đó là ngài đã là A La Hán rồi, đã đi tu. Hôm đó ngài đi khất thực thì người ta cúng cho ngài thức ăn rất là ngon. Sau khi ôm bình bát đầy, ngài mới đến cái gốc cây, ngài ngồi xuống và ngài ăn. Thời xưa thì ăn bằng tay chứ không có muỗng, Ấn Độ là chỉ ăn bốc. Ăn xong cái ngài rửa tay rồi nghỉ. Ngài ăn xong hết rồi, có một con chó đói nó chạy tới, nó nghe cái mùi cơm còn trong bát nó cứ vẫy đuôi, nó le lưỡi mà bụng nó gầy trơ xương ra, lông nó rụng gần hết. Và cái vú nó còn lòi ra, tức là nó cho con nó bú mà nó không đủ sữa, nó quá đói quá kiệt sức. Ngài nhìn thấy, ngài xót thương,
[1:01:50]ngài ép hơi, ngài vận lực, ngài ói hết ra trở lại để cho nó ăn, để hy vọng rằng nhờ vậy nó đủ sữa cho con nó bú. Cái lòng của ngài Sīvali là như vậy.
[1:02:01]Bây giờ ai dám làm điều đó không? Có không? Có. Bây giờ có nhiều người làm còn hay hơn nữa: hiến máu nhân đạo. Thức ăn mình ăn vô tiêu hóa thành máu rất là quý rồi, mà mình rút máu ra để hiến máu nhân đạo. Cái hồi đó công đức nó không thua ngài Sīvali. Nên vì vậy, người nào đã từng hiến máu nhân đạo trong đời cái phước được tồn tại nhiều kiếp chứ không phải là không. Thời xưa thì không có hiến máu nhân đạo, nếu thời xưa mà có hiến máu nhân đạo nghĩ chắc ngài Sīvali ổng rút máu sạch ổng cho hết quá. Nhưng bây giờ cái kỹ thuật tối tân ta mới có cơ hội để hiến máu nhân đạo, cho nên người nào mà cảm thấy mình hơi bề bộn nên hiến
[1:02:45]máu nhân đạo cũng là cách làm phước rất là tốt, như vậy.
[1:02:52]Và ta cũng thấy cái hay của Đức Phật thế này: Ngài phát huy đệ tử của mình chứ không có ỷ cái sức của mình. Phước của Ngài dư nuôi đệ tử mà Ngài không cần, Ngài lấy phước của Sīvali để tôn vinh đệ tử mình, để phát huy cho đệ tử mình. Đó là bản chất của người lãnh đạo giỏi. Và đặc biệt nữa là một bậc thánh cao siêu như Phật vậy đó, Ngài bay là bay biến mất chỗ này hiện ra chỗ kia, thậm chí Ngài biến mất đây lên cõi trời được, vậy mà Ngài đi thăm người đệ tử của mình Ngài đi bộ 60 dặm đường, thản nhiên đi bộ. Nên ta hiểu điều này, một bậc thánh càng cao siêu thì càng thích làm những chuyện bình thường.
[1:03:31]Chỉ có những người không được bình thường thì mới khoái làm chuyện cao siêu. Làm ta nhớ lại câu chuyện của một triết gia Diogenes vào thời Alexandre đại đế. Cái khu vực của Hy Lạp đó, có một triết gia tên là Diogenes. Cái chữ triết gia ngày xưa đó, philosopher đó, tức là một người có thần thông. Còn bây giờ ta hiểu triết gia là một người nói giỏi, phân tích giỏi thôi, chứ ngày xưa ai mà được gọi là philosopher là người đó phải có thần thông. Thì Diogenes là thuộc loại người có thần thông, có trí tuệ như vậy. Giống như vị Bồ tát nào thị hiện xuống ở cái xứ đó vậy. Suốt cuộc đời ổng sống rất đơn giản, ổng chỉ có một cái bát thôi,
[1:04:09]ăn uống gì đó và sống đơn giản cực kỳ giống như một Sa-môn bên đạo Phật vậy. Vào thời đó có Alexandre là một vị vua, ổng đi chinh phục khắp nơi, đánh qua tới Ấn Độ luôn. Thì ông Alexandre này mới nghe tin là có một cái nhà hiền triết cao siêu, thần thông, đời sống đạo hạnh như vậy, ổng mới kêu quần thần dẫn ổng tới thăm. Thì ở cái xứ mà vùng cái đó sa mạc nhiều, nên ban đêm lạnh lạnh khiếp lắm. Nên thường là sáng người ta phải sưởi. Ban đêm mình chịu cái lạnh, lạnh thấm vô, ban ngày mình sưởi ấm lại, cởi bớt cái lạnh của ban đêm đã thấm vào trong người mình. Thì Alexandre mới thấy ổng ngồi đang sưởi nắng, ông vua mới xuống ngựa cùng với các
[1:04:46]quan tùy tùng và những người bảo vệ phía sau rất là đông đến chào và hỏi chuyện. Hỏi chuyện thì ông Diogenes vẫn vừa ngồi nói chuyện, và các vua quan thì đang đứng đó, mà ổng nói những câu chuyện rất là sắc bén làm cho Alexandre rất là cảm phục. Alexandre mới nói câu này: "Bây giờ ngài muốn điều gì không?" Tại ổng nghĩ ổng là một hoàng đế mà, ổng kia muốn điều gì bất cứ điều gì ổng có thể cung phụng, thậm chí cho cả lâu đài hay chức tước: "Ngài có muốn điều gì chăng?" Diogenes nói câu này: "Tôi muốn ngài xích qua một chút xíu để cho tôi phơi nắng." Đơn giản. Ông kia hiểu, thì ra phát hiện nãy giờ mình đứng mình che ánh nắng mặt trời,
[1:05:26]lật đật đứng qua một bên liền, và cúi chào, quay qua mới nói với tùy tùng: "Nếu ta không là Alexandre, ta sẽ là Diogenes." Tức là ổng thấy cái ngai vàng ổng lớn quá bây giờ ổng không bỏ được, đế quốc rộng mênh mông, ổng không thể bỏ, chứ thật ra ổng thấy một con người hiền triết sống đơn giản như vậy, sâu sắc, trí tuệ, tự tại như vậy, cuộc sống đẹp như thế cũng làm ổng cảm phục, yêu quý. Ổng cũng rất thích được là một nhà hiền triết cao siêu như vậy. Nhưng mà lỡ là một đại đế chinh phục mênh mông khắp nơi, đành phải đi theo cái nghiệp của mình, nhưng trong lòng có cái sự cảm phục. Và một cái nhà hiền triết như Diogenes sau này ổng chết bằng nín thở,
[1:06:04]sử ghi là ổng nín thở nhưng mà phải hiểu là ổng nhập định ổng chết. Thì mình phải hiểu là một bậc thánh cao siêu thường chỉ thích làm những điều bình thường, chỉ có những người không bình thường thì khoái phô bày những điều cao siêu. Nên ta cũng dựa vào một điều đó để ta đánh giá một bậc chân sư thêm nữa. Người nào cứ khoái làm những chuyện kỳ lạ thì ta coi chừng, không phải cao siêu mà là hơi bất bình thường, để ý điều đó một chút. Thế nên, khi mà một cái người nào đó họ sử dụng cái ưu thế của họ quá nhiều thì ta phải hiểu đó là dấu hiệu của bản ngã, của phàm phu, chứ không phải của một bậc minh triết, trí tuệ.
[1:06:42]Ví dụ, cái người giàu đụng ai cũng khoe tiền ra mà nghĩ là mình có thể dùng tiền mình mua cái này, mua kia, chi phối cái nọ, hễ là thấy con mình đi oánh lộn cái là: "Thôi để tao lấy tiền tao cho nó một cái nó nín liền, nó không kiện thưa gì đâu." Đáng lẽ cái đó phải dạy con mình, phải không? Không có dùng tiền mua chuộc ai hết, để cho con mình nó học bài học nó phải trả cái giá mà nó đã làm sai, còn đây cứ lấy tiền ra che luôn thì sau này chính con mình nó sẽ giết mình. Vì nó không được học một bài học đạo đức mà nó chỉ học cái bài học là ỷ cái thế lực. Hễ mình có cái ưu thế nào thì đem cái ưu thế đó ra
[1:07:17]khoe với đời mà không nghĩ đến khía cạnh đạo đức. Còn cái người có quyền thì ỷ quyền, lấy quyền của mình để lấn người này lấn người kia thì ta biết đây là người phàm phu, bản ngã. Hoặc là cái người thấy mình có cái tài nói hay, tối ngày cứ đem nói chuyện này nói lấn áp người này, thuyết phục người kia, đó là tranh hơn với người nọ. Còn người ỷ mình có sắc đẹp, cứ đi tán tỉnh người này, tán tỉnh người kia. Tức là thấy mình có ưu thế nào thì sử dụng ưu thế đó, đó là người phàm phu, bản ngã và sẽ tổn phước, sẽ đọa. Còn cái người có trí tuệ biết mình có ưu thế, không dùng tới. Không dùng đó để dùng ưu thế đó phục vụ cho mình,
[1:07:56]cung phụng cho mình, chỉ dùng ưu thế đó khi phục vụ cộng đồng, phục vụ con người. Nếu có tiền, tiền để lo cho con người, để xây dựng cơ xưởng mà cho công nhân có việc làm, hoặc là để làm từ thiện. Nếu mình có quyền chức, chỉ dùng quyền chức đó phục vụ nhân dân. Thế còn khi mình xuất hiện ra một lúc khác, giấu mình như bao nhiêu người bình thường khác, không bao giờ phô bày: "À, ta đây là giàu, ta đây là có quyền chức." Hoặc là một người đẹp, lúc nào cũng giấu cái đẹp của mình, không bao giờ muốn nói tới. Hoặc là một người có tài ăn hay nói giỏi, không bao giờ gặp ai cũng biba bibô mà nói hoài, không có.
[1:08:31]Cho nên cái người mà ngồi nãy giờ mà nói bibô biba hoài là cái người rất đáng ngờ, ngồi nãy giờ rất đáng ngờ.
[1:08:41]Nên ta thấy mà một người càng cao siêu thì lại càng bình thường là như vậy, không sử dụng ưu thế của mình. Và đây là một bài học lớn cho ta. Khi Đức Phật đi bộ 60 dặm để thăm một người đệ tử nhỏ của mình, hãy nhớ hình ảnh đó và suốt cuộc đời ta hãy sống như vậy, hãy sống rất bình thường như một người tầm thường. Còn những cái ưu thế mà mình biết mình có được thì chỉ dùng để phục vụ chúng sinh, phục vụ Phật pháp, phục vụ đất nước mà thôi. Nhớ như vậy. Cái bài kệ dễ thương của Phật thế này: Làng mạc hay rừng núi, thung lũng hay đồi cao, La Hán trú chỗ nào, nơi ấy thật khả ái. Bài này có hai ý nghĩa:
[1:09:23]Cái nghĩa thứ nhất là một vị A La Hán ở chỗ nào thì sẽ hoán cải cái chỗ đó lại thành ra tốt đẹp. Cái nghĩa thứ hai là tâm A La Hán tự tại, cho nên cái chỗ đó dù có thế nào thì Ngài vẫn an vui. Cho nên có hai nghĩa, nghĩa là: "A La Hán trú chỗ nào, chỗ ấy thật khả ái." Là một là Ngài có thể dùng cái phước lực của mình để chuyển hóa hoàn cảnh, hai là Ngài tự tại. Tuy nhiên, một cái dấu hiệu của bậc thánh là cái chỗ ở ở chỗ nào đều phải ngăn nắp, không có luộm thuộm. Dấu hiệu của một bậc thánh là ở đâu dù nghèo đều ngăn nắp, mà nhất là cái chỗ vệ sinh luôn luôn sạch sẽ. Bên Ấn Độ chứ người ta không chú trọng nhà vệ sinh lắm,
[1:10:08]nhưng mà riêng trong đạo Phật, từ thời Đức Phật là cái nhà vệ sinh luôn luôn được chú trọng rất là kỹ. Có nhiều cái luật nói về cái việc sử dụng nhà vệ sinh, có nhiều cái luật như vậy. Đức Phật không có nói đúng sai mà chỉ nói một bài kệ dễ thương để cho ta hiểu sao đó hiểu. Còn vài phút nữa ta qua bài kệ thứ tư: Khả ái thay núi rừng, chỗ người phàm không ưa, nhưng bậc thánh ưa thích, vì không màng dục lạc. Câu chuyện như thế này: Có một tỳ-kheo đến một cái lạc viên bỏ hoang để hành thiền. Lạc viên là gì? Lạc viên là chỗ ăn chơi. Hồi xưa đó, người ta không có cấm như cái mại dâm là bây giờ quốc
[1:10:49]gia mình cấm hồi đó họ không cấm, gọi những thanh lâu á. Nơi đó khách làng chơi tới họ được ăn nhậu rồi có gái phục vụ, cái đó gọi là thanh lâu, mà gọi là lạc viên. Hồi đó cái đó gọi là hợp pháp và đóng thuế đầy đủ thì thôi. Thì bên Ấn Độ cũng như vậy, thì có một cái lạc viên bị bỏ hoang, có lẽ không biết họ ế hết khách hay sự cố gì đó họ bỏ hoang tàn, rồi có một vị tỳ-kheo đến đó để ngồi thiền. Thì khi mà ngài đang ngồi thiền thì có một cái người kỹ nữ hẹn một người đàn ông cũng đến đó. Khi cô đến cô chờ thì ông kia không đến, thì bả chỉ thấy có ông tỳ-kheo thì bả mới gạ gẫm, tán tỉnh. Ông kia ổng động tâm.
[1:11:28]Chắc cái cô này cũng đẹp mà mặc đồ hở hang khiêu gợi sao đó không biết ổng động tâm. Nhưng mà khi ổng động tâm như vậy thì ổng sợ, ổng đâm đầu ổng chạy tuốt vô rừng luôn, vô rừng ổng trốn. Trốn ngồi thiền trong đó, lúc đó Đức Phật ở tinh xá Ngài thấy, dùng thần thông Ngài hiện ra trước mặt vị tỳ-kheo và Ngài đọc một bài kệ: Khả ái thay núi rừng, chỗ người phàm không ưa, nhưng bậc thánh ưa thích, vì không màng dục lạc. Rồi sau này cái vị đó hiểu ý Phật rồi mới tránh né những khu vực đó mà ráng tinh tấn tu rồi cũng đắc đạo. Tại sao khi vị tỳ-kheo đó đến cái chỗ đó ngồi thiền thì lại cô kỹ nữ hiện ra?
[1:12:05]Mà hết chỗ lựa, ổng đi vô ổng lựa chỗ đó ngồi. Vì thứ nhất là ổng còn bị thử thách một lần. Bị cái nghiệp ổng phải bị thử thách một lần về cái nghiệp người nữ, nghiệp dục, nói thẳng là dục. Bị thử thách một lần nên khiến chỗ nào không tu, vô ngay cái chỗ đó ngồi tu. Mà cái chỗ ngày xưa nó đã từng hoen ố, cái điển trược nó còn, cái điển xấu á, cái điện xấu của nó vẫn còn phảng phất trong đó, ta phải tin vào điều đó. Vì sao vậy? Vì sao, ví dụ: Cái nơi đó mà người ta tu hành thanh tịnh rồi người ta bỏ đi, mình đến đó mình tu cũng rất là dễ tu, vì cái điển lành nó vẫn còn. Hoặc là một cái bệnh viện mà người ta bệnh hoạn,
[1:12:45]nhiều người chết chóc, mình đến đó rồi mình sống cũng bất an, vì cái nỗi đau khổ nó vẫn còn in dấu nơi đó. Hoặc là một nơi chiến tranh tang tóc mình tới đó ở, mình cũng bất an, bởi vì cái đau khổ, chết chóc tang thương vẫn còn in dấu nơi đó, ta gọi là cái điển, cái điển. Nếu mà nói cái điển á thì nó giống như là vô tri vô giác, nhưng sự thật nó không phải, mà nó qua trung gian người chết. Ví dụ, cái khu thanh lâu, lạc viên, ở nơi đó người xưa người ta ăn nhậu, gái gú đồ tùm lum, thì có một số hồn ma, cái vong linh, nó cũng là cái dân chết vì cái ăn chơi, nó cứ tụ tập về mấy cái chỗ đó để nó hưởng ké cái cảm giác đó, rồi nó cứ lẩn quất, lẩn quất ở cái chỗ đó.
[1:13:26]Mà cái đầu nó chết không đầu thai được, mà cứ mê nhậu, mê gái, cứ lẩn quất, lẩn quất cái chỗ đó hoài. Rồi khu đó người ta bỏ hoang người ta đi, mà cái vong nó vẫn còn ở đó, nên cái không khí ở đó rất là ô trược, mình đến chỗ đó mình tu cũng rất khó thành, khó chuyển hóa được những cái vong linh mà cái tâm họ còn nặng đầy cái sự hưởng thụ đó. Và cái ông tỳ-kheo ổng cũng bị cái nghiệp đó, đâm đầu vô đó ngồi thiền nên hiện cái cô kỹ nữ để thử thách cái nghiệp dục của ổng một lần cuối trong đời. Nếu lúc đó ổng không thắng được thì thôi xong, đời tu chấm dứt, nhưng mà nhờ ổng cũng còn cái phước, tuy động tâm có ham muốn nhưng mà còn sợ hãi và đâm
[1:14:08]đầu chạy vào rừng, nhờ vậy sau này cũng đắc đạo. Nên vì vậy là thường người ta tu hành người ta cứ tìm nơi thanh tịnh là vì lý do đó là như vậy, cũng có sự hỗ trợ. Vì cái nơi mà trước đây đã có người tu hành thanh tịnh thì nhiều cái vong linh họ về đó họ tu phụ, họ cũng tu theo, tâm họ còn in dấu sự tu hành đó. Khi mọi người bỏ đi hết rồi nhưng mà những cái vong linh đó họ vẫn còn, khi ta đến ta tu tiếp thì họ hỗ trợ ta, ta dễ tiến hơn, lý do là là như thế như vậy. Thế nên, khi ta tu đời này nhưng mà sự thật cái nghiệp đời xưa vẫn còn lấn quấn, lấn quấn có thể là chi phối ta mà ta sẽ bị thử thách.
[1:14:48]Những cái thứ thách, thử thách của ta là gì? Tham dục nè, ái luyến, tham lam vật chất, thủ đoạn, nóng nảy, ganh tị, chê bai, tàn nhẫn. Nếu đời xưa ta đã từng có những nghiệp này, thì đời này khi ta gặp Phật pháp, cái cơ hội mà để ta trỗi dậy những cái tâm đó sẽ xuất hiện liền, để thử ta. Ví dụ đời xưa mình từng đối xử tàn nhẫn, đời này mình sẽ gặp cái cơ hội để mình đối xử tàn nhẫn lại. Mà nếu lúc đó mình vượt qua được thì mình thắng được cái nghiệp tàn nhẫn, còn không mình sẽ tiếp tục tàn nhẫn và hết tu luôn. Hoặc là đời xưa mình đã từng tham vật chất, thì khi mình đi tu sẽ có cơ hội vật chất hiện ra
[1:15:24]trước mắt coi mình có lấy không, có tham không. Nếu mình không vượt qua được thì sẽ mất tu. Còn núi rừng mà Đức Phật khen là một cái nơi cực kỳ ít tiện nghi cho đời sống loài người, mà khi con người ta càng văn minh thì người ta càng rời xa rừng núi thiên nhiên. Cho nên, rừng không có chỗ để người ta tìm được dục lạc. Nếu ai vào rừng rồi là không tìm dục lạc, và nếu mà những người thích tu thì sẽ dễ tu, nhưng phải có định lực và có sức khỏe mới ở trong rừng được. Vì thầy có nghe một câu chuyện: Có hai vợ chồng nọ cũng ham tu, cái rủ nhau bỏ vào rừng ở, cứ nghĩ rằng mình vào rừng sống đơn sơ như những người, bậc thánh nhân ngày xưa
[1:16:06]mình sẽ dễ tu, nhưng ở hai ngày lật đật bỏ rừng đi ra liền. Nói vì sao? Vì: "Tâm tụi con loạn hết trơn luôn." Nói tại sao loạn? Bởi vì suốt một ngày để tính toán đời sống không: Suốt một ngày coi tối nay mình ngủ đâu, mình chặt cái lá gì để lót, mình nấu bằng cái gì, ăn miếng cơm ở chỗ nào, đi cầu chỗ nào, bây giờ tắm làm sao, treo quần áo chỗ nào, nghĩa là tính toán hàng loạt hai ngày rồi bỏ rừng, vì sợ quá, căng thẳng liền. Hoàn toàn không có thuận tiện cho đời sống. Nội mà sắp xếp đời sống không là điên luôn. Còn khi mình đời sống ở thành thị mình quen rồi, mình biết: "À, tắm thì lát nữa vô trong kia tắm, ăn lát nữa vô phòng kia ăn", không bận tâm.
[1:16:43]Tới giờ nào đó làm việc đó làm, mình quen rồi, chứ không phải đơn giản mà dễ bỏ vô rừng. Nên phải có sức khỏe và có định lực gì đó mới có thể ở trong rừng, không phải dễ. Nên bây giờ mà nói rằng cơ hội để ta không màng dục lạc mà ta vào trong rừng để sống tu thanh tịnh là rất là hiếm và khó, không phải là mọi điều kiện cho đời sống đã có sẵn. Tuy nhiên, dù sống ở thành thị hay là thôn xóm, xa rừng để tu thì ta cũng thực hiện ba điều: Thứ nhất, là trồng nhiều cây xanh chung quanh để cho ta gần gũi với thiên nhiên; thứ hai, ta tập sống đời đơn giản, tiết kiệm, ít dùng đồ điện, ít dùng đồ điện; và thứ ba, là ta tinh tấn tu hành để vượt qua dục lạc.
[1:17:31]Ba điều như vậy, dù ta không sống được trong rừng như người xưa, dù ta sống xa rừng nhưng hãy thực hiện ba điều đó: Một là trồng nhiều cây xanh chung quanh, hai là sống đời đơn giản, tiết kiệm, ít dùng đồ điện, và thứ ba là tinh tấn tu hành để vượt qua dục lạc. Bài hôm nay đến đây là hết. Chúng ta nghe bốn cái câu chuyện, mỗi câu chuyện đều có cái ý nghĩa thú vị riêng, và mong rằng quý Phật tử tinh tấn. Sẵn đây có một cái chuyện, tại vì nhiều, thời gian gần đây nhiều người hỏi, quý thầy, quý cô hỏi thầy quá, cho nên thôi thầy nhân đây thầy trả lời luôn: Là thời gian qua ở trên mạng, người ta có phát tán nhiều
[1:18:12]cái tờ rơi nói rằng là thầy giảng nói rằng ăn cá được phước, thầy khuyến khích là người ta ăn cá, sát sanh. Như vậy, nhưng có nhiều người tin lắm, mà nhiều ông thầy nữa, nhiều ông thầy trụ trì ở các chùa lại phụ phát tán cái tài liệu của một cái người Tin Lành. Cái người viết bài đó là một người Tin Lành, mười mấy năm qua là gửi theo lệnh của một tổ chức bí mật nào đó, tổ chức tình báo nào đó cứ bám theo thầy để mà vu khống, nói xấu, chống phá, cắt đầu cắt đuôi để bóp méo cái bài giảng của thầy. Trong đó có cái bài mà thầy giảng ở ngoài chùa Hương Mai, ngoài Bình Định. Chùa đó phải đi băng qua cái đầm Thị Nại,
[1:18:54]đó là cái cầu băng qua đầm Thị Nại, cầu dài nhất nước mình, cảnh rất là đẹp. Khi cái đoàn của mình đến cái chùa thì ở trên núi chùa hiện ra cái hào quang ngũ sắc rất là đẹp. Đó, ai ai cũng thích. Có nhiều người đã khóc khi trông thấy cái hào quang ngũ sắc hiện ra trên đỉnh núi, vì chùa đó nằm ở lưng lưng núi. Khi mọi đoàn mình đến thì trên đỉnh núi hiện ra cái hào quang ngũ sắc. Thì trong cái bài giảng, thầy giảng cái bài có cái tựa là "Tu hành có nhiều nghĩa". Khi hết bài giảng thì Phật tử họ hỏi, bởi vì ở đó họ là làng chài, làng đánh cá, họ hỏi về: "Tụi con muốn tu, nhưng mà nhiều đời cái làng
[1:19:31]tụi con đều phải theo cái nghiệp đánh cá. Như vậy cái tội phước như thế nào?" Lúc đó thầy có trả lời nó hợp tình hợp lý, rồi sau này cái một cái tay Tin Lành lấy cái đoạn đó cắt đi cắt lại và tung ra khắp nơi trên mạng, cũng như đi về Việt Nam thuê người, thuê các chùa phát tiếp cái bài đó, nói rằng là ông thầy Chân Quang nói ăn cá được phước, nói rằng thầy là tà sư. Tà sư, mà cũng tà thiệt, ốm, xấu vậy chắc là tà thiệt. Và cũng nhiều người hoang mang vì không có nghe được cái bài giảng chính gốc mà nghe qua trung gian của cái tờ rơi đó thôi. Nên thầy cũng mong rằng nếu có ai hỏi, quý Phật tử trả lời giùm thầy
[1:20:13]để cho mọi người đừng có hoang mang nữa, cũng là cái công đức. Hoặc là mình biết nơi nào họ phát cái tờ rơi đó mình đến tới nơi nói chuyện với họ, nói đừng có tiếp tay cho kẻ xấu mà làm cho trong đạo Phật mình chia rẽ với nhau. Sư phụ trụ trì Từ Tân vừa mới kể câu chuyện: Trước khi thầy về đây giảng thì trước một ngày có một người tới nói với thầy trụ trì đây là thầy Chân Quang nói như vậy, tà kiến sai. Thì sư phụ trụ trì ở đây mới trả lời rõ ràng, rành mạch: "Đó là một thủ đoạn quen thuộc, cứ cắt đầu cắt đuôi để mà ghép tội người ta. Đó là sự vi phạm luật pháp, một sự vi phạm về đạo đức. Đồng thời là cái thủ đoạn để cho trong đạo Phật phá nhau,
[1:20:57]gây chia rẽ mà các đạo khác họ rảnh tay họ truyền bá. Đừng có khờ dại mà mắc mưu họ." Như vậy hôm nay thầy cũng trả lời câu này, cũng mong rằng quý Phật tử mang câu trả lời của thầy cũng như của thầy trụ trì ở đây mà đến giải thích cho mọi người mà họ còn hoang mang, bị dao động như vậy. Thầy rất là cảm ơn. Chúc cho quý Phật tử mọi điều an vui.