Transcript: Đạo Phật Thiên Niên Kỷ Mới

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:28:07

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay là nhân cái ngày cuối năm, cuối năm 1999, chuẩn bị bước sang năm 2000, thì viện chùa chúng ta lại cũng quây quần với nhau buổi tối để tiễn cái năm cũ và đón năm mới, nên mình có cái tiệc vui một chút. Và nhân cái tiệc vui này, thầy cũng muốn gởi gắm cái tâm tình với mọi người qua cái bài là Đạo Phật trong thiên niên kỷ mới.

[0:46]Chúng ta nói thiên niên kỷ là nói 1000 năm, còn thế kỷ là 100 năm, thập niên là 10 năm, còn một năm là là một năm.

[0:59]Nếu mà cái mình nói theo thiên niên kỷ là tính theo dương lịch là từ năm năm thứ nhất cho tới năm 1000 ha, là thiên niên kỷ thứ nhất; 1001 cho tới năm 2000 là thiên niên kỷ thứ hai; rồi 2001 cho tới 3000 là thiên niên kỷ thứ ba. Như vậy, dù có sang năm 2000 thì mình vẫn còn là cái thiên niên kỷ thứ hai, chứ chưa phải là thiên niên kỷ thứ ba. Nhưng mà không hiểu sao có lẽ vì từ cái số một, mình bao nhiêu năm, tức là bao nhiêu cả ngàn năm mình cứ số một đầu á, 1900, 1800, 1700, chờ lâu quá bây giờ nó nhảy lên cái số hai cái người ta mừng húm, cái nghĩ rằng nó đã qua thiên niên kỷ khác, chứ thực chưa, năm 2000 vẫn còn là cái thiên niên kỷ thứ hai.

[1:51]Nhưng vì người ta mừng quá, người ta tưởng nó là thiên niên kỷ thứ ba, nên người tính nhau mà mà reo mừng, đón mừng cái thiên niên kỷ thứ ba. Thì thôi, cái tánh của người đạo Phật mình thì hay tùy thuận, hễ thấy thiên hạ vui thì mình cũng vui theo, cũng ăn theo mà vui. Do đó mình cũng nói hùa, ăn theo cái thiên niên kỷ mới. Thế còn nếu mà tính theo lịch đạo Phật mình thì mình đã ở trong cái thiên niên kỷ thứ ba lâu rồi. Tuy nhiên, vì ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo nơi các nước Tây phương khá mạnh, rồi các nước Tây phương nó họ bất ngờ họ lại vượt lên trên về cái văn minh vật chất và họ mạnh lên về kinh tế, về chính trị, xâm lược, chiếm thuộc địa trên toàn cầu.

[2:39]Cho nên cái ảnh hưởng của dương lịch do đó mà đi khắp thế giới, trở thành phổ biến, trở thành cái cái cách tính lịch chung của loài người trên thế giới. Và vì vậy, thì đạo Phật chúng ta cũng tùy thuận với mọi người mà theo cái lịch của của của thế giới như vậy. Thì trong cái đón chào thiên niên kỷ mới này, chúng ta thường là chúng ta hay nhìn lại quá khứ và vạch hướng đi cho tương lai, cái chủ yếu là vạch hướng đi cho tương lai. Nhưng mà muốn vạch hướng đi cho tương lai, mình phải nhìn lại quá khứ như thế nào. Thì mình không nói một thiên niên kỷ vừa rồi, mà mình chỉ nói một thế kỷ vừa rồi thì các nhà sử học đều đánh giá là một thế kỷ của chiến tranh.

[3:28]Hai cuộc Thế chiến đẫm máu đều nằm trong cái thế kỷ này. Và không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh giữa các quốc gia, giữa từng vùng trong quốc gia hay trong từng khu vực đều rất là đẫm máu và ác liệt. Những chiến tranh sắc tộc ở Phi châu, chiến tranh tôn giáo, những khủng bố bạo lực tràn lan khắp nơi. Đó là mình chưa nói tới nội chiến, những cuộc cách mạng trong nước, vân vân, cũng thấm đầy máu và nước mắt của con người. Nhưng khi mà nhân loại có vẻ tiến bộ, tư tưởng con người vượt lên, nhiều cách mạng, nhiều cái đổi mới lên thì người ta cũng phải đánh đổi cái mà người ta cho là mới hơn, cái là hoàn thiện hơn,

[4:11]người ta phải đánh đổi những điều đó bằng khá nhiều máu và nước mắt. Đây cũng là một nỗi buồn của nhân loại, cũng là một vết nhơ trong quá khứ, trong lịch sử nếu mình muốn nói là để vì cái nhơ đó mà đánh đổi một cái gì tươi sáng hơn.

[4:28]Rồi một thế kỷ qua như vậy, thì nhìn nhìn lại một năm qua cũng là một năm kinh hoàng trên thế giới. Là một năm của mấy cuộc chiến tranh và của những cái thiên tai khốc liệt. Riêng đất nước mình, nhồi đi nhồi lại hai ba lần bão với lũ là chết năm, sáu ngàn người, mình đã thấy tang tóc, thấy đau thương, vậy mà chưa, những ngày cuối năm này mình còn nghe ở Venezuela bên Mỹ một cơn lũ bùn cuốn, tuôn làm cho hơn 150 ngàn người mất nhà.

[5:05]Báo thì ghi là 50 ngàn người chết và mất tích, mà đài Đài Loan sáng thì nghe thì là 30 ngàn người chết. Nhưng mà con số đó quá khủng khiếp đối với một dân tộc, quá khủng khiếp. Nên chúng ta thấy trước khi cái cái thế kỷ này đóng lại thì thật là nhiều chuyện kinh hoàng xảy ra, như là những lời cảnh báo của thiên nhiên cho con người phải sống lại một cách sống khác, phải thay đổi cái suy nghĩ, cái quan niệm sống, cái sự cư xử, ứng xử với nhau và cư xử với thiên nhiên. Dường như đây là một lời cảnh báo nghiêm khắc của thiên nhiên cho con người, mà không biết con người đã nhận ra hay chưa. Rất là khốc liệt.

[5:47]Thì những cái thiên tai nào xảy ra cũng vậy, trừ cái động đất thì người ta chưa có quy kết được, nhưng riêng những cơn bão, lũ, lụt, hạn hán thì tìm nát cũng ra đều do phá rừng hết. Là con người đã cư xử với thiên nhiên không tốt, đã vô ơn, đã quay lưng lại với cái nôi đã sinh ra mình, nên con người phải đối diện với cái chết trở lại. Đó một lời cảnh báo nó quá gay gắt mà con người dường như chưa có tỉnh ngộ lắm. Đó là nói chuyện thế giới. Bây giờ thì chúng ta nói chuyện đạo Phật. Chúng ta nói chuyện đạo Phật trong thiên niên kỷ mới thì cũng vậy, chúng ta cũng nhìn lại một chút quá khứ. Chúng ta cũng có cái cái hãnh diện,

[6:32]cái tự hào là đạo Phật là một tôn giáo khá cổ xưa mà tồn tại theo qua nhiều biến động của của thời đại, của thế giới, và ngày hôm nay thì được xác nhận là một tôn giáo hết sức là tốt đẹp cho nhân loại, dù rằng cái sự phát triển của đạo Phật chưa phải gọi là mạnh lắm.

[6:58]Thì bây giờ chúng ta nhìn nhìn qua một chút thì chúng ta thấy rằng từ một Đức Phật ban đầu, từ một đạo Phật ban đầu duy nhất nhanh chóng chia ra các bộ phái. Mới sau Phật 100 năm thì đạo Phật đã nhanh chóng phân hóa thành 20 bộ phái liền, mà đại diện là hai bộ phái lớn là Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ. Chúng ta thấy mới 100 năm. Đó là cái cái tính chất chung của con người mãi mãi muôn đời về sau là cứ thích chia rẽ và thích phân hóa, một khuynh hướng không thể cưỡng lại nổi. Như một lần thầy giảng trong cái băng tôn giáo, thầy nói là chúng ta tu cách nào để từ một đạo Phật,

[7:50]từ một đạo Phật mà bị phân hóa nhiều tông phái, lần lần gom lại thành một đạo Phật duy nhất trở lại như vào thời Đức Phật. Dĩ nhiên đây là một ước mơ khó thể thành hiện thực. Nhưng khi mà thầy nêu cái ước mơ này ra là thầy kêu gọi, thầy đánh động vào tâm hồn con người, vào lương tâm con người để cho mọi người bớt chấp tông phái lại. Vì sao? Vì nếu mà cứ để yên theo cái bản năng, theo cảm tính, con người cứ thích chia rẽ mãi. Tức là một tông phái xé làm ba bốn, xong những cái tông phái nhỏ lại xé làm ba bốn lần nữa. Cứ đến một lúc nào đó mình không nhìn ra đạo Phật nữa. Vì cứ để cái sự tự nhiên theo cảm tính con người

[8:32]tiếp tục thích chia rẽ thành tông phái. Cho nên trong cái bài tôn giáo, thầy đã nói cái ước mơ nhưng mà sự thật là kêu gọi cái lương tâm của nhiều người. Biết đâu đó là nơi này, nơi kia cũng có nhiều quý thầy, quý cô đồng quan điểm với thầy là thấy rằng cái việc mà chia tông rẽ phái cần tới lúc chấm dứt. Con người ta phải biết nhường nhịn, biết nép mình, biết khiêm tốn để tiếp tục đứng chung trong một đạo Phật lớn mà không có chia tông rẽ phái ra nữa.

[9:07]Trong các tông phái đó thì nhiều lắm, vì thường là những vị thời đó cũng là những vị đắc đạo chứ không phải là không. Vì sau thời Đức Phật thì những vị đắc đạo còn nhiều lắm. Nhưng mà những vị đó cũng đã nhìn đạo Phật theo cái quan niệm của mình và thành lập một cái tông phái. Muốn thành lập một tông phái thường là có hai yếu tố:

[9:31]Thứ nhất là cái vị tông chủ phải là người có ảnh hưởng lớn trên quần chúng, có nhiều đệ tử, có nhiều Phật tử. Thứ hai là vị này có một đường lối khá độc đáo, khá mới mẻ, đặc sắc riêng biệt nào đó. Mà có hai yếu tố đó thì tự nhiên không thành lập tông phái đó cũng thành lập. Thầy nói ví dụ như bây giờ như chùa mình đi, thì chùa mình hiện nay thì không có gì đặc biệt, cũng không có ảnh hưởng lớn. Nhưng mà thầy nói ví dụ thôi, ví dụ bây giờ tự nhiên chùa mình có ảnh hưởng lớn, rồi ví dụ như chùa mình có một đường lối đặc biệt riêng, thì nếu mình không kềm nó sẽ xuất hiện thành tông phái liền. Và cứ tiếp tục những đời kế tiếp,

[10:17]những đời kế tiếp nó thành lập cái tông liền, cái tông của chùa Phật Quang. Đó, đó là điều mà nếu mình không kềm, mình không cảnh giác, không tỉnh giác, không giữ gìn, không khiêm tốn thì nó sẽ xuất hiện một cái tông của chùa Phật Quang liền nếu mà mình có ảnh hưởng lớn. Nhưng mà cũng may mắn là chúng ta cũng không có ảnh hưởng gì lớn, mình cũng chỉ là một cái chùa đơn giản, nhỏ bé trong giáo hội nên chuyện nó không xảy ra. Đó là thầy đặt ví dụ vậy. Cho nên khi mà thành lập được 20 bộ phái sau thời Đức Phật thì chúng ta phải hiểu là ít nhất là có 20 vị rất là nổi tiếng thời đó, có những đường lối giải thích về Phật pháp đặc sắc

[10:56]riêng biệt khác nhau mới thành lập cái tông phái. Nhưng có cái may mắn là Theravada là Phật giáo nguyên thủy ở Úc Lan, ở Miến Điện, ở Căm-pu-chia, ở Lào, vân vân lại ngày nay giữ được cái sự đồng nhất, tương đối đồng nhất ở nhiều nước. Là vì một số lý do thế này là quý vị đó rất bảo thủ nên là giữ gìn truyền thống rất kỹ, cái gì mà thuộc về truyền thống cổ xưa giữ kỹ. Nhờ vậy có những cái điểm giống nhau. Ví dụ như là cái y thì cố gắng giữ cái y họ cho rằng đúng vào thời Đức Phật. Thì mình cũng chẳng biết là có đúng thời Đức Phật hay không. Thầy nghĩ thì không đúng lắm đâu. Nhưng mà các vị cho là đúng thì nên thống nhất với nhau là cái y như vậy.

[11:48]Thì thật sự thời đó là khó thế nào Đức Phật chấp nhận mà cho đắp một cái y màu khá nổi bật, là cái màu vàng hơi cam cam, đỏ đỏ sặc sỡ trước mặt mọi người thì tin Đức Phật không chấp nhận. Có thể là Đức Phật chấp nhận một cái màu đỏ mà nó phải sẫm thành màu nâu, màu đà rồi giống như Bắc tông thì có lẽ dễ chấp nhận hơn vì màu đó nó không có nổi bật. Nó chìm lẫn vào trong quần chúng, nó đúng cái tính cách của đạo Phật là một cái gì đó không phô trương, che sương. Tuy nhiên là vì đời sau vua chúa, trọng vọng, họ thấy cái màu đà đó nó chìm quá mà tăng là Tăng bảo được tôn trọng nên họ muốn có một cái màu nó nó tươi hơn,

[12:31]nó nổi trước mắt mọi người hơn nên cái màu vải nó được pha, pha chế lại nên nó bây giờ nó thành vàng óng hay là màu cam cam đỏ đỏ như bây giờ. Chứ hồi xưa thì không nghĩ như vậy. Và bây giờ cái màu vải đó, cái y đó được thống nhất hết ở các quốc gia Phật giáo Nam tông. Đó là một điểm khiến họ tương đồng. Cái điểm khiến họ tương đồng thứ hai là kinh tụng giữ bằng tiếng Pali. Giữ thuần tiếng Pali không có dịch ra. Dĩ nhiên điều này làm cho quần chúng cư sĩ khó tiếp cận với giáo lý. Nên phải có nhiều vị giảng, hiểu được kinh Pali rồi giảng ra bằng cái tiếng phương ngữ. Tiếng người, sư nhà sư Lào khi học kinh bằng tiếng Pali nhưng

[13:15]khi giảng cho quần chúng phải giảng bằng tiếng Lào. Nhà sư Miến Điện học kinh bằng tiếng Pali nhưng khi giảng cho quần chúng thì giảng bằng tiếng Miến Điện. Đó, vân vân. Thì như vậy thì quần chúng mới mới tiếp cận được với giáo lý. Cho nên thường thì người quần chúng bình thường không đọc trực tiếp được kinh điển Pali. Vì phải là xuất gia, học chuyên sâu thì mới biết chứ còn người thường không biết. Đó, nhờ cái hệ thống kinh điển bằng tiếng Pali đó mà họ vẫn họ có được cái sự đồng nhất ở nơi này nơi kia. Đó. Rồi cái thứ ba nữa là phương pháp thiền quán thì tương đối họ tuân thủ khá nghiêm chỉnh theo những gì mà trong kinh Nikaya dạy.

[13:56]Tuy nhiên khi mà thầy nghiên cứu Nikaya thì thầy thấy rằng thật sự những vị Nam tông cũng không có thực hiện đúng lắm với những lời Phật dạy trong Nikaya, không đúng lắm. Cái cách dụng công á, cách thực hành thiền quán á cũng không đúng lắm đâu. Nên thấy đúng vậy chứ, đúng vậy hơi chút xíu à, nhưng mà trật một ly là đã đi một dặm. Nhưng dù sao thì quý vị cũng gần đúng. Thì sau này khi mà thầy giảng tới những cái bài Nikaya lần lần thì thầy sẽ thầy giảng kỹ lại lời Phật dạy như vậy và mình phải thực hành làm sao cho thật đúng. Mà đúng rồi thì hay hay lắm, hay không thể tưởng. Có nhiều người cứ coi thường Nikaya, ví dụ như có những đoạn mà Phật dạy

[14:38]về hơi thở, Phật nói rằng hơi thở vào dài vị ấy biết hơi thở vào dài.

[14:47]Hơi thở ra dài, vị ấy biết hơi thở ra dài. Hơi thở vào ngắn, vị ấy biết hơi thở vào ngắn. Hơi thở ra ngắn, vị ấy biết hơi thở ra ngắn. Những câu nghe lại đơn giản nhưng mà mình dụng công trật hết. Coi vậy nó không dễ. Đơn giản vậy không dễ. Mà người nào tu hành đúng sẽ thấy cực kỳ vi diệu, hay không thể tưởng được trong những cái câu đó. Hoặc là cảm giác toàn thân vị ấy thở vào, cảm giác toàn thân vị ấy thở ra. Tùy quán vô thường vị ấy thở vào, tùy quán vô thường vị ấy thở ra. Những cái câu nghe nó lạ lạ tai. Mà ít có vị, thực sự ít có người nào áp dụng cho đúng. Mà áp dụng đúng rồi thấy hay lắm, rất là dễ vào định.

[15:37]Rồi sau này khi mà thầy thầy giảng tới bài kinh Niệm Thân thì thầy sẽ giảng kỹ cái điều đó, hoặc là khi mà sắp tới chùa mình tổ chức cái khóa thiền đó, khóa thiền á thì thầy sẽ thầy hướng dẫn kỹ lại những điều này. Thì chúng ta sẽ thấy rằng lời Phật dạy thực là cả một cái trí tuệ trí tuệ tuyệt vời của Đức Phật. Mà chỉ vì mình không hiểu hết, hay mình thực hành không đúng. Hay vì lý do gì đó không hiểu, mình hơi lệch lệch nên mình không thấy được cái hay của nó. Chứ nếu mà mình làm đúng rồi đúng là kinh Nikaya là tuyệt vời.

[16:13]Mà các vị sư Nam tông thì sau này cũng biến đổi nhiều lắm. Biến đổi này do những vị tổ nè, những vị đại sư trong một giai đoạn nào đó có một cách thực hành là nó khiến vị thành công, rồi quý vị cứ phổ biến miết á, phổ biến miết. Thì thấy rằng mình cũng không sai với Nikaya nhưng coi vậy chứ cũng khác một chút, khác một chút, khác một chút. Còn Bắc tông Đại thừa thì phân hóa thoải mái. Bắc tông thì thôi, nghĩa là kinh quá nhiều, mỗi bản kinh là mình thành lập một tông được á. Mà mỗi tông đó buồn buồn nên là nếu mà vị nào có một cái lối thực hành đặc biệt, xé ra thành nhiều tông một lần nữa. Cứ như vậy mà làm tới.

[16:53]Như mình nói một kinh như kinh Hoa Nghiêm thì một vài vị thành lập cái Hoa Nghiêm tông thì dựa vào một bản kinh đó là mình thành lập được một tông rồi, Hoa Nghiêm tông. Nhưng mà khi đào sâu vào đó thì chúng ta sẽ thấy mỗi người hiểu kinh Hoa Nghiêm theo một cái khác nhau, vì kinh nó quá dày đi, quá dài. Có vị thì đi vào cái phẩm cuối là Phổ Hiền hạnh nguyện, thành lập cái tông của mình. Có người đi vào cái phẩm Nhập Pháp Giới nghĩa là nói về cái tiến trình mà Thiện Tài Đồng Tử đi học qua bao nhiêu vị Bồ tát, sẽ thành lập cái hiểu của mình về tông Hoa Nghiêm và sự tu hành về tông Hoa Nghiêm. Và cũng làm cho Hoa Nghiêm tông tách ra nữa, xé ra.

[17:33]Rồi Tịnh Độ tông cũng vậy. Ví dụ niệm Phật thì cùng quan điểm là niệm Phật cầu vãng sinh về cõi Tây phương Cực Lạc. Nhưng rồi cũng bắt đầu có những cái hiểu khác nhau. Có người là trì danh niệm Phật, nghĩa là cứ Nam mô A Di Đà Phật sáu chữ, nhiếp tâm vào định và đi về cõi Phật. Rồi có những người thì phải quán tưởng thân Đức Phật. Rồi có người kết hợp với thiền, hiểu Phật là phải phải giống như thiền. Hoặc là có những người mà đến cực đoan giống như ngài Thân Loan bên Nhật thì thôi, là cái người niệm Phật Di Đà, ổng biến thành Thượng đế luôn. Là nói sao? Nói là niệm Phật là hiệu quả tuyệt đối, dù có tạo tội cỡ nào niệm Phật sạch hết.

[18:17]Nghĩa là dù có làm bất cứ chuyện gì lầm lỗi, anh niệm Phật cũng đều được vãng sanh hết, bởi vì uy lực của Phật là tuyệt đối. Nghĩa là đến cực đoan y như Thần quyền. Và để chứng tỏ hình như là ổng lấy vợ luôn, ổng vừa lấy vợ vừa tu luôn, ổng nói ổng nói là ổng muốn chứng tỏ rằng cỡ nào cũng cũng vãng sanh được hết, miễn rằng mình quyết tin nơi câu niệm Phật. Thì niệm Phật như vậy là cực đoan đến độ khốc liệt luôn. Vừa rồi khi có một lần thầy về thăm bác Hai Như Sanh thì tối thầy đưa bác lại về căn nhà nhỏ của bác ở thì không biết lúc đó bác lại nói chuyện với thầy về vấn đề niệm Phật. Bác nói: "Có nhiều người niệm Phật mà cứ nghĩ rằng là

[18:57]cái câu niệm Phật, cái uy lực nó quá tuyệt đối, đến nỗi có thể niệm Phật giùm cho người khác thoát tội, vãng sanh." Bác nói hiểu đạo Phật đến cỡ đó thì quá đáng. Mà nếu mà có thể mình niệm Phật giùm, mình tu giùm cho người khác thì ông Phật ổng tu giùm mình luôn, mình khỏi niệm luôn. Vì với cái hạnh nguyện ổng đưa hết chúng sinh lên cõi Cực Lạc được không? Bác lý luận rất đúng, phải không? Nếu mà người khác niệm Phật giùm mình thì thôi ông Phật ổng từ bi ổng ổng dùng thần lực ổng hốt luôn đi, gom hết, khỏi ai niệm, khỏi ai tu hết, ổng quơ một cặp cái đem về cõi Cực Lạc. Cho nên cái hiểu mà Tịnh Độ mà hiểu mà mình đặt niềm tin nơi cái uy lực của

[19:30]Đức Phật đến tuyệt đối cỡ đó thì nó sai nhân quả và lại sai đạo Phật luôn. Đó, chúng ta thấy nội cái Tịnh Độ tông mà đã bắt đầu xé ra nhiều cách hiểu khác nhau. Thiền tông cũng vậy. Coi như truyền thuyết thì từ ban đầu từ tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang xuống tới Lục Tổ, nhưng xuống dưới rồi cũng chia thành năm tông bảy phái. Chia ra thành tông là Pháp Nhãn, Vân Môn, Quy Ngưỡng, Tào Động, Lâm Tế. Rồi Lâm Tế đi xuống lại chia thành hai nhánh Hoàng Long, Dương Kỳ một lần nữa. Đó. Là tại sao vậy? Vì cái nhánh vì cái tông Lâm Tế có cái phương pháp truyền pháp đặc sắc. Đặc sắc có cái bí hiểm của họ. Mà trong cái bí hiểm đó thì ngài Hoàng Long và ngài Dương Kỳ lãnh

[20:13]hội cũng khác nhau nữa, cho nên chia thành hai tông luôn. Vì uy tín của hai vị đó lớn quá. cũng chia thành hai cái phái. Chúng ta thấy mật tông Tây Tạng cũng phân hóa rất là mạnh, chứ không có thuần. Tuy rằng họ như là quốc giáo, vua cũng là một vị Đạt Lai Lạt Ma đi, Ban Thiền Lạt Ma. Đạt Lai Lạt Ma là coi về tôn giáo, Ban Thiền như coi về chính trị, không biết thầy có nhớ lộn không, nhưng đại khái là vậy. Nhưng mà rồi phía dưới họ cũng nhiều phái lắm. Vì trước khi đạo Phật đến với Tây Tạng, thì họ đã có cái đạo, đạo Bon, đạo phù thủy rồi. Họ tin vào cái lời cầu nguyện, câu thần chú. Thì khi đạo Phật đến đó, để cho phù hợp,

[20:56]đạo Phật cũng mang đầy màu sắc thần bí và là thần chú này nọ. Rồi bây giờ đến ngày hôm nay vậy thì do tin vào năng lực của câu thần chú quá, người ta cũng bớt tin nhân quả, nên thành một đạo Phật Tây Tạng như vậy. Mà các vị sư cũng kinh, kinh khiếp, họ có cái phương pháp luyện tập bí truyền của họ cũng dữ dội, đưa đến những thần lực lạ lùng lắm. Thì chúng ta thấy là các phương pháp luyện tập tạo thành thần lực nó không phải là từ thời Đức Phật mới có, mà trước đó bên Ấn Độ, yoga họ đã luyện được. Vào thời đạo Phật chưa truyền sang Trung Quốc, thì Trung Quốc đã có những môn võ công siêu việt, mà họ đã có nội công trước rồi,

[21:36]chứ không phải đợi mà mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma mang nội công sang. Mà Tây Tạng cũng vậy, khi đạo Phật chưa có, họ đã có những phương pháp luyện tập dữ dội lắm, là con người chịu được tuyết sương, lạnh giá, đã có những môn võ của Tây Tạng rồi chứ không phải không. Rồi khi đạo Phật đến, thường đạo Phật chỉ mang đạo lý và thiền định. Nhưng mà rồi đạo Phật tới nơi đó cũng bị pha trộn thêm với những cái khả năng của địa phương, cho nên chúng ta có một cái Thiếu Lâm Tự, các võ, các nhà sư đánh võ, nghệ đầy mình á. Hoặc là có những nhà Lạt Ma Tây Tạng, là những người họ có những cái pháp thuật cũng rất là đặc sắc là vậy đó, có sự pha trộn rồi có sự phân hóa.

[22:16]Mà cái phân hóa này, chúng ta nhìn lại nguyên nhân gần là chỗ này. Thường là một vị thầy là xiển dương kinh nghiệm của mình nhiều quá, và ít thông cảm với kinh nghiệm của người khác. Đây là nguyên nhân chính, nguyên nhân chính của sự phân hóa tông phái. Trong cái nhân duyên tu hành nó lạ lắm, thường không ai tu giống ai. Cái công đức thì nó là nguyên tắc chung. Như hôm trước mà thầy nói về cái cây đạo Phật, muốn tu phải, cái cây đó phải có gốc, có rễ, có thân rồi lên mới chia nhánh. Nhưng mà các nhánh cây là tượng trưng cho pháp môn, cái thân tượng trưng cho cái gì?

[22:58]Phước. Gốc rễ tượng trưng cho

[23:03]đạo đức và lý tưởng giải thoát, phải không? Đó. Thì người này phải có đạo đức, có lý tưởng giải thoát, có phước. Nghĩa là những điểm đó giống nhau hết, nhưng mà khi đi vào pháp môn thì mỗi người khác nhau hết. Như chúng ta nghe chuyện mà Đức Phật chọn cho ngài ngài Châu Lợi Bàn Đà Già cái pháp môn quán vô thường, là vì Đức Phật thấy cái duyên của ông, cái tư tưởng của ông, cái quan điểm của ông từ nhiều kiếp như vậy, nên ngài dùng pháp môn đó dạy thì ông nhanh chóng đắc đạo. Thì bây giờ mỗi người chúng ta cũng vậy, trong từ nhiều kiếp mình có cái suy nghĩ, có quan điểm, có tư tưởng gì đó, mà nếu mình dùng cái pháp môn đó, tự nhiên mình dễ nhiếp tâm, dễ nhiếp tâm.

[23:45]Nhưng nó là một cái duyên. Thầy ví dụ như một người

[23:51]mà làm vườn đi, nhiều kiếp làm vườn, rồi hay ngắm lá rơi vào mùa thu, ngắm lá rơi và thấy cuộc đời như vậy. Thì như vậy người này có khuynh hướng quán vô thường, có khuynh hướng quán vô thường, và khi họ nhìn lá rơi như vậy họ thấy lòng họ thanh thản. Đó là cái duyên, để một kiếp nào đó khi họ tu thiền, thì mỗi lần mà họ nhìn lá rơi, nhìn cuộc đời thay đổi, tự nhiên lòng họ thanh thản xuống liền, lắng xuống liền. Đó là như vậy. Hoặc là một người mà họ luyện tập võ nghệ, nội công thì họ thường hay điều khiển hơi thở, thì đến khi gặp đạo Phật cũng dùng cái hơi thở thì họ rất dễ nhiếp tâm vào định.

[24:29]Đó là như vậy. Cái cơ duyên, cái quan điểm, cái tư tưởng, cái sở thích, cái khuynh hướng gì của nhiều kiếp mỗi người không giống nhau. Đó, hoặc là một người chuyên liệm xác chết, họ có cái nghề đó đi, thì họ thấy thật thân con người thật là là tạm bợ, vô nghĩa. Thì khi mà gặp Phật pháp mà thấy quán thân vô thường, thân bất tịnh gì đó, thân là xác chết, sương cốt, họ rất dễ nhiếp tâm. Đó là cái khuynh hướng. Mà nếu mình nhìn sâu vào trong tâm của người đó, mình lại thấy khác nhau nữa. Ví dụ bây giờ là pháp môn tri vọng đi, mình biết được cái vọng tưởng khởi lên rồi buông. Nguyên tắc là vậy, giống nhau như vậy.

[25:10]Nhưng nếu mà mình có tha tâm thông, mình nhìn vào tâm mỗi người, mình thấy không ai giống ai hết trơn. Kỳ lạ. Cũng không ai giống ai hết trơn. Hoặc là hơi thở đi, hơi thở ra, thở vào, biết rõ. Mà nếu mình có tha tâm thông, mình nhìn vào tâm người, mình thấy cũng không giống nhau hết trơn. Họ khác nhau trong cái biết, trong sự chú ý, trong sự điều khiển hơi thở, cũng khác nhau trong đường tơ kẽ tóc hết trơn. Nó không giống nhau hoàn toàn. Đó, đây là cái cái điểm tự nhiên của con người. Thì ở đây chính các vị đạo sư đó, những đại sư trong thời đại đó có uy tín, thành công ở pháp môn nào thì mới nhìn vào cái con đường mình đã

[25:47]đi qua thấy nó thành công và tin chắc rằng ai đi cũng thành công. Cho nên thành lập một cái tông hẳn, chủ trương cái đường lối như vậy. Đây là điểm mà tất cả những vị đại sư thua Phật ở chỗ này. Đức Phật á, Ngài tu một đường nhưng Ngài Ngài dạy tất cả đường. Ngài thành công nhờ một pháp môn, nhưng mà khi Ngài dạy là tám vạn bốn ngàn pháp môn. Cái hay của Phật là vậy. Có pháp môn Ngài không từng tu qua, nhưng mà Ngài dạy rất chuẩn, rất chuẩn. Thật chặt chẽ. Vì trí tuệ của Phật là Ngài không có dựa vào kinh nghiệm của mình, mà cái trí tuệ của Phật nó thấu đáo đi vào trong tâm chúng sinh hết, đi vào trong nguyên tắc,

[26:27]trong nguyên lý của vũ trụ, trong sinh lý của con người, trong tâm tưởng con người, Ngài biết hết toàn bộ luôn. Nên khi Ngài kêu ai tu cái gì, thì con đường đó là chuẩn. Có một lần Ngài giảng một bài có pháp môn nào? Thì đó là một câu hỏi, có nghĩa là không có pháp môn nào hết. Ngài nói: "Chẳng cần pháp môn nào hết, chỉ cần người biết tâm mình thôi, biết thường xuyên tâm như thế nào, biết như thế đó, người này vẫn giải thoát như thường." Đó, nghĩa là đến độ có pháp môn này luôn, pháp môn không pháp môn luôn. Còn ngoài ra có những pháp môn mà Phật phối hợp rất là độc đáo. Như sắp tới mà thầy giảng thì thầy sẽ nói.

[27:04]Có một lần Phật dạy cho ngài La Hầu La, khi đi khất thực với Ngài, buổi sáng Ngài dạy về cái tính vô thường của năm uẩn, tính vô ngã của năm uẩn. Nhưng ngài La Hầu La không đi khất thực, quay trở về ngồi thiền liền. Tới chiều ngày hôm lại, Ngài dạy cách hơi thở, thì ngài La Hầu La nhiếp trong hơi thở, vào định và đắc đạo luôn. Nên Ngài phối hợp như vậy. Như trong cái bài Thiền quán mà thầy nói là dụng công phối hợp là vậy. Đức Phật dạy thường thường là Đức Phật không bao giờ dạy người tu một pháp môn. Người nào cũng vậy. Khi một người đến với Phật, Ngài dạy một cách, hai ba cách dụng công để phối hợp và người đó thành công.

[27:41]Nên đừng bao giờ nghĩ rằng là cứ ôm một pháp môn cho tới chết, thì tới chết chết luôn chứ không có đắc đạo đâu. Mà phải khéo léo phối hợp, khéo léo phối hợp. Đây là con đường mà Phật đã sử dụng. Đó, sau này khi mà chúng ta học tới bài Thân hành niệm chúng ta cũng thấy như vậy. Trong một bài đó Phật phối hợp rất nhiều cách dụng công, rồi mới đưa người ta vào định được, chứ không phải dễ. Cho nên có nhiều người vậy, nói là thầy dạy cho một cái cách dụng công nào đó là con ôm suốt đời, đó là sai lầm, hiểu sai hết. Vì cái chấp cũng như cái tâm mình nó cấu tạo phức tạp, mình phải dùng nhiều cách để gỡ cái phức tạp của tâm

[28:18]nó ra mà đi vào trong định chứ không phải dễ. Cho nên là một vị thầy mà cứ theo kinh nghiệm của mình mà xiển dương riết thì thành tông phái đi, đó là một cái nữa. Rồi một cái điều nữa chúng ta thấy là đạo Phật phát triển chậm, phát triển chậm so với các tôn giáo khác. Như có lần thầy đưa ra con số đó, hiện nay tín đồ đạo Phật trên thế giới là ba trăm mấy chục triệu người, trong khi Hồi giáo một tỷ mấy, Thiên Chúa giáo một tỷ mấy. Mà trong khi đạo Phật có mặt trước những tôn giáo đó cả 500 năm, 600 năm, 1000 năm, mà tín đồ vẫn ít hơn các tôn giáo đó. Như vậy mình có thể kết luận đạo Phật phát triển chậm.

[29:04]Lý do tại sao? Ai biết?

[29:10]Ai biết?

[29:17]Lý do là vì người tu theo đạo Phật thường quan tâm nhiều đến sự giải thoát của bản thân hơn là truyền bá Phật pháp.

[29:28]Đúng không? Đúng không? Những người tu mà thiết tha, tinh tấn, đạo đức nghiêm chỉnh đó, hỏi tu làm gì, nói để giải thoát. Hầu hết như vậy, là đi tìm sự giải thoát bản thân. Còn những tôn giáo khác á họ họ không đi tìm sự giải thoát, mà họ chỉ đi tìm cái cách nào đó để làm vừa lòng Thượng đế rồi sẽ được sinh lên cõi trời. Cái mục tiêu họ đơn giản và dễ làm, không tốn công sức nhiều. Cái việc mà lấy lòng Thượng đế thì giáo lý của họ cũng cho biết là rất dễ, chỉ cần rủ người ta theo đạo cho nhiều là được lòng Thượng đế và sẽ lên cõi trời. Còn cái con đường mà để mình thực hiện sự giải thoát, công lao nhiều hay ít?

[30:19]Quá sức nhiều đi, cả một đời mình chưa làm xong. Cho nên một đời này khi mình biết Phật pháp rồi, mình chỉ lo tu, không lo gì hết. Còn người ta cái giáo lý người ta như vậy, cho nên cả một đời người ta lo cái gì? Lo cái gì? Lo truyền đạo. Đó là lý do mà đạo người ta lan nhanh là vậy. Nên đạo Phật mình phát triển chậm. Rồi cộng thêm với những cái cái cái hoàn cảnh khó khăn đặc biệt khiến cho đạo Phật là bị giảm sút cái tín đồ. Như một lần như cái thảm họa mà Hồi giáo tàn sát đạo Phật tại Ấn Độ, làm cho tại Ấn Độ đạo Phật mất luôn. Bây giờ thì mới hồi phục chút đỉnh. Hoặc là Hồi giáo lại cũng cũng thảm sát đạo Phật tại Indonesia,

[31:12]mà bây giờ Indonesia cũng không còn đạo Phật nữa. Hoặc là một cái gần đây nhất là bên Trung Quốc. Do chính sách hạn chế tín ngưỡng ở Trung Quốc mà gần một tỷ người dân Trung Quốc vốn có truyền thống đạo Phật, bây giờ cũng coi như không có đạo Phật, chỉ còn lại những cái chùa là hình thức để du lịch thôi, chứ bên trong không có được thuyết giảng, không có nội dung giáo lý nhiều, nên mình mất hết một mảng gần một tỷ tín đồ. Nên tính ra số tín đồ trên thế giới chỉ còn được ba trăm mấy chục triệu thôi á. Là lý do chúng ta có những cái hoàn cảnh rất là không may mắn trong đạo Phật làm cho tín đồ đạo Phật trầm lại.

[31:53]Rồi bây giờ một lý do nữa làm cho đạo Phật phát triển chậm đó là: khuynh hướng học nhiều hơn tu cũng làm suy yếu đạo Phật. Trước đây đó, vào cái thời Pháp thuộc thì đạo Phật mình thường là những cái chùa trong quê mùa hẻo lánh ít có được học. Vị thầy nào giỏi thì dạy được cho vài người đệ tử có duyên với mình trong chùa chứ không có phổ biến. Cho đến khi những vị tôn túc mà chấn hưng đạo Phật thì mới thấy cái việc mà tăng ni cũng như Phật tử ít biết giáo lý quá nên các ngài nôn nóng, ráng mở trường dạy, dạy, dạy và dạy, không có thì giờ để tu. Thậm chí có vị chủ trương là học trước, làm việc rồi tu,

[32:36]già tu cũng không sao, mà chưa kịp già chết mất rồi, nên cũng chưa tu luôn. Nên chính cái khuynh hướng học nhiều hơn tu cũng làm làm đạo Phật suy yếu. Tại sao vậy? Tại sao học nhiều hơn tu thì đạo Phật suy yếu? Ai biết?

[33:01]Vì tăng ni, Phật tử mình không chứng tỏ được những tấm gương đạo hạnh rực rỡ cho người ở ngoài đạo trông thấy. Ví dụ cái người đó họ đạo khác, hoặc họ chưa có đạo, họ thấy đạo Phật thôi để họ dòm coi tu được không, thì họ thấy tăng ni cũng như Phật tử không có đạo hạnh nhiều. Vì sao vậy? Mắc lo học không có thì giờ để kiểm soát ngôn hạnh mình, để tu sửa nội tâm mình, nên không có gì đặc biệt hơn họ, nên họ cũng không có bị cuốn hút phải theo đạo Phật. Đó cũng là nguyên nhân làm cho đạo Phật bị bị suy yếu. Chỉ có lâu lâu là mình thấy xuất hiện được một vài nhân vật nổi bật rồi thôi chìm lại, lâu lâu vậy.

[33:45]Như thời đại chúng ta bây giờ, chúng ta cũng cũng chứng kiến được một số vị nổi bật thôi, nhưng mà chúng ta không dám chắc rằng sau khi những vị đó qua đời thì sẽ có những người khác, nhiều người kế thừa không. Ví dụ một vị đó nổi bật đi, thì khi vị đó qua đời mình không dám chắc rằng sẽ được mười vị cũng giỏi như vậy để nối tiếp. Mà nhiều khi vị đó qua đời rồi thôi mất luôn, những người sau chỉ còn duy trì chút đỉnh chút đỉnh đó rồi, rồi qua thôi. Đó, đó là những lý do như vậy. Rồi thêm một điểm nữa, một điểm nữa là là giáo lý của đạo Phật cũng không tạo thành một giáo hội mạnh.

[34:28]Thì thời xưa là Đức Phật khi mà ngài nhập diệt, ngài không có cái di huấn về phương pháp xây dựng một cái tăng đoàn cho chặt chẽ, mà chỉ dựa vào cái sự tự giác và giới luật, giáo lý. Đó, nghĩa là tự giác nè, giới luật, giáo lý, dựa vào ba điều đó để mà chư tăng gắn bó với nhau. Giáo hội hay gọi là tăng đoàn có được là do sự gắn bó của chư tăng với nhau. Nhưng mà muốn chư tăng gắn bó với nhau thì trong lúc đạo Phật chỉ dựa vào ba điều: tự giác, giới luật, giáo lý. Trong ba điều đó nếu có một điều bị hở, bị hỏng thì chư tăng sẽ không gắn bó với nhau nữa. Nào ví dụ như chúng ta thấy là nếu lúc nào đó

[35:16]có vài chư tăng không tự giác gắn bó với tăng đoàn, ổng tách ra, thì giáo hội cũng đứng dòm cười, hoàn toàn không có biện pháp. Hoặc là lúc nào đó cái giới luật lỏng lẻo, nói giới luật tức là mình nói luôn đạo đức đi, giới hạnh hay đạo đức lỏng lẻo, chư tăng đố kỵ với nhau, ganh ghét nhau không thương nhau, người này nói xấu người kia, người kia nói xấu người nọ, thì chư tăng cũng sẽ không gắn bó nhau nữa, thì tăng đoàn biến mất, phải không? Tại cái quan trọng là chư tăng gắn bó mới có tăng đoàn, mà chư tăng không có đạo đức, tức là người này xỉa qua, người kia xói lại, thì sẽ không gắn bó nhau nữa thì tăng đoàn cũng biến mất.

[35:57]Đó là tình trạng hiện nay cũng đang có chứ phải không.

[36:07]Rồi ví dụ như giáo lý, nếu nếu mà cái sự hiểu biết về giáo lý nó tương đồng với nhau thì cũng làm chư tăng gắn bó, mà nếu lúc nào đó cái việc hiểu về giáo lý sai khác, mỗi người giải thích kinh khác khác đi, thì chư tăng cũng không gắn bó với nhau nữa, làm cho giáo hội cũng lỏng, yếu hoặc là biến mất, tan vỡ, thấy không? Còn chúng ta thấy là muốn có một giáo hội mạnh á là ngoài cái tự giác nó phải có biện pháp gì hơi ràng buộc một chút. Cái ràng buộc này chúng ta hiểu là cái người nào mà nếu người đó bị vi phạm, bị phạt, bị ra khỏi tăng đoàn thì họ phải bị mất mát quyền lợi, bị tổn thương nặng để họ phải sợ hãi.

[36:51]Họ có cái gì họ phải mất mát và sợ hãi, không dám rời bỏ tăng đoàn thì cái giáo hội đó mới mạnh. Chứ còn nếu họ họ buồn họ rời bỏ thì họ vẫn không mất mát điều gì thì giáo hội yếu liền. Nhưng mà trong đạo Phật không có điều đó, truyền thống không có điều đó. Đây cũng là lý do làm cho đạo Phật yếu đi. Ví dụ như tăng ni có vi phạm thì không ai kiểm tra, cũng không có biện pháp xử lý thích đáng. Có vào vài giai đoạn có những vị tôn túc có uy đức lớn kiểm tra về về giới hạnh của tăng ni thì lúc đó tăng ni mạnh. Nhưng ngoài Huế thì nghe có Ôn Trúc Lâm là Mật Thể thì ngài uy đức lớn, ngài hay kiểm tra tăng ni,

[37:40]ai vi phạm là ngài phạt rất là nặng mà ai cũng sợ hết. Nhờ vậy một thời gian dài cái đời sống như cái mẫu mực của tăng ni ngoài vùng đó là một tấm gương sáng cho Phật tử nên đạo Phật mạnh lắm. Còn ví dụ qua vùng khác hoặc qua giai đoạn đó, người ta biết là tăng ni vi phạm, có cái việc sai, nhưng mà cũng không ai có biện pháp để làm cái gì hết. Rồi thôi, rồi thôi tự mất uy tín rồi tự đào thải, đạo Phật như vậy yếu đi. Đó, đó là những cái tổ chức giáo hội không có chặt chẽ và không có mạnh. Đó là những lý do mà chúng ta kể ra để chúng ta thấy rằng đạo Phật đã chậm phát triển, phân hóa trong những thiên niên kỷ qua.

[38:23]Bây giờ chúng ta nhìn hiện tại, đạo Phật như thế nào?

[38:29]Hiện nay đó thì loài người đã văn minh hơn, tư tưởng con người tiến bộ hơn, tri thức tân tiến hơn. Con người ta không còn tìm hiểu vấn đề bằng niềm tin như ngày xưa nữa, vì đã quá nhiều vấn đề người ta đã giải quyết bằng khoa học. Khoa học này nó cả hai bên là khoa học vật lý và khoa học xã hội. Khoa học vật lý thì tự nhiên, vật lý, toán học thì chúng ta biết rồi. Khoa học xã hội thì giải thích nhiều vấn đề cũng rất là hay. Ví dụ như là cái việc mà tăng trưởng kinh tế hay suy thoái kinh tế thì người ta cũng dự đoán được sáu bảy mươi phần trăm, chứ không còn buông xuôi hoàn toàn như trước kia là

[39:09]do thời vận nữa, mà người ta kết hợp nhiều cái: là lúc đó cái thời tiết tốt hay không, rồi cái sức tiêu thụ mạnh không, trúng mùa hay không, các nước lân cận có nhập hàng hay không, thì giao thương buôn bán có bị gián đoạn, thì chiến tranh có xảy ra hay không, tính toán trên nhiều mặt là người ta kết luận là cái nền kinh tế có đi lên hay không, hoặc một công ty đó sẽ phát triển được hay không. Đó là người ta tính toán, suy đoán được chứ không còn có buông xuôi. Rồi còn bao nhiêu lĩnh vực của thiên nhiên, của đất trời người ta giải thích được hết, không còn cần phải niềm tin để mà xác lập một triết lý nữa.

[39:47]Thì chúng ta thấy thế này: là triết học luôn luôn đi sau khoa học.

[39:56]Triết học phải đi sau khoa học. Nhưng một thời gian dài, triết học đi sau tín ngưỡng.

[40:05]Triết học đi sau tín ngưỡng là sao? Triết học á là cái quan điểm sống, quan điểm cư xử nó nhiều lắm, nhưng mà thầy nói sơ sơ coi như quan điểm để sống trên đời. Thì cái người ta muốn rút ra một quan điểm để sống, người ta phải dựa vào một số hiểu biết trước. Ví dụ hiểu biết trước đó là sao? Nói con người là do Trời sinh ra. Ví dụ lấy quan điểm đó đi, thì người ta phải rút ra một cái kết luận liền để sống liền. Như vậy, tôi muốn sống cho sướng là tôi phải làm vừa lòng Trời, cầu xin Trời để Trời cho tôi cái điều đó. Bởi vì Trời đã tạo ra tôi mà tạo ra được tất cả, thì Trời nếu tôi biết cách nào đó thì Trời sẽ cho tôi sự sung sướng.

[40:42]Và giáo lý của người này, cái triết lý người này, cái chủ trương người này đi tìm sự sung sướng của bản thân thông qua việc đi tìm cái năng lực của Trời ban cho. Đó là từ cái quan điểm ban đầu mà rút ra một cái kết luận để sống là triết lý đi sau tín ngưỡng. Hoặc là có những cái dân tộc mà họ tin rằng thần sấm chớp, à thần sông, thần mưa là có vị thần gì đó, thì như vậy họ phải rút ra quan điểm sống của họ phải tế thần đó, tế thần bằng máu tươi, tế thần bằng người sống, vân vân. Đó là cái quan niệm sống do một cái tín ngưỡng, do niềm tin, do một hiểu biết, có khi hiểu biết đó trật lất, nó xuất hành ra quan niệm sống sai.

[41:23]Rồi sau này khi khoa học tiến bộ, người ta giải thích được nhiều điều hơn thì những triết lý mới đua nhau xuất hiện. Những triết lý mới đi, và những triết lý này họ cũng dựa vào kiến thức của khoa học. Có những nhà triết học họ còn tin vào cái tâm linh, tín ngưỡng nhưng họ kết hợp với khoa học thì họ nghiệm ra một triết sống khác giống như Spinoza của Hà Lan. Ông cũng cho rằng con người không có đơn giản chỉ là vật chất, còn có tâm linh và Thượng Đế đối với ông là một khái niệm rất mở rộng chứ không kiểu như Thiên Chúa giáo, ông chê Thiên Chúa. Nó hiểu Thiên Chúa giáo hiểu như nhà thờ của La Mã là trật, không hiểu Thiên Chúa chính xác.

[42:07]Hoặc là Nietzsche, triết gia của Đức, thì tuyên bố Thượng Đế đã chết, không còn chấp nhận có quyền lực của Thượng Đế đối với con người nữa mà con người phải tự vươn lên trên, vượt chính mình để làm một siêu nhân. Này do, do khoa học tiến bộ quá, người ta không còn chấp nhận khái niệm Thượng Đế tạo vật, xuất hiện những triết lý mới như vậy. Hoặc là ông Schopenhauer thì ông có cái hiểu biết về đạo Phật nên ông đi tìm cái triết lý của... một ông đặt ra hẳn một hệ thống triết mới dựa rất nhiều vào cái giáo lý của đạo Phật. Tuy dựa vào giáo lý nhưng mà có nhiều cái sự sáng tạo rất là mới mẻ. Cái sự sáng tạo mới mẻ như là ông nói rằng

[42:47]cái bản năng vô thức con người là một động lực rất quan trọng cho mọi hành động tư tưởng. Thì cái quan niệm của ông á là ông xuất phát từ cái giáo lý của đạo Phật về "ái" là nguyên nhân đau khổ. Ông kết luận trong tiềm tàng của con người đều có cái sự biến hóa rất là sâu của con người và cái mọi cái làm, hành động, suy nghĩ người ta bị phối bởi điều đó rất nhiều. Và nếu con người vượt qua điều đó người ta sẽ sống bình an, suốt đời. Thì những điều ông nói không khác đạo Phật, nhưng chỉ có cái điều là ông phân tích cái ái, nguyên nhân của ái, cái cơ cấu thành cái ái, cái ái nó nằm ở đâu thế nào thì ông phân tích rất sâu.

[43:23]Ông căm thù mẹ của ông. Ông căm thù người mẹ ruột của ông, tới suốt đời ông không thèm nhìn mặt bà là kể ra bà... Bản thân không lấy vợ, căm thù đàn bà luôn. Ông hiểu đạo Phật, ông viết soạn thành một triết lý cho đến bảy mươi mấy tuổi mới bắt đầu nổi tiếng và ông chết một cái chết rất... lành, không hiểu cái phước gì thầy không hiểu. Nhưng mà người hầu bưng vào dọn bàn cho ông thấy ông ngồi trên bàn điểm tâm, chết rất thanh thản, cũng lạ. Nên chúng ta thấy từ cái hiểu biết, người ta rút triết lý. Hoặc như là Mác, Ăng-ghen đặt niềm tin vào khoa học, không tin vào tâm linh, duy ý chí, duy vật chuyên, là trên đời này không hề có thần linh.

[43:57]Thì ngày hôm nay con người văn minh hơn nhiều như vậy thì người trí thức họ chợt nhận ra một điều là đạo Phật ưu việt hơn hẳn các giáo lý khác, các tôn giáo khác. Rất nhiều các nhà bác học đã lên tiếng ca ngợi đạo Phật mà trong đó nhà bác học xuất sắc nhất là Einstein. Thì không hiểu là ông đọc sách đạo Phật như thế nào thì mình không được biết, hiểu nhiều. Nhưng ông nói rằng cái tôn giáo tương lai của nhân loại nó phải đáp ứng được cái nhu cầu tâm linh mà vừa không đi ngược lại khoa học, và ông nói rằng chỉ có đạo Phật mới làm được điều đó. Một nhà bác học nổi tiếng nhất đến bây giờ người ta vẫn cho

[44:39]là xuất sắc nhất của nhân loại thì vẫn ca ngợi đạo Phật. Rất nhiều rất nhiều như là Oppenheimer, nhà vật lý nguyên tử, là Bertrand Russell, nhà toán học và triết học, cũng đều một mực là ca ngợi đạo Phật vượt hơn hẳn các tôn giáo khác. Đây là một điều làm cho chúng ta yên lòng, vững tin cũng như tự hào. Nhưng mà chỉ là các nhà triết học ca ngợi thôi, những nhà trí thức có duyên tiếp xúc với đạo Phật thì chấp nhận thôi, chứ đạo Phật vẫn còn yếu lắm. Đạo Phật trên thực chất vẫn còn yếu, lỏng lẻo và chậm phát triển, ít tín đồ. Còn Thiên Chúa giáo thì đang yếu dần tại các nước văn minh, các nước Âu Mỹ.

[45:23]Người ta bỏ đạo rất là đông. Như bên Pháp vậy, ngày xưa là chín mươi mấy phần trăm là Thiên Chúa giáo, bây giờ tổng kết lại còn hai mươi mấy phần trăm mà con số đang giảm từng ngày, từng ngày. Nhiều nhà thờ đã phải bỏ, không có làm lễ vì không có ai đi làm dự lễ. Và nhiều linh mục là cũng phải bỏ nhiệm sở vì không còn giáo dân. Và thậm chí có những nhà thờ phải bán lại để người ta làm chuyện khác. Bên Mỹ, bên Pháp tình trạng mà giáo dân bỏ đạo xảy ra từng ngày, từng giờ, từng ngày, từng giờ. Chúng ta, những người Á Đông thì bị lầm. Lầm là gì? Lầm là thấy à các nước đó quá văn minh, các nước Âu Mỹ quá văn minh và các nước đó theo Thiên Chúa giáo.

[46:11]Như vậy Thiên Chúa giáo là tôn giáo của, của sự văn minh. Đâu có ngờ là ngược hẳn lại. Ngược hẳn lại là chính trong gần 1.000 năm dưới sự cai trị của Thiên Chúa giáo, khoa học không phát triển, các nước đó không phát triển. Rồi phải có những người họ gan dạ họ chống lại nhà thờ, họ mới trở thành những nhà bác học, khám phá hết điều này tới điều kia cho nhân loại và tạo thành những cái thành tựu xuất sắc trong khoa học. Tất cả những nhà vật lý học, những nhà bác học đều là những nhà chống nhà thờ hết, những người chống nhà thờ. Và cái sức mạnh của tri thức nó mạnh đến mức nào đó nhà thờ không cưỡng lại được nữa, phải buông ra từ từ, buông ra từ từ.

[46:51]Người ta chống nhà thờ đến độ mà người ta chống luôn nhà vua, chống quân chủ, thành lập chế độ dân chủ là không cho cái thế lực của tôn giáo đi vào trong chính trị. Chính trị phải độc lập với tôn giáo. Và nhà thờ mất dần quyền lực. Thì ngày nay chúng ta thấy vậy, các nước đó là nước Thiên Chúa giáo, các nước đó quá văn minh, tưởng Thiên Chúa giáo tức là văn minh. Đâu có ngờ rằng cái văn minh là cái là phải chống lại, đấu tranh với Thiên Chúa giáo mới tìm được. Nhưng mà người Á Đông bị hiểu lầm nên cứ tiếp tục tôn sùng Thiên Chúa giáo, tin rằng đó là tôn giáo đem lại văn minh mà không ngờ đó là tôn giáo chống văn minh.

[47:27]Mà những nước văn minh hiện nay là những nước bỏ đạo rất nhiều. Nên hiện nay Vatican vậy, họ chú trọng vào các nước Á Đông là các nước vẫn đang còn niềm tin cuồng nhiệt nơi Chúa. Và họ lập cái kế hoạch phải làm sao phục hồi lại Thiên Chúa giáo nơi châu Âu. Trong khi ngày xưa châu Âu là toàn thể theo Thiên Chúa giáo hết, bây giờ là họ đang phải đau đầu tìm một cái kế hoạch để truyền đạo lại nơi, nơi châu Âu. Đó.

[47:57]Thiên Chúa giáo còn phát triển mạnh ở những nước chậm phát triển như là Đông Á hay là Nam Mỹ thế thôi. Những nước chậm phát triển, những nước mà cứ tưởng lầm rằng là Âu Mỹ văn minh theo Thiên Chúa giáo, giờ mình phải muốn văn minh phải theo Thiên Chúa giáo, chớ sự thật ngược lại. Còn cái tình hình hiện nay thì Hồi giáo có một lời thề là phải chiếm hết thế giới. Người Hồi giáo họ thề với nhau vậy, là phải chiếm từ từ, chiếm từ từ để cai trị hết thế giới này bằng Hồi giáo. Và họ lan tràn rất mạnh. Họ vào sâu, lấn vào nhiều vùng của nước Nga luôn, họ lan qua Mỹ. Tại Mỹ có nhiều cái đền thờ của Hồi giáo rất là lớn.

[48:37]Và họ đang lan nhanh vào Đông Á châu, chiếm từ từ vào Đông Á châu. Ngày xưa họ chỉ nằm ở cái vùng Trung Đông, Ả Rập, sau đó họ lan vào những cái vùng lân cận như là châu Phi, họ lan lên phía Bắc là Nam Âu châu, đi lấn vào trong cái vùng Trung Á, leo lên Nga Sô. Bây giờ họ vượt đại dương họ qua Mỹ, và họ đi về phía Đông, họ đi vào cái vùng đảo của Indonesia, tấn công vào Mã Lai, đi leo lên Nam Thái Lan, và bắt đầu bò vào Việt Nam từ từ. Thế lực họ rất mạnh. Mà những nơi đã có Hồi giáo rồi thì đạo Phật không thể bước vào được, nhưng những nơi có đạo Phật thì Hồi giáo bước vào được. Và họ vững tin rằng cứ như vậy thì từ từ họ chiếm hết thế giới này.

[49:23]Mà họ có cái là họ không khoan dung, họ không chấp nhận sống chung với tôn giáo khác. Nơi nào có họ rồi thì tôn giáo khác phải biến mất.

[49:34]Hiện nay ở bên Indonesia vậy, bên Indonesia thì có ba tôn giáo lớn: Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo. Phật giáo thì thường nằm ở những cộng đồng của người Hoa. Thiên Chúa giáo thì cũng là người Indonesia, Hồi giáo Indonesia. Thì trước hết là người Hồi giáo họ lại họ đốt chùa của đạo Phật, họ đốt nhà của mấy người Hoa theo đạo Phật, họ đuổi người Hoa đi khỏi đó, khủng bố, đập bể nhà, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ, làm cho mấy người Hoa theo đạo Phật phải bỏ đất nước đó đi tìm về cái đất nước khác sống. Nên là Phật giáo rất dễ, xong. Còn lại Thiên Chúa giáo thì bắt đầu họ tấn công, họ đốt nhà thờ, giết người Thiên Chúa giáo.

[50:13]Nhưng người Thiên Chúa giáo ở đó không có hiền lành, tấn công trở lại. Hai bên tự tìm vũ trang giết nhau. Thì thời gian năm mấy năm nay họ giết nhau cũng được mấy ngàn người rồi, giết qua giết lại cũng nhiều. Họ không hiền. Vatican thì vì tôn trọng luật pháp nên không dám cung cấp vũ khí cho cái phe Thiên Chúa giáo, còn phe Hồi giáo thì họ nhận được vũ khí từ bất cứ nguồn nào. Hễ mà nghe tin đó là bên Ả Rập chở vũ khí qua liền, cho liền. Cho nên cái thế lực Hồi giáo mạnh hơn về vũ lực. Và những người Thiên Chúa giáo thì họ tự tìm vũ khí, họ làm gì đó họ làm. Có khi họ làm dao, làm mác, làm cung, làm tên, kiếm súng đâu đó kiếm.

[50:50]Đó, đang đánh nhau vậy. Mà những tôn giáo là họ không khoan dung. Thiên Chúa thì vì tôn trọng luật pháp còn có thể chấp nhận được, nhưng Hồi giáo là thề là không sống chung với tôn giáo khác, rất là đáng sợ. Họ hay gây chiến tranh và thích dùng bạo lực. Cả như là Taliban, một cái phe mà chiếm đất nước Afghanistan, thì họ xây dựng kinh tế của họ, họ mua vũ khí bằng cái nguồn gì? Bằng cách trồng thuốc phiện bán cho thế giới. Khủng khiếp chưa? Cả đất nước Afghanistan vậy, họ trồng thuốc phiện hết. Rất nhiều, chính quyền họ kiểm soát, mà họ cứ thu hút, họ chế ra cocaine, chế ra heroin đem đi bán khắp thế giới, mua gạo, mua súng rồi đánh thế giới.

[51:32]Chịu không nổi. Mình chịu không nổi. Cái chủ trương đó rất đáng lo ngại. Mà cái nguồn lợi của thuốc phiện thì lớn lắm, lớn gấp bao nhiêu lần cái nông nghiệp. Dầu hỏa sợ thua luôn. Đó, đây là một cái hiểm họa rất là lớn, rất là đáng lo. Và trước cái tình hình như vậy, thì chúng ta thấy là đạo Phật đang trở thành thiểu số,

[51:55]nhất là mất đi gần 1 tỷ tín đồ của Trung Quốc. Thời xưa thì tín đồ Phật giáo Trung Quốc rất nhiều, nhưng ngày nay nguyên một mảng đó mất hẳn. Do nhà cầm quyền không ủng hộ tôn giáo nên đạo Phật trở thành thiểu số. Ngay như nhà nước Việt Nam mình ủng hộ đạo Phật mà cũng không dám ủng hộ mạnh. Vì sao? Vì so ra trên thế giới, đạo Phật vẫn là minority, tức là thiểu số. Đó là một cái, cái bất hạnh. Nếu mà chúng ta không làm cho đạo Phật thành đa số thì thì người ta không dám theo mình. Vì người ta chờ thôi. Người ta muốn ủng hộ mình, người ta thấy mình phải mạnh cái đã. Chứ người ta không làm cho mình mạnh,

[52:39]mà chính người trong đạo Phật mình phải làm cho mình mạnh trước. Và bây giờ chúng ta phải làm gì để cho đạo Phật mạnh lên? Mình nói nãy giờ giống như hơn thua, phân biệt tôn giáo này, chia rẽ tôn giáo nọ, giống như mình cũng giành giật tín đồ với người ta. Mà sự thật có phải vậy không? Cái cách làm việc thì giống, giống là mình cũng cố gắng truyền bá đạo Phật mình đi. Nhưng mà trong bề sâu nó khác. Khác chỗ nào? Khác là đạo Phật mình là đạo thương yêu, đại đồng, giải thoát, giác ngộ, không có hơn thua. Một cái đạo Phật mà xây dựng đạo đức thật sự chứ không phải là vì phe phái, vì hơn thua. Mà nếu mà mình biết đạo Phật tốt,

[53:24]mà mình không nỗ lực truyền bá, mình buông xuôi thì các đạo kia lấn. Mà các đạo kia đem đến cho thế giới nhiều sự hơn thua, sự chém giết, hận thù, sự lạc hậu. Giống như Hồi giáo hay Thiên Chúa giáo đã kềm hãm cái sự tiến bộ của nhân loại. Chỉ có đạo Phật mới kích thích sự phát triển của nhân loại. Vì lý do đó mà mình đã tin, mình tu theo đạo Phật. Và mình phải vì lý do đó mà cố gắng truyền bá đạo Phật. Chứ không còn có như những năm tháng qua, như những thiên niên kỷ qua, cứ mãi đi tìm sự giải thoát, giác ngộ của bản thân một cách vất vả và làm cho đạo Phật chậm phát triển.

[54:02]Ở đây chúng ta phải thấy trong tương lai của đạo Phật nó như thế này: là lý tưởng của người đệ tử Phật là chúng ta phải xây dựng một thế giới đạo đức và đại đồng. Trong đó con người biết thương yêu nhau trước khi chúng ta thực hiện được cái sự giác ngộ, giải thoát viên mãn của bản thân. Hoặc là trong khi chúng ta thực hiện cái sự giác ngộ, giải thoát viên mãn cho bản thân. Nghĩa là cái sự mà tu tập cho bản thân nó phải đi sau hoặc nó song song với cái việc mà xây dựng một thế giới đạo đức, đại đồng trên tinh thần đạo Phật. Chúng ta phải vạch hướng trong thiên niên kỷ mới, người đệ tử Phật phải làm điều này.

[54:49]Quý thầy, quý cô có đồng ý với thầy điều này không? Về phía quý thầy nè. Đồng ý không? Nói nghe yếu xìu à, cười nhe răng không à. Là chúng ta thấy được cái lỗi của mình trong quá khứ là cứ mãi lo tu tập bản thân nên để cho cái bóng tối chiếm dần cái thế giới này. Ngày hôm nay chúng ta không được phép điều đó nữa. Ngày nay cái việc tu tập của chúng ta nó phải đi song song với việc giành lại con người ra khỏi bóng tối, đem đến ánh sáng cho thế giới này. Ánh sáng đó của đạo đức, của sự đại đồng, của sự thương yêu.

[55:32]Nền tảng của đạo đức là gì?

[55:38]Nền tảng của đạo đức là gì? Ai biết?

[55:47]Tính vị tha. Vị tha là đạo đức rồi. Vị tha là đạo đức chứ chưa phải là nền tảng của đạo đức. Bởi vì nhiều khi cười lắm, mình học đạo đức cho đã đời tới mấy chục bài rồi chứ hỏi nền tảng đạo đức là gì cái mình bị lúng túng liền. Nền tảng từ đó nó mới xuất hiện được cái đạo đức là hai điều. Thứ nhất là sự tin hiểu về luật nhân quả, nghiệp báo.

[56:15]Thứ hai là cái trí tuệ không phân biệt, chia rẽ.

[56:23]Cái mà luật nhân quả, nghiệp báo á làm cho mình sợ, sợ tội mà nỗ lực làm phước.

[56:33]Còn cái trí tuệ không phân biệt, chia rẽ để làm cho con người ta gần gũi, gắn bó, đoàn kết với nhau.

[56:42]Người ta thương yêu nhau được. Ví dụ bây giờ mình với các đạo khác, mình có trí tuệ không phân biệt, chia rẽ, mình thấy gần gũi họ. Hoặc là mình với người chủng tộc khác, quốc gia khác nhờ có trí tuệ không phân biệt, chia rẽ, mình cũng có thể thương yêu đến với họ được. Nên từ hai cái đó rồi thì vô số những đạo đức sẽ từ từ nảy sinh ra, nhiều lắm. Thầy nói cái này là nói trên quan điểm lớn mới nói hai điểm này, chứ nói trên quan điểm nhỏ thì mình nhiều khi không nói hai điều này. Cho nên 30 bài hoặc 37 bài đạo đức mà thầy nói thì không đưa hai cái điều nền tảng này. Nhưng mà khi nhìn trên cái cái bình diện Phật giáo toàn thế giới

[57:22]thì thầy định nghĩa nền tảng của đạo đức là hai điều này: thứ nhất là sự tin hiểu nhân quả, nghiệp báo; thứ hai là trí tuệ không phân biệt, chia rẽ. Cái không phân biệt, chia rẽ là cái trí tuệ, đòi hỏi phải có trí tuệ mới có thể không phân biệt, chia rẽ. Còn nếu mình nghe một người nào mà mở miệng cứ nói chia rẽ: "Tôi bên này, anh bên kia" thì mình phải hiểu người đó chưa có trí tuệ. Nên cả hai cái: tin hiểu nhân quả, nghiệp báo cũng là trí tuệ mà cái mà để không phân biệt, chia rẽ cũng là trí tuệ. Mà dựa vào hai cái trí tuệ đó mình xây dựng được đạo đức cho loài người. Và như vậy chúng ta thấy chúng ta muốn xây dựng đạo đức

[58:04]cho thế giới, cho loài người thì cái trách nhiệm của những người đệ tử Phật chúng ta là giúp mọi người trên thế giới có được hai điều đó. Nghĩa là chúng ta không nói truyền đạo, mình không có nói rằng mình à bây giờ mấy đạo kia họ nhiều tín đồ quá, bây giờ ngày hôm nay mình cũng phải truyền đạo để giành tín đồ, mình không có cái tư tưởng đó. Mà mình có tư tưởng gì? Mình chỉ muốn cho mọi người có đạo đức, có cái hiểu biết chân chính để cho thế giới này hạnh phúc hơn, chứ mình không có mục đích truyền đạo. Mình chỉ muốn thế giới này hạnh phúc hơn, hạnh phúc hơn. Mà muốn hạnh phúc hơn thì người ta phải có đạo đức.

[58:47]Mà muốn có đạo đức, người ta phải tin hiểu nhân quả, nghiệp báo, người ta phải có trí tuệ không phân biệt, chia rẽ. Mà xui cái là hai này nằm hết trong giáo lý đạo Phật. Cho nên mình muốn người ta có hai điều đó, buộc mình phải cho người ta giáo lý đạo Phật. Thành thử cũng hơi giống như mình truyền đạo, mặc dù mình không có ý muốn truyền đạo, rồi cũng phải truyền đạo.

[59:13]Thầy nói không biết có ai hiểu không? Thì như vậy, thì dù con người ở bất kỳ tôn giáo nào, con người ta vẫn cần phải tin có nhân quả, người ta phải tin có luân hồi, người ta phải có trí tuệ vô phân biệt, người ta phải biết buông bỏ hờn thù, ích kỷ. Đây là những điều rất chung, rất chung của nhân loại mà mình muốn đem đến cho con người.

[59:39]Đây là những điều mà không ai có thể phủ nhận, lương tâm con người không thể phủ nhận. Bây giờ cái mà mình nói tin có nhân quả, có luân hồi nó sẽ đụng chạm đến một cái hệ tư tưởng lớn là Thượng đế với các tôn giáo khác. Thì hôm nay vậy sẵn nói, nói luôn. Nhân ngày Giáng sinh, nhân ngày đón mừng thiên niên kỷ tới, mình nói luôn về sự bế tắc của giáo điều về Thượng đế tạo vật luôn. Nói lần này nói thẳng, nói mạnh luôn. Cũng có những lần thầy đã nói cái vô lý của cái khái niệm mà nói rằng Thượng đế tạo ra tất cả. Hôm nay thầy sẽ nêu thêm một số điểm nữa. Thứ nhất, cái điều này thầy hay nói lắm. Nếu Thượng đế tạo ra tất cả, thì ai tạo ra chiến tranh, đau khổ, bệnh tật, thiên tai?

[1:00:29]Ai tạo ra? Không trả lời được. Phải không? Nếu nói con người tạo ra, như vậy con người bằng Thượng đế à? Cho nên chỉ cần đặt cái câu hỏi liền: "Bây giờ nếu ông nói là Thượng đế tạo ra trời đất, tạo ra muôn vật, vậy ai tạo ra động đất, núi lửa, lụt lội, thiên tai, hạn hán, chiến tranh, bệnh tật, những bệnh dịch lây lan, sida, ai tạo ra?" Họ nói thua liền. Đó là cái mà người Thiên Chúa giáo không thể trả lời, người Hồi giáo không thể trả lời. Rồi sau đó, nhưng mà họ vẫn có câu trả lời. Nghĩa là trong các trường, các chủng viện của các Thiên Chúa giáo họ vẫn đang trả lời câu này vì họ biết họ đang bị hỏi câu này.

[1:01:10]Nên họ trả lời, họ nói rằng là cái thương yêu và cái toàn năng của Thượng đế là tuyệt đối trong khi những cái thiên tai đó chỉ là tương đối. Họ cũng trả lời cách đó. Nói tương đối người ta cũng khổ ghê gớm lắm chứ! Thì tương đối quất một cái 100 ngàn người, 50 ngàn người chết sạch thì cũng cũng đau khổ ghê gớm lắm chứ, chứ nói tương đối sao, phải không? Mà những nước đó những nước cũng tin Chúa nhiều lắm. Cho nên cái câu hỏi nó bí. Vì câu hỏi thứ hai, sự bế tắc của Thượng đế: "Ai tạo ra tội lỗi trong lòng con người?" Vì rõ ràng là con người mà do Chúa sinh ra này lại có người đi tu và có người đi ăn trộm.

[1:01:53]Cái người mà đi tu để thờ phụng Chúa thì đúng là Chúa tạo ra cái người để thờ Chúa thì cũng được. Vậy ông Chúa cũng hay, ổng tạo được cái người để thờ mình giống như là một nhà khoa học đã tạo được robot để phục vụ cho mình, thì như vậy là giỏi, phải không? Chúa tạo ra được những ông cha và sơ để phục vụ cho hội thánh, phục vụ cho Chúa thì Chúa giỏi. Nhưng mà khổ không biết ai tạo ra cái thằng ăn trộm nó vô nhà thờ nó ăn cắp hết cái đồ thờ bằng bạc trong nhà thờ thì cái này không biết ai tạo ra nó. Khổ vậy. Cho nên cái tội lỗi trong tâm hồn con người ai tạo ra? Nếu nói rằng Chúa tạo ra thì Chúa không toàn thiện,

[1:02:29]tạo ra hoàn toàn Chúa tạo nửa chừng cái Chúa bị bí, nên tâm hồn con người Chúa buông ra không tạo được. Như vậy rõ ràng cái quyền năng của Chúa không tuyệt đối, quyền năng của Thượng đế không tuyệt đối. Đây cũng là một điểm bế tắc. Điểm nữa là Thượng đế đã không điều khiển được cái tâm thiện ác của con người, như vậy Thượng đế không có toàn năng.

[1:02:53]Thấy rõ ràng, bây giờ có ai có câu trả lời bênh được Thượng đế chỗ này không? Thì thầy cho làm cha liền.

[1:03:04]Các những câu hỏi này mấy ngàn năm qua không ai trả lời nổi. Bây giờ mình hỏi thêm một câu nữa. Cái không gian mênh mông trong vũ trụ này, không gian mênh mông, chúng ta hình dung ra phải không? Không gian mênh mông ra. Hình dung ra không? Hình dung ra. Cái không gian này có trước hay Thượng đế có trước?

[1:03:33]Khó trả lời nha! Vì nếu cái không gian mênh mông này có trước rồi Thượng đế mới có sau, rồi trong không gian đó Thượng đế mới tạo ra trái đất, con người, thì như vậy Thượng đế chưa phải tuyệt đối bởi vì không gian này có trước Thượng đế. Như vậy Thượng đế không phải là người đã tạo ra tất cả, phải không? Không gian và thời gian là hai khái niệm của vũ trụ mà. Nếu không gian có trước, Thượng đế có sau thì Thượng đế không phải là tuyệt đối tạo ra tất cả. Thôi bây giờ nói Thượng đế có trước, không gian có sau đi. Nếu Thượng đế có trước không gian thì Thượng đế ở chỗ nào? Phải có chỗ để ở chứ! Mà hễ có chỗ ở là phải có không gian để ở.

[1:04:13]Mà không gian lúc đó chưa có thì Thượng đế ở đâu? Thì khó trả lời đấy! Thôi, không gian và Thượng đế có cùng thời. Có cùng thời thì Thượng đế không tạo ra được không gian. Rắc rối nhỉ. Bây giờ cũng vậy, đối với thời gian cũng vậy. Thời gian là quá khứ, hiện tại, vị lai và trôi mãi trôi mãi như vậy. Vậy thời gian có trước hay Thượng đế có trước?

[1:04:40]Mình nói rằng thời gian có trước thì như vậy là Thượng đế không toàn năng phải không? Thượng đế không toàn năng. Thôi bây giờ Thượng đế có trước. Nếu Thượng đế có trước rồi thời gian có sau thì Thượng đế bắt đầu từ lúc nào?

[1:04:56]Bắt đầu từ lúc nào để xây dựng vũ trụ vạn hữu? Không có. Mà nếu nói là Thượng đế đồng thời với thời gian thì Thượng đế cũng không tạo ra được thời gian. Đó cái khái niệm mà của không gian và thời gian so với Thượng đế mình không tìm được chỗ đứng thật sự vững chắc. Rồi bây giờ một câu hỏi nữa. Bây giờ có Thượng đế rồi, lúc đó Thượng đế chưa tạo ra gì hết nè. Tại sao trong cô độc đó Thượng đế buồn tạo ra đủ thứ chuyện hết trơn? Tạo ra con người và con người đau khổ quá sức như hiện nay? Tại sao? Và cái trạng thái của Thượng đế lúc mà chưa có gì hết là gì? Có phải là hình ảnh của ông già ngồi một mình trong cô đơn,

[1:05:41]hiu quạnh giữa vũ trụ bao la mênh mông không có gì hết? Rồi buồn quá cái thôi tạo ra cái này tạo ra cái kia cho vui, phải không? Tức là một con người cô độc tạo ra những đồ chơi cho mình nhưng mà không ngờ những cái món đồ chơi đó trở thành đau khổ và Thượng đế không kiềm lại được nữa, không xóa được nữa. Bây giờ vũ trụ cứ tiếp tục diễn biến theo cái quy luật vật lý của nó và nếu có Thượng đế thì Thượng đế không biết ở đâu, ở chỗ nào, làm gì. Đó là những cái sự bế tắc của Thượng đế. Những câu thầy vừa hỏi có ai trả lời được không? Nếu mà người nào trả lời được những câu này người đó thông minh nhất thế giới.

[1:06:24]Đó là những cái mà gọi là sự bế tắc của Thượng đế, của khái niệm Thượng đế. Nên chúng ta thấy đạo Phật hay là từ ban đầu Phật không chấp nhận Thượng đế, mặc dù vào thời đó Ấn Độ giáo cực kỳ tin nơi Thượng đế. Và Đức Phật đã phê bình luôn cái khái niệm mà tin nơi Thượng đế nó gồm những điều thế này: Một, có những vị trời sống lâu quá, có thần thông và có ảo tưởng mình là người tạo vật. Chính người đó là tà kiến vì đó không phải Thượng đế. Thứ hai là có những ảo ảnh của cái người cõi người nè, gặp một vị thần nào đó, vị thần đó thấy người ta tin Thượng đế quá xưng mình là Thượng đế. Và từ đó cái người kia:

[1:07:04]"À tôi đã gặp Thượng đế", rồi lan truyền cái niềm tin về Thượng đế đó vào trong loài người. Mà đây là điều mà những người Do Thái bị nè. Những vị thần hiện ra trong cái Thánh kinh Cựu ước của Do Thái giáo hầu hết là những loại này. Những cái vong linh nào đó hay là những vị thần nào đó cứ hiện ra với ông Abraham, với cái ông... nhiều cái tên Do Thái giờ thầy quên mất, ông này ông kia rồi tự cứ tự xưng mình là Thượng đế và người ta nghe nói vậy tin liền và cứ truyền niềm tin đó cho con cháu. Chứ sự thực cái người mà xưng là Thượng đế người đó không phải Thượng đế, người đó chỉ mạo nhận thôi. Vì hiện ra họ tạm thời thôi.

[1:07:42]Giống như là có nhiều người tu trong đạo Phật vậy, do ham quá rồi tự nhiên thấy Đức Phật hiện ra, sự thật đó không phải Đức Phật, đó chỉ là một ảo ảnh và nhiều khi đó chỉ là ma mà xưng là Phật chứ. Đó là cái gọi là chính ngày xưa nhiều vị thần ác ôn đã xưng mình là Thượng đế và loài người đã tin theo, ừ tin. Mà có cái khổ thế này, là con người ta

[1:08:07]nói nhân danh Thượng đế, nói vì Thượng đế, sự thật là làm theo ý muốn mình và làm khổ người khác không à. Giống như Thiên Chúa giáo, thời gian nói là vì Thượng đế rồi đem mấy cái người mà đi ngược ý mình ra đốt đi, thiêu đốt trên giàn hỏa hoặc là căng người đó ra. Bên Thiên Chúa giáo họ có những cái dụng cụ để tra tấn độc đáo lắm. Biểu cái người đó mà bị kết tội là ngược với nhà thờ đem vô cột bốn tay bốn chân ra bắt đầu họ quay, quay rồi cái nó căng ra từ từ từ từ đó. Căng từ từ bắt đầu cái mấy cái cái gân nó không giữ được cái xương nữa cái nó vuột ra kêu rắc rắc rắc rắc từ từ, kéo đứt tay đứt chân người ta hỏi luôn.

[1:08:47]Thì có những cái cách mà để tra tấn mà những cái văn bản Thiên Chúa giáo truyền lại vậy: Nếu mà hắn bị bắt thì phải biết rằng hắn đã phạm tội. Mà hắn đã phạm tội mà hắn chưa chịu khai thì phải làm cho hắn khai. Mà hắn khai rồi thì phải xử tội hắn. Thì hễ bị bắt rồi trước sau cũng chết, bị xử tội tới mà chết mà, những dụng cụ tra tấn hoặc là những cái cạp đầu, để vào đầu bóp từ từ bằng máy, bóp một lát từ từ bể rắc rắc rắc rắc bể rồi vọt óc ra chết, những dụng cụ. Hoặc là bây giờ người Hồi giáo vậy, họ đánh bom giết một sập một tòa nhà mấy trăm người, họ nói là họ nhân danh Allah, họ vì Allah vì Thượng đế họ làm điều đó.

[1:09:31]Mà chúng ta thấy, nếu thật sự có một Thượng đế là ông đó là một người bị oan nhất trên cõi đời này. Không có ai bị oan bằng Thượng đế hết trơn. Là con người ta đã nhân danh Thượng đế giết hại và làm nhiều điều tàn bạo, độc ác với nhau. Cũng may mắn là có lẽ Thượng đế không có, nếu nói theo giáo lý của đạo Phật, hay nói theo Nietzsche là Thượng đế đã chết, may mắn như vậy. Chứ nếu thật sự có Thượng đế thì đó là một con người, một vị mà bị oan nhiều nhất trong vũ trụ này. Bây giờ mình có bị oan nhằm nhò gì, chưa bằng Thượng đế bị oan. Nếu một lúc nào đó có người họ mắng mình, nói rằng: "Anh đã ăn cắp của người ta một tỷ đồng", hay là:

[1:10:15]"Anh đã làm nhiều chuyện đồi bại, anh đã làm xấu xa, anh là nhơ bẩn, anh là có đuôi mà anh giấu trong quần anh", ví dụ vậy, họ nói mình oan nhiều điều thì mình vẫn phải mỉm cười vì nói: "Oan mình vẫn chưa bằng Thượng đế bị oan". Vì sao? Vì người ta cứ nhân danh Thượng đế mà người ta giết hại nhau miết. Cho nên nếu có Thượng đế, Thượng đế là người bị oan nhất. Như bên Hồi giáo vậy, họ khủng bố con người, ngay cả họ ngược đãi phụ nữ, họ đều nói là vì Thượng đế. Thật là như vậy.

[1:10:50]Như vậy tất cả những cái điều mà hiện ra là do gì? Trong giáo lý đạo Phật cho tất cả là do nhân duyên gồm ba điều. Thứ nhất là vật lý, thứ hai là tâm lý, và thứ ba là nhân quả nghiệp báo. Tất cả mọi chuyện xảy ra trong vũ trụ, trong trái đất, trong con người đều do ba yếu tố đó: vật lý, tâm lý và nhân quả. Vật lý là sao? Ví dụ như là trời lạnh, mây đọng lại giọt nước rớt xuống, hiện tượng vật lý. Rồi ví dụ như là mình muốn xây cái nhà này thì gồm vật lý và tâm lý, nghĩa là có ý muốn xây của mình là tâm lý phải không? Có vật liệu là vật lý, là tâm lý và vật lý.

[1:11:34]Ví dụ như hôm nay tự nhiên mình mình khởi cái ý muốn mình đi ra ngoài đường, tự nhiên mình đi con đường mé bên trái thay vì mé bên phải cái mình lượm được một cái tờ vé số, đi hỏi không ai ẵm mình buộc phải dò, chiều trúng mất một tỷ. Thì như vậy nó là ba yếu tố luôn. Thứ nhất là vật lý phải không, là vật chất, thứ hai là tâm lý, tự nhiên mình khởi ý muốn đi bên trái, thứ ba là nhân quả, nó có cái sự chi phối của nhân quả nghiệp báo, tất cả những điều đó hội tụ lại cái thành sự việc như vậy. Và cứ lấy ba điều kiện đó: tâm lý, vật lý, nhân quả, thì chúng ta có thể giải thích được tất cả mọi điều xuất hiện trên trái đất, trong vũ trụ này hết, không sợ lỗi thời.

[1:12:13]Nên khoa học tiến bộ tới đâu thì tiến bộ, đạo Phật không sợ lỗi thời. Và còn có một điểm mà khoa học chưa thấy nữa là nhân quả. Khoa học á có thể thấy được sự diễn biến của tâm lý tác động lên vật lý, sự diễn biến của vật lý tác động lên vật lý, tác động lên tâm lý để tạo thành mọi điều và tạo thành máy móc, phương tiện đủ thứ, nhưng khoa học chưa thấy được yếu tố của nhân quả nghiệp báo nơi cái thiện ác của con người để rồi tạo thành vô số điều trong thế giới, trong vũ trụ này. Nên đây là điểm mà khoa học vẫn còn thua đạo Phật. Một ngày nào mà khoa học tìm luôn được yếu tố cuối cùng là yếu tố nhân quả, lúc đó khoa học mới bằng đạo Phật.

[1:12:53]Nhưng mà ngày hôm nay thì mình đã có đủ ba điều này, nên mình yên tâm, khoa học tiến tới đâu cứ tiến, mình cứ tu thôi. Và có thể vững tin được, không bao giờ mình bị lung lay. Nên trong thiên niên kỷ tới á, trách nhiệm của người đệ tử Phật là truyền bá chánh pháp song song với việc tu học của bản thân. Đây phải là một cái nhiệm vụ thiêng liêng của người đệ tử Phật trong thiên niên kỷ tới. Là bây giờ hễ chúng ta bước tới đạo Phật, chúng ta nói tới đạo Phật là phải đặt tới cái trách nhiệm của mình trong vấn đề truyền bá chánh pháp, trong vấn đề làm cho người ta tin hiểu nhân quả, trong vấn đề làm cho người ta có được trí tuệ

[1:13:33]không phân biệt chia rẽ, đó là nhiệm vụ trong thiên niên kỷ tới. Chứ từ đây về sau mà khi nói tới đạo Phật, chúng ta không được quyền chỉ nói tới việc tu hành giải thoát giác ngộ của bản thân nữa, từ đây về sau. Đây là điều mà thầy nhắc nhở cho các cô, các thầy, cho tất cả mọi người, những ai có duyên với thầy. Đây là một thông điệp quan trọng. Và thầy nghĩ rằng nhiều vị tôn túc khác, nhiều vị thầy, vị cô khác cũng sẽ đồng quan điểm với thầy về điều này, là song song với việc tu học của mình, mình phải làm cách nào đó để truyền bá chánh pháp.

[1:14:13]Mọi người phải để vào tâm hồn mình cái lý tưởng này. Và cái việc mà truyền bá chánh pháp thì nó cũng tùy duyên á, tùy duyên. Có người sẽ truyền bá được ra lan rộng, mà có người sẽ truyền bá được trong phạm vi hẹp. Nhưng ở đây thì mình nói tới cái người Phật tử trước. Tăng Ni thì bổn phận truyền bá phải mạnh, là phải biết thuyết pháp, biết cách hướng dẫn, giúp cho người khác đi vào đạo cho sâu, cho giỏi, và hướng dẫn người Phật tử tu giỏi và truyền đạo cho giỏi. Còn người Phật tử cũng phải biết cái cách để truyền bá chánh pháp, giúp cho người khác tin hiểu Phật pháp. Nên cái người Phật tử á ít ra người Phật tử thì đến khi mình chết phải phát

[1:15:02]nguyện là đã giúp được cả trăm người hiểu đạo. Mà nếu giúp cho họ quy y luôn càng tốt.

[1:15:11]Đó là tiêu chuẩn, tiêu chuẩn phát nguyện của một người Phật tử cư sĩ á. Là từ khi biết đạo tới khi mình chết phải làm sao truyền bá được, giúp cho cả trăm người hiểu đạo. Khó không? Khó không? Con số này là vừa khó á, vừa khó. Những người có duyên á thì sẽ nhiều hơn, nhưng những người ít duyên thì nhiều khi giúp cho 10 người, 20 người hiểu đạo là khó rồi. Nhưng mình đặt cái mức 100 người là cái mức hơi khó một chút để phấn đấu. Nên ở đây là quý thầy, quý cô coi lại nha. Đó là thầy nói cái tiêu chuẩn của người Phật tử đó, chứ còn quý thầy, quý cô là phải nhiều hơn. Là vừa hướng dẫn những người đã là Phật tử,

[1:15:59]mà phải hướng dẫn cho những người Phật tử đó truyền bá ra bên ngoài luôn. Phải có suy nghĩ về điều này một cách sâu sắc.

[1:16:13]Rồi một điều nữa thế này: Mình phải tạo thành cái truyền thống cho những người cư sĩ Phật tử, là ví dụ như đem giúp cho người nào hiểu đạo, đem được người nào về chùa quy y thì phải có bổn phận chăm sóc, giúp đỡ, nhắc nhở người đó suốt đời luôn, tạo thành cái truyền thống, thành cái lệ trong đạo Phật.

[1:16:35]Giới thiệu ai lên chùa quy y rồi, sau khi quy y rồi người đó về thì mình là người tới lui, xem xem người đó tu hành tiến bộ thế nào. Đó, đây là cái cách thức mới mà người Phật tử phải làm. Mà muốn cho người Phật tử làm được điều này thì ai phải nhắc nhở? Tăng Ni. Tăng Ni phải nhắc nhở. Ví dụ như sau này quý thầy, quý cô lớn lên mình có đệ tử, hôm nào đó cái người Phật tử mình đem người người chưa quy y tới: "Thưa thầy, đây là người bạn con, là sau khi mà hiểu đạo, muốn lên đây nhờ thầy làm lễ quy y, xin thầy làm bổn sư". Thì làm lễ xong thì cái người thầy, cô mà truyền giới quy y đó phải dặn cái người mà giới thiệu á, mới nói:

[1:17:21]"Từ đây là Phật tử phải về chăm sóc cho cái người mà mình đã giới thiệu, nhắc nhở họ, coi họ đã tu có tiến bộ hay không, có những gì khó khăn trong đời sống hay không". Phải có bổn phận như vậy. Như vậy từ đây về sau quý thầy, quý cô phải dạy qua hai, ba lớp, không phải dạy cái người đến chùa mình trực tiếp là thôi, mà phải dạy cho cái người đó làm việc đạo sau khi rời khỏi chùa, phải làm điều gì, làm điều gì. Tức là từ đây về sau Tăng Ni đó, cái mà hướng dẫn cho Phật tử không phải là chỉ hướng dẫn cho người đó tu thôi, mà phải hướng dẫn cho người đó về trong cộng đồng xã hội của họ, biết cách làm Phật sự, biết cách truyền bá chánh pháp nữa,

[1:18:02]và phải kiểm tra, phải nhắc nhở coi người này đã làm được điều gì, làm được điều gì. Chứ không còn là gặp lên hỏi: "Ờ, khỏe không? Nay tu tới đâu rồi?", rồi thôi, hết chuyện, không phải. Hoặc là chỉ ngồi giảng cách tu cho người đó, không phải, mà phải giảng cho cái cách người đó về nhà họ làm được việc gì trong Phật pháp nữa. Tức là quý thầy, quý cô phải có trí tuệ gấp đôi lúc trước. Là trong thiên niên kỷ tới là như vậy đó, quý thầy, quý cô phải có trí tuệ gấp đôi, giáo hóa cho một người trở thành một vị chí nguyện trong Phật pháp, chứ không còn chỉ là một người thờ ơ, thụ động trong Phật pháp như trong hai thiên niên kỷ qua nữa.

[1:18:43]Thầy nói vậy hiểu không? Nhận ra chưa? Đồng ý không? Thì như vậy ví dụ như bây giờ là thầy nói là quý cô, quý chú, quý thầy lớn lên á, nhưng ví dụ bây giờ đang còn ở đây với thầy, lúc nào đó thầy đi vắng thì vẫn phải thay thầy làm điều này. Phải không? Là người Phật tử lên, sau khi hỏi thăm gia đình, sức khỏe, việc tu hành, rồi hỏi thêm là: "Hôm giờ đã giúp cho ai hiểu được Phật pháp chưa? Là đưa băng cho mấy người được nghe? Đó, giải thích như thế nào? Đã giới thiệu được bao nhiêu người quy y? Rồi cái người đã giới thiệu quy y đó về nhà có tiếp tục chăm sóc, nhắc nhở, giúp đỡ người ta hay không?". Đó.

[1:19:27]Cho nên bây giờ nếu không có thầy thì các cô, các thầy cũng phải cũng phải làm việc đó ngay bây giờ, thực hành từ bây giờ. Nha?

[1:19:39]Rồi có một điều mà thầy ưu tư, coi vậy chứ Kitô giáo thì không ưu tư. Thì vì Kitô giáo những lời dạy Chúa Giê-su có vài điều gần với Phật pháp, không đến nỗi. Với lại là Kitô giáo trong thời đại này họ nép mình trong luật pháp nên họ không có làm điều sai lầm, không có sợ, mà sợ Hồi giáo. Hồi giáo bất chấp luật pháp, bất chấp lương tâm, mà họ chỉ nói nhân danh Thượng đế Allah, sẵn sàng đem bom giết người ta, sẵn sàng truyền đạo bằng bạo lực, sẵn sàng tiêu diệt tôn giáo khác bằng bạo lực. Cho nên cái hiểm họa trong thiên niên kỷ tới là Hồi giáo. Và chúng ta, người đệ tử Phật, không được quyền thờ ơ với cái hiểm họa Hồi giáo này.

[1:20:24]Nên trong thiên niên kỷ tới là cái điều mà chúng ta phải lo lắng nhất là Hồi giáo. Mà người Phật tử mình phải có cái hướng đi, có trách nhiệm, có kế hoạch để đối phó với hiểm họa này một cách cụ thể chứ không có ngồi chờ. Không có ngồi chờ một ngày nào đó cái đền thờ Hồi giáo xây dựng bên nhà mình, không có ngồi chờ nữa. Mà phải có kế hoạch từ bây giờ. Mà tất cả mọi người đệ tử Phật đều phải quyết tâm đối phó với hiểm họa này, chứ không có thờ ơ nữa. Mà đối phó bằng cách nào? Dĩ nhiên là không có bằng bạo lực. Đạo Phật mình không có sử dụng bạo lực. Mà bằng cái gì?

[1:21:08]Bằng tình thương và bằng lẽ phải.

[1:21:13]Bằng tình thương và bằng lẽ phải. Nghĩa là sao? Nghĩa là trước hết mình phải thương yêu cái người Hồi giáo đó trước. Biết họ là nguy hiểm đó, biết cái sự xuất hiện của họ trong xã hội là nguy hiểm đó, nhưng mà vẫn phải thương họ cái đã. Phải khởi tâm từ bi quán, quán từ bi nơi họ cái đã, rải từ bi đến họ cái đã. Rồi sau đó mới bằng lẽ phải là bằng đạo lý. Rồi phải tìm cách làm quen họ. Mặc dầu mới là có thể họ là người Java hay người Chà, râu ria rậm rạp gì đó đen đen vậy kệ, cứ tới làm quen, chiếm cảm tình, cần giúp đỡ họ cái gì đó, rồi từ từ nói đạo lý cho họ nghe. Đây là một cuộc một cuộc vận động

[1:21:57]toàn diện với tất cả mọi người nào là đệ tử Phật á. Bất cứ vùng nào mà hễ mình thấy xuất hiện bóng dáng của người Hồi giáo, bóng dáng của đền thờ Hồi giáo là phải tới tìm hiểu liền. Ở đây ai là chủ đền? Những ai là tín đồ? Cái nhà tín đồ nhà ở đâu? Và là mình khuyến khích những người Phật tử mình tới họ, tiếp xúc làm quen họ hết, thương yêu giúp đỡ họ và từ từ giải thích cho họ nghe về luật nhân quả. Từ từ, đó. Đây là một công cuộc phải kiên trì nhẫn nại lâu dài. Phải như vậy, phải tấn công bằng tình thương và bằng lẽ phải trong 1000 năm tới. Cái công trình này rất là lâu dài. Mà nếu mình thờ ơ thì mình có tội với Phật pháp.

[1:22:41]Từ từ họ sẽ tiếp tục họ tái diễn lại lịch sử là một lúc nào đó họ đem bom và đem súng tiêu diệt cái chùa hết, giết hết tất cả Tăng Ni. Vì lúc đó họ đã chiếm đa số trong xã hội rồi thì họ sẽ tiêu diệt đạo Phật như ngày xưa họ đã tiêu diệt đạo Phật tại Ấn Độ. Bây giờ mình phải khôn, không được ngồi chờ lịch sử tái diễn mà phải chủ động để làm việc. Nghĩa là bất cứ nơi nào phát hiện có người Hồi giáo là người đạo Phật phải tiếp cận với họ liền. Phải làm quen, chiếm cảm tình, giúp đỡ, tìm hiểu tâm tình của họ và nói chuyện đạo lý với họ, làm cho họ phải tin hiểu nhân quả, làm cho họ có trí tuệ không phân biệt chia rẽ.

[1:23:24]Và nếu cần, cho họ biết về sự bế tắc của khái niệm Thượng đế nữa. Đến lúc nào họ có cảm tình mạnh rồi, họ thấy giáo lý đạo Phật họ tin được rồi thì nói thẳng cho họ biết cái giáo lý về khái niệm Thượng đế tạo vật là một sai lầm của nhân loại. Nói thẳng luôn. Phải hiểu rằng mình giáo hóa được một người đạo Hồi là gỡ được một mối nguy cho thế giới. Phải hiểu như vậy. Mình không đánh giá thấp họ, nhưng mà không được chủ quan đối với Hồi giáo. Có những người Hồi giáo hiền lành lắm, nhưng mà khi cần mà có một người giáo chủ, một người giáo sĩ ra lệnh họ cầm súng bắn, họ cầm súng bắn liền, dù trước đó họ rất hiền lành.

[1:24:08]Cho nên đây là mối nguy, chúng ta không được thờ ơ. Và gỡ được từng cái mối nguy, từng mối nguy đó cho thế giới bằng cách là phải giáo hóa những người đạo Hồi. Đây là thông điệp mà thầy gửi đến cho tất cả những người đệ tử Phật. Đó là đối với hiểm họa Hồi giáo. Bây giờ đối với đạo Phật là mình phải tìm lại sự hòa hợp trong đạo Phật. Không thể để đạo Phật tiếp tục phân hóa chia rẽ như vậy nữa. Đạo Phật mà nếu mình không khéo, cứ đi theo cái cảm tính của con người sẽ càng lúc càng chia rẽ. Thậm chí là không có tông phái để chia rẽ thì từng chùa chia rẽ với nhau. Đây là một cái nỗi đau trong đạo Phật

[1:24:47]mà trong thiên niên kỷ tới chúng ta không chấp nhận cái nỗi đau này xuất hiện nữa. Chúng ta không chấp nhận cái tệ trạng này xuất hiện nữa là các chùa trong đạo Phật, các tông phái trong đạo Phật chia rẽ với nhau. Nhưng mà muốn đoàn kết lại với nhau thì phải làm điều gì? Thì chúng ta phải tìm lại những điểm chung mà không thể phủ nhận. Những điểm chung đó là gì? Là đạo đức. Phải lấy cái giáo lý đạo đức ra phát triển mạnh mẽ. Bất cứ tông phái nào dù tu Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông gì, Nam tông, Bắc tông gì đều phải chấp nhận là đạo đức. Là những điểm như là lòng từ bi, lòng vị tha, sự tận tụy, sự hy sinh, sự nhường nhịn,

[1:25:30]sự nhu thuận, vân vân, những tiêu chuẩn mà 30 bài thầy nói là điều không thể phủ nhận ở bất cứ tông phái nào. Đó là điểm chung. Thứ hai là nhân quả nghiệp báo. Cái giáo lý này là không thể phủ nhận. Nếu cái tông phái nào đó mà có một cái giáo lý nào đi ngược lại nhân quả là phải phải tự mình dẹp cái giáo lý đó để giữ lại nhân quả. Vì đây là điểm chung và điểm gốc của đạo Phật, không thể một cái giáo lý nào đó mình sáng tạo ra rồi đi ngược lại nhân quả, giống như ông Thân Loan bên Nhật Bản, bất chấp tội phước chỉ cần niệm Phật mà vãng sinh thì điều đó là điều sai nhân quả, phải dẹp đi, phải tự mình từ bỏ cái giáo

[1:26:07]lý sai nhân quả để trở lại cái điểm chung trong đạo Phật trên khắp thế giới. Thứ ba nữa là giáo lý về giải thoát. Đây là cái mục tiêu, là lý tưởng của đạo Phật thì đây là điểm chung, không thể nói khác được. Dù mình có nói vãng sanh Cực Lạc rồi cuối cùng vẫn phải giải thoát, dù có nói ngộ được Phật tánh rồi cuối cùng vẫn phải giải thoát. Giải thoát là gì? Vượt thoát được chấp ngã, không còn chấp ngã. Đó là giải thoát. Dù có vãng sinh, dù có giác ngộ, đốn ngộ gì rồi cũng phải đạt cho được cái vô ngã. Là giải thoát. Đó, đây là những cái điểm chung này. Đạo đức nè, nhân quả nè, giải thoát, đó là những điểm chung mà không thể phủ nhận được và

[1:26:48]chúng ta phải dựa vào những điểm chung này để chấp nhận nhau. Mà nếu có phát triển đi về lý luận thì không bao giờ được đi ngược lại những điểm chung này. Đó là về giáo lý. Về giáo lý, đạo Phật phải tìm lại điểm chung để hòa hợp lại, xóa đi ranh giới tông phái, bỏ tông phái, bỏ hệ phái, bỏ giáo đoàn bớt đi, tìm lại một đạo Phật chung. Thứ hai là Tăng Ni phải hỗ trợ nhau làm việc đạo. Hỗ trợ nhau làm việc đạo bằng cách nào? Hai trường hợp: Thứ nhất, cái người nào đã thành công rồi phải tìm cách san sẻ sự thành công cho người khác. Ví dụ như mình đã nổi tiếng rồi, mình đã thành công rồi phải tìm cách chỉ vẽ

[1:27:32]giúp cho Tăng Ni khắp nơi cũng nổi tiếng, cũng thành công, cũng giỏi được như mình, chứ không được giữ cái cái giỏi đó, cái nổi tiếng, cái tiếng tăm đó cho một mình mình. Thứ hai là người chưa thành công, chưa nổi tiếng, chưa làm được việc thì mình hoan hỷ đứng phía sau ủng hộ những người làm được việc. Đó là cái cách Tăng Ni ủng hộ nhau. Mà nếu ủng hộ được như vậy thì đạo Phật sẽ rất là hòa hợp. Như vậy cái sự hòa hợp đạo Phật trong thiên niên kỷ tới mà chúng ta tìm, thứ nhất là tìm điểm chung trong giáo lý,