[0:09]Hôm nay chúng ta học bài Bồ Tát hạnh. À tại sao chúng ta lại học cái Bồ Tát hạnh trong bộ thiền học? Khi học thiền nghĩa là chúng ta học cái phương pháp để thực hành nhiếp tâm. Do vậy chúng ta buộc cũng phải nói tới những kết quả của sự nhiếp tâm trong thiền, là ta đã nói tới Tứ thiền và Tứ quả. Ừ nhưng mà trong hệ thống đạo Phật kể cả Nam tông và Bắc tông đều tồn tại một hàng chư thánh rất là đặc biệt, đó là các vị Bồ Tát lại không được liệt kê theo cái hệ thống Tứ thiền Tứ quả mà các ngài lại được xếp ra một hàng khác rất đặc biệt, nhưng cũng là những quả thánh. Nên buộc lòng chúng ta cũng phải nói qua.
[0:57]Mặc dù là khi nói qua công hạnh Bồ Tát thì chả ăn nhập gì hết với cái việc mà chúng ta tu tập thiền định, cho nên bài hôm nay giống như là một bài bổ sung ngoại khóa nên chúng ta nghe để hiểu thêm. Còn hai bài kế tiếp thì lại rất là quan trọng, hai bài kế tiếp sau này.
[1:18]Chữ Bồ Tát à chúng ta âm ra từ cái chữ Bodhisattva Bồ Đề Tát Đỏa, Bodhisattva.
[1:32]Ở đây là chữ săng-ri, chữ Phạn. Chữ sattva này tiếng Anh dịch là being nghĩa là một hữu tình có tâm thức, nhưng cái hữu tình này có cái Bodhi là gì? Bồ Đề đó nghĩa là trí giác, tức là một một hữu tình chứ không phải là cây đá, nhưng mà có cái trí tuệ sáng suốt. Cái nghĩa đơn giản vậy. Chứ cái nghĩa của từ vựng thì đơn giản, nhưng mà cái ý nghĩa của chữ Bồ Tát nằm trong lòng của chúng sinh thì sao? Rất là rất là lớn lao phải không? Rất là lớn lao. Nghĩa là khi chúng ta gọi một người là Bồ Tát thì thường thường người đó có đặc tính gì? Đúng! Ai trả lời câu đó vậy cà? Đứng lên à, giỏi. À! Là khi mà chúng ta thấy một người nào mà có lòng thương tưởng đến nhiều người,
[2:28]lòng rất là bao dung rộng lớn thì ta gọi người đó là Bồ Tát, chính xác. Như vậy trong thực tế đời sống, chúng ta hiểu Bồ Tát là một người, một hữu tình đầy lòng thương yêu. Nhưng mà trong chữ nghĩa, chữ Bồ Tát lại là một hữu tình trí giác, trí tuệ giác ngộ. Cho nên giữa chữ nghĩa và trong thực tế đời sống có cái khác nhau như vậy. Thì ở đây, chúng ta phân biệt ra nhiều hạng Bồ Tát. Thì Bồ Tát thứ nhất á là chúng ta nói về tổng quát, tức là Bồ Tát là những người mà hướng đến Phật quả, hướng đến Phật quả.
[3:11]Thường thường á là đa số khi chúng ta tu hành thì mỗi người có một cái mục đích khác nhau đến với Phật pháp. Chúng ta không nói đến với đạo khác nha, đạo khác thì hoàn toàn không có cái mục tiêu giải thoát giác ngộ. Mình không nói, mình chỉ nói trong đạo Phật. Nhưng mà khi nghiên cứu trong đạo Phật, chúng ta thấy mỗi mỗi một người có cái sự phát tâm khi tu hành khác nhau. Có người nói: "Tôi tôi cầu sao chết cho nó yên ổn, đừng có đày đọa thân xác là được." Có người vậy, mục tiêu nhiêu đó rồi ráng tu, ráng đi chùa, ăn chay, niệm Phật gì đó, được. Có người nói: "Tôi cầu sao chết, tôi vãng sinh về cõi Phật." Có người nói:
[3:51]"Thôi tôi chết, tôi về cõi trời Đâu Suất tu với Bồ Tát Di Lặc." Có người nói: "Thôi, tôi sợ sống chết sinh tử này quá rồi, cho nên tôi tu làm sao cho chết, đừng có luân hồi tái sinh." Có những mục tiêu như vậy. Có những người nói: "Sao tôi tu sao để tôi chứng ngộ giải thoát, làm thánh ngay đời này." À nhưng mà riêng người mà được gọi là Bồ Tát, tức là cái người đó trong tâm khát khao cái tuyệt đối, cái hoàn hảo, không bao giờ chấp nhận một cái gì thoả mãn giữa chừng. Ví dụ như là nó còn một cái gì mà có thể chứng cao hơn nữa thì vị đó luôn luôn nhắm tới, không chịu dừng lại. Cái ý nghĩa của Bồ Tát là vậy. Tại vì sao vậy?
[4:31]Bởi vì chỉ có cái người có trí tuệ mới khát khao cái hoàn hảo, cái tuyệt đối; còn cái người mà không có trí tuệ thì chấp nhận một cái gì vừa phải giữa chừng. Cho nên cái chữ mà Bodhi nó nằm gắn ngay đó thì tức là một cái hữu tình này có trí tuệ, cho nên cái vị hữu tình này không bao giờ chấp nhận một cái gì mà chưa có tuyệt đối. Nên do đó hễ nói là Bồ Tát chắc chắn là người nhắm đến Phật quả, bởi vì chỉ có Phật quả mới là cái tuyệt đối hoàn toàn. Nhưng mà do đâu chúng ta biết là Bồ Tát thì nhắm đến Phật quả? Đầu tiên là ở trong trong hệ thống kinh tạng Nikaya, mà nhất là bộ truyện Bổn Sanh á. Trong kinh tạng Nikaya có mấy tập Bổn Sanh kể về các
[5:22]tiền thân của Đức Phật thì các nhà sử học thì cho rằng cái bộ truyện Bổn Sanh đó không có xuất hiện đúng vào thời Đức Phật mà sau Phật một vài trăm năm. À tại sao vậy? Bởi vì các nhà sử học nghiên cứu thấy là cái lời lẽ trong đó nó trau chuốt như là cái lời văn viết chứ không phải nó mộc mạc như văn nói. Còn những cái bộ mà Trung bộ, Trường bộ, Tiểu bộ đó thấy văn nói rõ ràng, là văn nói được truyền khẩu, người ta thuộc lòng rồi người ta truyền từ đời này sang đời kia nên cái vẻ mộc mạc, chất phác còn nguyên. Nhưng mà khi qua tới cái bộ Bổn Sanh rồi, bắt đầu câu văn có được chuẩn bị, là có trau chuốt, nên người ta kết luận như
[6:05]vậy, thì mình cũng không biết ất giáp gì. Mình nghe người ta nói làm sao thì mình cũng hay như vậy. Tuy nhiên, à khi chúng ta đọc vào cái bộ Bổn Sanh đó thì chúng ta thấy cái đạo lý nó gắn với cái thời Đức Phật còn tại thế nhiều lắm, chứ không phải là chuyện sau Đức Phật. Cho nên chúng ta có thể ước đoán rằng là vào thời Đức Phật còn sống, còn tại thế thì Đức Phật vẫn thường thỉnh thoảng kể một vài tiền thân của mình. Kể rồi nhưng mà khi kết tập kinh điển thì không được kết tập. Thế mà những câu chuyện đó cứ tiếp tục được truyền khẩu, cho nên sau này có vị nào đó đã phát tâm sưu tập lại hết, viết thêm, bổ sung cho hoàn chỉnh, mới tạo thành những cái tập
[6:48]mà Bổn Sanh rất là nổi tiếng, đọc rất là cảm động và thú vị. Và chúng ta thấy trong những tiền thân của Đức Phật á thì Phật được gọi là chữ Bồ Tát, là Bồ Tát. Là chúng ta hiểu à như vậy Bồ Tát là một người mà khi chưa thành Phật còn lang thang trong cõi này cõi kia, à nhất là cõi người này, để mà gieo duyên với chúng sinh, làm lợi ích chúng sinh, gieo trồng những hạnh nguyện, tích lũy công đức để chuẩn bị cho cái ngày mà thành Phật. À chúng ta hiểu là Bồ Tát là như vậy. Và trong những cái chuyện Bổn Sanh đó thì chúng ta bắt gặp nhiều hình ảnh của Đức Phật trong nhiều kiếp luân hồi rất là lạ lùng.
[7:29]Ví dụ có những những kiếp mà ngài là một vị giáo sư dạy nghề, nghĩa là vào thời xa xưa nào đó, Trái Đất chúng ta hoặc là một cõi nào đó, cũng có những cái thời văn minh mà có những cái trường dạy nhiều nghề và những thanh niên lớn lên cũng phải vào trong cái trường đó để học thì Bồ Tát cũng phải thể hiện làm giáo sư để dạy dỗ, nâng niu, dắt dìu người ta, cũng là để gieo duyên. Ừ cũng là bình thường như vậy, nghe không có gì lạ hết. Rồi có một kiếp Bồ Tát lại làm vua là cai trị, thống lĩnh cả một cái vương quốc rồi để mà gieo duyên lành với chúng sinh. Rồi có những kiếp thậm chí Đức Phật làm tới bá chủ thế giới.
[8:10]Cái từ trong đạo Phật là Chuyển Luân Thánh Vương, còn mình gọi bây giờ cái tên nghe hồ đồ là bá chủ thế giới, nhưng mà hồi xưa là Chuyển Luân Thánh Vương. Và thậm chí có những kiếp ngài làm nai chúa để cai quản cái bầy nai mấy ngàn con, hoặc là thậm chí có một kiếp ngài làm con vượn chúa cai quản một bầy vượn, bầy khỉ tới tới tới mấy chục ngàn con lận. Ví dụ như có cái câu chuyện là là lần đó kiếp đó ngài làm con vượn chúa, ngài chăn dắt một bầy vượn thì gặp nhằm cái năm đó trời hạn hán, cho nên nước rồi suối rồi sông khô cạn, nhưng chỉ còn có cái đầm nước thì còn nước. Khi bầy vượn tìm tới rồi mới kêu chí chóe lên, nhào xuống để tính uống.
[8:54]Nhưng mà Bồ Tát là con vượn chúa mới chặn lại nhìn, nhìn thì thấy những cái dấu chân của nhiều con thú đi xuống mà không thấy dấu chân đi ngược trở lên. Như vậy là chuyện gì đã xảy ra? Chuyện gì đã xảy ra? Mất tích đâu dưới đó luôn phải không? Thì xuống đây như vậy cái hồ này có có vấn đề, nhưng vấn đề gì? Thì chúng ta không nghe câu chuyện kể rõ, nhưng chỉ thấy là Bồ Tát, tức là vượn chúa đó, không cho những bầy đàn của mình xuống dưới uống nước, mà ngài mới mới đi quanh quanh hồ, đi quanh quanh hồ rồi ngài mới nhổ một cây sậy lên. Mà cây sậy á, cây sậy cây nó rỗng ruột nhưng mà thời xưa nó có mắt, nó có từng mắt từng mắt.
[9:38]Tại vì sậy nè, tre nè, mía nè, à lau, lúa, kể cả lúa nữa, nó là loại tương cận, cho nên nó luôn luôn có những cái mắt nó chặn ngang chặn ngang. Vào thời đó cây sậy nó cũng bị như vậy. Thì Bồ Tát mới đi quanh bờ hồ, nhổ một cây sậy lên và chú nguyện bằng cái thần lực của mình là nguyện cho những cây sậy này rỗng ruột hết, không còn mắt. Thì lập tức là cái rừng sậy chung quanh nó rỗng ruột, và ngài mới thả cây sậy thiệt dài đó xuống cái đầm nước, hút nước lên. Và thế là cái bầy vượn cũng hút nước bắt chước ngài như vậy. Thì không ngờ dưới đầm này có con con quỷ La Sát ở dưới, nên nó không có trực tiếp nó bắt được ai hết, ngài cứu thoát được.
[10:18]Và cái thần thông đó nó tồn tại, theo kinh ghi như thế này: Từ cái kiếp đó, từ cái kiếp mà Đức Phật làm con vượn chúa á, cho tới cái ngày mà Trái Đất này tận thế là một kiếp, thì vĩnh viễn những cây sậy đều rỗng ruột, mặc dù trước đó thì sậy nào cũng có mắt hết. Bởi vì thần lực biến đổi cái gen của sậy luôn, thế là sậy không bao giờ có mắt nữa cho tới ngày hôm nay và cho tới cái ngày Trái Đất tận thế. Nó lạ như vậy. Đó là một cái thần thông mà trong kinh ghi là mình cũng kinh ngạc. Hoặc là có một câu chuyện là vào cái thời Đức Phật, thì cái lần đó trời mưa thì cái cái phòng ở của Đức Phật lợp không có
[10:54]đủ lá nó bị dột, và phòng của chư Tăng bị dột, thì có một cái ông làm chủ làm đồ gốm, ổng mới nghe nói như vậy ổng lật đật bảo người làm của ổng tháo sạch hết những cái cỏ rơm mà lợp nhà, cỏ tranh lợp nhà của ổng á, bó lại, lật đật chạy qua trong tinh xá, leo lên lợp cho Đức Phật và lợp cho chư Tăng liền, còn nhà ổng chấp nhận mưa ướt sạch. Nghĩa là, với tấm lòng tha thiết vì Phật và chư Tăng như vậy, thì sau đó Phật mới nói thế này: Cảm động vì cái tâm hy sinh, cái tâm tôn kính của ông ông chủ lò gốm đó đối với Phật và chúng Tăng, thì vĩnh viễn cho tới ngày Trái Đất này tận thế, nơi cái ngôi nhà của ông mưa không bao giờ ướt được nữa.
[11:35]Thì trong kinh ghi như vậy, nghĩa là cái thần thông đó do cái tâm nguyện của một người, động đến Trời Đất là tồn tại vĩnh viễn. Chỉ tiếc là bây giờ mình không biết cái vị trí đó ở đâu để mình tới mình kiểm chứng là cái chỗ đó Phật nói vĩnh viễn không bao giờ mưa tới nữa. Mình biết như vậy thôi. Nhiều kiếp như vậy, thì Đức Phật mới sinh ra kiếp cuối cùng vào trong cung vua Tịnh Phạn rồi xuất gia tu hành thành Phật. Ở cái kiếp cuối cùng đó ngài thành Phật, khi mà ngài chuẩn bị nhập Niết Bàn, ngài đi du hành lang thang qua nhiều nơi cùng với chư Tăng, vượt qua nhiều con sông, dùng thần thông bay qua nhiều con sông,
[12:12]đi trên nhiều cái đoạn đường, rồi đi về một cái làng quê hẻo lánh ở Kusinara. Và ngài đến đó ngài nhập Niết Bàn. Thì chuyện mà Đức Phật tìm một nơi để nhập Niết Bàn thì ai cũng biết, nhưng mà khi về một cái làng quê hẻo lánh thì thì chúng ngạc nhiên. Bên cạnh một cái thôn làng hẻo lánh đó thì có một cái rừng sa la không phải là mùa trổ hoa. Thì có một vị mới hỏi Phật là tại sao Thế Tôn á với cái danh vọng, uy đức, uy tín lớn như vậy, không có nhập Niết Bàn ở một cái phố thị, một cái kinh kỳ lớn lao để cho mọi người ngưỡng vọng, mà lại về cái làng quê hẻo lánh như thế này? Đức Phật mới nói: Chớ có nói như vậy, chớ có nói như vậy.
[12:51]Các ông không biết rằng ngày xưa nơi đây là kinh thành của một vị vua Chuyển Luân Thánh Vương, tức là Phật á. Vào thời mà Đức Phật làm bá chủ thế giới thì ngài đóng kinh đô ngay tại cái chỗ Kusinara đó, là Câu Thi Na á. Lúc đó ở đây là một kinh đô cực kỳ sầm uất, nhưng mà trải qua không biết bao nhiêu trăm ngàn năm, bao nhiêu triệu năm thì tất cả biến mất, chỉ còn lại khu rừng sa la trái mùa. Nhưng mà đêm mà Đức Phật nhập Niết diệt thì cả rừng sa la đó, chúng ta nghe chuyện là sao? Trổ hoa rực rỡ thơm ngát để cúng dường Đức Phật lần cuối. Thì vì những cái điều như vậy, cho nên chúng ta biết rằng Bồ Tát
[13:31]là người mà nhắm tới tới Phật quả tối thượng, không phải là một người chấp nhận một cái kết quả gì dở chừng, phải không? Tuy nhiên, trên nguyên tắc thì trong các kinh điển, Đức Phật cũng cho mình là một A-la-hán như là những A-la-hán khác. Ngài vẫn gọi ngài là một A-la-hán, không khác. Như có lần ngài khen ngài Ca Diếp là: Ta có tam minh, Ca Diếp cũng có tam minh; Ta có lục thông, Ca Diếp cũng có lục thông; Nếu không gặp Thế Tôn Phật ra đời thì Ca Diếp vẫn tự mình chứng ngộ. Đức Phật ca ngợi công đức của ngài Ma Ha Ca Diếp lớn lao như vậy. Thì trên lý thuyết, Phật và A-la-hán không khác theo như Phật định nghĩa, nhưng mà chỉ khác là ở chỗ gì?
[14:16]Chỉ khác là Đức Phật là người khai sáng một tôn giáo, mà các vị A-la-hán chỉ là là đệ tử đi theo. Về trí tuệ thì Đức Phật vượt hơn A-la-hán nhiều lần, thần thông Đức Phật vượt hơn A-la-hán nhiều lần, công đức vượt hơn nhiều lần, dung mạo thù thắng hơn nhiều lần, và cuộc đời của ngài là ngài làm chủ hoàn toàn, không một tì vết. Từ lúc mà ngài sinh ra cho tới lớn lên, xuất gia, giáo hóa, tới ngày nhập Niết Bàn hoàn toàn nằm trong bàn tay của ngài, ngài làm chủ toàn bộ. Còn một vị A-la-hán, cuộc sống vẫn có những cái lầm lỗi, vẫn có những tì vết. Có những vị A-la-hán mà khởi đầu cuộc đời xuất thân từ nơi chốn hèn hạ,
[15:02]có những vị A-la-hán mà trước khi xuất gia là những người rất là lầm lỗi, phải không? Còn riêng Đức Phật là ngài đẹp từ đầu cho tới cuối. Đây là cái điểm khác nhau, khác nhau giữa một cái vị giáo chủ như vậy. Tuy nhiên là vào những thời đại sau, khi mà Đại thừa Phật giáo phát triển, thì người ta không chấp nhận cái chuyện mà Phật và A-la-hán cứ sàn sàn bằng nhau, không ai chịu. Nên càng lúc, những cái lý luận của các vị mới đẩy cái Phật quả và cái quả A-la-hán ra cách xa nhau cả trời cả vực luôn. Họ nói rằng không thể nào mà A-la-hán mà nói bằng Phật được, họ bất mãn chịu không nổi, nên đẩy ra cách xa, là những kinh bản Đại thừa.
[15:43]Và đến độ có những lúc người ta cực đoan đến mức người ta công kích A-la-hán luôn, coi như quả vị A-la-hán là thấp kém mà tầm thường nữa, mà mà nguy hiểm nữa. Nó nó nó nghĩa là kỳ lạ, cho rằng A-la-hán là khô khan. Nhưng mà sự thật thì chúng ta thấy là là vào thời Đức Phật á, Đức Phật khen ngợi cái công hạnh của một vị A-la-hán là rất vĩ đại, cái lòng từ bi của một vị A-la-hán đối với chúng sinh là mênh mông phủ trùm. Là Đức Phật nói: Vị A-la-hán đó sống là vì chúng sinh mà sống, chứ các ngài không có lý do gì cần phải sống. Vì lòng thương tưởng đến chư Thiên và loài người mà các ngài sống. Là cái từ bi, cái trí tuệ, thần lực của các ngài giấu trong cái sự
[16:28]trầm mặc, kín đáo, hiền lành, nhẹ nhàng nên chúng ta khó thấy. Mà thấy các ngài hiền lành, trầm mặc quá tưởng ngài tiêu cực, thụ động. Nhưng mà sự thật, A-la-hán là bừng bừng cả bên trong mình, cả trời đất ở trong. Nhưng mà những luận bản về sau thì những kinh Đại thừa cứ chê A-la-hán để đề cao Bồ Tát lên dần dần. Mà đặc biệt có một điều là một vị tổ của Đại thừa, gọi là tổ Đại thừa đó, là ngài Long Thọ, tức là người mà xiển dương Đại thừa tới cùng cực luôn, thì lại là một người bênh vực A-la-hán, kỳ lạ vậy. Trong cái bộ mà Trung Quán Luận có một cái phẩm ngài Long Thọ nói về cái sự định tâm,
[17:13]nói về cái tâm thức, thì lúc đó chúng ta biết là cái đỉnh cao nhất trong đạo Phật là định gì?
[17:22]Diệt Tận Định, đúng. Hồi sáng mấy cô trả lời trật lất nè. Diệt Tận Định, tức là định tới Niết Bàn á, một vị A-la-hán mà nhập Diệt Tận Định tức là các ngài vào trong Niết Bàn chơi trong đó đó, rồi nhưng mà không bỏ không bỏ thân, nghĩa là xuất định trở ra trở lại là Diệt Tận Định. Thì đây là cái định cao nhất của một vị A-la-hán. Thì trong Trung Quán Luận, ngài Long Thọ sau khi ngài lý luận ngài chứng minh đã đời về tâm thức xong cái ngài mới ca ngợi: Vì vậy định là quan trọng, mà trong đó Diệt Tận Định là cao nhất. Một ông tổ Đại thừa lại là người đề cao cái Diệt Tận Định của A-la-hán. Rồi trong một cái luận bản khác là Trí Độ Luận cũng của ngài
[18:01]Long Thọ, ngài có lý luận cái đoạn này nghe rất là kỳ lạ. Ngài nói thế này: Có một vị Tỳ-kheo tu hành chứng quả,
[18:13]mà ngài không nói chứng quả gì nha. Đây là nguyên văn ngài nè. Một vị Tỳ-kheo tu hành chứng quả và vị đó cho mình chứng A-la-hán. Vị đó cho mình chứng A-la-hán, như vậy ý ngài có phải là chứng thật chưa? Chưa. Đó, nhưng mà trong kinh văn ngài cứ nói như vậy: Vị đó cho mình chứng quả A-la-hán. Sau khi bỏ thân này, vị đó thấy mình tái sinh giữa cõi Trời. Bởi vì chưa chứng A-la-hán thì chết lên cõi Trời thôi. Vị đó thấy mình tái sinh giữa cõi Trời, thế là vị đó bất mãn mới nói rằng: Như vậy A-la-hán là chưa giải thoát, vì khi chết vẫn còn sinh cõi Trời. Và vị đó bất mãn, chê bai quả vị A-la-hán. Và cái câu này mới độc nè, câu đó:
[18:54]Do chê bai quả vị A-la-hán nên vị đó lập tức đọa địa ngục.
[19:01]Trong Đại Trí Độ Luận khủng khiếp ha, nghĩa là cái quả vị A La Hán đối với ngài Long Thọ là bất khả xâm phạm, nghĩa là một người tu tới đâu thì tới mà dám xúc phạm tới quả vị A La Hán là lập tức đọa địa ngục liền, không cần biết vị đó đang ở đâu. Nghĩa là ngài Long Thọ cực lực bảo vệ cái quả vị A La Hán trong khi ngài được coi là ông tổ Đại thừa, nhiều người nói rằng nhiều bộ kinh Đại thừa là do ngài Long Thọ viết. À nhưng mà hai cái luận bản mà ngài đứng tên đàng hoàng thì ngài lại bênh vực cái vị trí của A La Hán. Ngài phát triển cái Phật giáo vào thời đại đó rất là độc đáo, cạnh tranh với ngoại đạo rất là dữ dội.
[19:40]Lúc đó ngoại đạo cũng đang phát triển mượn giáo lý đạo Phật để phát triển cạnh tranh với Phật giáo, thì xuất hiện ngài Long Thọ, ngài đưa ra bao nhiêu lý luận ngài đánh sập tất ngoại đạo để cho Phật giáo phát triển mạnh, vững vàng lên vào thời đó lại. Mà tuy nói Đại thừa mà lại bênh vực A La Hán bằng những câu rất quyết liệt. Mà bây giờ đối chiếu lại với tư tưởng của ngài với chúng ta ngày nay, coi chừng chúng ta có lần nào đó mở miệng chê bai A La Hán rồi, có không? Có chưa? Có. Có tụng Pháp Hoa chưa? Trong Pháp Hoa có những câu đó. Trong Pháp Hoa có những câu chê A La Hán. Cho nên có người hỏi tôi chứ, nói:
[20:22]"Sao con tụng Pháp Hoa con đổ nghiệp?" Tôi mới nói: "Vì trong đó có vài câu chưa có đúng với giáo lý, mà nhất là mấy câu chê quả vị A La Hán. Cho nên ai tụng mà tụng đi qua cái đoạn đó rồi là khi buông cuốn kinh xuống về nhà mình là chuyện xảy ra liền, chuyện xui xẻo xảy ra liền, đó là đọa địa ngục đó, chuyện xui xẻo xảy ra liền." Nên khi mà có lần mà tôi giảng bộ Pháp Hoa cũng vậy, tôi giảng mà đụng tới cái chỗ mà chê A La Hán tôi phải sửa lại hết toàn bộ luôn. Vì nhớ ngài Long Thọ đã cảnh báo rồi, đụng tới A La Hán là chết á, đọa địa ngục liền. Vậy. Thì hồi đó là như vậy, rồi thêm một lần nữa là
[21:00]ở đây chúng ta có nghe nói tới ngài Hư Vân chưa? Thiền sư Hư Vân? Có phải không? Đọc sách ngài rồi phải không? Ừm. Đối với cá nhân của tôi thì ngài Hư Vân là thần tượng, nhớ nha! Nên đừng có đụng tới thần tượng của tôi. Những cái công hạnh của ngài mình không tưởng tượng nổi. Mà trong truyện của ngài Hư Vân có một đoạn thế này là có một lần đó ngài 100 mười mấy tuổi à, ngài bệnh. Trong khi ngài nằm dưỡng bệnh vậy, ngài nhiếp tâm ngài nhập định thì thần thức ngài lên cung trời Đâu Suất, ngài dự vào trong pháp hội của Bồ Tát Di Lặc. Ngài thấy cái nghĩa là cái đền rất mênh mông, thiên chúng đầy, trong đó rất nhiều vị Thánh,
[21:40]nhiều vị Sa Môn cũng là ngồi trong đó nghe Bồ Tát Di Lặc giảng pháp. Và Bồ Tát Di Lặc thì đang giảng pháp thì thấy cả ngài Tôn giả A Nan cũng cũng hiện diện ở đó. Tôn giả A Nan ngồi cái tòa thứ nhất, cái tòa thứ hai bỏ trống thì Tôn giả A Nan mới kêu ngài lại vô ngồi. Thì ngài vô đó ngài ngồi, ngài gặp lại những cái vị chân tu mà ngài quen trước kia, những vị đó tịch đi trước, ngài thấy mặt hết trong đó, chừng 10 vị vậy đó. Ừm. Nhưng mà chưa thấy quý thầy Đức Quang đồ không thấy, chưa thấy xuất hiện. Thì lúc đó đó, Bồ Tát đang giảng thì chợt Bồ Tát dừng lại kêu ngài trở lại cõi người. Ngài buồn, ngài không muốn trở lại, ngài nói nghiệp ngài nặng quá,
[22:21]ở trần gian này thê thảm quá ngài không muốn, thích ở đây tu. Nhưng mà Bồ Tát nói: "Không! Con phải về để trả nghiệp, vừa trả nghiệp mà vừa giữ gìn Phật pháp, rồi sẽ về đây." Rồi Bồ Tát mới đọc cho ngài nguyên một bài kệ để khuyến tấn ngài, sau đó ngài tỉnh giấc thì thấy mình trở về cõi người lại. Thì cái chuyện thì nó dài dòng, nhưng mà đặc biệt là sự xuất hiện của Tôn giả A Nan. Mà Tôn giả A Nan thì chúng ta biết là ngài chứng gì rồi? A La Hán, phải không? Nghĩa là lúc mà kiết tập kinh điển thì ngài chưa chứng, cho nên ngài Ca Diếp mới nói là là kinh điển không thể được tuyên tụng bởi một người mà chưa chứng A La Hán.
[23:00]Mặc dù ông nhớ hết lời dạy của Thế Tôn, nhưng ông không được phép. Bây giờ ông hãy trở ra, về tu chừng nào chứng A La Hán thì vào đây, cả hàng Thánh chúng ở đây sẽ nhập định chờ ông. Thế là 500 vị A La Hán ngồi nhập định bất động, đóng cửa hang lại luôn bằng đá. Ngài A Nan quá đau khổ, quá day dứt, quá trăn trở, ngài ngồi thiền, đi kinh hành, kinh hành xong vô ngồi thiền, ngồi thiền xong đi kinh hành, kinh hành xong vô ngồi thiền. Mà có ai làm hoài nổi không? Không, thấy một lát ngài cũng đuối. Ngài đuối ngài vừa mới ngã người xuống để chuẩn bị nằm thì bừng hiện tượng đốn ngộ xuất hiện, ngay đó ngài bừng chứng A La Hán luôn, cũng là một hiện tượng đốn ngộ.
[23:37]Thế là ngài dùng thần thông đi xuyên qua cửa, cửa động đi vào trước cái sự hoan hô vang dội của chư Thánh và bắt đầu cuộc trùng tụng kinh điển. Là chúng ta nghe câu chuyện trong Phật pháp rất là đẹp, rất là lãng mạn. Thì chứng A La Hán rồi theo nguyên tắc là nhập diệt rồi là vào Niết bàn, không còn tái sinh. Lần đó ngài A Nan ngài được quá nhiều người thương tại vì công đức ngài lớn quá, ngài theo Phật đi vân du khắp mọi nẻo đường, cho nên là quần chúng, tín đồ cư sĩ họ biết hết, họ ngưỡng mộ ngài lắm. Rồi khi mà ngài chết thì người ta mới mới giành, bên nước này giành ngài chết bên nước họ để mà họ được thờ, bên kia thì cũng giành, đem quân lại dàn quân ra để oánh nhau.
[24:17]Nghĩa là vì thương ngài mà thiếu điều oánh nhau. Trong cuộc đời có vậy, cho nên nhiều người thương khổ lắm. Quý thầy đừng có ham nhiều người thương, thử nhiều người thương rồi bắt đầu biết mùi, biết mùi cay đắng, rầu lắm, không có sung sướng gì đâu. Tối ngày cứ làm tỉnh tỉnh vậy thôi chứ đau khổ lắm. Không ai thương thì rất là lỗ, mà ai cũng thương thì rất là khổ. Nên là nên cái lúc mà ngài mà nhưng mà may mắn là ngài có thần thông, cho nên ngài cất mình lên hư không giữa dòng sông, thiêu thân ngài cháy ra thành xá lợi rơi qua hai bên bờ sông, chia hai nước, thế là không ai giành ai. Nhưng mà ngài thì được cái đó, còn chúng ta thì sao?
[24:57]Không được, cho nên khổ lắm.
[25:01]Thì lẽ ra là ngài nhập Niết bàn là mất, nhưng mà không ngờ là ngài xuất hiện trên cõi trời Đâu Suất không mất để phụ với Bồ Tát Di Lặc mà giáo hóa thiên chúng. Nên từ câu chuyện của ngài Hư Vân, chúng ta phát hiện ra một điều là A La Hán không phải là mất tiêu như một số kinh Đại thừa đã hiểu lầm, mà sự thực các ngài muốn có mặt ở đâu là các ngài có mặt ở đó. Dường như sau A La Hán là tiếp tục công hạnh của Bồ Tát, mặc dù chúng ta chưa nghe khẳng định lắm, khẳng định là như vậy, ừm. Bởi vì sau này người ta thấy rằng là đối với một quả vị Phật thì không chấp nhận là bằng với A La Hán, thì như vậy phải cao hơn A La Hán.
[25:45]Mà A La Hán thì có bốn thánh quả phải không? Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, hết chuyện. Nhưng mà Phật thì không thể như vậy, không thể đơn giản. Do đó người ta thiết lập thêm nhiều cái quả vị phía sau A La Hán để gán cho một vị Bồ Tát để từ đó một vị Bồ Tát vượt qua 52 quả vị rồi mới tới Phật. Quý thầy học 52 quả vị chưa? Ở trong Hoa Nghiêm có nói rằng một vị Bồ Tát phải đi qua 52 quả vị là: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, rồi Đẳng Giác, rồi Diệu Giác, đúng, thuộc bài, tốt. Thì mình nghe kể thì coi như mình không nhớ hết nổi 52 quả vị đó, chỉ có cái Thập Địa là coi như là những hàng Bồ Tát đã đại
[26:32]Bồ Tát lớn rồi thì thì tương đối là mình còn ấn tượng. Nhưng mà trong Hoa Nghiêm thì không phải chỉ có những thập đó không, còn có Thập Định, Thập Thông, Thập Nhẫn, nhiều lắm, mà không biết làm sao các vị lại không liệt kê vào. Ừm. Nhưng mà ai cũng đồng ý với nhau thế này là hễ được gọi là Bồ Tát, tức là người xả thân giáo hóa chúng sinh không mệt mỏi, phải không? Đó là tính chất của Bồ Tát mà chúng ta gọi là những người tràn đầy lòng thương yêu chúng sinh đó. Còn cái chứng ngộ như thế nào thì mình từ từ mình bàn lại. Tuy nhiên, là Nam tông hay Bắc tông đều đồng ý rằng Bồ Tát phải là người hướng đến quả vị
[27:14]đại giác của Phật, không phải là một người chấp nhận một cái quả vị vừa chừng nào đó. Mà quả vị Phật nghĩa là sao? Nghĩa là đến một thời điểm nào đó, ở một thế giới nào đó, ở một hành tinh nào đó, vị đó phải là người khai sáng ra một tôn giáo mới. Ừm, mà tôn giáo đó ở các hành tinh đó kêu tên bằng gì thì ta không biết, nhưng ở hành tinh của ta gọi là đạo đạo Phật chứ đạo gì nữa. Gì đâu mà ú ớ. Ừm. Nghĩa là không phải là một người đệ tử được hướng dẫn bởi một vị đạo sư đi trước, nghĩa là Phật quả là như vậy. Tuy nhiên, tuy nhiên là thật ra một vị Bồ Tát không có tham vọng đó. Vị Bồ Tát không có tham vọng là mình sẽ là người khai sáng
[28:05]một tôn giáo mà không chịu đi theo ai, không phải. Chỉ có cái là tại vì Bồ Tát không chấp nhận một cái quả vị mà chưa tuyệt đối, nên chính cái tâm nguyện đó đẩy vị đó đi lang thang trong ba cõi sáu đường để hóa độ chúng sinh và cuối cùng đưa vị đó đến một cái hành tinh để khai sáng một tôn giáo mới. Đó là cái nhân quả nó đẩy đi thôi, chứ còn tâm vị đó thì không muốn mình là người số một đâu. Vì muốn mình là người số một, mình là người khai sáng thì lại là một cái tham vọng. Các ngài hiền lành, nhưng mà các ngài luôn luôn khát khao cái chân lý gì tột cùng, đúng nhất, hoàn hảo nhất, tuyệt đối nhất chứ không chấp nhận một cái tương đối.
[28:45]Riêng trong các kinh điển Đại thừa thì chúng ta thấy là Bồ Tát có bao nhiêu vị? Bao nhiêu? Mấy vị? Hả? Vô số, phải không? Vô số Bồ Tát. Ừm. Đó là cái định nghĩa tổng quát theo cái phát tâm, thì Bồ Tát là người mà hướng đến Phật quả. Bây giờ chúng ta trở lại cái nhìn của quần chúng thì Bồ Tát là ai?
[29:15]Bồ Tát là những người có tấm lòng nhân ái bao la, thương yêu mọi người. Đó là Bồ Tát. Cho nên đây là cái định nghĩa gần gũi thực tế đơn giản. Chúng ta không phải chỉ hiểu Bồ Tát là những vị Bồ Tát mà có thần thông quảng đại ẩn hiện trên cõi thánh, mà còn là những người rất bình thường sống trong cuộc đời này với tấm lòng độ lượng nhân ái bao la mà giữa cuộc đời này. Chính vì cái ý nghĩa mà gần gũi thực tế như vậy nên chúng ta có được một đạo Phật đẹp đẽ, thực tế và sống động. Chứ còn nếu hiểu Bồ Tát chỉ là những vị ở trên cõi thánh rồi khi mình cầu xin mới giúp thì đạo Phật không có cái cái thực tế sống động.
[30:01]Nhưng mà Bồ Tát còn một nghĩa đẹp nữa là những người sống như chúng ta giữa cuộc đời này nhưng mà thương yêu được mọi người. Thì một vị Bồ Tát mà có tấm lòng á, thì chúng ta sẽ thấy người đó có tính chất thế này: Thứ nhất là thương yêu mọi người chung quanh mình. Tính chất thứ hai nữa là luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người trong cái khả năng của mình. Và thứ ba là không giận ghét ai. Đúng không? Ví dụ như mình thấy một người cũng hay giúp đỡ người khác nhưng mà đôi khi còn bực người này, còn giận người kia, còn hầm hầm người nọ, thì phải Bồ Tát không? Không, Bồ Tát phải bảo đảm là đừng ghét ai, đừng giận ai.
[30:45]Chứ hễ thấy lòng mình còn ghét còn giận thì biết chắc là mình chưa phải bồ... chưa phải Bồ Tát mà chỉ là bồ... bồ lúa gì đâu đó thôi, chứ không có...
[30:58]Thì những cái tâm hạnh thế này, ví dụ như là thương yêu mọi người nè, sẵn lòng giúp đỡ nè, không giận ghét ai nè, nhưng mà nếu so sánh theo bốn quả thánh thì nằm ở vị thánh nào? Nằm ở vị thánh nào? Không, chưa tới A La Hán đâu, không cần. Thật ra từ Tu Đà Hoàn là đã có tính chất này rồi. Chúng ta thấy một vị mà chứng quả Tu Đà Hoàn là tâm vị tha đã tràn đầy. Đúng không? Tại trong quả Tu Đà Hoàn có phá được cái thân kiến, mà thân kiến chính là nghĩa là... nghĩa là quên rồi? Nghĩa là ích kỷ nha, thân kiến tức là vị kỷ. Một người chứng quả Tu Đà Hoàn là người đó không còn ích kỷ nữa. Và như vậy tức là người đó sống rất vị tha.
[31:46]Như vậy một vị Tu Đà Hoàn đã có dáng dấp của một vị Bồ Tát rồi, do đời sống rất là vị tha. Còn nếu mà vị đó chứng luôn Tư Đà Hàm, A Na Hàm nữa thì vị đó còn có cái tâm linh mạnh nữa. Nhưng mà chưa cần, chỉ một người mà đi sống trong làng, trong xóm mà ai cũng thương, vì nó thương mọi người, đụng chuyện gì giúp đỡ được là giúp, không có tiếc công tiếc sức thì người ta gọi cái ông đó là Bồ Tát đó. Ví dụ trong làng có ông Tư già mà cả đời không bao giờ giận ghét ai. Ai chửi thì nhịn, rồi cái thằng mà nó chửi mình á, mai mốt mà nó nó bị cháy nhà thì ông đó là người đầu tiên mà chạy vô cứu cái nhà đó trước. Đó.
[32:27]Cho nên có nhiều chuyện xảy ra như vậy, người ta mới thấy cái ông này quá tốt, quá thương người, chẳng biết giận ai, thì người ta gọi ông đó là ông Tư Bồ... Tư Bồ Tát. Đó, chỉ bằng cái cái hạnh đó thôi, người ta được gọi là Bồ Tát. Mà nếu một ngày nào đó phát hiện ông này ổng có cái tâm chứng nữa thì đúng là Bồ Tát đích thực. Ví dụ như một buổi sáng thấy một cái cô gái trong làng mới gánh một cái gánh gọi là bánh ra chợ để bán, ra gặp ông Tư. Nói: "Dạ, chào ông Tư nha. Ông Tư sáng ăn gì không?" "À ông Tư... Con đi bán hả?" Nói: "Dạ, bán." "Nói thôi con bán con cẩn thận, né mấy mấy chiếc xe mà mấy xe mấy xe tải con con ngồi
[33:05]sâu sâu trong lề nghen con, đừng có ra ngoài lề bán, lỡ xe nó có tai nạn nó quẹt mình mệt lắm." Thì cái cô đó nghe, bữa đó cổ ra bán ngay bên lề đường. Không biết sao cổ ngồi đang bán cổ nhớ ổng nói vậy cái lật đật cổ dời cái gánh của cổ vô trong sâu một chút, thiệt đúng ngay chỗ cổ ngồi đó hai chiếc xe tông nhau cái rầm, lật đổ tùm lum. Nếu mà cổ ngồi ngay đó thì cổ cũng tiêu luôn. Nên cổ mới sực nhớ cổ mới về cổ đồn hết làng: "Hồi sáng ông Tư ổng nói câu đó." Cái lúc đó người ta thấy sao? Như vậy ông Tư này nào giờ ổng tốt bụng, thương người, mình kêu ổng Bồ Tát rồi nhưng mà đúng là Bồ Tát thiệt, tại vì sao?
[33:42]Ổng có có thần thông, biết trước mọi chuyện. Như vậy, nếu cái người ngoài cái tấm lòng nhân ái mà nếu có cái tâm chứng nữa thì đây là Bồ Tát thứ thiệt, đích thực, phải không? Nó là như vậy. Thì ở đây khi mà một vị gọi là Bồ Tát như vậy đó, một vị Bồ Tát mà có cái tấm lòng nhân ái sống giữa đời á thì chúng ta thấy thế này: là vị đó thông cảm được cái nỗi đau của mọi người chung quanh mình, và luôn luôn sẵn sàng xoa dịu, an ủi con người ta vượt qua những nỗi đau đó. Mà nỗi đau của chúng sinh thì nó nhiều khi nó làm sao? Nó lặt vặt, nó tào lao, nó dịt bọt không ra gì hết trơn. Có những chuyện không đáng buồn mà chúng sinh cứ buồn cứ khổ.
[34:26]Ví dụ là trong làng mà nó kể lại ông Tư Bồ Tát thì có một người thanh niên bữa lại nhà ổng ngồi khóc. Cái ổng nói: "Chuyện gì vậy con?" Nói: "Dạ, người yêu con hai bữa nay không nhắn tin điện thoại cho con."
[34:43]Cái chuyện đó đáng buồn không? Thì đối với một vị Bồ Tát á thì cái chuyện mà người yêu không nhắn tin có buồn không? Trời ơi, yêu mệt thấy mồ chứ có gì đâu mà buồn. Đáng lẽ nếu mà nói theo Bồ Tát thì nói: "Thôi ơi, con yêu làm chi cho mệt con ơi, sống độc thân như ông vậy cho khỏe." Nhưng mà nói vậy nhỏ đó nghe được không? Không, lúc nó đang yêu rồi chỉ có gì? "Trong đôi mắt anh, em là tất..." Ủa, không biết hết trơn vậy ta? Là vì niềm vui, vì hạnh phúc, ánh ước mơ gì đại khái là vậy. Nghĩa là lúc mà ngồi mà nói chuyện đạo mà kêu đừng yêu nó không chịu đâu. Bởi vì nó vậy rồi thì lúc đó là ổng phải giải thích kiểu khác,
[35:23]tức là những cái chuyện mà chúng sinh bận tâm thật ra Bồ Tát chẳng bận tâm. Nhưng mà lấy cái cái nhìn của mình mà để giải thích thì chúng sinh không có cảm thấy an ủi. Cho nên Bồ Tát phải sống theo chúng sinh, an ủi theo chúng sinh, nói cách khác: nói "Thôi con đừng có buồn. Có khi là một á là chắc là cổ giận con. Con làm cái gì đó có lỗi, cổ giận á. Con phải biết coi cái lỗi con làm cái gì rồi con sửa, con tới con xin lỗi. Hoặc có khi là mấy ngày qua là cổ bị bận hay là cái điện thoại cổ nó hết tiền, thẻ nó không chưa có tiền để nạp vô được, hoặc là pin nó bị hư sao, chứ con đừng có buồn, nghe.
[35:58]Trên đời nó nhiều cái nguyên nhân lắm. Con bình tĩnh." Cái anh chàng kia tự nhiên có cái sức mạnh lên liền. Tức là những cái chuyện lặt vặt lặt vặt như vậy. Hoặc là ví dụ trong chùa mình có một ông sư huynh ổng là Bồ Tát, ví dụ vậy. Không biết trong chùa Thiên Khánh có không kìa. Có ông sư huynh Bồ Tát, cái thấy có người sư đệ chạy lại buồn. Nói: "Trời ơi, sư huynh nghĩ coi em làm bài ngon lành, thấy không, mà thầy cho có 7 điểm. Còn cái ông kia ổng làm bài thấy sơ sơ mà thầy cho 8 điểm, không công bằng. Buồn quá." Thì lúc đó đó, cái chuyện mà để buồn như vậy thì ông sư huynh ổng buồn không? Bồ Tát đâu có buồn ba chuyện này.
[36:32]Trời ơi, điểm hai điểm này nọ mà buồn. Đem ổng ra bằm ổng cũng không buồn nữa, đừng nói một, hai điểm. Nhưng mà ổng nếu mà ổng nói cái câu theo cái nhìn của Bồ Tát á thì ông sư đệ ổng không hiểu. Ví dụ ổng nói: "Ồ, coi điểm như không đi em ơi, có gì đâu mà buồn." Ổng nói vậy ông kia hiểu không? Không, không đủ sức. Cho nên phải sống theo cái tâm của chúng sinh, cũng theo đó mà chìu cực mà giải thích, mới nói nè: "Thôi kệ, em cũng coi như là cái vui. Bởi vì nếu mà em mà 8 điểm, ông kia 7 điểm thì ông kia ổng buồn, phải không? Em vui thì ông kia ổng buồn. Còn bây giờ em buồn thì ông kia ổng vui,
[37:04]coi như em cúng dường cho ổng niềm vui đi, có gì đâu. Thay vì niềm vui đó mình dành cho mình trong cái điểm 8 thì bởi ông thầy ổng chấm lộn cái thành ra mình coi như mình cúng dường cái niềm vui cho ổng, có gì đâu." Thấy vậy ông kia nghe có lý, phải không? Đó, chìu cực, vừa giải thích theo đạo lý mà vừa đi theo chúng sinh. Chứ chúng sinh bận tâm vì những chuyện tào lao dịt bọt đâu không à, còn Bồ Tát không có dính vô chuyện gì hết trơn. Như có một lần vậy, có lần lúc đó hồi tôi còn ở trong chúng, lúc mà tôi đang làm chuyện gì đó, nghe hai bà già, nói hai bà già sự thật là hai hai ni cô, hai ni cô già đang ngồi sàng gạo.
[37:39]Thì một bà mới ngồi mới kể chuyện: "Trời ơi, cái con gà của ai mà nó vô nó bới mấy cái cây của tui, hàng rào của tui." Cái bà kia nói: "Hứ, nó bới hàng rào chứ nó có bới bà đâu mà bà la hoài." Cái một cái cô ni già mà cái tâm dính nhiều quá, dính tùm lum vô tới hàng rào. Con gà nó bới hàng rào mình cũng đau khổ nữa. Còn một cô ni kia thì cái tâm nó không dính vô hàng rào, không dính vô mấy cây trong vườn, cho nên là bới gì bới không đụng tới mình, không đụng tới tâm hồn mình được nên không có buồn. Còn cái bà kia thì nó cào cái cái hàng rào là đau vô tới tim. Tại tim mình nó dính vô trong tùm lum chỗ hết á là vậy.
[38:15]Thì lúc đó mà cô ni kia cô giải thích theo kiểu Bồ Tát thì cái bà kia bả nghe thì bả cũng cũng cũng làm thinh nhưng mà không thỏa mãn, tại tâm bả còn chấp. Nhưng mà nếu bà kia chịu khó giải thích theo cái cách mà của chúng sinh á thì có lẽ bà kia bả sẽ đỡ buồn hơn. Vậy đó, nên Bồ Tát mà vậy Bồ Tát cực. Làm Bồ Tát cực. Ở đây có ai Bồ Tát không kìa? Nên những cái chuyện vặt vãnh của chúng sinh mà mình vẫn thông cảm, mình vẫn xoa dịu chứ mình không gạt ngang, mình không có lấy cái trí tuệ Bồ Tát để mình buộc người ta phải hiểu giống như mình. Nhưng mình đi vào cuộc đời chúng sinh, đưa đạo lý vào đó, làm cho người ta thoát khỏi những cái ưu phiền. Đó là Bồ Tát.
[38:54]Mà Bồ Tát cũng khác một cái nhà làm từ thiện. Ví dụ như mình thấy một nhà làm từ thiện là đi giúp cho trẻ mồ côi vào nuôi trong những trại cùi, à những nơi cháy nhà, thiên tai cũng khác với Bồ Tát nữa, ở chỗ nào? Hồi có một lần, có một người Phật tử bên Mỹ về gặp tôi hỏi, nói: "Thưa thầy, à con đem đạo Phật con giới thiệu với anh bạn chưa biết đạo Phật, anh nói thế này: 'Trong đạo Phật của bạn có ai làm từ thiện bằng Mẹ Teresa của Thiên Chúa chưa?' Thế con cứng họng. Quý thầy nghe Mẹ Teresa chưa? Bà là người Hungary, rồi bà đi tu, sau qua Ấn Độ thì bà là một nhà từ thiện lớn ở Ấn Độ. Đó là bà đem những người mà già gần chết mà vất vơ vất vưởng ngoài đường
[39:38]á, bà đem về bà nuôi để cho họ được một cái chết có phẩm giá. Rồi những trẻ em mà lang thang mồ côi bà đem về bà nuôi và bà làm nhiều từ thiện nổi tiếng cả thế giới luôn như vậy. Cho nên khi bà chết là nhiều nước để quốc tang luôn á. Danh tiếng bà bên Thiên Chúa cũng rất là hãnh diện. À thì cái người kia mới hỏi là: 'Sao trong đạo Phật nói là đạo Phật hay, nhưng mà chưa có người nào làm được việc từ thiện lớn như Mẹ Teresa bên Thiên Chúa? Thì như vậy bạn nói đạo Phật của bạn hay là hay chỗ nào?' " Nói: "Con bí." Bị hỏi câu đó con bí nên chạy về cầu cứu thầy. Thì tôi mới trả lời thế này: "Đợi cho chúng sinh nó đau khổ rồi tới nó giúp nó,
[40:15]không hay bằng là dạy họ ngay từ đầu đừng làm ác để đừng đau khổ. Thì đợi người ta khổ rồi mình đi mình giúp nó nổi bật dễ thấy. Còn những người âm thầm đi dạy người ta đừng làm ác, đừng làm ác nên không bao giờ có cảnh khổ xảy ra. Người ta không gây tội thì lấy gì có cảnh khổ? Mà cái việc mà âm thầm đi dạy người ta đừng làm ác nó không có nổi, phải không? Ví dụ bây giờ, ví dụ như quý thầy hơn bao nhiêu người đây đang nằm đói la liệt, rồi tôi là người đến đây tôi mang gạo tới đi cho, đút từng người ăn như nọ, đưa người ổ bánh mì rồi đưa sữa uống, báo chí lại chụp hình dễ thấy, thấy hay không? Nói:
[40:49]'Trời, ông thầy ổng tốt quá, ổng Bồ Tát.' Còn bây giờ tôi đứng đây tôi dạy mọi người đừng làm ác thì thấy nó không nổi, không đặc biệt, phải không? Báo chí không thèm đăng. Nhưng mà sự thực, đợi người ta khổ rồi cứu giúp với lại dạy người ta đừng làm tội để không bao giờ phải đau khổ, không bao giờ cần phải cứu giúp nữa thì cái nào cần cho thế giới hơn? Dạy người ta hơn." Và mới nói: "Con hãy về trả lời với người đó: 'Đạo Phật đi con đường này. Âm thầm dạy người ta đừng làm tội để người ta đừng đau khổ và không cần cứu giúp nữa, mặc dù con đường đó thấy không nổi.' " Cậu nói: "Dạ, được. Có lý à." Rồi về, về Mỹ trả lời người ta. Thì đây cũng là một cách như vậy.
[41:27]Sau này quý thầy mà lỡ quý Phật tử lỡ ai hỏi thì biết đường mà mà trả lời như vậy, phải không? Chứ còn chúng ta thấy khi mà một người đau khổ nhận cái sự cứu giúp của người khác thì thật ra cái phẩm giá vẫn bị là thấp kém. Mình xòe tay mình nhận sự giúp đỡ của người khác, nó nhục nhã chứ không có sướng ích gì đâu. Nên cái người mà đi cứu giúp á có vẻ vinh quang, tự hào, báo đăng. Nhưng mà cái người mà xòe tay nhận sự cứu giúp thật ra là nhục nhã, không có sướng ích gì đâu. Nên trong đạo Phật chúng ta có luật nhân quả, nó dạy cho con người làm điều tốt, điều lành, tự người ta vươn lên trong cái phước người
[42:05]ta, người ta trở thành con người đi giúp người khác, chứ không phải là một con người mà chờ đợi sự cứu giúp người khác. Cho nên cái mà lợi ích của đạo Phật đem đến cho cuộc đời lớn lao hơn nhiều, chứ không phải là như là những nhà từ thiện khác. Nên vì vậy mà khi đạo Phật chúng ta làm từ thiện luôn luôn chúng ta có cái giáo dục ở trỏng, chứ không phải là chỉ cho vật phẩm không. Khi mình cho ai ăn, ví dụ mình đem mền, đem chiếu, đem sữa, đem gạo cho người ta, mình cũng dặn người ta thêm một câu là: "Ráng về làm phước, ráng thương yêu con người chung quanh, thấy đường hư đi đắp nha." Mình dặn người ta.
[42:39]À thế người ta là mang cái gói quà của mình về, người ta nhớ cái câu trong đầu. Về người ta không gây gổ hàng xóm, sống không ích kỷ nữa, từ từ phước người ta vượt lên. Nhớ cứu giúp không bằng dạy dỗ, nhưng mà muốn dạy dỗ cũng phải cứu giúp trước chút, là vậy. Bồ Tát cũng khác với một người làm phước để cầu phước. Ví dụ một người làm phước để cầu phước á thì thấy họ cũng đi giúp đầu này đầu kia rất là nhiều á, nhưng mà trong thâm tâm của họ thì cái động cơ chính vẫn là là bản ngã. Họ cầu phước cho chính họ, nên người đó không phải là Bồ Tát. Còn Bồ Tát khi giúp chúng sinh không mong quả báo cho
[43:18]mình, mà chỉ vì lòng thương yêu chúng sinh thôi. Đó. Vì vậy, để gọi một người là Bồ Tát, ta phải hiểu cái động cơ thật sự của người đó là phải thương yêu chúng sinh hay là có một cái động cơ bí mật nào khác? Còn Bồ Tát sống trong cuộc đời là những người có tấm lòng nhân ái, bao la, độ lượng, không giận ghét ai, sẵn sàng giúp đỡ mọi người trong cái khả năng của mình. Là những người như vậy là hình ảnh Bồ Tát sống động giữa cuộc đời. Giờ chúng ta có hạng Bồ Tát thứ ba, hạng Bồ Tát thứ hai mới đúng hơn, là Bồ Tát Tu-đà-hoàn.
[44:01]Tại sao Tu-đà-hoàn lại gọi là Bồ Tát? Bởi vì thế này: theo định nghĩa của kinh tạng Nikaya thì một vị Tu-đà-hoàn là người có cái nhân để giải thoát, không còn ích kỷ, lý tưởng tu hành cháy bỏng trong tâm, nhưng mà không biết chừng nào giải thoát. Không quy định thời gian để giải thoát, cho nên vị đó thường là tái sinh lại cõi người rất nhiều lần. Ở trong kinh Bắc Tông á, kinh tạng ở phía Bắc á thì cho rằng một vị Tu-đà-hoàn mấy lần trở lại trần gian? Bảy lần, thất lai. Nhưng trong kinh tạng Nikaya không hề có con số đó nha, mà kinh tạng Nikaya mới chính xác hơn. Nghĩa là một vị Tu-đà-hoàn có khi trở lại mấy trăm lần cõi người này,
[44:51]đầu thai đi đầu thai lại hoài, mấy trăm lần vẫn chưa giải thoát. Nhưng mà chỉ có một điều là không bao giờ đọa vào ba ác đạo là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Mà khi trở đi trở lại á, vị đó luôn luôn sống với một cái tâm hồn vị tha, vị đó luôn luôn sống có lý tưởng, luôn luôn khát khao chân lý. Có những lúc vị đó không gặp Phật pháp, nhiều khi sinh vào cái nước không có Phật pháp, nhưng mà tự mình bừng bừng đi tìm cái lẽ phải để sống, tự mình sống hy sinh, thương yêu con người, tự mình biết tội biết phước mà tránh, mà làm. Và chúng ta có thể gọi đó là một vị Bồ Tát, nhưng mà Bồ Tát này chỉ là một vị Bồ Tát Tu-đà-hoàn thôi.
[45:33]Là do cái gốc quả vị Tu-đà-hoàn, cho nên vị đó còn ràng buộc với cõi người rất nhiều, khác với những quả vị khác là không bị ràng buộc bởi cõi người mà thường ở cõi trời. Riêng vị Tu-đà-hoàn này thì bị ràng buộc ở cõi người, sống có lý tưởng. Vì có lý tưởng cho nên khi làm phước cũng đã tạo nên tội. Và trong cái đường luân hồi đó, đôi khi những vị đó vinh quang lên tới làm vua, nhưng có lúc những vị đó cũng nghèo khổ, lang thang, đày đọa. Nhưng mà tuyệt không bao giờ là đọa ác đạo. Có những khi vị đó có lầm lỗi, nhưng rồi vị đó tự biết cách thoát ra liền. Đó là bởi vì cái lý tưởng trong tim luôn luôn nó cháy bừng cháy bừng,
[46:12]cứ thúc mình phải đi cái đường đúng, không cho phép làm sai. Có sai rồi, do đó, khi mà một vị Tu-đà-hoàn chưa đến cái ngày mà giải thoát mà vị đó đi trong cái luân hồi, đi trong cõi người, đó là một người mà chúng ta có thể gọi là Bồ Tát vì đóng góp được nhiều điều cho thế giới này, cho con người này. Chúng ta nói là: "Khi mà làm phước phải làm tội là sao?"
[46:40]Không có một điều phước nào hoàn toàn phước hết. Nhớ như vậy. Khi chúng ta làm một điều phước, luôn luôn nó kèm theo một chút tội trong đó, bất cứ điều gì. Ví dụ như bây giờ nói một người cư sĩ, ví dụ bữa nay mình đi chùa đem theo ba triệu cúng chùa, cái nói là: "Có tội nào trong đó không?" Đó là một điều phước phải không? Có tội trong đó không? Mình thấy không có tội, nhưng có tội đó. Vì sao vậy? Bởi vì ba triệu đó không phải hoàn toàn của mình. Tiền của ai trong đó? Của cả nhà. Nên chúng ta lấy ba triệu đó là xén bớt cái phần của gia đình mình để đi cúng chùa, vậy là có tội đối với gia đình mình.
[47:23]Tuy nhiên cái tội đó nhỏ, vì sao? Bởi vì gia đình nhiều khi cũng khá giả, không có đáng kể. Nhưng mà ba triệu đó đối với chùa rất là cần, nhưng mà đối với gia đình mình nhiều khi không cần lắm, cho nên có tội mà không đáng, cái phước lớn hơn tội rất nhiều. Đấy. Còn nhiều trường hợp khác, ví dụ như một quan tòa, ông tuyên án tử hình tội nhân, điều đó đối với luật pháp, ông quan tòa không có tội, vì cái người tội nhân đó quá ác độc. Nhưng mà trên cái bình diện con người thì giết đi một mạng người chúng ta vẫn cảm thấy sao? Vẫn thấy tổn thương phải không? Tổn thương. Nên chúng ta thấy một điều phước luôn luôn có một điều tội,
[47:58]hoặc là ví dụ khi mà Phật pháp bị kẻ xấu phá hoại, có một vài Phật tử hỏi tôi là: "Thầy có vẻ cứng rắn, thầy chủ trương cứng rắn để bảo vệ, bênh vực đạo Phật. Như vậy có phải phạm vào cái từ bi đạo Phật hay không?" Thì tôi trả lời thế này: "Khi mà đạo Phật bị phá hoại thì chúng ta có ba cách để phản ứng, bây giờ mọi người chọn đi. Cách thứ nhất á là chúng ta phá lại cái đạo kia để trả thù. Thì biết cái đạo nào mà nó phá mình á, mình phá lại cái đạo đó, mình hạ nhục lại cái giáo chủ đó. Như cái đạo đó hạ nhục giáo chủ mình, mình chửi lại cái giáo chủ của họ, mình phá tiêu họ lại, họ giết người của mình,
[48:38]mình giết người lại của họ, đó là mình trả thù. Cái cách phản ứng thứ hai là mình cứng rắn, quyết liệt bảo vệ đạo mình, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng cầm vũ khí để mà bảo vệ Phật pháp. Và cái cách thứ ba là nhẫn nhục không làm gì hết.
[48:58]Thì trong ba cách, cách nào đúng nhất?
[49:06]Giờ ai nói thứ hai giơ tay lên? Ai nói thứ ba giơ tay lên?
[49:15]Ai mà nói thứ ba về tu thêm mười kiếp nữa nha. Đạo Phật tiêu vì mấy cái người nhẫn nhục này. Cái thứ nhất và cái thứ ba là hai cực đoan. Chỉ có cái thứ hai này là trung đạo, phải không? Mình trả thù người ta thì mình giống như người ta. Mình hạ nhục giáo chủ người ta thì giống như người ta, cho nên là một cực đoan. Cách thứ ba, nhẫn nhục không làm gì hết, họ vô họ đập chùa cũng đứng dòm cũng là một cực đoan khác. Chỉ cách thứ hai này quyết liệt bảo vệ đạo mình một cách quân tử, anh hùng. Mặc dù cũng phải cứng rắn, đó là trung đạo. Nhớ, trung đạo mới đúng, lật một bên sai liền. Thì như vậy một vị Bồ-tát Tu-đà-hoàn cũng vậy,
[50:02]đôi khi vì bảo vệ điều thiện cũng phải cứng rắn, quyết liệt và cũng gây nghiệp. Nhưng mà cái phước vẫn lớn hơn cái tội, cho nên vị đó vẫn đi trong luân hồi rồi từ từ công đức tăng lên dần, tăng lên dần, tăng lên dần cho tới cái ngày phải chứng ngộ. Vì sao? Bởi vì đó là quy định của Thánh vị. Thánh vị đã quy định rồi thì không trật đường nào hết, phải giải thoát. Nhưng mà đặc biệt một vị Tu-đà-hoàn mà đi lang thang trong luân hồi để mà thực hành cái hạnh Bồ-tát tới ngày chứng, chứng rất lớn, không giống như những vị Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Nhiều khi mình thấy vị đó tu kiếp này chứng Tư-đà-hàm trở lại kiếp người
[50:37]một kiếp nữa, làm một thiền sư vinh quang rồi chứng giải thoát luôn. Hoặc là một vị A-na-hàm chứng xong rồi cái sinh lên cõi trời, ở trên đó chứng tiếp, giải thoát. Hoặc là một vị A-la-hán ngay đời này đã giải thoát. Coi vậy chứ không bằng một vị Tu-đà-hoàn. Một vị Tu-đà-hoàn lang thang trong luân hồi sinh tử đem cái tâm vị tha đó, đem cái lý tưởng về điều thiện đó, đem đi xây dựng cuộc đời rồi chịu chấp nhận những cái thăng trầm đến với cuộc đời mình, khi thì vinh quang, khi thì cay đắng, nhưng mà lúc nào cũng xây dựng cuộc đời dần dần. Đến cái ngày cuối cùng thật sự giải thoát, quả vị cực kỳ lớn.
[51:12]Coi như quả vị đó vinh quang tràn ngập cả cõi người và cõi trời chứ không phải là nhỏ, cho nên nó có cái giá của nó. Đi sớm thì hay cái này mà dở cái kia, còn chứng trễ như Tu-đà-hoàn thì dở cái này nhưng mà hay cái kia, là như vậy.
[51:29]Cái hình ảnh mà Bồ-tát Tu-đà-hoàn là hình ảnh mà cảm động nhất của các vị Bồ-tát. Vì các vị Bồ-tát khác á họ tự tại lắm, họ có thần thông, họ có công đức, họ tự tại, họ phơi phới à. Họ xuất hiện giữa cuộc đời, họ vung tay, vung chân sơ sơ là gây nên chuyện, còn một vị Bồ-tát Tu-đà-hoàn rất là cực khổ. Cho nên, đó là hình ảnh rất là đẹp. Giờ chúng ta có một hàng Bồ-tát kế tiếp là Bồ-tát thị hiện.
[51:57]Bồ-tát thị hiện là những vị Bồ-tát mà Thánh vị rất là cao, phước ở cõi trời đầy đủ, không bị ràng buộc bởi cõi người, nhưng mà phát tâm xuống cõi người để chỉnh đốn một điều gì đó trong một cái khu vực nào đó, gây một ảnh hưởng nào đó rồi lại ra đi tiếp tục. Chúng ta nhớ thế này, để gọi là Bồ-tát thị hiện thì cái vị đó không có bị ràng buộc bởi cõi người, tức là không bị nghiệp lôi vào buộc phải tái sinh giữa cõi người như vị Bồ-tát Tu-đà-hoàn. Bồ-tát Tu-đà-hoàn á là bị buộc phải sinh vào cõi người để hy sinh, để phụng sự, để dấn thân, còn một vị Bồ-tát thị hiện thì không bị điều đó. Mà vị đó do nhìn xuống cõi người thấy có cái chuyện gì đó
[52:45]cần phải chỉnh đốn, à cho nên là hiện thân xuống để làm cái công việc cho xong rồi mới trở về cõi Thánh trở lại. Vì vậy cho nên vị đó tự tại. Tự tại là ở chỗ chọn được gia đình, chọn được cha mẹ để mà sinh vào. Mà các vị Bồ-tát á do cái tâm chứng của mình cho nên là các vị sáng suốt ngay từ nhỏ à. Có khi các vị chấp nhận cách ấm vô minh, nghĩa là khi mới sinh ra quên, không nhớ nguồn gốc thần thánh của mình. Nhưng mà vài năm sau bộ não phát triển ra, tâm linh tự nhiên nó phát triển trở lại, nhớ liền, nhớ mình là một vị Bồ-tát trên trời xuống đây, là tiếp tục thực hiện cái tâm nguyện mà mình đã đã phát ra.
[53:29]Chớ còn à còn Bồ-tát Tu-đà-hoàn thì không. Nghĩa là chỉ cái khuynh hướng thôi, mang theo cái khuynh hướng vị tha, lý tưởng đi hết đời này tới đời kia. Còn Bồ-tát thị hiện thì nhớ rõ luôn. Cách ấm vô minh vài năm thôi rồi sau đó nhớ lại hết. Và vị này thường là có thần thông, có thần thông. Có những ngài những vị thiền sư mà lạ thường á đều là Bồ-tát thị hiện á. Ví dụ như ngài nào?
[53:58]Mấy vị đó Đại Bồ-tát rồi, lát nữa mình nói tới Đại Bồ-tát. Những vị thiền sư bình thường như là Phổ Hóa. Ngài Phổ Hóa là một thiền sư có thần thông, là ở phụ với ngài Lâm Tế để giáo hóa thì ông này ổng thiền ngữ cao phong mà thần thông dữ lắm, nổi tiếng cả vùng. Ừm khi mà ổng chết á, đặc biệt thế này, thường thường chết á các vị thiền sư có mấy cách chết? Một là các ngài để lại nhục thân, ha, để đó tồn tại bao nhiêu năm; hoặc là thiêu mà thấy xá-lợi. Riêng ngài Phổ Hóa, ngài tịch ngài làm cho cái thân ngài biến mất trong hư không luôn, không còn dấu vết luôn. Đây là một loại chết mà rất là lạ, loại không táng, tức là mất tiêu luôn.
[54:40]Còn thường thường mình chết mình hỏa táng, mình địa táng, mình điểu táng gì gì đó, còn ổng chết là ổng không táng, làm thân biến mất luôn. Nhưng mà rất là lạ, thần thông thì nhiều nhưng mà sức giáo hóa thì không bằng ngài Lâm Tế. Nên chúng ta thấy cái đức, cái sự dạy dỗ vẫn quan trọng hơn thần thông. Hoặc là ngài Đạo Tế, tức là ngài Tế Điên á, ngài Tế Công Phật Sống á, đó là một vị thị hiện hẳn hoi. Vị đó thần thông rất là quảng đại. Đó là một vị có thật á, tên là Đạo Tế. Ờ vị đó thần thông lớn, nhưng mà sau này người ta mới tô điểm thêm, người ta viết thành những cái chuyện tiểu thuyết, rồi phim thì làm tới tấp, chuyện viết rất là dài đều là hư
[55:17]cấu hết, chớ cuộc đời của ngài không có ly kỳ như vậy. Nhưng mà sự thật có một nhân vật tên là Đạo Tế, là một thiền sư chứng đạo và thần thông rất là nhiều, có thật. Hoặc là gần đây có ngài Phật sống chùa Kim Sơn, các thầy có đọc mất chứ? Pháp danh là Diệu Thiện, ngài Phật sống chùa Kim Sơn. Ngài sống trong thời đại gần đây, cách đây mấy mươi năm, cũng là người có nhiều thần thông. Hoặc là Việt Nam mình có ngài Minh Không, ngài Từ Đạo Hạnh rồi đó, là những vị đó có thần thông rất là lớn, mình cũng coi như là Bồ-tát thị hiện. Chúng ta nghe kể chuyện ngài Minh Không qua Tàu mà xin đồng chưa? Có, phải không?
[55:56]Tức là ngài phát tâm muốn đúc tượng Phật với chuông, với đỉnh vạc á, ngài mới qua tới triều đình Tống. Mà ở trong triều đình này ai mà dễ mà vô gặp vua. Có điều ổng có thần thông á, binh sĩ lại la ổng đầu này là thấy ổng lại hiện đằng kia rồi, chạy lại la ổng thì thấy ổng buôn gần gần, càng lúc càng tới sân rồng luôn, tới trước mặt vua, hết cản nổi. Mà lúc đó vua mới hỏi là vị sư già này ở đâu tới, cần gì? Thì ông này nói là ổng ở xứ An Nam, nghe nói ở Tống có nhiều đồng tốt, ổng xin về đúc chuông, đúc tượng Phật. Cái nói là ngài đem theo bao nhiêu đệ tử để khiêng? Nói: "Không, chỉ có một mình, xin vừa cái đãi này thôi". Cái ông vua nói:
[56:35]"Ờ thôi, mở kho cho quan, lấy nhiêu đó lấy". Lát quan chạy vô nói: "Dạ, ổng lấy hết sạch rồi". Không cái đãi ổng sao bỏ vô hoài không không thấy hết. Cái ông ông vua hối hận biết gặp thứ dữ rồi, nói chạy theo thôi năn nỉ xin lại, tại vì đồng của quốc gia đâu phải dễ. Chạy theo thì ông này ổng biết trước, ổng chạy lẹ quá. Qua sông, ổng để cái nón xuống bước lên cái nón bay vèo qua bên kia sông, biến mất. Về ngài chế được bốn món, trong đó có cái chuông. Thì cái chuông vào thời Pháp á, Pháp mới tính lấy để mà đúc đồng chế đạn với gì đó. Thì ngay cái đêm mà trước khi mà quân Pháp lên để mà gỡ cái chuông
[57:12]đó ra thì cái chuông nó tự động gãy khỏi cái lầu chuông, rớt xuống, lăn dưới sông mất luôn, không bao giờ tìm ra. Tức là ngài không cho phép, ngài không cho phép đụng tới cái chuông của ngài mặc dù là ngài đã nhập tịch mấy trăm năm, gần cả ngàn năm rồi nhưng mà không cho đụng tới cái chuông mà của ngài đúc, linh như vậy. Hoặc là Hòa thượng Tinh Vân có viết cái cuốn mà "Thoát vòng tục lụy", trong đó có hình ảnh sư huynh Ngọc Lâm á cũng là Bồ-tát thị hiện, còn Ngọc Lâm là có thể là Bồ-tát Tu-đà-hoàn thôi, nhưng mà Ngọc Lam đúng là Bồ-tát thị hiện, ừm. Rồi đặc biệt nữa là một vị Bồ-tát thị hiện á các ngài không
[57:48]nhất thiết là phải thị hiện vào trong đạo Phật nha. Có khi các ngài thị hiện vào trong các tôn giáo khác hay một dân tộc nào khác để đem cái đạo lý đến cho cái dân tộc đó lần lần. Nhưng dĩ nhiên phải tùy thuận. Tùy thuận thôi, mà thường là các ngài tạo nên những cái cải cách để giúp cho người ta đến gần với chân lý, đến với lẽ phải và gần với Phật đạo. Ví dụ như Chúa Giê-su bên đạo Kitô cũng vậy, chúng ta cũng thấy là hình ảnh của một vị Bồ-tát thị hiện á. Thời đó đó, đạo Do Thái rất là là cực đoan. Cái giáo lý của họ tương truyền bắt nguồn từ cái ông tổ Môi-sen. Ông này nói là lên núi, ổng nhận được mười điều
[58:29]răn của Chúa đem về dạy lại cho dân Do Thái. Mà dân Do Thái dễ sợ lắm, họ giữ cái đạo của họ khủng khiếp, giữ cái tinh thần dân tộc của họ chặt chẽ, mấy ngàn năm lang thang rồi không bao giờ mất cái nguồn gốc dân tộc. Tinh thần dân tộc rất là cao, giữ cái đạo họ chặt chẽ. Họ vừa có lòng yêu nước mà vừa có cái đạo để giữ nên họ chặt chẽ thành một khối cả thế giới. Đi đâu đi chứ vẫn giữ chặt cái đạo Do Thái của mình. Trong cuốn Kinh Cựu Ước của họ là nhiều cái nhà tiên tri cứ viết bổ sung, bổ sung thêm thành một cuốn sách dày. Ở trong đó có nhiều cái điểm vô lý. Ví dụ như nói là Thượng đế là xúi cái quân Do Thái tràn ngập đánh
[59:04]giết cái thành kia, chiếm cái thành kia giùm cho Thượng đế. Rồi người ta chiếm xong người ta đem mỹ nữ dâng lên cho Thượng đế, này kia nọ. Đó là chuyện tào lao, vịt bộc đâu mà không tin đời này qua đời kia. Mà trong đó như có cái ngày nghỉ Sa-bát là ngày đó nói rằng Chúa ngày đó nghỉ cho nên dưới này bảy ngày phải nghỉ một ngày và ngày đó không được ai làm việc nha. Ai làm việc lại oánh liền, cực đoan. Lần đó Chúa Giê-su vậy, người ta bệnh thì Chúa lại chữa bệnh, chữa trong ngày Sa-bát. Mấy cái ông mà giáo sĩ Do Thái lại cự, nói ngày này phải nghỉ. Cái Chúa mới nói thế này: "Nếu cái ngày Sa-bát này mà con bò của ngươi
[59:40]rớt xuống giếng, ngươi có kéo lên không?". Kéo lên chứ. Như vậy ngươi có nghỉ được không? Không. "Cũng vậy, Cha Ta trên trời không bao giờ nghỉ ngơi". Chúa Giê-su luôn luôn dùng cái chữ "Cha Ta ở trên trời", tức là ý nói gì? Thật ra tôi không nghĩ đó là Thượng Đế, mà tôi nghĩ Ngài nói là vua cõi trời á. Tại vì trong đạo Phật mình á mỗi cõi trời có một vị, có một vị vua cai quản, thì Ngài có thể là con của một vị vua cõi trời nào đó thôi. Chứ Chúa Giê-su cũng không có nói là, là là là Thượng Đế tạo ra tất cả như các giáo lý của đạo bây giờ đâu. Thường Ngài nói Cha ta trên trời. Chữ Cha ta trên trời thì mình hiểu sao cũng được.
[1:00:16]Người Do Thái thì cứ nghĩ đó là Thượng Đế tạo ra tất cả, nhưng mà đạo Phật mình thì hiểu là Thiên Vương thôi, một vị vua cõi trời nào đó. Trong kinh điển mình cũng nói rất là nhiều, phải không? Chúa Giê-su luôn luôn như vậy. Và Ngài sử dụng thần thông rất là nhiều trong suốt cuộc đời của Ngài, trong ba năm giáo hóa cho tới khi mà bị đóng đinh lên, bị giết chết luôn. Do Ngài cải cách cái đạo Do Thái dữ dội quá nên mấy ông giáo sĩ Do Thái chịu không nổi. Ngài nói câu nào là cũng lật đổ, cũng sửa cái đạo Do Thái lại hết. Rồi cái Do Thái, cái mấy ông giáo sĩ đó mới xúi lính La Mã để bắt Ngài giết.
[1:00:50]Và Ngài cũng bị thê thảm, là bị đóng đinh, bị vác cái cây thập giá đi từ cái dinh của ông quan Phi-lát đó, đi lên tới cái núi Sọ, chôn lên, đóng đinh lên. Mà mình mà vác khúc củi bề lớn mà mình vác lên vai một chút vậy thôi là thấy mỏi rồi phải không? Còn đi vác cây thánh giá mà đủ để chôn lên, đóng đinh con người dang tay ra, cây đó lớn không? Lớn khiếp đảm lắm, nặng khiếp đảm. Ngài bị bắt đi lết, Ngài té lên té xuống. Đằng sau cầm roi quất, trên đầu đội cái mũ gai, máu me tùm lum lên, đóng vô hai cái đinh. Cái chết của Ngài khá thê thảm. Nhưng mà cái giáo lý của Ngài thì làm cho cái đạo Do Thái cải cách để gần với đạo Phật.
[1:01:28]Nhưng mà sự thật thì cái tâm nguyện của Chúa Giê-su cũng không có thành. Vì sao vậy? Bởi vì tới giờ phút này Do Thái cũng chẳng thèm cải cách chút xíu nào hết. Cũng tỉnh queo, cũng vậy. Rồi sau này là những cái người mà môn đồ của Ngài á thì mới dùng cái giáo lý của Ngài dựng lên một cái đạo mới, không dính líu gì với đạo Do Thái hết, là chúng ta có cái đạo Ca-tô-lích, đạo Ki-tô giáo. Rồi cái đạo Ki-tô giáo đó vừa trộn cái giáo lý Cựu Ước, giáo lý Tân Ước rồi xài, rồi lại sản sinh ra Tin Lành, không tin Mẹ Maria rồi oánh nhau, rồi bây giờ đem tiền về đây mà mua tín đồ tùm lum tào lao đủ thứ chuyện.
[1:02:03]Cho nên nhiều khi các ngài có thiện tâm nhưng mà cũng không hẳn là làm được hết tất cả những điều các ngài mơ ước, ngài muốn cải cách nhưng mà không hẳn là cải cách được. Hoặc chúng ta có một vị khác là, là trước Công Nguyên, là sau Phật khoảng hai trăm năm, trước Công Nguyên khoảng bốn trăm năm, có một triết gia tên là Socrates ở cái thành Athens,
[1:02:28]ở Hy Lạp. Thì ông này á, ổng, ổng là một triết gia, tối ngày là ổng, ổng gặp những người này người kia ổng giảng đạo cho người ta để người ta biết sống cho đúng. Rồi ổng cũng lấy vợ, nhưng mà kiểu là ổng không chịu làm ăn, ổng sống kiểu lãng tử á, chỉ lo phát huy đạo lý cho nên bà vợ bả chịu không nổi. Cái người đàn bà họ có nhiều cái nhu cầu, mà thấy ông chồng mình không chịu lo làm ăn mà cứ lo giảng đạo nên bả, bả bực bả chửi ổng hoài. Có khi bả cầm luôn cả nguyên một cái tô đồ ăn bả tạt luôn vô mặt ổng. Rồi ổng lau lau, ổng đứng tỉnh bơ ổng cười ổng không giận. Cái nhiều người nói: "Trời ơi sao anh để vợ anh đối xử anh vậy?". Ổng nói:
[1:03:03]"Nhờ bả mà tôi, tôi sáng suốt hơn, tôi có trí tuệ, tôi đạo hạnh tôi tăng tiến hơn", rồi cười. Mà ổng đặc biệt nha! Có một lần đó ổng, ổng đi giữa đường, không biết ổng suy nghiệm điều gì ổng đứng đó ổng nhập định bất động một ngày một đêm. Đứng bất động luôn. Sáng hôm sau ổng xuất định ra ổng đi về nhà lại. Thì mình thấy người đó thường không? Không đơn giản, phi thường! Ổng để lại một hệ thống triết học rất là lớn cho Hy Lạp rồi từ cái triết học đó nó lan qua Tây Phương. Cho nên cái nền văn minh của Tây Phương là xuất phát từ những nhân vật này: Socrates nè, Platon nè, Aristote nè, là từ những vị này.
[1:03:41]Hoặc là chúng ta có một cái nhân vật khác là Pythagore. Có thể nhớ không? Nhớ ông này không? Tên nghe quen quen không? Thấy quen quen ha? Hình như có quen ổng ở đâu á ha? Trong toán học phải không? Ổng có để lại một định lý mà chúng ta buộc phải áp dụng hoài, định lý đó là gì? Bình phương cạnh huyền bằng tổng tổng hai bình phương của, của hai cạnh góc vuông. Nhưng mà ông này lại là một nhà đạo học mới là chính, không biết ổng nhiều nghề quá không biết nữa. Ổng là một thiền sư đắc đạo nha, có khi ổng đã biểu diễn bay lên giữa hư không. Và ổng thường giảng về luân hồi, về sinh tử, về tái sinh. Và trong đó ổng có khen một người đệ tử của ổng tên là Joseph.
[1:04:25]Ổng nói Joseph là một người không bao giờ khởi một niệm trong tâm, tức là đạt được cái mức định hoàn hảo. Thì như vậy thầy trò của ổng là những thiền sư không à. Và ổng lại sống vào khoảng sau Đức Phật vài chục năm, cũng ở Hy Lạp. Vào cái thời đó không biết sao mà Hy Lạp xuất hiện nhiều vị thánh thị hiện, những Bồ Tát thị hiện như vậy, rất là hay.
[1:04:50]Nhưng chúng ta để ý điều này: Chúng ta đừng tưởng là một vị Bồ Tát khi mà thị hiện là dùng thần thông để mà thay đổi số phận của chúng sinh nha. Ví dụ nói là chúng sinh khổ quá, cái Bồ Tát sinh xuống đây cái là thấy người này nghèo, hô biến cái người kia thành giàu; thấy người kia ốm nhom nhách, hô biến cái thành ra mập; thấy người nào xấu lại xinh hô biến cái thành đẹp, không có, không có chuyện đó. Mà các ngài làm gì? Ngài chỉ dạy thôi, luôn luôn dùng nhân quả để điều chỉnh số phận của chúng sinh chứ không bao giờ dùng thần thông để can thiệp. Nhớ như vậy. Bởi đó mới là con đường lâu dài, còn dùng thần thông chỉ là tạm bợ thôi,
[1:05:29]chỉ là tạm bợ không thể nào mà cứu được chúng sinh thoát khổ. Chúng ta nhớ: Nhân quả mới là tuyệt đối, chứ thần thông chỉ là tương đối. Cho nên vì vậy là dù một người không có thần thông nhưng mà sống cho đúng với đạo lý, luôn luôn làm điều tốt thì nhân quả bảo vệ người đó chặt chẽ mà không một thế lực nào xâm phạm được. Còn ví dụ như một người thầy phù thủy, một pháp sư tu luyện được thần thông tột bực nhưng mà không làm điều đức mà bị thất đức rồi, vẫn chết thê thảm như thường. Nhớ như vậy. Nhớ như vậy nhân quả cao hơn thần thông, chúng ta nhớ. Và các vị Bồ Tát thị hiện hiểu điều đó hơn ai hết.
[1:06:09]Nên các vị đi trong cuộc đời không bao giờ mà phô bày thần thông tùm lum, không bao giờ. Chỉ sống hòa với chúng sinh rồi dạy chúng sinh làm điều tốt, cải cách những cái quan điểm, những cái khuynh hướng của họ để làm cho cái phong hóa xã hội tốt lên. Là đó là cái gốc, chứ không phải là trình bày thần thông tùm lum. Chỉ có trường hợp Chúa Giê-su, Chúa Giê-su là ba năm đó là dùng thần thông thường xuyên, là cứ chữa bệnh người này, chữa bệnh người kia là đủ thứ chuyện. Và Ngài cũng phải lãnh một cái quả báo là bị chết thê thảm bởi vì Ngài sử dụng thần thông nhiều quá. Đó là một điều sai lầm trong đạo lý.
[1:06:46]Nhưng vì Ngài sốt ruột, Ngài muốn cho người ta tin vì lúc đó là cả giáo sĩ của Do Thái xúm lại chửi Ngài, nói xấu Ngài tàn tệ, nói đủ thứ hết trơn. Nên cái quần chúng họ hoang mang, không biết ai đúng. Một bên là các giáo sĩ theo truyền thống, một bên là Ngài nói những điều nghe cũng được, không biết ai đúng nên Ngài dùng thần thông, thế là họ đùng đùng theo Ngài. Nhưng rồi họ cũng phản bội. Rồi sau này chính những người Do Thái đó khi mà nói là: "Giết tên này không?", thì chính những người Do Thái giơ tay lên kêu: "Giết! Giết!", la lên rần rần hết trơn. Chính những người mà ngày trước đã tôn vinh
[1:07:18]Ngài thì ngày sau la lên kêu giết Ngài đi. Nên chúng ta thấy cái thần thông đó cũng không bảo đảm là vậy, mặc dầu Ngài có sử dụng thần thông cho họ thấy. Nên thần thông cũng không phải là cái, cái tuyệt đối, mà nhân quả mới là tuyệt đối. Khi mình đến ở đâu mình có cái duyên với chúng sinh, mình giáo hóa chúng sinh dễ dàng. Còn không có duyên, bình thản chấp nhận chứ đừng có chạy bậy. Ví dụ sau này quý thầy trong việc làm đạo vậy, mình đến mình gặp người Phật tử mà nhiều khi mình cũng cần họ sự giúp đỡ của họ để làm một Phật sự gì đó nhưng mà họ thờ ơ, đừng thèm năn nỉ, phải biết đời xưa không có duyên.
[1:07:52]Đừng có cần đứng đó ngồi bói nói: "Năm nay cô tốt, xấu" này nọ để cho họ động lòng họ cúng, không có đâu, cũng không. Điều đó không phải là hay. Nó sẽ làm mình tổn cái phước đi. Cứ bình thản mà sống theo duyên và cứ gây nhân lành với chúng sinh chứ không cần phải làm điều gì lạ lùng, nhớ vậy. Ví dụ lúc nào đó quý thầy làm Bồ Tát thị hiện, quý thầy thấy ở Phi Châu các bộ tộc người ta sống, người ta không biết đạo á, quý thầy thị hiện sinh vào đó cũng được. Quý thầy đóng khố đó, đeo răng nanh rồi đó, xăm hình nhảy cà tưng cà tưng á, rồi dạy người ta nhân quả cũng hay lắm chứ không phải không đâu, ha?
[1:08:25]Hay lắm luôn. Hoặc thấy có mấy cái đạo cực đoan quá đó, mình thị hiện vào đạo đó mình cải cách người ta bớt lại. Và chúng ta có một hạng Bồ Tát cuối cùng
[1:08:37]đó là Đại Bồ Tát. Đại Bồ Tát là những vị Bồ Tát mà gần như Phật á mà dường như không bao giờ hiện thân trực tiếp giữa đời để giáo hóa chúng sinh. Không bao giờ. Chỉ trừ trường hợp là Bồ Tát Di Lặc mà hiện thân làm Bố Đại Hòa thượng, đó là trường hợp rất hiếm hoi vì Ngài muốn gieo một cái duyên với chúng sinh một chút, chờ đợi cho cái ngày mà Ngài đến với cái thế giới này để làm Phật. Thế còn bình thường hầu hết các vị Bồ Tát đều không hiện thân. Chúng ta có các vị Bồ Tát nổi tiếng, những vị Đại Bồ Tát nổi tiếng như là ai? Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Địa Tạng, Đại Thế Chí. Thật ra Đại Bồ Tát thì nhiều lắm,
[1:09:25]chúng ta đọc trong các kinh á thì tên quá chừng tên. Nhưng mà trong cuộc sống thực tế, trong cái sự thờ phượng của chúng ta, chúng ta có năm vị chính. Chúng ta đi kiểm kê hết các chùa, hầu hết chỉ có năm vị chính thôi: Văn Thù, Quán Âm, Phổ Hiền, Thế Chí, Địa Tạng là hết. Và mỗi vị có duyên với ai á thì cầu nguyện thường là được linh ứng. Mà đặc biệt nhất là Bồ Tát Quán Thế Âm. Là hầu hết trong đời của chúng ta có những lần chúng ta gặp những chuyện mà bế tắc không giải quyết được, chúng ta đã niệm danh hiệu Ngài và dường như hầu hết đều thấy linh ứng. Có không? Tám phần trăm là linh ứng, chỉ có hai phần trăm không linh ứng vì một lý do khác.
[1:10:10]Tại sao? Tại sao là khi chúng ta gặp nạn chúng ta niệm Phật, nhất là niệm Bồ Tát Quán Âm thì được cứu rỗi? Trong khi chúng ta nói rằng là ví dụ như nghiệp đến với ta, tai nạn đến với ta là cái nghiệp quá khứ chúng ta phải trả. Thì đáng lẽ chúng ta phải trả cho đúng nhân quả, tại sao chúng ta niệm Phật cái hết nạn, tức là cái nhân quả bị phá? Tại sao?
[1:10:39]Vì nếu mà các vị Bồ tát dùng thần thông cứu chúng ta, thì như vậy có phải là luật nhân quả quá yếu không? Ngài dùng thần thông Ngài phá mất liền. Mà hồi nãy chúng ta nói với nhau là: luật nhân quả tuyệt đối cao hơn thần thông. Nhưng mà tại sao khi mình gặp nguy cấp, mình niệm Phật, mình mất cái tai nạn liền, qua tai nạn liền. Như vậy không lẽ luật nhân quả thua thần thông? Chỗ này phải nắm cho vững nha. Chỗ này hiểu sai cái là quý thầy thành tà kiến, hướng Phật tử đi sai hết luôn. Rồi cái này sau này đọa chết luôn. Chúng ta nhớ thế này: luật nhân quả là tuyệt đối, thần thông không bao giờ bằng nhân quả.
[1:11:22]Khi mà chúng ta gặp nguy nan, chúng ta cầu tới Phật, thì cái người mà gặp nguy mà biết cầu Phật thì người đó trước đó đã từng cái gì? Ít nhất cũng đã biết đi chùa, phải không? Biết lạy Phật, biết làm phước gì rồi, có duyên với Phật pháp rồi. Nên ngày hôm nay khi gặp nguy cấp mà niệm Phật, thì Phật lập tức Ngài cho mượn cái phước liền. Ngài cứu mình tức là Ngài cho mình mượn phước á. Mà mượn thì phải trả.
[1:11:53]Trả vào lúc nào? Trả vào những lúc mà sau này khi chúng ta sống thoải mái rồi, chúng ta đi giúp người này, giúp người kia, chúng ta cúng chùa, giúp tăng, giúp người nghèo, đó là chúng ta làm phước. Nhưng mà để ý điều này: những cái phước đó chúng ta làm, chúng ta sẽ vĩnh viễn không bao giờ được hưởng quả báo. Vì sao vậy? Vì chúng ta phải trả lại cho Phật lúc mà chúng ta cầu cứu Ngài. Đồng ý không? Đó là lý do có những người nhiều khi làm phước rất nhiều mà không thấy quả báo tới, không thấy cuộc đời mình may mắn hơn, là vì cái người này trước đây kêu cầu nhiều quá. Tức là đụng một chút gì cũng cầu xin Phật,
[1:12:34]đụng cái gì cũng cầu xin Phật, thì cái người này khi mà sau này bắt đầu thức tỉnh, có cơ hội làm phước rồi, quả báo không có, vì phải trả lại hết cho những điều mình đã vay mượn. Thần thông cũng là một loại cho mượn phước. Ví dụ như chúng ta có phước, chúng ta có gạo, cái người hàng xóm họ nghèo, họ sang nói tôi đói quá, rồi mình nói: "Ừ thôi cho anh mượn bao", mai mốt người kia có một bao gạo phải đem qua trả lại. Đó là công bằng. Thì Phật pháp cũng vậy, vì Bồ tát thì sẵn lòng cho ta mượn phước, nhưng với điều kiện ta phải trả. Nhưng mà có điều là 2% mà cầu không linh là vì sao? 2% cầu không linh, 98% là cầu có linh ứng hết, là Phật cho mượn phước hết,
[1:13:16]Bồ tát cho mượn phước hết, nhưng 2% cầu không bao giờ linh, cầu không được gì hết. Tại sao? Tại vì Phật biết cái người này mượn mà không bao giờ trả, cái thứ này thứ ăn quỵt. Lúc bí á thì nó cầu, mà bình thường xong rồi là nó quên liền, không bao giờ nó chịu làm điều lành gì hết. Thứ này không cho mượn. Thứ hai là cái thứ này đó, để cho nó khổ để cho nó bớt kiêu ngạo. Cho nên có những hạng người mà cầu không linh, còn hầu hết là cầu là linh. Như quý thầy cầu là linh á, nhưng mà đừng cầu. Tại cầu mai mốt trả nợ, làm điều phước nhiêu rồi phải trả lại Phật. Nên nhân quả vẫn là tuyệt đối, chúng ta nhớ như vậy, nhớ như vậy.
[1:14:01]Điều nữa thế này là trong cái cách mà giúp người á, chúng ta có mấy cái trường hợp, ví dụ như là cái người mà khổ vật chất, đời sống chúng ta giúp vật chất. À, rồi cái người mà khổ vì thiếu nghề nghiệp, mình giúp cho nghề nghiệp để họ tự họ họ sinh sống. Người chưa biết đạo lý thì giúp cho họ biết đạo lý, dạy dỗ họ biết đạo lý. Nhưng mà Bồ tát thì giúp cái thứ tư: giúp họ cơ hội để tạo phước.
[1:14:36]Cái giúp này mới là quan trọng, giúp này là giúp cao cấp á. Vì khi người ta tạo phước rồi, tự người ta có phẩm giá, tự người ta có uy đức, tự người ta có những cái may mắn, người ta có cái thành đạt bằng bởi cái giá trị của người ta, không cần phải nhờ bên ngoài nữa. Cho nên giúp người ta tạo phước là cái giúp hay nhất. Cho nên ví dụ bây giờ sáng sớm mình ra mình đứng trước Phật, nói: "Phật cho con 5.000", Phật không cho, tại cái đó mình xin cái quả. Còn nếu mình xin vầy nè: "Xin Phật cho con lát nữa gặp ai để cho con cho người ta 5.000", Phật cho liền, dắt người đó tới mặt mình liền. Lát bước đi ra tự nhiên gặp cái người nghèo
[1:15:12]khổ không có gì ăn, mình móc 5.000 cho. Tức là mình xin mà xin để tạo phước á, thì Phật giúp mình liền. Còn mình xin Phật để mình được hưởng phước thì Phật không cho. Mà nhớ đại Bồ tát là như vậy, luôn luôn xúi chúng sinh này giúp chúng sinh kia, xúi chúng sinh kia giúp chúng sinh nọ, nghĩa là Ngài tạo cơ hội để cho chúng sinh có phước, chứ phước Ngài dư Ngài không cần. Ngài không bao giờ trực tiếp giúp chúng sinh, luôn luôn xúi. Ví dụ bây giờ quý thầy đi trên thuyền gặp sóng gió nặng, cái thuyền nó muốn lật, lúc đó quý thầy mới niệm danh hiệu Bồ tát Quan Âm. Thì đối với các Ngài, các Ngài búng móng tay một cái là biển
[1:15:50]yên sóng lặng liền, nhưng mà Ngài không bao giờ làm. Ngài mới kêu các vị chư thiên nói: "Trên thuyền đó có người có đạo tâm đang gặp nạn mà có cầu xin, thì các vị chư thiên xuống hộ chiếc thuyền đó liền, giữ gìn, mặc dầu sóng gió vẫn đùng đùng á nhưng mà không cho thuyền chìm." Là chính các vị chư thiên khác, vị thiên tử khác làm việc đó, chứ Bồ tát không trực tiếp làm, để cho các vị thiên tử đó có phước. Nhớ như vậy. Đại Bồ tát là như vậy. Đại Bồ tát không bao giờ là làm hết mọi chuyện mà chỉ xúi thôi. Các Ngài trong cõi thẳm sâu tạo điều kiện để người này giúp người kia, người kia giúp người nọ.
[1:16:25]Có khi chúng ta gặp một người, bỗng nhiên mình thấy mình thương mình giúp, không ngờ là mình bị Bồ tát tác động trong tâm á, là Ngài đang xúi mình để mình giúp cái người đó, mà bởi vì trước đó nửa tiếng đồng hồ người kia vừa mới cầu Quan Âm nói: "Bây giờ con bí quá con muốn đi về quê mà hôm nay là trời thì đã chiều, xe không có mà tiền đã hết", đứng niệm Phật. Bỗng nhiên tự nhiên mình lân la mình lại gặp thấy thương móc tiền cho, thì không ngờ mình vừa mới làm theo cái ý mà Phật tác động trong tâm mình, khiến mình cho người đó, mà người đó: "Trời ơi Phật linh quá", dòm mình phải mình Phật không?
[1:16:59]Hổng phải, hổng phải hổng phải Phật, nhưng mà mình bị Phật xúi. Đó là Bồ tát, cách làm của đại Bồ tát. Còn những vị Bồ tát khác thấp hơn thường hay trực tiếp làm, nhưng mà riêng đại Bồ tát không bao giờ trực tiếp làm. Nhớ như vậy. Chúng ta thấy Bồ tát giống như ánh nắng mặt trời chiếu rọi xuống thế gian một cách bình đẳng. Cái lòng thương yêu của các Ngài đến với tất cả chúng sinh bình đẳng, nhưng mà cũng vậy, có những người ra đứng dưới ánh nắng mặt trời hưởng cái ánh nắng đó một cách khoan khoái sung sướng, nhưng có những người trốn ánh nắng đó chui vào trong bóng cây, không thích ánh nắng. Thì cũng vậy, lòng thương của các Ngài đến với chúng sinh là bình
[1:17:38]đẳng, là vô hạn, nhưng có người biết tưởng tới Phật thì luôn luôn cảm nhận được cái sự che chở, gia hộ, thương yêu của Phật. Còn cái người cả đời không nghĩ tới Phật, chỉ lo ăn chơi trác táng thì người đó Phật thương mà cũng đành chịu, tại vì người đó quay lưng, vì chúng sinh vẫn có cái độc lập của mình, có cái quyền độc lập của mình, Phật không can thiệp hết được. Biết như vậy, cho nên từ đây về sau, trên vạn nẻo đường đời quý thầy đi đây đi kia làm những Phật sự, quý thầy hãy nhớ một điều: lúc nào cũng tưởng đến tưởng đến Phật, nhớ như vậy. Hãy nghĩ rằng mình như là một hạt bụi nơi cái vết chân của Phật đã đi, mình bay theo.
[1:18:20]Hãy nghĩ rằng mình đặt cuộc đời của mình vào trong bàn tay của Phật. Hãy nghĩ mình như là một công cụ của Phật để làm được những điều gì đó mà Phật muốn cho cái sự tốt đẹp của thế gian này. Quý thầy cứ nghĩ như vậy, tự nhiên mình sẽ thấy là mình làm đâu đúng đó, làm đâu đúng đó. Còn cái người nào mà nghĩ cái này là do tài của tôi, trí của tôi, nay tôi học tôi có bằng này bằng kia là bị sai liền. Nhớ, lúc nào mình cũng đặt mình trong cái bàn tay thương yêu của Phật và cầu xin sự che chở của Phật, hướng dẫn của Phật. Thì hôm nay chúng ta nói với nhau về Bồ tát hạnh, chúng ta cũng phân biệt qua vài hạng Bồ tát,
[1:19:01]thì đây cũng là một cái quả vị của sự tu hành. Nhưng mà trong đó chúng ta thấy Bồ tát là không có một cái sự nghỉ ngơi. Bên cạnh một cái khát khao cái quả vị tuyệt đối, các Ngài cũng có cái lòng đại bi tuyệt đối. Chính vì cái lòng đại bi tuyệt đối này mà thúc đẩy Ngài luôn luôn làm cái gì đó để có lợi cho chúng sinh, cho cuộc đời. Và chúng ta cũng vậy. Mặc dầu bây giờ chúng ta chưa phải là Bồ tát, chúng ta chưa chứng thánh vị, nhưng mà khi chúng ta có cái lòng thương yêu với chúng sinh, khi chúng ta có cái trăn trở đối với đạo pháp là chúng ta cũng đã mang được phần nào cái tâm hạnh của Bồ tát.
[1:19:42]Hãy giữ gìn điều đó, nuôi dưỡng điều đó và cố gắng tu dưỡng, hoàn thiện mình từng ngày từng giờ để chúng ta nối theo bước của chư Phật, chư Bồ tát làm được những điều tốt đẹp cho thế gian này
[1:19:56]nha. Hỏi đi. Thưa Thầy, Bồ tát khác nhau với A La Hán là ở điểm nào?
[1:20:06]Một vị A-la-hán á, theo nguyên tắc, là không bao giờ có cái sinh hoạt tính dục, tuyệt đối không. Và vị đó, nếu theo nguyên tắc, thì khi nhập Niết-bàn không có tái sinh. Nhưng mà hình ảnh tôn giả A-nan mà xuất hiện ở trên cõi trời Đâu Suất á, làm cho chúng ta bị thay đổi quan điểm đó. Nghĩa là một vị A-la-hán không bị ràng buộc bởi tam giới, nhưng nếu các ngài phát nguyện thì các ngài vẫn tự tại trong đó, các ngài vẫn tự tại trong đó là như vậy. Đó là vị A-la-hán. Còn và những cái vị mà Bồ-tát mà thấp hơn, ví dụ Bồ-tát Tu-đà-hoàn hay những Bồ-tát mà thánh vị thấp hơn, thì các ngài theo cái tâm nguyện của mình và
[1:20:49]khả năng của mình cũng đi vào cuộc đời mà giáo hóa chúng sinh. Có những vị cũng có gia đình, như Bồ-tát Tu-đà-hoàn là thường là có gia đình. Có khi ở độc thân, có khi cũng có gia đình, chứ không phải là không. Rồi tính lừa nữa hả?
[1:21:06]Câu hỏi của bài này là: Mỗi người hãy nêu lên phương pháp cụ thể để giúp người chưa biết Phật pháp trở nên kính yêu Phật pháp. Cái câu này thì nó không nằm trong cái bài hôm nay, nhưng mà bài làm này để chuẩn bị cho cái môn học mới sau này là môn Hoằng pháp. Nhưng vì nó liên quan tới cái tâm hạnh Bồ-tát nên hôm nay chúng ta làm trước để chuẩn bị tinh thần. Vài hôm nữa thì tôi sẽ gửi cái đề thi học kỳ hai về đây cho ban giám hiệu. Tuần tới nữa chúng ta thi phải không? Thi thì thi, nhưng mà thi xong rồi vẫn còn hai bài thiền học phải học cho hết. Rồi chúng ta sẽ nghỉ một tháng không học. Sau đó trở lại, chúng ta bắt đầu học cái môn Hoằng pháp, môn mới.
[1:21:46]Có ai hỏi gì nữa không?
[1:21:56]Thời Đức Phật là đã có một vài vị như là được ghi nhận như là vua Tịnh Phạn, ví dụ vậy. Nhưng mà sau này các nhà sử học thì người ta không tin, à. Tuy nhiên thế này, theo Nam tông định nghĩa, theo Nam tông á thì chỉ có những vị Tỳ-kheo xuất gia hoàn toàn mới chứng A-la-hán. Nhưng mà cái quan niệm đó nó có vẻ nó hơi cố chấp. Theo Nam tông thì Nam tông thì họ hay bị chấp, nhưng chúng ta có thể nói như thế này: không cần biết tại gia hay xuất gia, nhưng người nào sống được với cái hạnh thanh tịnh như thế thì có thể chứng A-la-hán được hết. Vì xuất gia là cái gì? Tức là người đó không bị ràng buộc bởi trách nhiệm gia
[1:22:39]đình, nha, làm điều gì chỉ hoàn toàn do tự nguyện. Khác nhau giữa tại gia và xuất gia. Để nói cái này, ví dụ như một người tại gia có gia đình, có chồng, có vợ, có con thì luôn luôn họ phải làm vì bổn phận bắt buộc, phải không? Họ phải đi làm để kiếm tiền nuôi gia đình, nuôi bản thân họ. Là họ làm cái này là vì bổn phận bắt buộc. Còn cái người xuất gia là làm kinh tế cũng không cần làm, không cần làm, rồi không cần phải nuôi ai, hễ làm điều tốt gì đó là chỉ hoàn toàn là do tự nguyện thôi, không có bị ràng buộc. Nên đây là cái điểm khác nhau giữa tại gia và xuất gia. Nhưng, chỗ này là quan trọng,
[1:23:19]thầy hỏi câu đó hay đó, để tôi phân tích chút xíu để thấy. Bây giờ thử, thử thôi chứ không phải thiệt, quý thầy hoàn tục đi lấy vợ, nha, đẻ ra vài ba đứa con, đúng tiêu chuẩn nhà nước là hai đứa, gái hay trai chỉ hai là đủ, ha. Sau đó quý thầy phải bươn chải vất vả để làm nuôi vợ, nuôi con. Nhớ lại cái đời sống ở trong chùa mình không hề bị bắt buộc bởi cái này, phải không? Mình chỉ làm theo cái điều tốt đẹp của lẽ phải, của đạo lý. Quý thầy thấy khác nhau giữa hai cái việc làm: một bên là sự thúc đẩy của cái lý tưởng, một bên là sự bắt buộc của bổn phận làm người. Hai cái đó khác hẳn nhau. Một bên càng làm càng thấy cao thượng bởi vì đây là lý tưởng thúc
[1:23:59]đẩy, một bên là càng làm càng thấy mệt mỏi vì bổn phận bắt buộc. Hai cái khác nhau. Hai cái khác nhau này nó tạo thành hai cái quả báo tu chứng khác nhau. Nghĩa là trong cái hoàn cảnh bị bổn phận bắt buộc, mình tu gì tu, bên Nam tông nói chứng A-la-hán không được. Còn một bên hễ làm điều tốt là chỉ vì lý tưởng thúc đẩy chứ không có cái sự ràng buộc kia thì người này chứng A-la-hán được. Hai cái khác nhau. Nhưng, nói đi nói lại còn chữ nhưng. Nhưng, nếu một người xuất gia không bị bổn phận bắt buộc phải làm điều gì hết mà lại cũng không thèm làm điều gì cho lý tưởng của mình thì người đó làm sao?
[1:24:35]Còn tệ hơn tại gia. Ít ra cái người tại gia họ còn nuôi được vợ con họ, còn cái người xuất gia mà không chịu làm điều tốt do lý tưởng đòi hỏi thì đúng là mình là người vô tích sự và ăn bám thì người này đọa thê thảm luôn. Nhớ điều đó. Nên tuy là người xuất gia có được cái lợi thế chỉ làm mọi điều theo lý tưởng nên dễ chứng đạo, nhưng mà nếu không chịu làm là chết liền nha, còn thua người tại gia nữa. Nhớ điều đó. Khác nhau cái tâm đó đó mà chứng hay không chứng A-la-hán á. Cho nên nếu một người tại gia mà họ xây dựng cái gia đình họ như thế nào đó để họ rồi họ không còn bị bổn phận bắt buộc mà chỉ làm điều gì theo lý tưởng thì người
[1:25:15]đó cũng giống như người xuất gia và có thể chứng A-la-hán nếu tu hành đúng. Đồng ý không?
[1:25:27]Có ai hỏi gì nữa không? Nữa? Mỗi lần tái ngộ là hỏi.
[1:25:34]Dạ, xin phép thầy cho con hỏi vài câu. Thầy nói là mọi sự xảy ra trên đời này á đều nó có cái nguyên nhân của nó, một cái thấy được và cái không thấy được. Thầy giải thích là thí dụ chẳng hạn như là mình đi đường đi, một cái nhánh cây nó rớt xuống, tại sao nó không rớt trước mặt, nó không rớt sau lưng, mà nó rớt ngay đầu? Như vậy đó là tại vì nó có cái nguyên nhân của một cái tiền kiếp nào đó bây giờ mình phải chịu cái quả như vậy. Con đồng ý quan điểm, nhất trí cao với thầy cái điều đó. Nhưng mà chẳng hạn như một nắm giấy đi, mình xé tan nát nhỏ, thầy giải thích là nếu mà mình liệng ra như vậy đó thì nó bay lả tả.
[1:26:10]Con á thì con nói là ngẫu nhiên, thầy thì nói là cái này có một cái sự sắp xếp thứ tự lớp lang chứ không phải là ngẫu nhiên. Xin thầy giảng rõ hơn cái này. Cách đây khoảng hơn 1000 năm, có một nhà Nho đã phản đối cái nhân quả của Phật bằng đúng cái ví dụ này. Khi mà bên đạo Phật đưa ra là cái gì cũng có nhân quả thì có ông nhà Nho ổng nói giống như người xé một nắm giấy, nắm lại, tung bay theo gió thì một cái tờ giấy bay theo chỗ này, một tờ giấy bay chỗ kia hoàn toàn ngẫu nhiên, không có gì là nhân quả hết. Ổng đưa ra ví dụ như vậy, nhưng mà sự thực, nếu mà nói trên toán học á, không có gì ngẫu nhiên hết á.
[1:26:48]Nha, ví dụ chúng ta xé một nắm giấy, chúng ta quăng, quăng đi rồi sẽ có một cái giấy nó rớt trên bàn, có giấy nó bay đây, có giấy nó bay kia thấy không? Thì bởi vì mình nhìn không kỹ thôi, mình thấy nắm miếng giấy nào như miếng giấy đó. Nhưng mà nếu chúng ta nắm kỹ là khi xé tờ giấy ra làm hai, chúng ta đặt lên, xé làm bốn, xé năm thì có miếng trước miếng sau không? Từng miếng đã bị sắp xếp rồi, thứ tự khác nhau rồi, phải không? Chứ đâu phải là nó xuất phát từ đúng một điểm đâu. Nó nằm trong một nắm tay ta nhưng mà sự thực trong nắm tay đó có miếng bị xé trước, miếng bị xé sau, miếng nằm bên phải, miếng nằm bên trái, phải không?
[1:27:22]Và do vì nó khác nhau đó nên khi đập xuống như vậy thì chính từ nó cái làn gió bất ngờ nó thổi vào, nó chẻ những mảnh giấy đó ra, xé ra từng mảnh, và cái miếng nào nằm trước sẽ bay theo gió đây, miếng nào nằm phía sau bay đây rồi rớt đây. Lúc chúng ta xé, chúng ta đã quy định số phận của từng mảnh giấy bị xé rồi. Không có ngẫu nhiên. Đồng ý không?
[1:27:49]Con xin hỏi là mình à coi như là mình tu theo cái đạo Phật mà cái đạo Phật của mình á, bất cứ cái gì á mà xảy ra đối với mình á thì mình nói là tại cái tiền kiếp mình gieo cái gì đó, bây giờ mình phải bị như vậy. Thì tại sao như bao nhiêu người không bị mà mình bị, như vậy là nó có cái tiền kiếp mình gieo cái gì đó? Nhưng mà làm sao biết chắc được là cái tiền kiếp mình lại làm vậy mà bây giờ xảy ra? Đôi lúc nhiều khi mình không có mà người ta gây nghiệp cho mình thì sao? Làm sao phân biệt được thầy? Đây đó, phải nói có cái hay của cái gọi là tiền kiếp mà mình không thể biết được, à. Vì sao mà chúng ta không được quyền biết cái tiền kiếp của mình?
[1:28:33]Vì nó có hai lý do, hai lý do. Một lý do là chúng ta không có đủ đạo lực. Khi mà chúng ta biết được tiền kiếp, chúng ta sẽ bị rối lên. Và thứ hai nữa là chính vì không biết được cái nguyên nhân, chúng ta phải tự mình giải quyết cái bài toán này. Giống như là khi mà chết á, chúng ta có thể biết tội biết phước, khi đầu thai lại là chúng ta đang đi vào một cái cuộc thi. Đời sống này là một cuộc thi, phải giải bài toán cho tốt. Đời sống này là một ước mơ, phải ráng mà mà thực hiện. Đời sống này là một thử thách, phải ráng mà vượt qua. Đó, có những người đã nói như vậy. Mà tại sao chúng ta không có đủ đạo lực để xứng đáng mà thấy được tiền kiếp?
[1:29:20]Là vì thế này: nếu chúng ta biết được tiền kiếp thì cuộc đời này rối tung lên hết. Có lần chúng tôi đã giải thích, có lần ví dụ thế này: ví dụ có hai vợ chồng sống với nhau tới 70 tuổi, rồi bữa nọ ông chồng ổng ngã lăn ra ổng chết. Sau khi ổng chết, ổng đầu thai qua nhà hàng xóm, ổng lớn lên chín tuổi, bà vợ vẫn chưa chết. Thì ổng nhớ tiền kiếp, ổng mới chạy qua bà hàng xóm: "Em!" Ôm. Bà kia: "Ê! Mày, mày làm gì mày?" "Em, anh đây! Trời ơi sao em quên anh đành đoạn?" Mình thấy cuộc đời lúc đó nó làm sao? Rối lên, rối tung phèo lên hết. Cho nên thôi, làm ơn quên giùm, đừng nhớ giùm rồi, quên. Cho nên, chừng nào mà cái chú bé đó có đạo lực á,
[1:30:07]ví dụ nhớ nhưng mà làm tỉnh, tại vì biết mình nói ra không có hay, phải không? Cuộc đời nó rối. Cho nên ví dụ nhớ: "À, nhớ kiếp trước mình là chồng bà già đó." Nhưng mà thôi làm thinh, vẫn gặp vẫn nói: "Thưa chào bà!" Nghĩa là giữ bình tĩnh được, người phải có đạo lực thì mới đáng để nhớ tiền kiếp. Còn vì mình chưa bình tĩnh được nên không nên nhớ. Đó là một cái hay đó, chứ còn không nhớ là rối tung ben lên hết trơn. Và đồng thời là một cái bài toán mà được gọi là giải hay là người đó không được đọc cái quyển quyển sách đáp án. Phải không? Khi vào thi là phải sao? Không được đem theo tài liệu vào phòng thi.
[1:30:43]Giống như là khi chúng ta được tái sinh rồi là mình đi vào phòng thi đó, không được đem theo tài liệu, tức là cái kiếp trước không được. Phải tự mình giải quyết những điều tốt, điều xấu, điều thiện, điều ác trong cuộc đời này bởi cái trí tuệ, cái thiện tâm của mình. Cái đó mới có giá trị. Vì vậy mới cần những cái người giáo dục là vậy đó. Là phải có những người giáo dục để cho chúng sinh biết tội biết phước và chúng sinh bị đặt vào trong những thử thách nghiệt ngã cuộc đời và vượt qua và giải quyết những bài toán hóc búa đó. Chịu chưa? Đòi nhớ nữa không? Không nhớ nữa.
[1:31:15]Dạ con có nghe băng rất là nhiều của thầy, có một cuồng nào đó mà chẳng hạn hôm nay cũng có một đoạn nào đó chút chút thì theo con thấy là nếu thầy có giảng thì nếu mà đem so sánh đạo này đạo kia đối chứng thì thầy hạn chế về cái đám Hồi giáo. Bởi vì cái này nó thuộc về cái cực đoan. Thành thử ra đó mình là thầy thì không nên nói nhiều lắm, con nói thì cỡ nào cũng được hết trơn á. Giỏi lắm thì con chết như con chó chết ngoài đường thôi chớ không có ăn thua gì hết á. Còn riêng thầy á thì cả trăm ngàn Phật tử nương tựa theo thầy, mà lỡ có có gì thì nương tựa vào ai? Nếu mà nương tựa vào thầy khác thì không có duyên với thầy khác thì sao đây?
[1:31:56]Thành ra bởi vậy con thấy là thầy nên nếu mà đối chứng thì ít ít chút. Thầy rất là cảm ơn cái tấm lòng của anh. Khi mà anh nói câu là anh chết như con chó chết, Phật rất cưng anh vì câu này, bởi vì anh rất là khiêm hạ.
[1:32:13]Cái người rất khiêm hạ mới nói được câu đó là thấy mình chết như con chó chết. Rất là khiêm hạ, anh nói câu đó anh có công đức dữ lắm á. Nhưng mà thực ra thầy nói để anh hiểu, nhưng mà sự thật thầy coi như thầy đã chết. Khi mà thầy nói mạnh về Hồi giáo, thầy đã chấp nhận thầy chết. Ví dụ lát ra thì có ai đó lại giết thầy, thầy xem việc đó bình thường. Thầy đã coi như mình đã chết từ lâu rồi. Hôm nay còn sống được ngày nào cứ làm hết mình. Nhưng mà phải nói, bởi vì thầy không nói, mọi người không cảnh giác, không thấy được cái hiểm họa của Hồi giáo mà ráng tu và ráng chung tay nhau bảo vệ Phật pháp,
[1:32:48]cứ sống xìu xìu không làm gì hết kiểu mà cái nhẫn nhục này đạo Phật từ từ tiêu. Nên phải mạnh mẽ lên, phải cứng rắn lên, phải đoàn kết, phải chấn chỉnh lại. Phải thấy cái nguy hiểm đó mà chấn chỉnh lại. Mà khi nói điều đó là chấp nhận cái chết rồi. Cho nên thì anh không sợ chết, thầy cũng không sợ chết nha. Tất cả chúng ta không sợ chết để bảo vệ Phật pháp. Thôi cảm ơn anh rất nhiều. Thôi ha, thôi đừng hỏi nữa ha. Được rồi. Còn nữa hả? Trời. Dạ con hỏi câu cuối à. Theo thầy có nói là một số băng thầy nói là nếu ai tu theo thầy từ 5 năm cho tới 7 năm mà tu đúng phương pháp và làm bố thí cúng dường kia nọ tùy
[1:33:29]theo khả năng của mỗi người, nếu không tốt hơn trước cái thời gian đó thì thầy sẽ đền cho một chiếc Dream Trung Quốc để chùa Phật Quang. Cái chỉ tiêu mà thầy nói là 5 năm tới 7 năm thì cái chỉ tiêu này không ai đạt được hết. Bởi vì tu cỡ chừng 3 năm là nếu làm đúng phương pháp vậy thì đã đạt được rồi, thành ra cái chỉ tiêu này quá cao, thầy có thể hạ xuống được không? Tức là kêu hạ xuống để bắt thầy phải đền cho được? Thầy nói 5 năm 7 năm là để thầy đừng có đền. Bắt thầy hạ chỉ tiêu để cho thầy phải đền. Thôi, anh khôn vừa thôi, để cho thiên hạ nó khôn bớt. Thôi được rồi. Thôi vậy thôi ha, mình nghỉ nha.
[1:34:08]Nguyện đem công đức này
[1:34:16]hướng về khắp tất cả,
[1:34:23]đệ tử và chúng sinh
[1:34:31]đều