Transcript: Mắt Của Phật - Kinh Kim Cang 14

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:30:14

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:08]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:23]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:37]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:49]Mời quý Phật tử ngồi xuống.

[1:00]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Vậy là qua cái năm mới, chúng ta lại gặp nhau để nghe tiếp bài kinh Kim Cang. Hôm trước chúng ta đã nghe nói về ngũ nhãn, à tức là năm con mắt của Phật.

[1:20]Là Đức Phật mới hỏi ngài Tu-bồ-đề từng loại con mắt của Phật. Thì năm con mắt của Phật là vì Phật nào cũng có là chúng ta biết: thứ nhất là nhục nhãn là con mắt thịt; thứ hai là thiên nhãn; thứ ba là tuệ nhãn; thứ tư là pháp nhãn; và thứ năm là Phật nhãn. Chúng ta còn nghe một cái chữ nhãn thứ sáu nữa, gọi chung chung nữa là đạo nhãn thì không được kê trong đây, nhưng mà ý nghĩa nằm ở chỗ khác. Thì hôm nay chúng ta phân tích với nhau về năm con mắt này để hiểu, vì biết đâu là mình cũng có được vài ba con mắt ở trong đây thì cũng đỡ khổ. Có đó chứ không phải không đâu. Để lát nữa thầy giải thích rồi sẽ thấy tự nhiên mình cũng có

[2:02]một, hai con chứ không phải không, ít ra cũng được hai con. Hôm trước thầy có nói về mắt nhục nhãn phải không? Thầy nói sơ sơ. Hôm nay mình giải thích lại chút. Nhục nhãn là cái con mắt vật chất bình thường, chúng ta ai cũng có, thấy được những cái gì có hình dáng mà ai cũng thấy. Nói chung là trừ cái người cận thị, viễn thị, loạn thị, hay đeo kiếng model mà đen quá, vân vân, chứ còn bình thường mà để con mắt rõ ràng thì những cái gì người khác thấy thì mình cũng thấy. Nhưng mà thấy là làm sao? Ví dụ như khi mình nhìn cái mình thấy cái hoa, dưới đó mình nhìn lên thấy cái hoa, có nghĩa là gì? Có nghĩa là từ nơi con mắt mình nó có một cái gì nó bay về nó nhìn thấy cái hoa này?

[2:47]Sự thật mình tưởng vậy không phải. Mình thấy cái hoa là do ánh sáng của cái hoa nó đập vào con mắt của mình. À. Nghĩa là con mắt mình chỉ là nơi nhận cái ánh sáng thôi. Thì như ánh sáng đèn, ánh sáng mặt trời, ánh sáng bên ngoài nó chiếu vào khắp tất cả các vật, khi nó chạm vào cái vật đó cái nó rọi lại con mắt của mình, thế là làm cho mình nhận cái hoa. Chứ nếu ở đây hoàn toàn không có ánh sáng thì con mắt mình không có một cái tia gì từ nơi con mắt mình mà chiếu lại để nhìn được cái hoa hết. Nên mình chỉ là một cái cơ quan thụ động mà nhìn ánh sáng thôi. Và do con mắt mình cái cơ quan thụ động đập cái ánh sáng đây,

[3:23]cho nên mình nhìn thấy cái hoa này màu vàng, màu đỏ, nhưng mà cũng chưa chắc là thiệt nha, chưa chắc nó vàng thiệt, nó đỏ thiệt. Nếu mình có một cái loại kiếng nào đó mà nó phân giải cái ánh sáng kỹ hơn chút, cái mình thấy cái màu nó đẹp hơn màu này chút, nó lung linh hơn, nó huyền ảo hơn là cái màu mình đang thấy như thế này. Chứ con mắt mình nhiều khi thấy không hết được sự thật. Con mắt mình có những cái hạn chế. Cái hình ảnh nơi mắt mình thấy mình tạm chia làm ba loại. Hôm nay mình nói ba cái vụ vật lý này chút xíu cho vui. Là thứ nhất thấy được màu sắc và tối sáng. Là như vậy đây là màu vàng,

[4:00]cái này màu nâu, màu trắng, ví dụ vậy, tức là thấy màu sắc. Là chỗ nào bóng tối thì cũng là thấy như là màu sắc tối, cái nào sáng thì thấy cái màu sắc sáng, à như vậy. Cái thứ hai là thấy được hình dáng. Ví dụ thấy được cái hình này là hình cong, hình kia là hình vuông, hình thẳng. Và thứ ba là thấy được khoảng cách xa gần. Thì con mắt mình nhìn nhưng mình đoán được cái vị trí của vật đó là xa, gần thế nào để thích hợp. Cho nên khi mình làm việc, khi mình đưa cái tay mình lấy cái món đồ thì tự nhiên con mắt mình nó đã đo được cái khoảng cách, nên cái tay mình đưa ra mình chụp món đồ thích hợp.

[4:33]Chứ nếu con mắt mà mình nhìn không đo được khoảng cách, mình nhìn thấy vậy mình đưa ra mình chụp, chụp trật. Nên đây là con mắt mình coi vậy chứ nó đã đo được khoảng cách. Người ta cũng có một cái thiết bị laser đó đo được khoảng cách trong xây dựng á, ví dụ đứng rồi nhìn cái cột rồi bấm một cái, cái tia laser nó chạm bức tường nó dội trở lại cái đo được khoảng cách liền. Thì con mắt mình cũng vậy đó, nhưng nhìn cái nó không có đơn vị để đo thôi nhưng mình ước lượng được cái khoảng cách xa gần của một vật thể, nó cũng vậy. Ngoài ra, nó còn có một cái cảm nhận thế này nữa: cảm nhận cái vật đó cứng hay mềm,

[5:07]trơn hay nhám, nóng hay lạnh, dù mình không có chạm trực tiếp. Đây cũng là một cái cảm nhận mà chưa được khai thác hết của con mắt. Là ví dụ như là khi mình nhìn lên cây cột này thì mình cảm nhận nó cứng, phải không? Nó cứng. Mình nhìn lên cái gỗ mình cảm nhận nó mềm. Cái này không phải do kinh nghiệm đâu. Mình đừng tưởng là vì mình đã biết trước đây là gỗ, biết nó là mềm hơn xi măng, cho nên khi nhìn thấy đó là gỗ thì nghĩ nó mềm hơn xi măng, không phải. Ví dụ đưa cho mình một vật rất là lạ, mình chưa từng kinh nghiệm, mình vẫn nhận nó được nó cứng hay mềm ở mức độ nào đó. Vì hồi xưa, lúc đó thầy cũng đi vào rừng,

[5:45]lúc mà mới giải phóng, cũng đi vào trong rừng làm rẫy, đi kinh tế mới, thì khi đi vào rừng như vậy thì rừng cây mênh mông, đủ loại cây từ nhỏ lớn không bao giờ biết. Nhưng mà khi mình nhìn một cái thân cây, mình biết được đó là cây cứng hay cây mềm, tự nhiên. Mà cũng không lý giải được, tự biết. Rồi sau này mới thấy rằng không phải riêng một mình mình mà dường như ai cũng vậy. Nghĩa là con mắt có cái cảm nhận được. À ví dụ như chúng ta đi vào một cái tòa nhà rất là cao tầng, thì những cái cột mà ở dưới cái tầng thấp nhất, ví dụ cây cột này, thì nó chịu toàn bộ cái lực từ ở trên nóc nó dồn xuống.

[6:22]Lúc đó chúng ta sẽ cảm nhận là cây cột này nó bị một sức ép rất là dữ dội. Mặc dù mình cố gắng loại ra hết sự tưởng tượng ra, mình chỉ thanh thản, tâm mình trống trải nhìn cái cây cột, mình có cái cảm nhận là nó đang chịu một cái áp lực rất là nặng lên nó, mà mình không hề rờ tới cũng không hề dùng có thiết bị gì đo. Cho nên con mắt ngoài cái mà nhìn được màu sắc, hình dáng, khoảng cách, mình vẫn nhìn được một số vấn đề khác chứ không phải là không. Ngoài ra, nó còn có một cái này nữa là cái sự cảm nhận về đẹp xấu của vật thể nữa. Thì cái này thật là khó mà đánh giá, nhưng con mắt mình cộng với cái bộ

[7:03]não của mình phối hợp bên trong á, mình nhận ra được cái sự đẹp xấu. Ví dụ bây giờ không có nói gì hết, không phân tích gì hết, nhưng khi mình nhìn một người, mình biết người đó là đẹp hay xấu, có không? Phải không? Con mắt thêm cái chuyện đó nữa. Và nhờ như vậy mà loài người chúng ta có được một cái môn gọi là môn, môn mỹ thuật. Tức là mình tạo hình, tạo được những hình dáng đẹp, mình cất cái nhà cho đẹp, rồi mình vẽ bức tranh đẹp, điêu khắc một bức tượng đẹp, rồi còn thêm cái nữa là mình tô điểm cái cái nhan sắc mình cho đẹp. Cái làm đẹp là cái nhu cầu của con người, nhưng mà đừng làm quá thôi,

[7:39]làm quá cái rồi ban hết phước cái mai mốt nó xấu lại nhanh. Có nói rồi phải không? Có nói rồi. Có nghe chưa? Thế này, ví dụ như là do cái phước của mình rồi mình có được một cái nhan sắc ở một cái mức độ nào đó là do cái phước. Ví dụ mình đẹp năm, giờ mình không chịu, mình muốn mình đẹp bảy, tám, thế là mình mới có cái tác động bằng cách là cách gì đó thầy không biết, thầy không rành lại vậy, chưa đi sửa sắc đẹp không biết. Đại khái vậy, tức mình làm sao cho nó đẹp ra. Thì cái đẹp đó nó không phải là do cái phước bên trong ra mà do mình tác động nhân tạo, thì có thể tạm thời lúc đó mình sẽ đẹp

[8:18]tăng lên là bảy, tám, nhưng mà đến cái tuổi mà nó qua tới tuổi xấu rồi á, nó sẽ xấu nhanh hơn là bình thường, mình xấu xuống còn hai, ba để bù lại cái khoảng mà mình đã ăn gian. Cho nên chúng ta sửa sắc đẹp là hơi ăn gian, hãy nhớ như vậy. Nên vì vậy muốn đẹp là phải làm sao? Muốn đẹp là chỉ thương người, lạ ghê nha. Nó có một cái liều thuốc làm đẹp là thương người thôi. Cứ mỗi ngày mình quỳ trước Phật mà mình khởi cái lòng thương yêu mọi người, mình sẽ đẹp lên được một giọt. Một giọt thôi chứ không nhiều, nhưng mà ngày nào cũng vậy thì càng về già lại càng đẹp, lạ như vậy. Đây mới thật sự là cái phương pháp làm đẹp mà xứng đáng nhất, mà được phước mọi bề.

[9:02]Còn mà mình làm đẹp nhân tạo thì không phải hay lắm. Mà con mắt mình có cái đó, cho nên mình hay bị chạy theo cái nhìn của nó, nên mình phải cố gắng làm đẹp. Có những cái mà con mắt thịt của mình không nhìn thấy được, dù cái điều đó được sử dụng hằng ngày. Ví dụ như là sóng vô tuyến. Ví dụ như chúng ta cầm cái điện thoại di động thì cái đó phát sóng, nhận sóng mà mình nói chuyện được, thì cái đó có sóng mắt không nhìn thấy. Có những cái có thực mà mắt không đủ sức nhìn thấy. Hoặc là sóng âm thanh. Khi chúng ta nói, chúng ta tai nghe là nghe từ cái loa nó rung động qua không khí tới tai mình, nhưng mình không hề thấy cái sóng âm đó.

[9:41]Có những cái điều như vậy. Cho nên âm thanh là sự rung động của không khí theo một cái tần số nào đó. Ví dụ chúng ta bước ra ngoài cái không gian, vũ trụ không gian thì nói không nghe nữa, bởi vì không có cái không khí để truyền cái sóng âm thanh đi. Cho nên ví dụ người kia đứng nói lép nhép, lép nhép miệng, mình không biết nói gì, vì không có cái âm thanh. Ngay như không khí vậy chứ mình quơ quơ chứ mình không thấy được, phải không? Hay nhiệt độ là cái nóng lạnh, mình chỉ rờ được thôi chứ thấy thì không thấy được. Nhưng còn loài vật thấy được nhiệt độ. Ví dụ như con rắn, con rắn nó có con mắt ở giữa,

[10:18]nó cảm nhận được nhiệt độ, mà nó không có biết cái người kia đẹp xấu, mà nó chỉ biết có hơi nóng hay là lạnh thôi. Nghĩa là trong đêm lạnh giá như vậy mà có một cái sinh vật có hơi ấm là nó đọc được liền, nó thấy liền. Nó thấy đỏ đỏ và nó đi tìm tới để nó tìm mồi, như vậy. Còn con người mình thì lại không có con mắt đó. Hoặc là những vật quá nhỏ. Ví dụ như là cái virus là những cái vật quá nhỏ, mắt mình không nhìn thấy, mình thấy những vật tầm tầm thôi. Mình phải soi kính hiển vi lên mấy ngàn lần, mấy triệu lần mình mới thấy được cái loại virus. Cho nên có nhiều người nhiều khi họ tiếc gà đó, không có chịu hủy, rồi thấy những cơ sở họ bỏ gà ra để hủy, họ lén họ lấy về họ ăn.

[11:00]Thực ra gà nấu chín rồi thì hết virus, nhưng mà lúc mà làm á, lúc mà làm là lúc chưa nấu á thì bị nhiễm liền, không thấy được. Chứ nếu con virus mà nó bự bự bằng cái hột đậu thì không ai dám ăn. Và những vật quá xa thì vượt ngoài cái nhìn mình, mình cũng không thấy. Ví dụ ở đây, đứng đây mình mở mắt, mình sẽ không nhìn thấy là ở ngoài Hà Nội, không thấy được, quá xa. Rồi những vật bị khuất, à, ví dụ như là tiền của ai bỏ trong túi, mình cũng đành chịu thua, không biết được. Thấy dòm thấy cái túi cộm cộm rồi mình lại làm quen thôi, chứ không thể biết trong đó nhiêu tiền. Có những cái mình thấy vậy mà không phải vậy.

[11:38]Ví dụ như mình thấy ngôi sao nhỏ nhỏ lấp lánh phải không? À, nhỏ hơn Mặt Trăng. Thì mình mắt thì thấy là ngôi sao nhỏ hơn Mặt Trăng, nhưng mà thực ra thì sao? Ngôi sao còn lớn hơn Mặt Trời của mình, mà chỉ là quá khứ. À, ngôi sao chỉ là quá khứ. Những cái ngôi sao chúng ta thấy được thì nó tồn tại cách đây mấy triệu năm á, cả tỉ năm á. Ánh sáng nó giờ này mới tới mắt mình. Chứ còn trong thời điểm thực tại này, hiện tại này, có khi ngôi sao đó đã biến mất rồi, không còn tồn tại. Cho nên cái mình thấy chỉ là thấy cái ánh sáng được chiếu đến đây của mấy triệu năm trước, mấy tỉ năm trước. Cho nên nhiều khi thấy vậy mà không phải vậy.

[12:20]Hoặc mình thấy trăng nhỏ, nhưng kỳ thực trăng lớn hơn những cái núi sông mà mình thấy được đây, vì xa. Rồi mắt thấy Mặt Trời quay quanh Trái Đất, nhưng mà kỳ thực thì sao? Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Đấy, có những điều cũng con mắt thấy vậy mà không phải vậy. Rồi một điều con mắt thịt chúng ta nữa là con mắt không thấy hết được sự thật của cuộc đời, phải không? Mình nhìn bên ngoài như vậy chứ không phải vậy. Ví dụ như mình thấy hai người đó họ gặp nhau, họ cười vui ôm nhau hôn thắm thiết, nhưng mà không phải, đó là những người đang âm mưu giết nhau cũng có đó. Họ bên ngoài họ như vậy, nhưng bên trong họ đang mưu hại nhau, cũng có.

[13:01]Nên nhìn vậy chứ không phải vậy. Con mắt không thấy được những sự thật. Ví dụ bây giờ mình thấy một người đó giàu sang, à, có thế lực lớn, nhà cao cửa rộng, mình thấy mình nghĩ là người ta bền vững, sung sướng, không chắc. Vì sao vậy? Vì con mắt mình không thấy được những cái tiềm ẩn bí mật, những cái sụp đổ đã có ở bên trong bí mật của người ta. Ví dụ cái người đó giàu thiệt, nhà cao cửa rộng thiệt, nhưng mà người đó sống thất đức, à, hay ăn hiếp người khác, hay dùng thế lực của mình để chèn ép mà mưu hại người khác để giành lợi cho mình, thì bên ngoài thấy nhà cao cửa rộng vậy chứ không biết ngày nào là tiêu tùng, sụp đổ hết phước.

[13:45]Nên cái con mắt mình, con mắt thịt không thấy được tới những cái điều bí ẩn, những cái tiềm ẩn á. Hoặc là mình thấy một người cơ cực nghèo khổ, là một đứa học trò, ban ngày đi học, ban đêm về phải quét dọn phụ mẹ mình rất là vất vả, quần áo thì rách rưới, vá lên vá xuống, mình chỉ thấy vậy, nhưng mình không nhìn thấy được thẳm sâu bên trong trái tim đứa bé đó là một vĩ nhân, rồi sau này làm chấn động thế giới đó vì cái chuyện gì đó không biết chừng, đó. Nên những cái điều con mắt không thấy được. Vì vậy là với cái nhìn thì chúng ta không thấy được hết sự thật, mà chúng ta chỉ dựa vào cái nhìn đó

[14:24]để kết hợp với cái trí tuệ của mình mà suy luận thêm. Cho nên chỗ này gọi là con mắt tuệ đó, gọi là tuệ nhãn, là chúng ta phải suy luận thêm rất nhiều từ những điều mình trông thấy. Chứ còn thấy thì không đâu đủ đâu, mà suy luận sai thì rất là tai hại. Cho nên cái sợ nhất là mình thấy sao mình cho là như vậy thì rất là tai hại. Cho nên có một cái nhà tư tưởng nói rằng: “Bạn hãy tin phân nửa những gì bạn thấy và đừng có tin những gì bạn nghe.” Những con người hoài nghi tột cùng, tức là họ sống trên đời này lâu quá, có kinh nghiệm đầy mình, nên họ biết cuộc đời là như vậy, cái thấy vậy không phải vậy.

[15:08]Thấy người ta thương nhau đó, không chắc, ngày nào đó ghét nhau. Thấy người ta lạnh lùng với nhau vậy, không chắc, nhiều khi người ta lại có duyên nợ thương nhau rất là sâu đậm. Cho nên vì vậy, chúng ta phải nhìn bằng cái trí tuệ hơn là nhìn bằng con mắt thịt. Ví dụ bây giờ mình thấy cha mẹ rầy la con cái, nhưng mà không phải là cha mẹ ghét, phải không, không phải. Rầy la là bởi vì muốn con mình nên, vậy thôi. Hoặc là thấy cái người đó họ, sáng sáng thấy có một ông già, lần nào ổng cũng đẩy một cái xe ổng đi lượm rác, thì mình kết luận là gì? Ông này sống bằng cái nghề nghề lượm rác, một tháng trả được nhiêu tiền đó, ai trả?

[15:51]Nhưng không phải, coi chừng. Coi chừng ông này là một bậc hiền triết giác ngộ gì đó, tức là ông muốn thay vì ổng phải làm cái chuyện công đức lớn ở đâu không biết, nhưng mà sáng sáng thì ổng thích làm một việc khiêm tốn là đi lượm rác thôi để làm cái gương cho mọi người đừng có xả rác ngoài đường, chỉ vậy thôi. Nhưng mà sau khi đi lượm rác về một vòng về, ổng tắm rửa sạch sẽ, ổng mặc bộ đồ ngon lành thì ổng lên giảng đường đại học ổng giảng cho sinh viên, ví dụ, không biết chừng. Cho nên cái con mắt chúng ta nhìn, đừng có bao giờ kết luận vội, ví dụ vậy. Ví dụ như mình thấy một cái người mập, mạnh thì mình đừng cho người đó là là khỏe. Vì sao vậy?

[16:27]Bởi vì cái thời buổi này mập là dễ bị sao? Tăng xông, tiểu đường, tim mạch. Cho nên đừng có nghĩ rằng thấy thầy ốm như vậy mà mà yếu, mà thật ra là thầy rất là rất là xìu.

[16:43]Hoặc là ví dụ ngày nào đó mình đi ra ngoài chợ Sài Gòn, mình thấy một nhà sư đang đứng bên cạnh đang nói nói cái gì đó với một người nước ngoài, thì mình đừng có vội nghĩ rằng cái nhà sư này đang thuyết pháp bằng ngoại ngữ cho cái người nước ngoài, mà có khi chỉ là sư giả đang đứng chèo kéo mà xin năm, mười đô la, coi chừng, phải không? Nên không biết được. Cuộc đời là như vậy. Hoặc ví dụ như là trong một buổi ngồi nói chuyện với nhau, cái người này đưa ra ý kiến, người kia đưa ra ý kiến. Ví dụ bây giờ nói rằng mình muốn họp lại từng nhóm, vì theo Phật tử mình, từng nhóm ở gần nhau mình lập cái đạo tràng.

[17:20]Phật tử thân thân, mình thấy cùng đường lối với nhau, có thể thông cảm được, họp với nhau bàn lập cái đạo tràng. Thì khi mà họp năm, bảy huynh đệ lại bàn công việc thì trong đó có người cứ ngồi im lặng, ngồi im lặng, cười cười im lặng. Thì mình nghĩ người đó làm sao? Bên này đưa ý kiến, mổ xẻ phân tích: “Giờ mình phải sinh hoạt thế nào, định kỳ gặp nhau làm sao, rồi mình dựa vào một vị thầy nào để nương tựa, rồi thường hay triển khai những công đức nào, phải thăm hỏi, làm những việc từ thiện như thế nào.” Tức là bàn rất nhiều việc sôi nổi trong cái đạo tràng cư sĩ. Nhưng có người cứ ngồi yên lặng cười cười.

[17:59]Thì con mắt mình á thì thấy người đó yên lặng cười cười thì mình nghĩ rằng người đó là gì?

[18:06]Mình không đánh giá được phải không? Hoặc là người đó khờ, không biết gì hết, ai nói gì cũng cười cười, thấy ai nói gì cũng có lý rồi cũng cười cười chấp nhận, ừ không có cãi được. Hoặc là người đó làm sao? Quá khôn. Nghĩa là nghe người ta nói, biết người này nói đúng, người kia nói sai, biết từng điểm rõ ràng, biết để đó chưa chưa thèm nói. Đợi tới lúc mọi người nói cho đã hết, cuối cùng đứng lên mình nói một vài chữ là dứt điểm vấn đề liền thì cái người đó rất là bản lĩnh. Nhưng đầu tiên thấy người ta cười cười thì mình chưa biết. Con mắt mình vậy đó, hạn chế, không nhìn thấy được hết sự thật cuộc đời.

[18:47]Đó là lý do tại sao mà chúng ta phải thấy bằng trí tuệ, mà ở đâu ra cái trí tuệ? Chính là do chúng ta sống lâu. Rồi cái con mắt này cũng vậy. Có người chúng ta nói là mắt sáng, có người mắt không có tinh. Cũng con mắt này nhưng mà ví dụ như có người có thể nhìn được từ rất xa, thấy được những vật rất nhỏ, mà có những người thì nhìn không thấy được, tức là mắt không có tinh, không có tốt á. Như vua Quang Trung Nguyễn Huệ đó, ông có con mắt đặc biệt. Ví dụ trong lúc trời tối ban đêm, ông lấy sách ra ông đọc thì từ nơi con mắt của ông chiếu ra một tia sáng, chiếu vào trong cái cái sách ông đọc. Nguyễn Huệ có cái quý tướng kỳ lạ về đôi mắt.

[19:31]Và cũng cái đôi mắt đó có cái điện gì lạ lùng lắm, ổng nhìn tới người nào người đó rúng động liền, là phải vâng lời liền. Đôi mắt sáng cực kỳ mà đầy uy lực. Nên ngoài cái đầu của ông rất là thông minh, ông còn có cái uy, nghĩa là khi ông ra lệnh rồi là người dưới chỉ có chết mà làm theo, không dám cãi lại. Nên vì vậy, lúc đó cái lính của người Việt Nam mình một người đánh ăn 10 người luôn, bởi vì cái quyết tâm. Này chính cái uy lực từ vua Quang Trung truyền xuống cho quân sĩ, rồi người ta quyết tâm sống chết. Cái người chỉ huy đạt được cái uy lực kỳ lạ mà ông có cái quý tướng ở đôi mắt đó. Mắt trong ban đêm tắt đèn hết rồi, ổng cầm sách ổng đọc được, khủng khiếp như vậy.

[20:11]Nghĩa là thay vì chúng ta, chúng ta phải nhờ cái ánh sáng ở đâu đó đập vào cái trang sách rồi cái trang sách nó mới chiếu dội lại vào mắt mình, mình nhận ra chữ, còn ông có đôi mắt tự trong nó chiếu ra hào quang luôn. Đức Phật cũng vậy. Đức Phật thuở nhỏ cũng có đôi mắt chiếu ra ánh sáng như vậy. Cho nên về cái tướng đó thì vua Quang Trung Nguyễn Huệ giống như Phật, đôi mắt chiếu ra ánh sáng. Có những người già yếu, mắt kém nên cái thủy tinh thể bị bị đục. Thì ngày xưa mà bị đục thủy tinh thể thì coi như thua, là lòa. Đó, nên người già rồi, tay chân run, mắt lòa. Nhưng mà ngày nay, nhờ kỹ thuật khoa học và y học tiến bộ,

[20:52]chúng ta có thể mổ và thay vào đó một cái thủy tinh thể nhân tạo giúp cho người già được nhìn thấy ánh sáng trở lại. Chúng ta nghĩ cái người mà nghiên cứu ra được điều đó cũng thật sự là ân nhân của nhân loại, mà sao chưa thấy cho người đó giải Nobel? Cái đó thật xứng đáng là được giải Nobel. Ngoài ra cũng có những con người có những đôi mắt đẹp kỳ lạ, mà nhìn người khác là người ta rụng rời tay chân. Quý Phật tử có gặp mấy người đó chưa ta? Đôi mắt mà họ nhìn mình mình rụng rời hết trơn. Hử?

[21:29]Rồi có người á, có đôi mắt mà hay thấy ma nữa. À không biết là cái gen họ làm sao đó, nên họ nhìn họ hay thấy được cái người âm, mà người khác thì không thấy. Về cái điều này là thầy có gặp nha, có gặp một vài người. Hồi đó, hồi lúc mà thầy còn nhỏ, có cái cô đó, gia đình quen với cô đó, kêu cô Bảy, cô Bảy á, thì cổ hay thấy ma lắm. Cổ đi vào những chỗ có ma, cổ hay nhìn thấy mà người khác thì không nhìn. Nhưng mà nhìn cái cách cổ nói thì mình biết là cô này không có nói dốc, biết là cổ thấy thiệt. Rồi Mỹ có dựng bộ phim là "The Sixth Sense", tức là "Giác quan thứ sáu", kể chuyện về một thằng bé

[22:06]mà nó nhìn thấy người âm, không biết quý Phật tử đã xem chưa ta? Thằng bé nó nó nhìn nó thấy được người chết, nên có những lúc nó hoảng sợ và người mẹ cứ nghĩ rằng con mình bị bệnh tâm thần, cho nên nhờ bác sĩ tới. Nhưng mà sau này thì ông bác sĩ mới biết rằng thằng bé không phải là bị bệnh, mà thằng bé chỉ là chỉ là có con mắt đặc biệt, thấy được người cõi âm. Sau này á mới nhìn ra được một điều là khi mà người cõi âm đến với mình á là không phải họ ác ý gì, mà họ muốn giúp đỡ thôi. Ví dụ họ đói, họ muốn mình cầu siêu, có một điều gì họ không bày tỏ được thì họ hay báo hiệu, nhưng mà cái báo hiệu của họ thì mình tưởng rằng họ nhát.

[22:50]Thôi mình sợ họ, mình ghét họ và nhiều khi mình dùng tới những quyền phép để trấn yểm, đó là một cái sai, chứ sự thực họ chỉ muốn báo cho mình biết cái sự hiện diện của họ để mình thương họ, giúp họ, chứ không phải họ nhát. Ví dụ đêm mình nằm ngủ, tự nhiên mình cứ nghe cái cửa gõ cốc cốc, hay tiếng chân đi qua đi lại, hay thậm chí có ai nắm cái chân mình lay lay, cái mình nói nhà có ma, cái mình sợ quá, cái mình kêu thầy tới trấn yếm, đó là mình không hiểu tâm người ta. Thật sự thực người ta cô độc, người ta đói khổ, còn cái gì oan ức. Nếu mình biết, mình chỉ nên là tụng kinh cầu siêu, cúng thí thực cho người ta thì mọi việc sẽ rất là tốt đẹp, như vậy thôi.

[23:28]Đó, có những con người vậy. Rồi hôm có một lần có một cái bà cụ, bà đến thì hình như thầy có kể chuyện rồi, đến với người con dâu lên chùa thì bà cứ ngồi bà lẩn thẩn lờ thờ, bả nhìn trời nhìn mây, cái người con dâu thì hốt hoảng, cứ nói nói: "Sao mẹ con cứ nhìn thấy người âm, thấy ma, thấy đồ, nên tụi con sợ quá." Thầy mới nói là: "Ủa, mẹ con không sợ, mắc mớ gì con sợ?" Thì người âm thì người có cái gen, có cái duyên gì mới thấy, mà thường là có cái gen. Thì nói như vậy cái bà cụ nói: "Đúng rồi." Nghĩa là mẹ của bà hay người ông bà đã có người cũng thấy. Nó có cái gen gì trong não á, tự nhiên khiến khai mở cái phần não đó,

[24:05]cái mình nhìn thấy được cái thế giới tâm linh, thế giới siêu hình. Đây cũng làm như một cái duyên lạ của một người nào đó thôi, chứ không có gì mà phải sợ. Riêng đôi mắt của Phật á thì thật là đặc biệt. Đôi mắt của Phật thì cực kỳ đẹp, thật là sáng, thật là từ bi mà có uy lực. Cái uy của Phật á nó không có dữ dội như một lãnh tụ chính trị, quân sự, mà cái uy của Phật nhìn ai thì người đó tự nhiên kính phục mà không diễn tả được, không diễn tả. Mà trong cái kính phục đó, người ta nhận ra được cái lòng từ bi của Phật đầy ăm ắp á. Khi Phật nhìn tới mình, mình nhận được cái tình thương yêu của Phật dành cho mình liền. Lạ như vậy.

[24:53]Mà theo kinh để lại thì đôi mắt của Phật màu xanh biếc. Xanh biếc là không phải cái tròng đen mà nó màu xanh như người Tây phương. Cái điều này không biết là quý Phật tử có gặp người này chưa? Tức là cái tròng đen á thì nó vẫn đen, nhưng mà cái tròng trắng á thì nó xanh biêng biếc, biêng biếc. Không biết đây quý Phật tử đã gặp người như vậy chưa ta? Cực kỳ đẹp, đôi mắt đó cực kỳ quý, rất là quý, hiếm ai có. Ai có, một lát mình mở mắt mình đi một vòng cho thầy. Tức là cái tròng trắng á mà lại xanh biêng biếc, biêng biếc như ngọc vậy đó, mà nó không quá xanh, mà nó chỉ biêng biếc, nhàn nhạt mà sáng sáng sáng,

[25:32]đó là cái tròng trắng á, đó là cái quý tướng của Phật. Mà cái đặc biệt á, cái hình dáng của Phật khi Ngài ngồi á thì luôn luôn có một cái tầm hào quang tỏa ra. Mà từ nhỏ đã như vậy rồi. Từ nhỏ khi mà ban ngày đó thì không thấy rõ, nhưng mà khi đêm xuống á thì cái góc mà Ngài nằm á thì luôn luôn cứ sáng sáng sáng sáng ra, cho nên trong hoàng cung là đã nổi tiếng. Nổi tiếng Ngài là một nhân vật phi thường. Rồi lúc đó, vua cha Tịnh Phạn có nhiều cái ước mơ đối với người con trai của mình là bởi vì cái vương quốc Shakya lúc đó đó, vương quốc Thích Ca lúc đó đó, chỉ là một tiểu quốc nhỏ và lệ thuộc vào cái vương quốc Kosala.

[26:14]Cho nên vua Tịnh Phạn lúc nào cũng phải vâng phục, lệ thuộc Kosala. Thì trong lòng ngài vẫn mơ ước là con cháu của mình đứng lên, dựng nên một đế quốc bình đẳng, chứ không phải là lệ thuộc ai nữa. Nhưng mà muốn làm được điều đó thì phải có người có phước lớn. Và khi thấy con mình đặc biệt như vậy thì vua cha Tịnh Phạn cũng hy vọng. Nhưng chỉ tiếc một điều là Đức Phật khi Ngài càng lớn lên thì Ngài lại càng có khuynh hướng siêu nhiên. Ngài nhìn cuộc đời với con mắt khác hẳn của mọi người, lúc nào cũng khát khao đi tìm những cái chân lý tuyệt đối xa xôi, chứ không có những cái hưởng thụ tầm thường như là

[26:53]những cái vương công hoàng tông khác, đấy đặc biệt. Và đôi mắt của Phật từ nhỏ vậy, là trong cái trầm lắng thanh thản vô biên, nhìn ai là người đó thương yêu liền. Cho nên trong cuộc đời Đức Phật, dường như là Ngài không có kẻ thù. Chỉ có sau này khi lớn lên mà Ngài thuyết pháp, Ngài dẫn đạo nổi tiếng quá, nhiều người họ từ bỏ những cái vị thầy của họ để về với Đức Phật thì Ngài mới bắt đầu có kẻ thù là do người ta ganh tị quá sức. Chứ còn từ ngày khi nhỏ mà Ngài sống trong hoàng cung cho tới những người mà được gặp Ngài trong cái cuộc đời Ngài hành đạo cũng vậy, Ngài nhìn tới là mềm lòng liền, là người ta tin liền, thương liền, quý liền.

[27:34]Đặc biệt cái đôi mắt như vậy. Thì đó là cái đôi mắt nhục nhãn của Phật. Xin chúng ta nghe nói là Đức Phật có năm con mắt thì trong đó có cái đôi mắt thịt, thì đừng có tưởng là giống mình nha, đừng tưởng giống mình. Tại đôi mắt cũng là đôi mắt thịt này, nhưng mà của mình khác với Phật một trời một vực, xa lắm. Nghĩa là đôi mắt chúng ta nhìn rất là bình thường, mình mở, mình xem gương rồi mình sẽ thấy không đặc biệt. Chỉ lâu lâu mình gặp một vài người có đôi mắt sáng, đôi mắt có uy hay đôi mắt đẹp, hoặc đôi mắt lẳng lơ, hoặc đôi mắt tối tăm, đôi mắt lì lợm, vân vân, vậy thôi. Nhưng mà đôi mắt của Phật là mình phải hiểu

[28:14]gấp triệu lần cái đẹp, cái quý như vậy. Bây giờ chúng ta nói qua tới thiên nhãn. Cái thiên nhãn này không phải là một cái con mắt, à dịch là mắt trời, nhưng không phải là con mắt, mà cái chữ thiên nhãn này nó hàm ý là cái khả năng thấy siêu việt nhất. Vì vào cái thời Đức Phật thì cái gì mà cao siêu nhất thì dùng cái chữ thiên, thiên tức là trời và đó là cao nhất. Thì sau này ở trong đạo Phật, lần lần mọi người mới chợt hiểu ra rằng là cái khái niệm về trời không phải là cao nhất, vì sao vậy? Bởi vì cõi trời là một cõi gồm những vị thánh mà những vị đó làm phước rất nhiều và tu tập tâm cũng rất là từ bi,

[29:00]rất là thanh tịnh, nhưng chưa phải là giải thoát hoàn toàn. Cho nên cái khái niệm trời chưa có trở thành cái khái niệm cao tuyệt đối. Nhưng mà tạm thời lúc đó, bởi vì người Ấn Độ người ta xem trời là tuyệt đối, cho nên Đức Phật cũng dùng cái chữ thiên nhãn, thiên nhĩ. Dùng chữ thiên nhãn, thiên nhĩ để ám chỉ cái khả năng nhận biết mà cao nhất. Nhưng sau này, khi mà đạo Phật đã truyền bá được vài mươi năm rồi thì mọi người mới bật ngửa ra, mới hiểu ra rằng là với cái nhìn của Phật, cõi trời chưa phải là cao nhất. Trong đó chúng sinh tuy rất có phước nhưng không phải là đạt được sự giác ngộ tuyệt đối.

[29:42]Chỉ có Đức Phật, tuy Ngài hiện thân ở cõi người, nhưng mà sự giác ngộ của Ngài là tuyệt đối. Cho nên chúng ta mới nói rằng Đức Phật là Thầy của cả trời và người, là Đấng vô thượng, không ai có thể hơn nữa. Thì cái cặp mắt mà gọi là thiên nhãn là một trong cái lục thông của Phật và A La Hán, là định nghĩa là thế này: tức là khi nhập định, Đức Phật có thể quan sát, biết sự lưu chuyển sinh tử của chúng sinh theo nghiệp, à. Nên đây là trong cái định mà biết chứ không phải là thấy. Cái chỗ này là cái chỗ mà chúng ta khó có cái cảm nhận. Ví dụ như thế này, ví dụ như là ở trong những người chúng ta đây,

[30:28]có người nào đó cái tâm mình cũng có cái linh tính, có cái trực giác. Khi lần đầu tiên mình nhìn một con người, bỗng nhiên mình cảm nhận được cái con người này là người gian xảo, lừa đảo, mặc dầu là giấu bên ngoài là cái nụ cười tươi và cái ánh mắt ân cần, nhưng bỗng nhiên mình nhận ra được là đằng sau cái nụ cười tươi thắm và cái ánh mắt ân cần đó là một nội tâm quỷ quyệt hay lừa đảo. Thì cái mà nhận ra đó thì có phải là mình thấy thành một hình ảnh không, hay chỉ là một sự cảm nhận vô hình? Chỉ là cái sự cảm nhận vô hình. Quý Phật tử đã có bao giờ như vậy chưa? Có, phải không? Con người ta vậy chứ mình cũng có linh tính,

[31:11]chứ không phải là phải đợi tới thầy bói mới biết, phải không? Mà người nào được như vậy coi chừng mình có khả năng coi bói. Hiện nay nghĩa là trong xã hội này có hai cái nghề mà thu nhập cao nhất: thứ nhất là ca sĩ mà nổi tiếng, và thứ hai là thầy bói coi trúng, quá tiếng. Mấy người đó thu nhập khủng khiếp lắm, một ngày tới mấy triệu đồng. Nên nếu mà không biết làm phước thì cái hưởng đó sẽ rất là nguy hiểm. Nên hôm nay nghe nói như vậy mình thử lại ha, rồi mình bói, nếu mà trúng là biết đâu mình cũng thuộc loại người đặc biệt. Thì cái mà khi Đức Phật nhập định mà quan sát sự lưu chuyển của chúng

[31:52]sinh cũng vậy, nó không phải là một cái hình ảnh à mình thấy cái người này chết, rồi hiện cái màn ảnh ra người đó sinh qua bên kia, làm cái người bên đó đầu thai là giàu sang, sung sướng, không phải, không phải là hình ảnh hiện ra như là trên một cái màn hình lớn, mà chỉ là một cái biết, chỉ là một cái biết. Mặc dù rất rõ, rất cụ thể, mà không phải hiện ra như một cái màn hình. Đó, chúng ta phải dùng cái trí để hiểu cái đoạn này, bởi vì đây là thiên nhãn của Phật, không có diễn tả bằng lời được. Khi mà Ngài nhập định á thì trong cái định càng vắng lặng chừng nào thì cái tâm lại càng phủ trùm chừng nấy.

[32:28]Mà cái phủ trùm của tâm á nó phủ cả hai là phủ cả không gian và phủ cả thời gian. Là cái vô lượng thời gian trong quá khứ Ngài thấy hết, cả ảnh hưởng đến tương lai thấy luôn, biết luôn, dùng chữ biết là chính xác, nhưng mình hay dùng chữ thấy để cho nó cụ thể. Và cả cái không gian mênh mông, biết luôn, thấy luôn. Cho nên, ví dụ khi mà nhập định quan sát một cái đứa bé thì các Ngài, Đức Phật hay một vị A La Hán vậy, Ngài quan sát đứa bé thì cái tâm mới phủ trùm lại thấy được cái không gian là thì ra trước đây nó nằm ở bên nước kia, một cái nước cách mình mấy chục ngàn cây số, nửa vòng Trái Đất, em bé đó ở bên đó đầu thai qua.

[33:08]Là phủ trùm được không gian mới thấy. Rồi phủ thời gian là mới thấy được cái quãng đời ở kiếp trước, mấy mươi năm trước nó đã làm những điều gì. À nó đã sinh trong gia đình, dòng họ gì, lúc đó nó đã làm những điều phước gì, rồi có những lúc nóng giận nó đã làm những điều tội gì, có những lúc tham muốn nó đã tranh giành như thế nào, có những lúc ích kỷ, ganh tị nó đã tạo nghiệp gì, và có những lúc mà nó gặp đạo, nó xúc động cũng đã biết tạo những cái duyên lành nào, biết hết, cộng lại hết. Là mỗi cái nhân, mỗi cái nhân như vậy từng chút từng chút vậy, gom lại hết là thành một cái phương trình cho cuộc đời hôm nay.

[33:43]Thế là khi em bé đầu thai qua hôm nay thì nó sinh vào một gia đình như vậy với cha mẹ thương yêu, nuông chiều như thế, rồi lớn lên một chút nó sẽ gặp cái tai nạn như thế, rồi năm nào nó học hành đạt được những cái gì, rồi trong cuộc sống nó lấy vợ như thế nào, rồi công ăn việc làm, rồi những cái trắc trở, những cái thành tựu, vân vân là theo nghiệp từng chút hết. Mỗi giai đoạn nó ứng vào một cái nhân ở tiền kiếp hết. Thì khi thấy suốt như vậy, từ cái quá khứ thấy đến vị lai, cái khả năng thấy đó gọi là thiên nhãn. Chúng ta biết điều này là trong cái tâm mà thanh tịnh, vắng lặng thì phủ trùm khắp nơi qua nhiều không gian và qua nhiều thời gian.

[34:26]Mà chúng ta phải hiểu tâm ở đâu tức là cái biết ở đó. Bởi vì sao? Bởi vì tâm gồm hai điều. Chúng ta nhớ điều này, tâm gồm hai điều căn bản. Các nhà khoa học họ muốn lập ra một lý thuyết về cái môn tâm linh học, bởi vì họ phát hiện ra trên thế giới là năng lực tâm linh là có thật. Là ví dụ người ta có thể nhấc người lên hư không, người ta đoán biết chuyện từ xa, nhìn thấy việc từ xa, việc thôi miên. Đó đều là những năng lực tâm linh hết, nhưng mà tâm linh là cái gì thì họ không biết, chưa tìm ra được cái nguyên lý của nó. Ứng dụng thì được mà nguyên lý là gì thì không biết để dựng lên một cái lý thuyết.

[35:07]Nghĩa là khi mà muốn phát triển thì phải có một cái lý thuyết, mà chưa kết luận, chưa nắm bắt được cái nguyên lý ban đầu thì chưa thể dựng lên một lý thuyết được. Ví dụ toán học chúng ta có cái nguyên lý, những cái tiền đề về những đường thẳng, thẳng góc, song song, mặt phẳng, về điểm, định đề Euclid. Từ những căn bản đó mình dựng lên cả một cái môn toán hình học kinh khủng. Thì tâm linh học cũng vậy, phải có cái nguyên lý căn bản ban đầu rồi từ đó mới dựng lên cả một cái môn học mới. Thế giới muốn điều này lắm, nhưng mà họ không nắm được cái căn bản. Nhưng trong đạo Phật mình thì điều đó rất là rõ. Tâm nghĩa là gì?

[35:41]Tâm là hai điều, nhớ giùm: một là cái muốn, và hai là cái biết, vậy thôi. Tâm là gồm hai điều đó: muốn và biết. Trên nền tảng hai cái đó, chúng ta sẽ phát triển từ từ sẽ thành một môn tâm linh học rất là phức tạp cho cái nhân loại về sau. Nhưng mà khởi điểm hễ ai nói mình định nghĩa tâm là gì, mình nói ngay tâm là muốn và biết. Ví dụ người đó không còn thể xác, người đó chỉ còn cái tâm trong cái thế giới vô hình, là một loài ma, vong hay một vị thần, nhưng hễ còn tâm thì vị đó còn có cái biết và còn có cái muốn. Hễ có tâm là có biết và có muốn, nhớ như vậy. Thì cũng vậy, khi một vị Thánh vào trong định sâu, muốn biết điều gì thì biết điều đó.

[36:26]Như vậy vào định rất sâu rồi, bản ngã tan rồi, cái muốn bí mật vẫn tồn tại, mà cái đó không phải có lỗi, à và cái biết cực kỳ sáng, muốn biết cái gì là biết cái đó liền. Cho nên đây là cái đặc tính của Thánh. Nghĩa là một bậc Thánh á, các Ngài trong cái định Ngài muốn biết, biết liền, là bởi vì tâm phủ trùm sâu sắc, thẩm thấu vào tất cả. Còn phàm phu chúng ta do tâm mình còn vọng động, cho nên khi mình muốn mình không biết liền, mình phải đi tìm, phải loay hoay, phải suy luận, phải ước đoán, đủ thứ. Còn một bậc Thánh thì cái biết họ siêu, thẩm thấu qua tất cả không gian, thời gian, nên muốn, biết liền, vậy đó.

[37:12]Và chỉ có Phật với A La Hán mới biết được cái diễn tiến sống chết của chúng sinh ra sao. Ví dụ chúng ta nghe nói người đó chết, nhưng mà chết là cái gì? À mình không biết hết đâu. Vì nghe nói chết, chết xong làm ma, mình không hiểu là khi chết rồi làm ma thế nào, hoặc nói chết xong đầu thai qua kiếp khác, mình cũng không hiểu là cái tiến trình mà khi chết rồi đầu thai qua cái thân mới như thế nào, không hiểu hết. Mình chỉ đoán, xúm nhau mà đoán, xúm nhau đoán rồi dựng lên vô số lý thuyết, nhiều khi cũng trật lất. Cho nên trong đạo Phật có nhiều cái tông phái, kể cả những tông phái rất là nổi tiếng,

[37:45]thì thi nhau mà giải thích về cái hiện tượng sống chết. Họ lập nên cả một cái cuốn sách đồ sộ về sự sống chết, như khi một người chết tức là chuyện gì xảy ra, diễn tiến đối với linh hồn, tâm người đó. Rồi khi người đó đầu thai là những diễn tiến gì xảy ra, những hoạt động gì xảy ra để họ vào cái thai mới. Thì rất nhiều tông phái thi nhau mà diễn tả điều này, mà sự thực cũng chỉ là ước đoán chứ không phải là cái nhìn thấu suốt của Phật và A La Hán. Ví dụ như là khi một người có phước, họ chết được lên cõi trời thì lúc mà họ chết, cái giây phút họ chết thì chuyện gì xảy ra? Mình cũng chỉ đoán, mình không biết,

[38:25]nhưng mà chỉ có một bậc A La Hán, một Đức Phật mới biết điều đó. Là biết như thế nào? Thì ở đây mình tạm nói thôi. Ví dụ như một người đó có cái phước cực kỳ lớn là lúc sống trên đời biết tu hành, tâm niệm luôn luôn hiền lành, nhẫn nhục, nhường nhịn, thương yêu, giúp đỡ và làm được rất nhiều công đức lớn. Phải nói công đức lớn nha, chứ làm phước lặt vặt không có tới đâu. Làm cái công đức lặt vặt thì chỉ được sinh lại cõi người làm giàu có thôi, chứ còn phải phước rất là lớn thì mới sinh lên cõi trời. Thì lúc mà người đó chưa chết thì chư thiên đã vây quanh thường tới lui rồi, cái chỗ người đó ở rồi. Ví dụ người đó già, yếu rồi.

[39:09]Nghĩa là nhiều khi đứng đi phải có người đỡ, ngồi đâu ít có hoạt động nổi. Nhưng mà nhìn vào gương mặt luôn luôn mình thấy rạng rỡ, rạng rỡ, tươi tươi, hồng hào, tươi tắn mặc dù thân rất là yếu. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai là người đó cứ tỉnh táo sáng suốt lúc tuổi già, rất là tỉnh, rất là sáng. Và người đó mình thấy là đôi lúc mình bất chợt trong bóng đêm gần nơi người đó có ánh sáng và hay có mùi thơm. Tức là chư thiên đã đến gần rồi, tới lui rồi. Tới lui thăm viếng chuẩn bị đưa một người này về cõi trời là do công đức lớn. Rồi cái khi mà người đó mất thực sự có thể là có một cái nghiệp cũ họ qua một cơn bệnh một chút nhưng qua cơn bệnh đó rồi tỉnh

[39:53]táo, khỏe khoắn lại bắt đầu chết và không đau đớn. Cái chết đó không phải đơn giản nha. Thường là lúc chết chúng ta vật vã lắm mới chết nổi. Chúng ta đã chết vô lượng lần trong vô lượng kiếp nên chúng ta quên mất. Nhưng mà nếu chúng ta nhớ lại một vài lần, chúng ta sợ điếng người liền. Bởi vì sao? Bởi vì muốn chết không dễ. Chúng ta tưởng tượng điều này nha. Một người mà muốn giết một người kia chết á ví dụ thứ nhất bóp cổ. Cái người mà bị bóp cổ cho nghẹt thở rồi mới chết, người đó cảm giác thế nào? Đau đớn phải không? Nghẹt, tức. Nghĩa là muốn thở mà thở không được, nghẹt tim, đau đầu, não không có máu không có oxy,

[40:33]nghĩa là căng thẳng khủng khiếp lắm rồi mới chết được. Hoặc là người nào đó bị đâm một dao vào tim. Đâm một dao vào tim thì chưa chết liền tại vì cái não vẫn còn hoạt động nhưng mà đau đớn vô cùng. Rồi máu nó không lên não được nữa, một lát sau não nó mới hôn mê rồi mới đi vào cái chết. Thì trong thời gian trong mấy phút mà để đợi cái não nó hôn mê luôn rồi đau đớn không thể tưởng. Hoặc là cái người bị rớt xuống nước ngộp, vùng vẫy càng hít chừng nào thì nước nó càng tràn vô phổi. Nó ngập đầy phổi rồi không còn oxy thì lúc trong khoảng thời gian mà nghẹt để tim không còn mà đưa oxy lên não được nữa đó, khoảng thời gian đó cực kỳ khổ sở.

[41:12]Hoặc là một người bị đánh đập đau đớn rồi mới hư hết cơ phận, hư gan gì đó, bể gan thì bể gan này đau khủng khiếp lắm, đau là la làng được. Rồi một lát nữa máu không hoạt động không tuần hoàn được nữa, tim từ từ mới ngừng lại rồi não mới chết. Thì trong những khoảng thời gian mà để chờ cho được chết không ai sung sướng hết, tất cả đều cực kỳ đau đớn. Hoặc là có những người mà bị tai biến ngã bật xuống chết, mình nói người đó đi khỏe. Không, không khỏe đâu. Nếu mình biết mình cũng thương họ, đau đớn cực kỳ. Đau ghê lắm. Hoặc là người bị nhồi máu cơ tim, mình nhìn họ chết thì mình mới thấy là không có sướng, trợn mắt lên, nghiến răng, lè lưỡi ra.

[41:50]Bởi vì lúc đó cái tim nó nhồi lên, nó thắt nghẹt lại, máu không lên đường nữa, đau đớn cực kỳ, la không được rồi đi chết luôn. Nhưng lúc chết chưa chết hẳn, lúc đang hôn mê thôi, lát từ từ mới chết. Cho nên để mà chúng ta thật sự chết rồi cái linh hồn, cái thần thức thoát ra khỏi cái thân này không bao giờ là dễ chịu. Nếu chúng ta nhớ lại một vài lần mình đã chết trong quá khứ, mình sợ điếng liền. Ai thấy cái chết từ từ nó tới là sợ liền. Nhưng mà lại khi những người nào mà công đức lớn, phước nhiều thì cái chết cực kỳ êm ả giống như một giấc ngủ, chào từ giã mọi người, thiếp mắt lại rồi chìm trong hôn mê, khoảnh khắc thoát ra khỏi thân tỉnh trở lại liền.

[42:32]Khi mà ra khỏi thân rồi mới thấy chung quanh mình tràn ngập ánh sáng, chư thiên đứng đầy hết chào đón như là chào đón một người bạn cũ trở về. Tại vì thường là cái người có tâm tốt cũng ở trên trời xuống, trên trời xuống làm vô số công đức trở về trời lại thì chư thiên đã vây quanh đón chào và chào đi. Thì cái chết rất là yên ả, những cái đó mình không thấy được. Còn cái người mà bị tội khi chết mà phải đọa địa ngục thì mình cũng không thấy, nhưng mà mình có thể nhìn những biểu hiện thế này, ví dụ một cái người làm ác một đời hung dữ, tàn bạo, ganh tị, ích kỷ, xấu xa, vu khống, hãm hại người khác tới phước không còn gì

[43:11]nữa, không còn gì để cứu nữa thì người này phải đọa địa ngục. Người đó khi mà đi dần tới cái chết á thì càng lúc càng hôn mê, càng nói bậy, càng mất uy đức. Và thường là mình sẽ thấy nơi cái chỗ mà người đó ở đâu thì tối tăm và hôi hám. Đó là dấu hiệu hôn mê, nói bậy, làm những việc mà sai lầm và có khi là giãy đành đạch trước khi chết, làm những cái động tác mà mình thấy không phải là thanh thản. Có khi rống lên một tiếng la lớn rồi mới chết hoặc là kêu hét lên như tiếng của một con thú hay là một tiếng kêu gào, sợ hãi rồi mới chết. Bởi vì sao? Bởi vì lúc mà người đó trong cái hôn mê là mắt đã bắt đầu thấy được cái

[43:51]thế giới cõi âm và thấy những cái người mà quỷ sứ ở địa ngục chờ sẵn. Những người đó có răng có nanh, có sừng, mặt mày hung dữ, cầm dao cầm gươm đứng đón sẵn. Chúng ta đừng tưởng chuyện đó là chuyện hù con nít nha, chuyện có thiệt. Chuyện quỷ sứ chuyện có thật, đừng tưởng chuyện đó hù con nít. Và họ sợ hãi quá đi, họ hét lên kêu cứu, nhưng mà người thân đâu thấy ai đâu mà cứu. Thì lúc đó họ chết là bị bắt luôn. Bắt và cái cảm giác của họ là rơi xuống, rơi xuống, rơi xuống, rơi xuống, rơi xuống. Trong khi cái người lên cõi trời thì cảm giác bay lên, bay lên. Còn cái người mà chết đọa địa ngục nằm là cứ thấy rơi xuống, rơi xuống.

[44:27]Thì khi họ rơi xuống thì cái chuyện mà phán xét ở dưới địa ngục một vài lần nữa rồi quăng luôn vào ngục tối. Trong cái ngục tối đó không có ánh sáng. Chúng ta đừng có tưởng là trông coi như phim là đứng nhìn cái thấy cái người đó bị cưa, bị xẻ, bị đốt, bị thiêu, không có, tối thui à. Tối thui và chỉ biết là mình bị hành hạ thôi. Ví dụ bị quăng vào một cái chỗ mà nóng, bị thiêu bị đốt nóng hoặc bị cắt, bị xé nóng đau đớn mà cái cảm giác cứ kéo dài hoài, không bao giờ ngơi. Mình mới bị đứt ngón tay mình la làng. Còn cái ở dưới địa ngục thì người ta bị đâm, bị chém đau đớn như vậy mà không chết, cứ bị hoài, cái đau kéo dài hoài, bị đốt nóng, đốt nóng kéo dài hoài.

[45:05]Đó, những cái trường hợp đó mình không biết được mà chỉ có Phật mới biết rõ cái tình trạng này. Hoặc là khi đọa làm ma đói, chúng ta hay dùng chữ ngạ quỷ, nhưng mà chữ quỷ á, Việt Nam mình có tới hai nghĩa lận. Cái quỷ của người Việt Nam mình là ám chỉ một cái vong linh mà dữ, có thần thông nhiều, phải không? Mới gọi là quỷ. Ví dụ một con quỷ ở cây đa đầu làng, hồi xưa thì cây đa nhiều, thời nay bị mình cất nhà nhiều quá đó, mình quy hoạch mình cưa sạch hết mấy cây đa nên ma cũng bay mất tiêu hết trơn. Chứ hồi đó hay có những cây đa đầu làng rồi có con quỷ, con quỷ vú dài rồi cái hay ngồi đưa con kẽo kẹt.

[45:42]Rồi ai đi qua những lúc mà trưa vắng cái thấy ngồi trên cái cây đa đó đòng đưa, kêu ghẹo vậy đó, ai cũng sợ. Ví dụ về bệnh phát hoảng ra. Thì cái chữ quỷ á có nghĩa là một loại ma mà có thần thông, dữ mới gọi là quỷ. Còn nhưng mà chữ Nho đó, cái chữ quỷ chỉ là một cái vong linh bình thường đã gọi là quỷ, là một cái vong linh thôi, mình gọi là ma thì bên đó dịch qua là quỷ luôn, cũng được nữa. Nhưng khi mà đọa làm ma đói thì như thế nào? Thì cái người đó dung nhan xấu xí, thất tha thất thểu đứng đó, lúc nào cảm giác đói, khát còn hoài mà xin không ai cho ăn. Vì lúc sống làm sao? Lúc sống là đã bóp họng, bóp hầu, bóc lột người khác.

[46:22]Ví dụ mình làm người chủ, mình lời rất là nhiều, mình có thể ăn thừa mứa. Mình đi một bữa tiệc mình nhậu 1 triệu thoải mái, nhưng mà đối với người công nhân mà họ xin thêm 10.000 không cho. Nói câu này có trúng ai, người đó ráng chịu nha. Phải sửa, mà đây là tâm lý chung. Cái người mà giàu có có thuê công nhân phải nghe câu này. Mình đi một bữa tiệc nhậu 1 triệu mình thoải mái hoặc đãi ai cái nào, mình tặng quà cho người thân mình 5, 6 triệu thoải mái, nhưng cái người làm công của mình họ xin 10.000 mình đã ke re cắt rắc rồi, mấy người đó chết làm ma đói. Nói thẳng một câu đó, mích lòng ráng chịu,

[46:57]bởi vì không thể đối xử với con người tàn bạo như vậy được. Vì người ta thất thế, người ta làm công cho mình, cái quyền mình nắm trong tay, nên mình đối xử người ta tàn bạo, ke re cắt rắc. Nhưng mà đồng tiền qua tay mình dùng cho mình thì mình dùng một cách nghĩa là phung phí. Cái phung phí đó mình đem mình cho những cái người làm công cho mình thì quý biết bao nhiêu, nhưng mà lại không. Nên có những người chủ mở những hãng lớn vậy á, nghĩa là công nhân mà xin đi khám bệnh không cho, thậm chí mà giờ làm mà xin đi vệ sinh không cho. Nhưng mà đi một đêm chơi vui với em út là tốn 5, 10 ngàn đô thoải mái.

[47:32]Mấy cái người đó chết xong làm ma đói hết, không nói. Đúng là mình sống như vậy là bất công đó. Rồi khi cái duyên mà đầu thai, cái duyên mà đầu thai thì con người là như thế nào? Ví dụ mình nói đầu thai là sao là? Là nhập vào bụng mẹ, không chuyện nó không đơn giản. Cái nguyên tắc là như thế này: là ví dụ như một cái người đó họ chuẩn bị đầu thai vào cái gia đình đó, thì cái thần hồn của họ, mình gọi là thần thức hay linh hồn của họ, hay cứ quyến luyến quyến luyến nhà đó hoài. Tới gần đó rồi, ở gần đó rồi. Tự nhiên thương cái người cha, người mẹ đó, cứ quyến luyến quyến luyến, biết. Rồi cái duyên quyến luyến với cha mẹ thì là người sống không có hay,

[48:12]thì khi cha mẹ gần nhau, lúc đó cũng không phải là lúc đầu thai nữa. Nhưng mà đợi đến cái lúc mà cái tinh trùng á nó lọt vào trong cái noãn, mà cũng chưa lúc đó chưa thành cái thai nữa. Cái tinh trùng mà lọt vào trong cái noãn rồi từ từ bắt đầu nó mới biến thái, cái biến thành một cái nhân, rồi lúc đó thật sự thành một cái phôi của một sự sống độc lập. Tới giờ phút đó đó mới thật sự là bắt đầu một kiếp sống mới. Và cái linh hồn vẩn vơ vẩn vơ mấy ngày kia biến mất liền, tan biến để biến thành một cái cái phôi thai mới. Cho nên từ khi mà cha mẹ gần nhau cũng chưa phải là một cái cuộc sống mới. Rồi khi mà cái tinh trùng nó lọt vào trong cái noãn cũng chưa bắt đầu kiếp

[48:51]sống mới, mà phải đợi cái tinh trùng lọt vào noãn mà nó thành một cái phôi thật sự có sự sống rồi, hẳn hoi rồi, bắt đầu mới là sự sống mới. Lúc đó cái linh hồn mà lẩn quẩn lẩn quẩn nơi cha mẹ tan, tan biến liền, tan thành không khí liền, không còn nữa, bản ngã cũ biến mất, quên hết mọi chuyện, bắt đầu đời sống mới theo nhân quả. Cái nhân quả nó sẽ điều khiển cái phôi trứng đó, phôi nó lớn lên dần dần dần dần dần. Đó là cái nguyên tắc. Nhưng mà sự thật nó có nhiều trường hợp ngoại lệ. Có nhiều trường hợp ngoại lệ, có những trường hợp ngoại lệ mình mà nghe nói mình rùng rợn chứ không phải đơn giản. Rùng rợn như thế nào?

[49:27]Rùng rợn như thế này: ví dụ như là hai vợ chồng đó giàu sang, quyền quý, rồi cái có bầu, nhưng mà cái duyên á thì cái bầu cái thai đó sẽ hư, cái thai đó cũng không có tuổi thọ. Thì một cái linh hồn á, linh hồn này cũng ranh mãnh, cái nó biết là đầu thai vô gia đình này thì sung sướng mà cái nhân quả thì không lọt vô được, cái nó cướp, cướp cái sự sống. Tức là nó tác động một cái nó làm cho cái thai kia chết liền. Thai kia chết rồi nó trục cái hồn của cái thai đó ra rồi nó nhập vô liền. Thì lúc đó do cái sự sống chưa tắt, linh hồn bị trục ra nhưng mà thai chưa chết, nó nhập vô lại nó tạo tiếp tục sự sống.

[50:04]Thế là cái thai cũ nhưng mà linh hồn mới. Mấy đứa bé đó mà nó sinh ra nó khôn trời thần đất lở luôn. Chuyện gì nó cũng biết hết, là cướp thai, cướp cái xác của người khác. Mà đó là cướp từ trong thai, và có trường hợp mà nó cướp từ ở ngoài nữa. Đứa bé vừa đẻ ra, nó giết chết đứa bé đó cướp cái xác liền. Cũng có trường hợp đó nữa chứ không phải không. Mấy đứa đó nó ngồi lặng lẽ mà đôi mắt nó tinh tinh, nó dòm đâu nó biết đó mà nó không nói, giả bộ nó không nói. Sự thật là nó cướp cái xác đó rồi. Nó giết chết cái đứa bé kia thì cái thân còn ấm là nó nhập vô nó nó tạo sự sống cho nó. Có trường hợp đó.

[50:39]Nên cái sống chết của con người có nhiều cái bí ẩn mà chúng ta bằng con mắt thường không thấy, chỉ có con mắt Phật, tức là con mắt thiên nhãn mới biết hết những nguyên tắc sống và chết của cuộc đời này chứ không phải dễ. Tuy nhiên cái điều quan trọng của thiên nhãn là thấy cái sự lưu chuyển của chúng sinh theo nghiệp, tức là chúng sinh sinh và tử lệ thuộc vào cái tội phước. Kiếp sau thì lệ thuộc vào cái tội phước của kiếp trước, và chỉ có Phật mới thấy rõ nhân quả từng ly từng tí của chúng sinh chứ người khác không thấy. Nhân quả rất là phức tạp, mình thông minh gì thông vẫn không bao giờ thấy hết.

[51:19]Cái luật nhân quả cực kỳ phức tạp mà chỉ có Phật mới biết hết. Còn chúng ta mình tu chứng được chút nào mình biết thêm chút đó, chứng chút nào biết thêm chút đó, không bao giờ biết hết nổi luật nhân quả. Và luật nhân quả là nguyên lý tuyệt đối. Ngày nào đó tất cả mọi nguyên lý khác có thể không cần thiết, nhưng mà luật nhân quả tuyệt đối, chi phối luôn kể cả người đã giải thoát vẫn không thoát khỏi luật nhân quả. Tất cả như vậy, và chỉ có Phật mới biết. Ví dụ bây giờ mình nhìn một cái người đó, cái người đó là làm thuê cho một gia đình, người làm thuê là giúp việc nhà. Làm thuê giúp việc nhà là ví dụ như

[52:00]giặt quần áo, nấu cơm, lau nhà, chăm sóc em bé, như vậy gọi là giúp việc nhà. Thì thường thường đa số những người mà giúp việc nhà đó ai họ cũng hiền lành, khiêm tốn tại vì biết cái thân phận của mình. Và đồng thời hiền lành thì người ta mới dám thuê. Bởi vì đó là công việc dường như thấp nhưng mà lại đòi cái người có đạo đức, bởi vì đi thuê người giúp việc nhà khó là vậy. Nhưng mà có một lần chúng ta gặp một người là làm cái nghề là giúp việc nhà nhưng mà lại rất là kênh kiệu, hách dịch. Tại sao vậy? Tại sao không biết cái thân phận của mình mà lại kênh kiệu, hách dịch? À nguyên nhân được tìm thấy là bởi vì kiếp trước cái người này đó

[52:41]lại là người làm lớn, có chức có quyền mà hay khinh người, tự cao, phỉ báng thần thánh, coi thường những người làm công mình. Kiếp này đi làm người làm công cho biết, nhưng mà cái tật khinh người, hách dịch vẫn còn. Cho nên tuy làm thuê mà vẫn vẫn hách dịch là vậy. Cái tánh nó còn lại, mặc dù phước thì hết rồi nhưng mà cái tánh thì nó còn. Thì chừng nào mà bị cuộc đời họ đì quá đi thê thảm á bắt đầu từ từ mới biết khiêm tốn xuống lại. Mà chừng nào khiêm tốn được á cái bắt đầu mới có phước để vươn lên lại, chứ hễ còn kênh, còn hách thì cái phước đang còn tiếp tục đi xuống. Vì trong cái thân phận nghèo nàn đó mà vẫn không biết khiêm

[53:15]tốn, vẫn kênh, vẫn hách, mai mốt còn tiếp tục đọa xuống thêm nữa, xuống còn thê thảm hơn nữa, à như vậy. Ví dụ như một người đời trước xuất gia tu hành suốt một đời trong sạch, nhưng mà đầu thai qua kiếp sau thì mãi hơn nửa đời người, tới 40-50 tuổi mới gặp được Phật pháp để tu trở lại. À tại sao vậy? Lý do là bởi vì kiếp trước tu lo tu có một mình, không có lo truyền đạo. Với lại ở trong chùa đóng cửa chùa lại, lặng lẽ, ai biết thì tới, không biết thì thôi. Cho nên bị cái quả báo kiếp sau rất là muộn màng mới gặp được Phật pháp. Còn cái người ví dụ như người ta tu ít, tới tuổi 70 tuổi người ta mới

[53:54]vào chùa tu, nhưng mà từ lúc người ta vào chùa tu rồi người ta năng nổ, người ta truyền đạo, nghĩa là người ta đến những cái nhà xung quanh chùa, nơi nào đó người ta tới người ta thăm hỏi hết. Thăm hỏi rồi mời về chùa tụng kinh, à mời về chùa nghe giáo pháp, à rồi đem kinh lại, đem băng lại cho người đó mượn, vân vân. Thì cái người này 70 tuổi mới gặp đạo nhưng qua kiếp sau mới sinh ra là sinh luôn vào trong gia đình Phật pháp liền, bởi vì cái công đức mà truyền đạo. Mình muốn cho người ta biết đạo thì mình sinh vào đâu cũng gặp Phật pháp hết. Và chính vì nhờ gặp Phật pháp quá sớm từ nhỏ, đã sinh vào trong gia đình Phật pháp thuần thành,

[54:30]cho nên từ nhỏ là đã sống trong môi trường đạo đức, thường làm những việc phước, thường tu hành, rồi qua kiếp đó rồi chết rồi thường lên cõi trời luôn, lên cõi thánh ở trên đó tu tiếp, đó là vậy. Nên chúng ta thấy là ví dụ như bây giờ mình đi mình truyền bá Phật pháp chưa chắc là mình chết mình bỏ thân mình lên cõi trời liền đâu. Qua thêm một kiếp nữa, nhưng một kiếp kế tiếp là một kiếp rất thuận lợi để tu hành. Rồi từ đó là vô lượng kiếp sau vô lượng kiếp sau, nghĩa là con đường công đức mở toang ra luôn để chúng ta làm được vô số điều. Đó, đó là nhờ như vậy. Còn ai tu mà chỉ biết phần mình tu thì coi chừng kiếp sau cái duyên

[55:05]Phật pháp lại mất dần, mất dần, yếu yếu, xìu xìu, không có nữa. Nên cái việc mà mình chủ động mình đem Phật pháp đến người khác á, phước lớn không thể tưởng tượng được. Nên có một lần thầy giảng ở bên chùa cho tăng ni mới dặn quý thầy, quý cô vậy: khi quý thầy, quý cô ở chùa, đừng có ở trong chùa mà đợi người ta đến rồi mình mới truyền đạo, mà mình phải chủ động, lúc rảnh sắp xếp mình đi thăm viếng, hai ba người đi thăm viếng hàng xóm, đi thăm nhà xa xa chung quanh chùa hết, nhất là nhà quê. Đó, để mà hỏi thăm người ta, hỏi thăm kỹ lưỡng, là thứ nhất đến mình giới thiệu, người ta hỏi quý thầy ở đâu, nói là:

[55:43]ở chùa Từ Tân tới. Là lúc này đạo gia đình sao, gia đình được mấy đứa con, làm ăn có dễ không, sức khỏe tốt không, ừ học hành con cháu có ngoan không, vàng cất ở đâu, ví dụ vậy mình hỏi thăm, rồi sau đó mình mới mời người ta về chùa ha tối rồi cái 30 sám hối, nghe thuyết pháp đồ, vân vân như vậy. Phải chủ động như vậy, chứ đừng có mà cứ ngồi chờ người ta tới. Ví dụ như là có một người tự nhiên họ lại mở cái viện mồ côi để nuôi trẻ em mồ côi. Nguyên nhân được tìm thấy là chỉ vì ở kiếp trước có một lần đó cái người đó nhìn thấy những đứa trẻ mồ côi cứ đứng khóc, thương. Chỉ một cái nhân đó thôi, vậy mà qua đời sau bỗng nhiên mang một cái nguyện

[56:29]là sẽ mở cái trại mồ côi để nuôi các em cho đàng hoàng, cho nó đỡ bơ vơ. Là chỉ vì lòng thương ở kiếp trước động lòng một chút qua đời sau làm được một cái nguyện lớn. Nhưng mà đừng có tưởng ai mở trại mồ côi cũng có nguyện lớn nha, có khi người ta mở để kinh doanh cũng có nữa. Mở kinh doanh là sao? Mở cái trại mồ côi lúc nào cũng nuôi mấy đứa trẻ nó đói nó thiếu nó rách để cho người ta tới thăm á người ta cúng cho giúp cho nhiều. Mà dù có dư thì đem bỏ về nhà cất chơi. Chứ còn lúc nào cũng giữ mấy đứa bé trong tình trạng đói khổ để mà dụ tiền người khác rất là ác. Cái đó gọi là kinh doanh, cái đó là kinh doanh từ thiện, rất là ác.

[57:10]Còn cái người mà mở viện mồ côi mà có đạo đức vì lòng thương các em thì cái đó mới thật là đáng quý. Nhưng chúng ta cẩn thận đừng bị lừa. Đừng thấy cái trại mồ côi giăng bảng đó rồi cứ đi vô mà thấy đứa trẻ thiếu thốn rồi đem vô tiền tấp hết, không ngờ là chỉ bỏ vào cái ngân hàng riêng của cái mấy cái người điều hành. Còn các đứa trẻ thì vẫn tiếp tục là chỉ ăn muối hột, đậu hũ sơ sơ. Dù dư cũng không cho, tại vì nếu nó đẹp quá không ai cho tiền nữa. Rất là ác. Nhưng mà nhân quả của chúng sinh không phải là từ kiếp trước, kiếp sau mà ảnh hưởng từ rất là nhiều kiếp. Có khi phải 10 kiếp, có khi phải cả trăm kiếp cái quả nó mới hiện ra.

[57:46]À cho nên chỉ có con mắt Phật á gọi là thiên nhãn á mới thấy được thấu suốt trong vô lượng kiếp là nhân nào ra quả nào. Ví dụ như là có một người vào một cái đời xưa đất nước còn loạn lạc, bị ngoại xâm, bị những cái quân giặc ở ngoài nó mạnh hơn mình gấp trăm lần nó đánh thì cái người này cũng là có cái trách nhiệm cho nên đã dùng mưu tính kế để mà giết giặc bảo vệ đất nước. Thì họ dùng cái mưu tính kế, mình yếu mình đánh lại mạnh thì phải dùng mưu làm sao cho quân giặc nó không có lương thực nó ăn, đêm không cho nó ngủ, quấy phá làm cho nó kiệt sức trong 1 2 tháng. Tới chừng nó kiệt sức thật sự rồi mới đánh thật sự,

[58:28]đánh một trận quyết định để đuổi luôn quân giặc ra khỏi bờ cõi. Thì cái công đức á là bảo vệ được quê hương đất nước nhưng mà cái nghiệp tạo ra đó là dồn cái quân địch nó gồm nửa triệu quân đó mà nó đói thất tha thất thiểu trong một tháng không ăn được, không ngủ được thì quả báo cũng phải trả chứ cũng không phải là không. Công với đất nước thì sẽ được hưởng nhưng mà cái nghiệp mà dồn quân địch cả nửa triệu người chứ ít gì, dồn mà không ăn không ngủ được. Đêm xuống là bắt đầu cho đánh la làng đập phèng la chọc không cho ngủ. Mà lương thực đem giấu sạch không cho lấy là dồn cái là riết rồi quân địch cầm cái gươm cầm không nổi nữa,

[59:05]tới lúc đó mới đem quân ra đánh thật sự một người giết 100 người. Thì Việt Nam mình ngày xưa là nhờ kế vậy không? Mới đánh mà thắng được Mông Cổ đâu phải dễ. Thì như vậy đó cái công với đất nước thì sẽ hưởng nhưng mà cái nghiệp như vậy vẫn phải trả. Có khi là 10 kiếp sau, 20 kiếp sau người đó bắt đầu trả quả báo của mình thì xơ xác ăn không được ngủ không được. Nhưng mà còn cái phước đối với đất nước thì vẫn phải hưởng, không sao, vẫn có. Và điều nữa là thiên nhãn của Phật á khi mà nhìn một chúng sinh á là thấu suốt quá khứ, vị lai của người đó. Mà khi nhìn một chúng sinh là thấy toàn bộ những chúng

[59:40]sinh liên quan chung quanh với người đó hết. Bây giờ nhìn một người thấy toạc luôn cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè chung quanh người đó hết luôn. Chứ không phải là nhìn người nào chỉ biết một người đó. Bởi vì sao? Bởi vì cái duyên chúng sinh là chằng chịt với nhau. Một người là liên quan tới triệu người, một người liên quan triệu người. Cứ như vậy, cho nên chỉ có thiên nhãn của Phật mới thấu suốt chứ mình mình nhìn không nổi. Thì mình nhìn một người thì mình thấy được liên quan 2 3 người, 5 10 người. Còn Đức Phật nhìn một người là thấu luôn một triệu người chung quanh người đó liền. Như vậy đó mới gọi là thiên nhãn, chứ còn không phải bình thường mà dễ.

[1:00:17]Bây giờ chúng ta nói tới tuệ nhãn. Có ai có thiên nhãn không? Không. Tuệ nhãn này có thể có nè. Tuệ tức là trí tuệ, tức là cái sức thông minh vậy thôi. Mà nói tới sức thông minh thì rất nhiều người trong chúng ta cũng có sức thông minh, dù ít dù nhiều là bình thường chúng ta đều có cái mức độ thông minh nào đó. Và trên thế giới người ta cũng có vài cái phương pháp để đo cái chỉ số thông minh. À. Giờ một đứa bé cho nó trả lời một số câu hỏi, xem một số phản ứng của nó thì có thể đánh giá được nó thông minh đến mức độ nào. Cái người nào trên 100 là ngon lành. Cái người nào mà trên 200 thì thiên tài.

[1:00:59]Chỉ có một cái điều là nhiều đứa bé đo chỉ số thông minh rất cao nhưng mà lớn lên cuộc đời vẫn thất bại thì họ không hiểu tại sao. Họ không hiểu được nhân quả. Thông minh thì thông, lúc đó lanh thì lanh. Nhưng mà để thành công thì vẫn phải lệ thuộc vào phước của người đó. Thông minh là thế nào? Thông minh là những thế này đây. Thứ nhất là hiểu vấn đề rất nhanh, rất sâu sắc, phán đoán rất chính xác. Thứ nhất là thông minh nghĩa là như vậy. Ví dụ như là người ta đến thăm mình, người ta bước vô cửa người ta cười một cái là mình biết liền, biết người ta muốn gì liền. Muốn gì? Thấy? Biết mướn mượn tiền liền.

[1:01:43]Công nhận con người này đó, thông minh người ta sắp đó, cũng có cái tuệ nhãn đó chứ không chơi. Nghĩa là khi mình đang ngồi thì chúng ta thấy người ta tới người ta cười duyên với mình là coi chừng không có gì tốt lành sau đó, cứ tới mượn tiền. Đó cái người đó cũng có tuệ nhãn á, hiểu vấn đề rất là nhanh. Nó còn nhiều cái phải không? Trong cuộc sống nó có nhiều cái mà mình lanh ý tự nhiên mình biết cái cũng gọi là trí tuệ, phải không? Hoặc là một người bạn ngồi chơi với mình mà mình cứ thấy cứ nhổm lên chút xíu, cái mình quay nói chuyện quay ngồi xuống, khi mình quay chỗ khác mình nói cái người đó nhổm

[1:02:13]lên chút thì mình đoán ra là cái gì? Tới giờ hẹn với với bồ đâu đó. Công nhận mấy người này hay thiệt ta, nó đoán ra liền. Thông minh chứ chơi sao. Kinh nghiệm. Cái thứ hai của cái thông minh nữa là cái sức sáng tạo dồi dào, phong phú. Là cũng một công việc đó làm nhưng mà tự nhiên mình nghĩ ra chuyện này chuyện kia cho nó hay thêm. Ví dụ như là thầy trụ trì của chúng ta ở chùa Từ Tân khi cất cái chùa này cũng vậy, là thầy ngồi thì đi thì soi từng góc cột, từng góc cạnh để nghĩ ra làm sao cho nó có ý nghĩa, sao cho nó đẹp. Rồi cất tại sao phải hai tầng chánh điện để phục vụ những cái sinh hoạt tu tập Phật sự như thế nào, vân vân.

[1:02:55]Rồi phải nghĩ tự nhiên cái cột phải làm giá đá làm sao, vân vân. Đó, những cái đó gọi là những cái sáng tạo. chúng ta ai cũng có, phải không? Thì ví dụ như cái người mà họ dựng một cái câu chuyện, họ tạo ra một câu chuyện, họ viết một cái kịch bản cũng đều là những người thông minh hết, có tuệ hết, vì sáng tạo. À ví dụ như là vừa rồi thì thầy có đọc cái mấy cuốn sử của ông ông tác giả Vũ Ngọc Đỉnh á, ông viết cái chuyện sử Việt Nam. Viết chuyện 12 sứ quân, viết về Đinh Tiên Hoàng, viết Hào kiệt Lam Sơn, viết chuyện về Lê Lợi, viết Bắn rụng mặt trời, viết về Trần Hưng Đạo. Thì cái sử liệu mà để lại thì không nhiều mà ông dựng

[1:03:33]lại thành cái tập dày thế này, viết từng chi tiết từng chi tiết, từng thế đánh, từng cái tâm tính, từng lời nói của con người mà tất cả đều rất là thông minh. Thì đọc cái đó mình hiểu những con người đó cũng gọi là những sáng tạo. Nếu có điều kiện quý Phật tử mua đọc cho vui, cho biết thế thôi. Và cái điều thứ ba nữa liên quan tới trí thông minh nữa là trí thông minh cũng liên quan đến trực giác. Tức là khi mình đoán được cái sự việc gì nó nhanh á, không phải là thông minh không, mà đó cũng là cái linh tính ở trỏng nữa chứ không phải là không. ví dụ như chúng ta đọc cái truyện mà của Kim Dung có có cái nhân vật gọi là Hoàng Dung

[1:04:12]vợ Quách Tỉnh á, người yêu của Quách Tỉnh, thì đây là người phụ nữ cực kỳ thông minh. Trong truyện dựng con người thông minh phi thường mà cái thông minh của bà á là dường như là trực giác nhiều hơn. Đoán sự việc rất là nhanh, rất là nhạy. Cho nên chúng ta thấy cái thông minh với cái linh tính nó có liên quan với nhau. Khi mình nói chuyện với một người, người ta nói nửa câu mình đã đoán hết ruột gan người ta muốn cái gì. Thì cái đoán hết ruột gan người ta muốn cái gì đó không phải là thông minh không đâu, cũng là cái linh tính ở trỏng á. Cho nên cái tuệ, cái trí thông minh con người cũng là có cái trực giác dính líu ở trỏng.

[1:04:46]Giờ một cái người mà học toán giỏi hay làm văn làm thơ giỏi thì là cũng là người thông minh. Ví dụ mình nói là cái người đó hay thì hay mà nếu không làm được một bài thơ thì đâm ra mình cũng nghi ngờ. Tại vì cái sức sáng tạo về chữ nghĩa không có, mình cũng nghi ngờ. Phải làm cho được một bài thơ. Hoặc là những cái người doanh nhân mà họ phán đoán thị trường nhạy bén để họ đầu tư thích hợp thì đó cũng là cái tuệ, cũng là cái thông minh mà cũng là cái phước ở trong đó. Có cái phước mới đoán đúng chứ còn không đoán trật mình đầu tư thất bại liền. Nó cũng là thông minh. Hoặc là cái nhà khoa học họ nghiên cứu,

[1:05:23]họ sáng tạo chế máy móc thì phải công nhận thông minh không nói gì nữa hết trơn. Rất là thông minh. Mình ngồi mình sử dụng máy móc thì thấy bình thường, chứ mình biết cái nhà khoa học họ ngồi trong cái phòng nghiên cứu mà họ tìm tòi một cái máy để giải quyết có cái giải pháp khắc phục nhược điểm này, khắc phục nhược điểm kia rất là khó. Thầy nói như cái máy bay bay sao chúng ta nhìn máy bay chúng ta sẽ thấy cái đuôi của máy bay luôn luôn nhếch lên cao, phải không? Để chi vậy? Để khi mà cất cánh á đừng có lết dưới đất đừng đụng đất, nhếch lên chút. Chúng ta để ý không? Cái đuôi luôn luôn, thì cái mặt bụng nó bằng bằng

[1:05:58]nhưng mà tới phần đuôi luôn luôn xéo lên. Từ cái bánh xe đó là xéo lên, để khi nhấc hơi nhích lên chút xíu, ngóc cái đầu lên thì cái đuôi vẫn không bị cà dưới đường băng. Những cái chút chút đó vô cũng thông minh lắm, không phải dễ. Rồi vô số những kỹ thuật khác, những điều đó đều là thông minh. Hoặc là người công an điều tra truy tìm tội phạm, mấy người đó cực kỳ thông minh. Phải đoán hết đường đi nước bước tâm lý tội phạm rồi mới có thể chặn đầu chặn đuôi, truy lùng và bắt được chứ không phải là dễ. Hoặc là một người đến chùa mà mình nhìn thấy người đó gặp quý thầy ngoan ngoãn dạ thưa à ngọt ngào nhưng mà nhìn cái tay chắp

[1:06:34]xá thấy không đúng cách, biết ngay người này là sao? Thứ nhất là giả vờ, thứ hai là có lòng đạo nhưng mà chưa tới chùa nhiều, mới tới thôi, thấy không? Nên cách xá, cách chào chưa đúng. Đó, mình nhìn cái đoán nó nhạy, chưa phải là Phật tử thuần thành. Hoặc là khi mình có cái tuệ, mình biết cái ứng xử với con người thích hợp. Ví dụ như có một mình có người bạn mình chơi với người bạn. Thấy cái người này mình thấy người này có cái tâm tốt nhưng mà có những quan điểm sai. Và người này chỉ cần là mình nói ngọt ngào phân tích thì họ biết họ bỏ cái sai để họ sống lại cho đúng. Ví dụ đôi khi họ còn ganh tỵ, mình phân tích.

[1:07:13]Mình nói sống trên đời mình thấy cái người khác thành công mình phải vui, nó là hạnh phúc. Chứ còn ví dụ mình thấy cái người ta thành công mà mình cứ ganh tỵ thì chỉ làm một đời thêm khổ. Mình chỉ nói vậy cái người ta nghe, người ta hiểu ra liền. Nhưng có những người thì mình phải làm sao? Phải làm mặt ngầu, phải hăm dọa, phải đòi giận hờn, giận dỗi đồ. Cái người đó mới chịu, họ chịu thấy đó là sai. Hoặc là cha mẹ thì có đứa con thì chỉ nói là nó biết đúng biết sai, nhưng có đứa con là phải nghiêm khắc rầy la, thậm chí phải đánh đòn để cho nó sợ mà nó không dám làm sai. Thì cái tùy người mà mình có cái cách đối xử,

[1:07:49]khuyên lơn thích hợp đó cũng gọi là tuệ, cũng là trí thông minh chứ không phải là không. Còn cái tuệ nhãn của Phật là sự kết hợp giữa cái thông minh siêu việt của bộ óc và cái thần thông vô hạn của một bậc giác ngộ. Lúc mà Đức Phật còn ở hoàng cung thì Ngài đã thông minh siêu việt. Tức là Ngài học một biết mười, là các vị thầy mời tới mà để dạy Ngài đó là dạy ít bữa hết nghề liền. Là Ngài học rất là nhanh và lần lần Ngài khám phá ra những điều mà ông thầy mình không thể biết được. Thế là sau đó thôi ông thầy đã nghỉ, Ngài tự tìm tòi, kể cả trong võ thuật. Vì lúc đó là vua cha Tịnh Phạn đầu tư cho Ngài dữ lắm,

[1:08:29]hy vọng Ngài sẽ trở thành một vị vua nổi tiếng cả cõi Diêm Phù Đề. Hồi xưa là vậy, cả cõi Diêm Phù Đề. Cho nên dạy đủ thứ á, có dạy võ nữa, mà võ của Ấn Độ ngày xưa cũng giống như võ của Trung Hoa vậy đó, người ta có thể phi thân qua nóc nhà, có thể đánh được chưởng, à bắn cung chính xác. À lúc đó võ Ấn Độ, võ Trung Hoa cũng giông giống nhau. Bởi vì cái nghệ thuật chiến tranh mà, sống lúc nào cũng nơm nớp chiến tranh. Cái dòng Sát-đế-lợi là phải giỏi võ, cho nên vua cha Tịnh Phạn cũng là một người cực kỳ giỏi võ. Vua cha Tịnh Phạn cũng là một người võ tướng nha, đừng tưởng là chỉ ông già bụng phệ không biết gì, không có đâu.

[1:09:03]Vua cha Tịnh Phạn là một nhà chính trị cực kỳ khôn và một người võ tướng cực kỳ giỏi võ, mà cũng là một người ngoại giao hết sức khéo léo mới giữ được cái ngôi vị của mình là vừa với những người lấp lem dòm ngó cái ngai vàng, vừa với cái đại vương ở Kosala. Cho nên vua Tịnh Phạn có ba cái đặc tính rất là nổi bật: một nhà chính trị khôn ngoan, một võ tướng kiêu hùng và một nhà ngoại giao đại tài. Cho nên vua mới biết cách đầu tư cho cái người con của mình, nên đem hết những bậc thầy già giỏi nhất về dạy, mà đó là thầy. Chứ riêng vua cha cũng dạy cho thái tử nhiều cái bí quyết đặc biệt trong võ thuật hoặc là trong cái nghề chính trị.

[1:09:42]Những lúc mà họp những hội đồng vậy đó, là luôn luôn kêu thái tử lại ngồi chứng kiến cái buổi họp, họp hội đồng trong chính phủ, trong cái triều đình. Là khi vua quan bàn chuyện, nói chuyện sao cho thái tử ngồi nghe để lấy kinh nghiệm, biết nhận xét. Còn trong cái võ thuật cũng vậy, là bí mật dạy cho con mình những cái phương pháp mà luyện nội công để có sức mạnh phi thường hơn những người khác. Những cái đó không dạy bên ngoài, chỉ cha truyền cho con thôi. Mà Đức Phật lúc còn thái tử, Ngài thông minh học một biết mười, cha nói xong làm được liền, nói xong làm thành công liền. Ví dụ làm sao để tạo thành nội lực, Ngài làm được liền;

[1:10:15]tập để nhảy phi thân qua nóc nhà, làm được liền. Cho nên Đức Phật của chúng ta rất phi thường từ hồi nhỏ. Kinh không nói hết, kinh không nói hết những điều đó, nhưng mà đó là sự thật. Thì cái sự thông minh siêu việt của Ngài như vậy cho đến khi mà Ngài đắc đạo, Ngài có thần thông rồi thì cái tuệ của Ngài là không thể tưởng tượng được. Ngài mở miệng Ngài nói một câu là Ngài lường trước cái câu nói đó nó ảnh hưởng tới mấy ngàn năm sau sẽ như thế nào, chứ không có nói bậy. Còn ví dụ bây giờ đó, mình nói, mình giảng Pháp cho ai nghe, mình nói chuyện đạo với ai là chỉ nói với người đó thôi. Là chỉ vì người đó mình giải thích thôi, nhưng mà cái câu nói của mình mà

[1:10:52]nó lan thêm 100 năm nữa coi chừng nó sinh tai họa cho người khác á. Còn Đức Phật thì không, Ngài nói một câu là cái câu nói đó nó có giá trị tới 5.000 năm sau chưa hết. Mà đúng như vậy, đến bây giờ chúng ta lật những bản kinh Nikaya của Phật ra, câu nào cũng quý giá. Mặc dù là có thể là quá cô đọng, hơi khó hiểu vì ngôn ngữ xưa, vân vân, vậy thôi, chứ câu nào cũng có lợi ích muôn đời hết, rất là hay. Ví dụ như có một cái câu chuyện là có một bà mẹ, bà quá đau khổ vì đứa con mất. Thì bà thì đông con nhưng mà chết một đứa con bà cũng quá đau khổ tại vì tình mẹ thương con. Mà khi đến với Đức Phật thì bà mới chỉ xin một điều,

[1:11:34]bà ôm cái xác đứa con tới, đi theo cả những người thị tùng tại bà rất là giàu, ôm xuống. Bà biết rằng Đức Phật là người có thần thông siêu việt, lúc đó ai cũng biết điều đó, Đức Phật muốn bay là bay, muốn biến mất là biến mất. Có một lần có một cái vương quốc bị hạn hán, nghĩa là không có mưa. Thế là sau có ai nói ông vua, ông vua biết đến mời Đức Phật tới. Thì Đức Phật chỉ vừa đặt chân vào biên giới một cái là cả cái vương quốc đó mưa xuống ầm ầm liền, nước tràn ngập hết cả sông nước liền. Cho nên từ đó người ta mới hiểu rằng Đức Phật là có thần thông, chứ lúc trước Ngài giấu thần thông Ngài kỹ.

[1:12:06]Không cần nói gì nhiều, không cần làm phép búng tay, bắt ấn gì hết á. Ngài đặt chân vào biên giới một cái là cả cái vương quốc đó mưa liền, chấm dứt cái nạn hạn hán luôn, bắt đầu mưa thuận gió hòa luôn. Thì ai cũng biết Đức Phật có thần thông. Mà Ngài hay nói về thần túc thông khi Ngài giảng là bậc đắc đạo phải có, cho nên cái bà tín nữ bà biết Phật có thần thông, bà ôm cái xác con bà tới. Bà xin Phật làm cho con bà sống dậy, bà quá đau khổ. Nhưng mà nghiệp quả làm sao mà sống được nữa? Mà cái lòng bà quá đau khổ, Đức Phật biết rằng là Ngài nói vô ích. Một người quá đau khổ rồi thì không có cái lý

[1:12:40]luận nào có thể chữa được hết những lúc đó. Và Ngài biết rằng để cho chữa cái đau khổ của bà chỉ có một cách rằng làm cho bà biết rằng rất nhiều người cũng đau khổ giống như bà. Thì Đức Phật ngay khi bà vừa xin cái Ngài nói liền một câu này: "Được, con hãy đến cái nơi nhà nào mà không có ai chết, xin cái nắm tro đó về, ta làm phước đứa con sống dậy liền." Thế bà mừng quá, bà để đứa con gửi đó với những người thị tùng giữ đứa con, cái xác đứa con. Bà lật đật chạy đi, dẫn theo một số thị tùng, rong ngựa đi hết nhà này tới nhà kia xin. Vô hỏi: "Nhà có ai chết không?" Cái người kia nói: "Không, tôi có chết, ba tôi mới mất, vô cùng đau khổ." Người kia:

[1:13:16]"Có ai chết không?" Nói: "Em tôi mới chết", rồi "Con tôi mới chết." Bà đi một loạt hết thì mới biết rằng nhà nào cũng có người chết và ai cũng đã quá đau khổ. Và bà mới chợt hiểu ra một điều: sống trên đời này, cái chết là điều không tránh khỏi và ai cũng phải chấp nhận một cái đau khổ là người thân mình đều phải chết. Có khi người thân mình chết già, có khi người thân mình chết trẻ. Bà tỉnh ngộ liền. Lúc đó, bà dắt cái đoàn thị tùng cùng với xe ngựa tới tịnh xá, đi xuống xe ngựa với gương mặt thanh thản, nước mắt đã khô. Lòng đã lắng dịu vì biết rằng đau khổ là một sự thật, ai cũng phải đau khổ, không phải một mình mình.

[1:13:50]Đó là một cái tuệ của Phật. Thay vì lúc đó Ngài nói một bài pháp mênh mông thiên địa, Ngài biết rằng trong hoàn cảnh đó nói bài pháp vô ích. Mà Ngài chỉ dùng một cái thủ thuật để làm cho bà hiểu rằng bà rất nhiều người cũng như vậy và bà thông cảm. Nỗi đau của bà được chia sẻ, không phải mình là một nỗi đau duy nhất, tự nhiên bà bình tĩnh chấp nhận cái chết của con mình. Rồi sau này Đức Phật mới giảng thêm: "Và có phải là cô muốn là mình rất đông con không?" Nói: "Dạ, con muốn con rất là đông con." Hồi xưa như vậy chứ giờ là không được nha. Giờ gái hay trai chỉ hai là một giùm thôi nha. Chứ hồi xưa vậy, cứ con đông con là có phước. Nói người đó trả lời:

[1:14:34]"Dạ, con muốn đông con." Thì Đức Phật mới nói rằng: "Thế bà có muốn rằng là con của bà là giống như toàn những người dân ở trong cái cái thị trấn này, thành này hay không?" Nói: "Dạ, con muốn, tất cả đều là con con." Thấy lòng bà thương cũng lớn ha! Nhưng bà cũng rất là giàu. Thì Đức Phật mới nói: "Mới một người con mà bà đã đau khổ như vậy. Bây giờ mà nhiều người con và nhiều người chết như vậy thì cái đau khổ đến mức độ nào? Cho nên thôi, đừng." Đừng. Ngài nói nói chỉ chừng nhẹ nhàng thôi, nên chúng ta thấy đó là cái tuệ. Không dùng lý luận nữa mà dùng một thủ thuật, chỉ cái tuệ. Chứ còn mình trong lúc đó, mà nếu gặp trong hoàn cảnh đó,

[1:15:10]nhiều khi mình ngồi mình lải nhải, rồi lát bả bực bả điên lên bả khóc thêm nữa. Là vì lúc đó cái lời nói là vô ích. Hoặc là ngày xưa đó, Đức Phật đã dặn chư Tăng ở nơi một chỗ là không xa xóm làng, không gần xóm làng là để làm chi? Không xa là để mình dễ dễ được xin được lương thực. Không gần là đừng có ồn. Nhưng mà tiếc rằng ngày nay thì làm sao? Cái chỗ mà không xa không gần thì làm sao? Nhà cửa cũng cũng bao vây sạch. Chứ hồi xưa á, lúc mà Sài Gòn mình còn hoang vắng á, nhiều cái chùa của mình là gọi là cái vùng vắng á. Ví dụ cái chùa Ấn Quang nơi đó vắng tanh à. Tại vì cái chỗ đông là chỉ có chợ Bến Thành thôi, chợ Bến Nghé á.

[1:15:51]Chứ còn ở Ấn Quang là lúc đó là vắng ghê lắm. Thì là các cái chùa đó là đúng tiêu chuẩn là không xa xóm làng, không gần xóm làng. Bây giờ thì sao? Kế một bên cái chung cư, ngôi gia tự làm ầm ầm bên, thấy không? Cho nên cái thời đại ngày hôm nay, cái do cái hoàn cảnh như vậy cái mình bị bị kẹt, bị kẹt quá nên mình phải thay đổi đường lối tu và đường lối giáo hóa. Đường lối tu là đường lối, tức là mình phải tu nếu mà người ở thành phố phải chấp nhận tu trong cái cảnh đông đúc, chật chội thế này mà phải giữ được thanh tịnh, khó hơn hồi xưa. Là mình phải đặt ra nhiều tiêu chuẩn khắt khe hơn. Hồi xưa vì xa xóm làng cho nên mình thoải mái hơn,

[1:16:29]nhưng bây giờ xóm làng ép chung quanh chùa hết thì chùa phải có một số tiêu chuẩn khắt khe hơn để giữ được sự thanh tịnh. Đó. Và một cái nữa là cái giáo hóa. Là ví dụ người ta đến cất nhà gần chùa thì lọt vô một cái nhà nào là mình độ sạch cái nhà đó liền, không nói. Để cho làm chi? Tức là đạo Phật, chư Tăng sống trong lòng của quần chúng, Phật tử, lấy cái những người quần chúng, tín đồ Phật tử đó bảo vệ cho chùa. Đó, phải mới là như vậy chứ không có được mà như ngày xưa là ở xa xóm làng rồi cứ ngồi lặng lẽ đi xin đi về rồi ai tới thăm tới, không tới thì thôi, không có. Bây giờ chư Tăng phải hai, ba người chủ động đi tới thăm Phật tử.

[1:17:10]Như vậy và cả Phật tử cũng vậy, mình cũng rảnh rồi thì trong một cái công đức mà làm cho mình vui là những lúc rảnh rỗi ngoài những công việc mình làm thêm một việc thiện là mình đem phụ với quý thầy mà truyền bá Phật pháp đến với những người mình quen biết. Và những người mình không quen thì mình làm quen, mà quen rồi thì thì mình truyền bá Phật pháp. Đó, hãy lấy đó làm niềm vui suốt cuộc đời của mình còn lại thì sẽ thấy cái phước rất là lớn. Nhớ như vậy. Ừ. Ví dụ như là, ngày xưa đó Đức Phật không có chủ trương tổ chức một cái giáo hội quy mô chặt chẽ. Ví dụ như chúng ta thấy bên Hồi giáo hay bên Kitô giáo,

[1:17:50]họ có một cái giáo hội được tổ chức rất là quy mô chặt chẽ. Đức Phật vào thời đó, Ngài truyền đạo thành công. Không có một cái giáo chủ nào mà sống thọ và truyền bá mạnh như Đức Phật, nhưng mà Ngài lại không có tận dụng cơ hội đó để tổ chức thành một giáo hội quy mô chặt chẽ. Ừm, mà Ngài để một cái giáo hội rất là lỏng lẻo là vì sao vậy? Bởi vì Ngài tin vào cái sức mạnh của giáo lý. Nghĩa là khi cái giáo lý rớt vào trong lòng người rồi thì mỗi người trở thành một thành trì của Phật pháp, nên không cần phải tổ chức giáo hội chặt chẽ. Đó là lý do thứ nhất. Lý do thứ hai nữa, Ngài cũng ngại là khi một cái giáo hội tăng đoàn mà được tổ chức

[1:18:29]chặt chẽ quá, cái nó đụng chạm tới cái quyền lực của quốc vương, phải không? Tức là quốc vương người ta có luật pháp người ta cai trị đất nước, tự nhiên có một tổ chức tăng đoàn có một cái luật lệ riêng thì có thể kèn cựa và cạnh tranh với quốc vương, sẽ làm cho quốc vương khó chịu. Cho nên vì vấn đề tế nhị đó nên Đức Phật không có tổ chức một cái tăng đoàn chặt chẽ. Đó là cái lý do thứ hai. Còn lý do thứ nhất, chúng ta nhớ nhắc lại, bởi vì Ngài tin rằng khi cái đạo lý rớt vào lòng ai thì người đó trở thành một cái thành trì của Phật pháp. Đó là hồi xưa. Cái sự phán đoán như vậy cũng gọi là tuệ nhãn đó.

[1:19:04]Cái sự khéo léo Phật gọi coi là tuệ nhãn. Tuy nhiên, trong cái thời đại mà vật chất kỹ thuật lôi cuốn, cái văn hóa ngoại lai xâm nhập, ta phải cần một cái đạo Phật kỷ cương hơn bây giờ. Tức là bây giờ chúng ta phải có một cái đạo Phật kỷ cương hơn, chứ không thể là một cái tăng đoàn lỏng lẻo như thời xưa được. Thì một đạo Phật kỷ cương hơn như thế nào thì có dịp khác chúng ta sẽ nói chuyện ha, các vị. Có một lần về thăm lại hoàng cung, Ngài đi với Ngài Xá Lợi Phất vào trong hoàng cung và Ngài biết trước rằng cái người vợ cũ của Ngài là công nương Da Du Đà La sẽ rất là xúc động, bởi vì xa chồng nhiều

[1:19:43]năm mà đó là một người vợ cực kỳ chung thủy, cực kỳ đoan chính. Ừm. Cho nên là bà thế nào cũng bày tỏ cái cảm xúc. Và đây là một điểm chúng ta thấy cái hay của Phật, Đức Phật không có cứng nhắc đâu. Lúc đó Ngài biết điều gì sẽ xảy ra, Ngài quay sang dặn Ngài Xá Lợi Phất là khi mà công nương Da Du Đà La có làm gì thì ông hãy để yên. Vì Ngài biết trước mà, tức là bà sẽ bày tỏ cảm xúc. Đôi khi nó không thích hợp đối với một vị sa môn tu hành mà nhất là Phật là một đấng giác ngộ, nhưng mà Ngài tôn trọng. Lúc đó khi Ngài vào đến cái nhà của hai người ngày xưa ở, Ngài thăm lại con mình và người vợ thì Ngài ngồi trên cái ghế nghiêm

[1:20:27]trang thì công nương không kiềm được đã đến quỳ xuống ôm chân của Ngài. Thì cái cảm xúc đó Ngài im lặng, Ngài ngồi bất động. Cái bất động đó Ngài không xua đuổi, Ngài không làm gì hết nhưng Ngài tôn trọng thôi mà Ngài bất động vì Ngài giữ cái sự thanh khiết của một người xuất gia tu hành và nhất là một vị Phật. Còn Ngài Xá Lợi Phất làm thị giả thì cũng vậy. Đức Phật đã dặn rồi nên Ngài không có nói một câu gì để kêu là, "Công nương, xin công nương hãy đứng lên" này kia nọ, không có. Và Ngài cũng chỉ im lặng đứng, rất là khéo. Nhưng mà nhờ như vậy nên công nương Da Du Đà La bớt cái buồn, cái giận.

[1:21:03]Nói chứ chồng bỏ đi tu, làm gì làm chứ cũng giận giận ở bụng, phải không? Có ai bị chồng bỏ đi tu không? Buồn giận ha.

[1:21:12]Nhờ như vậy mà bà lắng lòng lại rồi sau đó là khi mà Đức Phật thuyết pháp bà dễ nghe hơn, dễ nghe hơn. Chứ nói tại sao là có nhiều người á có những ông chồng bỏ gia đình đi tu, quay trở về thuyết pháp vợ không nghe là vì lý do gì? Bà vợ giận ở trong đó, có giận đạo ở trỏng. Còn ở đây, Đức Phật có một chút xíu nữa thôi, tế nhị chút xíu thôi mà sau đó kéo luôn được đứa con đi tu luôn. Đấy, nó cũng gọi là cái tuệ nhãn của Phật. Những ứng xử như thế gọi là tuệ nhãn. Thầy thì muốn nói về pháp nhãn mà sợ không kịp. Thôi bây giờ thì có ai hỏi gì hỏi thầy trả lời cái nha, đưa đưa giấy trả lời. Trong khi chờ đợi thì, đưa giấy đưa giấy.

[1:21:55]Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay, ngày mùng 1 tháng 2 năm Giáp Thân, Phật lịch 2548, cũng là ngày giảng đầu tiên của thầy. Con xin cúng dường lên mười phương chư Phật, chư tôn hiền đức tăng ni, chư vị Phật tử tại chùa Từ Tân một bản nhạc của nhạc sĩ Vũ Ngọc Thoản phổ theo lời thơ của Thầy Chân Quang. Lời thơ thì thầy không có đặt tên, nhưng con xin tạm mạn phép đặt tên là Ta Không Còn Là Ta. A Di Đà Phật.

[1:22:42]Tâm

[1:22:46]con là

[1:23:00]vũng lầy, nên con chắp đôi tay, xin gốc sen Phật pháp đem xuống trồng từ đây.

[1:23:16]Tâm con là biển khơi, sóng mịt mùng chới với, xin được thuyền Phật pháp ruỗi rong nơi cuối trời.

[1:23:34]Tâm con là rừng hoang, đầy dã thú lang thang, xin lối mòn Phật pháp đưa đến chốn bình an. Xin tâm này tan ra thành pháp giới bao la, thành thương yêu vô tận, ta không còn là ta. Thành thương yêu vô tận, ta không còn là ta.

[1:24:30]Tâm

[1:24:36]con

[1:24:51]là vũng lầy, nên con chắp đôi tay, xin gốc sen Phật pháp đem xuống trồng từ đây.

[1:25:06]Tâm con là rừng hoang, sóng mịt mùng lang thang, xin được thuyền Phật pháp ruỗi rong nơi cuối trời.

[1:25:24]Tâm con là rừng hoang, đầy dã thú lang thang, xin lối mòn Phật pháp đưa đến chốn bình an. Xin tâm này tan ra thành pháp giới bao la, thành thương yêu vô tận, ta không còn là ta. Thành thương yêu vô tận, ta không còn là ta.

[1:26:01]Thành thương yêu vô tận, ta không còn

[1:26:09]là ta.

[1:26:25]Thầy cám ơn chị Tố Lan cũng như cám ơn nhạc sĩ Vũ Ngọc Toản đã phổ nhạc bài thơ của thầy. Không ngờ bài thơ con cóc mà phổ lên thành hay cũng đỡ khổ. À, thầy trả lời lại một câu hỏi. "Thưa thầy, con có nghe một số Phật tử phàn nàn là tại sao mỗi khi cúng dường thầy thì đích thân thầy không nhận mà người Phật tử phải đưa qua trung gian một vị thầy khác nhận tiền cúng dường, họ có sự hoài nghi không biết số tiền này có đến tay thầy được hay không? Và con điều tra là họ cũng uy nghi là sẽ không cúng dường nữa trong sự nghi ngại trên." Vô duyên dễ sợ.

[1:26:58]Tại vì á, tiền bạc thì thầy không có trực tiếp quản lý, đệ tử của thầy giữ có sổ có sách. Mà những người đệ tử đi theo với thầy là những người tốt hay xấu? Một đồng cũng không ăn gian. Những người đó thầy mới cho xuất gia, thầy mới cho theo thầy. Và khi cúng thầy, thầy để tay lên cái đó thầy chứng minh rồi thầy chỉ đưa qua người đó để cất. Phải không? Vậy là được rồi. Mà dám nghi ngờ cái người đệ tử của thầy mang tội chết. Cái người mà thầy đã dạy dỗ, thầy giáo dục, thầy tin tưởng, thầy kêu người đó cất tiền cho chùa mà dám nghi ngờ là cái đầu đó cũng hơi là lộn xộn rồi. Phải sám hối cái đó đi.

[1:27:34]Rồi còn hù hăm thầy không cúng dường nữa.

[1:27:39]"Xin thầy giảng giùm hướng đi của thần thức trong trường hợp của cloning, tức là nhân bản vô tính." Cái này thầy có giảng một lần đâu rồi, trong bộ Sự khác biệt á nghe, dài lắm. Tìm lại bộ Sự khác biệt á, thầy có giải thích về cái sinh tử luân hồi trong cái cloning á, là cái nhân bản vô tính nha. Có Phật tử hỏi, lúc cô nói thầy cũng không nghe được mà cô viết thầy cũng không hiểu luôn đó. Thôi, nói ai viết lại giùm thầy nha, lần sau thầy trả lời cho, nha. "Tại sao có những vị thánh trong lịch sử hay bị mưu hại đánh chết, đánh đập tàn nhẫn? Ví dụ như ngài Hư Vân Hòa thượng bị lính đánh chết cả tuần,

[1:28:12]như vậy là ngài quả báo hay là thị hiện?" Không, là quả báo, quả báo. Chúng ta nhớ vậy, những chướng ngại trên cuộc đời tu á, nó có hai cái giá trị đối với bậc thánh: thứ nhất là các ngài trả nghiệp cũ, thứ hai để kiên định lập trường của ngài trên con đường đi đến giác ngộ, và có thể thêm cái thứ ba là làm tấm gương về hạnh nhẫn nhục cho mọi người. "Thưa thầy, con là giáo viên tiếng Anh, con thường xuyên bị nhức đầu, choáng mặt, mất ngủ kinh niên, tinh thần khủng hoảng, hay có cảm giác tuyệt vọng." Cái này là bị trong cái y văn thì gọi là suy nhược thần kinh, nhưng mà nó cũng do nghiệp. Cái nghiệp là đời xưa mình đã làm ai bất an.

[1:28:49]Cho nên bây giờ mình phải chữa toàn diện, vừa là đem lại sự bình an cho mọi người bằng cái cách nào đó, bằng cái giáo pháp, bằng bố thí tài vật và bằng cả phương pháp luyện tập, phải tập khí công nữa. Phải an trú tâm được lòng bàn chân, an trú được ở đan điền tại một điểm nhỏ thì từ từ chữa được bệnh này. Phải làm phước nhiều lắm, mà bị tới suy nhược thần kinh này cái nghiệp rất là sâu, phải chữa hơi lâu á, phải làm phước cũng hơi lâu mới hết. "Kính thưa thầy, gần xóm con có bà già, gia đình con cháu rất là giàu, nhưng từ sáng tới chiều bà cứ xòe tay xin tiền như là ăn xin ngoài đường." Hồi xưa có mắng ai đồ ăn xin á.

[1:29:26]Bây giờ cái nghiệp ăn xin chưa tới hẳn, nhưng mà cái đã hiện ra từ từ cái nghiệp này. Hồi xưa có mắng ai á. "Tại sao có người nghèo nhưng tướng mạo rất là sang trọng?" Nói nghèo khổ không ai tin, khổ ghê, không ai cho tiền hết trơn. "Có người giàu mà tướng mạo nhìn rất là bần cùng, thua cả người ở, nhìn không sang." Nó có những trường hợp lạ nha. Ví dụ như cái người mà nghèo mà mặt sang á, coi chừng họ có cái phá tướng gì đó, nếu mà nói theo tướng á, cái phá tướng nằm ở chỗ khác. Còn nếu không có phá tướng mà toàn là tướng giàu thì người đó sẽ giàu. Còn cái người giàu mà cái tướng bần á, thì nó cũng hai trường hợp:

[1:30:01]hoặc là họ có cái ẩn tướng rất là quý, hoặc là người đó sẽ nghèo. Giờ phải lật người đó lên coi chứ giờ thầy không trả lời được.