[0:00]Nay ta nghe cái phần cuối của cái phần Thức ấm. Nói chớ Thức ấm thì nhưng mà bài này đã hết Thức ấm rồi. Bài này là bài ngoài Thức ấm. Nên ta nghe thì ta hiểu về cái trạng thái của các bậc Thánh. Hiểu thôi, các bậc Thánh thôi chứ mình không phải Thánh. Mình hiểu để mình biết phân loại một chút. Vì đó, khi mà nghe nói về thần thông, phép lạ đồ mình biết phân loại, nó không bị lầm, không có tưởng thần thông nào cũng giống thần thông nào. Khác xa nhau nhiều lắm.
[0:35]Thức ấm là gì?
[0:42]Cái biết nha, biết của tâm. Cấu trúc của tâm là biết, hễ có biết là có Thức ấm, đấy. Nhưng cái biết này thì có cạn, có sâu. Như con mắt mình nhìn thấy sự việc rồi mình nhận ra được cái cái hình ảnh đó cũng là cái cũng là cái biết. Rồi hoặc là mình tự biết nội tâm của mình đang diễn biến thế nào cũng là cái biết. Và trường hợp như mình có trực giác, mình đoán được tâm người ta nghĩ gì hay là nhiều khi đoán sự việc sắp xảy ra cái gì, thì đó cũng là cũng là cái biết, Thức ấm.
[1:22]Bây giờ ta nói thế này: Ta nhìn cái ta thấy, ta thấy đó là một gia đình hạnh phúc. Vậy dựa vào cái gì mà ta biết đó là một gia đình hạnh phúc?
[1:38]Ví dụ bây giờ ta đến một khóa thiền, ta nhìn và ta nói, à, các huynh đệ ở đây tinh tấn.
[1:46]Vậy ta cái biết, biết rằng huynh đệ tinh tấn là cái biết cái gì? Ở đâu biết như vậy?
[1:54]Có những cái biết mà ta gọi là cái biết trừu tượng, nó là tổng hợp của nhiều cái biết khác. Hoặc là ta nhìn con người ta nói ông này đạo đức. Nhìn ở đâu mà nói ông này đạo đức?
[2:13]Tức là cũng bằng mắt, bằng tai, bằng nhiều thứ, nhưng ta tổng hợp rất nhiều cái biết kia rồi mới ra được một cái biết trừu tượng, mới đánh giá, à, đây là con người đạo đức, đúng không ạ? Là ta đã thấy ổng, ta đã nghe ổng nói, ta đã nhìn thấy ổng làm, ta đã quan sát từ những việc trước việc sau đối chiếu, so sánh rất nhiều rồi ta mới có cái kết luận là: Đây là con người đạo đức. Đó là cái biết trừu tượng ta do suy luận tổng hợp nhiều cái biết khác. Còn cái biết trực giác, nó cũng biết liền nhưng mà nó không cần phải tổng hợp. Ví dụ con người vừa gặp mặt mình mới thoáng qua trong một giây, mình đã đánh giá xong con người này đạo đức hay là không đạo đức,
[3:00]giả vờ hay là thủ đoạn hay sao, biết liền trong một giây. Thì cái này gọi là trực giác. Ha. Nó không tốn thời gian nhiều, không cần nhiều cái dữ liệu, không cần nhiều thông tin và ta đã biết luôn tới cái bản chất, tới kết quả. Hai cái đó nó khác nhau. Ha? Như vậy là ta để ý chưa? Thứ nhất là ta có những cái biết cụ thể, miếng nhỏ nhỏ, nghe cái gì biết cái đó, thấy cái gì biết cái đó, gọi là cái biết cụ cụ thể. Rồi ta có cái biết trừu tượng là tổng hợp nhiều cái biết cụ thể thành cái biết trừu tượng. Ví dụ ta nói là thấy cái gia đình này hạnh phúc là bởi vì cái gì? Ta nghe cái giọng nói của ông chồng với người vợ,
[3:43]ta nghe cái giọng nói của người vợ với ông chồng, ta nghe cái câu nói của đứa con đối với bố mẹ, thì đó là đấy, rồi ta nhìn thấy cái ánh mắt họ nhìn nhau, nha, rồi ta nhìn thấy cái người vợ đối xử với ông chồng, chồng xử với vợ, con cái đối xử với bố mẹ, tức là tổng hợp nhiều thứ như vậy thì ta rút ra được một cái biết của sự tổng hợp suy luận đó: Gia đình này hạnh phúc. Thì ta gọi là cái biết trừu trừu tượng, là cái thứ hai ha. Còn cái thứ ba là cái biết trực giác. Vừa đặt chân vào thềm nhà người ta, chưa cần thấy ai nói chuyện với ai hết, mình nhận ra được cái không khí hạnh phúc đầm ấm trong gia đình này liền, không cần suy luận.
[4:27]Đó gọi là cái biết trực trực giác. Nó có ba cái biết của của Thức ấm ta đấy. Ta nhớ chưa? Và trong cuộc đời mình, ba cái này mình thường xuyên dùng phải không ạ? Nhưng những người nhạy cảm thì cái biết trực giác họ dùng nhiều hơn, dùng nhiều hơn. Ví dụ bây giờ nói như Phật tử mình vậy. Mình yêu kính quý Thầy, quý Cô là theo bổn phận, theo nguyên tắc. Vì mình là người Phật tử quy y rồi, thì đối với Tăng Ni mình phải có cái lòng kính trọng, mà cái đó chỉ là kính trọng theo nguyên nguyên tắc thôi. Chứ còn cái lòng mình kính trọng thật sự thì làm sao? Phải đợi cái gì? Phải đợi mình đánh giá cái đã. Phải không?
[5:10]Đánh giá, à, vị Tăng này, vị Ni này là chân tu, đạo đức thì cái lòng kính trọng thật sự của mình nó mới mới khởi lên. Chứ còn ví dụ nguyên tắc thì mình cứ kính trọng, nhưng mình ở gần gũi lâu ngày mình phát hiện tùm lum chuyện ra: "Cái này sao ông ăn nói bỗ bã thế? Rồi cái cô kia sao có vẻ tham tiền thế?". Mình dù không muốn nhưng trong tâm nó cứ đánh giá, thì lúc đó cái lòng tôn kính của mình bị giảm sút. Nó là như vậy. Thực sự thì Thầy, Cô mình thì đầu tròn áo vuông, nhìn ai cũng đáng kính. Nhưng mà người Phật tử mình tu tập lâu, cái mình cũng có cái trực giác. Nhìn thoáng qua mình cũng biết cái người nào tu hành đàng hoàng hay không.
[5:54]Có không ạ? Có phải không? Nhìn sơ cũng biết cả. Nhìn sơ cũng biết cả. Ở ngoài thì giả vờ lịch sự thôi chứ bên trong cái sự kính trọng mình dành cho các Thầy, các Cô ấy nó cũng khác nhau. Sư phụ nhớ hồi Sư phụ còn cư sĩ, hay đi chùa tu tập, gặp có một ông thầy, Sư phụ nhìn vô ông thầy Sư phụ nghi ngờ, thấy ông này không có đạo hạnh lắm, có vẻ tầm thường. Nhưng mà vì là nguyên tắc cho nên mình cũng phải hết sức là kính trọng. Cũng cũng kính trọng rồi cư xử rất là mẫu mực như vậy. Rồi sau đó thì Sư phụ đi xuất gia, rồi mình đi cái con đường của mình nữa không có gặp lại ổng. Mấy chục năm sau khoảng đâu gần hơn hai mươi mấy,
[6:38]ba mươi năm sau mới gặp lại ổng thì nhìn thấy ổng khác hẳn. Không còn là cái ông thầy mà ngày hồi mấy chục năm trước mình nhìn thấy nữa. Hôm nay ổng rất là đức độ, bởi vì nó cũng thay đổi, rồi mấy chục năm mình tu hành rồi cũng có con mắt nhìn. Nhìn lại ổng ngạc nhiên là: "À, mình nhớ cái ông thầy này rồi. Hôm nay thì ổng béo hơn, tuổi lớn thì đúng là béo hơn, nhưng mà rõ ràng ổng đàng hoàng hơn hẳn luôn". Đúng như vậy, rõ ràng mấy mươi năm qua ổng có tu tập nên nội tâm có tiến bộ và cái đạo đức có tăng trưởng, như vậy. Nhưng mà hồi cứ nhớ là hai mấy năm trước thì nhìn thấy ông này trong lòng không kính trọng,
[7:12]nhưng mà nguyên tắc bên ngoài thì cứ phải đối xử vậy thôi. Đó, đó là cái cảm nhận của con người mình. Tuy nhiên, những cái cảm nhận con người mình với nhau trong cái trực giác vậy chứ nhiều khi cũng bị bị lầm. Ví dụ thường á, trong một cái tích tắc 1/10 giây đầu khi ta gặp cái người mới gặp thì cái trực giác nó phát ra ta nhận ra người đó liền. Nhưng đến khi ta tiếp xúc lâu, rồi bị nụ cười, bị lời nói người đó nó che đậy, cái ta bắt đầu khác, nhìn khác. Ta bị nhìn thay đổi cái cái cái nhận xét của mình. Thì cái cái phần sau đó là phần bị lầm. Còn 1/10 giây thoáng ban đầu ta nhìn thấy người đó, đó là cái trực giác rất là đúng.
[7:57]Nó là như vậy. Khắp thế giới họ đều có kinh nghiệm đó, ai cũng vậy. Ừm. Đó nói ta nhớ nha, người ta hỏi cái biết của Thức ấm là gồm mấy cái thì mình nói liền mấy cái? Thường là ba. Thường đoán sự thật chia ra thì nó nhiều hơn, nhưng mà thường là ba. Là thứ nhất là cái biết cụ thể, đó, thấy cái gì biết cái đó, nghe gì biết đó. Cái biết cụ thể này nó gồm cả biết ngoại cảnh và biết chính nội nội tâm của mình. Mình có suy nghĩ, mình biết mình đang suy nghĩ. Mình có giận, mình biết mình đang giận. Mình buồn, mình biết mình đang buồn. Đó. Mình thương ai, mình biết mình có có thương. Ghét ai, mình biết mình có có ghét, nha. Đó là cái biết cụ thể.
[8:47]Còn biết trừu tượng là gì? Cái thứ hai là biết trừu tượng là biết cái gì? Đúng rồi, tổng hợp nhiều nhiều cái biết cụ thể lại để mình suy luận ra một vấn đề. Đó, ví dụ nhìn vào cái khóa thiền này biết đây là khóa thiền tinh tấn, vì thấy mọi người cố gắng ngồi thiền nghiêm túc, thấy người ngồi lâu thì nhìn thấy họ ngồi rất là yên, người mới vào thì hơi vất vả, động hơn, nhưng ai nấy cũng đều cố gắng, rồi ngoài cái lúc ngồi thiền, mọi người đều khe khẽ đi, đứng, nằm, ngồi, vân vân, biết đó. Tổng hợp nhiều thứ thì mình rút ra một cái kết luận đó là: Đây là một khóa thiền tinh tấn. Là như vậy. Cái biết thứ ba là gì?
[9:35]Trực giác nha, vậy đó. Trực giác thì không cần nhiều thông tin dữ liệu để suy luận với tổng hợp gì cả, biết luôn. Đó là như vậy, biết liền. Hôm nay thì ta nói tới cái bài ngoài Thức ấm. Không có dựa vào cái gì để biết, là làm sao? Đây là tới một bậc mà chứng được vô ngã.
[9:58]Thì không còn bản ngã, và không còn bản ngã thì không có dùng tới sắc, thọ, tưởng, hành, thức nữa, kể cả thức ấm không dùng tới nữa. Nên cái biết của vị đó là không bằng cái biết mà ba cái như ta nói: cụ thể, trừu tượng và trực giác, mà ở đây các vị biết mọi chuyện bằng cái cảm, cảm ứng, nhớ giùm. Cảm ứng nghĩa là gì? Cảm ứng nghĩa là khi một vị Thánh muốn biết một điều gì bằng cái cảm ứng, thì vị đó hướng tâm về điều đó, vị đó trở thành chính điều đó. Ví dụ bây giờ sư phụ hỏi: "Anh anh là người tốt hay xấu?", nói: "Dạ, con tốt chứ!". Mình nghĩ mình tốt, nhưng mình còn rất nhiều điều xấu mình không biết.
[10:50]Nhưng khi một vị A La Hán họ cảm ứng với chính mình, họ tìm hiểu chính mình, thì tất cả những lỗi cực nhỏ, cực nhỏ trong tâm hồn mình, trong nghiệp của mình, các vị đó biết không sót một điều gì. Nên biết về mình nhiều hơn chính mình biết về mình. Và sao? Cần một cái nữa, biết tuốt luôn vô lượng kiếp của mình luôn: kiếp nào, sinh ra ở đâu, làm gì, cha mẹ là ai, những kiếp xưa có những nghiệp gì, mà nếu cái nghiệp gì thấy nó có vẻ hơi lạ lạ quan trọng thì xoi luôn cho tới từng chi tiết nhỏ của cái nghiệp đó luôn, không một điều gì giấu giếm được nữa. Đó là một bậc A La Hán đó!
[11:39]Nói về cái thần thông của vị A La Hán ta nói muôn đời, muôn kiếp không hết, là tam minh, lục thông. Mà chỉ có thời Phật về các vị A La Hán mới nói được điều này. Sau thời Phật, rất nhiều tông phái, nhiều thiền phái, các tổ sư, chưa bao giờ có một tổ sư nào nói được điều này. Nhớ giùm thầy điều đó. Nhưng mà có cái ngược lại là những phái Thiền về sau lại tự nhận như mình giỏi hơn Phật. Đây là cái chúng sinh bị lầm.
[12:18]Nhiều khi ta lại thích nghe những cái người sau Phật hơn là nghe những điều chính từ Đức Phật.
[12:27]Mà ở về sau họ nói khiếp lắm. Có những thiền sư đắc đạo thời cận đại, đâu khoảng thời nhà Thanh rồi đó, khoe ổng là đây ngộ kiến tánh này là đồng Đẳng Giác Phật, thấy không, không thua gì Đức Phật, vân vân. Nhưng mà hỏi tam minh lục thông? Chưa ông nào có cả. Chỉ có một số thần thông sơ sơ thì có, chứ còn nói cho đúng tam minh lục thông của A La Hán, chưa ông thiền sư nào có cả. Kể cả từ Tây Tạng, mình nghe tin là bao nhiêu các vị gì? Đạo sư, Ân sư, Chân sư gì cho tới các thiền sư Trung Hoa gì, chưa có một người nào có thể nói về tam minh lục thông được như thời Đức Phật. Nhưng mà cứ tự nhận mình cao hơn thời Đức Phật.
[13:12]Có thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn, ngài ở trong cái hội đệ tử của ngài Quy Sơn.
[13:20]Lúc đó ngài đang sàng gạo, thì ngài Quy Sơn mới đến nhặt một cái hạt gạo lên, đưa trước mặt ngài hỏi: "Muôn ngàn cái hạt gạo đều từ một cái hạt gạo này sinh ra - ý là ngài nói mình gieo một hạt lúa thì bắt đầu nó nẩy nở nó, nó sinh ra từ nhiều hạt lúa khác nữa - Muôn ngàn hạt gạo từ hạt gạo này sinh ra, vậy cái hạt gạo đầu tiên này từ đâu sinh ra?". Ngài không trả lời được, ngài ngớ ngớ, cái ngài về ngài mở kinh, mở điển ngài đi tìm. Tìm rồi cứ day dứt cả tháng trời,
[13:58]không tìm ra câu trả lời. Đắp y đến đảnh lễ ngài Quy Sơn, hỏi: "Cái câu bữa mà thầy hỏi con, con con tìm nát hết không tìm ra được cái câu trả lời, vậy xin thầy cho con câu trả lời này". Ngài Quy Sơn cười cười, cười bỏ đi không nói. Cái nhiều lần cái ngài giận, giận thầy mình sao giấu nghề mình, thấy không? Bao nhiêu hạt lúa thì phải từ hạt lúa đầu tiên nó trồng lên rồi nó mới sinh ra, vậy cái hạt lúa đầu tiên ở đâu ra? Đó, cái câu đó ngài giận thôi ngài bỏ đi. Ngài bỏ đi ngài nói: "Cái câu này không trả lời được thì làm sao mình biết được mọi cái chân lý trên cuộc đời? Thôi, một đời này làm một vị tăng ngu ngốc,
[14:45]trồng rau, cuốc đất mà sống, không mơ ước chuyện gì giác ngộ, giải thoát nữa". Ngài về đến vùng núi, bữa đó đứng ngài cuốc đất. Cuốc đất cái trúng cái viên sỏi, viên sỏi nó bay vô cái bụi tre kêu cái cóc, ngài bừng ngộ liền! Đúng là lạ, nói đúng là người ta cũng có số chứng Thánh. Còn mình bây giờ lấy đá mình để cả rổ mình chọi vô bụi tre, chọi cóc, cóc, cóc, cóc nó có ngộ không? Không mà, gặp hàng xóm họ thò mặt qua cửa sổ họ chửi cho nhé! Còn ngày xưa ngài vô tình cuốc nghe cái cóc bừng ngộ liền. Khi ngộ xong, ngài mới vào cái tắm rửa, đắp y trang nghiêm, thắp cái hương, hướng về núi Quy Sơn lạy, nói câu này:
[15:32]"Con lạy tạ ơn Hòa thượng hơn cha mẹ! Nếu ngày xưa con hỏi mà Hòa thượng trả lời thì con không có ngày hôm nay, không có được cái ngộ đạo như ngày hôm nay". Vậy mà ở núi Quy Sơn cách đó không biết bao nhiêu ngàn dặm, ngài Quy Sơn biết liền. Ngài Quy Sơn mới nói với Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn là đệ tử đầu á, đệ tử lớn nhất á, nói: "Cái thằng Trí Nhàn nó ngộ đạo rồi đó nha!". Cái ngài Ngưỡng Sơn nói: "Sao thầy biết?". Nói: "Ta biết". Nói: "Cái này cũng là giống như một dạng thần thông của tâm ý thức thôi, để con tới nơi con tìm hiểu". Thế ngài Ngưỡng Sơn xách gói đi về đi tìm ngài sư đệ của mình là Hương Nghiêm Trí Nhàn.
[16:17]Để tìm đến nơi, ngài nói nói thế này: "Nè Trí Nhàn, sư phụ nói em là là ngộ đạo rồi, có gì nói anh nghe, trình coi!". Sư huynh kiểm tra. Người sư đệ mới nói câu là có bài kệ này: "Ngày xưa tôi, tôi rất là nghèo, không có một miếng đất để cắm dùi. Ngày hôm nay, cái dùi cũng không có luôn!".
[16:46]Ngài Ngưỡng Sơn gật đầu, khen: "Em ngộ được Như Lai thiền, nhưng chưa ngộ Tổ sư thiền". Như vậy, trong cái phân cấp của ngài Ngưỡng Sơn là Như Lai thiền rõ ràng là thấp hơn Tổ sư thiền, đúng không ạ? Mới khen: "Ờ, em ngộ được Như Lai thiền nhưng chưa ngộ Tổ sư thiền". Cái ngài Trí Nhàn mới làm tiếp liền bài kệ liền: "Em có một cái bộ máy mà nhúc nhích tay chân hay là chớp con mắt cũng từ đó mà ra". Cái ngài Ngưỡng Sơn gật đầu: "Ừ, em ngộ Tổ sư thiền!", rồi mới ra về. Lại gặp ngài Quy Sơn về lại với thầy mình, nói: "Dạ, Trí Nhàn nó ngộ thiệt á!".
[17:34]Thì cái cách nói như vậy làm cho mọi người sau hiểu rằng là Như Lai thiền thấp hơn Tổ sư thiền, cái chết người là cái đó!
[17:46]Nên người ta bắt đầu xao lãng, lơ là, không nghiên cứu kỹ con đường Thiền của Phật. Mà càng về sau thì người ta càng nói hay quá, nói hay quá, nên khi ta tiếp cận được với các thiền phái, ta toàn nghe những lời của những người sau Phật nhiều hơn là nghe chính lời của Phật. Nó sinh ra một loại tà kiến là còn có những người giỏi hơn Phật. Đây là một cái tà kiến làm cho ta tổn phước. Và cứ cái tổn phước này nó len lỏi, len lỏi vào khắp nơi, mọi tông phái, làm cho toàn bộ đạo Phật sao? Bị tổn phước và suy tàn. Một trong những nguyên nhân làm cho đạo Phật bị suy tàn chính là tất cả đệ tử Phật đều bị tổn phước.
[18:46]Đó là một nguy cơ. Bên ngoài, những thế lực xấu ngày đêm nó đánh phá đạo Phật, nhưng tự chính trong đạo Phật, ta tự làm cho mình tổn phước.
[19:00]Ví dụ nói bây giờ một cái tông phái mà gọi là giữ gìn kỹ cái giáo lý của Đức Phật là phái nào? Nam tông Theravada. Hồi đó, sư phụ cũng thần tượng Theravada tại vì nghĩ họ là những người giữ gìn kinh điển của Đức Phật rất kỹ, và nói mình cũng vậy và các vị đó cũng vậy, cho nên cũng yêu quý. Nhưng có một lần gặp một vị sư Theravada, ổng nói câu này làm sư phụ ngã ngửa. Ổng nói: "Nếu mà học được cái Abhidhamma, học kỹ rồi, không cần Nikaya nữa". Thì sao? Tiêu rồi! Tại Abhidhamma vẫn là sau Phật mới có, còn Nikaya là thời Đức Phật. Nikaya thì khoảng 90 tới 95% là đúng là lời của Đức Phật, khoảng 5% cũng là bị chế biến lọt vào.
[19:53]Còn những người sau này đều là chế cả, trong những cái chế đó có cái đúng và cái không đúng. Nhưng mà người ta lại cứ lấy người sau, không có dựa chắc vào lời dạy của Đức Phật từ thuở ban đầu, cho nên cái chánh kiến sao, đã bị lệch dần, lệch dần. Đó là điều đáng tiếc. Sư phụ chỉ có một điều hết sức may mắn:
[20:22]tin rằng không ai có thể hơn Phật.
[20:28]Và sư phụ hiểu rằng nếu không đủ lòng tôn kính Phật, không ai có thể tu tập được. Và nhờ thế sư phụ cứ huân tập lòng tôn kính Phật và cả một đời chỉ truyền dạy cái lòng tôn kính Phật này cho cho tất cả chúng sinh. Nhưng mà nhờ cái lòng tôn kính Phật này mà đạo Phật sẽ làm sao? Phục hồi và hưng thịnh trở lại. Nhớ như vậy giùm thầy. Nên ai mà tu tập, huân tập lòng tôn kính Phật đến tột độ tuyệt đối và truyền dạy, truyền cảm xúc về tôn kính Phật này đến cho mọi người thì người đó chư thiên yêu mến, ngợi ca. Nhớ như vậy nha. Mà chư thiên đã yêu mến, ngợi ca thì mình chết mình đi về đâu? Thì mình về với cái người mà họ yêu mến mình chứ ở đâu, phải không?
[21:25]Nên vì thế mà so sánh lại tất cả các thiền phái từ Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Tích Lan, Miến Điện, vân vân... Sau này cũng có những vị đắc đạo, hay gọi là những thiền sư,
[21:47]nhưng mà cái thiền sư đó ta cũng không biết vị này chứng thiền mà có chứng thánh hay không nữa. Mà đa phần ta cứ bị lầm: hễ ông đó chứng thiền thì ổng phải chứng chứng thánh. Đây cũng là một tà kiến. Mà trong Nikaya Đức Phật dạy rất rõ: chứng thiền và chứng thánh là hai điều khác nhau hẳn và chỉ có Phật mới nói được điều này. Và chính vì vâng lời Phật mà sư phụ cứ xoáy về cái chỗ này mãi trong mấy chục năm tu hành của mình. Rồi mới phân tích ra, chia chẻ ra từng chút từng chút, mới phân định lại được. Nên ta không còn bị lầm giữa cái chứng thiền và chứng thánh nữa. Khác nhau! Và trong đó cái điều vĩ đại nhất
[22:37]vẫn là chỉ có một vị chứng A-la-hán mới có được Tam minh Lục thông.
[22:47]Còn khắp nơi trên thế giới sau này dù có chứng gì đó, dù chứng thiền hay dù chứng thánh, chưa bao giờ ta có thể nghe một vị nào đó mà đầy đủ Tam minh Lục thông. Là có thể vị đó biết một phần kiếp trước, một phần vị lai, nhưng chưa bao giờ biết toàn bộ trọn vẹn như một vị A-la-hán thời Đức Phật cả.
[23:13]Ví dụ như con Thiền sư, thầy của ngài Vân Môn,
[23:18]ổng chứng cái gì cũng rất là cao, nên có cái vị quan mà cầm quyền ở cái cái vùng cái nước đó, cũng là một nước lớn, tôn ổng như thầy. Thì theo tôn làm thầy làm thầy chứ họ vẫn là quyền lực chính trị. Cái lần đó không biết mâu thuẫn gì với nước kế bên, ổng muốn đem quân đi ổng đánh, tức ổng cũng làm vua cái nước đó đó. Và khi mà tính đánh rồi, bàn lại với các triều đình của mình rồi thì cũng cũng lo ngại cái lực lượng tương quan không biết ai sẽ thắng, mới đến hỏi ngài. Ổng đằng kia ổng mới muốn hỏi ngài là ở đây ngài biết rồi. Ngài mới dặn chúng, ngài viết lại tờ giấy, ngài để lại ngài mới nói dặn trong chúng là:
[24:07]một lát nữa cái ông quan ông ông ông chúa đó ổng tới, đưa ổng cái tờ giấy này. Thì trong đó ổng ghi chữ là: "Thủ tọa là con mắt của trời người." Thủ tọa tức là ngài Vân Môn Pháp Nhãn, sau này ngài lập ra cái tông Pháp Nhãn á. Ngài Vân Môn bị què một cái chân, lúc mà khai ngộ cho ngài thì ngài Trần Tôn Túc ổng đánh cái cửa cái, đánh gãy cái chân luôn, lúc đó ngài mới ngộ đạo. Ngài ngộ rất là cao siêu. Thì ngài về với ông thiền sư này, vừa mới vừa mới đến ngoài cổng thôi là ở đây ông thiền sư ổng nói rằng: "Thủ tọa của ta tới chùa rồi, chúng ra đón." Vừa tới chùa đưa lên làm thủ tọa luôn, giống như gọi là làm chúng trưởng luôn vậy. Thần thông khiếp lắm.
[24:50]Thì cái ông kia ổng kéo tới, ông quan đó ổng kéo tới, ổng nói: "Dạ, sư phụ vừa mới ngồi tịch." Bước vô là ổng kia ngồi kiết già tịch. Nên đâu có hỏi được là có nên cầm quân hay đánh hay không. Nói là: "Ngài có để lại cho quan một tờ giấy." Mở ra tờ giấy là: "Thủ tọa là con mắt của trời người." Ổng hiểu ý ổng mới quay sang ổng nói chúng là: "Như vậy là sư phụ đã dặn cho tôi đề cử ngài thủ tọa, tức là ngài Vân Môn, lên nối tiếp trụ trì ngôi chùa này." Tại ngôi chùa đó là do ổng xây, ổng bảo bọc hết, ổng nuôi nấng hết. Đó là đó là một dạng thần thông, mà thần thông của ngài rất cao siêu. Ông kia động tâm cái ngài đây biết liền.
[25:31]Đó là những những thiền sư mà thần thông rất là cao. Hoặc như ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện, hôm đó không biết ngài đi xuống núi ngài thăm một trang chủ, trang chủ tức là một chủ trang trại rất là giàu có, thường hay cúng dường trên chùa. Ngài đi xuống thăm, vừa tới cổng thấy ngài trang chủ sắp cái bàn thờ, thắp hương, đứng mặc áo và cả gia đình đứng trang nghiêm đón ngài. Ngài thấy: "Ủa, sao ông biết tôi hôm nay đến đây mà ông thắp hương chờ?" Thì nói: "Dạ, đêm hôm qua có ông thổ công báo mộng cho con là hôm nay ngài sẽ xuống thăm con, nên con bày hương án rồi dặn hết tất cả gia nhân mặc áo nghiêm trang đứng
[26:13]đón ngài." Tức là ta thấy ông trang chủ ổng kính trọng ngài không? Rất là kính trọng, tại vì ngài là một bậc thánh đắc đạo mà. Nhưng mà lúc đó ngài Nam Tuyền mới tự trách mình là: "Vương lão sư tu hành vô lực, bị kém á, bị thổ địa, bị quỷ thần nhìn thấy tâm." Tức là ngài tác ý một cái động tâm là thăm trang chủ bị ông thổ thần nhìn thấy liền, ổng báo mộng cho ông kia liền. Ông đó cũng hơi bị nhiều chuyện.
[26:45]Muốn có một buổi đón tiếp nghiêm trang, nhưng mà cũng gọi là hơi le te, nhiều chuyện, rồi bị ngài Nam Tuyền ngài quở. Mà ngài Nam Tuyền ngài tu đến mức độ ví dụ ngài muốn làm cái gì không ai đọc được tâm ngài, và hôm đó ngài hơi nhốm nhẹ một cái bị quỷ thần thấy liền. Rồi sau đó người ta mới hỏi là tại sao ngài tu đến mức độ này mà còn bị quỷ thần thấy tâm? Ngài mới nói: "Vào một kiếp xưa thì chính ông thổ thần này có cúng dường cho ngài một phần cơm, nên nó có cái nhân duyên ràng buộc và nhờ cái nhân duyên đó nên ổng đọc được tâm ngài ngày hôm nay." Ta nghe nhiều câu chuyện về thần thông của các thiền sư, nghe rất là kính nể.
[27:29]Hoặc là có một thiền sư vậy, có một bà Phật tử tới chùa lễ Phật, vừa mới tới sân gặp ngài, ngài nói: "Bà chạy về nhà nhanh, cứu mạng mấy trăm chúng sinh, đi lẹ!" Bà không biết gì bà lật đật chạy về thì cái người con dâu vừa mua một cái giỏ ốc về. Cái bà mới nhìn thấy giỏ ốc bà sực nhớ là à ông thầy dặn mình ở đây là cứu đây. Bà mới kêu: "Đi ra đổ, đổ, đổ liền con!" Cái thế là xách cái giỏ ốc nó ra đổ ra ruộng. Đó là ngài ngồi ở chùa mà chuyện cá nhân của người ta ngài cũng biết, đó là một dạng thần thông. Thấy chưa? Còn mình mà nghe như vậy mình đổ giỏ ốc vô đâu? Vô nồi chứ hả, vô nồi. Những vị thánh đắc đạo, những chuyện thần thông của các ngài mênh mông kể không hết.
[28:14]Nhưng mà riêng mà cái thần thông của một vị A-la-hán mà chứng được vô ngã thì nó đến chỗ tuyệt đối. Nó vượt ngoài thức ấm, nó không phải là cái biết mà ta gọi là cái cảm ứng, nhớ giùm thầy cái đó. Trong cái cảm ứng đó, ví dụ như các ngài muốn biết về chính mình trong cái đêm đắc đạo đầu tiên thì toàn bộ cái quá khứ vô lượng kiếp của mình nó hiện ra hết, toàn bộ hiện ra hết. Thì từng kiếp từng kiếp nó hiện ra rất nhanh nhưng mà chính xác từng chi tiết nhỏ. Trong từng chi tiết nhỏ và những chi tiết khái quát. Ví dụ cái khái quát là trong kiếp đó cha ta là ai, mẹ ta là ai, ta tên gì, lớn lên ta làm nghề nghiệp gì, đó là cái khái quát.
[29:11]Còn những chi tiết là những ý nghĩ nhỏ nhỏ trong kiếp đó ta đã nghĩ về người này thế nào, ta nghĩ về người kia như thế nào, ta thương ai, ta nhớ ai, từng chi tiết nhỏ không một điều gì là không biết. Nên gọi là vô lượng kiếp biết hết. Người ta gọi cái biết đó là gì? Túc... Túc mạng minh nha, Túc mạng minh. Còn Thiên nhãn minh là gì? Là biết về chúng sinh, mà biết khái quát thôi. Thiên nhãn minh là biết giống như Phật nói như người đứng ở trên lầu cao ngã tư đường nhìn chúng sinh đi qua đi lại, đi qua đi lại và biết hết người nào đi về nơi nào và tại sao đi như vậy, biết hết. Nói cái người đó: "Do cái nhân đó nên sinh về nơi đó, người kia do nhân kia nên sinh về nơi kia."
[30:02]Thấy rõ hết, thấy toàn bộ, tổng quát thấy hết, gọi là Thiên nhãn minh. Nên đó là cái Thiên nhãn minh là cái chung chung. Nhưng mà khi cần biết một chúng sinh riêng biệt nào, các ngài trở thành chúng sinh đó và biết chi tiết cặn kẽ từng chút từng chút về chúng sinh đó trong vô lượng kiếp xưa của họ. Và do biết được vô lượng kiếp xưa họ đã sống như thế nào, đã làm điều gì, nghĩ ra sao, tình cảm thương ghét, nghiệp, phước, tội rồi báo như thế nào, biết hết. Nên biết luôn cả tương lai của họ về sau như thế nào, vì có nhân thì phải có quả.
[30:48]Trong cái lục thông có cái gọi là tha tâm thông, biết về tâm người khác.
[30:59]Biết về tâm người khác nhưng nó hai loại biết: một cái biết của thần thông mà chưa phải A-la-hán và cái biết thần thông của A-la-hán khác nhau. Ví dụ bây giờ mình tu mình mới được một phần nào thần thông.
[31:18]Mình vô tình mình đi ngang cái, cái người kia ngồi bên đường, mình đi ngang nhìn họ cái, biết họ đang nghĩ gì. Chớp mắt biết liền, không cần phải phải đến nói chuyện, thăm hỏi gì cả. Nhìn cái biết luôn, đi luôn, nhưng mà cũng không quan tâm. Biết liền cũng không quan tâm, đi luôn. Thì cái biết đó là cũng là tha tâm thông, biết được tâm người khác nhưng cái biết đó thuộc về trực giác. Nhớ không à? Biết liền. Còn cái tha tâm thông là cái vị đó đi qua nhưng mà không có ai đi cả, vô ngã mà.
[32:02]Chân thì cứ bước đi nhưng mà như không có ai đi. Và nếu cần biết thì vị đó trở thành cái người đang ngồi kia, đọc sâu được, hiểu sâu trong tâm thức người đó nghĩ điều gì, tính toán gì, biết rất là kỹ, biết rất là sâu, rất là chi tiết.
[32:21]Nên cái khác nhau giữa cái cảm ứng và cái trực giác là gì?
[32:29]Cái trực giác á, ta cũng biết nhưng mà cái biết trong đó có cái người biết và đối tượng bị biết, vẫn là hai cái. Mặc dù ta biết rất là nhạy nhưng vẫn có người biết và đối tượng bị biết. Còn cái cảm ứng là gì? Là ta và đối tượng trở thành một, cho nên biết hết, như vậy.
[32:55]Trong cái nghiệp vụ của tình báo, an ninh cũng có một cái cách mà bắt chước các vị A-la-hán này.
[33:06]Ví dụ như khi để phá một cái vụ án
[33:11]tới đó bí đường, mọi cái đầu mối mất rồi, cái kẻ ác kia nó biến mất, không tìm ra, không có cái căn cứ nào nữa, tới đó là bí, bế tắc. Thì cái người an ninh giỏi họ ngồi trầm ngâm và họ đặt họ vào cái vị trí của của cái tên cướp đó.
[33:36]Khi đặt vào vị trí của tên cướp đó thì đặt vào thì đặt thôi, nếu mình là tên cướp đó mình sẽ làm gì. Họ đặt vào thì thôi chứ cũng không gì, nhưng mà do cái người an ninh họ làm việc lâu năm cái họ cũng có trực giác, cái nghiệp vụ nó tăng lên họ cũng có trực giác. Họ ngồi họ cứ suy nghĩ coi nếu mình là tên cướp mình sẽ làm gì. Cứ cứ tự tác ý tác ý như vậy thì bỗng nhiên có cái linh giác nó xuất hiện, bỗng nhiên rồi đoán ra, cái ý tưởng ập vô là nếu mình là tên cướp đó mình sẽ à mình sẽ biết là đoán trước an ninh họ sẽ chặn đường nào, phá đường nào, mình tránh không đi, mình sẽ đi là đường này. Ví dụ như là ừ gọi là có cái cô bồ bé vùng đó,
[34:22]mình muốn chạy về đó núp để lấy ít tiền mà đi, nhưng đoán rằng công an đã chờ ở đó rồi, không tới đó. Nên đến những chỗ nào mà công an không đến, công an không đến nhưng mình vẫn có nhận được sự giúp đỡ thì mới trốn tránh đi tiếp. Thì những cái nơi mà có thể mà công an không nghĩ ra, nhưng mà họ cũng đủ một ít tình thân xưa để có thể giúp mình, mình làm phương tiện chạy trốn tiếp, thì công an họ suy luận một hồi họ tìm ra được một số và thả trinh sát tới chặn liền, đúng là bắt được. Thì bắt được cái này là hoàn toàn không nhờ bất cứ một cái nguyên tắc mà đã học trong ngành tình báo an ninh cả, mà nhờ cái gì?
[35:05]Nhờ đặt mình vào vào vị trí của người thủ ác rồi cái trực giác nó phát ra liền. Nhớ như vậy, đặt mình vào đó rồi trực giác nó phát ra. Thế là đoán ra được ý nghĩ của của kẻ xấu, đó là như vậy.
[35:23]Do đó, hiểu như điều này rồi thì ta mới có được một cái mà trong đạo Phật gọi là từ bi hỷ xả. Cái chữ xả nghĩa là gì?
[35:35]Chữ xả ở một chỗ khác có thể là nghĩa là buông bỏ, nhưng chữ xả trong từ bi hỷ xả là tha thứ. Nhớ như vậy. Ta nghe ta hiểu được tới cái cái chiều sâu của nghiệp báo rồi thì ta mới có thể tha thứ cho chúng sinh.
[35:55]Tại sao mà người bệnh tâm thần tất cả mọi ý nghĩ đều sai? Chỉ bởi vì trước đây luôn miệng xúc phạm các bậc đáng kính. Mở ra lời nào chống người này, mở ra lời nào là chê người kia, liên tục liên tục ngày này qua ngày kia thì nó cứ tạo, mỗi một lời chê nó tạo một cái bệnh trong tâm, mỗi một lời chê tạo một cái bệnh trong tâm, tất cả tâm từ từ đầy bệnh hết. Và sao? Người đó cuối cùng là nghĩ cái gì cũng sai và ta gọi đó là người bệnh tâm thần, toàn bộ ý nghĩ đều sai. Nên tất cả chúng ta ở đây cũng vậy, có phải là ta đúng tuyệt đối mọi ý nghĩ của mình không? Không, ta cũng đúng một số và sai một một số.
[36:44]Như vậy ta có tâm thần chưa? Có một phần nhỏ. Ai cũng vậy, ai cũng có một phần nhỏ bệnh tâm thần vì ta cũng sai một ít trong ý nghĩ của mình. Chừng nào mà ta tuyệt đối không còn ý nghĩ nào sai nữa thì ta mới thoát được bệnh tâm tâm thần nha. Nhớ như vậy. Mà khi nào ta mới không còn ý nghĩ sai? Đó là khi ta hoàn thành được cái Chánh tư duy, nghĩ điều gì cũng đúng cả và ta xây dựng được cái tâm hồn của mình được một bản chất gọi là thuần thiện nha, hoàn toàn thuần thiện, thánh thiện. Lúc đó ta mới hết là mầm mống của bệnh tâm thần, nhớ như vậy. Quá trình đó còn bao lâu nữa?
[37:37]Cũng cũng lâu nha, cũng lâu. Nhưng mà nếu một người bình thường á để cho mình hoàn toàn Chánh tư duy, xây dựng được cái tâm hồn đạo đức rất là lâu, nhiều kiếp. Nhưng nếu ta có tu thiền thì tiến trình đó rút nhanh lại. Vì sao? Vì thiền đem đến cho ta cái sự tinh tế, sâu sắc, sáng suốt khiến cho những cái lỗi nhỏ nhỏ trong tâm từ từ ta bị phát hiện hết, ta gột rửa hết. Nên cái người mà vừa tu tập đạo đức vừa tu tập thiền định thì cái thời gian mà để ta thuần thiện tâm hồn mình nhanh hơn người khác rất nhiều lần là như vậy. Nên ta nghe những người mà họ làm những chuyện ác độc Ta không ghét. Ta đạt được cái từ bi hỷ xả, theo lời Phật dạy, cái chữ xả là tha thứ.
[38:31]Bởi vì ta hiểu sâu trong tâm họ là họ phạm cái lỗi này bởi vì trước kia họ phạm một cái lỗi khác, mà cái lỗi ban đầu nghe có vẻ không ác, nhưng mà cái quả báo của nó là một cái lỗi rất là ác. Đó, nhớ như vậy. Một cái lỗi không ác là cái nhân, nhưng cái lỗi cực ác là cái quả. Mà cái lỗi không ác là cái nhân đó thường chỉ là cái gì? Chỉ là chê bai, đố kỵ, ích kỷ, hơn thua. Những điều đó nếu xét theo luật pháp không thành tội, mà nếu xét theo đạo lý mình cũng không quan tâm lắm, không quan tâm lắm. Đâu ngờ cái quả báo của nó rất thảm khốc là như vậy. Nên khi hiểu được cái cái sự mà khắt khe của luật nhân quả,
[39:21]ta rất lo sợ cho chính mình và thương xót cho tất cả chúng sinh. Nên nghe một người làm những điều tàn ác, tồi tệ, xấu xa, lòng ta không khinh bỉ, không ghét.
[39:37]Cả trong đạo tràng mình cũng vậy, có một cái người mà rồi phạm cái tội, cũng phải vất vả mới thoát được án tù,
[39:47]cũng mất hết cơ nghiệp, nhưng mà sau này thì thì từ từ hối hận phục hồi lại. Chỉ có một mình sư phụ biết là vì trước đây
[40:01]đã chống người thân của mình đi chùa,
[40:06]cho đến ngày tự nhiên làm điều lỗi lãng nhách, vô cớ chẳng ra gì, rồi mất hết, chỉ vì vậy thôi. Nên khi mình hiểu được điều này rồi, mình không ghét ai. Thấy người ta có lỗi, mình không ghét. Chỉ vì sao? Vì họ sai từ buổi đầu một cái lỗi be bé, rồi giờ thành cái chuyện lớn. Đó là lý do mà những bậc thánh có được cái từ bi hỷ xả là vậy, yêu thương được chúng sinh, chẳng ghét ai. Ta thấy là cái thần thông, cái cảm ứng nó cũng gì? Cũng là đạo đức vô lượng là như vậy, cũng là đạo đức vô lượng. Nên khi ta đặt mình vào vị trí người khác, tức là ta đang tập giống như một vị A La... A La Hán là vậy đó.
[40:58]Ta đặt tâm mình vào tâm nhau, để niềm thông cảm rất đậm sâu, ai cũng cần nhau điều tử tế, đường đời chưa biết sẽ về đâu.
[41:17]Khi một vị thánh mà chứng được vô ngã, vượt khỏi năm ấm, tức là vượt khỏi thức ấm luôn, thì chỉ còn lại cái biết của cái cái cảm ứng, nhớ như vậy. Và cái cảm ứng này vì nó không còn bị hạn chế bởi cái thức ấm bản ngã nên nó vượt không gian, vượt thời gian nha. Vượt thời gian là sao? Là không có cái chuyện là lâu quá rồi ta quên, hay vì cái này đâu kiếp trước rồi tôi quên. Giống như có bà chủ đó, bả mới la cái người làm công: "Trời ơi, bộ kiếp trước tao mắc nợ mày hay sao mà mày cứ hành tao?" Cái người đầy tớ mới ngạc nhiên: "Dạ, con cũng không nhớ bà có mắc nợ con không nữa." Cái chuyện hài, nhưng mà cái gọi là vì kiếp trước chúng
[42:13]ta không còn nhớ, đó là là phàm phu của chúng ta. Mỗi lần chết cái chúng ta lại bị cách ấm, chúng ta quên. Còn một vị đã chứng vô ngã, không có cái cách ấm quên, mà nó vượt thời gian. Như muốn tìm hiểu một câu chuyện cách đây 31 kiếp thì các ngài trở lại đúng 31 kiếp, biết hết về những cái sự tình lúc đó.
[42:39]Nên trong thời Đức Phật vậy, có một cái bà cư sĩ, bả đến gặp Đức Phật đảnh lễ, bả xin quy y, rồi cái được hỏi cách tu thiền, bả tu thiền, mà không biết bả căn cơ gì, về bả chứng A Na Hàm mất tiêu. A Na Hàm là quả vị rất là cao, cao nhất của cư sĩ, mà A Na Hàm là thần thông đầy đủ. Thì xong rồi bả mới phát tâm là nhà bả cũng rộng, điều kiện bả cũng có, cho nên bất cứ một vị tỳ kheo nào muốn nhập thất về bả nuôi. Cứ vị cứ xin phép Phật đi, xin phép ngài Xá Lợi Phất đi, mấy vị đồng ý rồi thì về đi bả cất cốc cho nhập thất hết, không có phải đi ra đi vào đi khất thực, cứ ngồi đó ngồi thiền thôi. Thì nhiều vị tỳ kheo nghe như vậy,
[43:26]thì đã tới lúc cái thiền định mình phát triển thì rất là thích ngồi thiền, rất thích nên cứ xin Phật, xin ngài Xá Lợi Phất, các vị cho. Vì các vị cho vì biết cái bà đó là bà A Na Hàm. Nên về với bà đó là cực kỳ an toàn, bả sẽ bảo vệ được hết, vì bả có thần thông mà. Và bả lại phát tâm như vậy thì cũng tốt, về các vị ngồi thiền. Thì các vị ngồi thiền một thời gian xong thì về sau khi ra thất, trở về lại với đại chúng đều kể một câu chuyện thế này: Là ở trong thất mình cần cái gì, khởi tâm cần gì, bả đem tới cái đó. Thấy trời rét quá, cái này giờ mà có cái áo ấm hay nhở, thì đâu khoảng nửa tiếng sau thấy bả lục tục tới bả gõ cửa, nói:
[44:11]"Cúng ngài cái áo ấm." Hôm đó ăn cơm với cô-ra hoài ngán quá, ăn với rau muống hoài ngán quá, thèm miếng cá kho, thì qua sáng hôm sau gõ cửa cóc cóc, bả đưa cho miếng cá kho, vì thời đó các ngài cũng ăn thoải mái, thời đó vậy. Nay giở cái lu nước ra thấy nó cặn, thèm có một cái ít nước sả nấu để tắm cho nó sạch, tại vì nửa tháng qua quên tắm như vậy, thì lát sau là thấy tới bả đưa cho cái nồi nước đã nấu trộn với cái mùi sả, nên các vị sướng vô cùng. Sướng nhưng mà sợ kinh khiếp luôn, vì mình nghĩ cái gì bả biết hết. Không biết bả ở đâu, bả như ma vậy đó, nghĩ cái gì là bả biết, động nhẹ nhẹ bả biết.
[44:53]Sợ tái mặt, ở gần bả sợ quá, thôi chạy về với đại chúng cho chắc ăn. Nhưng về với đại chúng thì sao? Toàn là A La Hán không, mấy ông còn biết nhiều hơn nữa, nhúc nhích mấy ông biết liền. Có một cái vị tỳ kheo nghe thích quá, cái xin Phật với ngài Xá Lợi Phất về để nhập thất nơi bà. Về thì ông tinh tấn tu cái ông ông chứng A Na Hàm luôn. Ông chứng ông mới nhớ lại nhiều kiếp trước, và ông mới phát hiện rằng ông với bà là vợ chồng. Nhưng mà cái lạ nha, cái duyên vợ chồng chứ nó không phải lúc nào cũng êm thắm. Mình đừng nghĩ là người này với người kia là vợ chồng nhiều kiếp rồi thì nhiều kiếp họ đều yêu thương nhau, không có.
[45:41]Có những kiếp họ hại nhau. Nên lúc đó ông ngồi thiền, ông ông quán những kiếp trước, ông quán dần lui dần lui dần về đó, cái ông mới thấy ở kiếp đó bà cũng vợ ông nhưng bà hại ông tan nát hết sự nghiệp. Thì lúc đó bà cũng đang ngồi thiền và bà đang theo dõi cái định của ông. Bà đang theo dõi ông quán tới kiếp nào kiếp nào và bà biết hết luôn, dễ sợ. Thì ngay tới cái kiếp mà thấy bà hại ông, ông hơi khựng lại thì bà gửi một cái thông điệp, nói: "Ông quan sát thêm kiếp nữa đi." Thế là ông nhập sâu thêm kiếp nữa thì mới phát hiện kiếp trước bà giúp ông rất nhiều, cái nó bù lại, nó cân bằng tâm lý lại.
[46:27]Sau đó ông tinh tấn tu tập rồi ông chứng A La Hán luôn. Rồi lúc đó ông với bà hay trao đổi nhau về đạo lý, vì tới cảnh giới A La Hán thì bà hết biết rồi. Lúc đó là ông lại giảng cho bà nghe về cảnh giới của A La Hán nó siêu việt hơn A Na Hàm đến mức độ như thế nào. Nghe kể một câu chuyện đó mình thấy thích ha, ráng tu sao cho đắc đạo.
[46:53]Thì ở đây á cho nên là mới nói nhiều khi vì hai người thương nhau, mình nói chắc là mình đã thương nhau nhiều kiếp. Nhưng mình thấy rất là đầm ấm hạnh phúc, nhưng xin thưa cái luân hồi này nó kỳ cục lắm. Nhiều kiếp thương nhau chứ có kiếp kiếp giết nhau, có kiếp cứu nhau, rồi nó cứ lình xình lình xình hoài. Nhớ lại rồi cái mình cảm thấy thôi sao? Cũng chán, chán. Thôi, tu là thôi chứ. Cái tình ái thế gian dù có cảm động, có đẹp gì đẹp chứ rồi nhiều khi nó cũng bấp bênh là vậy. Thôi, tu là sướng nhất.
[47:35]Khi một vị A La Hán mà
[47:38]vượt qua được cái chấp ngã, vượt khỏi thức ấm, chỉ còn cái biết của của
[47:48]cảm ứng, thì ta thấy rằng vị đó vượt thời gian nha. Muốn đến thời điểm nào thì thời điểm đó hiện ra lại, không có mất. Và vượt không không gian, không còn cái khoảng cách của địa lý, của vũ trụ nữa.
[48:11]Đừng có nói là à ông đó ở ở bên Pháp, mình ở Việt Nam, chắc không biết gì về tôi, không có chuyện đó. Đối với một vị A La Hán là thì Việt Nam và Pháp chỉ là một mà thôi. Mà không phải Việt Nam và Pháp, Việt Nam và địa cầu và sao Hỏa chỉ là một vậy thôi. Mà không phải địa cầu, sao Hỏa, cả một cái thiên hà mênh mông tỉ tỉ tỉ các ngôi sao này, tỉ tỉ tỉ các hành tinh có sự sống này cũng chỉ là một mà thôi. Nên một vị A La Hán khi chứng được thiên nhãn rồi, nói như trong kinh như ngài A Anuruddha đó, A-na-luật á, ngài thấy cả tam thiên đại thiên thế giới như cầm một trái xoài trong bàn tay. Chữ "tam thiên đại thiên thế giới" mình bây giờ mình gọi
[48:59]là một thiên hà, mà một thiên hà thì nó làm sao? Tỉ tỉ tỉ tỉ tỉ các ngôi sao. Mà trong cái tỉ tỉ tỉ tỉ các ngôi sao đó rất nhiều các hành tinh có sự sống như trái đất ta. Có những dạng sống rất thông minh, có những dạng sống chưa thông minh, có những dạng sống mới sơ khai, vân vân, thì các ngài cũng đều biết hết. Nên cái câu mà ta nghe nói, ta nghe chỉ một câu diễn tả rất ít, nhưng mà ẩn chứa trong đó một điều vô cùng vĩ đại, đó là thấy cả tam thiên đại thiên thế giới như cầm một trái xoài trong bàn tay, khủng khiếp như vậy. Chứ không có nói cái chuyện mà thí dụ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là chuyện bèo rồi.
[49:48]Chẳng những là thấy được cả tam thiên đại thiên thế giới, mà còn thấy ở các cõi khác nhau, thấy luôn tới tận cõi trời, thấy luôn tới tận dưới địa ngục, biết hết. Mà cái thấy đó không phải đúng giống như mình mà đứng ở bên ngoài mà nhìn vào, mà chỉ bởi vì tâm các ngài là trùm ở các cõi đó, các cõi đó ở trong tâm của các ngài nên các ngài biết hết. Chứ không phải là biết thấy một cõi là giống như mình đứng ở bên ngoài cõi đó, mình nhìn vào cõi đó, mà bởi vì các ngài là ở trùm trong cái cõi đó nên biết rất rõ về cõi đó. Ta hiểu không ạ? Thầy nhắc lại này nha, gọi là thấy nhưng không phải là thấy, mà là tâm trùm trong cõi đó nên biết hết về cõi đó.
[50:46]Đó là vì sao vậy? Thì vì khi vượt khỏi thức ấm, cái khái niệm lớn, nhỏ, xa, gần biến mất.
[50:57]Mà cũng không đợi tới mất hết thức ấm, cái cảm giác mà khi tâm ta thanh tịnh đến cực độ nào đó, các thiền sư cũng có cảm giác này. Nên như thiền sư Mật Ứng hay nói câu này đó: "Ai cũng hiểu một giọt nước rơi vào cái hồ to, nhưng mấy ai hiểu cả cái đại dương rơi vào trong giọt nước".
[51:26]Có nghĩa là gì? Cái cảm nhận về lớn và nhỏ đã biến mất.
[51:34]Lớn nhỏ đã biến mất, xa gần đã biến mất, nên đối với các ngài cái vũ trụ mênh mông thì hay là một hạt cát là bằng nhau.
[51:48]Nghe câu này ta sợ chưa?
[51:55]Và nếu ta hiểu điều này, hiểu thôi chứ mình chưa chứng, thì đối với các vị A La Hán mình làm sao?
[52:04]Khi hiểu được điều này thì tâm ta đối với Phật, đối với các vị A La Hán là sao? Là tôn kính tuyệt đối, đúng không ạ? Tôn kính tuyệt đối.
[52:21]Cái đạo lý của Phật Quang ta xây dựng trên nền tảng là lòng tôn kính Phật. Nhưng mà lòng tôn kính Phật đó lớn hay nhỏ, nhiều hay ít, lệ thuộc vào cái gì? Lệ thuộc vào mức độ mà ta hiểu về Phật nhiều hay ít. Nào giờ sư phụ cứ nói mọi người phải huân tập lòng tôn kính Phật, và nhiều người vâng lời sư phụ mà cứ cố gắng mà khởi tâm tôn kính Phật. Vì mà khởi tâm tôn kính Phật chỉ bởi vì sao? Vâng lời sư phụ, thương sư phụ mà tôn kính Phật thôi. Nhưng chỉ có những người nào hôm nay ngồi đây ở Pháp Vân, nghe được những điều này về tam minh lục thông mà hiểu được, thì từ bây giờ cái lòng tôn kính Phật của mình
[53:20]tới tột độ là do mình hiểu được Phật sâu sắc tột cùng.
[53:32]Từ đây về sau, mình tôn kính Phật tuyệt đối chỉ bởi vì cái cái trí tuệ của mình, cái hiểu của mình về cái sự siêu việt tột cùng của Phật và các vị A La Hán, chứ không còn lệ thuộc sư phụ.
[53:52]Sư phụ rất cám ơn biết bao nhiêu con người, những đệ tử của mình từ xuất gia cho tới tại gia bao nhiêu tháng năm qua, chỉ vì vâng lời sư phụ mà cứ tôn kính Phật, mặc dù không hiểu nhiều, đúng không ạ? Nghe sư phụ kêu tôn kính Phật thì mình cứ tôn kính Phật, nhờ như vậy mà cuộc đời mình rất có phước. Nhưng hôm nay mình tôn kính Phật với một cái gì? Với một tâm thế khác hẳn, không phải cần phải vâng lời sư phụ nữa, mà bởi chính cái cái hiểu biết của mình về sự siêu việt phi thường của Đức Phật. Nên ai dự được khóa thiền Pháp Vân cho đến ngày hôm nay là cái cơ duyên rất lớn trong đời của mình, nhớ như vậy.
[54:48]Vì vô ngã, vượt khỏi thức ấm, cho nên các vị vượt khỏi những cái tôi.
[54:58]Mỗi người chúng ta đều có một cái tôi. Nên thấy: "À, tôi ngồi đây, tôi ăn cơm. Người kia ngồi kia, người kia nói thế". Những cái tôi, những cái hàng rào ngăn cách chúng ta với nhau. Trong những cái tôi mà ngăn cách với nhau đó, có khi chúng ta thương nhau, có khi chúng ta ghét nhau. Nhưng nhờ đạo lý của Phật dạy, chúng ta cố gắng để không ghét nhau, cố gắng nếu không thương được thì cũng đừng ghét. Chúng ta cố gắng như vậy, đó là đạo đức, đó là đạo lý. Nhưng một vị A La Hán khi mà đã đạt được vô ngã, vượt hết tất cả những cái tôi, thì vị đó là gì? Vị đó là tất cả.
[55:54]Vị đó là tất cả chúng sinh. Nên ta đau khổ, vị đó cảm nhận được cái đau khổ của ta. Khi ta hạnh phúc, vị đó cảm nhận được cái hạnh phúc của ta. Khi các vị vượt khỏi những cái tôi, các vị trở thành là tất cả chúng sinh. Các vị trở thành niềm đau, nỗi khổ, sự sung sướng, sự yêu thương với tất cả chúng sinh, thì ta gọi cái tâm đó là tâm gì?
[56:28]Tâm đó là tâm gì? Tâm đại bi, nhớ, tâm đại bi, phải là đại từ đại bi,
[56:40]mà lại dùng đại bi chứ không dùng đại từ.
[56:45]Nên trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có nói câu này: "Niết bàn tức là đại bi, đại bi tức là niết bàn", là vì cái ý này. Nó không phải niết bàn là nơi cái nguồn yêu thương nó tỏa ra, nó chiếu ra, nó phát ra, mà chỉ vì niết bàn là nơi mà Phật cái tâm của Phật trùm hết chúng sinh, trùm trong nỗi khổ, niềm đau, sự sung sướng, sự bất hạnh, cái thăng cái trầm của tất cả chúng sinh, nên tự nhiên ta gọi đó là tình yêu thương, nhớ như vậy. Nên cái tình yêu thương của một bậc thánh nó khác với cái tình yêu thương của một kẻ phàm phu. Với tất cả mọi người, cái tâm phủ trùm đều như vậy, cho nên yêu thương được tất cả, đó gọi là lòng đại đại bi, nhớ như vậy.
[57:47]Nên ta thấy ờ cái tâm của thánh đạt đến như vậy, nhưng mà thương của thánh thì lại không sướt mướt, mềm yếu như người đời. Tại vì trong người đời phàm phu, ta thương nhau ta hay chiều nhau. Nhưng bậc thánh thương không không chiều, mà bậc thánh thương thì chỉ muốn cho ta cực khổ hơn, vất vả hơn, để làm chi? Để cho ta có có phước. Còn chiều ta thì ta lại hưởng thụ, mất hết phước. Nên ta sẽ thấy như bậc thánh mình thương mà như là hắt hủi, nhớ như vậy, lạ như vậy. Nhưng mà cái hắt hủi của thánh, cái hắt hủi của sự yêu thương, chứ không phải cái hắt hủi của bà mẹ chồng. Xin lỗi những bà mẹ chồng có đây.
[58:48]Bây giờ ví dụ như ta, cuộc đời ta khi đau khổ không còn ai để giãi bày thì ta đi đến đâu? Đến đâu? Ta đến với Phật, phải không? Ta quỳ xuống trước Phật, ta khóc lóc, ta than thở, ta lễ bái, ta cầu xin. Vì ta tin điều thế này: Phật yêu thương ta. Trong lúc ta cùng đường cạn lối thì những con người nào giờ sống với ta đều quay lưng với ta. Nhớ, trên cuộc đời này vậy, không nhờ vả nhau được thì người ta phải tránh xa nhau vì sợ người khác nhờ lại mình. Ha, mình chỉ đến với nhau khi mình có thể nhờ vả được nhau, còn không nhờ nhau được thì nghỉ chơi nhau ra. Đó là nguyên tắc của cuộc đời này. Nên khi ta rơi vào cái tình cảnh mà ai cũng sợ ta nhờ vả thì mọi người lật đật...
[59:53]Lật đật sao? Quay lưng với ta. Những người đã từng nói yêu thương ta thì quay lưng với ta hết. Như vậy, lúc đó ta chỉ còn một người để ta quỳ xuống ta tâm sự là Đức Phật, nha.
[1:00:13]Nó giống như trong đạo tràng của mình vậy, có một người đang rất là xinh xắn, bỗng nhiên trúng gió một cái cái mặt nó biến dạng, rồi cái sợ, trốn hết mọi người. Nói: "Con đừng sợ, vì lúc nào huynh đệ biết đạo cũng yêu thương con. Sư phụ, quý thầy cô đều yêu thương con, nha. Cứ ráng tu tập, biết đâu mặt nó ngay ngắn lại, không sao cả. Chứ đây không có ai quay lưng với ai vì ta biết đạo. Chứ còn cái người mà không biết đạo, khi thấy không có lợi họ quay lưng." Như vừa rồi báo đăng cái cô Hướng Dương cổ chết. Cô Hướng Dương này ngày ngày xưa thì cổ có cái hạnh nguyện là cổ hay đọc nhiều cái bài học về kiến thức hay đạo lý để cho người mù nghe.
[1:00:57]Vì người mù không đọc sách được, mà không phải ai cũng có thể mà có sách chữ nổi để rờ rờ, cũng mất thời gian. Cho nên cổ cứ đọc vào băng cassette cái nọ rồi cổ gửi những cái máy đó cho các trung tâm người mù để người mù nghe được hết chuyện này, nghe được hết chuyện kia mà tăng cái kiến thức. Vừa rồi thì cổ vừa mới mất. Mà cổ bị xe lửa cán gãy đứt hai cái chân. Cổ mới kể chuyện là: "Lần đó con đi qua cái đường xe lửa, bỗng nhiên có một cái lực bí mật giữ con đứng nó lại, con không nhúc nhích được, rồi xe lửa chạy tới tán một cái rầm văng xuống. Xe lửa chạy qua luôn. Những người kia nói chết rồi mới đậy cái chiếu lên người
[1:01:33]con thì có một người quen giở chiếu ra thấy mắt còn mở." Mắt mở là đúng là cái phước chút còn. Kêu là: "Còn sống, còn sống!" Mới đem vào đem vào bệnh viện cứu, truyền máu rất nhiều, trong đó truyền luôn cả cái máu mà nhiễm là siêu vi C. Thế là cổ bị nhiễm siêu vi C. Rồi hai cái chân cưa, từ đó là đi bằng chân giả hoặc là ngồi xe lăn. Và điều hai bố mẹ chỉ có một đứa con gái duy nhất và đã già, gia đình rất là tội. Nhưng mà cổ cũng có cái may là thôi cổ lại làm một cái công đức đọc sách cho người mù, gọi là sách nói. Thì người yêu của cổ là người rất là tử tế. Trong suốt thời gian bệnh viện là anh lúc nào cũng chăm sóc, lo lắng.
[1:02:18]Khi cổ ra viện được rồi thì anh cắt mất điện thoại, không liên lạc được nữa, rồi thôi.
[1:02:28]Thì việc tới đó thôi, mà anh đó cũng có lương tâm lắm rồi đó. Chứ là nếu một lúc cổ đang còn ở trong bệnh viện mà ảnh cắt đứt liên điện thoại có khi cổ tự tử cổ chết. Nhưng mà nhờ ảnh vẫn tới lui chăm sóc nên cổ sống được. Khi cổ sống khỏe mạnh, thấy cổ có vẻ là tạm ổn rồi thì ảnh mới cắt đứt điện thoại luôn, không có gọi được nữa. Thì ngang đó thôi cũng cám ơn anh, nha, nhưng mà tới mức con người cũng chỉ tới mức đó. Còn khi ta tột cùng đau khổ thì ta chỉ có một Đức Phật đại bi lắng nghe, yêu thương và gia hộ cho ta. Khi ta tội lỗi tột cùng cũng vậy, người đời sẽ khinh bỉ ta. Nhưng cũng chỉ có gì?
[1:03:09]Một Đức Phật mà yêu thương, tha thứ, che chở ta, vì tâm các ngài là đạt được cái sự vô ngã hoàn toàn, đạt được cái đại bi trọn vẹn. Có một thanh niên cứ hay nhắn tin cho sư phụ
[1:03:28]thì cũng than thở lỗi này, nghiệp kia,
[1:03:33]rồi than thở để xin phép để về với chùa được tu, về với chúng được tu, nhưng sư phụ từ chối không cho. Bởi vì em nó mắc một cái tội chưa thoát được mà cái tội đó nó sẽ làm ảnh hưởng tới đại chúng chung quanh, nên sư phụ không cho, mặc dầu rất tội nghiệp nhưng không chấp nhận được. Đó cũng là cái là vẻ như mình hẹp hòi, nhưng mà đành phải bảo vệ đại chúng khác. Mà nếu các em đó không được một môi trường giáo dục tốt thì các em đó có thể sa lầy đi mất luôn á. Nhưng mà mình nhận thì không nhận được vì còn phải bảo vệ những người khác, rất là tội. Nên thầy chỉ khuyên: Con cứ tiếp tục sám hối thôi.
[1:04:15]Chớ chùa không dám nhận, chúng không dám nhận, nhưng còn một người sẽ nhận là Đức Phật. Con cứ kiên nhẫn sám hối. Một ngày nào đó mà cái lỗi lầm con vượt qua được, lúc đó chùa mới có thể tiếp nhận con được, chứ còn cái lỗi mà con đang mắc, chùa không nhận được, không dám nhận.
[1:04:39]Nên nơi cái tấm lòng đại bi vô biên của Đức Phật, ta có thể quỳ xuống, nha, ta tắm mình trong cái tình yêu thương đó, ta tắm mình trong cái dòng sông yêu thương đó dù ta đang rất khổ đau, ngay cả khi dù ta đang rất là tội lỗi, chỉ có một con người để ta nương tựa. Là như vậy, bởi vì chỉ có một con người đó mới đạt được cái lòng đại bi tuyệt đối mà thôi.
[1:05:11]Ta học cái tâm đại bi của Đức Phật, dù là ta chưa đạt được cái tâm đại bi như Người, thì trước những cái cuộc đời đau khổ của chúng sinh, ta làm sao đừng có mà bỏ mặc, nha. Cố gắng làm một cái gì đó để mà mà làm xoa dịu bớt cái nỗi đau của chúng sinh chung quanh mình. Giống như vừa rồi chúng thanh niên vậy, nghe nói là Quảng Ngãi bị dưa hấu rồi đó, giá rẻ, đã ra tay góp phần giải cứu, mua dưa hấu về bán lấy lời.
[1:05:56]Đúng là làm một cái gì đó. Hoặc là khi ta biết được cái lỗi lầm của người khác thì sao? Lòng ta không khinh ghét. Cố gắng tìm hiểu xem cái lỗi này từ đâu, cố gắng tìm hiểu xem cái lỗi này sửa được bằng cách nào. Nhớ như vậy, chớ đừng để mà tâm ta bỏ sót một chúng sinh nào. Nhớ như vậy. Nhớ không? Tốt lắm. Vì ví dụ như cái duyên ta ít, ta chỉ phải chăm sóc, lo lắng, đối tiếp với chừng năm người, mười người, hai mươi người, ba mươi người thì mình không bỏ sót ai cả. Nhưng đến lúc nào đó cái duyên mình nó lớn, những người mà mình phải yêu thương chăm sóc nó tới hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu thì mình sẽ rơi vào cái tình trạng gì?
[1:06:51]Bỏ sót rất nhiều chúng sinh.
[1:06:55]Và đó không phải là thánh. Thánh là gì? Cố gắng không bỏ sót một chúng sinh nào. Nhớ cái câu thầy dặn ngày hôm nay. Vì lỡ sau này cái duyên mình lớn ra, nhiều người đến với mình, ai cũng quý mến mình, mà mình bỏ sót một chúng sinh nào đó, mình không yêu thương được thì mình có tội. Tại sao như vậy? Vì đó là cái nhân để ta đạt được sự giác ngộ như Phật, vì Phật không bỏ sót một chúng sinh nào. Nhớ như vậy.
[1:07:44]Hồi trước có cái bài thơ gì ở trên mạng Sư đọc mà thấy hay, mà lâu quá cũng quên rồi. "Rất sợ tâm mình hời hợt thôi,
[1:07:55]bỏ quên đâu đó mất một người." Đó. Thấy không? Thí dụ như cái người đi như vậy bao nhiêu người họ nhìn theo mình, họ yêu thương trìu mến. Mà lòng mình không đủ để yêu thương lại, đó cũng là một cái gì? Thiếu sót, tội lỗi. Cho nên rất sợ là mình đã bỏ sót ai đó trong cuộc đời này. Vì sao? Vì Đức Phật không bỏ sót một ai cả. Nhớ như vậy, ha. Ai cũng có những bí mật. Phải không ạ? Ai cũng có những bí mật của đời mình. Có những bí mật rất là cao quý và có những bí mật rất là xấu xa. Đúng không ạ? Thế nào là một bí mật cao quý? Ví dụ như đó là một người chiến sĩ tình báo với cái công trạng rất là lớn cứu dân cứu nước.
[1:08:51]Mà cái công đó không thua gì một người lãnh tụ. Nhưng vì là tình báo họ không bao giờ được nói ra. Đó cũng là một bí mật rất cao quý. Chư thiên ngưỡng vọng, quỷ thần nghiêng mình, nhưng mà cả cái xã hội này không ai biết cả. Không ai biết cả. Đó cũng là một bí mật phải giữ, phải giấu, rất cao quý. Hoặc có những người có những bí mật rất xấu xa. Trong vào cái thời tuổi trẻ bồng bột sai lầm, mình đã phạm cái lỗi nè, rất là bỉ ổi. Bây giờ mình cũng không thể nói cho ai nghe được. Vậy. Hoặc có những người có những cái bí mật mà rất là hấp dẫn. Ví dụ như mình đã chôn hai ngàn cây vàng ở dưới nền nhà.
[1:09:43]Không thể nói cho ai nghe được. Phải không à? Không thể nói. Và khi
[1:09:52]mà những bí mật đó có giấu được các vị thánh không? Không, không bao giờ giấu được. Mà đó là những vị thánh thần ở trên cao. Nhưng bây giờ lỡ chúng ta là những người, là con người, ta biết được bí mật đó thì ta làm sao?
[1:10:10]Máu của ai trong người ta đều có một chút bản năng của bà... bà Tám. Đúng vậy. Nhiều chuyện. Cái gì ta biết rồi ta hay thích nói ra cho cho nó vui. Chỉ vui mấy giây thôi, một câu chuyện mấy vui. Nhưng mà cái tai hại là cực kỳ lớn. Ví dụ bây giờ một cái người đó là một người chiến sĩ tình báo quan trọng, giữ rất nhiều bí mật quốc gia. Ta đem ta nói ra thì có phải hại chết người đó không? Mà ảnh hưởng rất nhiều đối với an ninh quốc gia. Nên phải làm sao? Sống để bụng mà chết đem theo. Vậy. Hoặc là ta biết cái người đó có chôn hai ngàn cây vàng dưới đất thì ta làm sao? Đừng có mà vui miệng nói nói ra:
[1:10:58]"Trời, bà đó coi, coi bả vậy chứ bả có hai ngàn cây vàng chôn cái chỗ đó chỗ đó chỗ đó." Thì cái người mà họ nghe mình thì họ không có làm gì, nhưng họ cũng bà tám như mình họ đi họ nói chuyện cho người khác mà nói đúng cái tên ăn cướp. Thì chuyện gì xảy ra? Vô tới nhà liền, ha. Nó không bắt bà đó, cột bà đó ngồi đó, nó đem đứa cháu mà bả thương nhất để ra để bàn tay lên trên bàn, để cái dao nói: "Không nói thì chặt cái ngón tay thứ nhất." Chỉ một ngón tay thôi là bả khai tuôn luột ra hết liền, phải không ạ? Xót chịu không nổi. Mà khi nó lấy xong được hai cây vàng 2.000 cây vàng thì chuyện gì xảy ra?
[1:11:35]Giết sạch không còn một người nào, chỉ vì cái miệng bép xép của ta, ha. Ta không giữ nổi bí mật. Hoặc là cái thứ ba, một cái người đó họ phạm một cái tội bỉ ổi từ hồi xưa, ta lỡ biết được. Rồi ta làm sao? Mình cũng vậy, bép xép mà đi nói, thế là cuộc đời người ta làm sao? Chôn luôn. Họ không còn cơ hội để sống với cuộc đời nữa, vì ai biết điều đó rồi họ sống không được. Nên lỡ nói một điều rồi ta hại chết bao nhiêu người khác. Vì những cái bí mật ta biết được. Một bậc Thánh họ biết hết, chắc là biết được những tội lỗi của chúng sinh nhưng lòng không bao giờ khinh ghét và bảo vệ để cho chúng sinh đó được gì?
[1:12:26]Được bình yên, được có cơ hội để làm lại cuộc đời của mình. Như vậy. Bậc Thánh như vậy, ta cũng phải học cái hạnh của các ngài. Trong cuộc đời này lỡ ta biết chuyện này chuyện kia của người khác thì đừng có mà nói. Phải bảo vệ người ta để cho người ta được cơ hội mà mà xây dựng lại cuộc đời của mình. Nhớ như vậy. Nên hôm nay ta nói về cái vượt ngoài thức ấm, ta nói tới cảnh giới của các bậc A-la-hán thì tất cả chúng ta chưa ai mà chứng được cả. Nhưng ta phải biết để làm gì? Để định hướng cái sự tu hành của mình. Và ta nghe nhiều loại thần thông ta không ngạc nhiên. Vì nó giống giống giống nhau, nhưng mà thực sự là khác loại với nhau.
[1:13:20]Biết tâm người khác, nhưng nhiều khi nó chỉ là trực giác chứ không phải là cảm ứng của tha tâm thông, vân vân nhiều chuyện vậy. Biết được vị lai, đó chỉ là trực giác chứ không phải là cảm ứng vượt thời gian của một bậc A-la-hán. Khác nhau, khác nhau rất là nhiều, ta cần hiểu như vậy. Và ta biết một điều nữa là: tam minh, lục thông là tiêu chuẩn bắt buộc của một bậc A-la-hán. Còn bây giờ có nói ông này thánh sư, ông kia đạo sư, ông nọ thiền sư, nhưng mà chưa thể xác minh được tam minh lục thông thì vẫn chưa phải là A-la-hán. Nhớ như vậy. Hôm nay ta học bài này là tạm kết thúc phần đầu của cái bài Ngũ Uẩn, Tâm Lý Học trong Phật giáo.
[1:14:11]Sau bài này, bắt đầu ta học tới những cái quy luật biến đổi tâm lý trong nội tâm của chúng sinh nha. Chúng ta nghỉ nha. Hồi hướng đi con.
[1:14:29]Nguyện pháp giới chúng sinh cùng
[1:14:38]tinh tấn tu hành, thoát chướng ngại vô minh, đồng viên thành Phật đạo.