Transcript: Tăng Đoàn Và Giáo Hội

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:32:57

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:06]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mời quý thầy, quý Phật tử ngồi xuống.

[0:19]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay, chúng ta học bài à Quan Điểm Phật Sự ba, đề tài là Tăng đoàn - Giáo hội.

[0:32]Cái đề tài này thì lớn mênh mông, tuy nhiên thì chúng ta chỉ nêu ra một vài cái quan điểm căn bản để chúng ta có khái niệm, cũng giống như là chúng ta có thái độ đối với giáo hội, cũng giống như là sau này ví dụ như quý thầy có duyên làm việc ở giáo hội thì mình cũng có một số quan điểm để làm việc cho đúng. Bài này có thể là không phải là bài duy nhất để nói về Tăng đoàn - Giáo hội, có thể lần khác chúng ta trở lại, ờ tuy nhiên ờ chúng ta giới thiệu trước một chút. Thì cái chữ a tăng đoàn á thoát thai từ cái chữ

[1:10]Sangha ha, chúng ta biết rồi. Mình hay đọc thành chữ gì? Tăng-già, đúng rồi. Tăng-già nghĩa là một đoàn thể của những người xuất gia, đại khái vậy. Có đôi khi người ta phân biệt là dành cho Tỳ-kheo, nhưng mà thôi, mình nói chung hết tăng y luôn là người xuất gia đều ở trong cái tăng đoàn thế này hay là một cái Tăng-già thế này, một Sangha thế này. Chỉ có cái a theo thời gian cái từ dùng nó khác, đi qua bên Trung Hoa á, một thời gian sau cái người ta dùng cái chữ tăng hay là ám chỉ cho cho một người thôi, một vị một vị xuất gia nam. Nghĩa là cái ý nghĩa lúc đó nó dùng với a ý nghĩa là số ít trong khi cái chữ Sangha là thưở ban đầu nó là à số nhiều.

[1:59]Thì ở đây nói chung là môi trường tu nào mà nhất là trong đạo Phật thì cái tinh thần Sangha, cái ý nghĩa tăng đoàn đều rất là thiêng liêng, quan trọng, nhưng mà biến đổi qua nhiều thời đại thì cái tính chất, cái tổ chức, cái hình thức nó dần dần có cái sự cải cách thêm, càng lúc nó càng chặt chẽ hơn. Cái thưở ban đầu thì Đức Phật với chư Tăng Tỳ-kheo có một cái tăng đoàn rất là đơn sơ, hồn nhiên, không có cái luật lệ ràng buộc nhiều vì lúc đó ai cũng có cái tính tự giác rất là cao. Người ta tự biết việc nào đúng, việc nào sai để cư xử với nhau, không có gì là phải thành ra cái xung đột, đấu tranh hay phải nói nặng, nói nhẹ.

[2:47]Ví dụ như Đức Phật, Ngài là vị vô thượng nghĩa là một vị vô thượng thánh rồi, rồi các vị Tỳ-kheo thưở ban đầu cũng là những vị thánh, rất là thánh thiện cho nên các Ngài tự biết đúng biết sai, sống với nhau rất là thanh tịnh, hòa hợp. Một người nói bao nhiêu người đồng ý hoặc là tâm người này là tâm người kia đã bắt được, nên đời sống lúc đó đẹp, không cần phải tạo cái gì ràng buộc mà cái môi trường Tăng-già lúc đó nó thiêng liêng và đẹp lắm. Người ta sống với nhau rất thân ái, rất thấm thiết, rất thanh tịnh. Phải nói là Tăng-già thưở ban đầu rất đẹp. Thì chúng ta cũng nghe kể lại trong lịch sử của luật là mãi đến 13 năm

[3:27]sau khi thành lập tăng đoàn, Đức Phật mới bắt đầu chế giới luật. Nên giới luật xuất hiện rất là muộn màng, cái thưở ban đầu không có. Vì sao vậy? Vì không ai phạm giới cả. Nên lúc đó ờ vào tu với Đức Phật, Ngài chỉ kêu là Thiện lai Tỳ-kheo, vào cái là cho vào là cạo tóc, đắp y rồi đi xin ăn rồi học pháp rồi tu tập rồi đắc quả từ từ. Lúc đó đơn giản, không có gì ràng buộc và cứ Ngài cứ thấy Đức Phật sống làm sao cứ bắt chước như vậy thôi, cũng không thắc mắc, không thành cái điều luật. Tổ chức thời đó đơn sơ như vậy, nhưng qua 13 năm thì bắt đầu rắc rối. Chúng ta nghe kể là bắt đầu từ cái giới gọi là giới dâm.

[4:08]Chuyện như thế này, có một vị Tỳ-kheo thì Ngài xuất gia cũng được mấy năm, không biết, một hôm đi về gặp gia đình thì bà vợ bà mới than khóc. Bà nói, "Anh đi mà không để lại đứa con nào, nghĩa là mất giống." Bà nói làm sao, lý luận sao ổng xiêu lòng, ổng ở lại một vài năm để để lại đứa con rồi ổng trở lại ổng đi tu bình thường như không có chuyện gì xảy ra. Rồi sau này cái mấy người cư sĩ ổng mới phát hiện, "Ủa, ổng đi xuất gia sao bây giờ bà bắt đầu lại có có con?" Để lại giống y chang ổng hết trơn, trời ơi. Cái cái chuyện mới tới tai Đức Phật, cái người ta nói, "Ủa, đi tu gì kỳ vậy?" Thì lúc

[4:43]đó nghĩa là chúng ta thấy á vấn đề đó cái giới dâm á là mặc dầu là Phật chưa chế giới nhưng trong thâm tâm ai cũng biết là đi tu không có được như vậy. Nhưng mà Phật không có nói thành giới, nhưng đó là cái tự biết thôi. Mặc nhiên mặc nhiên công nhận giới luật, nhưng mà vì mặc nhiên rồi người ta không thèm giữ, buộc bây giờ tới lúc phải minh nhiên là phải nói thành lời, thành quy định. Thì sau khi có sự phản ứng như vậy, Đức Phật mới bắt đầu chế giới là từ đây, người Tỳ-kheo không được nghĩa là phạm giới dâm dục nữa. Đó, từ đó bắt đầu có giới. Thì có một số vị Tỳ-kheo cũng ngoan, nghe lời Phật.

[5:21]Phật đã cấm rồi là không phạm, nhưng mà hễ thấy nữ cư sĩ tới tinh xá là nắm tay, nắm chân, nựng nịu. Về cái cái người ta phản đối lên Phật, "Trời ơi, tu sao còn..." Vậy cái Đức Phật mới nói Phật mới, "Nghĩa là người xuất gia rồi không được đụng tới thân người nữ." Rồi mấy thầy cũng ngoan, từ đó thôi không dám đụng thân người nữ nữa, nhưng mà rủ phụ nữ lại ngồi sau bóng lùm mà nói chuyện tâm sự. Có người nói, "Ủa, sao trong cái lùm đó có ông thầy với cái cô đó ngồi nói chuyện gì trỏng á?" Đức Phật nói, "Từ đây người xuất gia không được ngồi nói chuyện với người phụ nữ ở chỗ khuất không ai thấy nữa." Là cứ như vậy mà chế giới từ từ, từ từ.

[5:56]Cái nguyên nhân mà thành lập giới nó rất là vô tư như vậy, phải nói vô tư, hồn nhiên. Mình cũng không hiểu sao nữa, nghĩa là đáng lẽ có người mới hỏi Đức Phật là tại sao Ngài lập tăng đoàn Ngài không chế ngay giới luật từ đầu, Ngài đoán trước những điều người ta sẽ phạm? Thì Đức Phật cũng có một cái lối biện luận ờ nghe thì cũng có lý nhưng mà mình cứ nghĩ cũng hơi kỳ kỳ là giống như cái áo vậy, Ngài nói rách rồi mới vá, chưa rách vá cái gì? Có nghĩa là chưa phạm lấy gì chế giới thì mình cũng không biết sao. Chứ còn bình thường á thì chúng ta nghĩ là mình phải liệu trước, nhưng mà thôi, thời đó đơn sơ như vậy là cứ đơn sơ như vậy.

[6:35]Cho nên cái tăng đoàn thời xưa là cái môi trường đẹp, đẹp lắm bởi vì ai cũng tốt sẵn. Chỉ có sau này bắt đầu nhận đông người quá thì phức tạp lên trở lại, có những người tâm ý họ chưa thuần rồi vào trong đạo cũng gây ra nhiều chuyện phiền phức nên buộc phải có những cái giới luật. Mà nổi bật nhất là ngài Ưu-ba-ly, Ngài không biết cái hạnh nguyện gì đời trước á ổng tối ngày ổng cứ hỏi Phật ba cái chuyện giới luật không làm mấy người khác phát mệt luôn. Ngồi cái là, "Bạch Đức Thế Tôn, dù bạch Đức Thế Tôn, khi một vị Tỳ-kheo đi vào làng khất thực, tỉ như người ta mời ăn thì mình phải ăn như thế nào cho đúng pháp?" Cái Đức Phật nói,

[7:12]"À, nếu người ta mời thì phải ăn vậy, ăn vậy." Mấy Tỳ-kheo kia nghe phát mệt. Mấy ổng hỏi riết cái là tùm lum chuyện, rồi đó là, nói "Bạch Thế Tôn, ví dụ khi mình về vào nhà một người mà trong đó không có người nam thì mình có được vào hay không?" Đức Phật nói, "Thôi, không có người nam thôi đừng vào." Cái ổng nói, "Dạ." Nghe vậy là thành cái luật. Mấy thầy kêu, "Trời ơi, cứ vậy thì ổng có làm khổ tui, tui đang vô thoải mái, nghe ổng hỏi cái hết, thôi không vô được nữa." Mà ngài Ưu-ba-ly tối ngày ngài cứ tủng mủng tản mản ngài đi hỏi mấy chuyện đó riết. Mà không biết cái hạnh nguyện có gì từ đời xưa làm sao

[7:43]á, nghĩa là thầy cứ Ngài cứ hỏi ba cái chuyện giới luật nó từng chút, từng chút, từng chút cái thành ra nguyên một cái luật tạng tinh vi từng chút, từng chút. Ngoài cái 250 giới Tỳ-kheo mà những cái luận nhỏ nhỏ nhỏ ngài Ưu-ba-ly ngài hỏi ra còn rắc rối lắm. Nên sau này người ta cũng không đào sâu nữa và miễn là giữ tâm thanh tịnh, giữ được đạo đức tác phong nào đó vậy là tương đối ổn. Chứ mà nếu như ngài Ưu-ba-ly thì thôi mình không nhúc nhích nữa, ngồi đâu ngồi chết trân, nhúc nhích qua là coi chừng bị. Cũng không biết sao cái hạnh của Ngài vậy. Tuy nhiên, cái đời sống tăng đoàn nhờ giới luật như vậy nên hòa hợp và đẹp.

[8:19]Rồi chỉ có cái chuyện xảy ra lớn lao lớn lao, đó là hiện tượng của Đề-bà-đạt-đa. Là Đề-bà-đạt-đa thấy cái vinh quang của một Đức Phật mà lãnh đạo cả một tăng đoàn mà được từ vua quan cho đến Bà-la-môn, cư sĩ gì cũng quý kính hết, nên ông âm thầm có cái tham vọng muốn lãnh đạo tăng đoàn. Mà đây chúng ta thấy cái tham vọng lãnh đạo này là tham vọng nó tiềm ẩn trong con người dữ dội lắm. Bình thường rất là nguy hiểm. Cũng chính vì cái tham vọng lãnh đạo này mà trong lịch sử của nhân loại không biết bao nhiêu là máu đổ, đầu rơi. Vì vậy, với cái gương của ngài Đề-bà-đạt-đa đi trước, chúng ta nhớ mình tránh, tận trong thâm tâm mình chỉ xin làm

[9:02]một người phụ giúp cho quý thầy khác làm, mình gạn hết trong tâm mình ra cái ước mơ mà làm lãnh tụ, lãnh đạo gì hết. Chỉ mong làm chúng để phụ giúp thầy khác. Thì được như vậy mình dễ tu mà mình không mất đạo đức. Còn ngày nào mà mình nghĩ mình giỏi, mình có thể lãnh đạo được, bắt đầu đạo đức đổ vỡ. Cái người tài ít á thì ham cái chức chỉ huy nhỏ nhỏ, mà người thấy mình có tài hơi giỏ giỏi á thì mơ ước tới cái chức chỉ huy cao. Thì cái mơ ước đó là một cái bệnh hoạn mà nó đổ vỡ đạo đức, rất là đáng sợ. Thì trường hợp ngài Đề-bà-đạt-đa vậy, khi mà cái tham vọng lên quá rồi, ông mới tìm cách nghĩa là lãnh đạo tăng đoàn

[9:47]thì ông có đề nghị mấy điều, trong đó ông yêu cầu là Đức Phật quy định chư Tăng phải sống một đời sống khổ hạnh hơn nữa. Và ông nói Đức Phật là Thế Tôn đã già rồi, Thế Tôn nên giao quyền lãnh đạo tăng đoàn lại cho con. Thì dĩ nhiên Đức Phật từ chối cả hai điều yêu cầu của ông. Điều yêu cầu thứ nhất á thì Đức Phật nói là Ngài không có ép chư Tăng khổ hạnh, vì khổ hạnh không phải là con đường giải thoát. Nhưng mà vào cái thời đó cho đến thời bây giờ, người ta vẫn quan niệm rằng người nào sống khổ hạnh được thì đó là người người thánh thiện. Ví dụ như là nhìn vô một loạt quý thầy như vậy á, ai cũng mặc đồ đẹp, có ông thầy ổng mặc áo rách,

[10:30]vá vai hai ba chỗ, người ta nói ông thầy này sống đời sống sao? Đơn giản, khổ hạnh, đẹp, mà đâu biết ổng thèm gần chết, không có ai cho áo mới. Nhưng mà cái tâm lý con người, rồi ví dụ như người ăn ba bữa, nhìn vô thấy một người ăn một bữa, một buổi trưa thôi, người ta nể người này tu hành chân chính, không tham ăn. Nên muôn đời từ trước tới bây giờ người ta vẫn quan niệm như vậy. Thấy ai cũng mang hai đôi dép hết, có ông mang có một chiếc à, nói "Ông này hay, khổ hạnh, đơn giản, đỡ tốn một chiếc", đại khái. Mà từ xưa tới giờ vậy. Cho nên ngài Đề Bà Đạt Đa đánh vào cái tâm lý đó mới nói rằng phải

[11:10]thành lập tăng đoàn khổ hạnh hơn nữa, ăn chay không được ăn mặn. Vì lúc đó Đức Phật cho chư Tăng là đi khất thực là ai cho gì ăn nấy, nên lúc đó ăn mặn luôn. Rồi ông Đề Bà Đạt Đa ông mới nói không được, phải cho ăn chay. Mặc áo thì không được nguyên cái tấm vải lành người ta cúng mà mặc, phải đi ra ngoài nghĩa địa lấy vải người ta đã bỏ lấy giặt giũ lại, rồi vá nối lại mà mặc đỡ, chứ không được mặc cái vải nguyên. Thì những cái khổ hạnh như vậy làm nhiều người thích, lúc đó ông kích động được 500 Tỳ kheo bỏ chúng đi theo ông. Sau khi Đức Phật nghĩa là từ chối cái lời yêu cầu của ông. Cái điều thứ hai mà xin lãnh đạo tăng đoàn thì Đức Phật cũng từ chối. Đức Phật nói:

[11:51]"Ta có những hàng đại đệ tử rất xuất sắc, ví dụ như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên. Nếu phải nhường quyền lãnh đạo tăng đoàn thì ta giao cho hai người đó". Cho nên sau khi bị từ chối như vậy thì ông mới kích động, ông nói rỉ tai người này, ông lý luận người kia mà cũng thành phong trào mạnh, ông cũng lôi được 500 người. Thì chúng ta thấy con số 500 mà theo lịch sử ghi lại thì không phải nhỏ, thì chứng tỏ rằng cái cuộc vận động gây rối của ông cũng lớn lao lắm. Mà Đức Phật từ bi ngài không có bỏ, rồi đến khi mà thấy được ngài sai Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên tới nơi thuyết phục, lý luận, chứng minh, kéo chư Tăng đó trở về với tăng đoàn trở lại.

[12:31]Còn Đề Bà Đạt Đa thì âm mưu hại Phật riết cho đến ngày ông chết, thì kinh ghi lại rằng cho tới ngày giây phút mà ông chết, bị đất cuốn xuống đó, thì ông mới hối hận. Thì chuyện sử ghi thì mình không biết như thế nào, không biết ông có hối hận hay không. Nhưng mà trong thực tế, từ xưa đến nay trong sử chúng ta thấy có những người ác, họ ác cho tới ngày họ chết. Cái ác tâm không bao giờ bỏ, cho nên không biết Đề Bà Đạt Đa là trong trường hợp nào. Thì sau cái lần mà Đề Bà Đạt Đa phá tăng đoàn như vậy, xé tăng chúng ra, Đức Phật có nói là trong cuộc sống này có năm cái điều ngũ nghịch đại tội cực trọng là:

[13:11]giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu và phá hòa hợp tăng, là xé tăng đoàn ra làm hai ba mảnh. Thì cái tội đó, Đức Phật nói rằng là đọa địa ngục vô gián. Thì Đức Phật cảnh cáo như vậy, nhưng mà trong suốt mấy ngàn năm lịch sử trôi qua, chúng ta thấy rằng cái việc mà có một số vị xé tăng đoàn ra làm nhiều mảnh vẫn tiếp tục xảy ra đều đều. Cho tới ngày hôm nay vẫn tiếp tục đang còn. Nghĩa là tinh thần hòa hợp rất là ít. Mình ít hòa hợp rồi nhưng mình còn kích động để xé cái tăng đoàn ra thêm nữa, không có thích hòa hợp, không thích gắn lại. Vì nhiều khi ví dụ như trong một cái tăng đoàn đang có vậy mình không

[13:57]thể nào làm người lãnh đạo được, còn nếu mình xé ra một tăng đoàn, xé ra thành một hệ phái mình sẽ trở thành người lãnh đạo được. Vì cái tâm lý như vậy mà làm thương tổn đến toàn bộ cái tăng đoàn, cái giáo hội của đạo Phật và Phật cảnh cáo là cái tội rất là nặng, nặng rất là nặng. Ở đây chúng ta nói cái chữ "tăng đoàn" và "giáo hội". Nếu trên cái ngữ nghĩa bình thường, thì chữ "tăng đoàn" và chữ "giáo hội" thì đồng nghĩa, không có gì phải thắc mắc. Tuy nhiên, bằng cái trực cảm, chúng ta nhìn vào từng từ thì chúng ta thấy nó vẫn khác nhau. Tăng đoàn và giáo hội đều là tập hợp của những người xuất gia theo đạo Phật.

[14:42]Chung là như vậy. Tuy nhiên, mình nhìn vào chữ "tăng đoàn" thì mình thấy nó là một cái tổ chức, một tập hợp nó nặng về tự giác, nhẹ về tổ chức, nhẹ về kỷ luật. Còn chữ "giáo hội" thì có vẻ quy mô hơn, kỹ lưỡng hơn, có tổ chức chặt chẽ hơn, mới hơn. Quý thầy đồng ý không? Đồng ý không? Đó, như vậy. Cho nên, hai chữ trên ngữ nghĩa đó, ngôn ngữ thì giống nhau, nhưng mà trong bản chất chúng ta vẫn cảm nhận cái ý nghĩa nó hơi khác một chút, ha, như vậy. Ở đây Đức Phật rất coi trọng tăng đoàn. Ngài ca ngợi tăng đoàn lắm, nghĩa là cứ bốn người thì được gọi là một một tăng. Bốn người được gọi là một tăng và bốn người có quyền quyết định

[15:31]những vấn đề quan trọng liên quan trong cái tập thể đó. Cứ bốn người sống với nhau là thành một tăng, một tăng chúng, một tăng chúng chính thức, có thể làm phép Yết ma. Yết ma là gì?

[15:46]Trong đạo Phật có cái phép gọi là phép Yết ma, mình hay gọi là tác pháp Yết ma. Tác pháp tức là thực hành cái phép Yết ma, cử cái phép Yết ma, có nghĩa là làm một cái nghi thức để biểu quyết, lấy ý kiến chung trong những vấn đề quan trọng của đại chúng, của tinh xá, của chùa. Cái chữ "Yết ma", chữ Ấn Độ có nghĩa là lấy ý kiến chung. Ví dụ như khi mà nhận một người xuất gia hay cho người thọ giới hay cắt cử một người để làm một việc Phật sự gì đó, thì đều phải tác pháp Yết ma, nghĩa là họp đại chúng Tăng lại, lấy ý kiến biểu quyết hết. Ở đây thì hồi thời Đức Phật á là cái ý kiến mà được lấy là phải thống

[16:33]nhất hoàn toàn, phải đa số tuyệt đối thì cái điều đó mới được thành. Nếu còn có một người không đồng ý là không được. Hồi đó như vậy, không biết làm sao, chứ không giống như bây giờ là lấy theo đa số. Ví dụ như đưa ra biểu quyết thì có một số người đồng ý, số người không đồng ý, bên nào nhiều thì theo ý kiến bên đó, là thiểu số đành phải phục tùng đa số, dù có khi thiểu số đó hợp lý. Chúng ta nhớ nha, chưa chắc đa số là hợp lý, đừng tin đa số là hợp lý. Vì sao vậy? Vì cái điều đúng, cái chân lý nó thường khó thấy, mà cái khó thấy vài người thấy được à. Có khi đa số là hợp lý, nhưng có khi thiểu số là hợp lý.

[17:17]Cái này mai mốt chúng ta sẽ nói lại. Thì ở đây khi mà biểu quyết như vậy, thời Đức Phật á, mấy trăm năm sau Đức Phật cũng còn giữ cái phép Yết ma kiểu này. Khi hỏi lên là chư Tăng đã hợp lại chưa? Có hòa hợp không? Có hợp, đã hòa hợp. Người chưa thọ đại giới đã ra khỏi chưa? Hay đã ra khỏi. Tăng hôm nay họp lại để làm việc gì? Nói: "Dạ, Tăng hôm nay họp lại để hỏi ý kiến xem có chấp nhận cho cư sĩ đó vào được làm người xuất gia hay không?" Thì sau khi nói tuyên bố rồi, nói: "Bây giờ phép Yết ma như vậy, ý kiến như vậy, tác bạch có thành không?" Các vị khác nói: "Thành." Có vị nói: "Dạ, chưa, không thành, tôi không đồng ý." Thế là phải hỏi.

[17:55]Hỏi vị đó vì sao không đồng ý? Thì phải tranh luận ra cho ra, cho ra cho tới cái lúc nào có khi ý kiến vị đó nó chính xác, nó lật ngược lại hết ý kiến của những người kia hết. Toàn bộ thống nhất là không cho xuất gia. Hoặc là có khi tranh luận lát cái vị mà không đồng ý cuối cùng đồng ý luôn, là phải thống nhất hoàn toàn thì phép Yết ma này mới thành, tức là mới lấy biểu quyết được. Thời xưa là như vậy, thời xưa là như vậy. Thì sau này chúng ta lúc nào đó khi mà trở lại những vấn đề của chùa, của trụ trì chúng ta sẽ trở lại những vấn đề này kỹ hơn. Hôm rồi chúng ta học bài chùa chứ sự thật chưa kỹ, chỉ là quan điểm căn bản.

[18:33]Hôm nay chúng ta học bài giáo hội cũng là căn bản. Mai mốt mấy vấn đề này mình trở lại. Thì hồi xưa là như vậy, còn bây giờ thì sao? Bây giờ thì cái phép Yết ma đó làm có vẻ chỉ có hình thức thôi, là khi mà chuẩn bị cho người xuất gia thì tăng chúng cũng cũng họp lại, cũng hỏi phải không? Nhưng mà có ai không đồng ý không? Không, bởi vì sao? Bị hỏi nhỏ nói nhỏ ở dưới hết trơn rồi, ở dưới thầy nói: "Thầy cho nó xuất gia được không?" Thì ông thầy chịu thôi, chứ gì rồi cứ rù rì rồi với nhau chịu không chịu cũng đành chịu. Rồi rốt thầy lên là cho tới chừng nêu ra hỏi: "Thành không?" À thì ai cũng thành hết thôi, chứ cũng không cự nự gì.

[19:09]Cho nên bây giờ thì cũng làm phép Yết ma nhưng có vẻ hình thức, còn cái việc thỏa thuận nó đã ngầm sẵn đâu dưới. Ví dụ mình không ưa nói: "Chú cư sĩ còn hách, còn chảnh thấy mồ, cho xuất gia gì." Còn nhưng mà ông thầy thì ổng thương, ổng thấy: "Thằng này coi bộ được, thôi cho xuất gia đi con." Thì mình đâu dám cãi, tới chừng lên tác bạch: "Có thành không?" Dạ, cũng thành tuốt luốt hết. Nhưng mà chúng ta phải hiểu rằng là Đức Phật chuộng tinh thần dân chủ, cái tinh thần dân chủ trong đạo Phật rất là cao, cho nên biểu quyết nhiều vấn đề quan trọng là phải lấy ý kiến của tập thể chư Tăng mà phải ý kiến là phải đa số tuyệt đối luôn,

[19:45]không một người nào phản đối mới được, mới thành. Vấn đề là như vậy. Giờ chúng ta nói về những yếu tố cần thiết của một tập thể có tổ chức. Tập thể mà có tổ chức cần hai điều: Một á là hệ thống lãnh đạo, cơ cấu lãnh đạo; hai là điều luật hay kỷ luật. Chúng ta nhớ hai điều này. Hệ thống lãnh đạo á thì hoặc là người đó là tự làm lãnh đạo do một cái gì đó họ tự làm, hoặc là do người dưới bầu. Còn cái kỷ luật á là do mình tự nguyện chấp nhận, còn mình không có chấp nhận nữa thì mình bỏ đoàn thể đó mình ra đi, như vậy. Tuy nhiên nó có hai loại đoàn thể, có hai loại đoàn thể. Có cái đoàn thể đó là mình muốn vào thì mình sẽ vào tự do.

[20:39]Và khi nào mình không thích là một thành viên trong đoàn thể đó nữa, mình tự động bỏ ra, mình xin bỏ ra, đó là tự giác. Có đoàn thể đó mình không có tự giác, mình bị bắt buộc phải nằm ở trong đó, không có cách nào đi ra khỏi được. Ai biết đoàn thể nào? Đoàn thể nào mà khủng khiếp vậy? Hử? Hả? Nói lớn lên. Hả? Không phải, đừng nói đạo Thiên Chúa mít lòng người ta.

[21:15]là quốc gia. Quốc gia là một đoàn thể có hệ thống lãnh đạo và có pháp luật, phải không? Và khi mình đã lỡ đầu thai vào cái nước này, tự nhiên mình thành thành viên của quốc gia này, thành công dân của quốc gia này và mình không được quyền ra khỏi. Không được quyền. Vì nó bắt buộc. Quốc gia nào cũng vậy. Bây giờ mình muốn bỏ quốc gia này mình chạy qua quốc gia khác thì mình thành kẻ gì? Nghĩa là làm kẻ vượt biên trái phép. Rồi vào nước kia là mình trở thành kẻ nhập cư trái phép. Thì lúc đó là họ lượm mình được. Thì nếu mà họ mình năn nỉ ỉ ôi mà nếu họ cho mình nghĩa là định cư đó, thì mình cũng phải thành công dân nước đó rồi mình phải chịu luật pháp của

[21:56]nước đó trở lại, cho nên mình trở thành thành viên không đi ra khỏi. Còn nếu mà họ không cho mình định cư thì họ đem mình họ giao nộp trở lại cho nhà nước mình thì mình trở thành một kẻ phạm tội và bị bắt ở tù. Cho nên chúng ta mở mắt chào đời là chúng ta trở thành thành viên của một quốc gia, phải chịu cái pháp luật của quốc gia đó không có chối cãi được. Còn có một số những tổ chức khác thì mình tự do vào, tự do ra. Ví dụ như mình vào cái hội thanh niên hay một cái hội đoàn nghiên cứu cây kiểng, hay hội của người già hết răng, ví dụ vậy, thì mình tự do vào, không thích nữa, nay tôi có răng rồi, tôi gắn răng rồi tôi đi ra, không gia nhập cái hội.

[22:35]Hoặc là một cái hội người đàn ông nể vợ thì lúc đó là mình vô đó thăm nghĩa là ngồi mà buồn quá thì ngồi nói chuyện với nhau cho đỡ buồn, nhưng mà lúc nào đó cảm thấy hết sợ vợ thì thôi tôi đi ra, không vô nữa. Thì có những cái hội đoàn mình tự do vào tự do ra, nhưng mà có loại hội đoàn là bắt buộc phải nằm trong đó. Đạo Phật mình cũng là cũng là một cái cái đoàn thể mà mình tự do vào tự do ra. Nhưng mà tuy nhiên nó có khổ một cái, khổ một cái là đạo Phật mình đi vào đi ra nó nó xây xát, nó sứt mẻ nhiều quá. Nghĩa là mình đang có tóc đẹp trai đi vô một cái là không còn tóc, đồ nghĩa là y phục phải thay đổi hết trơn,

[23:13]phải thề rồi đầu phải ba chấm, rồi bị đốt ba chấm rồi hết nó te tua hết rồi, mà bây giờ có lúc nào muốn đi ra nữa cái nó cũng tổn thương, nó sứt mẻ đủ thứ hết, cũng khó chịu. Cho nên cũng tự do vào tự do ra chứ không ai bắt buộc, nhưng mình lỡ vào rồi nó kẹt, không ra được. Thôi ráng tu, dù có gì cũng ráng tu đó. Thành thử phải ráng, quý thầy lỡ tu rồi ráng tu chứ đạo Phật mà một đoàn thể nhưng mà mình vô ra kỳ lắm, thôi ráng tu ha, đừng nghỉ. Ở trên cuộc đời này có hai chỗ, hai chỗ là mình không có chịu đoàn thể nào hết, không nằm trong đoàn thể nào hết. Một á là mình vào rừng hoang, một hoang đảo giống như Robinson vậy,

[23:53]không một bóng người thì lúc đó có thể tạm thời mình không có một đoàn thể nào hết, cho tới cái ngày một quốc gia nào đó tới chiếm cái đảo đó rồi mình trở thành cái người cũng nằm trong một cái pháp luật của họ, đó là một, tạm thời. Cái thứ hai là ở đâu? Ở đâu? Còn một chỗ không có đoàn thể nữa là ở đâu? Ở đâu? Hồi sáng quý cô trả lời được đó. Hả? Không, nghĩa địa dưới đó vẫn có quy luật của âm phủ. Lên cõi trời vẫn có quy luật cõi trời, nghĩa là chư thiên tử rất tự do tự tại nhưng vẫn có quy luật của cõi trời vì cõi trời nào cũng có một vị vua cai quản hết. Ở đâu? Niết Bàn. Hồi sáng quý cô trả lời được.

[24:43]Nên như vậy là chúng ta thấy đó, nghĩa là có hai loại đoàn thể, và trong đoàn thể thì có hai tính chất, đoàn thể nào cũng vậy. Thì bây giờ những đoàn thể khác thì chúng ta không nói, chúng ta trở lại cái đoàn thể tăng đoàn, và đoàn thể tăng đoàn cũng phải có một hệ thống lãnh đạo và và kỷ luật. Khi mà chúng ta đi vào trong tăng đoàn, vào trong giáo hội thì chúng ta tự nguyện chấp nhận cái kỷ luật của tăng đoàn, của giáo hội, mà kỷ luật đó thì thứ nhất là điều gì? Là hệ thống giới luật của cá nhân tu sĩ, tức là giới Tỳ, giới Tỳ-kheo. Cái thứ hai nữa là thêm một số quy định, hiến chương của giáo hội mà chúng ta phải phải tuân thủ, là như vậy.

[25:30]Tuy nhiên, đạo Phật là đạo từ bi nên cái hình thức kỷ luật không có rõ ràng, không có mạnh. Ở đạo Phật á, giáo hội Phật giáo, tăng đoàn Phật giáo thì chỉ đòi hỏi sự tự giác cao độ thôi, chứ còn nếu mình không tự giác thì không có biện pháp chế tài. Đây là cái yếu của đạo Phật, rất yếu. Bên các đạo khác họ nhìn vào đạo Phật mình họ cười, tại thấy mình lỏng lẻo không có gì. Nên bây giờ mình đã lỡ mình là một người tu sĩ của Phật giáo rồi thì mình chỉ còn có một cách làm đẹp đạo Phật là mình phải có tinh thần tự giác cao thôi, chứ còn cái sự bắt buộc của giáo hội đối với mình rất là ít. Mà giáo hội cũng không có làm mạnh được, là vì sao vậy?

[26:12]Là vì ví dụ bây giờ có một cái ông tăng đó ổng quậy, ổng bê bối, thì giáo hội tẫn xuất ra, không cho nằm trong giáo hội nữa. Không cho nằm trong giáo hội nữa ổng đi đâu? Đi đâu? Ổng không thèm đi đâu, ổng cứ ở đó ổng cứ cạo đầu mặc áo và vẫn tiếp tục quậy, không ai làm gì ổng được. Giáo hội không có trách nhiệm thôi, nhưng bản thân ổng cứ tiếp tục quậy, vẫn sống bê bối. Hỏi công an, công an nói: "Ổng có vi phạm luật pháp quốc gia đâu." Nói: "Ổng nhậu." "Ổng nhậu chớ ổng có giết người, ăn trộm cắp của ai đâu?" Nói: "Ổng quan hệ bất chính." Thì hai người yêu nhau luật pháp đâu có cấm, đó cũng huề.

[26:50]Thấy giáo hội cấm, giáo hội cấm thì các anh đuổi ra khỏi giáo hội thì thôi. Nghĩa là cái cách nói trớt lơ, trớt lác không ai có trách nhiệm hết, thì người ta vẫn mang hình thức tu sĩ người ta quậy bình thường. Cho nên giáo hội Phật giáo rất là yếu điểm này. Lát nữa chúng ta trở lại cái luật tôn giáo một chút xíu. Cho nên cái việc mà ví dụ như quý thầy thường là quý thầy lớn là chỉ có nhắc nhở thôi, khuyên răn chứ không có làm mạnh được. Thí làm mạnh cảnh cáo gì đó ổng giận rồi tẫn xuất thì ổng quậy luôn, rồi càng nguy hiểm. Cho nên để xuất hiện những cái lớp tăng sĩ tự do ngoài giáo hội thì rất là nguy hiểm.

[27:29]Cho nên lúc nào cũng phải giữ chư tăng ở trong giáo hội để quản lý, mà chỉ khuyên lơn thôi. Nghĩa là cái người tu mà không tự giác rồi giáo hội không có biện pháp. Đó là cái yếu của đạo Phật. Mà tại sao yếu? Chúng ta nói qua cái khác là do hệ thống lãnh đạo đó, do cái cách để tạo thành. Thì hệ thống lãnh đạo của một đoàn thể nào cũng vậy, mà nhất là trong đạo Phật thì đòi hỏi là người đó phải có tài có đức rất là lớn, thì chư tăng ni tự nương theo đó mà tu hành tốt. Đó là điều đương nhiên. Chứ còn người lãnh đạo trong đạo Phật cũng không có cái quyền lực gì nhiều nữa. Thí ví dụ bây giờ mình nói vị đó pháp chủ

[28:07]hay vị đó làm Trưởng ban nghĩa là Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Hoằng pháp nằm vời vợi trên cao vậy chớ mà cũng không có quyền hành gì rõ ràng đối với người dưới, không có quyền. Chỉ là biểu tượng thôi, nên những cái chức vụ trong đạo Phật cũng chỉ là biểu tượng, không có mạnh. Đó là tại sao đạo Phật yếu. Mà nếu may mắn là những vị lãnh đạo đó mà tài đức á thì tăng ni nhìn vào đó họ bắt chước rồi họ tu hành tốt. Còn nếu những người lãnh đạo mà họ không tốt á thì tăng ni họ sẽ hư từ từ. Có những địa phương như vậy á, có những địa phương mà người lãnh đạo không tốt á thì nguyên cái vùng đó tăng ni hư hết trơn từ từ từ hết trơn. Tại nói:

[28:46]"Cái ông đó ổng không có tốt gì mà ổng cũng lên tới chức đó thì tôi cũng không cần phải tốt nữa." Có như vậy, còn ở cái vùng nào mà người lãnh đạo tốt thì tăng ni đều tốt một chút. Nên đây là là hên xui thôi, mình không biết như thế nào. Nhưng mà để có cái hệ thống lãnh đạo á thì cũng cũng hai ba cách, hai ba cách thế này. Hoặc á, ví dụ như là ở trên Trung ương đi, còn xuống đây là dưới tỉnh, dưới huyện. Thì ở tỉnh á hoặc á là do Trung ương chỉ định xuống là cái Ban Trị sự tỉnh là sẽ là những vị nào, những vị nào. Có khi tại tỉnh đó, hoặc có khi đưa từ tỉnh khác tới, ví dụ vậy. Hoặc có khi là do ở dưới bầu lên.

[29:27]Thì không những trong đạo Phật mà ở chính quyền ngoài thế gian cũng phải như vậy. Nghĩa là trên tỉnh hoặc là do Trung ương chỉ đạo xuống hoặc là do ở dưới bầu lên. Thì mỗi cái đều có cái hay và cái dở của nó. Đến ngày hôm nay vẫn không giải quyết được hết, không bao giờ có hay hoàn toàn. Nếu mà chính quyền tỉnh hay là Ban Trị sự tỉnh mà do Giáo hội Trung ương chỉ định á thì Giáo hội rất mạnh. Tại vì nếu Giáo hội Trung ương chỉ định được thì Giáo hội Trung ương cách chức được, nên tỉnh phải nghe lời Trung ương, phải không? Nếu mà không nghe lời theo Trung ương thì Trung ương cách chức, cho nên cái hệ thống giáo hội như vậy rất mạnh.

[30:02]Rồi tỉnh nghĩa là chỉ định cái người dưới huyện thì nó chặt chẽ dữ lắm, giáo hội như vậy rất là mạnh. Nhưng mà người ta sợ giáo hội mạnh như vậy nó độc tài không có dân chủ, vì vậy người ta chủ trương là cứ bầu. Hễ huyện thì tập trung tăng ni huyện lại bầu ban đại diện huyện. Hễ tỉnh thì tập trung tăng ni tỉnh lại bầu Ban Trị sự tỉnh, như vậy có vẻ dân chủ. Nhưng mà dân chủ thì sao? Trung ương thì sao? Yếu. Tiếng nói Trung ương không ai cần nghe, không ai thèm nghe, muốn làm gì làm, tỉnh muốn làm gì làm, huyện muốn làm gì làm. Trên nói, dưới không nghe là vì do tự bầu. Đó là cái dở của hệ thống mà bầu một cách dân chủ, nước nào cũng bị.

[30:45]Mấy cái nước bên Mỹ, bên Pháp, phương Tây gì cũng bị hết trơn á. Việt Nam mình cũng bị, Việt Nam mình cũng bị nha. Nghĩa là nhiều khi trước có những cái điều luật của Trung ương đưa xuống cấp tỉnh không chấp hành, tỉnh đưa xuống cấp huyện không chấp hành, có một thời gian như vậy. Rồi sau này hơi củng cố lại một chút nhưng mà đã có hiện tượng này, bởi vì ở đâu cấp nào bầu cấp đó cho có vẻ dân chủ, nhưng mà dân chủ rồi thì hệ thống Trung ương xuống sẽ rất là yếu. Thì giáo hội mình cũng bị như vậy. Nên ở đây bây giờ chúng ta cũng không biết là đi con đường nào tốt nên mình nêu ra thôi, mình nêu ra rồi mình đành dòm nó thôi chứ mình không có biết làm cái gì.

[31:22]Vì đây nó giống như một sự may mắn. Nếu may mắn mà ông tỉnh này đó hoặc là người bầu lên là ổng tốt hoặc là Trung ương chỉ định trước xuống mà người tốt á thì tăng ni cả tỉnh nó nhờ, sẽ từ từ tiến lên. Còn nếu mà dân nghĩa là tăng ni bầu lên ông xấu, có bầu lên xấu không? Có như thường nữa nha, nhiều người bầu vẫn lọt nhằm người xấu. Hoặc là Trung ương chỉ định xuống người xấu thì coi như hư hết, tan nát hết phía dưới luôn. Nên ở đây cái việc mà được cái người lãnh đạo tốt nó giống như là cái gì may mắn chứ mình cũng không biết làm sao. Rồi có trường hợp là do chính quyền có ý kiến góp ý hay là chỉ định luôn cái người lãnh đạo luôn nữa.

[32:01]À trường hợp này cũng rất là lạ, mà từ xưa cũng có, tới nay cũng có nữa. Nhưng thời gian sau này thì ít hơn. Chứ hồi thời xưa đó, thì nhà nước, vua quan đó, có khi chỉ định luôn cái chức lãnh đạo chư tăng luôn. Vì thời đó phong kiến, vua làm chủ hết đất nước. Có khi vua chỉ định cái chức Tăng cang, tức là giờ mình kêu là Pháp chủ hay Tăng thống á, là vua chỉ định luôn, không có ai dám cự nự, hoe hoe gì hết. Nghĩa là ông vua ổng kính trọng vị nào, ổng thấy vị này là đạo đức lớn, ổng mời vào cung, hoặc làm quốc sư, hoặc chỉ định làm Tăng cang quản lý hết toàn bộ danh sách của tăng ni trong nước hết.

[32:37]Người tu tu, sắp sắp đặt, là vua chỉ định luôn. Bây giờ thì hết vụ đó, giờ giống như nhà nước không xen vô lắm, nhưng mà đôi khi nhà nước cũng có ý kiến. Ví dụ như khi giáo hội cũng muốn bầu vị nào nhà nước cũng, Ban Tôn giáo cũng vào ý kiến nên chọn vị này, vị kia sẽ ổn định hơn không, thì cũng có. Còn hồi xưa chỉ định luôn á, chỉ định thẳng luôn. Như chúng ta cái câu chuyện Bình Thị Giả là biết á. Chuyện Bình Thị Giả như tôi kể rồi phải không? Phải không? Đúng rồi. Chuyện Bình Thị Giả là lúc mà Bình Thị Giả nghĩa là đào cái nhục thân của ngài Minh An lên, thấy mà còn nguyên, ổng đốt, đốt không cháy.

[33:13]Nghĩa là cái thần thông của ngài dễ sợ vậy, chôn mười năm rồi mà nhục thân còn nguyên, mặt mày đỏ au, râu tóc vẫn ra, đốt không cháy, mười năm rồi. Cái ngài mới cầm cái búa, ổng Bình Thị Giả ổng chẻ nát, rồi chế thêm dầu ăn vô đốt cháy luôn. Rồi trong chúng bất mãn, mới báo lên quan. Ổng quan ổng dẫn quân lại chùa, ổng lột y tại chỗ, ổng đuổi ra khỏi chùa, không cho tu nữa. Tức là ngày xưa ổng quan có quyền đối với chùa như vậy. Cái thời đó. Thì ổng nón đi rồi ổng đổi tên là Hoàng Tú Tài, đến đâu cũng không được ai dùng, rồi đến ngã ba đường cũng bị cọp ăn chết luôn. Cái chuyện Bình Thị Giả chút xíu thì chúng ta cũng hiểu là lúc đó

[33:53]là ờ mấy ông quan có quyền lớn đối với những cái hoạt động của chùa dữ lắm, đối với giáo hội dữ lắm, chứ không phải không. Bây giờ chúng ta nói qua cái mối quan hệ giữa giáo hội với chính quyền chút. Vào thời Đức Phật thì giữa Tăng đoàn và chính quyền thì có cái thường là có cái mối thân tình, vì khi Đức Phật đi đến đâu ngài giáo hóa thì các vị vua hay lần lần rồi cũng quy y theo Phật. Mà vua là đệ tử Phật thì mấy ông quan làm sao? Mấy quan lần lần cũng phải, cũng phải mộ đạo, cho nên lúc đó có vẻ ổn, chư tăng chỉ có lo tu. Còn về phía mà an ninh, trật tự, chính quyền, luật pháp thì thường là vua quan họ bảo trợ hết.

[34:37]Thậm chí có khi vua quan họ còn cúng dường chư tăng nữa. Nên lúc đó là vua quan là người mộ đạo và bảo vệ đạo, cho nên không có đặt ra vấn đề gì hết, nghĩa là giáo hội, Tăng đoàn và chính quyền như một vậy. Hình ảnh đó nó đẹp. Chúng ta còn nhớ cái câu chuyện về Angulimala không? Khi vua Ba-tư-nặc mà đi tìm Angulimala, tìm không được, vào thăm Đức Phật á. Đức Phật mới hỏi, "Nếu mà Angulimala đã xuất gia tu tốt thì sao?" Vua mới nói, "Thì con sẽ cúng dường tứ sự suốt đời." Vua mới chỉ qua Angulimala ngồi đó, dựng tóc gáy lên, hết hồn, tên cướp khét tiếng mà giết người như ngoé mà bây giờ trở thành một vị tỳ kheo.

[35:17]Nhưng mà ông giữ lời hứa là ông cúng dường. Như vậy thời đó chúng ta thấy là như vậy. Nghĩa là vua rất là mộ đạo và bảo vệ đạo, chúng ta không có đặt vấn đề chia hai giữa giáo hội với chính quyền phải xử sự làm sao hết, bởi vì hai bên tin cậy lẫn nhau. Nghĩa là giáo hội, Tăng đoàn tin cậy chính quyền, tin cậy những người vua quan là những người mộ đạo, ủng hộ đạo, cư xử đúng mức. Và vua quan cũng tin cậy chư tăng tỳ kheo là những người tu hành chân chính, nghĩa là xuất hiện ở đất nước nào thì đem lại cái điều, cái phước lành cho đất nước đó. Cho nên hai bên tin cậy lẫn nhau thì cái mối tương quan đó là lý tưởng mà sau này chúng ta ít khi bắt gặp trở lại.

[36:02]Vào thời phong kiến ở Trung Hoa và ở Việt Nam á thì nó đi qua thăng trầm, nghĩa là vận mệnh của Tăng đoàn, của giáo hội thăng trầm qua nhiều cái giai đoạn khác nhau. Có những giai đoạn mà một vị vua mộ đạo thì ngài sẽ chỉ định những chức này chức kia, sắp xếp hỗ trợ cho chư tăng. Ví dụ vua Đường Thái Tông vậy, ổng hỗ trợ cho ngài Huyền Trang tổ chức thành một đoàn, một cái ban phiên dịch lớn lao, có cơ sở đầy đủ. Rồi nhiều cái đời vua sau này cũng vậy, đời nhà Tống cũng mộ đạo. Nhà Minh, nhà Thanh thì bớt rồi. Bớt nhưng mà họ bị lai, chứ vào thời Đường, thời Tống mọi việc nó đẹp.

[36:47]Nhưng mà có những giai đoạn mà ông vua ổng không thích đạo Phật, ổng ngược đãi thì có khi ổng ra lệnh là bắt chư tăng phải hoàn tục, đập phá chùa luôn. Có ba cái đời vua Võ, giờ tôi không có nhớ hết kỹ từng chi tiết, là ra lệnh tiêu diệt đạo Phật là vì lúc đó vua theo các đạo khác, hoặc là thấy mấy cái đạo cứ cãi lẫy nhau phiền phức quá, dẹp hết, hổng theo đạo nào hết cho nó gọn, nên lúc đó cấm đạo, thì thời gian đó đạo Phật bị khốn đốn. Nhưng chỉ sau đó một chút rồi phục hưng trở lại, qua đời vua đó thôi, thì đạo Phật thường là bị thăng trầm như vậy. Bên Việt Nam cũng vậy. Việt Nam vào thời nhà Lý, nhà Trần

[37:28]thì mấy ông vua thiếu điều là mấy ông thầy tu luôn. Họ mộ đạo Phật không thể tưởng và họ có những sở đắc về tâm linh nữa, họ biết tu. Qua đến đời vua Lê thì bớt một chút. Qua đến đời vua Lê thì các những các đời vua đó trọng đạo Nho hơn, trọng đạo Nho hơn. Riêng công thần Nguyễn Trãi là một thiền sư. Nguyễn Trãi thì trước khi ông bị giết thì ông đã bắt đầu tu hành theo đạo Phật và đã đắc thiền. Chúng ta nhớ một điều này mà trong sử không ghi hết là hầu hết các nhà nho thời xưa đều uyên thâm đạo Phật, uyên thâm đạo Phật. Nghĩa là mặc dù các ngài vẫn phải học các Luận Ngữ của Khổng Tử, là các sách của Chu Tử,

[38:11]Mạnh Tử phải học, nhưng mà nho, y, lý, số và tam giáo đều biết hết. Nghĩa là Nho là mấy cái sách của Khổng Tử nè, y thuật bắt mạch lý âm dương nè, lý số bói toán tử vi nè, tướng số là rành hết, và tam giáo: Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo tổng quát biết hết. Nên một nhà nho ngày xưa biết khá nhiều về các đạo. Bây giờ mình cứ nghe nói nhà nho mình tưởng họ không biết gì, không có, nhà nho nào cũng mộ đạo Phật hết, họ đều gọi là tam giáo đồng nguyên hết. Nên Nguyễn Trãi vậy, là một nhà nho,

[38:46]nhiều người bây giờ họ dựng lại hình ảnh Nguyễn Trãi đơn giản lắm, chỉ một nhà văn, nhà nho tay yếu chân mềm, không có đâu. Nguyễn Trãi rất giỏi võ luôn. Nghĩa là dầm sương dãi nắng, đi đâu, đi này đi kia là đi được hết, rất giỏi võ và rất giỏi thiền. Khi mà xong việc chiến chinh về trí sĩ ở Côn Sơn thì ông tu thiền và đắc thiền, cho tới cái ngày cái nạn xảy ra tới ông cái bị tru di tam tộc. Rồi những đời vua Lê thì chú trọng đạo Nho hơn. Thì lúc đó có một số đạo Nho nổi lên, có một số quan mà theo đạo Nho cũng nổi lên công kích đạo Phật, ảnh hưởng đạo Phật cũng bị giảm sút thời đó. Tuy nhiên, lẫn trong dân chúng ở làng mạc này,

[39:27]ở thị tứ kia vẫn còn nhiều vị cao tăng xuất hiện và đạo Phật thời đó cũng rất là thịnh. Đạo Phật thịnh dài dài thì nó cũng có những cái, đôi khi nó vẫn có những cái tệ nạn nó xuất hiện chứ không phải không, thời nào cũng bị như vậy. Thì vào thời nhà Lê cái tệ nạn nó xuất hiện hơi nhiều. Cái thời Lý, thời Trần thì các chùa đạo Phật tương đối tinh khiết hơn. Vào thời Lê bắt đầu suy tàn dần dần cho đến cái ngày đạo Thiên Chúa đặt chân vào, thì bắt đầu thê thảm. Nên ở đây là vào thời phong kiến là vậy. Còn ở Việt Nam mình, thì chúng ta muốn trước khi nói đến giai đoạn này, chúng ta nói vào cái thời ông Diệm, ông Thiệu trước một chút.

[40:11]Là vào thời ông Diệm thì ông là một người đạo Thiên Chúa giáo. Anh ruột của ông là ông Ngô Đình Thục là một giám mục. Dòng dõi ông là Thiên Chúa giáo nhiều đời. Và là những người Thiên Chúa giáo mà hết sức là phục vụ cho Tòa Thánh Vatican và cho nước mẹ Đại Pháp. Dòng dõi tổ tiên của ông là những người mà dắt Pháp đi đánh những lực lượng kháng chiến của nước mình. Và ba ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả từng làm quan lớn trong triều. Và chính ông Ngô Đình Diệm cũng là một quan lại thượng thư vào thời vua Bảo Đại. Rồi ông từ quan để phản đối Pháp chuyện gì đó. Chính vì lúc cái hình ảnh mà ông từ quan làm cho ông trở thành một nhà chí

[41:00]sĩ được nhiều người nể nang, trông vọng, xem ông như một người anh hùng. Thì cái thời cơ đến dần dần thì sau này, lúc đó Mỹ mới phá Hiệp định Genève. Vì Hiệp định Genève là quy định năm năm mươi sáu là phải tổng tuyển cử trên toàn quốc để Việt Nam thống nhất. Thì chia đôi là chia đôi tạm thời. Nhưng mà Mỹ họ không có thực hiện cái cái cuộc bầu cử đó. Và họ xây dựng miền Nam thành một tiền đồn để gọi là ngăn chặn cộng sản, đó là vậy. Và họ chọn cái người gọi là lãnh đạo mà họ cho rằng cái người đó quyết tâm chống cộng. Và sau khi sàng qua lọc lại thì họ chọn ông Diệm. Thì ông Diệm thì trước khi mà ông trở về nước á thì ông lại bôn ba ở Pháp,

[41:48]qua Mỹ, qua Pháp, Mỹ để gầy cục với bên Mỹ, gầy cục với Pháp, rồi gầy cục với Vatican để những người đó, bởi vì thế lực của Vatican, của Tòa Thánh Vatican rất là mạnh. Cái tiếng nói Vatican rất mạnh, nên khi ông đi vận động như vậy là bên nước ngoài đồng ý chọn ông và đưa ông về làm lãnh tụ của Việt Nam. Đầu tiên là làm Thủ tướng dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại trước. Rồi sau đó ông mới vận động một cuộc đảo chánh, lật đổ Quốc trưởng Bảo Đại, buộc Bảo Đại lưu vong và ông lên làm Tổng thống luôn. Đó, nó có như vậy, tức là ông phản bội lại Bảo Đại. Thì ông trở về làm lãnh đạo đất nước Việt Nam mà không dựa vào

[42:25]nhân dân Việt Nam, mà dựa vào thế lực bên ngoài, thì sau đó ông mới nghĩa là mong muốn của gia đình ông là biến cái đất nước này thành đất nước Thiên Chúa giáo hết toàn bộ. Thì ông cái việc mà ông chống cộng không phải là vì là vì đất nước mình, mà vì Vatican, vì Vatican. Ông rất trung thành. Ông loại dần hết những người đạo Phật ra khỏi chính quyền hết. Chỉ giữ là đề bạt những người Thiên Chúa giáo dù người đó vô tài, bất đức, tham nhũng gì không cần biết, bao che hết, đưa lần lần vào trong chính quyền, và kỳ thị tôn giáo triệt để vào cái thời đó. Thì cái việc mà ông kỳ thị và ăn hiếp lần lần nó gây bất mãn dần dần trong quân

[43:06]đội, và người ta cũng đảo chánh một lần năm sáu mươi mà không thành công. Rồi đến năm sáu mươi ba, thì cái việc mà ông kỳ thị, hiếp đáp chùa chiền nó gây bất mãn quá. Như lúc đó cái luật của tôn giáo là cờ tôn giáo chỉ được treo trong khuôn viên của chùa hay là của đền thờ. Nhưng mà đến ngày Giáng sinh á thì chùa Thiên Chúa giáo treo đầy hết tất cả hàng đường phố hết. Thấy vậy, tới cái ngày Phật đản thì bên đạo Phật cũng treo cờ Phật đản đầy hết đường phố lại ở Huế, thì họ mới ra lệnh, "Ủa, vậy là vi phạm luật." Cự nữ, cự nữ thì quý thầy phản đối. Phản đối bắt đầu xô xát nhau. Vào tháng 8 năm sáu mươi ba này nè, ông Thiếu tá Đặng Sỹ là Tỉnh

[43:47]trưởng ở Huế lại cho xe tăng cán lên đoàn biểu tình luôn, cán giầy nát chết luôn tám người, xả súng bắn vào luôn. Thì lúc đó là cái cuộc đấu tranh nó bùng nổ lên. Ở trong Sài Gòn cũng vậy. Sài Gòn là họ vào họ bao vây chùa Xá Lợi, bắt chư tăng nắm quăng lên xe đem về nhốt mấy trăm người, rồi quăng súng vào trong chùa, quăng đồ lót của phụ nữ vào trong chùa, vu oan là mấy thầy thế nọ, đem vu bấc nam, um sùm hết. Nhưng mà không ngờ là trong quân đội có nhiều người đạo Phật, nên quân đội bất mãn. Thì có một cái nhân vật vào thời đó, nhân vật này là Đỗ Mậu. Ông này là ông tướng, khi ông nghỉ hưu là ông

[44:22]Trung tướng, lúc đó ông là Thiếu tướng. Và sau đảo chánh sáu mươi ba, ổng lên làm tới Phó Thủ tướng lận. Thì ông này là một người đồng chí với Diệm từ thuở còn hàn vi. Ổng thương Diệm lắm từ thủa ban đầu, ông lại là đạo Phật, người bình cùng quê với ông Diệm. Ổng theo, ổng phò ông Diệm suốt suốt, ông Diệm rất là tin yêu ổng. Khó khăn nhất là cũng là hai người này gắn bó với nhau. Nhưng đến khi mà ông Diệm ông đàn áp đạo Phật quá, thì ông Đỗ Mậu cuối cùng phải phản, cuối cùng phải chấm dứt. Và ông là người đứng ra cấu kết quân đội lại để lật đổ ông Diệm. Thì lúc đó cũng nhiều người khác cũng đứng ra cấu kết lại.

[45:02]Và đến ngày mùng 1 tháng 11 năm sáu mươi ba thì cuộc chính biến xảy ra, lật đổ chế độ, và ông Diệm bị giết chết trên xe tăng, Diệm với ông Nhu bị giết chết luôn. Thì lúc đó đó, bên Thiên Chúa giáo họ cũng làm dữ lắm, khi mà họ thấy người lãnh tụ Thiên Chúa của họ bị lật như vậy, họ oán thù đạo Phật, xô xát giữa đạo Phật và đạo Thiên Chúa cũng xảy ra. Nhưng mà chỉ tiếc có một điều là ông Đỗ Mậu ổng viết trong cái cuốn là Việt Nam máu lửa quê hương tôi, ổng viết chi tiết chính xác lại từng điểm từng điểm của những cái thời điểm á, mà Nhà nước mình phải cho in lại, tại vì ổng viết quá chính xác á.

[45:38]Nhà nước phải cho in lại cái cuốn này. Nếu có điều kiện quý thầy đọc lại cuốn này cho chi tiết hơn. Thì sau cái cuộc mà thành công năm sáu mươi ba, lật đổ được chính quyền của ông Diệm rồi, thì quý thầy mình trong Giáo hội lại lãnh đạo rất là dở. Ông Đỗ Mậu ổng phê bình lãnh đạo dở, cho nên nó không có tiến, tiến xa hơn được. Cuối cùng xuất hiện lại một chính quyền mới là chính quyền ông Thiệu. Thì ông Đỗ Mậu ổng nói rằng: "Chính quyền ông Thiệu tức là chính quyền ông Diệm mà không cần có ông Diệm." Vì những điều gì ông Diệm làm, ông Thiệu làm lại y chang, cũng loại bỏ hết Phật giáo ra, tìm cách đưa những người Thiên Chúa giáo lên nắm những chức vụ quan trọng trở lại.

[46:17]Làm những người mà ngày xưa làm với chế độ ông Diệm, bây giờ lôi vô làm lại trong chính quyền ông Thiệu hết. Cũng tiếp tục là muốn Công giáo hóa toàn bộ miền Nam Việt Nam trở lại. Nên cái thời đó, cái văn hóa của Thiên Chúa bắt đầu nó xuất hiện một cách như tràn ngập trên cái văn đàn, trên bộ mặt nghệ thuật của Việt Nam mình. Vì hồi nhỏ tôi nhớ điều đó rõ. Tôi nhớ những bài hát mà hát về Chúa rất bình thường. Một bài nhạc tình vẫn đưa Chúa vào trong. Cho nên một người thanh niên còn trẻ không biết Chúa là ai nhưng mà hát một bài nhạc tình thì tự nhiên có hát về Chúa ở trỏng. Ví dụ có cái bài: "Năm năm rồi không gặp từ khi em lấy chồng,

[46:58]anh dặm trường mê mải, đời chia những nhánh sông." Có cái đoạn gì mà... hoặc là, "Ngày cô em tóc đờ mi gạt song" gì đó. Rồi cũng nói Chúa là, "Đội thánh giá xin làm chiên ngoan" vân vân. Nghĩa là cái cái văn hóa của Thiên Chúa nó tràn ngập hết, coi như là bình thường. Đang nghĩa là Công giáo hóa Việt Nam từ từ được trên bộ mặt văn hóa. Nhưng mà may mắn vào trong cái thời đó, bên đạo Phật mình cũng xuất hiện những nhân vật lỗi lạc để giữ vững lại cái văn hóa Phật giáo, ví dụ như Đại học Vạn Hạnh thời đó, do Thầy Nhất Hạnh, Hòa thượng Minh Châu sáng lập. Xuất hiện rất nhiều nhân vật giỏi. Hoặc như Thầy Tuệ Sỹ, Thầy Lê Mạnh Thát

[47:37]cũng là những nhân vật giỏi, viết nhiều tác phẩm gây được ảnh hưởng tốt. Hoặc như ông Phạm Công Thiện, thì ông là một tu sĩ Thiên Chúa giáo nhưng ông quá giỏi. Ông đó ông nói nói năm thứ tiếng. Nghĩa là hồi nhỏ xíu mới mười mấy tuổi ông viết cái cuốn dày: "Ý thức mới trong văn nghệ triết học." Ông nói nếu cần ổng chỉ viết về câu chuyện về một củ cà rốt dài một ngàn trang cũng được, chỉ cần nói về củ cà rốt thôi. Nghĩa là đầu óc tư tưởng phong phú. Ổng là một thầy tu Thiên Chúa giáo nhưng sau đó ổng đọc sách tan nát hết, ổng mới phát hiện ra Thiên Chúa giáo sai, ổng bỏ Thiên Chúa giáo ổng qua ổng tu theo đạo Phật.

[48:11]Nên ổng cũng viết nhiều cuốn sách rồi có lợi cho văn hóa của Phật giáo. Bây giờ thì sau đó ổng cũng buồn buồn, cũng cảm thấy có một cái chân lý gì khác cao hơn, biết thì ổng không chịu tu nữa. Giờ thì ông qua bên Pháp ổng ở. Nhưng mà ông vẫn lâu lâu vẫn viết những cuốn sách về đạo Phật. Lâu lâu như vậy, hoặc là ông Phạm Thiên Thư viết những bài thơ về đạo Phật cũng hay, hoặc là ca sĩ, những nhạc sĩ như Phạm Duy thì cũng làm những bài nhạc rồi ông cũng đưa hình ảnh đạo Phật vào rất thường. "Đầu mùa xuân cùng em đi lễ, lễ chùa này vườn nắng tung bay" Thấy không? Vân vân nghĩa là những hình ảnh nó vào từ từ có đạo Phật nó xuất hiện lại dần dần.

[48:48]Chớ lúc đó, vào cái thời đó thì vì chính quyền ngược đãi, đàn áp và muốn tiêu diệt đạo Phật, cho nên Giáo hội buộc không có gắn bó được với chính quyền mà phải tách ra độc lập để đấu tranh và tồn tại. Đó, một thời đại, thời điểm đó rất đặc biệt. Chớ còn vào những thời trước, thời trước nữa, thì chúng ta thấy đa phần là Giáo hội và chính quyền đều có cái tương quan gắn bó, tin cậy với nhau được, vì đạo Phật rất là hiền lành, chính quyền luôn luôn tin cậy. Nhưng chỉ có thời ông Diệm là bị ngược đãi quá đáng do cái âm mưu nghĩa là tiêu diệt đạo Phật của cái gia đình họ Ngô đó, nên buộc quý thầy phải đấu tranh rất gay gắt.

[49:31]Còn hiện nay như thế nào? Hiện nay là sau năm bảy lăm, khi giải phóng rồi, thì Nhà nước cũng để yên cho Giáo hội sinh hoạt. Nhưng mà lúc đó, cái thái độ quý thầy mình thì bất hợp tác với chính quyền, bởi vì còn cái khuynh hướng từ trước đó là độc lập với chính quyền, luôn luôn độc lập, độc lập với chính quyền, không có hợp tác. Và sau khi giải phóng, thì mới nghĩ rằng cái chế độ cộng sản là chế độ vô thần duy vật thì sẽ đàn áp tôn giáo, nên quý thầy mình lúc nào cũng thủ thế, lúc nào cũng thủ thế với Nhà nước. Thì Nhà nước mới trong một buổi họp, Nhà nước kêu gọi thế này, nói: "Bây giờ là đất nước hòa bình, quý thầy họp đại hội Phật giáo

[50:09]tốt, không sao hết, chỉ xin quý thầy để giùm mấy câu vô giùm là 'Đoàn kết xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa'." Thêm giùm bốn chữ xã hội chủ nghĩa vô giùm. Thì chúng ta tin cậy nhau quý thầy muốn gì cũng được hết. Nhưng mà trong buổi họp đó quý thầy mình không biết sao không chịu, không chịu, chẳng những không chịu đem bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ra đọc luôn. Đọc là ý chống lại đó, có tư tưởng chống lại rất dữ dội. Thấy nhà nước thấy rồi là cái giáo hội Ấn Quang hồi trước căng thẳng quá, không thể hợp tác được. Thái độ quý thầy quyết liệt, dứt khoát quá, căng thẳng quá, không hợp tác được.

[50:47]Mà trong một đất nước mà giáo hội là một mảng lớn mà không hợp tác với nhau được thì chuyện gì xảy ra? Nguy hiểm về an ninh, phải không? Rất nguy hiểm an ninh. Trong khi đó, cái vận mệnh đất nước như là chỉ mành treo chuông nữa. Bên Trung Quốc lúc nào cũng lăm le nó chiếm. Pol Pot bắt đầu nó đánh phá biên giới phía Tây là buộc nhà nước mới thấy rằng bây giờ phải thành lập lại một giáo hội khác, nhà nước mới tổ chức đi vận động thành lập một giáo hội mới. Là tập hợp toàn bộ mọi hệ phái vào trong đó luôn. Chứ thời xưa đó Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chỉ có thống nhất được hai hệ phái là Nam tông, Bắc tông.

[51:23]Còn một số các hệ phái khác họ có giáo hội riêng, hiến chương riêng hết. Ví dụ như: Giáo hội Tăng già Khất sĩ, giáo hội riêng. Rồi Giáo hội Thiền Tịnh Đạo Tràng của chùa Phật Bửu Tự ở đường Cao Thắng cũng là giáo hội riêng, có hiến chương riêng. Rồi bên Lục Hòa Tăng Cổ Sơn Môn là có giáo hội riêng, hiến chương riêng hết. Thời đó như là Hòa thượng Huệ Thành là ở chùa Long Thiền ở tỉnh Đồng Nai, Biên Hòa đó, Hòa thượng làm giáo hội của Cổ Sơn Môn Lục Hòa Tăng riêng. Hòa thượng là Pháp chủ á. Hồi đó là Pháp chủ của giáo hội đó đó. Nên lúc bây giờ sau đó thì nhà nước mới vận động thành lập một Giáo hội Phật

[51:57]giáo Việt Nam, tập trung mọi hệ phái vào thành một giáo hội duy nhất. Thì cái điều này thì có người khen, kẻ chê. À chê thì nói rằng là như vậy giáo hội này là giáo hội quốc doanh, do nhà nước thành lập. Nhưng mà cái người khen thì nói rằng đây là một cái giáo hội lý tưởng chưa bao giờ có trong các đất nước trên thế giới. Là nước nào là giáo hội cũng bị chia rẽ, bị xé ra đấu tranh. Nhưng chỉ riêng ở Việt Nam cũng nhờ cái vận động của nhà nước mà có một giáo hội đoàn kết được toàn bộ các hệ phái vào trong hết. Nghĩa là những người đệ tử thờ Phật đều ở chung trong một giáo hội. Thì do cái quyền lực của nhà nước,

[52:38]sự sắp xếp nhà nước nên giáo hội được thành lập như vậy. Thì ý kiến khen chê là như vậy. Tuy nhiên ở đây thì chúng ta thấy thế này là cái việc mà nhà nước có ý kiến để thành lập á, cái chuyện nó xưa như trái đất rồi. Thì hồi xưa mấy ông vua cũng vậy đó, ổng cũng chỉ định, chỉ thành lập luôn. Nên điều đó mình nên vượt qua mà chỉ nên nhìn vào cái ưu điểm là giáo hội hiện nay được cái ưu điểm rất lớn là tập hợp hội hết mọi hệ phái lại. Chứ bên Thái Lan nha là ông vua là theo đạo Phật á là, đạo Phật là quốc giáo mà vẫn có hai giáo hội. Một giáo hội của hoàng gia, một giáo hội của giới bình dân. Nghĩa là chư tăng bình dân là một phe riêng nha.

[53:18]Rồi chư tăng mà thuộc hoàng tộc, quý tộc của hoàng gia là một phe riêng, cũng không có đồng lòng với nhau nữa. Cho nên bên Thái Lan họ cũng nói là, "Tại sao quý thầy bên đây là hệ phái nào cũng ở chung với nhau được? Hay như vậy?" Hay như vậy cũng thực ra cũng là nhờ công lao của nhà nước. Thì nhà nước á ý của nhà nước là làm như vậy nó được ổn định về Phật giáo một mặt với được ổn định về an ninh. Nhưng mà là nhà nước làm cũng chưa triệt để, có vài điều còn hở. Còn hở chỗ nào?

[53:51]Là ở chỗ đó ví dụ như những người công an. Công an thì họ để ý bên giáo hội mà họ chỉ để ý gì? Để ý vấn đề an ninh thôi, vấn đề an ninh thôi. Ví dụ họ coi ngó thì họ coi ngó vấn đề an ninh thôi là coi trong giáo hội này quý thầy có tu hành chân chính không, có phản động không, có lôi kéo quần chúng, có nối kết nước ngoài để làm phản động hay không? Họ chỉ sợ nhiêu đó. Còn quý thầy sinh hoạt sao thì kệ, quý thầy không biết. Nghĩa là quý thầy tu tốt, không tốt, công an họ không để ý. Họ nghĩ là chuyện đó là chuyện của quý thầy, không quan tâm mà họ chỉ để ý vấn đề an ninh thôi. Thì như vậy đó mình thấy như vậy là thôi họ làm trách nhiệm họ vậy cũng được.

[54:30]Thì bổn phận của họ là coi chừng vấn đề an ninh thì họ để ý nhiêu đó cũng được mà coi vậy là dở. Thấy thì chặt mà lại lỏng. Lỏng vì sao? Vì chưa có cái Luật Tôn giáo. Luật Tôn giáo mà quan trọng là Luật Phật giáo luôn á. Chớ nói là Luật Tôn giáo không cũng không đủ nữa. Khi mà có Luật Tôn giáo này đó, buộc cái người công an phải tuân thủ Luật Tôn giáo này, hành xử cho đúng và như vậy sẽ hỗ trợ được đạo Phật rất là nhiều. Tôi nói ví dụ quy định thế này, ví dụ trong Luật Tôn giáo quy định về trang phục là trang phục tu sĩ. Tức là ví dụ trong luật quy định rõ ràng chứ không được nói mơ mơ, không được nói ai muốn mặc gì mặc,

[55:11]là người tu sĩ Phật giáo là người có hình thức như thế này: tóc thì tóc thì cạo, là quần áo được mặc trên ba màu: lam, đà và vàng với hình thức như thế này quy định rõ ràng. Và luật quy định, người nào không phải tu sĩ Phật giáo không được mặc đồ này. Nếu người nào không phải tu sĩ Phật giáo mà mặc bộ đồ như vậy, mang hình thức như vậy thì sẽ bị phạt tù từ 3 tháng cho tới 30 năm, ví dụ vậy quy định tùy trường hợp. Phải không? Nó phải có luật rõ ràng như vậy thì người công an họ mới theo luật họ làm. Còn bây giờ ví dụ như nhà nước đưa ra cái Nghị định số 69 về tôn giáo thì công an họ không có gì để làm hết trơn á.

[55:52]Thì cái nghị định đó để Ban Tôn giáo, Mặt trận với Phật giáo làm gì đó làm. Nhưng mà hễ có luật thì công an phải chấp hành luật đó. Như vậy nó tránh được cái tình trạng là tu sĩ giả danh. Bữa giờ ví dụ như giáo hội mình tới thưa là, "Bây giờ cái ông đó ổng tu sĩ giả." Cái ông công an ổng nói, "Bây giờ ổng tu sĩ giả là sao?" Tức là sao? Tức là không có giấy, không có giấy giáo hội. Rồi bây giờ bắt làm sao đây? Nói ổng giả, bây giờ lại hỏi cạo đầu, nói, "Tôi nực tôi cạo đầu, làm gì tôi?" Thì trong luật pháp đưa ra Hiến pháp đâu cấm công dân cạo đầu. Rồi nói, "Sao mặc đồ thầy chùa?" "Tôi thấy đồ đẹp tôi khoái mặc làm gì tôi?"

[56:25]Thì trong luật đưa ra cũng đâu có cấm người công dân mặc đồ thầy chùa. Thì cũng thua luôn. Thì thôi công an cũng về đành chịu phải không? Nhưng mà nếu ngày nào có Luật Tôn giáo quy định rõ ràng thì không dám á, không dám mặc đồ này. Cho nên bây giờ đến hỏi, "Anh mặc đồ thầy tu, có giấy của giáo hội không?" Trình ra cái giấy giáo hội. Ờ có, không sao. Không có giấy giáo hội là tu sĩ giả, lượm liền. Về chất vấn liền. Thì hoặc phạt anh nghĩa là 3 tháng tù treo, 3 tháng tù ở hay 3 năm tù ở thì tùy theo cái tội gì nữa. Quy định nữa. Thì nếu có luật nó mạnh như vậy là giáo hội mình sẽ mạnh lên liền là nhờ bên công an họ tuân thủ cái luật này.

[57:02]Đó là vấn đề mà tu sĩ giả danh sao sao, quy định từng lớp từng lớp, có nhiều cấp tu sĩ thế nào, quy định thế nào thì không có ai mạo nhận được. Thì như vậy bên giáo hội á quý thầy sẽ yên tâm, mình không cần phải lo vấn đề kỷ luật nữa vì ai vi phạm cái đó mình loại ra khỏi giáo hội cái là công an lượm liền, xử lý liền. Thì như vậy là công an mới thật sự là hỗ trợ cho giáo hội về mặt kỷ luật, về mặt tổ chức. Còn bây giờ đó công an không hỗ trợ. Là trong nội bộ quý thầy sao tùm lum chuyện thì công an không để ý, họ chỉ để ý về quý thầy có phản động hay không thôi. Cho nên tuy coi chặt chẽ mà lại chưa chặt chẽ, nó lại yếu.

[57:41]Nhiều khi công an cứ coi an ninh riết cái mình phát bực. Nói, "Tôi đàng hoàng, tôi yêu nước, nhà nước xã hội chủ nghĩa, nghĩa là gia đình tôi là gia đình mấy đời có công cách mạng mà cứ canh cứ vô chùa cái rình rình chi vậy?" Nhiều khi mình bực. Trong khi họ thì họ làm cái nhiệm vụ họ lại coi chừng có ai không. Thì thầy tốt rồi nhưng mà ông bạn thầy không biết có tốt không để tôi coi chứ. Nhưng là mình bực. Nhưng mà nếu có cái Luật Tôn giáo rồi thì không phải vậy nữa. Là công an họ sẽ làm mạnh hơn mà mình lại thấy dễ chịu hơn là vì bảo vệ được giáo hội. Nhưng mà vì chưa có Luật Tôn giáo, chưa có Luật Phật giáo nên nó là vấn đề dở.

[58:13]Thì có lẽ sau này nhà nước cũng sẽ chuẩn bị để mà thành lập cái Luật Tôn giáo. Ví dụ như bây giờ một người tu sĩ bị vì vấn đề gì đó giáo hội tẩn xuất ra khỏi giáo hội. Tẩn xuất ra thì lấy giấy lại và báo cho chính quyền sở tại liền người đó không còn là tu sĩ. Thì công an tới liền nói, "Anh, yêu cầu anh không được mặc đồ này nữa. Yêu cầu anh để tóc lại, không được cạo tóc nữa." Thì như vậy thì người kia phải tuân thủ thì lúc đó họ không còn mang hình thức tu sĩ nữa. Đó nó trắng đen rõ ràng là nhờ luật mà vì chưa có luật thôi đành chịu. Ừ. Đó là mình nói nghĩa là bên phía nhà nước mà yểm trợ cho giáo hội là nhờ như vậy.

[58:53]Bây giờ mình nói khía cạnh này chút là cái người tu sĩ á trước hết là làm người công dân của đất nước, phải tuân thủ luật pháp của đất nước đó. Nhưng mà khổ cái là người tu sĩ là một công dân mà không phải công dân thường. Công dân này không phải thường. Đây là một người công dân mà họ không có lập gia đình nên họ không phải là công dân thường tình như mọi người là lớn lên rồi bắt đầu có gia đình, có vợ có con, họ không có lập gia đình. Và đồng thời đây là một người công dân mà lại lãnh đạo tinh thần của nhiều tín đồ. Cho nên cái người công dân này hơi kỳ cục hay đặc biệt. Nên viên chức nhà nước phải khéo léo mà đối xử một chút.

[59:33]Ví dụ như khi quý thầy mà đến gặp viên chức nhà nước, gặp công an, cán bộ thì cán bộ, công an phải biết nhã nhặn chút. Chớ mà vào thời mà sau giải phóng mấy công an mà gặp quý thầy kêu bằng anh, bằng chú không à. Anh, chú. Tại họ nghĩ thì cũng là công dân bình đẳng trước pháp luật, với thêm nữa là tôn giáo là mê tín nữa cho nên nhiều khi là công dân công dân hạng thấp nữa. Nhưng mà thời gian sau này thì chúng ta thấy quan điểm nó thay đổi do nhà nước đổi mới nên cái cái vai trò của tu sĩ cũng như cái giá trị của tôn giáo trong xã hội được coi trọng hơn. Bây giờ một người công an hay một người viên chức cán

[1:00:07]bộ họ gặp một người thầy tu họ biết quý trọng. Tôi nhớ cái bản thân tôi cũng vậy. Tôi hai lần tôi lái xe bị vi phạm luật, lái xe hơi á chứ còn xe Honda thì không có chuyện gì. Lái cái tôi tôi vượt ẩu. Cái ông công an ổng thổi vô thì ổng đứng ổng chào đàng hoàng, ổng kêu thầy đàng hoàng. Trình giấy tờ cho coi thì giấy tờ đầy đủ hết. Ổng cằn nhằn lát ổng cho đi, không có phạt. Có lẽ ổng dòm thấy thầy tu. Nhưng mình hiểu rằng họ có quý trọng thầy tu. Rồi một lần nữa tôi quẹo chữ U á, con đường quẹo chữ U mà nó ngay cái vạch nó cấm. Hai con đường nó có ngay giữa đường nó có hai cái vạch là cấm băng qua.

[1:00:44]Chẳng những tôi không băng qua mà tôi còn quẹo chữ U, quẹo xong lại đúng ngay ông công an đứng đó luôn. Quẹo xong cái lại dừng lại cái thấy ổng đứng đó ổng cười. Cái ổng chào một cái, ổng nói, "Thầy cho coi giấy." Móc giấy, móc giấy ổng rà soát cái ổng cũng cho đi. Thì mình thấy là thời gian sau này rõ ràng là cán bộ nhà nước họ đã có cái nhìn nhận lại cái vai trò của tu sĩ thì đó là cái điều rất là tốt. Vì người tu sĩ là một công dân mà công dân khác. Ở luật pháp của các nước á có một cái tội gọi là tội công xúc tu sĩ. Ở Việt Nam mình chưa có luật này, chắc sau này lần lần cũng có. Công xúc tu sĩ nghĩa là sao? Nghĩa là xúc phạm tới người tu.

[1:01:22]Xúc phạm tới người tu thì nhiều cái lắm, hoặc là nói nặng, xúc phạm, hoặc là những hình ảnh mà lỏa lồ mất thuần phong mỹ tục á cũng gọi là công xúc tu sĩ. có vẻ có giá trị nhưng sau này có lẽ Luật Tôn giáo thì đưa ra. Thì đó là cái mình nói với nhà nước là cán bộ nhà nước nên hiểu rằng tu sĩ là một công dân mà hơi đặc biệt. Cho nên phải tế nhị, đối xử khéo léo giùm chút. Đừng có mà gặp quý thầy kêu bằng anh bằng chú kỳ lắm. Vì sao? Vì trước mắt của tín đồ, cái người thầy tu là người đáng kính. Nhưng mà nếu người viên chức họ đối xử coi tầm thường thì mít lòng dân chúng. Nó vậy thôi. Bây giờ chúng ta lại trách qua quý thầy,

[1:02:05]hồi nãy mình nói nhà nước giờ mình nói quý thầy. Nhiều khi quý thầy mình không hiểu hết những vấn đề phức tạp của chính trị nên hay trách nhà nước. Nhưng mà sự thực nếu mình biết thì mình thấy nhiều vấn đề nó khủng khiếp. Nhiều khi quý thầy mình trách nhà nước sao gây khó khăn. Mà nếu mình hiểu kỹ thì mình thấy là nó phức tạp. Ví dụ thế này, đất nước mình đó sau 100 năm nô lệ Pháp, Pháp đô hộ, mấy chục năm qua chế độ Diệm, Thiệu, tài sản của Thiên Chúa giáo cực kỳ lớn. Họ có rất nhiều đồn điền, họ có nhiều cái cơ sở kinh tế. Khách sạn Caravelle lớn nhất ở Sài Gòn xưa là của Công giáo. Và mấy ngàn trường học rải rác trên khắp đất nước này.

[1:02:51]Tức là hệ thống kinh tế và ảnh hưởng của họ có thể khuynh đảo cả quốc gia. Trong khi đạo Phật mình chỉ lèo tèo có một trăm mấy chục cái trường Bồ Đề. Cái trường Bồ Đề đó nó gắn bên cạnh cái chùa. Lấy cái khuôn viên của chùa mình đây, thì cái quý thầy mình rộng rộng nó mở ra thêm cái trường Bồ Đề kế bên. Đó thì có nhiêu. Thì sau giải phóng, thì cái luật định của xã hội chủ nghĩa là hễ mà y tế và giáo dục thì phải thuộc về nhà nước, phải thuộc về quốc doanh hết. Cho nên nhà nước đã quốc hữu hóa toàn bộ những ngôi trường học hết, không biết của đạo hay không của đạo, quốc hữu hóa toàn bộ. Trường tư thục cũng bị quốc hữu hóa luôn, không có đạo cũng quốc hữu hóa,

[1:03:29]trường của Thiên Chúa giáo quốc hữu hóa, trường Phật giáo quốc hữu hóa hết. Quốc hữu hóa làm cái gì? Cũng làm trường học tiếp. Thì đó xấu hay tốt? Xấu hay tốt? Tốt có gì đâu. Nhưng mà mấy thầy mình không biết, bắt đầu mới gây rắc rối thế này. Bắt đầu mấy thầy mình mới thấy nhà nước giờ đổi mới á mới nộp đơn đòi lại cái khu trường này. Nói là: "Xưa này trường của chùa, bây giờ đòi lại." Thì nhà nước không thể trả. Tại sao không thể trả? Quý thầy hiểu không? Hiểu không? Đúng. Nếu mà trả cho một chùa này thì trả toàn bộ tất cả của Thiên Chúa giáo lại hết. Thì lúc đó chuyện gì xảy ra? Thiên Chúa giáo mạnh lên cái ào liền.

[1:04:12]Tại vì cơ sở kinh tế tràn ngập hết. Thì lúc đó đạo Phật mình chịu không nổi, thua liền. Quý thầy mình vừa ít có tài tổ chức, mà cơ sở kinh tế nghèo nữa. Thiên Chúa giáo mà họ lấy hết toàn bộ những cái tài sản họ lại hết thì chuyện gì xảy ra? Họ mạnh lên liền. Cho nên quý thầy mình phải hy sinh. Hy sinh, chấp nhận không đòi. Chấp nhận quốc hữu hóa hết toàn bộ như vậy. Mình hy sinh, rồi mình phát triển đạo mình ở con đường khác, không cần đòi ở trường nữa. Đòi trường đó làm khó nhà nước mà vừa khó khăn nhà nước cũng chính là làm khó khăn cho đạo Phật, chỉ lợi Thiên Chúa giáo. Cái vấn đề an ninh nó nhiều mặt lắm. Cho nên vì vậy mình cứ yên tâm tu là tốt nhất.

[1:04:55]Đúng như Phật nói, hoàn cảnh nào thôi mình cứ lo tu nội tâm thanh tịnh rồi tùy tâm từ bi mình tùy duyên mình mà giáo hóa, vậy mà nó đúng đạo. Còn cứ đòi tới cự nự lui không ngờ là mình mắc một sai lầm lớn mình không hay. Rồi bắt đầu sao? Bất mãn. Bất mãn rồi cái đòi xé giáo hội ra làm hai. Mới nói là: "Giáo hội này là giáo hội quốc doanh, giáo hội trước kia mới là giáo hội chân chính đại diện cho lịch đại tổ sư." Có một lần có tài liệu tôi đọc tôi thấy có một vị thầy ổng nói là: "Cái giáo hội hiện nay á là giáo hội quốc doanh. Rồi giáo hội trước kia đó mới là giáo hội mà đại diện cho lịch đại tổ sư." Tôi đọc thì tôi hơi tức cười.

[1:05:36]Vì sao vậy? Vì quý thầy nghĩ coi ai là người đại diện cho lịch đại tổ sư? Quý thầy nghĩ đi ai? Không có ai hết. Mà chỉ có những người nào sao? Tu hành chân chính, phải không? Có giới, có định, có tuệ, người đó mới xứng đáng là đại diện lịch đại tổ sư, chứ không phải vì giáo hội này hay giáo hội kia, không có. Cũng giống như ngày xưa Đức Phật á, Đức Phật nói: "Không phải vì dòng máu mà Bà-la-môn, không phải vì đẹp trai Bà-la-môn, không phải vì thuộc nghi thức trì tụng mà là Bà-la-môn. Chỉ khi nào tâm hồn người đó có đức hạnh và có trí tuệ, người đó Bà-la-môn." Đức Phật cũng nói như vậy thì bây giờ cũng vậy.

[1:06:20]Cho nên là cái việc mà chúng ta phân biệt thế này thế kia để xé Tăng đoàn, xé giáo hội ra là một phạm lại một sai lầm ngày xưa, Đức Phật đã cảnh cáo là phá hòa hợp Tăng. Chúng ta để ý cái điều đó như vậy. Rồi có nhiều vấn đề, ví dụ như là vấn đề đất đai. Hồi xưa đó nghĩa là gần phân nửa đất ở Sài Gòn là đất của người Chà Và, Java mà họ là người Hồi giáo. Họ là những người cho vay và chủ đất. Đất họ đầy hết trơn ở Sài Gòn. Mình đến đó mình cất nhà xong không ngờ đất của người Hồi giáo không. Rồi sau này ông Diệm ông mới quốc hữu hóa một số đất của người Chà Và mà vẫn còn tới chưa hết. Tới thời ông Thiệu vẫn còn á, vì tôi nhớ hồi nhỏ cứ lâu lâu tự nhiên có một cái

[1:07:11]ông mặt đen thui lại ổng xòe giấy xòe đồ ra ổng kêu đóng tiền đất cho ổng. Tôi thắc mắc hoài. Nhưng sau giải phóng rồi mới chấm dứt chuyện này, đất là của nhà nước, chấm dứt chuyện đó. Nên hồi mà có lần họp mà Quốc hội mà về soạn gì đó về hiến pháp quốc gia. Lúc đó ông tôi còn nhớ ông Đỗ Mười ổng là Tổng Bí thư, ổng nói soạn luật gì đó rồi soạn ổng yêu cầu Quốc hội khẳng định điều này, đất của nhà nước, không có của ai hết. Chi vậy? Thật ra để tránh cái hậu họa mà của mấy trăm năm chúng ta bị đô hộ. Thì nếu mà không có cứng rắn cái điều luật này mà trả lại từ từ, chúng ta thấy ủa đất này tự nhiên

[1:07:48]ngày xưa là của ông Mỹ mua nè, trả lại cho ổng. Đất này ngày xưa của đồn điền này của Pháp nè, trả lại cho ổng. Chết tươi liền. Là mình mất chủ quyền mình không hay. Cho nên phải xóa hết toàn bộ quá khứ lịch sử làm lại, đất là của nhà nước. Rồi nhà nước từ từ cấp lại cho dân, một cách bình thường từ từ lại. Mình nói là quyền sử dụng đất, sự thật cũng là chủ đất thôi. Nhưng mà mình phải làm như vậy để xóa cái quá khứ sở hữu của những người ngoại kiều ở trên đất nước mình. Cho nên nhà nước họ làm là có cái lý do của họ, mình không biết. Chứ sự thực về an ninh chính trị phức tạp lắm, quý thầy không hiểu.

[1:08:23]Nên cái hay nhất của quý thầy mình là hiền lành, tu tập. Chuyện gì để người lớn tính. Vậy chứ mà không ai cự nự mà người ta thương. Mình cứ tu hành chân chính vậy chứ người ta thương. Rồi trong cái hiền lành, chân chính vậy rồi từ từ mình giáo hóa được chúng sinh. Mà mục tiêu của mình là cái gì? Mục tiêu của mình là cái gì? Giáo hóa chúng sinh. Nên có cái câu chuyện mà thi được giải thế này. Có câu chuyện thi được giải là có cái ông đó ổng đi mua đất, thì ổng đến cái bộ lạc đó. Cái bộ lạc đó thì mới mua, cái ông bộ lạc này ổng nói: "Ở đây thì không có mua trả góp trả gía gì hết trơn, không có giấy tờ gì hết trơn á.

[1:09:05]Là anh cứ đem đem số vàng để một đống đây, rồi anh đi bộ. Buổi sáng đi bộ, trước khi mặt trời lặn thì anh trở về. Thì những bước chân anh đi tới đâu á thì đất nó thuộc về anh. Nhưng mà anh về trước khi, nếu mà mặt trời sập rồi mà anh chưa về tới là coi như số tiền chúng tôi lấy anh không có miếng đất nào. Thấy không? Còn anh về trước khi mặt trời mọc thì đất anh đi một vòng bao như vậy nè, anh về lại chỗ này thì coi như đất đó thuộc về anh, đơn giản." Thì ông đó ông nhà giàu đó sáng ổng bắt đầu ổng lại ổng chất một đống tiền xong ổng đi. Ổng đi ổng ráng ổng đi cho nhiều. Ổng đi thì mặt trời lên từ từ, nắng,

[1:09:38]ổng mệt, ổng đói, nhưng mà ổng nghĩ là ráng đi cho được nhiều, ổng đi. Tới chiều buông xuống từ từ ổng cũng mệt lả nhưng mà ổng cũng ráng đi tại vì đi càng nhiều thì càng được, mặt trời từ từ đi xuống dần xuống dần ổng ráng về. Ráng bao thêm rộng rộng rộng sao mà kịp trước khi mặt trời sập ổng lại gặp ông tù trưởng lại thì coi như vậy. Thì ông tù trưởng mới dẫn nguyên cái thần dân của mình ra đứng chờ và thấy đằng kia ổng đi tới, đằng này họ hò reo hò, họ nói: "Ráng lên, ráng lên!" Tức là họ cũng rất là chân tình, họ cũng muốn cho ổng có nhiều đất. Đó, kêu: "Ráng lên, ráng lên!" thì mặt trời đang chìm từ từ

[1:10:08]từ từ và ông này cũng đang, nghĩa là ổng ráng tới từ từ, ổng lết từ từ tại vì ổng đuối lắm rồi, không ăn không uống mà, ráng đi cho nó đỡ mất thời gian, không ăn không uống nguyên một ngày. Thì khi mặt trời vừa lặn thì ổng vừa về tới được chỗ đó, nhưng ngay lúc đó ổng chết luôn. Thì câu chuyện ngang đó chưa có gì để nói, câu chuyện này bắt đầu ông tù trưởng mới nói thế này, ổng mới kêu những người thần dân, ngụ dân trong bộ tộc ổng lại làm lễ tưởng niệm rồi bắt đầu mới sai cái mấy người thanh niên khỏe là: "Các con hãy đi đào cho ông này ba thước đất."

[1:10:45]Câu chuyện trúng giải liền. Hay không? Nghĩa là cả một đời chúng ta vất vả chết cần nhiêu? Ba thước đất à.

[1:10:55]Nghĩa là một đời mình đi gom hết cả một tài sản mênh mông như vậy, ngày chết chỉ cần ba thước đất. Quý thầy mình cũng vậy. Mà quý thầy mình bây giờ có ba thước đất không? Không, có cái hũ nhỏ để cái tháp thôi. Không tới nữa. Cho nên là chúng ta không bận tâm mình phải được cái gì mà điều mình bận tâm là trong một đời tu hành của mình, mình giáo hóa được bao nhiêu người theo Phật pháp. Và mình giáo hóa được bao nhiêu người đã theo Phật pháp rồi thì phát triển mạnh hơn cái tâm đạo của họ. Và mình giáo hóa được bao nhiêu người tâm đạo đã mạnh rồi, chứng được từng từng bực thiền định tâm linh. Đó là sự nghiệp một đời của mình.

[1:11:33]Chứ còn cuối đời của mình có cái hũ chút xíu à. Con chuột nhảy qua rớt bể luôn tan nát không còn gì nữa.

[1:11:42]Giờ chúng ta nói về cái tinh thần Sangha một chút. Chúng ta nhớ thế này là mỗi tăng ni phải ghi nhớ trong tâm mình có một cái Giáo hội Phật giáo với cái ý nghĩa rất là thiêng liêng được truyền từ Đức Phật. Chúng ta nhớ điều đó. Hiện nay đó không ai nhắc mình không để ý. Tại vì giờ mình ở một chùa mình tu thì mình chỉ thấy ông thầy trụ trì mình phải không, các giáo thọ huynh đệ mình sống ăn đây, còn giáo hội là cái gì xa vời. Thì lỗi đó cũng do hai cái. Thứ nhất là chính chúng ta. Chúng ta phải ý thức mình là một thành viên trong một cộng đồng Sangha lớn mênh mông cả thế giới này. Mà bây giờ chưa thế giới được thì hãy là một một

[1:12:22]cái Sangha trong một nước Việt Nam mình cái đã. Và cái Sangha đó thiêng liêng. Dù có nhiều thương tích, thương tích là cái gì? Là ví dụ chúng ta có nghe nơi này có một vài vị thầy bê bối, nơi kia vài vị thầy bê bối nhưng mà vượt qua điều đó thì ý nghĩa tăng đoàn giáo hội chúng ta vẫn là cái gì thiêng liêng mà suốt cuộc đời chúng ta nguyện gắn bó và phụng sự. Chúng ta nhớ phải ghi khắc trong tâm mình điều đó. Dù bây giờ mình nhiều khi dòm không thấy giáo hội mình nằm đâu hết. Chỉ có như thầy thầy thư ký thầy Minh Thiện á là thầy mới biết tăng đoàn giáo hội là ở đâu tại vì thầy suốt ngày làm việc của giáo hội.

[1:13:01]Còn nhiều khi tăng chúng mình không để ý. Nhưng dù chưa thấy nhưng trong tâm mình phải tâm niệm điều đó. Suốt một đời phụng sự, gắn bó với giáo hội. Nguyện nghĩa là làm cho tăng thêm cái tình đoàn kết của tăng đoàn của giáo hội. Chúng ta nhớ điều đó. Và như vậy chúng ta nguyện cả một đời mình là gắn cái sinh hoạt tu tập của mình hòa theo đường lối chung của giáo hội, cũng như mình chân thành góp ý để đóng góp ý kiến để xây dựng giáo hội. Vì dĩ nhiên là giáo hội chưa hoàn chỉnh đâu. Nó còn qua nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm nữa cứ tiếp tục phải xây dựng hoài, phải đóng góp hoài. Thì mỗi người chúng ta vậy, cứ có gì hay chúng ta kiên

[1:13:41]nhẫn đóng góp, chứ không làm thành đấu tranh manh động, nghĩa là cứ kiên nhẫn đóng góp âm thầm, phải không? Ở đây nếu một ngày nào đó quý thầy có duyên rồi vào làm lãnh đạo giáo hội, hoặc là lãnh đạo cấp xã hay cấp huyện hay cấp tỉnh, hay thậm chí là về già quý thầy vào tới trung ương chẳng hạn, thì chúng ta phải nhớ là cái vai trò của một người lãnh đạo giáo hội như thế này. Thứ nhất á, mình làm cái chất keo để nối cái sự hòa hợp đoàn kết trong tăng ni lại. Làm ví dụ mình thấy chùa này chùa kia có những điều chưa đồng ý mình hòa giải. Hệ phái này hệ phái kia có điều còn khúc mắc với nhau, mình đến mình giải thích.

[1:14:28]Bởi vì tinh thần của Sangha trong đạo Phật là tinh thần hòa hợp. Đó là biểu tượng thiêng liêng của chư Tăng. Nhưng vì vậy là nếu làm trong giáo hội thì chúng ta phải xây dựng cái tình hòa hợp đoàn kết đó. Ở đây tôi nhớ lại một cái kỷ niệm đau buồn từ thời thời mà tôi mới xuất gia vậy. Thì lúc mới xuất gia tâm hồn tôi trong trắng ngây thơ, vô số tội. Mà khi khổ cái vào cái chùa gặp quý thầy chuyên môn nói xấu các vị tôn túc. Mà mình thì mình tin quý thầy, tại nghĩ quý thầy đâu có nói dối. Cứ chuyên môn hổng có ông thầy nào mà hổng bị mấy ông thầy này nói xấu hết. Cho nên quãng đời mà mới xuất gia của tôi trong

[1:15:12]lòng tôi tôi không có thần tượng ai hết. Vì nghe nói xấu tan nát hết. Tôi chỉ còn giữ được thần tượng vài vị là Hòa thượng ở Thanh Từ là thầy tôi, rồi Đức Phật nè, chư vị A-la-hán, chư vị thiền sư đắc đạo, đó là nhờ giữ được những thần tượng trong lòng mà mình tiếp tục mình tu hành. Chứ còn bao nhiêu vị tôn túc khác là bị quý thầy phá tan nát hết trơn. Sau này tôi nghĩ lại tôi hơi hận điều đó. Tôi nghĩ rằng cái người mới xuất gia luôn luôn phải có những tấm gương tốt. Quý thầy phải nêu ra được những tấm gương tốt của chư vị tôn túc để cho lớp tăng ni sinh trẻ noi theo. Còn đây quý thầy độc miệng, tôi phải dùng cái chữ

[1:15:50]độc miệng chuyên môn nói xấu các vị tôn túc. Thì quý thầy đó bây giờ tan nát hết rồi, quả báo xảy ra ông nào cũng toe tua hết rồi. Nhưng mà quý thầy đã phá vỡ không biết bao nhiêu tâm hồn của những người mới tu như tôi. May mắn là tôi còn chút thiện căn gượng đứng lên lại, giữ lại. Chứ còn nếu mà tôi nhẹ dạ nữa thì chắc tôi cũng tan vỡ luôn. Vì nếu trong đời mình mà mình không có người để kính trọng thì chắc chắn là mình sa đọa liền. Trong cuộc đời mình phải có người nào đó để mình kính trọng. Nên ở đây tôi gọi đó là một kỷ niệm đau buồn trong cuộc đời. Và vì vậy tôi lên án cái việc mà nói xấu những vị tôn túc. Quý thầy nhớ điều này.

[1:16:30]Trong cái việc mà tạo sự đoàn kết hòa hợp của tăng ni có một điều là chúng ta phải ca ngợi những vị tôn túc, những điểm hay của vị đó. Dĩ nhiên không có ai hoàn toàn. Nhưng mà những vị đó còn rất nhiều ưu điểm nếu chúng ta chịu khó tìm ra để ca ngợi thì vẫn là cái tấm gương tốt cho tăng ni trẻ. Đừng có độc miệng nói bậy, phải không? Đó là một cái ác độc đó, phá hoại đạo Phật bằng cách nói xấu những vị tôn túc. Rồi một điều nữa, ví dụ như quý thầy sau này lớn lên làm lãnh đạo giáo hội ở cấp nào đó thì phải nhớ mình không phải là quan mà là tôi tớ của tăng ni. Nếu nói theo Bác Hồ là tôi tớ của nhân dân, là tôi tớ của tăng ni là sao?

[1:17:13]Nghĩa là đừng bao giờ ngồi ở ngay văn phòng đại diện mà chờ tăng ni mang giấy tờ tới ký rồi ngồi hạch sách: "Thôi không ký đâu, qua buổi khác lại ký. Này chưa được, không ký nữa." Không phải vậy, mà mình phải sao? Phải chủ động đi tới từng nơi coi chùa nào được, nào không được, nào biết để mà giúp đỡ. Bổn phận của người lãnh đạo giáo hội là giúp đỡ chứ không phải là hạch sách làm khó tưởng mình là ông quan. Tôi dặn trước quý thầy như vậy. Nhớ quý thầy là những người mà tôi rất là thương yêu vì dù sao cũng là học trò của tôi trong bao nhiêu năm. Sau này tôi già ví dụ tôi nghe quý thầy nào đó làm giáo hội,

[1:17:51]người lãnh đạo giáo hội mà thương yêu tăng ni ở vùng đó, làm mọi điều tốt cho người vùng đó thì tôi tôi sung sướng hạnh phúc lắm. Còn nếu mà nghe tin quý thầy hạch sách tăng ni, làm chảnh làm kên lên là chắc tôi đau khổ lắm, hãy nhớ điều đó. Mình phải là người hầu hạ phục vụ, là người cúi xuống, không bao giờ thấy mình là cao, nhớ điều đó. Rồi cố gắng giữ gìn cái sự hòa hợp, không bao giờ được có cái tư tưởng ly khai đối lập chống đối, xé tăng đoàn giáo hội ra, không được. Hiến chương có điều gì chưa có hợp lý thì mình góp ý sửa đổi từ từ trong ôn hòa, nhớ như vậy. Và chúng ta nhớ điều này. Cuối cùng thì kinh điển và giáo hội vẫn chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng.

[1:18:39]Còn mặt trăng thật sự là gì? Là sự tu hành nơi tâm hồn của mình. Chính Đức Phật cũng nói mà: "Lời ta nói chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng." Kinh điển dù rất thiêng liêng, rất đáng tôn thờ vẫn chỉ là phương tiện là ngón tay chỉ mặt trăng. Giáo hội dù rất thiêng liêng vẫn chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Cho nên đừng chấp giáo hội này giáo hội kia, mà điều quan trọng là sự tu hành ở trong tâm hồn của mình. Nhớ điều đó. Một ngày nào đó quý thầy nghe ai kích động: "Giáo hội này mới đúng, giáo hội kia mới đúng", quý thầy nói biết ngay là người này đã chấp ngón tay rồi, tưởng là mặt trăng. Phải khuyên người đó liền:

[1:19:24]"Giáo hội chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, phương tiện thôi." Mặt trăng thật sự là sự tu hành chân chính là giới định tuệ nơi tâm hồn của từng người chúng ta, nhớ điều như vậy. Và giáo hội hiện nay, chúng ta chưa có một Giáo hội Phật giáo trên toàn thế giới, chúng ta chưa có. Có cái Giáo hội Phật giáo thế giới nhưng mà không có trùm hết. Rồi sau này bên phe xã hội chủ nghĩa thì có cái gọi là Phật giáo châu Á vì hòa bình ABCP, nhưng rồi sau khi khối Liên Xô tan rã thì không thấy cái Giáo hội Phật giáo đó hoạt động nữa. Còn Giáo hội Phật giáo thế giới thì chúng ta cũng thấy không mạnh. Thì đây là điều mà chúng ta suy nghĩ

[1:20:06]là nếu sau này có một giáo hội rồi từng cái giáo hội đó liên kết lại để thành một cái Phật giáo thế giới. Tuy nhiên cái Phật giáo thế giới chúng ta đó sẽ không có giống như Vatican. Bởi vì Vatican á là họ ở trên họ họ chỉ xuống, từ nơi Vatican họ sẽ phân bố các thừa sai, các linh mục, các tu viện, các nhà thờ khắp nơi trên thế giới từ nơi Vatican đẩy ra. Cho nên cơ cấu họ rất là chặt chẽ và thống nhất. Còn nếu sau này mình thành lập được một Giáo hội Phật giáo thế giới đó thì do liên kết từ ở dưới lên lại. Cho nên không có cái quyền lực chặt chẽ như Vatican. Ở đây nó đòi hỏi sự liên kết tự nguyện nếu sau

[1:20:47]này có một Giáo hội Phật giáo thế giới. Mình phải đoán trước là như vậy. Là không có mong đợi có một cái giáo hội chặt chẽ như Vatican vì tinh thần đạo Phật là như thế, mình không có bắt buộc. Thứ hai là do hoàn cảnh lịch sử là như thế, chỉ là sự liên kết tự nguyện của mỗi quốc gia lại nhưng chúng ta mong điều đó. Sau giải phóng có một số thầy di tản qua bên nước ngoài là cũng duy trì sinh hoạt giáo hội lại, là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hải ngoại, Giáo hội Tăng già Khất sĩ thế giới gì, nhiều lắm. Ừ tuy nhiên đúng ra đó thì quý thầy thì ở đâu có một cái tăng đoàn như vậy là đúng, tốt.

[1:21:26]Nhưng đừng chống qua giáo hội khác ạ. Đừng ở bên đó không nên chống về Việt Nam. Bởi vì Giáo hội Việt Nam đang ổn định và chư tăng đang tu hành từ từ. Và cũng không nên xé cái giáo hội tăng đoàn ra, mà nghĩ đến chuyện liên kết lại. Một ngày nào đó quý thầy ví dụ như Giáo hội Phật giáo bên hải ngoại về với Việt Nam liên kết lại với nhau, giống như trên tinh thần mà chúng ta nói liên kết hết Giáo hội Phật giáo trên toàn thế giới để trở thành một Giáo hội Phật giáo thế giới thống nhất, đó là điều lý tưởng nhất chứ không có chống, không có chống. Giờ chúng ta nói qua giá trị của giáo hội. Mục đích của giáo hội là gì?

[1:22:03]Mục đích của giáo hội, của tăng đoàn là gì? Hử?

[1:22:11]Lãnh đạo Tăng Ni mần chi vậy? Đó, chữ tu hành mới là chính. Chúng ta nhớ thế này: Mục đích của Giáo hội Tăng đoàn là giúp Tăng Ni tu hành, có được đạo lý chân chính và sự an tĩnh trong tâm hồn mỗi người. Nhớ, đó là mục đích. Vì hôm trước chúng ta nhớ là cái trong quan điểm Phật sự đầu tiên á, cái mục đích cao cả nhất của Phật sự là gì? Đó, là làm cho chúng sinh được giác ngộ giải thoát, phải không? Thì Giáo hội cũng là một Phật sự, thì phải hướng về cái mục đích này, đi trật là sai liền. Vì vậy, công việc của Giáo hội, giá trị của Giáo hội, mục tiêu của Giáo hội là giúp cho Tăng Ni tu hành có được Giới,

[1:22:50]có được Định, có được Tuệ, chứ không phải sự có mặt của Giáo hội để bày chuyện ra làm rườm rà, hình thức, làm bận tâm thêm. Nhớ như vậy. Nhiều người, nhiều khi làm việc Giáo hội quên mất cái mục tiêu này. Bày chuyện không à. Bày chuyện nhiều khi họp hành nhiều quá, quy định nhiều quá, rồi thủ tục nhiều quá làm Tăng Ni mệt. Đó là mình hiểu sai về mục đích của Tăng đoàn. Cho nên phải làm sao gọn nhẹ, mà giúp hỗ trợ cho Tăng Ni tu hành. Thấy cái chùa đó, nhiều khi thấy đường lối tu còn yếu, cho người tới hỏi han, cho người tới góp ý, giáo dục, kêu cho đi học, vân vân. Đó là như vậy. Rồi thấy cái chùa đó, ví dụ học giỏi mà chưa có nền nếp tu,

[1:23:31]thì khuyên cái chùa đó phải tăng thêm cái sự tu tập, thiền định, niệm Phật gì đó để mà tăng cái tu hành lên. Nghĩa là Giáo hội là như vậy. Chứ không phải Giáo hội là nơi để mà giải quyết thủ tục hành chánh mà gây rắc rối, làm bận tâm, lễ lạt rồi nhiều, không phải, không phải. Chúng ta nhớ đó là cái mục tiêu chính của Giáo hội như vậy. Nếu mà chúng ta quên là mình đi lạc liền. Làm sao mà khi Tăng Ni họ nghĩ tới Giáo hội, họ biết ơn. Vì họ thấy là các vị trong Giáo hội quan tâm, chăm sóc cho đời sống, cho sự tu học của Tăng Ni, giúp đỡ, cái gì cũng giúp hết, chứ không có làm khó. Mà Tăng Ni sai thì sửa, góp ý:

[1:24:10]làm như vậy sai, sửa lại sửa lại cho đúng, đúng rồi giúp đỡ liền. Đó là những người Giáo hội tốt, làm việc Giáo hội tốt. Quý thầy sau này nhớ. Nhiều khi quý thầy làm lớn tới chừng tôi về già tôi lại xin giấy cự nự không cho là tôi buồn lắm, nghe chưa? Rồi chúng ta nhớ một điều này nữa, là từ xưa đến nay đó, thì Giáo hội vẫn cần một cái sự tương quan với chính quyền, nhưng không phải là một bộ phận của chính quyền. Đây là điều chúng ta phải xác định lại. Là thường thường quan niệm của nhà nước á, thì nhà nước có thành lập một cái Mặt trận Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc và dưới Mặt trận Tổ quốc này là tập hợp nhiều đoàn thể.

[1:24:52]Trong đoàn thể này có một mảng là tôn giáo và trong tôn giáo này có Phật giáo. Tức là đây là tổ chức thanh niên, đây tổ chức phụ nữ, đây tổ chức là cựu chiến binh, vân vân. Họ có nhiều tổ chức, có tôn giáo và tôn giáo Phật giáo. Thì đây là biểu đồ do nhà nước lập. Nhà nước lập thì kệ nhà nước. Nhưng mà chúng ta phải nhớ mình có cái tương quan gắn bó với Mặt trận, với Ban Tôn giáo, với Công an, với chính quyền sở tại vì mình là người công dân, mình là một cái thành phần của xã hội. Tuy nhiên mình nhớ mình không phải là một bộ phận của chính quyền, nhớ điều đó. Nhà nước thì họ sắp vậy để cho họ dễ quản lý, là nhìn vào đây họ biết cái cách

[1:25:33]làm việc, nhưng đó là việc của nhà nước, còn riêng phần mình thì mình không phải là bộ phận của nhà nước, mà có tương quan nhưng không phải là bộ phận. Sao vậy? Là vì nhà nước thì lo việc thủ tục, quản lý, lãnh đạo quốc gia; còn Giáo hội thì lo việc tu hành, hướng dẫn tinh thần cho mọi người, nên hai cái đó khác nhau. Vì vậy là chúng ta có cái vai trò đối với xã hội, nhất là vấn đề từ thiện và giáo dục đạo đức, nhưng chúng ta không dấn sâu vào quyền lực chính trị vì chúng ta không phải là chính quyền, khác hẳn, phải khẳng định điều đó. Rồi một vấn đề cuối cùng quan trọng nữa là vấn đề cư sĩ tại gia.

[1:26:16]Người cư sĩ tại gia thì không được xếp vào trong Tăng-già, vì chữ Tăng-già ban đầu chỉ là dành cho người người xuất gia thôi, chứ cư sĩ tại gia không có vai trò trong Tăng-già, đó là trên lý thuyết. Nhưng trên thực tế thì sao? Người cư sĩ tại gia rất quan trọng vì đó là những người hộ đạo, hộ đạo. Và có nhiều người cư sĩ tại gia có trí thức, có hiểu đạo, thuần thành, đã đóng góp rất nhiều công lao cho đạo Pháp. Và ví dụ như quý thầy mà có cái điều sai lầm cũng ảnh hưởng tới sự tu hành của cư sĩ, dư luận của cư sĩ, tâm tình của cư sĩ rất nhiều. Ở cái vùng đó mà quý thầy bê bối, người cư sĩ họ cũng đau khổ.

[1:27:00]Cho nên cái thái độ, cái tâm tình, cái dư luận, cái nguyện vọng của người cư sĩ phải được trân trọng đối với Tăng đoàn, với Giáo hội. Ví dụ như quý thầy ở đây quý thầy sống bằng cái gì? Kinh tế mình do đâu có? Phật tử, phải không? Hồi sáng hỏi Thiên Phước thì Thiên Phước nói: "Dạ, do làm ruộng." Tôi hỏi: "Làm ruộng đủ ăn không?", dạ nói: "Dư ăn." Cái tôi tính tính bí rồi, nhưng tôi sực nhớ ra, tôi nói: "Không, đủ ăn mà ăn gạo ăn gạo trắng không à, ăn cơm trắng chứ không có thức ăn. Thức ăn cũng do cư sĩ." Thì ở đây quý thầy thành thật ha, là đúng là do cư sĩ giúp đỡ, phải không? Cất chùa cũng là tiền của ai? Cư sĩ.

[1:27:39]Quần áo của ai? Bàn ghế của ai? Cư sĩ không à. Rõ ràng là chúng ta sống nhờ cư sĩ. Cư sĩ là người hộ đạo, nên cái ảnh hưởng cư sĩ đối với Giáo hội quan trọng. Vì vậy là mặc dù trên tinh thần định nghĩa á thì Tăng-già không phải là bao gồm cả cư sĩ. Tuy nhiên là mỗi những quyết định gì quan trọng, lớn lao của Giáo hội, chúng ta nên tham khảo ý kiến của người cư sĩ. Như vậy, trước khi là mình quyết định hẳn. Có ai hỏi gì thêm không? Có ai thắc mắc gì không? - Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch thầy, vừa rồi con có về tịnh xá Ngọc Chơn Dinh thì có một chú phật tử chú hỏi là chú tụng kinh Pháp Hoa,

[1:28:27]trong kinh Pháp Hoa Đức Phật dạy là cái đời sau này nếu có người nào mà dùng cái ngón chân của mình á rồi nhấn xuống lấy cõi Tam Thiên Đại Thiên quăng qua bên thế giới bên kia, cũng dễ hơn là người tụng kinh Pháp Hoa. Hay là những người mà dùng cái bàn tay của mình nắm hư không rồi giục ra khỏi thế giới bên kia cũng vẫn dễ hơn là người đời sau tụng kinh Pháp Hoa. Thì con hẹn đến khi con gặp thầy xin thầy giải thích. A Di Đà Phật. - Tôi có giảng cái này trong 28 cuộn băng Pháp Hoa. Đón nghe. Tôi có giảng cái đó hết, những cái điều đó tôi có giảng hết. Tại vì kinh Pháp Hoa thường là biểu tượng, là những cái ẩn ý không à.

[1:29:15]Kinh Pháp Hoa thường nói lý và nói sự, nên mình hễ mà có một cái phái thì chuyên nghiên cứu kinh Pháp Hoa trên lý, có cái phái chuyên nghiên cứu kinh Pháp Hoa trên sự. Nhưng mà bài giảng của tôi thì cả lý và sự. Có những cái ý nào lý là quan trọng thì tôi giảng chỗ đó lý không; chỗ ý nào sự quan trọng thì tôi giảng sự không; có khi là cả hai thì giảng cả lý và sự. Thì vì kinh Pháp Hoa cái ẩn ý khó lắm. Nói rằng trì tụng kinh Pháp Hoa ở đây là cái ẩn ý là một sự tu hành chân chính, đơn sơ và sâu sắc, rồi đó là tượng trưng cho cái tri kiến Phật, hoặc là nói như là mình tu để tập để mà nhập được Phật tánh, mở mang được tri kiến Phật.

[1:30:00]Thì con đường mà để mở ra được tri kiến Phật á, con đường đó gì? Nó đơn sơ, thấy như không có gì mà nó sâu sắc, kỹ lưỡng, nên cái đó cực kỳ khó. Ví dụ chúng ta làm cái gì cho nó rườm rà dễ thấy á thì dễ, mà nhiều khi nó lại rỗng, không có giá trị. Còn làm một cái rất có giá trị mà hình thức bên ngoài nó đơn sơ, trong nội tâm cũng như bên ngoài đơn sơ, nhưng mà rất sâu sắc và đưa được tới tột đỉnh giải thoát, cái đó khó. Đó là ý nghĩa gọi là trì kinh Pháp Hoa. Thì có thể là người đó họ có quyền lực, có thần thông nhưng mà chưa chắc họ có cái trí tuệ để thấy được đạo lý từng chút từng chút. Nhớ như vậy. Cái mà trí tuệ để thấy được đạo lý từng chút từng chút trong

[1:30:45]cuộc sống, trong nội tâm, trong giáo lý, trong cuộc đời kia nọ, cái đó khó hơn là tu để có thần thông. Có nhiều người tu có thần thông nhưng mà nhiều khi vẫn không thấy được đạo lý. Nên có một lần tôi nói mà quý thầy không biết có nhớ không, tôi nói nhiều khi cái gặp một vị đã tu chứng á, chứng thần thông nhưng chưa chắc vị đó giáo hóa đúng. Quý thầy có nhớ câu nói đó không? Là như vậy á. Tại vì cái mà giáo hóa đúng á là đòi hỏi thấy được đạo lý chia chẻ trong từng đường tơ kẽ tóc từng chút từng chút một. Cái đó thuộc về cái trí tuệ rất khó có. Còn cái thần thông nhiều khi tập mình có cái duyên phước gì đó vẫn đạt được, là như vậy.

[1:31:26]Nên thời xưa tại sao cùng chứng A-la-hán hết mà chỉ có ngài Xá Lợi Phất được gọi là trí tuệ đệ nhất là vậy. Khó vô cùng. Cho nên việc gọi là trì kinh Pháp Hoa là đi con đường của trí tuệ, của đạo lý. Nó như không hình không tướng mà cực kỳ sâu sắc, cái đó rất là khó. Người nhiều khi đạt được thần thông chứ vẫn không đạt được điều này. Nên kinh Pháp Hoa vậy á, nói ẩn ý dữ lắm. Ví dụ như phẩm Phổ Môn vậy, nói niệm Bồ Tát Quan Âm thì thoát được những tai nạn lửa cháy, nước trôi kia nọ. Thì cái đó nhiều người thì chủ trương là sự: Đúng, niệm là có như vậy, nhưng mà không giải thích tại sao, vì nếu mà chỉ cần niệm Phật thoát tai nạn thì mất nhân quả,

[1:32:04]như vậy nhân quả nằm ở đâu, phải giải thích cho ra. Hoặc có người giải thích theo lý thì nói: Niệm Bồ Tát Quan Âm là quay trở về với tự tánh của mình, giữ tâm thanh tịnh thì tâm mình không đau khổ, thoát ra ngoài cái đau khổ của thế gian, thì đó là giảng theo lý. Nhưng mà nó cả hai, lý và sự thì phải giải cho ra. An ổn cỡ nào thì thoát được đau khổ, mà niệm Phật làm sao mà thoát được tai nạn, nhân quả nằm chỗ nào, phải giải thích cho ra. Những điều đó tôi có giảng trong hai mươi mấy cuộn băng Pháp Hoa á. Nói vị đó đón nghe. Thôi nghỉ ha. Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả,

[1:32:51]đệ tử và chúng sanh...