Transcript: Người Gõ Đầu Lâu - Pháp Cú 88

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:48:06

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:11]Xin mời toàn thể đại chúng niệm Phật cầu gia bị. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:32]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:47]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:01]Chúng con xin cung thỉnh Thượng tọa Pháp sư an tọa. Xin mời toàn thể đại chúng an tọa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ta nghe cái bài Pháp Cú cuối cùng, lại đúng là vào dịp cuối năm, rất là lạ, đúng là trời đất sắp xếp.

[1:22]Nay hết rồi qua năm ta sẽ nghe về những những bài về Bồ Tát Đại thừa. Ta nghe bài: "Ai hiểu rõ hoàn toàn Sinh tử của chúng sinh, Nên vượt qua ô nhiễm, Đạt giác ngộ sáng suốt, Ta gọi Bà-la-môn. Bậc lậu tận La-hán Thì còn ai có thể Biết được chỗ thọ sinh, Bậc như thế tôn quý, Ta gọi Bà-la-môn." Đức Phật nói cái bài kệ Pháp Cú này trong cái câu chuyện này: có một vị tên là Vangisa, thì ông có cái biệt tài là ví dụ cái người người ta có cái người thân bị chết, mà ở bên Ấn Độ đó, chết là họ không có chôn, mà chết họ đem quăng vào cái rừng gọi là rừng thi lâm á, cái rừng xác chết, để cho chim, cú, quạ ăn rồi nó tự nó mục rữa, phong tục cũng hơi lạ.

[2:23]Nên cái rừng đó ghê lắm, bước vô đó là thấy xương sọ quăng lăn lóc, mà ma rất là nhiều.

[2:31]Kể cả trong kinh Phật cũng ghi về hiện tượng đó. Phật có kể cái giai đoạn mà Ngài tu đến chỗ cái rừng thi lâm á, là những cái bóng ma nó cứ đi qua đi lại phất phất phất, trong Trung Bộ Kinh vẫn còn ghi cái đó chứ không phải không. Thì ví dụ như cái người đó họ họ muốn biết là cái người thân của họ chết như vậy đó tái sinh đi về đâu, tại vì cái niềm tin về tái sinh luân hồi là cái niềm tin rất là sâu xa của Ấn Độ từ nhiều nghìn năm trước, trước cả thời Đức Phật ngài xuất hiện. Nên mà ai muốn biết cái thân nhân của mình chết sinh về đâu thì nhiều khi thắc mắc thì có cái ông Vangisa đó, ổng có cái biệt tài là ổng lấy cái cây ổng gõ cốp cốp lên cái

[3:12]đầu lâu là tự nhiên ổng biết tái sinh về đâu, nó hay như vậy. Thì ổng là dòng dõi Bà-la-môn, nên mấy người Bà-la-môn lại cũng vậy nữa, cũng là kiếm thêm được một người để mà thu hút quần chúng, là nhờ đem cái ông này đi khắp nơi để mà bói coi cái người ta sinh về đâu bằng cái cách gõ đầu lâu, để cho cái tín đồ lại thấy Bà-la-môn có những người, có những bậc thánh tài như vậy. Ta thấy trong cái tôn giáo là hay như vậy, cứ đi tìm những cái điều linh thiêng, huyền hoặc, mầu nhiệm, phép lạ để thu hút mọi người. Nhiều khi qua cái giai đoạn mà người ta xuống dốc cái niềm tin, có những giai đoạn người ta xuống dốc cái niềm tin

[3:53]đối với cái tín ngưỡng thì cái tôn giáo đó họ phải làm một sự kiện gì có tính cách nó linh linh, mầu nhiệm, phép lạ gì đó để thổi bùng cái niềm tin con người lên lại. Là ví dụ như bây giờ mình thờ cái tượng nữ thần Kali mà lâu quá rồi cái từ từ cái người ta phai nhạt, người ta quên mất cái tín ngưỡng thì cái một ông đó trong đêm cái ổng chấm chấm vài cái giọt đỏ đỏ đây, hai bên á, thế là nói là nữ thần Kali khóc ra máu. Thế là người ta kéo ùn ùn ùn ùn tới, nghĩa là nếu mà có ông nào lại: "Để tôi xét nghiệm" thì dân xúm lại đánh liền, nói: "Nước mắt của của nữ thần mà mà dám lại xét nghiệm hả?", oánh liền cho nên không xét nghiệm được. Mà cứ đành vậy thôi.

[4:35]Thì cứ lâu lâu có một hiện tượng thổi bùng lên để gây ra cái niềm tin cho con người. Thì lúc đó cái đạo Bà-la-môn nó cũng vậy, mỗi khi có ai có cái năng lực gì lạ, cái họ đem đi họ quảng cáo. Thì ngài Vangisa này cũng lại có cái biệt tài đó, không ai dạy, cũng không nghe nói truyền thừa được dạy dỗ từ đâu, nhưng hễ ổng cầm cái que ổng gõ cốp cốp lên cái đầu lâu thì ổng nói rằng người này sinh lên cõi trời, người này xuống địa ngục, người làm thú, người tái sinh lại cõi người, vân vân như vậy. Thì thật sự chả có ai kiểm chứng được. Thật sự chẳng ai kiểm chứng được, thì cứ tin và cứ nghe ổng nói là thôi cứ yên trí là vậy, nên làm sao có kiểm chứng được.

[5:19]Nhưng mà ông cũng làm mưa làm gió và ông cũng rất là thật. Cho đến cái ngày mà cái nhóm người của ông, đi cũng cả đoàn vậy đó, nhóm người của ông đến gặp Phật. Thì sau khi đến chào Phật rồi, cũng trình bày cái khả năng là ổng gõ cái đầu lâu có thể biết được tái sinh ở đâu. Đức Phật mới kêu lấy cho ngài năm cái đầu lâu. Cái chi tiết này cũng hơi lạ, ở đâu Phật có sẵn năm cái đầu lâu? Cũng giống như là Phật biết trước ông sẽ đến và Phật cũng để dành đâu đó, hay là tới lúc đó mới chạy đi kiếm thì mình cũng không hiểu cái chi tiết này hơi lạ, mà trong kinh ghi mấy cái đoạn ghi vậy đó, tức là nhiều cái kinh khác nhau đều ghi câu chuyện này,

[6:03]tức là Phật lấy ra năm cái đầu lâu cho ổng gõ. Không hiểu đâu Phật có sẵn năm cái đầu lâu dữ vậy? Mà lạ trong đó có một cái đầu lâu A-la-hán nữa, thì không hiểu A-la-hán thường chết thiêu để lại xá lợi, chứ đâu có ai A-la-hán nào chết để lại bộ xương, thường là như vậy. Thì trong trường hợp này lại có cả một cái đầu lâu của một vị chứng A-la-hán, nên chi tiết này nghe rất là lạ. Không có không ai nói rõ chi tiết này. Giờ ta chỉ phỏng đoán thôi chứ ta không biết là tại sao bỗng nhiên Phật có năm đầu lâu đưa ra. Kêu cho ổng gõ thì ổng gõ một cái cốp cốp vậy, ổng nói người này sinh lên cõi trời. Đức Phật gật đầu.

[6:40]Đưa cái thứ hai ra gõ cốp cốp, nói người này đọa xuống địa ngục, được. Gõ một cái nữa: người súc sinh; gõ một cái nữa: quay lại cõi người, đúng. Nhưng mà gõ cái thứ năm thì ổng nói: "Ủa, đây là cái chỗ nào ổng nhìn không ra?" Nhằm cái cái đầu A-la-hán ổng gõ, gõ đi gõ lại hoài, nghe cái tiếng vang đó rồi không không không biết đi về đâu. Cái cái ổng mới hỏi Phật chứ: "Ủa, vậy vậy cái người này đi tái sinh về chỗ nào?" Mà đúng thật là ổng không biết, cả đời ổng chưa bao giờ biết. Thì Đức Phật bắt đầu cũng vậy, ngài nói: "Muốn biết thì phải đi xuất gia thôi chứ không." Vậy đó. Mai mốt mà ai hỏi gì thầy, thầy thầy cũng nói kiểu đó:

[7:21]"Đi xuất gia rồi mới nói chứ không." Ví dụ như bây giờ mà nhiều người hỏi thầy vụ này lắm: "Thưa thầy, con cất nhà vi... ngày nào?", thầy nói: "Muốn biết thì đi xuất gia rồi cho coi ngày cất nhà." Thì cái cái ổng mới quay lại mới nói với người bạn ổng, cũng giống như trường hợp lần trước á: "Thôi để ta ta đi xuất gia ta học coi trường hợp này lạ quá, không biết sinh về đâu." Thì khi xuất gia rồi, Phật cũng dạy cái quán thân, cấu tạo về thân, thân vô thường, cũng biết toàn thân như vậy, thì ông cũng chứng A-la-hán luôn. Ổng chứng A-la-hán rồi thấy ổng vỡ ra mọi việc, biết hết rồi. Đến khi cái nhóm Bà-la-môn cứ quanh quẩn ở gần đó để

[8:00]chờ kết quả, để coi ổng học được biết luôn cái cái cái cái một cái bí mật, một cái đầu lâu rất là lạ. Đến khi họ vào họ họ hỏi ông là: "Sao, ông học được chưa? Ông học được cái mà biết cái chỗ tái sinh của đầu lâu đó chưa?", thì ngài trả lời là: ngài không cần học nữa, biết hết rồi, và khuyên các Bà-la-môn là phải phải quy y Phật. Cái câu chuyện nó là như vậy. Vangisa thật ra cũng là một nhà thơ, nhà thơ nổi tiếng thời đó. Ngoài cái việc mà có khả năng mà gõ cái đầu lâu biết được chỗ tái sinh người ta thì ông là một nhà thơ, làm thơ nhiều lắm. Và trong cái mà Trưởng Lão Tăng Kệ thì phần kệ của ngài Vangisa này gần như là

[8:46]dài nhất nhì, gần như ngài Đại Ca Diếp luôn vậy đó, làm thơ rất là nhiều. Thơ ổng làm về đạo, về cảnh giới tu chứng, về khuyên bảo mọi người, thơ để lại rất là nhiều. Còn có nhiều vị nhiều khi chỉ có một bài thơ ngắn ngắn để lại cho đời trong cái Trưởng Lão Tăng Kệ, riêng ngài Vangisa này để lại rất nhiều mà còn ghi được. Hồi xưa là khó kiết tập, khó lưu trữ lắm, mà không hiểu tại sao là riêng ngài Vangisa này để lại được rất nhiều thơ. Ở đây có cái này là

[9:17]gõ cái đầu lâu mà biết chỗ tái sinh, ở đây mình biết không?

[9:24]Thầy thì không có khả năng là gõ đầu lâu biết ta tái sinh, nhưng mà còn sống thầy gõ đầu thì biết nữa tái sinh về đâu.

[9:38]Thầy gõ cốp cốp cái đầu nó cứng quá, xuống địa ngục. Đó, vậy đó. Còn thầy gõ cốp cốp cái đầu nó mềm, thôi chắc là lên cõi trời. Vậy thôi, không có gì hết trơn á. Cho nên thầy cũng có cái khiếu đó, nhưng mà còn sống thôi, chứ còn đầu lâu thầy không dám gõ, dòm thấy sợ quá, không dám gõ. Ở đây nè, ta khi ta nghe cái câu chuyện này, ta sẽ thắc mắc là cái kỹ thuật, cái cơ chế của cái việc mà gõ cốp cốp mà làm sao biết là tái sinh chỗ nào. Nghe thì lạ, nhưng thật ra không khó đâu, không khó. Nó gồm hai điều. Một, ta nghe cái âm thanh của cái sọ phát ra. Hai, cộng thêm một chút thiên khiếu trực giác, ta biết được hết, không khó.

[10:21]Không tin đi về kiếm đầu lâu gõ biết liền. Mỗi người ta ấy, trong suốt cái cuộc sống của mình, ta tích lũy rất nhiều cái cái hành vi, cái lời nói, cái ý nghĩ, nói chung là thành cái nghiệp. Và những nghiệp đó ghi dấu lại hết trên bộ xương của ta. Giống như khi ta sinh ra thì cái nghiệp của nhiều kiếp nó ghi dấu lên trên cái hình hài tướng mạo của ta, nên bây giờ mỗi người một cái gương mặt như thế. Thì cái người mà họ có hoặc là họ được học cái nghề tướng số, hoặc là họ bằng cái trực giác tự nhiên, họ nhìn gương mặt một người, họ vẫn biết được cái nghiệp quá khứ của người đó và biết được tương lai của người đó sẽ giàu sang nghèo khó ra sao.

[11:16]Thậm chí là nếu cái người nào họ có trực giác một chút bằng cái sự tu tập thiền định thì họ nhìn một người không từng quen biết, thậm chí đi trên đường đi phớt qua mặt họ một cái thôi, họ có thể đọc được cuộc đời người đó luôn, tính tình người đó luôn, những câu người đó hay nói luôn, chơi với ai, quen với ai, thích cái gì, lúc hiền thì gương mặt ra sao và lúc không phải hiền gương mặt ra sao, biết luôn. Đi phớt qua một cái nhìn biết liền. Nghĩa là nếu cái người đó họ tu họ có cái trực giác. Cho nên việc đó không phải khó. Đó là cái gương mặt ta nó ghi dấu lại cái nghiệp quá khứ từ kiếp trước của cả kiếp này và báo luôn cái cuộc đời trong tương lai của ta.

[12:00]Rồi ít có ai ngờ nhất là cái nghiệp của ta nó ghi dấu lên cái xương của ta.

[12:08]Là khi mà ta ta sống với những ý nghĩ, lời nói, việc làm và nhất là người có sự tu tập, thì tất cả những cái điều đó, những cái lực đó, nó là một loại lực, nó ghi dấu lại hết trên bộ xương của ta. Mà ghi nhiều nhất là nơi hộp sọ.

[12:33]Vì thế là khi chết rồi, thịt rã hết rồi, còn lại cái bộ xương thì nghiệp nó ghi dấu lên đó. Nó ghi dấu lên đó, nếu ta chỉ nhìn cái hộp sọ không, ta cũng biết được cái nghiệp người đó đã tạo và người đó đi về đâu, không cần đợi gõ. Còn nếu mà ta gõ thì nó sẽ phát ra cái âm thanh. Và mỗi cái cấu trúc, độ cứng của cái sọ nó sẽ cho ra một cái âm thanh, một tần số âm thanh khác nhau. Có một cái sẽ nghe cái tiếng rất thanh, nghe "con con", có cái tiếng ta nghe "bột bột". Vì cái độ cứng của nó, mỗi người khác nhau và nó phát cái âm thanh thanh tao, êm ái hay vẩn đục là đã báo cái chỗ tái sinh cho người, người đó rồi.

[13:24]Đến đây là thầy đã dạy nghề rồi, biết chưa ạ? Từ bữa nay về, ta cố gắng thực hành, nha. Thực hành đi! Rình rình coi ở đâu có hộp sọ lấy ra gõ nghe thử, nha. Nhưng thầy nói phải rình rình, vì người ta thấy người ta rượt người ta đánh mình chết, cho nên... Vậy đây là hiểu bí mật rồi chưa? Hiểu rồi phải không? Đó là cái tiếng ra ta nhận ra được, nhưng nó cũng phải cộng thêm một cái thiên khiếu trực giác, đó là một cái nhạy tâm linh sâu xa. Chứ còn nghe "con con" cái quay nói: "Dạ, cái tiếng này nghe thanh thanh này chắc ờ chắc có phước hả thầy?" Ta chỉ biết tổng quát nó thôi. Hoặc là nghe gõ lên cái hộp sọ nghe "cột cột":

[14:05]"Nói tiếng này đục quá chắc người này đọa hả thầy?" Tức là ta chỉ đoán được tới mức độ đó nếu bằng cái tai. Nhưng mà ngài Vangisa thì ổng bẩm sinh ổng có một cái thiên khiếu là ví dụ nghe "con con" thì ổng nghe cái độ ngân dài, sâu xa và cái linh cảm của ổng, nó nhận ra được luôn cái tiếng "con con" đó nó nó ghi dấu của một cái cõi trời hay ghi dấu là một tái sinh lại cõi người quyền quý. Nghĩa là cũng là nghe cái tiếng tiếng cao sang đó, tiếng "con con" nó thanh tao, nhưng mà bằng cái trực giác của ngài cộng thêm vào cái tai đó, ngài nhận ra được cái chỗ tái sinh. Đây là chỗ mà ngài hơn ta. Còn bây giờ ta đem cái sọ ra ta gõ,

[14:47]nghe cái tiếng cộp cộp, bột bột, boong boong, cốp cốp, con con gì đó, thì ta cũng biết cái này hay hơn, cái kia dở hơn, nhưng mà ta không có cái linh cảm để nhận ra được tương đối chính xác cái chỗ tái sinh của người đó. Còn ngài Vangisa thì ổng ổng nhận ra được và ổng nói rất thật lòng. Nhưng nhận được, không nhận được cũng chả ai kiểm chứng, cho nên ngài cứ tha hồ làm mưa làm gió. Ngài cứ tha hồ làm mưa làm gió là ai cũng tin, ai cũng đem hộp sọ nói: "Dạ, đây là ba con. Ngài coi giùm." Ngài gõ cốp cốp vậy thì ngài nói, hoặc có người nói là: "Con tôi vừa mới bị tai nạn chết, bị bệnh chết, ngài coi sanh về đâu." Thế là

[15:24]sống như vậy thì ngài nói người ta cứ tin thôi, mà thời đó Ấn Độ người ta cũng dễ tin, nên ngài cứ đi làm ăn, rồi cũng được người ta cúng dường, được các Bà-la-môn tưng tiêu, nâng niu mà đi quảng cáo để dựng lại cái niềm tin đối với cái đạo Bà-la-môn cũng có những khi nó đã suy thoái, ý là như vậy. Thật ra thì lòng ngài cũng rất là thật thà, ngài nghe ngài nhận được thì ngài nói, còn về cái yếu tố kiểm chứng không có, nên ngài hên hơn các thầy bói của ta hiện nay. Thầy bói của ta hiện nay thì còn bị kiểm chứng, phải không ạ? Còn bị kiểm chứng là ví dụ như bây giờ cái cô gái đó bước vô gặp ông thầy bói, nói:

[16:02]"Chồng con có vợ bé thầy ơi, giờ thầy coi làm sao chứ con khổ quá." Cái ông kia ổng ngồi ổng bấm quẻ một lát cái nói: "Thôi tôi cho cái phép này thì ổng sẽ quay về với cô, phải không? Là thôi cô đưa tui là mấy trăm ngàn đi, đây cái phép này vậy là để giá rẻ, thấy cô tội để giá rẻ." là thầy bói. Nhưng mà điều ổng nói được kiểm chứng là vì sao? Vì cô đó thật sự cổ là công an, cổ chưa có chồng. Vô cổ nói câu đó, thế là là lộ ra cái ông thầy bói này nói theo người ta, dò ý của người thân chủ để mà mà lựa lời mà nói chứ không phải bói thật, vậy mà ăn tiền người ta rất là nhiều. Nên bị kiểm chứng, thầy bói thời nay bị kiểm chứng.

[16:41]Rồi nói ví dụ như là nói ờ như có một ông thầy bói hồi xưa cũng nổi tiếng lắm, quen với thân chủ, thì cái cái người thân chủ đó đẻ ra được khoảng năm đứa con, thì cái người kia vậy cứ thường mời ông thầy bói tới ăn uống đồ, cho tiền. Thì hỏi: "Các con của của cháu sao sao?" Ổng ngồi ổng phán chữ nào đứa sĩ đứa sư hết trơn á. Không bác sĩ cũng là dược sĩ, cái gì sĩ đồ; này tiến sĩ, thằng kia sư, kỹ sư đồ, sư giáo sư đồ, nghĩa là cứ sư với sĩ mà gán cho năm đứa. Nhưng mà theo như thầy biết, tại cái đó bà con của thầy mà, theo như thầy biết thì năm đứa đó không có đứa nào sĩ, sư gì hết trơn á, tới giờ này là vậy.

[17:18]Đó là mấy đứa nó vai em của thầy, không có nào sĩ, sư gì hết trơn. Nghĩa là bị kiểm chứng, tức là cái lời bói về tương lai là bị kiểm chứng. Nên còn cái ngài Vangisa là không ai có thể kiểm chứng được. Nhưng mà thật ra ngài không có dối. Chính vì ngài không có dối, ngài thật lòng nên mới có cái duyên mà gặp Phật để tu hành mà đắc đạo. Chứ nếu lúc đó ngài nói dối thì ngài không có cơ duyên để đắc đạo, tức là không có cái phẩm chất đạo đức của một bậc thánh có sẵn, ý là như vậy. Thì ở đây thế này, khi mà vào xuất gia á, thì Phật lại dạy quán thân một lần nữa. Ta nhớ cái quán thân cực kỳ quan trọng trong con đường thiền định.

[18:02]Hôm qua là trong khóa thiền thầy có nói, giờ thầy nhắc lại một lần nữa. Là vào trong thời Đức Phật á, cái việc quán thân là chìa khóa của việc tu tập thiền định, mà những người mà tu tập Đại thừa đó thì ít quan tâm điều này. Cứ nghĩ cái thân vô thường, tạm bợ, nhỏ nhoi, không đáng, trong khi cái tư tưởng Đại thừa nói mênh mông pháp giới. À nói ví dụ như cái số cát sông Hằng nhiều như vậy mà mỗi một hạt cát của của con sông Hằng lại trở thành một con sông Hằng nữa, và với tất cả các số cát đó trở thành ra là những cái thế giới, những cái thế giới, cõi Phật trong vũ trụ này. Thì ta có có hình dung ra được cái số nhiều đó không ạ? Hình dung ra được không?

[18:55]Hình dung không nổi. Nếu ai cố gắng hình dung cho được hết cái con số đó, cái con số mà số cát của con sông Hằng, và mỗi hạt cát đó lại biến thành con sông Hằng, rồi có bao nhiêu số cát cộng lại nữa, nếu ai cố gắng hình dung cho ra hết cái số lượng đó thì cái dữ liệu đó nó vượt quá cái khả năng khả năng tải của bộ não ta, và ta điên liền, căng thẳng chết liền. Con số đó khủng khiếp quá, nó vượt qua nhiều khả năng mà tải dữ liệu, lưu trữ dữ liệu, nhận thức dữ liệu, xử lý dữ liệu trong bộ não của ta. Dù bộ não con người là kinh khủng lắm, nhưng mà với cái số lượng mà trong kinh Phật nói trong Phật giáo Đại thừa vậy, ta chịu không nổi.

[19:37]Nên khi mà đọc các kinh Đại thừa đó, ta đọc một cách hư vô, đọc với tâm thanh thản, hiểu được hiểu, không hiểu được thôi, không cố gắng hình dung. Vì cố gắng hình dung ngang đây điên sạch. Nói như trong kinh Hoa Nghiêm cũng vậy. Kinh Đại thừa Hoa Nghiêm chỉ nói về những cõi Phật, hết cõi này thế nào, cõi kia thế này, cõi này thế nào kia. Nội cái cuốn mà nói về cái cái Nhập Pháp Giới, cái cõi cái cõi Phật đó thôi, Phẩm Tựa thôi là mình đủ điên nếu mình không đủ sự bình tâm, thanh thản, thiền định để đọc bộ kinh đó, kinh khủng. Bộ kinh Pháp Hoa cũng vậy, nói về những cõi Phật, những cái số liệu, những cái số lượng về cõi Phật, ta không hình dung nổi.

[20:16]Nói về những kiếp số lâu xa, ta không hình dung nổi. Thì khi mà ảnh hưởng bởi cái giáo lý Đại thừa đó, ta quay lại ta nhìn cái giáo lý Nguyên thủy, Phật dạy cứ quán thân, ta thấy nó nhỏ, kỳ quá. Chính thầy ngày xưa cũng bị như vậy. Lúc vào đạo vậy cứ xem thường. Nhưng mà khi mình tu hành thực tế qua nhiều năm thì mới phát hiện ra rằng cái việc mà Đức Phật dạy quán thân, nó mới là chìa khóa, mới là chìa khóa, key, điều cốt yếu, cái lõi căn bản nhất, cái bước đầu để mở ra. Vì sao vậy?

[20:56]Vì nó phù hợp với cái cái phát hiện của y học hiện đại. Cái y học hiện đại họ nói rõ rằng, mỗi một phần trong cơ thể của chúng ta đều được phản ảnh trên một vị trí nào đó của cái vỏ não này. Mà vỏ não ta là gì? Là nơi xung động thần kinh tạo ra bao nhiêu cái ý nghĩ, lúc nào cũng thường xuyên suy nghĩ, thường xuyên suy nghĩ cái vỏ não này. Đó. Và mỗi một vị trí của vỏ não phản ánh một phần nào đó của cơ thể này. Cho nên vì vậy, khi ta an trú toàn thân, cảm giác toàn thân, biết rõ toàn thân thì ta an trú cái vỏ não luôn. Đây là một điều mà cái lời Phật dạy phù hợp với kiến thức của y học hiện đại.

[21:44]Khi ta biết rõ toàn thân, an trú toàn thân, cảm giác toàn thân thì giúp cho vỏ não an trú, lắng lại. Cộng thêm đến khi ta biết hơi thở vào, hơi thở ra thì ta nhiếp luôn cái thần kinh trung ương. Thần kinh trung ương ở những cái phần cấu tạo sâu, cái nơi tiếp giáp giữa đại não và tiểu não, giữa ý thức và vô thức, nếu ta nhiếp được trong hơi thở một lần nữa. Cho nên khi mà một cái người mà cảm giác toàn thân, vừa biết hơi thở, thì người đó an trú cả cái cái vùng vỏ não, an trú cả đại não và đi dần vào an trú cả tiểu não, mà Phật dạy trong cái câu thiệu mầu nhiệm thế này: Cảm giác toàn thân tôi thở vào, cảm giác toàn thân tôi thở ra.

[22:41]Cái câu thiệu đó nghe đơn giản, nhưng đó là cái bí quyết của cả vũ trụ này để chúng ta lắng được tâm mà đi vào vào thiền định. Nhưng nếu ta chỉ như vậy, lắng được tâm bằng cái con đường an trú toàn thân, theo dõi hơi thở thì ta chỉ chứng thiền chứ không chứng thánh. Ta nhiếp được tâm vào định nhưng ta không chứng thánh. Có thể có tới thần thông nhưng cũng không phải chứng thánh, đây cái khác nhau. Vì sao vậy? Bởi vì cái chứng thánh thì đòi hỏi ta phải có ý niệm vô ngã và hiện ra cái đạo đức sâu thẳm. Nên cái khác nhau giữa chứng thiền và chứng thánh là vậy. Chứng thiền là ta an trú được tâm, không khởi vọng tưởng,

[23:33]nhập được định, thậm chí có thần thông, đó là chứng thiền. Còn chứng thánh là ta phải có ý niệm vô ngã, diệt trừ bản ngã cho tới hoàn toàn vô ngã, mà trên con đường đó, đạo đức từ từ nó tỏa ra, tỏa ra, tỏa ra. Nên cái người mà họ chứng thánh đó, mỗi một ngày trong cuộc sống của họ là cái hương thơm đạo đức tự nó tỏa ra, tỏa ra cho mọi người chung quanh. Không khoe khoang, không bày tỏ, nhưng mà mỗi một lời nói, mỗi một việc làm đều là một bài học đạo đức, đều là bày tỏ một ý niệm đạo đức tự nhiên toát ra. Mà nếu ai tinh ý cứ nhìn chiêm ngưỡng cuộc sống của một bậc thánh như thế là ta học được vô số bài học, hay như vậy.

[24:18]Đó cái khác nhau giữa chứng thiền, chứng thánh. Vì vậy, Phật dạy ta ban đầu là an trú toàn thân, biết rõ toàn thân, biết rõ hơi thở, nhưng mà nâng cao lên là phải biết thân này vô thường, thân này vô thường, tạm bợ, bất thật. Cái người mà quán được thân vô thường tự nhiên sẽ thấy còn gì là ta, tự nhiên thấy mọi điều vô nghĩa. Cái thân này đã không phải ta rồi thì nhà này, cửa này còn gì là ta. Rồi và cứ an trú thanh tịnh như vậy, hiểu luôn những cái suy nghĩ, tâm thức này cũng không phải là ta.

[24:54]Thì là người đó đi luôn vào con đường vô ngã để để chứng thánh. Đó cái cái khác nhau giữa thiền và thánh như vậy. Ở đây ta có thêm cái nữa là cái khí công. Hồi xưa thầy cũng nói đi nói lại vậy, cái khí công cái tập luyện khí công nó hỗ trợ nhiều cho thiền định. Vì sao vậy? Vì sao mà cái khí công nó hỗ trợ cho thiền định là vì thế này: khi ta tập khí công thì ta nạp khí bằng nhiều phương pháp, vừa kết hợp hơi thở, vừa có những động tác nào đó để ta ta ta nạp khí và đi tới cái kết quả là đắc khí.

[25:32]Nhớ. Cái người mà tập khí công có kết quả được gọi là đắc khí. Đắc khí là gì? Đắc khí nghĩa là họ xuất hiện một số kết quả đặc biệt, hoặc là họ có thể ngâm mình trong cái thùng nước đá lạnh, tức là bỏ một đống nước đá vô ngồi ngâm luôn, mà ở nước đá đó, ở cái nhiệt độ đó, tất cả mọi người đều bị hạ thân nhiệt, cảm và có thể chết, nhưng mà cái người mà họ đắc khí rồi họ ngâm người trong cái thùng nước lạnh không sao, vì có một cái khí vô hình bảo vệ cơ thể của họ, cái lạnh không xâm nhập vào tạng phủ được, đó cũng là một hiện tượng đắc khí. Rồi một hiện tượng đắc khí khác là ví dụ họ vận khí trong bàn tay rồi họ đưa vô lửa

[26:14]cho nấu, thì bình thường ta mà đưa bàn tay mình vô lửa rồi thì chuyện gì xảy ra? Nhưng mà cái người này họ để vô lửa cho cháy vậy chứ không thể xâm phạm bàn tay, bởi vì có một cái khí lực vô hình nó bảo vệ cái bàn tay của họ. Hoặc là họ có thể nằm cho xe tải cán qua không sao. Mở ngoặc: Ghi chú: Xe không sao.

[26:41]Còn người thì mình không biết. Nhưng mà thực sự cái người đắc khí là xe cán qua không sao thật á. Mình không sao đó chớ, còn xe thì nó không sao rồi. Có một lần ông ông võ sĩ Hà Châu á, ổng cho xe lu cán qua. Cái ông kia run quá. Cái người mà nằm dưới bánh xe mình, mình lái trên mình có sợ không? Nói sợ, sao không sợ, ổng sợ quá ổng tắt máy luôn. Tắt máy, đang leo nằm trên người người ta mà tắt máy, thì thì ông kia ổng ổng vận lực chịu đựng không nói được nữa, mà nếu để lâu thêm một, hai phút nữa, cái khí lực nó cạn rồi là dẹp lép như con con tép liền. Nhưng mà may số này ổng chưa chết cái ông kia khởi

[27:17]động lại được cái máy xe lu đi lăn qua luôn. Thì ổng thoát chết, nhưng biểu diễn mấy cái pha đó hết sức là nguy hiểm. Thì đắc khí đó có những kết quả, nhưng mà nó nhiều cái lạ hơn nữa, rất nhiều cái, ví dụ cái người để cái mũi giáo chọc vô cái yết hầu, đây là phần da rất là mềm phải không ạ? Phần da rất là mềm. Nhưng mà khi ta tập tới đắc khí rồi ta để cái cái mũi nhọn ở đây, ta gồng cứng lại và ta tập trung tinh thần ngay chỗ này, ta cho người đâm vô, hoặc là tự mình đâm thử, tại vì nếu mình đâm mình vừa biết đau mình dừng lại liền, còn nếu người khác đâm lỡ họ không biết mình đau không họ làm cái sực luôn thì nó kẹt lắm. Nha.

[27:50]Cái hôm trước vậy, thầy gặp một ông sư huynh, sư huynh hồi xưa cũng ở với nhau, cái thầy mới chỉ cho một cái thế khí công, thản công, nói: Bây giờ sư huynh tập cho em sáu tháng cái phương pháp này, ha, rồi sư huynh mới lấy cái mũi nhọn sư huynh đâm thử vô cổ, đó, nếu mà nó không lủng là sư huynh đã đắc khí, mà nếu nó lủng, em lên đi đám giùm cho, không sao. Hổng biết có dám tập không biết nữa. Thì cái đắc khí như vậy á, ngoài cái những cái kết quả đó, nhưng nó có một cái dấu hiệu thế này: nó làm cho cái cảm giác toàn thân ta luôn luôn đầy, luôn luôn đầy, luôn luôn đầy và làm cho cái biết lúc nào cũng an trú toàn thân.

[28:32]Đó cái cái cái lợi hại của khí công là vậy. Lúc nào người mình cũng có cảm giác sung mãn, sung mãn toàn thân và cái sung mãn toàn thân đó nó giúp cho cái biết khó rời khỏi cái thân. Làm ta lúc nào cũng nhớ thân, nhớ thân, biết thân, nhớ thân. Cái lợi của khí công là vậy. Còn khi mà ta không có đắc khí á, tâm mình dễ chạy lung tung, cái biết mình chạy theo ý nghĩ, cái mắt mình nhìn theo cuộc đời, tai mình chạy theo tiếng bên ngoài. Còn cái người mà họ đắc khí á, toàn thân lúc nào nó cũng đầy đầy, sung mãn và nó nó gợi cho ta cái biết về thân, nhớ về thân, nên ta ít có rời khỏi thân, tâm mình ít có rời khỏi thân.

[29:09]Mà mình an trú thân nó sung sướng, nó an lạc, nó hạnh phúc, thôi chả thèm để ý ngoài đời ai làm gì đó làm, ai nói thì nói, cái người bên kia họ đẹp, người bên nọ họ xấu, xe chạy qua, xe chạy lại, rồi cái tiếng người này nói thế này người kia nói thế kia, không quan tâm nữa, tại lúc đó mình đang an trú toàn thân và cái đó nó hạnh phúc hơn. Là cái đó nhờ cái đắc khí của khí công mà nó giúp cho cái an trú toàn thân, cái biết toàn thân của ta nó dễ hiện hữu hơn, thường xuyên hơn, tức là giúp cho chánh niệm tỉnh giác, mà ta cộng thêm cái biết thân này vô thường nữa thì ta đi vào con đường thiền của đạo Phật luôn, rất là hay. Cái ý là như vậy.

[29:45]Cho nên khi mà những người tới tu thiền, Đức Phật đều dạy về thân, quán thân. Và nhiều vị có căn cơ thì nhanh chóng chứng A-la-hán. Còn ta thì khoảng bao lâu chứng A-la-hán? Khoảng bao lâu? Khoảng bao lâu ạ? Đúng vậy, người mà hiểu biết á, người có chánh kiến, hiểu biết rằng ta còn phải nhiều nhiều kiếp. Đó là cái người hiểu đó là có chánh kiến. Cái hiểu đó nó có lợi cái gì? Đây nè, khi mà ta xuất hiện cái trạng thái chánh niệm tỉnh giác Thân tâm mình rỗng rang, an trú, biết rõ nhẹ nhàng. Thì nếu mà cái người mà không có xác định rằng ta phải còn an trú thế này qua nhiều kiếp, thì lúc đó nó hay khởi lên ý nghĩ coi chừng mình sắp sửa đắc đạo.

[30:40]Tại vì cái trạng thái nó rỗng suốt, nó nhẹ nhàng, nó thanh tịnh đặc biệt lắm. Mà lúc đó nó khởi một cái ý nghĩ lên liền, coi chừng không biết mình sắp sửa ngộ đạo đâu đây. Và cái ý nghĩ đó vừa khởi lên một cái, công đức mình tan biến sạch. Rồi làm lại từ đầu, tu lại nữa, bắt đầu lọ họ làm lại, tâm loạn trở lại, bắt đầu lại từ đầu rất là cực. Còn cái người mà đã xác định rằng mình phải tu nhiều kiếp, thì khi mà bắt đầu tâm mình xuất hiện cái trạng thái chánh niệm tỉnh giác, rỗng rang, sáng tỏ, nhẹ nhàng, thì nó khởi lên ý nghĩ: Cái trạng thái này phải duy trì với 30 kiếp nữa mới có thể có kết quả gì.

[31:20]Thì cái ý nghĩ đó khởi lên, người ta giữ được công đức lại, không bị mất công đức. Đó, cái khác nhau giữa hai người mà biết được mình sẽ tu lâu và người cứ nhầm tưởng mình sẽ tu mau, cái khác biệt nó lớn như là giữa đỉnh núi với vực thẳm. Một bên khởi lên một cái, mất sạch công đức liền, vì nghĩ mình: Chà chà, chắc mình sắp đắc đạo rồi, thì sạch hết công đức, bắt đầu tu lại từ đầu như chưa có gì. Còn một cái khởi lên: Mình còn phải tu rất lâu mới đắc đạo, thì công đức được giữ nguyên để mà đi tới tiếp nữa. Ghê chưa? Đó, nhớ mà cẩn thận nghe không. Tu mà có cảm giác lạ, phải nhớ ngày hôm nay mà thầy dặn cái câu này.

[32:01]Nhớ cái câu này là câu lợi hại lắm nè, cái câu này là bí quyết sinh tử của thiền định nè. Ít có khi nào được nghe lắm đó nha. Nghe câu ngày hôm nay phải nhớ cho kỹ giùm thầy, đừng coi thường nha. Đây là cả bí quyết ruột gan cả đời tu hành của thầy á. Không có coi thường à. Coi thường về mang tội á. Sáng nay thầy đọc tờ báo Tuổi Trẻ hay Thanh Niên gì đó, có bà già rất là nghèo. Cho nên cái làng xã mới xây cho bà cái nhà tình thương. Cho bà cái nhà tình thương rồi nhưng bà cũng hoàn toàn không có ai tới lui chăm sóc. Cho đến khi lâu ngày không thấy bà xuất hiện, người ta bước vào thì bà đã ngồi trên cái ghế

[32:39]đó chết rục rã trên đó luôn, không ai hay. Tức là người mắc cái nghiệp cô độc kỳ lạ. Đã nghèo rồi mà còn cô độc, có một chút xíu phước nào đó không biết mà được người ta xây cho cái nhà tình thương rồi không ai chăm sóc, bệnh chết trong cô quạnh luôn. Nha, hôm nay thầy nói vậy, mình phải biết dù bắt đầu mình tu xuất hiện có kết quả đặc biệt trong tâm thức của mình, thì vẫn phải xác định là cái trạng thái này còn phải duy trì trong vài chục kiếp nữa thì mới hy vọng ta ta đắc đạo. Chứ đừng có nghĩ nó vừa xuất hiện với cảm giác lạ, cứ nghĩ mình sắp đắc đạo là chết á. Cho nên người nào mà hiểu được rằng:

[33:19]Ồ cái cảm giác lạ vừa mới xuất hiện, rỗng rang, sáng tỏ, thì hiểu mình còn mấy chục kiếp nữa mới có thể đắc, thì người này không bị tổn phước và chết thì không có cô quạnh như cái bà già kia nha. Còn cứ nghĩ mình: Chà, chắc sắp đắc đạo, sắp đắc đạo, thì nữa ngồi trên ghế chết một mình không ai hay à, giống như bà già đó à, ráng chịu à nha, nói rồi á. Có một cái câu thế này trong bài kệ của Đức Phật nè: Ai hiểu rõ hoàn toàn sinh tử của chúng sinh, thì người đó vượt qua ô nhiễm, đạt giác ngộ sáng suốt. Tức là người biết được chuyện sinh tử của chúng sinh hoàn toàn thì người đó là người giác ngộ.

[34:00]Cái chữ mà "biết được cái sống cái chết của chúng sinh" này á, cái ý nghĩa nó lớn lắm. Nếu nói ý nghĩa trên thần thông á thì nó là thiên nhãn thông. Một bậc A-la-hán nhập định một cái, biết rõ chúng sinh đang tái sinh về đâu chứ không có đoán mò như kiểu ngài Vangisa mà gõ cái sọ nghe cộp cộp rồi đoán mò, đoán theo trực giác của mình. Còn bậc thiên nhãn thì thấy như là nắm mọi việc như nắm một trái xoài trong lòng bàn tay. Ví dụ bây giờ người đó chết, họ nhập định một cái, biết rõ người đó đầu thai vào gia đình nào, đang làm gì ở lúc đó luôn, đang lẩm tẩm đi kia nọ là là biết rất rõ như là thấy trước mắt luôn, chứ không có đoán mơ mơ.

[34:39]Đó, cái thiên nhãn là như vậy. Mà cái thiên nhãn là thấy cái nghiệp đó từ đâu, tức là thấy cảnh giới sống chết, thấy các cõi giới trong vũ trụ và quan trọng là thấy nghiệp nó chi phối như thế nào. Chứ còn thấy cái cảnh không mà không thấy nghiệp cũng chưa phải là thiên nhãn. Nhớ như vậy. Chỉ được gọi là thiên nhãn khi ta thấy các cõi trong vũ trụ, thấy sự lưu chuyển của chúng sinh và thấy rõ nghiệp của chúng sinh. Ví dụ bây giờ cái người đó chết nói: Dạ thầy nhập định coi coi là ba con chết về đâu. Thì nhập định vô thấy ổng lên cõi trời, nói ổng lên cõi trời. Nhưng mà không thấy rõ nhờ lúc sống ổng làm cái gì

[35:22]mà lên cõi trời thì vẫn chưa được gọi là thiên nhãn à. Cái đó gọi là thần nhãn gì cho vui thôi, chứ còn gọi đúng thiên nhãn của A-la-hán thì sau khi mà nhìn thấy ổng đang ở trên cõi trời thì phải thấy luôn lúc sống ổng làm bao nhiêu điều gì, sống như thế nào, đạo đức thế nào, phẩm hạnh thế nào, gương mẫu ra sao, đem lại cái ân nghĩa với cuộc đời nghĩa là vô số như thế nào. Phải thấy rõ cái nghiệp đó thì mới được gọi là là thiên nhãn. Nên cái thiên nhãn của A-la-hán sâu xa lắm. Còn ví dụ bây giờ người nó thấy cõi âm. Thấy cõi âm sao? Nói: Dạ con thầy con có con mắt thấy người âm nè. Bước vô cái thấy:

[36:00]"Dạ trong nhà này có ba con ma." Quên thầy nói ba con là sai thì mang tội, ba anh ma, ba chị ma. Tại ma cũng giống như mình mà, cho nên ông bà mình kêu "con" là là mang tội lắm nha. Ma đâu phải súc sinh đâu, ma nhiều khi cũng là người giống như mình thôi. Nhưng mà chừng nào đọa làm chó kêu con chó, chứ ma từ đây đừng kêu bằng con ma nghe không, mang tội lắm á. Như có bộ phim gì "Con Ma Nhà Họ Hứa" đó, cho nên ta bị tổn phước là ta hay kêu chữ "con", mà người Việt Nam mới bị, nước ngoài không có chữ này. Nước ngoài là cứ the ghost là ma, chứ không có con ma. Còn mình cứ con con hoài, mang tội, hư quá, không được.

[36:36]Ví dụ như một người có thấy được cái cõi âm á, bước vô là thấy cái vong à đứng đây ngồi ủ rũ kia, rồi cái vong kia đang lục trong nhà bếp. Rồi họ nhìn thấy, thấy các cõi, nhưng mà không thể thấy được vì sao không tái sinh được, cứ phải lẩn quẩn vất va vất vưởng đó làm gì. Cái đó chỉ là một cái gì? Một loại khai mở một cái kênh của thị giác thấy được cõi âm, chứ không được gọi là thiên nhãn, cũng chẳng phải là thần nhãn, như vậy. Mà có người thấy được thời gian rồi mất, có người không thấy, tu một riết thời gian thấy. Nhưng mà cái thấy đó chưa được gọi là thiên nhãn vì không thấy được các cõi trong vũ trụ, cũng không thấy được nghiệp nhân của của chúng sinh.

[37:17]Đó, quan trọng là phải thấy được nghiệp nhân của chúng sinh. Nên cái người mà coi bói á, phải hiểu được nhân quả thì mình coi bói rất là hay. Như thầy về thầy cũng có nhiều người Phật tử làm nghề coi bói lắm. Ừ. Cứ Tết là xách bộ bài lên lén lén chạy cốc thầy: Thầy coi con coi thầy quẻ đầu năm. Nói: Thôi mệt quá à, coi hoài nó cũng vậy à. Thầy cũng rồi Rất là ngộ lắm, vì không biết cúng dường thầy cái gì, đầu năm không biết cúng dường sư phụ mình cái gì, cúng dường bằng cái coi quẻ đầu năm, cười chết mồ luôn. Nhưng mà cái coi đó nó không có tới nhân quả, cho nên dễ bị trật. Còn như thầy chứ lâu lâu thầy cũng coi bói.

[37:53]Lâu lâu thầy cũng coi bói, nhưng mà thầy coi là thầy nhìn nhân quả thôi. Và nhìn gương mặt một người mình hiểu được cái tính khí người đó, tức là cái nhân quả thì cái quả nó phải hiện ra. Hễ với cái nhân đó, với cái tính tình đó thì nó có cái nhân đó, và hễ đã có cái tính tình đó, có cái nhân đó thì cái quả tương lai thế nào hổng chạy, hổng sai được. Hổng sai. Chắc chắn vậy. Nên hễ ở đây có ai học coi bói thì xin vui lòng đọc kỹ các cuốn sách về nhân quả nha. Khi ta nhìn con người ta biết tính khí của họ. Ví dụ cái người mà nhìn vô ta biết tính khí người này là dữ thì trong quá khứ đã tạo nghiệp gì?

[38:32]Ác, xúc phạm, vân vân gì đó, thì tương lai là gì? Đôi khi rơi vào thân phận hèn mọn, vân vân như vậy, bị oan trái. Còn khi mình nhìn vào mình thấy con người buông xả rộng rãi thì tức là trong quá khứ gây nghiệp gì? Bố thí, giúp người, thì tương lai làm sao? Phải khá giả, có tài lộc. Mà cái tướng tài lộc nó phải hiện ra đúng như tướng số quy định, ví dụ như mũi to nè, hàm rộng đồ, cười tươi đồ vân vân á, người răng đồ đẹp đó, mấy đó nó hiện ra giống như rồi thấy cái tính đó là cái nhân đó thì cái quả của tương lai nó cũng hiện hết trên con người đó luôn. Đó, mình khi mà một người coi bói thì phải coi tới tới nhân quả là như vậy.

[39:17]Còn một bậc A-la-hán thì phải thấy tới cái sinh tử chúng sinh thì mới được gọi là một bậc sáng suốt, giác ngộ, A-la-hán, và người như thế ta gọi là Bà-la-môn.

[39:30]Ai chẳng còn nắm giữ bất cứ sở hữu gì, cả quá, hiện, vị lai, ta gọi Bà-la-môn. Phật nói cái cái bài Pháp Cú này trong cái câu chuyện thế này. Là có một người đàn ông cũng tên là Visakha ở vùng Vương Xá đó, chứ không phải ở ở Kỳ Viên gần Trúc Lâm thì đến nghe Phật thuyết pháp xong chứng A-na-hàm, mà quả A-na-hàm lớn lắm á, quả này có thần thông tràn ngập. Mà một người chứng A-na-hàm rồi thì có một loạt các cái phẩm tính hiện ra, đạo đức nó hiện ra. Ví dụ như là: không còn ham muốn gì và không còn sợ hãi điều gì. Vì không còn ham muốn gì cho nên ngay tức khắc mình không còn thấy có sở hữu gì trong tay mình nữa.

[40:25]Trước đó thì còn thấy, "À cái nhà này của tôi, gia đình của tôi, xe này của tôi, đây vợ tôi là con tôi." Nhưng mà chứng A-na-hàm một cái, mất sạch. Không còn thấy những đó là của mình nữa. Tự nhiên nó như vậy, không cần phải ép buộc. Nên khi ổng chứng A-na-hàm rồi ổng về, ổng mới buột miệng ổng nói câu thế này, nói với vợ: "Thôi từ nay tất cả những tài sản này là của bà. Bà làm gì đó làm." Mà ổng nói với cái thanh thản mà lạ lùng. Thì ổng cũng không có nói ổng chứng, ổng chỉ nói vậy, nói: "Thôi từ đây tất cả tài sản này của bà. Rồi thôi mình cứ sống như bạn." Tại ổng cũng không có cái nguyện xuất

[41:06]gia, cũng không phát tâm xuất gia, vẫn sống là người cư sĩ. Mà vì sống là người cư sĩ nên không chứng A-la-hán được. Thì khi về, ổng nói hai điều: một là đây là tài sản của bà, thôi nha, tôi không có gì của tôi nữa; và thôi từ nay chúng ta sống như bạn. Tại vì A-na-hàm là diệt dục liền, dứt sạch cái ái ái ái dục liền. Cho nên khi mà bà vợ nghe ông chồng nói câu này, bả nhìn ổng. Và bả nói: "Vậy có khác gì ổng bỏ mình, ổng quăng hết gánh nặng tài sản cho mình, ổng không quan tâm tới nữa, và sống với ổng như bạn? Thôi, đi tu cho nó sướng cho rồi." Bà này cũng độc đáo. Thế bà nói: "Thôi, ông cho tôi đi tu, đi xuất gia."

[41:47]Thì ngài đã chứng A-na-hàm rồi nên mà người khác đi tu còn mừng nữa á. Nên đồng ý liền. Trong trường hợp này giống như trường hợp của vua Tịnh Phạn á, ta nhớ. Lúc mà khi Đức Phật mới về thăm á, thăm cung điện á thì ngay trong cái ngày đầu tiên là Đức Phật bưng La-hầu-la đi liền, nhớ không ạ? Tại vì Đức Phật còn giấu một cái kho tàng lớn ở dưới hầm do vua cha Tịnh Phạn lấy lại của từ tổ tiên giấu lại. Cho nên cái bà Da-du-đà-la, lúc đó bà chưa chứng đạo nên bà rất mê cái kho tàng đó. Bà cứ canh mà giữ nó thôi, sợ là người khác lấy, sợ là chia sẻ người này người kia, bà cứ canh hoài, mà có được đứa con trai bà mừng.

[42:27]Nên cái ngày đầu tiên mà gặp lại Đức Phật thì thì bà người cũng thương chồng nhớ chồng lắm, nhưng mà sao? Nói cái câu này: "Ông Sa-môn cao lớn đó là cha của con. Cha con có kho tàng rất lớn, con tới xin cha con đi." Đó, câu đầu tiên. Thì ta hiểu rằng là bao nhiêu năm qua là bà canh cái gì trong lòng bà? Canh cái hầm vàng đó. Canh cái hầm vàng. Cho nên là ngay cái ngày đầu tiên là đã chuyện nó xảy ra, là đến thưa, nói: "Thưa cha, thưa ngài, ngài là cha con, ngài cho con cái kho tàng đó đi." Cái Đức Phật gật đầu, ngài kêu ngài Xá-lợi-phất đem đi cạo tóc. Đức Phật cho kho tàng kiểu đó á. Nên ở đây, nên ở đây thầy cũng có kho tàng lớn lắm, ai có xin không?

[43:08]Vô đây thầy cho hết luôn, lại đây lại đây thầy cho liền.

[43:16]Thì lúc đó là vua Tịnh Phạn sao? Trời ơi, cực kỳ phiền não, cực kỳ phiền não, cự quá chừng luôn. Nói: "Trời ơi, ngài cho xuất gia kiểu này kẹt quá, trong khi nó là cháu của tôi, ha, con của Da-du-đà-la, con ngài thì ngài không nói đi, nhưng mà cũng là cháu của tôi mà không ai hỏi tôi một tiếng nào." Ngài ngài vua Tịnh Phạn cực kỳ phiền não. Nhưng mà lỡ rồi, thôi Đức Phật cũng giã lả nói: "Ờ, thôi thì lần sau nếu mà cho xuất gia thì ngài cũng sẽ hỏi ý kiến cha mẹ." Đức Phật cũng giã lả kiểu đó, nhưng mà huề rồi, cũng cạo mất tiêu rồi, theo luôn. Sau đó, ở lại hoàng cung lần đó mấy lần thuyết pháp,

[43:52]vua Tịnh Phạn chứng lên đạo quả tới Tư-đà-hàm, nhị quả. Vì chứng nhị quả cho nên khi cái đám cưới của Nanda tới, thời này vua Tịnh Phạn lại chờ mà, chờ chỉ còn hai điều khát bọng, một là cưới vợ cho Nanda, hai là được Phật về thăm. Khi đợi Phật vừa về thăm hoàng cung là làm đám cưới liền, tức là cái niềm vui tràn ngập. Nhưng mà không ngờ, không ngờ đời không ai học được chữ ngờ. Ngay trong cái đám cưới đó cũng mời Phật tới dự theo kiểu mà mà mà thế gian, giống như bây giờ vừa rồi trên bàn thầy thấy có ai mới mời đám cưới thầy nữa đây, mới trên bàn vậy đó. Nhìn cái thiệp mà người ta mời thầy đám cưới thầy cũng hiểu,

[44:32]bởi hồi đó mà lúc đám cưới Nanda mời Phật qua dự là cũng giống giống vậy đó, tại họ nghĩ kiểu thế gian á, ờ làm anh cả trong gia đình cưới vợ em. Thì Phật không nói gì. Bởi Phật cũng âm mưu nhiều thứ nhưng mà không nói gì. Ngài cứ ôm bát ngồi lặng lẽ một góc á ngay cái chỗ bàn chính đó chờ đám cưới, ờ tụi bây làm gì đó làm, cứ cưới hỏi chào đã đời, cái Đức Phật đứng lên: "Như Lai đi về, về thất", tức là lập cho Đức Phật liền một cái tinh xá gần kinh thành. Cái ngài Nanda mới mặc trong cái đồ chú rể đẹp tới chào Phật, cái Phật đưa cái bát kêu cầm giùm. Rồi cái ngài đi ra, cái ngài Nanda cầm cái bát Phật rồi có dám đứng lại không?

[45:10]Vâng, không dám đưa ai tại kính trọng anh mình quá, cứ đi theo, cứ đi theo đi riết đi riết cho tới, tới về tới tinh xá. Bên đây cứ ngồi chờ, kiên nhẫn là thôi ở gần đây mà, qua khỏi kinh thành xíu là cái lập lập cái tinh xá mới cho Phật về ở, nên cứ ngồi chờ, chờ để làm đám cưới ăn mừng, cứ ngồi chờ hoài không thấy. Chạy qua kiếm thì ngài đang đau khổ, nước mắt khóc vì cạo đầu trọc lóc, đắp y cà-sa rồi. Đức Phật thiệt tình. Nhưng mà lần này vua Tịnh Phạn không phiền. Thì lúc đó là đức bà Kiều Đàm á là mẹ của Nanda đó, ồ ồ nhảy dựng lên, khóc lóc quá chừng, còn cô dâu thì xỉu lên xỉu xuống. Thì nhưng vua Tịnh Phạn không nói tiếng nào.

[45:52]Bà Kiều Đàm mới hối vua Tịnh Phạn là phản ứng phụ đây, chứ làm sao kỳ vậy? Vua Tịnh Phạn nói: "Có lẽ cái duyên của Nanda với cô dâu là chỉ đủ duyên để làm một cái đám cưới thôi, chứ không đủ duyên là vợ chồng. Thôi, kệ." Vì ngài vừa mới chứng lên quả mới Tư-đà-hàm. Đó cái do cái quả chứng nên ngài mới tùy hỷ trong cái việc xuất gia. Còn mà lần đầu mà La-hầu-la xuất gia thì ngài chưa chứng, vua Tịnh Phạn chưa chứng cho nên ngài còn phiền não. Thì trong trường hợp ông chồng này cũng vậy, ổng chứng A-na-hàm rồi nên bà vợ xin xuất gia là làm sao? Ngon lành, cho liền. Đó, cho đi xuất gia. Thì bà tu ở Vương Xá, bà thấy gần nhà, cái bà xin về một cái vùng quê cũng

[46:32]có một cái nơi ở của mấy cô ni nhỏ nhỏ, bà tu đó bà chứng A-la-hán luôn. Bà cũng đặc biệt, hai vợ chồng thật là đặc biệt: ông chồng ở lại thì chứng A-na-hàm, bà vợ xuất gia thì chứng A-la-hán, cũng rất đặc biệt. Khi bà trở lại Vương Xá thì ổng tới ổng thăm. Và trong kinh ghi thế này: khi ổng tới ổng thăm, ổng quỳ xuống lạy bà theo đúng cái phép tắc của một người cư sĩ đối với một người xuất gia. Và đàm đạo thì khi đàm đạo thì ổng mới hỏi về cái đạo lý. Thì khi mà ổng hỏi những đạo lý căn bản thì bà trả lời rất vững. Thì ổng hỏi tiếp, thì khi mà nhìn mặt bà trở về thì ổng ổng biết bà có chứng rồi mà không biết chứng cái gì.

[47:11]Tại vì ổng cũng có thần thông mà, nên ổng nhìn ổng thấy bà thanh thoát, thanh tịnh, biết bà chứng, nên bắt đầu dò hỏi. Dò hỏi từ từ tới những cảnh giới tu chứng. Thì những cảnh giới này, Phật không bao giờ giảng, nha. Phật không bao giờ giảng, không giống như là các thiền sư Trung Hoa mà hay diễn tả cảnh giới nội tâm chứng ngộ, còn Đức Phật tuyệt nhiên không giảng mấy vụ này à. Cảnh giới nội tâm chứng ngộ, trong kinh Phật không diễn tả. Ngài giữ là một bí mật. Chỉ những người chứng, các bậc thánh trao đổi nói với nhau thôi. Thì đây cũng vậy, khi mà thấy cái người vợ xưa của mình đi tu về gương

[47:47]mặt thanh thoát như vậy, ổng biết bà chứng, bắt đầu ổng hỏi. Hỏi về cảnh giới, cảnh giới bà diễn tả dần dần dần dần từ Tu-đà-hoàn là gì, Tư-đà-hàm là gì, A-na-hàm là gì. Cái ổng thấy bà rõ hết cảnh giới của ổng chứng luôn, tức là cái A-na-hàm của ổng nó siêu việt tới cỡ nào. Ngồi một chỗ đây mà trùm hết cả pháp giới như thế nào. Đó là cái ngoại vật cũng nằm trong tâm mình như thế nào. Thấy cả trời đất, núi sông, hòn đá, cành lá gì không ngoài tâm mình. Thấy là tâm mình muốn nó trôi đi là nó trôi đi, muốn dòng sông dừng lại là dòng sông phải dừng lại. Vì sao? Vì tất cả ngoại vật ở trong tâm mình.

[48:25]Ổng thấy cảnh giới đó ổng ổng thấy rõ như vậy. Hỏi ra bà nói tới, bắt đầu ổng nghi bà chứng luôn, ổng mới hỏi là: "Xin xin hiền hiền giả nói tôi về cảnh giới A-la-hán." Thì bà ngừng lại, bà không nói, bà nói: "Hãy đến gặp Phật." À, lạ như vậy nên cái trí tuệ của bậc A La Hán bà không nói. Thế là ông mới đến ông hỏi Đức Phật. Nói là: "Bạch Thế Tôn, cái cái ni cô đó ngày xưa cũng là vợ con đã xuất gia, nhưng mà có những cảnh giới chứng đặc biệt. Khi con hỏi đến những cái cảnh giới về A La Hán thì nói những điều con không hiểu và cô yêu cầu con đến gặp Thế Tôn để nhờ Thế Tôn xác chứng." Thì Đức Phật xác nhận rằng những

[49:10]điều mà bà nói nhá nhá về A La Hán là đúng, nên nói: "Ai chẳng còn nắm giữ bất cứ sở hữu gì, cả quá, hiện, vị lai, ta gọi Bà-la-môn." Tức là khen rằng bà đó thực sự chứng A La Hán rồi. Thì ở đây cái cảnh giới của ông với bà nó có chút khác nhau chỗ này một chút. Ví dụ như khi ông chứng A Na Hàm rồi thì ông thấy rõ ràng là ông thanh tịnh vượt khỏi cái tâm sở hữu, không còn thấy gì là của mình nữa. Mà nó sạch thật sự. Ái dục sạch, tâm sở hữu sạch, những điều ham muốn sạch, điều sợ hãi sạch hết, tự nhiên. Nhưng mà cũng cái đó ông đem hỏi bà thì bà nói cái cảnh giới A La Hán nó siêu hơn ở chỗ thế này

[49:58]là trong cùng một sát na đó mà cái tâm sở hữu từ vô lượng kiếp nó xóa sạch. Cái tâm sở hữu mọi thứ, ước mong mọi thứ của quá khứ, vị lai mất sạch hết, tức là cả tam thế ba đời này trong tâm của vị A La Hán sạch hết luôn, không có một cái sở hữu gì. Chứ còn A Na Hàm thì thấy rất rõ trong hiện tại mình sạch hết và cứ nghĩ rằng trong hiện tại mình sạch hết cái tâm sở hữu là đã giải thoát. Nhưng mà vẫn còn vướng với cái vô lượng, cái tích nghiệp từ quá khứ là trong vô lượng kiếp quá khứ ta từng có những tâm sở hữu nhà cửa, gia đình, đất đai, tài sản, vàng bạc. Thì một vị A La Hán nó sạch cái vô minh rồi

[50:39]nó sạch luôn tất cả cái tâm quá khứ luôn. Cái cảnh giới đó ông không hiểu được, nên đến Phật, Phật mới xác nhận chỗ đó. Tức là: "Ai chẳng còn nắm giữ bất cứ sở hữu gì, cả quá, hiện, vị lai, ta gọi Bà-la-môn." Nên cái cảnh giới này Phật xác chứng thôi thì ông tin rằng cái người ni cô vợ mình đó đã nói đúng thôi, chứ còn hiểu thì vẫn hiểu chưa nổi. Trừ khi ông ông xuất gia chứng chứng A La Hán như vậy như vậy. Ở đây nó có một cái khéo thế này là tâm sở hữu cả quá khứ, hiện tại, vị lai. Nếu ta có thời giờ khi có những lúc ta chánh tư duy, ta tác ý thì hãy suy nghiệm về điều này. Đây là cảnh giới của A La Hán mà ta không hiểu nổi,

[51:24]ta không chứng được nhưng hãy suy nghiệm điều này. Thì khi ta suy nghiệm được điều này cũng là gì? Cũng là ta gieo cái nhân mà giải thoát. Cũng giống như ta suy nghiệm về điều này, thực sự không có gì là sở hữu của ta, không có gì là sở hữu của ta, thì ta cũng gieo cái nhân mà chứng quả A Na Hàm hoặc là A La Hán. Suy nghiệm hổng có gì của ta thì

[51:51]cũng phải can đảm lắm á. Tại bình thường cái hạnh phúc của ta là do cái ta sở hữu. Khi ta thấy có tiền nhiều ta thấy mình an lòng, tiền nhiều nữa bắt đầu ta thấy mình hạnh phúc, còn tiền nhiều nữa nữa nữa nữa thì ta thấy mình cực kỳ quá sung sướng. Nên cái hạnh phúc của ta, cái cảm giác sung sướng của ta nó tăng theo cái cái tài sản ta có được, đúng không ạ? Đúng không? Đó. Khi một người mà có 2 triệu thì không thể hạnh phúc bằng lúc mà mình có 10 triệu, hay là mình có 100 triệu, hay 1 tỷ. Cái hạnh phúc của ta nó tăng theo cái số lượng tài sản mà ta có. Nhưng mà cái người chứng A Na Hàm thì họ không còn thấy tiền đó của mình nữa.

[52:34]Bắt đầu thấy tiền đó là nhân duyên. À do nhân duyên, do cái nhân duyên sự tương tác của mình với mọi người bây giờ tiền nó chạy về nó bỏ vô tủ mình. Chỉ là nhân duyên. Và bây giờ cái nhân duyên mà mình đã tạo trong quá khứ nên bây giờ mình trở thành người đang giữ số tiền đó và chỉ là mình đang giữ thôi, không còn là của nữa, không còn là của mình mà chỉ là mình giữ. Và mình giữ thì mình có bổn phận xài cho đúng. Nó lại khác nhau chỗ này. Nên ở đây là cái suy nghiệm của người cư sĩ, còn người tu sĩ thì Đức Phật không khuyến khích giữ tiền, giữ tài sản từ xưa. Nhưng mà ngày hôm nay cái thời thế nó thay đổi,

[53:17]cái giới đó của Đức Phật không còn tuân thủ được, chùa nào dường như cũng phải có tiền. Như bây giờ thầy cũng vậy, cũng phải có ít tiền trong túi. Giờ móc ra cũng được vài tờ 500.000 có ai mới cho bỏ vô túi. Lỡ đi đâu mà đụng bể bánh tráng người ta còn có tiền đền như vậy đó. Thế còn hồi xưa là không giữ tiền, nhưng bây giờ cái thời thế vậy. Thì cái việc mà giữ tiền nó cũng nguy hiểm đối với một thầy tu là có thể ta thấy là là của mình. Mà nếu ta suy nghiệm theo một bậc A Na Hàm, một bậc Thánh thì ta không còn thấy là của mình mà thấy là mình mình giữ của trời đất. Mình giữ của trời đất. Vì cái nhân duyên của trời đất nó chạy qua chạy lại,

[53:57]đi tới lui sao tiền nó chạy qua chạy lại lát nó vô túi mình một mớ. Thì đây là nhân duyên và không thấy có ta, không thấy của ta. Mà vì nhân duyên cũng là phước đức mình đã gieo, tự nhiên nó tụ lại đống nằm ở tủ mình. Và nó không phải của mình, cho nên mình đừng có xài bậy, xài cho đúng, cho hợp lý. Hiểu như vậy thôi. Nên cái suy nghĩ này

[54:23]trong cái bài giảng cuối năm này của bài Pháp Cú này là cái suy nghĩ cực kỳ quan trọng. Nếu hôm nay mà ai thấu được điều này, hiểu được điều này, tu tập được điều này thì người này là con cưng của Phật.

[54:45]Con cưng của Phật, nhớ như vậy. Nhưng mà có phải là: "Ồ cái này không phải sở hữu tui, tui đem quăng ra ngoài đường cho bậy cho hết." không? Có không? Không. Phải xài cho đúng. Nên ở đây vậy, trong cái truyện của nhà thiền nó có câu chuyện về ông Bàng Long Uẩn. Ông là một cư sĩ nhưng mà cái chứng của ông rất cao, mà thầy nghi nghi là ông ông chứng ở đó cũng A Na Hàm hay sao á. Thì lúc ông đến gặp ngài ngài Thạch Đầu hỏi a là: "Ai chẳng cùng vạn pháp làm bạn?" Cái câu hỏi của một người rất là lắt léo và lãng mạn. Ai chẳng cùng vạn pháp làm bạn?

[55:29]Nghĩa là sao? Nghĩa là vạn pháp là gì? Là mọi thứ rối tinh, mọi điều sinh diệt, mọi điều vô thường mà mình không đi theo. Tức là không làm bạn theo, không trôi theo là mình không duyên theo cuộc đời, giữ lại được sự tự tại, bình an, giải thoát, gọi là người không cùng vạn pháp làm bạn. Cái câu hỏi rất là lắt léo. Thì hỏi ngài Hy Thiên Thạch Đầu là: "Bạch Hòa thượng, ai là người không cùng vạn pháp làm bạn?" Ngài Hy Thiên Thạch Đầu bịt miệng một cái, ngài ngộ đạo liền đầu tiên. Quỳ xuống lạy. Rồi khi mang cái ngộ đạo, mang cái kiến giải đó ông lặn lội đi qua gặp ngài Mã Tổ. Mã Tổ Đạo Nhất là lúc đó hai thiền sư cực kỳ nổi tiếng, hai vị thánh cao siêu.

[56:13]Gặp ngài Mã Tổ ông hỏi lại đúng câu đó. Mà ngày xưa lúc ông hỏi là ông chưa đắc đạo, chưa ngộ đạo lần đầu. Lần này ông là người đã ngộ đạo, ông hỏi lại đúng câu đó. Nói: "Bạch Hòa thượng, ai là người không cùng vạn pháp làm bạn?" Ngài Mã Tổ nói: "Khi nào ông uống một ngụm mà hết sạch nước Tây Giang này ta trả lời cho ông." Ngay câu đó ông đại ngộ luôn. Cái đại ngộ này giống như chứng A Na Hàm. Thế là ông về nhà ông truyền đạo vợ con xong đem hết nguyên đống vàng trong nhà lên xuồng ra giữa sông đổ luôn. Nhưng mà lúc đó cái việc làm của ông á thì ông độ được gia đình ngộ đạo hết, cả gia đình đắc đạo, muốn chết là chết, hay thiệt, lạ lùng cái gia đình đó.

[56:52]Tâm sở hữu mất sạch. Và lúc họ nhìn cái vàng nó không còn là niềm vui, là hạnh phúc mà họ thấy đó là tai họa của thế gian. Ông rất là giàu, tức là ông là người có phước dữ lắm á. Cái đống vàng nó để chỉ là đầu mối của sự tranh chấp, giành giựt, hơn thua. Mà nhờ cái công đức ông vớt xuống sông như vậy, nếu ông lỡ mà ông tái sinh xuống đây, ông không còn đồng nào để sống, thầy phí. Đúng ra là ông phải xài cho đúng từng đồng, chứ đừng đem vất. Phải tiếp tục giữ bí mật mình có số tiền nhưng mà tìm cách tiêu xài cho đúng thôi, chứ đừng có vất. Tại nó đâu phải của mình đâu mà vất. Nên chỗ đó ông vẫn bị sao, hớ một chút xíu.

[57:34]Chứ nếu như là thầy, thầy đã giữ dành cho sư phụ Từ Tân xây thêm mấy cái chùa nữa. Nên ở đây vậy,

[57:44]hôm nay chúng ta học cái bài cuối năm này thì cái giáo lý này nó vừa tầm cho ta suy nghĩ, vừa cho ta có thể thực hành phần nào mà cũng không mất mát gì. Là với bao nhiêu tài sản ta đang có thì thầy không có kêu ta phải đem đi cúng dường, bố thí cho sạch hay quăng hết, đúng không ạ? Thầy chỉ kêu thay đổi giùm thầy cái ý nghĩ thôi. Được không? Không mất đồng nào đừng lo, đừng lo không mất đồng nào. Thầy chỉ kêu thay đổi ý nghĩ thôi là tiền này không phải của mình. Mà do nhân duyên gì đó bỗng nhiên nó tụ lại nơi nơi mình để cho mình phải giữ gìn và phải sử dụng cho đúng. Được không? Nhớ nha. Chớ thầy không có kêu là:

[58:35]"Ồ tiền quý Phật tử là hư ảo, thôi đưa cho thầy, thầy xài giùm." Nói đó là lúc là là thầy là ông tà sư, lợi dụng là moi móc tiền bạc, dụ người ta cúng dường thì lúc đó thầy làm bậy à. Còn đây không phải. Thầy đính chính đàng hoàng rồi nha, nói hổng có thừa. Nhớ như vậy, dùng cho đúng và đừng bao giờ nghĩ là của mình. Cái nhà đó mình đứng tên cũng chỉ là nhân duyên của của trời đất. Còn như thầy, thầy đi tu rồi thì thầy cũng đứng tên một số nhà đất, nhưng lúc nào trong đầu thầy, thầy cũng nghĩ cái đó là của ai? Của Phật. Và Phật giao cho thầy Giữ để làm chi? Để mà giáo hóa chúng sinh, chứ không phải của thầy.

[59:17]Cho nên ví dụ bây giờ như cái công ty ở Hoàng Diệu, cái nhà nó mấy tầng lầu á, lên lầu xuống lầu, thầy không bao giờ thấy cái nhà nó của thầy á. Đi lên nhà của Phật cho nên thầy sống khỏe lắm, không cần phải lau chùi. Đệ tử thầy lau quét gì đó, lau quét thầy cũng không phải lo lắm, tại đâu có phải của thầy đâu. Lòng nó nhẹ bâng à, không có lo gì hết trơn, không có giống như của mình. Bậc trâu chúa thù thắng, bậc anh hùng đại sĩ, bậc chiến thắng vô nhiễm, bậc thanh tịnh giác ngộ, ta gọi Bà-la-môn. Thì cái bài Pháp Cú này, một lần nữa Đức Phật khen ngợi ngài Angulimala.

[59:57]Ngài Angulimala là người mà sao giết cả cả cả gần cả ngàn người đó. Cái nhân quả này rất là khó hiểu. Hồi nhớ có lần thầy nói rồi thì phải hả? Nhớ có lần thầy giảng rồi. Nhưng hôm nay liên quan tới ngài, kể chuyện lại chút xíu cho vui. Thì ta biết rằng, ngài Angulimala này là con của một vị cố vấn tâm linh cho vua Ba-tư-nặc. Cái đêm mà ngài sinh ra, thì cả cái kinh thành rổn rảng rổn rảng náo động, có cái tiếng của vũ khí chạm nhau, làm vua Ba-tư-nặc không ngủ được. Nên hôm sau khi mà họp triều đình, vua Ba-tư-nặc có nói về cái chuyện đó, nói: "Cả đêm hôm qua bỗng nhiên cái vũ khí của ta nó cứ chạm nhau

[1:00:42]nó kêu, áo giáp nó cứ kêu lổng khổng lổng khổng rổn rảng, không hiểu chuyện gì." Thì cái ba của ngài Angulimala nói: "Dạ đêm qua là đứa con trai của hạ thần cũng vừa hạ sinh. Chắc là tại nó, không biết là cái gì nguy hiểm đây." Nhờ để bấm quẻ coi. Thì khi khi bấm quẻ coi, thì mấy cái ông mấy ông tế sư mới nói rằng: "Thằng bé này sau này sẽ là một cái người cực kỳ giỏi võ." Nghĩa là, nghĩa là có thể là chiến thắng cả ngàn người. Đâu có biết rằng nó là thằng sát thủ sau này, không biết. Nói câu đó, cái vua Ba-tư-nặc: "À, mà ba của nó làm quan cho ta, thì con nó sau này lớn lên làm cái gì? Cũng làm tướng cho ta thôi, phải không?" Ngài nghĩ yên tâm, nói:

[1:01:24]"Thôi được, như vậy cũng tốt, không sao, chắc nó là danh tướng à." Nhưng mà cái người cha mới sợ, nói: "Nó sinh ra mà làm cho đại vương mất ngủ cả đêm, cái thằng này đúng là cái đồ ăn hại." Nên đặt tên cho nó là Himsaka, là đồ ăn hại. Himsaka. Sau này khi mà ngài lớn lên năm sáu tuổi thì lại rất là thông minh, đĩnh ngộ và có đạo đức, không phải là người quậy phá, có đạo đức, lễ độ lắm, đàng hoàng lắm, có tư cách lắm, mà rất là thông minh. Cái vua Ba-tư-nặc có một lần đó năm sáu năm sau mới hỏi cái vị quan đó, nói: "Sao, cái thằng Himsaka sao rồi?" "Dạ nó ngoan, để dắt lại cho vua coi." Vua coi thấy:

[1:02:02]"Ồ thằng này ngoan ngoãn chứ, thấy ngon lành. Đâu đâu, thôi đổi tên nó đi." Mới đổi tên nó là Ahimsaka, không phải là đồ ăn hại. Có thêm chữ "A" trước là "không", là "vô", là vô hại, bất hại, không phải đồ ăn hại. Còn cái tên mà Angulimala là tên sau này là do lúc mà giết người nhiều quá bị đặt cái tên đó, chết tên, chứ sự thực tên ngài từ nhỏ là Himsaka đổi qua là Ahimsaka, rồi còn Angulimala là sau này. Thì một lần đó, cái việc mà người ta hay cúng dường cho Phật và chư Tăng, cái nó thành cái lệ ở cái vùng kinh thành Xá-vệ. Thì vua Ba-tư-nặc thấy dân làm như vậy, thì cũng bắt đầu vua Ba-tư-nặc thì ổng hơi

[1:02:45]thủ đoạn, hơi tính toán, ổng mới ngồi ổng bàn với đại thần và hoàng hậu Mạt-lợi: "Dân họ cái gì họ cũng gì tốt nhất họ đem cúng dường cho Phật và chư Tăng. Còn ta là vua, cũng là đệ tử của ngài, mà cúng dường bèo quá coi kỳ. Bây giờ làm sao phải tổ chức một buổi mà cúng dường cho thật hoành tráng, long trọng nhất, nha." Thì ngồi bàn qua bàn lại mới tổ chức một cái buổi tiệc trai tăng rất là lớn. Trai tăng long trọng nghĩa là thật ra ăn thì cũng có mấy muỗng cơm đó thôi, nhưng mà nó có thêm nhiều phụ kiện kèm theo là gồm có cái gì? Cái sàn ngồi rất là đẹp, chén bát thật là sang trọng, rồi có lính canh hầu, có người cung nữ hầu, rồi có ngựa hầu, có voi hầu.

[1:03:28]À tức là buổi cúng dường thì bằng mắt á thì rất là đã, nhưng mà cơm thì sao? Thì cũng mấy muỗng á thôi, cũng một bát á thôi có gì đâu. Nhưng mà ổng làm cho lớn chuyện để mà chứng tỏ rằng là vua mình mà cúng Phật là hơn dân, ý vậy thôi chứ không gì. Thì khi mà bày ngựa hầu voi hầu vậy đó, thì trong cái đám voi hầu có con voi rất là dữ, có con voi mà voi nó khó được điều phục, nó hay hung hăng. Thì không biết ai ác ý sao để lại gần bên cạnh ngài Angulimala. Nguyên một hàng của chư Tăng đây thì cái bìa ngài ngồi đây để một hàng voi theo thiết kế của buổi thiết lễ cúng dường đó, thì hết chuyện đem cái con voi dữ

[1:04:08]nhất để ngay đầu bìa, mà ngài cũng ngồi đầu bìa, ngồi sát bên ngài. Thì con voi nó nó không yên, nó dữ nó cứ hì hùm hì hùm, nó bước tới bước lui, cái người quản tượng lúc nào cũng phải cầm mấy cái cái cái thương đâm lâu lâu nhích nó cái, nhích cái giữ chân giữ tay nó lại. Nhưng mà ngài Angulimala cứ ngồi lặng lẽ thọ thực, rồi nghe Phật thuyết pháp, làm lễ cúng bái tụng niệm gì đó rồi ăn bình thản. Thì lúc khi đi về, các vị Tỳ-kheo mới hỏi, mấy vị mà chưa đắc đạo á, mới ngồi bàn tám chuyện với nhau, nói không biết ngài Angulimala có sợ không ta. Nếu như tôi ngồi đó tôi run tôi ăn không được à, nó cứ ghì gầm ghì gầm mà con voi nổi tiếng dữ,

[1:04:45]nó bước tới bước lui, nó nhúc nhích nhúc nhích hoài, lỡ nó bỏ chân qua nó giẫm xuống một cái mình xong ngay, mình dẹp lép như con tép ngay. Không biết có sợ không? Thì lúc đó có mấy vị mới hỏi ngài Angulimala, nói: "Thưa thưa tôn giả, lúc tôn giả có run không?" Ngài nói: "Không, không có gì đâu, không có sợ." Nhưng mà mấy vị kia cũng cứ suy bụng ta ra bụng A-la-hán á, nói chắc có sợ chứ ngồi nó cứ bên nó nhúc nhích nhúc nhích, ghì gầm ghì gầm, nó phì phèo phì phèo, vòi nó quất lên quất xuống, nó khì khì ra nước miếng nòng dọng thấy ớn. Cái cái Phật mới hỏi: "Các ông đang nói gì vậy?" Nói: "Dạ bạch Thế Tôn, con đang ngồi hỏi hồi trưa nay không biết

[1:05:18]ngài Angulimala ngồi bên cạnh con voi dữ nó phì phèo hoài không biết ngài có sợ không?" Thì Đức Phật mới nói: "Không, Angulimala là hết sợ rồi." Nên mới nói là: "Bậc trâu chúa thù thắng, bậc anh hùng đại sĩ, bậc chiến thắng vô nhiễm, bậc thanh tịnh giác ngộ, ta gọi Bà-la-môn." Tức là là ngài đã đã đã hết sợ hãi rồi. Ở đây thế này, thực sự là một số cái loài vật mà nó hơi đặc biệt như là sư tử, cọp, voi, cá heo, cá voi, thậm chí một số con mãng xà lớn thì nó có tâm linh rất là mạnh. Ngôn ngữ nó không phát triển như con người, nhưng mà cái tâm linh nó mạnh hơn con người. Nó nhận ra được cái tâm của con người, nó nhận ra được cái uy đức của

[1:06:03]con người, nó nhận ra được cái phước của con người đứng gần nó. Hà. Trong số con vật á nó là linh vật á, nó sống lâu quá và nó là một cái loài đặc biệt nên đôi khi nó có cái linh tính. Con khỉ lóc chóc vậy chứ không bằng mấy con kia. Nhất là con cá ông và con cá heo, cá voi và cá heo có linh tính rất là mạnh và có có tâm từ nữa. Cho nên cái hiện tượng mà cá ông cá voi cứu ngư dân á là chuyện có thật bởi cái ý thức của nó, bởi cái lòng tốt của nó, chứ không phải là nói là hên xui như kiểu mấy ông khoa học mà cứ nói bậy nói bạ. Rồi một số mãng xà to có cái tâm linh, biết được con người, cọp, voi cũng vậy.

[1:06:49]Ví dụ bây giờ vậy, cọp bây giờ nói trong rừng nó chết gần hết rồi, ta không cần phải lo. Đó, ví dụ bây giờ ta đi vào sở thú mà gặp cọp sổng chuồng thôi, còn nếu mà ai mà vào rừng mà gặp cọp thì hôm nay thầy dạy cho cái bí quyết là không còn phải sợ cọp nữa nha. Gặp cọp á mà chạy thì nó phóng tới chụp liền, là vì nó biết mình sợ. Hoặc là không chạy mà đứng đó mình sảng sốt luôn thì nó cũng biết mình sợ, phóng tới chụp liền. Mà gặp nó mình thủ thế mình đánh nó, thì nó cũng tấn công mình liền vì mình là đánh nó, đối thủ của nó. Chỉ có một người, một loại người gặp nó mà nó khuất phục, nó không dám làm gì, đó là người tâm mình trầm lắng,

[1:07:36]bình yên và nhìn thẳng nó với tâm vô hại và từ bi, thì nó nhận thấy có con người mà tâm thanh tịnh bất động, không gây hại cho nó, tỏa từ bi ra nó, tự nhiên nó không dám xâm phạm. Để nói thầy có nói đúng hay không, thì lát chiều hãy vào sở thú, xin vào chuồng cọp làm đúng như vậy cho thầy.

[1:08:01]Nếu mà vẫn nguyên vẹn đi ra, nghĩa là trong tiếng Anh nó là get out one piece, nghĩa là đi ra còn nguyên một mớ, một mảnh á một cục á, thì tức là tâm mình đã đủ bình an, đủ đạo đức, đủ uy đức. Còn nếu mà đi ra bằng nhiều mảnh mà phải lượm á, thì tâm mình chưa đủ bình an. Chiều nay cứ thử nha, sẽ biết là thầy nói đúng hay không nha quý vị. Và voi cũng vậy, cái voi cái linh giác của voi cũng rất là mạnh. Cho nên cái con voi dữ đó mà để bên cạnh ngài Angulimala thì thực sự thầy cũng nghi đây là một cái cái âm mưu chứ không phải là vô tình. Đây là sự cố ý. Tại sao không để xích qua mấy hàng thanh tịnh tỳ-kheo đi?

[1:08:46]Tại sao canh ngài ngồi ngay đó, giả bộ mời ngài ngồi ngay đó rồi sắp con voi dữ ngồi bên cạnh? Đây là phá hoại. Có một người nào trong triều đình, trong cái ban tổ chức mà thiết lễ trai tăng đã cố ý chơi xấu ngài Angulimala. Mà tại sao lại cố ý chơi xấu ngài? Bởi vì họ có cái thân nhân nào đó bị ngài giết lúc trước khi khi lúc mà ngài còn là một một sát thủ. Vì lúc đó là lúc mà thời gian mà ngài đang còn giết người để học bùa á, thì khi mà nghe tin như vậy, vua Ba-tư-nặc đã gởi nhiều lính đi từ kinh thành Xá-vệ đi lùng để bắt, truy nã, nhưng mà ai tới gặp ngài là bị ngài giết hết tại vì ngài giỏi quá.

[1:09:28]Từ nhỏ là đã sức mạnh phi phàm mà học được cái ông thầy kia quá giỏi võ. Cho nên sau này khi mà trở về mà đi tu thì ngài còn bị sao? Bị nhiều cái mối thù. Mà do Phật bảo lãnh và khen ngợi ngài là người đã hồi tâm hối cải chứng đạo nên dần dần người ta nguôi ngoai, người ta không truy vấn cái tội ngài đối với dòng họ bà con người ta nổi. Nhưng mà người ta vẫn còn gì? Âm thầm cái gì? Thù hận nó chưa hết. Nên hôm đó cố ý để con voi dữ bên cạnh ngài cũng là để phá, để chơi xấu đó, hạ nhục ấy chứ không phải không. Nhưng mà bằng cái sự bình an của một bậc A-la-hán mà có lẽ là cái bình an của ngài ngài cũng tác động

[1:10:08]qua con voi dữ cho nó phụ với ngài Quản tượng. Ngài vừa ăn mà vừa dùng cái tâm lực của mình giữ con voi đó nó nằm yên đó luôn, không cho nó quậy phá cái bữa thiết lễ trai tăng đó nên nó yên luôn suốt bữa đó như vậy. Ta nhớ là một bậc thánh họ khống chế được tâm người khác chứ không phải là không. Nên hôm đó có lẽ là như vậy. Thôi câu chuyện nó là như vậy. Ta qua cái câu chuyện nữa. Ai biết được tiền kiếp, thấy cõi trên cõi dưới, chấm dứt mọi sinh diệt, đạt thắng trí viên mãn, bậc tịch tịnh đại sĩ, thành tựu rất trọn vẹn, ta gọi Bà-la-môn. Câu chuyện này nó như thế này: là có lần Đức Phật bị cảm, bị bệnh.

[1:10:54]Thì ngài A-nan mới đi xin nước nóng cho Phật tắm. Vì trong tịnh xá không có không có lò, không có bếp, ngài đi xin nước nóng về cho Phật tắm. Thì cái vị gia chủ mà cúng được một cái thùng nước nóng này rất là mừng, cho Phật tắm như vậy. Thì lúc mà gặp lại Phật ông hỏi, ông mới hỏi Phật là: Bạch Thế Tôn là trong những việc cúng dường như vậy thì thường mình cúng cho ai thì mình được phước nhiều? Được phước nhiều thì Đức Phật mới diễn tả về một cái bậc đắc đạo mà nếu cúng được cho cái bậc đó đó, thì mình được phước nhiều. Tức là cúng cho ai mà biết được tiền kiếp, thấy cõi trên cõi dưới, chấm dứt mọi sinh diệt,

[1:11:35]đạt thắng trí viên mãn, bậc tịch tịnh đại sĩ, thành tựu rất trọn vẹn, ta gọi Bà-la-môn. Thì ba cái câu đầu này là nói đến Tam Minh. Ai biết được tiền kiếp là gì? Túc Mạng Minh, phải không? Thấy cõi trên cõi dưới là gì? Thiên Nhãn Minh. Chấm dứt mọi sinh diệt là gì? Lậu Tận Minh. Cho nên trong ba câu đầu này là Phật nói về Tam Minh của một bậc A-la-hán, mà nếu mình cúng được cho một bậc nào như vậy thì phước mình là vô lượng. Thì cái câu này như vậy nó còn có cái hàm ý thế này: một người mà thật sự đắc đạo trong đạo Phật, chứng A-la-hán trong đạo Phật, thì phải đủ Tam Minh, chứ không phải là một người giỏi lý luận suông.

[1:12:22]Ví dụ như vị đó có thể thuyết pháp hay, viết sách hay, lý luận sắc bén đanh thép, không cãi gì được nữa. Nhưng nếu vị đó không nhớ được tiền kiếp của mình, vị đó không có con mắt thấy được các cõi, mà vị đó cũng không chấm dứt được sự sinh diệt, thì không phải là A-la-hán, ta nhớ điều đó. Vì sao vậy? Vì trong cái thời đại này có những cái đạo sư giả hiệu, nói cho hay, tự xưng mình như thần như thánh, thậm chí mình nói mình có thần lực để cứu thế giới, đều là những cái lối mà lừa gạt cả. Hay bày chuyện tâm linh, lừa gạt. Nhưng mà phải thật lòng họ họ chưa hề thấy được tiền kiếp mình là cái gì, họ chưa đủ sức nhìn thấu từ địa ngục lên tới bao nhiêu

[1:13:13]cõi trời và thực sự họ vẫn còn phải tái sinh thì người đó không phải thánh, không phải A-la-hán, không phải A-la-hán. Nên cái Tam Minh, Lục Thông là để xác nhận một vị chứng A-la-hán. Còn nếu không phải như vậy, không đủ Tam Minh, Lục Thông thì có nói gì cũng phải biết mình sao? Chưa phải giải thoát thực sự. Nhớ như vậy. Đây là cái câu này để ấn định. Và cũng cái câu này để cho ta đánh giá bao nhiêu vị đạo sư trong cuộc đời này. Vì ta sẽ lâu lâu ta nghe đồn: à có một vị này tu hành cao siêu, vị kia cao siêu, vị nọ có thần thông, vị nào là thánh gì đó, nghe đồn đủ thứ hết. Nhưng ta phải nghiệm ra được vị đó

[1:13:56]nhớ được tiền kiếp của mình, thấy được cái sinh tử trôi lăn của tất cả chúng sinh, thấy được các cõi hay không, còn tái sinh hay không. Đó là cái thước đo cụ thể, chứ không có nói lý luận trừu tượng. Dù nói hay cách mấy, dù lý luận cao siêu cách mấy mà không có ba cái minh này cũng chưa phải A-la-hán. Nhớ, đây là điều mà cụ thể chứ không có bằng lý luận, không bằng lý luận. Nói vậy, ai nói gì nói mà không có Tam Minh thì để đó cho vui thôi. Ừm. Thì tới đây là hết Pháp Cú. Nhưng thầy còn mắc nợ một bài Pháp Cú của năm năm trước, bài về cái chết của Mục-kiền-liên:

[1:14:39]Ức hiếp kẻ tay không, bức hại kẻ hiền lành sẽ phải chịu khổ đau trong mười loại khổ đau. Nghĩa là chịu đớn đau khốc liệt, thân thể bị thương vong hoặc bệnh nặng kịch liệt, hoặc tán tâm điên loạn, hoặc bị vua bắt bớ hoặc bị vu trọng tội, thân quyến phải lìa tan, tài sản bị mất hết, nhà cửa bị đốt cháy, thân mình bị thiêu rụi, rồi thân hoại mạng chung rơi luôn vào địa ngục. Tức là Phật nói một cái quả báo của cái người mà ức hiếp kẻ tay không, bức hại kẻ hiền lành. Nghĩa là người ta tay không vậy mình cầm súng bắn người ta, xuống hố chôn hết, cái ác đó rồi sẽ bị vậy đó. Phật nói cái này trong cái chuyện như thế này:

[1:15:22]là vào cuối đời của Phật, các ngoại đạo mà chống Phật nổi lên càng lúc càng mạnh.

[1:15:33]Vì sao vậy? Vì

[1:15:38]cái cuộc sống của họ, cái quyền lợi của họ bị Phật và chư Tăng lấy hết. Cái danh dự của họ, cái truyền thống tín ngưỡng của họ bị Phật và chư Tăng cạnh tranh gần sạch. Mà họ thì không đủ căn lành để theo Phật. Có những người Bà-la-môn rồi theo Phật, nhưng mà một số người mà lãnh đạo Bà-la-môn, những người mà kỳ cựu, tín đồ đông, quyền lợi nhiều bởi cái đạo đó và nhiều cái ngoại đạo khác nữa thì họ không theo Phật, quyết không theo, vẫn dùng cái đạo mình để cạnh tranh với Phật. Mà trong nhiều năm với rất nhiều âm mưu hiểm độc, tàn bạo vẫn không đụng được tới Phật và chư Tăng, không phá hoại được Tăng đoàn.

[1:16:27]Vì sao? Vì có ngài La-hầu-la lúc đó còn sống. Ngài bí mật điều khiển một lực lượng thám tử. Mà lực lượng thám tử ngài không phải là sát thủ, mà là những người được đào tạo xâm nhập vào mọi cái lĩnh vực hết của các đạo khác để vỗ về, an ủi, giải thích, ngăn chặn những cái âm mưu đó. Đó là lý do mà ngài La-hầu-la được xưng tụng là gì? Mật hạnh đệ nhất. Ngài làm những việc không nói ra, kinh điển không ghi lại. Nhưng mà ngài tổ chức cả một lực lượng thám tử rất là lớn để bảo vệ Đức Phật từ những vòng bên ngoài. Những cái lực lượng thám tử đó nằm trong cái cung điện của các vua chúa, đi vào trong các giáo phái hết,

[1:17:13]vào làm tín đồ hết để nghe ngóng, biết và ngăn chặn, hóa giải hết. Nhưng mà các thám tử đó sau một thời gian dài bảo vệ Phật và chư Tăng, đủ phước đi xuất gia sạch. Nên lực lượng thám tử đó mất dần, yếu dần, hết dần. Rồi ngài La-hầu-la cũng nhập diệt luôn. Nên lúc cuối đời thì ngài La-hầu-la là nhập Niết bàn trước cả Phật. thì không còn cái lực lượng thám tử bảo vệ thì ngoại đạo trỗi dậy rất mạnh. Và khi họ trỗi dậy rất mạnh thì cái người mà họ ghét nhất là ngài Mục Kiền Liên. Vì sau này là ngài Mục Kiền Liên hay công khai dùng thần thông để phá đó, phá ngoại đạo. Lúc ngài là thần thông đệ nhất mà,

[1:17:58]ngài bay nơi này qua nơi kia, đập nơi nọ dẹp nơi này. Có những cái lúc mà nó kéo binh đi tính tấn công vào Tịnh xá, thì tới nơi tự nhiên thấy một cái hố lửa hiện ra ngăn đường không đi được, tức là ngài làm nhiều trò đó, khi tụi nó rút về thì con đường trở lại bằng phẳng, toàn là thần thông của ngài Mục Kiền Liên không. Và nó biết được cái đó, nhưng mà nó vẫn không sợ, không kính phục, mà không quy hướng mà lại tiếp tục âm mưu để tìm cách diệt ngài. Thì nhiều lần tìm cách tấn công ngài, nhưng mà ngài đều tránh vì ngài nói chưa phải lúc. Giờ đến một lần đó ngài thấy đã tới lúc rồi, ngài Xá Lợi Phất đã tịch rồi, và ngài do có một lời thề ở một kiếp xa xưa là:

[1:18:44]Ta không đồng sinh nhưng sẽ đồng, đồng tử, vì mắc cái lời thề với ngài Xá Lợi Phất nên hôm nay cái nhân quả nó vẫn còn, vẫn còn tồn tại. Và ngài thấy thôi tới lúc ngài phải ra đi, cho thực hiện đúng cái lời thề của đâu cả mấy trăm mấy ngàn kiếp trước á với ngài Xá Lợi Phất. Và khi mà ngoại đạo tấn công vào, ngài ngồi để yên, ôi chu cha nó đánh tàn bạo! Cầm cây cầm dao nó chém bầm ngài ra, thành được diễn tả là thành một đống thịt mềm nhũn, một đống đống thịt bầm ra, không còn nhìn nhận hình hài ra được. Rồi tụi nó hả hê nghĩ rằng là đã xong rồi, bỏ đi, thì ngài dùng thần thông ngài thu thân ngài lại

[1:19:27]thành nguyên vẹn hình hài, nhưng mà cái dấu vết máu me vẫn còn. Và ngài biến mất tại chỗ đó, ngài hiện ra trước Đức Phật, quỳ xuống đảnh lễ Phật, rồi mới nhập Niết Bàn luôn. Lúc đó khi mà đảnh lễ Đức Phật rồi, thì thân của ngài mới rơi xuống tan tan tan xuống trở lại thành một đống thịt bầy nhầy như lúc ban đầu mới bị đánh lại. Và Đức Phật mới làm những buổi lễ trà tỳ rất là cảm động, và ngài ca ngợi hai ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên như là hai đại đệ tử, hai bậc thượng thủ trong Tăng đoàn, những vị lãnh đạo Tăng đoàn xuất sắc trong gần 45 năm qua, vân vân, nói những điều rất là cảm động. Vì Đức Phật ngài đắc đạo nên ngài không khóc, chứ những lời đó ai nghe là phải rơi

[1:20:14]nước mắt, khi mà một vị thầy mà ca ngợi, thương cảm đệ tử của mình như vậy.

[1:20:21]Nhưng mà sau đó rồi thì có các vị tỳ kheo mới thắc mắc, hỏi một cái công đức như ngài Mục Kiền Liên, công đức vĩ đại như vậy, được Phật khen như vậy, chứng A La Hán như vậy, mà sao chết thảm quá? Thì Đức Phật mới nói: Thật ra là ngài Mục Kiền Liên có bị những cái nghiệp trong quá khứ rất tàn khốc. Có một cái kiếp ngài Mục Kiền Liên lại là Ma vương, à chống một Đức Phật, một Đức Phật trong quá khứ, và đã bị đọa địa ngục nhiều năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, nhiều triệu năm. Đến khi thoát địa ngục ra, trở lên lại từ từ làm người, phải tu tập lại dần dần dần dần, trong lúc đó có một kiếp làm

[1:21:01]người, đó, là vì nghe lời vợ đem cha mẹ mình bỏ vào rừng.

[1:21:10]Cho nên Đức Phật nói là ngài Mục Kiền Liên thực sự thì ngài công đức rất lớn, nhưng mà những cái kiếp quá khứ xưa xưa xưa xưa những nghiệp ngài làm nặng quá. Ngài cũng đã trả rất thê thảm, nhưng mà đến cái kiếp cuối cùng để có thể nhập Niết Bàn vẫn phải trả nợ một lần cuối cho sạch. Và cái nợ lần cuối mà ngài trả thảm khốc quá, bị đánh tan xương nát thịt, đó cái chữ tan xương nát thịt. Mà trong cái cái nghiệp đó thì Đức Phật có cảnh báo là: Ức hiếp kẻ tay không, bức hại kẻ hiền lành. Như vậy, nên quả báo nhiều là sẽ phải chịu khổ đau trong mười loại khổ đau: Chịu đớn đau khốc liệt, thân thể bị thương vong,

[1:21:54]bệnh nặng kịch liệt, tán tâm điên loạn (có cả tán tâm điên loạn), bị vua bắt bớ, bị vu trọng tội, thân quyến lìa tan, tài sản bị mất hết, nhà cửa bị đốt cháy, thân mình bị thiêu rụi, thân hoại mạng chung rơi luôn vào địa ngục. Là trong cuộc đời này vậy, ta ỷ mạnh hiếp yếu thì sao? Thì cái cái quả báo thảm khốc, nhưng mà tùy cái mức độ mà ta ỷ mạnh hiếp yếu như thế nào. Hôm nay sẵn cái gọi là ỷ mạnh hiếp yếu thầy cũng nói qua về chính trị một chút. Trong cái cuộc đời này thì có những người có phước và có những người ít phước, đúng không ạ? Đó là nhân quả thôi, không ai phước sinh ra giống ai. Thì cái người mà sinh ra có phước á thì họ sẽ có ưu thế,

[1:22:41]họ có tiền bạc, họ có quyền lực, có thân quyến, có thuộc hạ đông, đúng không ạ? Còn người ít phước thì họ kém ưu thế, họ ít tiền, ít tài sản, không quyền lực, không tiền bạc, không có thuộc hạ, không thân quyến đông, như vậy. Và nếu để tự do cho cuộc đời theo cái kiểu đó, nghĩa là ai có phước thì cứ có ưu thế, ai kém phước thì cứ kém ưu thế, thì ta xuất hiện một cái khuynh hướng tự nhiên của con người giống hệt các con vật, đó là mạnh được, yếu thua, đó là khuynh hướng rất tự nhiên của loài người. Đó là người mà có ưu thế từ từ tự nhiên họ lấn hiếp cái người kém ưu thế, đó là điều tự nhiên của con người và

[1:23:30]cũng là của súc sinh, của con vật ở trong rừng. Nếu mà thả tự nhiên trong cuộc đời này đừng có luật pháp, đừng có nhà nước, đừng có chính quyền, thì tự nhiên cái người mạnh sẽ ăn hiếp người người yếu, bắt người yếu về làm nô lệ, làm công cụ, đó là điều tự nhiên. Và chính vì cái khuynh hướng man rợ tự nhiên của con người đó mà phải có nhà nước xuất hiện. Nhà nước xuất hiện chi? Để bảo hộ cho cái người kém ưu thế, để họ đừng bị cái người mà nhiều ưu thế bắt nạt, ức hiếp. Đó, cái nhiệm vụ chính của chính quyền, của nhà nước từ xưa tới bây giờ là như vậy. Mà hồi xưa cái cách tổ chức của chính quyền là vua,

[1:24:17]thì gom hết quyền lực ưu thế cho một ông vua duy duy nhất, rồi ông vua đó ổng mới ngăn: Đây là nhà giàu, đây là những ông quan, mà tụi bay phải lo cho dân lành, không có được ăn hiếp dân. Đó, phải lo cho dân thì tao cho làm quan, còn tụi bay ăn hiếp dân là tao phạt, tao xử này kia nọ, vân vân. Thì như vậy cái vai trò đầu tiên của một nhà nước là ngăn không cho cái kẻ mạnh mà ăn hiếp người người yếu, đó là vai trò đầu tiên như vậy. Nhưng, cũng nhưng nữa, nhưng mà người có phước họ cũng tiếp tục sao? Có ưu thế giữa cuộc đời. Và người ít phước làm sao? Vẫn tiếp tục làm sao? Cũng sống cam khổ, không có ưu thế giữa cuộc đời.

[1:24:59]Và thoát ngoài sự kiểm soát của chính quyền thì người mạnh vẫn lén lén vẫn tiếp tục làm sao? Ăn hiếp người người yếu, cuộc đời cứ tiếp tục như vậy mãi. Và do đó nó xuất hiện hai cái khuynh hướng: Một khuynh hướng là để cạnh tranh tự do, ai giỏi thì cứ mà ngoi lên, còn ai dở thì cứ ráng mà bị đạp xuống, bị loại ra khỏi cuộc đời, homeless, không nhà cửa, vì mày dở, mày thất nghiệp, nợ ngân hàng mày không trả được thì đuổi mày ra khỏi nhà, ra làm homeless ráng chịu. Thì cái xã hội như vậy nó có một cái lợi là nó kích thích con người ta phấn đấu. Nó có cái lợi kích thích người ta phải ráng làm việc,

[1:25:46]nếu không ráng mày ra đường làm homeless, vô gia cư không nhà ở à. Nó có cái lợi, nhưng mà nó làm sao? Nó tàn nhẫn quá, phải không ạ? Tàn nhẫn. Do đó nó có một khuynh hướng ngược lại là bảo vệ chặt chẽ, bảo vệ nhiều hơn đối với những người kém ưu kém ưu thế. Nghĩa là đó là người nghèo, đó là người ít học, đó là người công nhân thì phải bảo vệ nhiều vô, bảo vệ nhiều vô để cho họ đừng bị người kia ăn hiếp. Thì nó là một khuynh hướng thứ hai. Như vậy ta có hai khuynh hướng của thế giới: Một là khuynh hướng cứ thả cho nó một phần mạnh được yếu thua, nhưng mà đừng có dã man quá thì rơi vào hình sự,

[1:26:26]nhưng mà trong một phần nào đó mày ăn hiếp được cái người khác cứ ăn hiếp nếu mày giỏi, và để chi? Kích thích sự sự sản xuất, kích thích sự cạnh tranh, kích thích sự phấn đấu. Một cái khuynh hướng khác là ai yếu ớt thì mình đùm bọc, bảo vệ họ, thì nghe rất là nhân bản, nhưng mà cũng ngược lại cũng ít kích thích sản xuất, nó tạo ra hai cái khuynh hướng trong cái loài người này. Và ta cũng sẽ thấy trước là cái bên nào giàu hơn? Bên nào giàu hơn? Bên nào mà kích thích được cái sự phấn đấu sản xuất con người thì bên đó giàu hơn, nhưng mà làm sao? Tàn nhẫn hơn, đúng không ạ? Còn cái bên mà bảo bọc cái người nghèo thì bên đó làm sao?

[1:27:15]Sẽ nghèo hơn, nhưng mà xã hội nó làm sao? Nó ấm cúng hơn, nó đẹp hơn, nó nhân bản hơn. Thì như vậy ta thích xã hội nào? Vậy ta thích sống trong xã hội nào? Nếu ai ham giàu thì chấp nhận một cái xã hội tàn nhẫn, phải không ạ? Con người cứ phấn đấu và giành nhau, chà đạp nhau. Còn nếu ai không cần giàu, thích sống trong một xã hội tình nghĩa, ấm cúng thì chọn cái xã hội mà người ta đùm bọc người nghèo. Nếu mình là người có phước, mình cũng sẽ tham gia đùm bọc người nghèo. Nếu mình là người nghèo, mình sẽ được người khác đùm bọc, được chính sách đùm bọc. Thì ta chọn xã hội nào? Bỏ phiếu đi! Bỏ phiếu đi!

[1:27:58]Thầy chọn xã hội nghèo, thầy khoái sống đùm bọc nhau hơn.

[1:28:08]Nhưng mà nhà nước mình chọn xã hội nào? Nhà nước mình chọn cả hai. Nhà nước mình ổng khôn thấu trời mây xanh. Ổng mới nói gì? Kinh tế thị trường nhưng mà định hướng chủ nghĩa xã hội. Tức là vẫn để do tự do để con người ta cạnh tranh, kích thích sự phấn đấu, sự học hỏi, sự sản xuất, nhưng mà vẫn trong đó vẫn sao? Vẫn âm thầm đùm bọc cái người nghèo khổ, không để họ rơi vào cảnh khổ, không để họ bị bị ăn hiếp quá đáng. Nhà nước mình dung hòa cả hai. Thì thầy nghĩ rằng có lẽ đây là một điều tuyệt vời nhất của hành tinh này. Còn như thầy, thầy chỉ biết chọn một bên. Thầy chỉ chọn cái xã hội nghèo mà đầm ấm.

[1:28:50]Rồi còn bên kia thì ai giàu thì tàn nhẫn. Nhưng mà nhà nước mình ổng chơi khôn, ổng chọn cả hai. Và cái mà dung hòa được cả hai là một điều cực kỳ khó, cực kỳ khéo léo, không phải dễ đâu. Phải người những người lãnh đạo hết sức là sáng suốt mới mới đi được con đường dung hòa này, không phải dễ. Nên thôi, hôm nay ta khép lại cái bộ kinh Pháp Cú mà ta đã giảng suốt 10 năm nay rồi. Những người nào mà theo được bộ kinh này 10 năm cũng là con cưng của Phật. Ta khép lại bộ kinh này, cũng cũng nói về chuyện ngài Mục Kiền Liên, ta cũng nói về một chút quan điểm chính trị. Và ta cũng sao? Cũng ước vọng rằng xã hội này nhiều thêm những bậc thánh,

[1:29:31]nhiều thêm những người tu chứng, nhiều thêm những người thánh thiện, đạo đức. Để dù có thể ta phải sống trong xã hội đua tranh, hoặc ta sống trong một xã hội biết đùm bọc nhau thì ai cũng phải có bổn phận mà thương nhau, nha. Ai cũng phải có bổn phận thương nhau. Vừa rồi vậy, đúng ngày 01 tháng 01 Tết dương lịch, thì vô tình thầy lại giảng ở Hà Nội trong một ngôi chùa, thầy giảng cái đề tài là: "Một thế giới khoan dung". Trong đó cái nghĩa nó thế này: trong cuộc đời này ta có nhiều điểm khác nhau lắm, khác nhau về chủng tộc, về tôn giáo, về đẳng cấp, về tài sản, về học vấn, đủ thứ hết, nhưng dù có khác nhau, xin đừng ghét nhau.

[1:30:15]Đó là một thế giới khoan dung. Nên ta mang cái thông điệp này, ta gửi cho thế giới năm 2015 này. Nếu ai có thư, hãy gửi thư; ai có mail, gửi mail; ai có thiệp, làm thiệp, hãy ghi giùm thầy cái câu châm ngôn này, mà ta phải phấn đấu, loài người phải phấn đấu cho những thế kỷ sau, cho những thiên niên kỷ sau là dù ta còn có sự khác biệt với nhau, xin vẫn đừng ghét, đừng ghét nhau. Đó là một thế giới khoan dung. Even being differences, but no hate. Không ghét nhau, nha. Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe.

[1:31:02]Thôi thầy trả lời vài câu hỏi chút.

[1:31:07]"Tại sao con bị bóng đè?" Tức là bóng đè, tức là có cái người âm nào đó, họ đến họ giỡn với mình, họ phá mình, hoặc thậm chí họ dê mình.

[1:31:20]Vì cái người âm họ cũng dê như thường, vì sao? Vì họ chưa chứng đạo và họ còn phàm phu lắm. Nên cái vong mà nam á, thấy người nữ thường hay lên đè, mà vong nữ mà dê thấy vong nam cũng đè. Đó là dê. Trường hợp phá, đè bỏ ghét, đè mày để cho mày vùng vẫy chơi, làm nhát, rồi phá cũng có đè, hai trường hợp như vậy. Nhưng mà nguyên nhân cũng là do ta không đủ uy đức, ta không đủ uy lực, cho nên ta không được bảo hộ, khiến bóng đè. Nếu ta tu đến lúc nào đó, cái tâm từ bi ta lan tỏa thành một cái uy lực bảo vệ thì ban đêm ngủ không bị bóng đè. Nhớ phải lễ Phật nhiều, quán từ bi nhiều, làm nhiều điều phước thiện.

[1:32:08]"Thai nhi có nguy cơ bị bệnh đao" thì ráng mà sám hối nha, quỳ lạy Phật để cho đừng bị đao nữa. Vì có một lần cũng có một cái người vậy, có người mẹ có bầu, khi mà siêu âm thì nói đứa trẻ bị khuyết tật. Hỏi thầy có bỏ không? Thầy nói: "Không". Thầy nói: "Sám hối". Tới chừng đẻ ra đứa trẻ rất là lành lặn, tự nhiên nó được chữa từ trong bào thai luôn. Nên ở đây cũng vậy, nha.

[1:32:38]Cái nhà mình á, nếu mà thờ Phật thì thờ chính giữa, còn nếu có người nhà trong muốn giữ ông Địa, ông Quan Công, mẹ Sanh, mẹ Độ gì đó thì nên lập điều khác, để đừng bị lẫn giữa tà đạo với chánh kiến mà nhà không yên. Nhớ mình thờ Phật phải nghiêm trang, phải chánh đạo. Còn thờ lẫn lộn thì gia đạo bất an. Sau này tự nhiên thấy gia đình thấy xảy ra chuyện rắc rối, ừ không bình yên. "Con muốn làm nhà hàng, nhưng làm những loại cá, thịt làm sẵn, không trực tiếp sát sanh. Nếu con làm được công việc này thì con tạo việc làm cho rất nhiều người và trích bớt phần tiền để cúng chùa làm từ thiện thì có tạo nghiệp không?"

[1:33:15]Thực sự á, có nhiều người muốn mở nhà hàng chay, thầy nói nhà hàng chay ế liền. Tại vì khuynh hướng con người vẫn còn thích ăn mặn. Nhưng mà nếu mình đã có tâm đạo thì mình làm những quán cơm bình dân, nhưng mà cái khung cảnh quán mình hết sức là sang trọng sạch sẽ, để cái người họ vào ăn đó, họ có phẩm giá. Chứ đừng nói quán cơm bình dân rồi nhìn vô nó dơ bẩn, nó nó nó lèo nhèo. Hổng được, mình phải tạo khung cảnh để cho ai bước vào cái khung cảnh của mình, người đó tăng lên được phẩm giá. Cho nên dù nghèo hay là dù ít vốn vẫn ráng đầu tư cái khung cảnh, cái quán ăn của mình cho thật sang trọng cho thầy.

[1:33:51]Đó cũng làm cho mình có phước, với ý nghĩa rằng: ai bước vào đây, người đó có phẩm giá. Còn mình làm cái nhà hàng mà ghế bàn chỏng chơ, tường đồ nó dơ bẩn thì cái người họ vào ngồi ăn, họ bị sao? Hạ thấp phẩm giá. Nhớ, đó là cái đầu tiên. Rồi cái thứ hai là nếu phải nấu ăn mặn, thì cái tỉ lệ mà dùng thức ăn động vật ít cho thầy. Ví dụ như rau, đậu hũ nhiều hơn, còn cái tỉ lệ thịt cá ít. Và giá ta cũng theo đó mà mà giảm cho bình dân. Vừa đủ lấy đồng lời, tạo công ăn việc làm như ý mình muốn vậy rất là tốt, nhưng đừng cho ăn thức ăn động vật nhiều. Mà thức ăn mình không trực tiếp sát hại, thôi cũng được, ý là như vậy.

[1:34:33]Còn cái tội mà do ăn mặn thì người ăn lãnh chín phần, mình có một phần à, đừng lo. Người ăn á mới lãnh nhiều, nha.

[1:34:44]Thì những cái điều mình làm phước như vậy là ba mình được hưởng hết, nha. Mua gạo giúp người nghèo, mua cá phóng sanh, cúng trai tăng ở trong chùa thì khi mình hồi hướng là cha của mình được hưởng hết. Hồi trước có lỡ đứng trước bàn thờ mà rủ: "Vong nào muốn tu thì theo tôi mà tu", rồi giờ vong theo đầy người hết trơn. Thì bây giờ nói lại, nói là: "Tôi không đủ sức nha, xin đừng theo nữa, mà về chùa mà tu". Nói đi nói lại rất nhiều lần vong nó mới nhả ra, và nhờ quý thầy nào nói giùm, nha, chứ còn không là loạn tâm á. Lúc mới quy y thì nằm mơ thấy giấc mơ có ma, có rắn, có nước, tức là ái dục và nghiệp chướng nhiều.

[1:35:21]Thời gian sau, mơ có người mang đến tặng bông hoa sen, như vậy là mình tu được, tu có tiến bộ đó, có biết sám hối, biết tu tập, rồi nó chuyển nghiệp, vân vân. Cái tâm linh của cây cỏ nó không đủ để thành một chúng sinh, cho nên không có chuyện mà cây cỏ sinh lên cõi Trời hay xuống địa ngục, nha. Có tâm linh nhưng mà tâm linh nó không đủ để có một bản ngã để thành chúng sinh, nhớ giùm thầy. Ngay cả những vi khuẩn cũng vậy, vi khuẩn cũng không được gọi là một đơn vị chúng sinh. Nó cũng là một dạng sự sống, bán động vật và thực vật, nhưng chưa đủ bản ngã để trở thành một chúng sinh, nên ai cứ tưởng mỗi con vi khuẩn là một chúng sinh là sai.

[1:35:58]Cây cỏ rồi có tâm linh nhưng không đủ để là một chúng sinh. Nó chỉ là biểu trưng của sự sống, giá trị của sự sống, tài sản của sự sống và là sự đóng góp của sự sống đối với hành tinh, nên ta yêu quý cây cỏ là ta yêu quý sự sống của hành tinh, chứ không phải cây là chúng sinh, nhớ như vậy nha. Đúng rồi. Cái an vị Phật mà gần cái trại sát sanh quá nó không thanh tịnh nên chư Thiên họ quở. Gần cái trại heo thì chắc chắn nó có mùi hôi và cái đó cái sát khí nó nhiều quá, cho nên chư Thiên không có thích, không thích ta thờ Phật ở gần đó quá. Nên khi ta tụng kinh lúc làm lễ an vị ta bị choáng váng, nghẹn họng là vậy đó.

[1:36:37]Chư Thiên họ ngăn lại, họ không muốn cho ta thờ chỗ đó, khuyên họ dời bàn thờ đi đi.

[1:36:43]Giấc mơ mà con súc thủ con đánh làm người ta chết á, tức là báo rằng trong cái người mình vẫn còn nghiệp sát, nhưng mà mình có biết tu nên có biết hối hận, thì thôi ráng mình tu cho đến khi mà tâm từ mình khởi và cái nghiệp sát từ nhiều kiếp nó hết thì mới mới mới được. À, người chị bị vong nhập ha. Đúng là cái này là vong nhập chiếm hết rồi, nên ăn nói bậy bạ, nói nhiều nhân cách và nhiều vong nhập chứ không phải là một vong nhập. Ăn thì rất là nhiều, chửi bới tùm lum, mà không biết ai là ai trong gia đình hết. Mà có khi người chị này đã chết rồi đó, chứ không còn tồn tại. Bây giờ cái xác đó là của những vong khác thay phiên

[1:37:19]nhau vào chiếm để ăn uống cho nó đã cái miệng. Chứ còn người chị có khi đã chết rồi. Thì thôi, ta cứ âm thầm ta tụng bài kinh cầu siêu cho các cái vong đó thôi, nha. Sám hối cho các vong cầu siêu và cầu siêu cho chị luôn, có khi người chị chết mất rồi. Cái việc mà cái vong nó chiếm một cái xác chết để nó trở thành cái người trong gia đình mình nhiều lắm đó nha. Nên ta thấy cái người gia đình mình bệnh bệnh một thời gian, bỗng nhiên tỉnh lại khỏe lại, ăn uống nhiều, nói những điều lạ lùng, mà thức đêm nhiều thì ta biết rằng người thân mình đã chết và vong khác đã chiếm cái xác đó rồi, nhớ như vậy.

[1:37:53]Từ nhỏ đã đau các khớp, trị nhiều nơi không hết, thì đúng là nghiệp đó, nha, nghiệp. Nghiệp thì nhiều cách lắm, nhiều cách nhiều lý do tại sao ta bị đau chân đau tay nhiều lắm, không nói được. Thôi ráng mà sám hối, phóng sinh, biết sao giờ. À cứ chạy trốn riết mà rơi xuống hồ nước mà thoát được, nếu mà hồ nước trong á tức là mình về được trong chánh pháp thì mới thoát được nghiệp cũ. Cứ nằm mơ mà cứ thấy bị người ta rượt chạy hoài. Mà nếu rớt xuống cái hồ mà nước trong vắt thì là ta về với đạo, ta tu thiền và thoát được nghiệp. Nha! Lưu ý như vậy. Còn mà thầy nói cái nụ cười mà nó che nghiệp là

[1:38:27]thế này, nó che cái cái tâm thật của người ta. Ví dụ cái người mà họ không cười đó thì họ hiện một cái bản chất gần với họ nhất. Khi họ dữ họ la lối thì nó hiện một cái tâm thức mà thuộc loại tiêu cực, nó hung dữ. Khi họ cười thì nó hiện cái tâm thức mà nó hiền lành. Nhưng nếu ta chỉ nhìn cái người cười ta sẽ bị lầm vì ta không lường được lúc mà họ dữ. Nên khi ta muốn tìm hiểu một con người, ta phải nhìn hết mọi nét mặt của họ mới đánh giá được họ nha. Còn nụ cười mà nó đẹp thì tức là tướng sang thôi con, nó là nghiệp khác. Nghiệp nặng cũng là đồng nghĩa với ít phước, nhưng mà đôi khi phước nhiều cũng có nghiệp nặng,

[1:39:08]tức là ta làm phước rất nhiều mà trước kia ta cũng gây tội ác rất nhiều. Đôi khi hai cái nó song song như vậy nên chúng ta cũng khó luận lắm. Thường á cái nét mặt ta ít có đem theo qua cái kiếp sau, nhưng mà cái đạo đức nè hay đem theo, cái công phu tu tập cái tâm linh hay đem theo, nghiệp phước đem theo, còn cái trí tuệ thì lệ thuộc vào nhân quả chứ không đem theo. Nghĩa là đời trước ta thông minh có khi đời sau mình ngu nếu mình làm bậy, không đem theo được. Nên cái cái cái nghiệp đó là chính. Khi ngủ hay nằm mơ thấy điềm xui, bị bắt cóc, bị mất tiền là báo cho mình biết là nghiệp mình còn nhiều,

[1:39:46]oan trái còn nhiều, rồi ráng làm phước sám hối dữ lắm vậy thôi. Có một vụ tai nạn, người ta tự té rồi hôn mê 18 ngày sau khi tỉnh dậy thì xuất hiện những hiện tượng lạ. Cứ khoảng 12:00 đêm hoặc 12:00 trưa thì mặt biến sắc đỏ lên, mắt lườm và đánh người, tới lúc ngủ mà tỉnh dậy là đòi đi lang thang, vẫn biết ba mẹ là ai, hành động thì giống đứa con nít, cứ một lát lại đòi đi vệ sinh. Bác sĩ nói não có thể hồi phục. Ông bác sĩ này nói trật rồi. Tại vị trí người này té xe thì cách đó một tuần cũng có hai vợ chồng cũng tự té và chết. Đem tới gặp sư phụ, sư phụ đâu biết chữa bệnh này đâu con? Cái này là chết rồi, bị vong khác nhập rồi nha, chứ không phải là bị hư não.

[1:40:27]Cái này không phải bị hư não mà trong lúc hôn mê 18 ngày đã chết và cái vong khác đã chiếm xác rồi, nói họ vậy. Con không biết con bị nghiệp gì mà con đi đám tang thì con bị lạnh hết người, tức là cái điện âm họ khống chế mình, người mình hơi bị yếu. Rồi khi nghe người chết cũng lạnh người thì đó là bị phản xạ thần kinh có điều kiện. Con gặp nhiều người và khuyên họ ăn chay niệm Phật nhưng người ta nói miễn họ sống tốt không phạm pháp là được. Vậy con khuyên nhủ thế nào để người ta tỉnh ngộ? Thực ra cái chữ ăn chay niệm Phật á là phải thuộc những người mà họ có cái niềm tin hơi sâu rồi mới thực hành ăn chay niệm Phật được.

[1:41:04]Cho nên cái người mà họ chưa có niềm tin, chưa hiểu đạo lý mà đi vô liền cái cái cái chỗ ăn chay niệm Phật người ta không theo nổi đâu. Cho nên đầu tiên cứ ngồi mình kể chuyện nhân quả bâng quơ thôi. Nha! Thấy hồi đó thấy có ông đó ổng què chân cái ổng đi ổng đắp đường cái chân ổng mọc ra lại ổng đi, cứ kể vậy thôi, hết chuyện này tới chuyện kia, tới khi nào họ tin nhân quả rồi mình mới từ từ nhích lên nhích lên nhích lên cho tới kêu người ta ăn chay. Chứ còn mới vô mà ăn chay niệm Phật là hơi cao cấp rồi đó. Mình nói vậy hèn chi người ta ghét là phải.

[1:41:37]Làm cách nào để đủ duyên đủ nợ để đi xuất gia? Thầy có nói này đâu rồi, tức là phải kính trọng người xuất gia, phải sống như người xuất gia, lễ kính Phật rất nhiều, phải tu tập như người xuất gia nha, một thời gian chín muồi rồi mới được xuất gia. Nhất kính trọng người xuất gia mà người xuất gia chân chính á, mấy người tào lao đừng kính. Thứ hai là phải tu như người xuất gia, vậy thôi.

[1:42:04]Nói người nào làm người nấy chịu theo nhân quả, tại sao có câu: "Đời cha ăn mặn, đời con khát nước."? Cái câu này không phải trong đạo Phật nhưng mà nó đúng. Câu này không có trong kinh điển nhưng mà nó đúng. Nó đúng ở chỗ thế này, ví dụ như cái cái người cha đó mà tốt á thì khiến một cái người tốt đầu thai vào làm con mình. Cho nên cái vinh quang của dòng họ nó được nối tiếp, vậy thôi. Còn người cha làm ác á thì khiến cái người mà nó nặng nghiệp tội lỗi đầu thai vô, bắt đầu vô nó quậy phá gia đình tùm lum hết, khiến cho người cha đó sau này cái dòng họ đó nó nó lụi tàn, nó cũng là nhân quả, vậy thôi.

[1:42:42]À bị run tức là bị bệnh Parkinson á, một cái rung động ở não nó cứ phát ra vào cái tay, người liên tục nó cứ làm rung mà cái nó không kiềm chế lại được. Bởi vì sao? Bởi vì cái phần não mà kiềm chế cái tín hiệu đó, phần não đó hư. Còn cái phần não mà rung động thì phần não nó không hư. Nên ở đây trong não ta nó tồn tại hai phần, một phần là cứ truyền tín hiệu vào cơ thể để nó hoạt động và một phần nó kiềm chế lại. Và do một số nguyên nhân một số nguyên nhân khiến cái phần não mà để kềm chế cái tín hiệu á nó bị hư, thế là cái phần còn lại nó cứ phát tín hiệu tự do vào cơ thể, nhất là vào tay, nó cứ rung hoài, không kềm.

[1:43:24]Đến hôm nay, khoa học chưa chữa được bệnh này. Mà nếu cái người nào mà hơi bị chớm bệnh và chưa mắc bệnh thì ngồi thiền, tập khí công, để tâm ở đan điền sẽ hết bệnh này nếu mà còn sớm. Tuy để tâm ở đan điền hít thở nhưng cái vùng não mà nó nó khống chế cái tín hiệu á, bỗng nhiên nó hoạt động trở lại, nó mạnh trở lại. Ờ là khí công và thiền thì chữa được bệnh này. Bệnh Alzheimer mất trí nhớ, xin thầy dạy về bệnh Alzheimer. Thầy đâu phải bác sĩ đâu mà dạy bệnh này? Nhưng mà cái bệnh lãng, bệnh mất trí nhớ thì cái nguyên nhân nó thế này, là có những lúc trong đời ta đã sống sai đạo lý. Nên cái người nào mà tới già họ vẫn còn sáng suốt

[1:44:11]coi vậy chớ có một lúc nào đó trong đời họ cương quyết giữ gìn lẽ phải. Nghĩa là dù mua bao nhiêu, dù bị dụ bao nhiêu, xúi giục bao nhiêu, họ cương quyết không làm theo điều sai trái, vẫn giữ lẽ phải thì tự nhiên về già họ vẫn nhớ. Nhớ nhiều nhớ dai. Còn nếu về già mình quên dần, quên dần mất hết có nghĩa là trong cuộc đời này đã có những lúc mình thỏa hiệp với điều sai trái. Nhớ như vậy. Thỉnh thoảng nằm mơ thấy Phật, Quan Âm Bồ Tát đó là điều điềm là mình tu dãi đãi. Mình có duyên với Phật mà mình dãi đãi nên Phật hiện ra nhắc, còn mình tu đúng rồi là hết thấy những điều này. Mà chỉ thấy cuộc sống, thấy đạo lý để tu thôi.

[1:44:53]Tập thiền, khí công mà căng não, nặng đầu là tập sai rồi nha, về hỏi lại quý thầy, quý cô nha, đến gặp mấy thầy, mấy cô, đừng để lâu điên à. Lạy Phật đừng không cần đếm lắm đâu, cứ hết giờ rồi thôi. Tùy sức khỏe và thì giờ, thời gian của mình. Nha, còn nguyện trước hay lạy trước đều được cả, không sao hết.

[1:45:16]Sư phụ ơi gia đình con rất hay hơn thua và kiêu ngạo. Do vậy con rất ít về thăm gia đình kể cả ngày tết. Như vậy con có mang tội bất hiếu không? Nhiều khi đi chùa con chở người này người kia nhưng không chở mẹ con vì mẹ con có đi chùa cúng dường vân vân, nhưng lúc nào cũng nghĩ mình là kẻ cả, không khiêm tốn và tôn trọng mọi người. Cái người mà kiêu mạn, hơn thua như vậy đó là họ bị cái nghiệp khiến cho chúng sinh xa lánh. Và con cũng vậy, là con bị cái nghiệp mẹ con đẩy ra, không cưỡng lại được, cái này do nghiệp mẹ con chứ không phải do con. Cái bệnh ung thư thì phải sám hối con à. Sám hối nè, phóng sanh, uống thuốc thảo dược thôi.

[1:45:52]Chứ nói thuốc là khó, rất là khó có thuốc chữa ung thư. Vậy mà nhiều khi hết lạ lùng.

[1:46:00]À con phát hiện mình bị lệch lạc về giới tính? Lệch lạc về giới tính thì có một cách để chữa là con phải nguyện là là không có ái dục nữa, diệt ái, diệt dục luôn. Quyết lòng không thương ai nữa dù cùng giới hay khác giới thì sau này bệnh này mới hết. Chứ còn con nói: "Thôi đừng cho con thương bên giới này, cho con thương trở lại qua giới kia." lại không bao giờ hết bệnh khi đã bị lệch giới tính rồi. Nha, người đã bị lệch giới tính rồi, chỉ còn một con đường để đi là không thương ai nữa. Nha, vậy thôi. Dứt khoát không thương giới nào nữa hết. Có một lần con say rượu nhậu trong chùa rồi cãi lộn với ông Từ, con có nói một câu:

[1:46:36]"Tôi sẽ đốt chùa không cho ông giữ nữa." Thưa thầy cho con một lời khuyên, con có bị sao không? Có, sao không có con? Đời con tiêu rồi chứ làm sao con? Đời tiêu rồi. Nhậu là sai, nhậu trong chùa sai, nhậu xong gây lộn sai, rồi hăm đốt chùa sai, hăm đuổi ông Từ đi luôn, con nhiều cái sai. Cho nên sau này con sẽ giống như ngài Mục Kiền Liên á, có ai đánh con bầm thịt con ra, nhừ tử. Ha ha. Chết xong xuống địa ngục, nha, lên khỏi địa ngục làm cái con gì bị người ta cắt ra làm trăm mảnh nha. Sợ chưa? Ờ nếu sợ rồi, bây giờ sám hối lẹ đi. Nguyện lòng xây chùa nha. Nói là: "Hễ chùa đâu cháy là con có mặt con chữa." Nghĩa là

[1:47:22]ai giữ chùa là con sẽ yêu thương, con hỗ trợ. Và nếu có tiền dư ở đâu thì cúng chùa để xây chùa. Lập lời nguyện ngược lại để con không bị mà người ta bầm chết mà mà mà mà rớt xuống địa ngục nha con. Thấy không? Thôi ta hẹn gặp lại nha.

[1:47:39]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả

[1:47:53]đệ tử và chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.