Transcript: Một Số Trường Hợp Đắc Đạo 01

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:14:17

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]A-la-hán đắc đạo rồi, các ngài hay nói một bài kệ tiêu biểu nào đó. Trong trường hợp này, ngài Harita lấy cái bài kệ mà Đức Phật dạy ngài để làm cái bài kệ tiêu biểu cho sự đắc đạo của ngài. Trong cái nhân duyên tu hành và đắc đạo của ngài, chúng ta thấy có mấy điểm. Là trước hết, ngài là người có gia đình rồi xuất gia. Điều này giống như Đức Phật vậy, cũng là một điều bình thường, cho nên nó không có cái quan ngại về vấn đề này. Miễn là khi tu, người đó tu một cách chân chính, tốt đẹp đều có thể chứng đạo. Thêm một cái điểm nữa là khi mà ngài nhìn cái sắc đẹp của vợ ngài, ngài khởi lên cái ý nghĩ rằng:

[0:56]"Sắc đẹp cũng là vô thường." Đây là một điều tự nhiên nó hợp với đạo lý mà trước đó ngài không có học mà tự nhiên ngài vẫn khởi nghĩ lên được. Trong kinh nói là do nghiệp nhân đời trước. Nghĩa là trong những kiếp trước mà chúng ta có tu, nhiều khi trong đời này không có do học mà bỗng nhiên tâm mình khởi lên được những cái ý niệm nó phù hợp với đạo lý. Cho nên nếu bây giờ mình hay thường khởi lên những niệm mà hợp với đạo lý, hoặc là có những đạo lý mình chưa từng học mà mình tự suy gẫm, suy gẫm rồi tìm ra, tìm ra, rồi sau này mình nghe dạy hoặc là mình xem kinh, mình thấy điều đó phù hợp với những gì mình đã suy

[1:38]nghĩ ra được thì phải biết rằng, giống như trong kinh nói là do nghiệp nhân đời trước, nghĩa là mình đã có tu, có học rồi. Nên bây giờ cái nhân duyên nó sống lại. Đa số những vị mà những vị tông sư lỗi lạc đều rơi vào trường hợp này. Các ngài học một mà biết mười là ở điểm này. Những đời trước các ngài cũng tu học rất là uyên thâm, cho nên đời này tự nhiên những cái tư tưởng đạo lý nó cứ sống dậy, sống dậy, nó thúc đẩy các ngài tu hành. Và các ngài tu hành rất là tinh tấn, hiểu đạo thì sâu sắc, đấy là cái nguyên nhân. Nhưng mình nhìn mình bây giờ để mình đánh giá cái căn cơ mình cũng vậy. Nếu mà mình phải đợi học mới hiểu,

[2:24]hoặc là học mười mà hiểu chừng hai ba, biết rằng đời trước mình ít tu, ít học. Còn có những người đôi khi họ không biết chữ nhiều, học lớp ba, lớp bốn thôi, mà mình thấy người đó hiền lành, đạo đức, nói ra một điều gì nó phù hợp với kinh điển, phải biết rằng người này căn cơ thuần thục, nên mình đừng khinh thường họ, họ tu đôi khi nhiều hơn mình nữa. Đó, như trường hợp ngài này. Một điều nữa là khi giai đoạn đầu mà mới tu, ngài không có điều phục được tâm, mà nó có liên quan tới cái nhân duyên là ngài đau khổ vì cái chết của vợ ngài. Vì đau khổ đó nên ngài đến với Phật, thì bây giờ mình nói giống trường hợp nào?

[3:09]Giống trường hợp nào? Giống trường hợp thất tình đi tu.

[3:16]Rất giống ha, giống Lan và Điệp lắm. Cho nên giai đoạn đầu, cái sự phát tâm của ngài đến với đạo nó chưa phải là cái tâm mến đạo sâu sắc, chỉ vì đau khổ một khía cạnh thôi, vì thất tình ngài đến với đạo, nên tâm ngài không nhiếp được tốt. Đợi đến khi mà thấy cái người làm tên họ uốn tên cho thẳng, ngài được khuyến khích bởi cái hình ảnh đó, kích động bởi hình ảnh đó. Nhân cái cái tâm tư ngài được kích động vậy, Đức Phật mới dùng thần thông hiện ra để khuyến khích ngài một lần cuối. Mà tại sao Đức Phật phải dùng thần thông? Bởi vì cái thần thông nó làm phát khởi cái niềm tin nơi lòng người khác rất mạnh, khuyến khích người khác rất mạnh.

[4:02]Từ cái sự khuyến khích do ngài nhận xét người làm tên rồi được Đức Phật thị hiện thần thông để khuyến khích, nên lúc đó nó nó phát tâm rất là mãnh liệt, nhờ đó ngài nhiếp tâm, một thời gian sau ngài chứng được A-la-hán. Nên ở đây cái sự khuyến khích được ngoại duyên mà ngài ngài thắng vượt, ngài vượt lên trên để chứng đạo. Đây là một trường hợp của ngài Harita. Như vậy chúng ta tổng kết nè: có gia đình rồi xuất gia, khởi lên được cái tư tưởng đạo lý một cách bất chợt là do nhân duyên đời trước có căn tu rồi. Giai đoạn đầu ngài cũng không điều phục được tâm, cũng giống như mình bây giờ vậy, khó điều phục được tâm.

[4:41]Tuy nhiên khi mà được khuyến khích mãnh liệt bởi một cái nhân duyên nào đó thì người ta bắt đầu từ đó nhiếp được tâm để đi sâu vào thiền định mà chứng được đạo. Trường hợp thứ hai: Dasaka trong trang 19. Do nghiệp của mình, ngài sinh vào thời Đức Phật hiện tại, con của một người nô lệ của Anathapindika, tức là ngài Cấp Cô Độc. Cấp Cô Độc có một người nô lệ phục vụ thì ngài Dasaka này là con của người đó, và được giao việc gác cửa vào tịnh xá Jetavana, tức Kỳ Viên. Được nghe đức tính và nguyện vọng của ngài, tức là ngài đã phát tâm xuất gia, ông Anathapindika giải thoát cho ngài khỏi vòng nô lệ và ngài nói ngài sẽ sung sướng nếu được xuất gia.

[5:32]Do vậy, ngài được xuất gia ngay. Nhưng khi được xuất gia, ngài trở thành biếng nhác, thụ động, tiêu cực, không chịu cố gắng để thoát khỏi sinh tử và ngủ quá nhiều sau các bữa ăn. Khi đến thời thuyết pháp, ngài lựa một chỗ ngoài vòng Tăng chúng, tìm một góc mà ngồi ngáy. Thế Tôn nghĩ đến việc làm trước của ngài nên nói lên bài kệ này để khích lệ ngài: "Ai hôn trầm, ăn nhiều, Nằm ngủ lăn qua lại, Như heo lớn ăn no, Kẻ ngu tiếp thai sanh." Suýt Phật chửi đúng hông? Khi nghe vậy, Dasaka trở thành dao động, hốt hoảng và phát triển thiền quán. Ngài chứng quả A-la-hán, rồi ngài suy nghĩ: "Bài kệ của Thế Tôn đã khích lệ ta nhiều" và ngài nói lại bài kệ này.

[6:19]Như vậy, dù cho bài kệ chống đối ăn nhiều, bài kệ trở thành lời tuyên bố về chánh trí của ngài, nên mỗi ngài nói một khía cạnh đơn giản thôi. Ở đây, chúng ta nhìn thấy điều này, và chúng ta đoán cái cái sự liên quan của nó. Thứ nhất, là ngài sinh vào làm con của một người nô lệ. Thứ hai, cái thể hiện hiện tại của ngài là cái lười biếng. Vậy ai tìm ra được cái sự liên hệ giữa hai điều này?

[6:52]Ai nhận ra được? Như Nhường nhận được không? Tổ Hạnh? Hai Hạnh, Hạnh nào giơ tay cũng được. Thầy đố thôi. Dĩ nhiên là nghiệp đời trước, nhưng mà nghiệp đời trước như thế nào phân tích cho ra. Ông Hạnh kia? Cũng dám nghiệp đời xưa lắm. Sao? Có liên quan gì không?

[7:22]Cô Thúy? Sư Minh Trung? Sư Hải?

[7:31]Thầy nói ra luôn nè, nó như thế này thôi. Thật ra cái khuynh hướng mà dãi đãi, lười biếng, ham hưởng thụ của ngài ở kiếp này đó lặp lại của những kiếp trước. Mà những kiếp trước ngài cũng từng là một người dãi đãi, lười biếng, thích hưởng thụ. Mà một người như vậy thì có phước hay có tội? Một người mà mình hưởng thụ nhiều hơn là mình đóng góp cho xã hội, cho cuộc đời thì mình có mắc nợ không, mắc nợ cuộc đời không? Mắc nợ nhiều, phải không? Chính cái nhân mà mắc nợ cuộc đời, mắc nợ xã hội, đời này phải làm nô lệ để trả nợ cho người ta. Cái nguyên nhân nằm chỗ đó. Cho nên chúng ta nhìn cái cuộc đời của mình mà để ý,

[8:20]ví dụ mình kiểm qua một tuần, qua một tháng mà mình thấy cái điều mình hưởng thụ với cái điều mình đóng góp cho cuộc đời, cho Phật pháp nhiều hay ít so với cái hưởng thụ của mình. Nếu mình thấy mình đóng góp không bao nhiêu mà mình hưởng thụ quá nhiều thì biết chắc đời sau coi chừng sinh làm con người nô lệ để trả nợ cuộc đời. Còn nếu mình làm lụng rất nhiều mà mình hưởng thụ rất ít thì đời sau cái phước mình dư để mình sinh vào một nơi sung sướng, nhân quả là vậy. Có một chị Phật tử đó hỏi tôi là: "Sao con thấy nhiều vị nhiều Thượng tọa, Sư bà, Hòa thượng công đức rất lớn mà khi chết chết đau khổ quá?

[8:58]Rất hiếm vị chết một cách tự tại, an nhiên được. Con thấy mấy vị chết còn đau khổ hơn người đời nữa, không hiểu. Rồi con có đi hỏi, mấy thầy nói thì có nghiệp phải trả cho xong, nhưng mà câu nói đó không thuyết phục được."

[9:14]Còn thấy những vị đó có công đức lớn mà tại sao như vậy? Thì tôi mới hỏi lại là: "Công đức là cái gì? Làm được cái gì gọi là công đức?" Thì thấy những vị đó phước lớn, chùa đông, chùa to, Phật tử đông, sống cuộc đời sung sướng, công đức đó thấy không? Cái đó không phải công đức. Đó không phải công đức. Phải không? Cái mà người ta cung phụng mình quá nhiều, cái đó mình hết phước chứ còn gì nữa. Gặp đâu người ta lạy đó, người ta cúng mình món ngon vật lạ mà nhiều khi trong khoảng một tháng, một năm đó vị hòa thượng đó không giảng được câu pháp nào nhiều hết. Cái ảnh hưởng không có nhiều, không có dạy dỗ gì được ai nhiều,

[9:50]chứa cực khổ gì lắm, cứ sống hưởng nè, rồi người ta cứ mời đi trai tăng nè, chứng minh vị hòa thượng là làm lớn, chứng minh trai tăng buổi lễ rồi có công đức lớn. Mà không biết có có công đức gì không mình không biết, nhưng mà trước mắt thấy hòa thượng không làm gì được nhiều cho Phật pháp, mà chỉ hưởng sự cung kính và cúng dường người khác nhiều. Còn ví dụ như là xây chùa to, thì cái xây chùa to có chắc là công đức không? Nếu cái chùa đó từ nơi đó nó không có làm cho đạo đức được hưng thịnh mà chỉ bày ra được một cái hình thức, mà đôi khi còn quyên góp quá nhiều, sự tốn kém quá nặng, mà nếu mà cái chùa đó trong đó không

[10:28]có những người tu tốt, không có những bài pháp được giảng sâu xa thì có chắc cái chùa đó là công đức hay không? Mà nói là nơi đó Phật tử đông, Phật tử đông mà có chắc là vị hòa thượng đó dạy dỗ được nhiều hay là toàn dạy chuyện mê tín? Người ta đến vì đó người ta không cải tạo được đạo đức của mình, mà người ta thường là chỉ có thêm mê tín, có chắc là công đức không? Đó, mình thấy, nên người tu cũng vậy, người đời cũng vậy. Những cái quan niệm về sự tu hành, về cái công đức nào giờ chúng ta hiểu coi chừng chúng ta hiểu sai. Rồi suốt một đời tu mình không có công đức gì hết. Thấy thì cứ càng ngày càng lên chức,

[11:05]Sa-di lên Tỳ-kheo, Đại đức, Thượng tọa, Hòa thượng, được người ta cung phụng, cúng dường đủ cách, nhưng cuối cùng cái chết thê thảm tức là báo phước mình đã hết, mà cũng báo mình biết qua đời sau là đọa.

[11:19]Nên điều đó không chắc, cẩn thận. Như ngài Dāsaka cái khuynh hướng giãi đãi, hưởng thụ của ngài từ đời trước kéo qua đời này, và nó hiện luôn cái quả báo cho biết là sinh làm con người nô lệ để phải phục vụ lại cuộc đời, trả nợ cuộc đời. Cho nên chúng ta ráng siêng năng mà làm cái lợi ích. Mình nghĩ cái lợi ích đó dù là trong cái cõi chùa, trong Phật pháp hay là đứng ở thế gian cũng vậy, phải nghĩ là mình đóng góp được nhiều hơn là cái hưởng thụ của mình. Đây mình nói luôn chuyện ngoài đời, ví dụ như một người đi làm ngoài xã hội cũng vậy, mà cứ ước mơ làm sao cho lương cao, địa vị cho lớn, không cần làm gì nhiều mà vẫn có

[11:56]xe con, có tài xế riêng, được hưởng thụ như nọ, mấy người đó về cuối đời là nghèo khổ, mà kiếp sau nghèo. Còn coi chừng cái ông công nhân mà ổng đắp đường ổng làm quần quật, lương tháng hai ba trăm ngàn á, ổng làm nắng mưa rồi dồn dập ngoài đường ngoài đội nắng đội mưa làm, coi chừng kiếp sau ổng lên giám đốc, bởi cái đóng góp của ổng nhiều hơn cái hưởng thụ. Nên cuộc đời này mình không đủ cặp mắt nhìn cái nhân quả, mình sẽ không lý giải được, có những cái nó lật ngược lạ lùng lắm. Thấy người ta đang là đi lên, coi chừng là đang đi xuống; thấy người trong thân phận nghèo hèn, coi chừng người ta đang đi lên.

[12:30]Bây giờ mình vậy, có một cái chùa ở Bình Dương, cái ông thầy đó ổng quan niệm lạ lắm. Mấy ông Sa-di mà mới vô tu, mấy ông điệu mới vô tu, ổng cho hưởng thụ, ngủ, ăn rồi thoải mái, nhưng mấy ông Tỳ-kheo, nghĩa là càng tu lâu chừng nào, giới lớn chừng nào thì ổng đè sói trán luôn, ổng bắt làm quần quật quần quật. Nghĩa là đi mà gánh phân, gánh gì là mấy ông Tỳ-kheo đi, còn mấy chú Sa-di: "Ôi mới tu nó đâu có tâm đạo, để nó chơi." Ăn gì: "Ôi mấy đứa mới cho nó ăn cho ngon, nó chưa quen. Còn mấy ông nhịn cho người ta ăn." Thầy quan niệm vậy hay. Thấy kỳ cục mà hay. Trong khi mình cứ nghĩ cái người mà tu lâu,

[13:05]cái giới lớn là cái người thôi bớt làm bớt công quả phải không, chỉ ngồi hưởng sự cung kính, cúng dường người khác, nhưng mà không ngờ cái đó là đàng, đang đọa. Còn mấy ông mới vô thì bắt làm nhiều, cực khổ. Trong khi ông thầy ông hòa thượng đó ổng lật ngược lại: Mấy ông mới vô tâm chưa lớn, đạo đức chưa nhiều, không cho làm nhiều, cho hưởng; còn tu càng lâu thì mấy ông phải càng chịu cực khổ tại mấy ông hiểu đạo hơn người ta mà, nên phải có phát tâm hơn. Lý luận ông đó coi chừng hay đó, nên mình có thể bắt chước được. Nên càng hiểu đạo, càng tu lâu mình càng phải hy sinh nhiều hơn. Giờ qua ngài Gavampati trang 27.

[13:46]Trong thời Đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sāvatthi trong một gia đình Bà-la-môn và được gọi là Ajidata. Khi lớn lên, ngài thấy Đức Phật hiện hoá thần thông song hành. Cái này trong những cái bài sớ và những bài kinh khác có có diễn tả lại cái trường hợp mà Đức Phật hiện thần thông song hành. Lần đó ngài trở về Ca-tỳ-la-vệ ngài biểu diễn thần thông. Ngài song hành tức là hai cái trái ngược nhau, một cái trên thì hiện ra nước, dưới thì hiện ra lửa, hoặc trên hiện ra lửa, dưới hiện ra nước. Đang ở trên cao hiện, chợt hiện dưới thấp, đang ở bên đông hiện qua bên tây, hiện một thân thành nhiều thân, nhiều thân thành một thân, cái lần mà khởi thần thông song hành này.

[14:24]Ngài khởi lòng tin và xuất gia, lấy một đề tài để hành trì. Ngài đi vào rừng Paciravamsa và được biết với tên là Gavampati. Phát triển thiền quán không bao lâu, ngài chứng quả A-la-hán, rồi ngài đi đến đảnh lễ Đức Phật ở Sāvatthi. Các bà con ngài nghe tin ngài đến liền cúng dường ngài rất nhiều. Khi ngài muốn trở lui lại khu rừng, các bà con ngăn lại nói rằng rừng núi nhiều muỗi và ruồi lằng rất khó sống. Ngài trả lời đời sống rừng núi thích hợp với ngài và ngài nói lên chánh trí của ngài với bài kệ: "Trong núi rừng rộng lớn bị muỗi lằng đốt cắn, như voi đầu chiến trận, hãy khéo sống chánh niệm."

[15:07]Trong cái trường hợp tu hành của ngài Gavampati này chúng ta thấy có hai điều. Điều thứ nhất là ngài phát khởi niềm tin từ cái sự chứng kiến thần thông của Đức Phật. Ở đây chúng ta lặp lại một quan niệm về thần thông là có một số người thích thần thông, ví dụ như đến ông thầy đó mà ổng cho cái phép về làm ăn, làm thịnh lên, tin ông thầy đó ổng có khả năng có thần thông, tin, đến làm đệ tử, đi cúng dường. Đó là trường hợp người tin mê thần thông mà không có chánh kiến, là một cái cực đoan. Còn một người bác thần thông và nói tu đạo Phật là không có thần thông, đạo Phật chỉ là cái triết lý, là đạo lý để mình tu sống được an nhiên,

[15:58]nói tới thần thông là tà đạo, đây là một cực đoan thứ hai. Còn trong đạo Phật, người tu đắc đạo phải có thần thông, tu ít thần thông ít, tu nhiều thần thông nhiều. Tuy nhiên cái thần thông đó nó đặt trên nền tảng của đạo đức, không có phô trương, không có khoe khoang, chỉ sử dụng khi cần để xác tín một điều gì đó, khi cần để làm một cái lợi ích gì cho đạo thì sử dụng, còn ngoài ra thì lặng lẽ, giấu kín một cách khiêm tốn, nhẹ nhàng. Có những trường hợp như đời này vậy, xuất hiện nhiều giáo chủ, họ lập ra những cái giáo phái cuồng tín và lầm lạc, buộc người ta phải tin vào những cái thần thông mơ hồ do họ vẽ vời.

[16:46]Như bên Mỹ á, có cái ông đó giáo chủ tên là David Koresh, à nói là ngày tận thế sắp tới, bao nhiêu người phải tập trung về sống trong cái khu trại của ổng, dưới đó ổng giấu vũ khí, lần đó chính quyền Mỹ phải tập trung đánh phá rồi ổng bắn hết tất cả tín đồ của ổng, ổng đốt cháy tất cả, ổng tự sát luôn. Khi mà cảnh sát ập vô được thì tất cả đều bị cháy thiêu hết mà khám xét thi thể thì người nào cũng có một dấu đạn bắn trên đầu hết, là những giáo phái cuồng tín và lầm lạc. Như hiện nay bên Nhật Bản, vừa rồi mới bắt một ông giáo chủ, ông này thì ổng lai căng kết hợp với đạo Phật, ổng để râu tóc dài, coi đạo mạo lắm, người ổng lớn con, cũng mặc cái áo vàng khoác.

[17:31]Mà tín đồ nào theo ổng là phải dâng hết tài sản cho ổng. Ổng nói sắp tận thế mà chỉ có đạo Phật mới cứu vớt được cuộc đời. Nói thì nghe thì đúng, nhưng mà ai theo ổng là phải cúng hết tài sản, ổng mua hết mấy ngàn hécta đất bên Nhật, đất bên Nhật thì mắc ghê lắm mà ổng đủ tiền mua hết. Ổng mua luôn nguyên một cái đài phát thanh của Nga đem về gắn để phát sóng mà truyền bá tư tưởng tôn giáo. Rồi người ta thấy kỳ kỳ, nhưng mà sau này bắt đầu có những vụ thế này cảnh sát mới bắt: Có một người em gái muốn theo ổng, người anh trai cản, mà theo ổng là phải dâng hết gia tài, người anh trai cản à người anh trai bị mất tích.

[18:09]Rồi có một số người vậy, hễ mà cản đệ tử đến với ổng thì những người đó bị mất tích. Sau cảnh sát nghi và bắt luôn, rồi điều tra quá chừng manh mối ra. Hiện nay như vậy nó xuất hiện những giáo phái cũng là những cái niềm tin lầm lạc, mê tín về những cái mơ hồ, huyền bí và thần thông. Bây giờ cũng vậy, nó không xa đâu, ngay trong dãy núi Dinh mình thôi, cũng xuất hiện những cái giáo chủ mơ hồ, âm thầm để chuẩn bị làm một cái giáo chủ vậy. Họ cũng khoe khoang về thần thông, về sự liên hệ với Thượng đế ở trên cõi trời, họ nói họ là những người trên cõi trời sai xuống để cứu dân độ thế, họ nói họ có khả năng tiên tri, chữa bệnh, nghĩa là kêu mưa gọi gió,

[18:52]liên hệ thấy Phật, thấy thần núi này kia nọ, họ nói những điều huyền hoặc. Họ chỉ nói thôi, nhưng mà có những người dễ tin, không dám không tin, không tin sợ mang tội với một người đáng kính, cái người này tin đồn một đồn mười, đồn mười đồn trăm lên, lần lần họ trở thành một giáo chủ dựa trên cái niềm tin sai lầm và cũng chỉ là sự lừa gạt. Cái niềm tin vào thần thông như vậy không phải đạo Phật. Còn trường hợp những người bác thần thông hoàn toàn, hễ nghe ai nói là người đó có khả năng tâm linh mạnh, có khả năng biết được kiếp trước kiếp sau thì bác, tà không phải đạo Phật. Cái người bác đó cũng sai luôn.

[19:31]Chứng tỏ cái người bác này chưa tu tới đâu hết. Bởi vì tu thật sự đúng là đắc đạo đạo Phật có thần thông. Đó là điều khẳng định, như Đức Phật và các vị A-la-hán đã thể hiện. Cho nên chúng ta phải hiểu cái thần thông của đạo Phật dựa trên cái cái đạo đức vô ngã, người đó không khoe khoang, không nói mình là đắc đạo, không nói mình là người cõi trên, mà biết người để giáo hóa. Đôi khi dùng để xác tín một niềm tin giống như Đức Phật, lần đó để chứng tỏ để xác tín một cái chân lý mầu nhiệm xuất hiện trước dân chúng ở Ca-tỳ-la-vệ, Ngài thể hiện thần thông. Mà Ngài thể hiện thần thông khá nhiều lần để xác lập niềm tin cho người khác để người đó tiến tu.

[20:16]Nhưng khi người đó tin thì Ngài không tiếp tục lôi kéo họ hay phô trương về cái thần thông nữa. Mà khi họ đã tin rồi thì Ngài giảng về nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, Tứ Diệu Đế. Buộc họ phải giữ giới, phải hành thiền để họ tự vượt lên trên chính họ, chứ không phải là tin thần thông của Đức Phật để nhờ cái thần thông đó cứu rỗi. Nó khác. Nó khác với những thần thông tà mị, nghĩ rằng các giáo chủ có thần thông cứu rỗi cho mình, mình không cần phải làm gì nhiều, chỉ tin thôi. Còn đối với Đức Phật, mình tin tức là tin điều Đức Phật nói đúng, Đức Phật là bậc đã giác ngộ, có khả năng đó. Bây giờ hãy nghe theo Ngài, thực hành theo con đường của

[20:58]Ngài, mình sẽ đạt được như những gì Ngài đã đạt. Đó, cái quan niệm thần thông của đạo Phật nó khác. Như đồng tiền nó không có tội, cái tội là do người sử dụng thôi. Cái người mà dùng đồng tiền để mà hại người khác, để thụ hưởng trụy lạc xa hoa thì đồng tiền nó trở thành có tội. Còn nếu mình dùng đồng tiền đó để giúp đỡ người nghèo, để làm các việc giáo dục, giúp đỡ tăng ni tu hành, đồng tiền đó có phước. Thần thông cũng vậy, không có tội hay có phước do cách mình sử dụng, mà chỉ những người có đạo đức, đạt được tâm vô ngã thì sử dụng thần thông đó chân chính, đúng đắn. Đó. Cái tính chất thứ hai của vị A-la-hán này là ưa thích rừng núi, ưa thích rừng núi.

[21:46]Thường người tu khi mà cái tâm danh lợi đã chấm dứt, các ngài không có bon chen thì bây giờ mỗi người chúng ta nói lên cái quan điểm của mình, đối với một vị thánh tu hành mà thường thích ở nơi vắng vẻ, rừng núi thì điều đó là hay hay là không hay?

[22:09]Sư?

[22:13]Sư nghĩ điều này hay hay không hay? Hay hả? Vì sao hay? Vì người ta nghĩ nó không có lợi cho cuộc đời thì sao? Riêng thì hay mà nói chung không hay. Ưu điểm này mà nhược điểm cái kia phải không? Dạ, cảm ơn sư. Có ai có ý kiến gì thêm không? Mời sư. Ừm. Như vậy là sư cũng không đồng ý lắm với cái việc mà mà lánh vào nơi vắng vẻ của Ngài phải không? Dạ. Cảm ơn sư. Có ai có ý kiến gì nữa không? Dạ mời sư Khang Hải. Thì chúng ta sẽ phân tích cái điểm này nó rất là lạ. Đúng đó, đúng là quý sư mang trong lòng cái hoài bão Bồ tát, lý tưởng Bồ tát, nên trong lòng nghĩ mình ước ao tu hành đắc đạo rồi mình

[23:00]xả cái thân mạng này không tiếc để đi trong luân hồi làm lợi ích chúng sinh. Nên đứng trên quan điểm đó, quý sư không có hoan hỷ lắm với cái thái độ của Ngài khi đã chứng A-la-hán rồi mà cứ lánh vào rừng núi, phải không? Nói chung là quý sư đều có quan điểm đó. Ở đây chúng ta sẽ phân tích hai điểm trong trường hợp này. Trường hợp thứ nhất là cứ phân tích khía cạnh tốt của Ngài đi, là với cái sự thanh tịnh yên lặng, không nói nhiều, thích nơi vắng vẻ, Ngài vẫn có một lời dạy cho mọi người, chứ không phải là không. Đó vẫn là một lời dạy, tuy một lời dạy khá khiêm tốn, dạy cho người đời họ nên tìm cái sự thanh tịnh vắng vẻ mà Ngài lấy cái

[23:42]thân mình làm tấm gương, đó cũng là một lời dạy khá tốt, chứ không phải là không. Có những vị dùng lời nói để thuyết pháp, có những người dùng cái đời sống mình làm một cái lời dạy, thì trường hợp Ngài Revata này là trường hợp đó. Bây giờ chúng ta phân tích khía cạnh thứ hai nè. Cũng điều lạ là tuy đạt được cái quả vị A-la-hán giống nhau, nhưng sau đó mỗi vị vẫn có một cái khuynh hướng sống hơi hơi khác nhau. Đây là điểm lạ. Chúng ta mà đọc qua kinh sách, chúng ta sẽ thấy mỗi vị có một khuynh hướng khác nhau. Có những vị họ giống nhau trên cái phong thái trầm mặc, đạo đức, hiền lành, sáng suốt, trí tuệ.

[24:30]Đại khái những cái điểm đó thì họ chung nhau hết, nhưng mà trong cái khuynh hướng để mà sống, mà làm việc, giao tiếp, mỗi vị đều có hơi khác khác khác khác nhau. Đây là điểm mà chúng ta để ý, lạ như vậy.

[24:46]Có ai biết tại sao không? Trong đời tôi vậy, như trong hiện tại, tôi cũng gặp vài vị tu hành rất là tốt. Tôi cũng chưa muốn nói tên lắm, tại vì thời gian còn quá sớm. Thì trên cái công phu các ngài rất là sâu, nhưng lạ một điều là cái cái quan điểm về làm việc, sống của các ngài vẫn khác khác khác nhau. Mặc dầu con đường đạo thì rất là chung. Qua những trường hợp mà tôi chứng kiến các vị đó, tôi mới xem lại kinh sách thì thấy cũng có điều đó trong cái lịch sử Phật giáo như vậy. Nguyên nhân tại sao, quý sư biết không? Nó có hai nguyên nhân.

[25:35]Một nguyên nhân là do cái tâm nguyện nhiều đời. Nên cái tâm nguyện đó nó tạo thành một cái khuôn, một cái nếp, một cái định hướng cho mình ở những kiếp sau. Vị đó là phát nguyện đắc đạo, giải thoát và sống cuộc đời thanh tịnh làm gương, nên nó định hướng cho vị đi theo cái hướng đó, nên khi các ngài giải thoát rồi, các ngài cứ sống lặng lẽ, âm thầm để làm gương mà thôi. Mặc dầu cái trí tuệ, khả năng thì phi phàm. Rồi có một lần tôi nói về Niết bàn, khi các ngài nhập Niết bàn, ở trong Niết bàn đó tâm cảm ứng với tất cả chúng sinh, lúc đó cái tâm cảm ứng tự nhiên đó nó mới trở thành sự gia hộ bao la và trùm khắp đối với chúng sinh.

[26:21]Tâm đại bi nó phủ trùm, đó là cái tâm đã ở trong Niết bàn. Còn khi mà chưa nhập Niết bàn, các ngài sống dường như thụ động và tiêu cực, cái đó là do cái định hướng nhiều đời nó tạo thành. Cái thứ hai nữa là nói nguyên nhân gần là mỗi người nó có cái não bộ. Trong cái não bộ này, những cái tế bào não nó sắp xếp theo những cái nếp, những cái khuynh hướng không ai giống ai, nó tạo thành cái tính khí, cái nếp suy nghĩ, cái khuynh hướng của từng người, từng người. Điều này không ai dạy cho ai được, mà nó là một cái nhân quả. Như có một đứa bé ở gần xóm của đứa em tôi ở Sài Gòn, nó mới 12 tuổi à, nhưng mà nó rất là hỗn láo và dữ dằn,

[27:10]kêu mẹ nó bằng mày, chửi mắng một cách hỗn xược mà chung quanh nó không ai có một cái tấm gương để dạy nó như vậy hết, tự nó hung dữ như vậy. Mẹ nó mà có gì nó nói: "Tao không cần mày nữa." Nói một câu như người lớn mà hung dữ vô cùng. Còn trong khi những đứa trẻ khác, có đứa thì tự nhiên nó dữ rõ ràng, có đứa mới sinh ra mình thấy nó hiền rõ ràng. Nên nói là cái nhân quả đời trước tạo thành một cái bộ não, trong bộ não đó từng cái tế bào sắp xếp sắp xếp nó tạo thành ra một cái giống như một chương trình ghi sẵn trong cái bộ nhớ của nó, là nó cứ theo cái chương trình đó mà nó sống. Như chúng ta mà có học vi tính, học cái máy tính bây giờ chúng

[27:49]ta sẽ thấy, máy tính nó hoạt động theo từng cái chương trình. Đưa chương trình nào vào nó sẽ hoạt động theo chương trình đó, còn ngoài chương trình nó không biết làm. Mình nói sơ sơ ra, cái kiến thức về máy vi tính cũng rất cần, các tôn giáo đang lần lần áp dụng. Ví dụ như là một cái chương trình đưa vô máy tính là chương trình để lập văn bản thì họ gắn cái đĩa vô, cung cấp chương trình vô trong máy tính, bắt đầu người này nhấn nút, cái đánh máy vô trong đó, đánh máy sửa câu, sửa chữ, xếp chữ, chữ to, chữ lớn, chữ hoa, chữ kiểu thì máy tính nó thực hiện được hết. Nhưng rút cái đĩa ra, không dùng chương trình đó nữa,

[28:26]đưa cái chương trình kế toán Lotus vô thì nó không có lập văn bản mà bắt đầu nó thực hiện những bảng văn kế toán, danh sách của người, nhân, chia, trừ, cộng, nhấn nút một cái nó thay đổi toàn bộ những cái số liệu trong đó hết mà mình không cần phải làm rất chi tiết. Nếu rút cái chương trình đó ra, đưa cái chương trình đồ họa vô, nhấn nút cái bắt đầu nó hiện lên những cái hình ảnh ở trong mình điều chỉnh, mình sửa thành những cái hình nhà, hình khối, hình con vật, con người này kia nọ tùy ý mình. Rút chương trình đó ra, đưa chương trình y khoa vô thì bắt đầu nó chẩn bệnh được. Đưa số liệu vô nó cho biết cái con bệnh như thế nào, thế nào.

[28:57]Đó, cho nên là máy tính nó hoạt động theo từng chương trình thì con người mình cũng vậy, mỗi người mình sinh ra mình mang cả một cái chương trình trong não mình sẵn, mình cứ theo cái chương trình đó mà sống. Có người lớn lên là cứ đi ăn cướp, vì trong đó chương trình nó quy định là tướng cướp. Có người lớn lên phải vô chùa tu, tại vì đời trước mình gài cái đĩa đi tu vô trỏng mất tiêu. Vậy. Đó là như vậy. Cho nên các vị A La Hán vậy, do những đời trước các Ngài gài vô cái đĩa, nên lớn lên nghĩa là bình thường khi nhập định vô Niết Bàn thì vị nào cũng giống như vị nào. Nhưng khi xuất định trở lại, sống với cái não đó,

[29:35]thì cái chương trình đó nó vẫn chi phối đời sống các Ngài. Các Ngài vẫn sống theo cái khuynh hướng đó. Nhưng mà nó được kiểm soát bởi trí tuệ là không bao giờ có những cái hành động bậy, những lời nói sai nữa. Còn những cái khuynh hướng mà vô hại, nó không phải là phi đạo đức thì các Ngài vẫn sống theo ý mình, vẫn sống theo cái khuynh hướng đó. Giống như trường hợp mà cái sự tranh cãi giữa Ngài Phú Lâu Na với Ngài Ca Diếp trong cái lần kết tập kinh điển Đức Phật cũng vậy. Ngài Ca Diếp thì có khuynh hướng là giữ nguyên mẫu cái đời sống khắc khổ như lúc Phật còn tại thế. Còn Ngài Phú Lâu Na đã sớm thấy trước sự phát triển.

[30:17]Ngài nói là theo hoàn cảnh của xã hội mà đạo Phật phải có sự linh hoạt, biến hoá, không sai với cái gốc thôi, chứ không thể cố chấp mãi trên cái nề nếp hình tướng sự sinh hoạt đó được. Hai Ngài mặc dầu đều là hai vị đại A La Hán mà hai khuynh hướng, hai quan niệm khác hẳn nhau. Mà quan niệm nào cũng có phần đúng của nó chứ không phải sai. Đó, đây là điểm chúng ta để ý. Nói về Ngài Phú Lâu Na này sẵn chúng ta nói thêm một điểm nữa là về Phật giáo phát triển hôm trước chúng ta có nói là cái gọi là Phật giáo Đại Thừa đó thực ra là không phải do Phật thuyết, mà do những vị sau này vì cái nhu cầu của thời đại nên phải viết thành

[31:01]những bài kinh Đại Thừa để mà phát triển đạo Phật theo kịp với thời đại. Những bản kinh Đại Thừa đó nó dựa vào tư tưởng của kinh Nguyên Thủy chứ không có đi rời cái gốc kinh Nguyên Thủy mà nó phát triển lên thêm. Tuy nhiên, do ý riêng của mình nên có những điều trong kinh Đại Thừa nó phù hợp với kinh Nguyên Thủy, nó phát triển sâu sắc hơn kinh Nguyên Thủy, điều đó tốt. Nhưng cũng có những điều khi mà các Ngài viết trong kinh Đại Thừa gọi là phát triển kỳ thực nó bước ra ngoài ranh giới của đạo Phật, nó thành ngoại đạo luôn. Nó có những trường hợp đó. Bây giờ chúng ta sống trong thời đại này, chúng ta cũng cần phát triển đạo Phật

[31:40]để nó phù hợp với thời đại, để nó phù hợp với tương lai sắp tới của thế giới. Thì cũng vậy, chúng ta cũng phải dựa vào kinh Nguyên Thủy chứ không nên dựa nhiều vào kinh Đại Thừa. Tại vì sao? Tại Đại Thừa đã là một bước phát triển rồi, chứ nó không phải là cái gốc nữa. Chúng ta dựa vào Đại Thừa mà chúng ta phát triển thêm một bước nữa, cách rất xa giáo lý Nguyên Thủy. Chúng ta xem Đại Thừa để chúng ta tham khảo, nhưng chúng ta dựa vào gốc Nguyên Thủy, đồng thời chúng ta kết hợp vào những tư tưởng, những thông tin của thời đại để chúng ta chuẩn bị thành một đạo Phật cho tương lai. Có những vị tu hành, những vị hòa thượng tâm huyết

[32:19]mong muốn đi tìm một cái Phật giáo cổ. Có vị thì đi tìm cái Phật giáo đời Lý - Trần của Việt Nam. Có vị thì muốn tìm lại cái Phật giáo thời Đường - Tống của Trung Hoa. Có vị thì muốn đi tìm một cái Phật giáo thời Long Thọ bên Ấn Độ. Có những vị thì đi tìm cho đúng cái Phật giáo Nguyên Thủy thời Đức Phật. Nhưng cái điều mà chúng ta hay bỏ quên là đạo Phật cho tương lai, cho cái thế kỷ sắp tới, khi mà khoa học nó tiến như vũ bão, nó kéo theo mọi định chế khác của xã hội kéo một cách dữ dội, thay đổi hết tận gốc rễ mọi quan niệm, mọi cái khuynh hướng cũ. Chúng ta cần một đạo Phật cho cái thời đại sắp tới.

[32:59]Chúng ta mãi đi tìm đạo Phật của quá khứ, chúng ta quên cái đạo Phật để dành cho tương lai. Mà một đạo Phật để dành cho tương lai nó gồm những điều gì? Nó gồm dựa vào cái gốc Nguyên Thủy Phật giáo. Và thứ hai là cái nhìn, cái quan sát cái xã hội hiện tại, nắm bắt được những thông tin của khoa học trong hiện tại. Kết hợp giữa cái kiến thức khoa học và giáo lý Nguyên Thủy, chúng ta hình thành được một đạo Phật chuẩn bị cho tương lai. Để khi mà khoa học mà đến với đạo Phật, họ không tìm thấy điều vô lý nữa vì mình đã phù hợp rồi. Bây giờ chúng ta nói về ngài Sopaka, trang 28. Ngài sinh trong thời Đức Phật hiện tại ở Savatthi,

[33:51]từ một người đàn bà rất nghèo khổ. Khi bà mẹ đau đẻ, bà bất tỉnh và người ta tưởng bà đã chết nên đem thân bà đi thiêu. Một phi nhân không cho lửa đốt cháy, làm mưa làm gió và những người thiêu bỏ đi. Đứa con trẻ được sinh mạnh khỏe còn người mẹ bị chết. Vị phi nhân hóa làm người bế đứa con và bỏ trong nhà người giữ nghĩa địa, nuôi đứa con trong một thời gian với đồ ăn thích hợp. Sau đó người giữ nghĩa địa nhận làm con nuôi và Sopaka lớn lên với Suppiya, con trai nhỏ của người giữ cửa. Vì ngài sanh ở nghĩa địa nên đặt tên là Sopaka. Không biết Sopaka nghĩa là gì nữa, chắc tiếng Độ đại khái cái nghĩa giống vậy.

[34:37]Khi ngài bảy tuổi, Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh vào buổi sáng nhìn xem những ai có thiện căn tốt lành, thấy Sopaka và đi đến nghĩa địa. Sopaka do nghiệp duyên đời trước, đi đến Thế Tôn với tâm tư hoan hỷ và đảnh lễ Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp và Sopaka xin xuất gia. Sau khi được phép người cha nuôi, Sopaka được xuất gia và được dạy tình thương huynh đệ làm đề tài tu hành. Sopaka lấy đề tài này và sống ở nghĩa địa và chứng được cảnh giới thiền tương đương. Lấy cảnh giới thiền làm đề tài căn bản, ngài triển khai thiền quán và chứng được quả A La Hán. Sau khi chứng quả, ngài làm bài kệ, trong ấy ngài nêu cho các Tỳ kheo rõ đề tài tình thương.

[35:19]Huynh đệ tình thân anh em không có phân biệt người thân kẻ sơ. Với tất cả, tình thương phải là một, bao trùm mọi cảnh giới, mọi chúng sinh, mọi thời gian. Như người mẹ tốt lành thương người con độc nhất, cũng vậy đối chúng sinh đủ mọi loài mọi chỗ, hãy có lòng tốt đẹp, thương mến và từ ái.

[35:43]Qua cái trường hợp tu hành của ngài chúng ta thấy nó có vài điểm. Là bài kinh này thì không nói nhưng mà trong các bài kinh khác đều nói thế này: là một vị sinh ra mà đủ cái nhân quả để chứng A La Hán thì người đó không bao giờ chết bậy trước khi chứng chứng quả. Cái nhân một vị mà ra đời để đắc đạo nó có cái nhân quả cố định, không có tránh được nữa. Hình như bài này tôi có giảng trong cái bài Trưởng lão Losaka Tissa rồi ha, nên không lặp lại. Nên trường hợp bà mẹ đau đẻ do cái nghiệp của bà mà đau đến bất tỉnh người ta tưởng bà chết đem thiêu. Nhưng mà một phi nhân, à khái niệm về phi nhân. Phi nhân theo kinh điển được định nghĩa là một loại

[36:28]chúng sinh không phải là người, chữ phi là không phải, nhưng mà sống trong thế gian này có một số thần thông à biến hóa được, lẫn lộn với con người, hoặc ở trong rừng núi trong hang động, và có những cái phi nhân tốt à, có những phi nhân xấu. Có những phi nhân xấu đến nỗi mà họ hay bắt người để ăn thịt, đại khái đó là theo cái tương truyền kinh điển ngày xưa. Đó là cái giống như là quỷ thần hay ma quỷ yêu tinh gì đó. Nhưng có cái lạ là trong các kinh ngày xưa đó cái hiện tượng phi nhân xuất hiện khá nhiều. Tức là thường hay có phi nhân xuất hiện lắm, mình không biết sao. Còn bây giờ mình ít nghe trường hợp đó ha.

[37:14]Có ai nghe nói trường hợp về phi nhân không? Kể mọi người nghe.

[37:21]Hồi xưa sao nghe nói, bây giờ không có? Có lẽ giờ sợ súng đạn, phi nhân đi sạch hết trơn. Nên cái phi nhân cũng còn là một cái nghi vấn, một cái nghi vấn để đó. Rồi cái nghiệp của ngài là cái nghiệp mồ côi.

[37:40]Rõ ràng là một cái người mang nghiệp mồ côi thường là do những cái nhân gì mà bị quả báo mồ côi? Chúng ta thử suy luận về cái nhân quả chỗ này đi. Bao nhiêu trường hợp để làm một người sinh ra bị mồ côi? Để mỗi người nói lên cái nhân. Sư Minh Trung, mời Sư.

[38:06]Dạ gây tình cha con mẹ con xa lìa. Xin nói hơi tổng quát, nói cái đó rõ chứ nói thì hay lắm. Tức là làm cái gì mà gây cha con mẹ con xa lìa.

[38:18]Rồi ai có nghĩ ra được cái nhân gì nữa? Mời Sư Hải.

[38:27]Dạ, dạ đúng, nó cũng là một cái nhân. Đối với thú vật cũng vậy, nhiều khi đời xưa, nhưng đời này mình là người tu hành mình đâu có ác, nhưng đời xưa nào đó mình hay bắt thú mẹ bỏ thú con bơ vơ cũng là một trong những cái nghiệp nhân. Rồi ai nghĩ ra cái nhân nào nữa?

[38:46]Cô Hạnh?

[38:51]Hạnh kia?

[38:57]Giết người cha, người mẹ của đàn con, coi cũng là một cái nhân.

[39:04]Cô Trí, nghĩ ra nhân nào cái nhân nào?

[39:13]Sống ích kỷ không liên hệ đến ai, thân bằng quyến thuộc của mình. Ừm. Cảm ơn mấy con. Xin mời mời Sư Minh Trung bổ sung.

[39:25]Không có tình thương xót đứa trẻ mồ côi, dạ. Dạ cảm ơn Sư. Nghĩa là đôi khi mình thấy trẻ mồ côi cái mình coi thường, khinh bỉ, chọc ghẹo phải không? Nó cũng là một cái nhân, đúng đúng. Hay. Ai có ý kiến gì nữa không?

[39:40]Nó có một cái nhân này nữa mà mấy ông thầy tu hay bị. Cái người lớn lên đi tu không vợ không con nên không hề nuôi đứa con nào hết. Kiếp này ổng đi tu ổng tu chân chính quá thì cái qua kiếp sau ổng tu tiếp, ổng không có bị làm cư sĩ. Nếu mà người tu không chân chính á, qua đời sau sẽ lui lại làm cư sĩ. Mà rất là nhiều nha. 10 người tu qua đời sau còn lại chừng một người tiếp tục tu, chín người trở ra làm cư sĩ. Đa số là vậy, hiếm người nào đời này là thầy tu đời sau được làm thầy tu lắm, rất hiếm. Nhưng mà có cái ông này ổng lỡ xui ổng tu chân chính quá, kiếp này ổng làm thầy tu, kiếp sau ổng làm thầy tu, kiếp sau nữa ổng cứ làm thầy tu.

[40:18]Là ổng cứ làm thầy tu hoài mà tu chân chính nên không bao giờ ổng có con để nuôi, phải không? Không bao giờ có con để nuôi mà cái nhân của ổng cứ lớn lên là ổng nuôi những người lớn lớn không à. Ổng không bao giờ có cái duyên nuôi những đứa con trẻ. Nó cũng là một trong những cái nhân để khiến cho mình khi còn nhỏ không có cha có mẹ. Nhưng mà có khổ không? Không khổ, phải không? Bởi vì do công đức tu hành cho nên nó không có cái duyên có cha có mẹ để không hưởng được cái tình thương yêu trìu mến của người cha người mẹ. Nhưng mà tuy nhiên cũng sẽ gặp được một hoàn cảnh nuôi nấng nào đó tốt đẹp.

[40:52]Tại vì trong suốt đời sống tu hành ở những đời trước người này tốt nên cũng thường hay giúp đỡ huynh đệ, lo lắng cho mọi người. Đó, nó là một cái. Tuy nhiên trường hợp ngài Subhaddā này ta để ý, ngài có bị cái quả mồ côi do cái nhân gì đó không biết. Mà Đức Phật dạy ngài lấy đề tài tình thương huynh đệ làm đề tài tu hành. Rất rộng làm cái tình thương chúng sinh, nên ngài phát triển thành cái tâm từ, cuối cùng ngài nói lên cái chữ huynh đệ rất rộng, ý đó không có riêng là anh em hai ba người tu chung nhau, không phải. Cái chữ đề tài tình thương huynh đệ là mọi người chung quanh mình. Cái huynh đệ này anh em tức là mọi chúng sinh là anh em á.

[41:31]Cái chữ này mình hiểu hơi rộng một chút. Khi mà muốn đắc đạo, muốn đắc được thiền á thì cái tâm mình nó không còn bị thiếu khuyết, phải được bổ sung đầy đủ. Dùng cái chữ bổ sung như Sư Hải là đúng lắm. Ngài cái gì ngài cũng tròn hết nhưng riêng cái mảng của từ ái này bị thiếu, cần phải bổ sung. Nên Đức Phật dạy đề tài từ bi, đề tài từ ái thương yêu để bổ sung, lấp cho đầy cái tâm còn thiếu của ngài. Và ngài nhờ đó ngài đắc được vào thiền định cái đầu tiên. Đó chúng ta thấy cái nghiệp mà ngài phải chịu mồ côi, nó có bắt nguồn từ cái nhân đời trước là ngài thiếu lòng thương yêu với nhiều người. Ngài sống hơi cô độc, hơi lạnh lùng, hơi cứng rắn.

[42:14]Mà nãy cô Trí nói được điểm đó. Tức là ngài có một cái đời sống khá lạnh lùng với mọi người. Tuy những khía cạnh khác, giới hạnh, đạo đức gì đó ngài khá đầy đủ, nhưng tâm từ ái ngài bị thiếu. Trong cái từ ái bị thiếu mà có cái hờ hững đó đó, mà trong cái hờ hững, vô tình đó ngài có gây một số nghiệp nào đó để đời này phải bị mồ côi, không được tình thương yêu chăm sóc từ khi còn nhỏ. Rõ ràng đời trước ngài thiếu lòng từ, đời này mắc quả báo mồ côi. Và Đức Phật dạy ngài đề tài từ ái để lấp cho đầy cái chỗ còn thiếu đó, nhờ đó ngài mới được thiền. Mà khi được thiền định rồi, ngài mới không còn dùng cái từ ái

[42:51]nữa mà ngài từ cái định ngài đi vào được tới chứng A La Hán. Nhưng mà ngài nhớ, khi chứng A La Hán rồi thì cái tâm từ đó nó phát triển vô hạn. Ngài mới nói là: "Với tất cả tình thương phải là một, bao trùm mọi cảnh giới, mọi chúng sinh, mọi thời gian." Câu này thật là hay. Nên có một cái pháp môn là tứ vô lượng tâm, là người này khi mà mình nhiếp tâm được một chút rồi bắt đầu mình dùng cái định đó mình tưởng, rải cái tình thương yêu đến khắp tất cả chúng sinh. Nó tạo thành một công đức vô hạn trong tâm mình. Nhờ cái công đức này sau này mình nhiếp tâm vào định sâu hơn nữa để có thể chứng đạo được.

[43:29]Nên nó có trường hợp như chúng ta biết là người vào định được hay không là do cái phước, do công đức. Mà một trong những yếu tố tạo thành cái công đức của thiền định chính là tâm từ bi. Cho nên ở đây chúng ta tu hành mỗi ngày chúng ta nhớ là khi mình ngồi thiền, mình nhớ rải tâm từ bi đến tất cả chúng sinh, nó làm tăng thêm cái công đức trong tâm mình mỗi ngày mỗi ngày. Nhờ công đức đó được tích lũy, sau này dần dần nó đủ, cái định mình mới được phát triển thêm, phát triển thêm. Còn tâm của một người khô khan quá, cũng khó vào định lắm. Khó vào định. Nên phải phát triển cái tâm từ bằng cách tu thiền quán đề tài đó.

[44:09]Chúng ta để ý điểm này. Là trong cái giáo lý nguyên thủy, thường hay nói là thiếu cái tâm đại bi như giáo lý Đại thừa, phải không? Thường bị kết tội như vậy. Nhưng qua bài kinh này chúng ta thấy điều kết tội đó đúng không? Sai, phải không? Sai, không đúng. Bởi vì rõ ràng đây là một vị A La Hán mà ngài nói về cảnh giới đó, khuyến khích về cảnh giới, cái tâm từ bi đó rất là hùng hồn. Thì như vậy một vị A La Hán đâu phải là không có từ bi như là những cái người mà gọi là Bắc tông Đại thừa kết tội. Qua học cái bài kinh này, chúng ta hiểu được là giữa giáo lý nguyên thủy và Đại thừa không có cái sự ngăn cách như vậy như người ta đã lầm tưởng.

[44:56]Người ta nói là vị A La Hán chỉ được vô ngã chứ chưa chứng được vô pháp như là vị Bồ Tát Đại thừa. Hoặc là nói vị A La Hán chỉ được hết vô minh, chứ không có được cái trí tuệ. Hoặc là nói vị A La Hán chỉ được cái vô ngã, chứ không có được cái đại bi như vị Bồ Tát Đại thừa. Cái điều này như là ngày xưa có giảng rồi phải không? Có phân tích chuyện này phải không? Nên bữa nay không cần nói lại. Chỉ cái khía cạnh là vô ngã và từ bi là hai hay một? Vô ngã và từ bi? Hai hay một? Dạ, đúng rồi, cảm ơn Sư. Vô ngã tức là không còn ích kỷ. Không còn ích kỷ tức là vị tha hoàn toàn. Cái vị tha hoàn toàn đó, mình có thể gọi là đại bi được không?

[45:51]Quá đi chứ gì nữa, phải không? Cho nên vô ngã và từ bi hay đại bi chỉ là một, không khác. Mình hiểu được điểm này mình mới xóa được cái ranh giới mà người ta vẫn gọi là Tiểu thừa, Đại thừa cách sai lầm.

[46:09]Bài 134, ngài Sumangala.

[46:15]Học về các trường hợp đắc đạo của ngài A La Hán thú vị, nhiều. Bữa nay mình đọc ít thôi. Bữa khác mình đọc tiếp. Cái bài trong Sumangala này đó, trong Pháp Cú cũng có nói tới. Mà trong Jātaka, Bổn Sanh cũng có nói nữa. Nhưng mà trong những bài kinh kia nói rõ hơn. Hôm nay vì chúng ta học Trưởng Lão Tăng Kệ nên chúng ta đọc bài này. Nhưng mà tôi sẽ nhắc một số chi tiết mà ở những bài kinh khác đề cập, mà trong đây không đề cập. Ngài sinh ở tại một làng nhỏ gần Sāvatthi, trong một gia đình nghèo khổ, khó. Lớn lên, ngài tự nuôi sống giữa đồng ruộng với cái liềm, cái cuốc và cái cày. Một hôm, vua Pasenadi cúng dường Đức Phật với chư Tăng và ngài

[46:57]đi đến đem theo sữa và bơ cùng với các người làm công khác. Hình như là ngài chỉ làm thuê mang theo thôi chứ không phải là ngài mang đến cúng dường. Khi thấy các tăng ni được cung kính cúng dường, ngài nghĩ: "Các tăng ni này sống trong các nhà cửa được che kín và mặc các y phục tốt đẹp." Và ngài xin xuất gia để hưởng những tiện nghi này.

[47:23]Một trưởng lão Tăng vì lòng từ chấp nhận ngài được xuất gia, cho ngài một đề tài tu hành và bảo ngài đi vào rừng để tu tập. Nhưng trong hạnh độc cư, ngài cảm thấy buồn bã chán nản và đi về lại làng của mình. Khi về, ngài thấy các dân quê cày bừa với áo quần nhớp nhúa, đầy bụi bặm và bị nóng bức. Thấy vậy, ngài trở lại tu tập, đi đến những gốc cây tu tập thiền định, đi tu lại. Sống cô độc và phát triển thiền quán. Cuối cùng, ngài chứng được quả A La Hán. Để nói lên sự giải thoát khỏi nỗi khổ cuộc đời, ngài thốt lên bài kệ này: "Khéo thoát, ôi khéo thoát! Thật sự ta khéo thoát. Thoát ba sự cong queo." Ba cái gì cong queo?

[48:03]"Thoát cong, ta thoát cong với cái liềm," cái liềm nó cong. "Thoát cong với cột với cày," cái cày nó cũng cong. "Ta thoát cực với cái cuốc," cái cuốc cũng cong. Nên ngài thoát được ba cái cong. "Nếu có đây có đây, thật đủ chán đủ chán. Hỡi Sumangala! Hỡi Sumangala! Hãy thiền, hãy thiền định. Hỡi Sumangala, hãy sống không phóng dật!" Đúng ngài nông dân thì làm bài thơ thì thấy thương, cóc gì đâu.

[48:33]Trong Jātaka, trong những cái bài kinh khác, thì diễn tả ngài đi đi rồi về về, ngài hoàn tục tới sáu lần. Ngài xuất gia tới bảy lần lận các ngài, rồi ngài mới chứng quả. Trong cái bài kinh nó nói như thế này: là khi mà ngài ngài xuất gia xong, ngài sống rừng, sống đời sống tu hành, bởi vì tâm của ngài không có phát triển mạnh, cái ngài chán, cái ngài bỏ về. Bỏ về thấy cực khổ, cái ngài lại đi xuất gia. Xuất gia một thời gian, cái thấy buồn, cũng hát karaoke được cái ngài lui về. Cứ làm tới làm lui sáu, bảy lần. Cái lần cuối cùng, ngài chứng tới Tam thiền. Do chứng Tam thiền, cái ngài có cái trí tuệ,

[49:13]ngài mới biện luận được đạo lý với các vị Trưởng lão rất là lanh lợi. Thì ai cũng nể ngài, nhưng mà có một vị Trưởng lão nói rằng: mặc dầu được như vậy, nhưng cái cái sở đắc đó không giữ được cái người này ở lại trong tăng chúng đâu. Ngài nói thiệt, một thời gian cái ngài cũng gói ngải đi về hát karaoke lại. Rồi cái đến lần thứ bảy, ngài xuất gia lại, có cái đà đó, ngài phát triển thiền quán, chứng luôn A-la-hán. Sau này, khi ngài chứng A-la-hán rồi, các Tỳ-kheo mới hỏi Đức Phật về cái nhân duyên kỳ cục của cái vị này. Không có ai mà nghĩa là nhảy ra nhảy vô như cóc vậy mà chứng đạo cái kỳ lạ.

[49:52]Đức Phật mới giải thích thế này: Trong thời Đức Phật Ca Diếp, thì ngài cũng là một người tu. Hôm đó có một huynh đệ do chán nản đời sống xuất gia, muốn hoàn tục, cái ngài nói: "Ờ, thôi nhắm tu không được thì thôi về nhà làm ăn đi." ha. Do một câu khuyến khích đó, nên đời này ngài mắc cái quả báo phải hoàn tục đủ bảy lần, sáu lần. Đó là nhân quả của ngài, nhưng mà trước đó thì ngài cũng tu tốt chứ không phải không. Nhưng mà có một cái nghiệp là ngài sống rất nghèo khổ, cái nhân duyên gì không biết. Trong đây, chúng ta không phát hiện được lắm cái cái chi tiết mà báo cho biết cái nhân nào mà ngài phải nghèo khổ như vậy.

[50:37]Ở đây, chúng ta phân tích cái điểm này. Ừ cái điểm mà hoàn tục hay đi tu đó. Bây giờ một người mà họ muốn ra đời, cái mình xúi họ ra đời luôn. Thì như vậy mình mắc cái nghiệp hoàn tục sáu, bảy lần như ngài này, phải không? Mình sợ. Giờ mình muốn là mình được là người tu mãi, kiếp nào cũng là người tu, mình gieo cái nhân gì? Gặp ai cũng xúi xuất gia không? Phải không? Phải vậy gì nữa. Tức là gặp ai mình cũng xúi xuất gia: "Tu đi mà, tu đi." Tu, ở ngoài đời chi khổ. Giống như hai cái bài thơ thiệt hay ở phía trước này đó: Một đời lăn lóc trần gian, sao bằng cắt y vàng khoác lên. Thấy cũng thiệt hay ha.

[51:19]Như vậy có phải là nếu mình muốn đời đời phải làm người tu thì mình gặp ai cũng xúi người ta đi tu, phải không? Dắt đỡ một người tu hành. Dạ, được một ý. Rồi ai có ý kiến nào nữa?

[51:34]À như thế này, tức là nãy chúng ta xem trong cái nhân này, bài kinh này không có nhưng mà tôi lật trong Jātaka với trong Pháp Cú truyện. Sở dĩ ngài bị hoàn tục là trong đời xưa, sống chung huynh đệ tu hành, có một người muốn hoàn tục cái ngài đồng ý, khuyến khích người ta hoàn tục. Do cái nhân đó nên đời này ngài hoàn tục sáu lần. Tới lần thứ bảy xuất gia ngài mới chứng được A-la-hán. Đó là do cái nhân đó. Bây giờ chúng ta nhìn cái gương đó mà chúng ta sợ. Chúng ta không muốn hoàn tục. Chúng ta muốn đời này mình là người xuất gia, đời sau mình cũng là người xuất gia. Thì chúng ta phải gieo cái nhân gì? Sư Minh Trung hả?

[52:20]Sư Minh Trung nói gì?

[52:24]Bị bị người ta giành mất. Sư Hải. Người thối tâm, dạ dạ. Cảm ơn Sư, dạ. Dạ dạ, mời Sư Hải. Dạ. Dạ. Dạ dạ, đó. Ừ. Ừ.

[52:47]Dạ dạ, đúng rồi. Sư nói ý kiến rất hay.

[52:59]Có ai có ý kiến gì bổ sung không? Nó như thế này: Mình cần một cái Phật pháp tốt, hình ảnh tăng ni tốt đẹp. Mấy cái chuyện này kể cho quý sư nghe chưa ta? Cái việc mà có một cái chị cư sĩ chị làm việc từ thiện rất nhiều. Từ nhỏ chị gắn bó với Phật pháp. Rồi chị mở một cái hội từ thiện, lập cái học bổng cấp cho sinh viên, học sinh. Rồi hôm rồi chị dắt sinh viên lên núi chơi. Cái buổi sáng ăn cơm trước khi về, chị mới tâm sự là cả cái tâm hồn, cuộc đời con hướng về cho Phật pháp. Con lập cái học bổng này, con muốn nhắc cái lớp trẻ, sinh viên tri thức nào giờ không biết đạo để nó về nương với Phật pháp, nương với tăng ni.

[53:45]Mới tui kể chuyện này cho mấy sư nghe chưa? Dạ. Chị tâm sự như vậy: "Nhưng mà sau một thời gian làm việc nhiều với các chùa, bây giờ chính con mất hết niềm tin với tăng ni. Giờ con không biết đưa tụi nó đi về đâu. Bởi vì đi qua chùa này, qua chùa kia, thấy đủ chuyện sơ hở. Chính những người tu đủ thứ sơ hở về đạo đức á. Tranh giành, hơn thua, tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn." Chị mất niềm tin với tăng ni. Rồi nói là đám sinh viên thì nó khôn thấy mồ. Dắt vô chùa nói: "Ờ, đến chùa rồi có phước, lễ Phật công đức." này nọ, nó vô nó cứ gặp những cái cảnh mà chị đã nhận xét ra thì tụi nó có tin không? Không tin. Giờ không biết dắt tụi nó về đâu.

[54:23]Đó là cái một điều mà mình nghe mình xót xa cả dạ.

[54:29]Cho nên, không biết là quý sư, quý cô làm sao, tôi thì tôi có một cái hoài bão từ đầu, mà nghe cái điều chị nói tôi càng ray rứt thêm. Tôi không mơ ước cuộc đời mình để lại một cái ngôi chùa to. Tôi chỉ mơ ước tôi nhắm mắt, tôi để lại một vài đệ tử mà là những người đệ tử tốt, khiến người ta tin được. Tôi chỉ mơ ước điều đó, không mơ ước một ngôi chùa lớn hay đệ tử đông. Và tôi mong quý sư, quý cô cũng vậy, trong bản thân mình còn sống, cố gắng làm người tăng ni tốt để cho ai đến chùa họ vững được niềm tin với Phật, Pháp. Họ nghĩ rằng giáo lý Đức Phật là điều có thể thực hiện được, mà những người tăng ni đang là những tấm gương sống động.

[55:10]Rồi sau này quý sư, quý cô lớn lên có đệ tử cũng phải cố gắng đào tạo sao cho được những đệ tử mình là những người tăng ni tốt để lại cho cuộc đời. Chùa bây giờ xây loạn hết trơn rồi. Từ Nam chí Bắc ở đâu cũng quyên góp, gom góp xây chùa quá chừng. Nhưng mà cái hướng đào tạo tăng ni cho thật tốt, đạo đức cho thật sâu xa ít thấy ai nói tới. Ít lắm. Chúng ta chỉ theo hình thức ờ giới như vậy, luật như vậy sống đi. Rồi à cái giới như vậy là thọ hết giới này giới kia, bài kinh này đã học học đi. Mà trong đó chúng ta không kiểm soát được cái hành vi, cái ngôn hạnh của từng người đệ tử trong chùa như thế nào.

[55:50]Để rồi họ tiếp tục, bên ngoài thì thể hiện à đi tụng kinh trong bộ áo nghiêm trang vậy, nhưng trong đời sống bình thường họ là những con người tầm thường, cũng tham lam, ích kỷ, giận hờn, ganh tị đủ cách, để cho người cư sĩ bên ngoài nhìn vô họ họ phê phán. Cho nên, nói như Sư Hải tôi đồng quan điểm. Chúng ta không cầu nhiều, chúng ta cần những người tăng ni tốt, khuyến khích người tu có tuyển lựa. Và những người nào trong những lúc mà họ họ dao động, mình cố gắng giữ họ lại. Họ vấp ngã, mình vực họ đứng dậy đi tiếp. Đó là như vậy. Để làm sao cho hình ảnh tăng ni mãi mãi là một hình ảnh thánh thiện giữa cuộc đời.

[56:30]Mà đầy cái khiêm tốn, đầy cái khiêm tốn nha. Chứ mình có cái tự hào về đạo đức của mình, sau này sẽ mất. Mà bên Khất sĩ mình hay bị đó. Hồi mà Đức Tôn sư lập ra cái hệ phái Khất sĩ, lặp lại cái hình ảnh đạo đức của Đức Phật, cho nên trời ơi lôi kéo tín đồ theo rần rần rần rần. Một hình ảnh đẹp mà. Những người trong cái giáo đoàn Khất sĩ đi khất thực nghiêm trang, nói năng từ tốn, lễ độ, nghĩa là oai nghi gì cũng chững chạc. Mọi cái nên mọi người rất là quý Khất sĩ. Trong khi bên phía Bắc tông, Đại thừa thì họ chuộng cái sự học nên họ học khá giỏi. Bây giờ thì lần lần chúng ta thấy, do cái học giỏi của bên Bắc tông, họ có cái tự hào nhìn bên Khất sĩ:

[57:15]"Bên đó ít học, có hình thức vậy thôi chứ không học nhiều, không bằng bên Bắc tông." Còn bên Khất sĩ thì nói: "Mấy ông thầy bên Bắc tông lộn xộn, không có cái oai nghi giới hạnh bằng Khất sĩ." Mỗi người mình có một cái tự hào của cái tông phái, của cái đặc điểm mình. Đúng, cái đặc điểm đó là cái hay, nhưng khi chúng ta tự hào về cái hay đó, chúng ta sẽ thấy nó tổn phước là cái hay đó sẽ bị mất nơi chính cái tông phái của mình. Bên Bắc tông bây giờ mà đi vô mấy trường Phật học cơ bản coi chừng mấy ông thầy Bắc tông học dở hơn bên mấy sư Khất sĩ á. Cái hay của mình biến thành cái dở khi mình tự hào.

[57:49]Kết quả học tập kiểm tra ra coi chừng mấy bên Khất sĩ học giỏi hơn. Mà nào giờ bên Bắc tông nói là cái truyền thống của mình là học. Rồi bên Khất sĩ thì tự hào giới hạnh, bây giờ rất nhiều chuyện xảy ra sơ hở cũng trong giới Khất sĩ. Cái tự hào nó phá cái thành tựu của mình. Cho nên vậy, chúng ta cố gắng làm được thật tốt để lại một cái công trình tốt cho Phật pháp. Chúng ta cố gắng sống đạo đức, giới hạnh, thiền định, đào tạo những người đệ tử tài giỏi. Nhưng phải làm sao để lại một cái truyền thống khiêm tốn, để lại một lời dặn tha thiết là không bao giờ được tự hào vì cái hay của mình, cái ưu điểm của mình thì cái ưu điểm đó nó mới tồn tại lâu dài.

[58:31]Còn ngay nơi cái ưu điểm của mình mà mình tự hào thì nó sẽ biến mất và nó hiện ngược lại. Điều chúng ta để ý. Giờ chúng ta học qua ngài Rādha Thera trang 36.

[58:49]Trong thời Đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Rajagaha (Vương Xá), con một công dân có tên tuổi và sống đời sống tuổi trẻ trác táng. Một hôm, ngài thấy các quân lính nhà vua bắt một người thông dâm. Ngài sanh ra dao động, nghe lời Phật dạy và xuất gia. Là Tỳ-kheo, ngài vẫn còn những ái dục về thân. Ngài sắp đặt phòng ngài thật đầy đủ bàn ghế, đầy đủ đồ ăn, đồ uống, đồ nằm và sống như vậy. Do vậy, ngài được tên là Ramanīyavihārin, nghĩa là người sống trong lạc dục. Nhưng đời sống cũ của ngài làm ngài khó sống đời sống Tỳ-kheo. Ngài cảm thấy không xứng đáng để nhận đồ cúng dường. Ngài bỏ đi, bộ hành lang thang đó đây.

[59:31]Trên đường đi, khi ngồi nghỉ dưới gốc cây, ngài thấy các xe bò đi ngang qua. Một con bò vì mệt mỏi nên vấp ngã. Người đánh xe cởi dây cho con bò, cho nó rơm và nước và làm cho nó đỡ mệt, xong cột con bò vào xe và bắt nó kéo xe đi. Ngài suy nghĩ: "Con bò này đã vấp ngã nhưng đã đứng dậy và kéo đi, kéo đi gánh nặng của mình. Vậy ta phải, sau khi rơi vào rừng dục vọng, cần phải đứng dậy và làm trọn bổn phận của người tu hành". Rồi ngài trở về, kể lại câu chuyện cho Trưởng lão Upāli và được Upāli chấp nhận và cho sám hối các lỗi lầm và giúp ngài trở lại nếp sống chân chánh. Không bao lâu, ngài chứng quả A-la-hán.

[1:00:18]Về sau, hưởng thọ an lạc giải thoát, ngài nói lên sai lầm của ngài và sự trở lui lại nếp sống chân chính trong bài kệ này: "Như con thú hiền thiện, giống tốt huấn luyện khéo, sau khi đã vấp ngã, lại đứng lên an trú, ta đầy đủ chánh kiến, đệ tử bậc Chánh Giác".

[1:00:39]Những cái điều đời sống của các vị này nó gần gũi với mình. Đây là những bài kinh mà tôi lựa ra để nó gần gũi với hình ảnh của mình. Lần sau, chúng ta sẽ nghe tiếp một số trường hợp các vị thì những trường hợp đặc biệt lắm. Chúng ta nói về vị này là từ trong dục lạc mà đi ra. Trường hợp này không ít người bị, từ xưa cũng vậy mà bây giờ cũng vậy. Giống như là chúng ta đối với chánh pháp, chúng ta là những người gục ngã, vấp té, đắm chìm. Nhưng mà khi mà ngài nhìn thấy con thú được

[1:01:16]nuôi nấng, vỗ về, đứng lên đi tiếp, nhận ra được một bài học. Bài học nó như thế nào? Là ai cũng có thể có lỗi lầm. Nhưng cái quan trọng là biết vượt qua lỗi lầm của mình để tiếp tục đi, chứ không phải mặc cảm vì cái lỗi lầm của mình mà từ chối đời sống của thánh pháp.

[1:01:43]Chính bản thân chúng ta cũng vậy và chúng ta lấy cái nhìn đó để nhìn mọi người cũng vậy. Khi chúng ta thấy một người họ đắm trong cái dục lạc, trong những cái niềm vui thế gian, họ hưởng thụ quá đáng, chúng ta đừng vội phê phán mà hãy thương họ. Nếu có duyên, khuyến khích họ đứng lên để bước tới cái đời sống thánh thiện. Chớ đừng nghĩ những người mà ví dụ như thấy họ nhậu nhẹt, la lối rồi mình khinh bỉ họ; hoặc thấy cái người đó vợ nọ con kia, đi bia ôm, cà phê ôm, mình coi thường họ. Khoan, đừng phê bình họ, bởi vì tấm gương của ngài này là một cái bằng chứng sống. Con người có thể đắm vào trong những điều sai lầm,

[1:02:25]u tối, si mê, trụy lạc cũng vậy, nhưng nếu họ thức tỉnh họ đứng lên được, họ vẫn có thể chứng đạo được. Có nhiều người cũng vậy, trước kia là một người nhậu nhẹt, say sưa, bê bết hay ăn chơi trụy lạc, trác táng, trong một giây phút giác ngộ họ vượt qua được, từ bỏ được, họ đứng lên họ tu và trở thành người tu khá tinh tấn, khá tinh tấn. Đắc đạo bây giờ thì chưa, nhưng cũng là cái tốt. Nên từ cái quan niệm mà vấp ngã mà đứng dậy này để chúng ta chuẩn bị cái sức mạnh tinh thần của mình. Một ngày nào đó do cái nghiệp đời trước mình đã công kích ai quá đáng, có thể một giây phút nào đó mình cũng sẽ bị vấp ngã.

[1:03:07]Nhưng nhớ cái gương của ngài này, mình đứng lên đi tiếp. Hoặc là thấy một người khác vấp ngã, đang sống trong thanh tịnh, trong tăng chúng, bỗng nhiên phạm giới, ví dụ vậy, đừng có cái nhìn gì khác. Hãy đến giống như người chủ xe bò, vỗ về con bò, an ủi, khuyến khích đứng lên để họ giữ lại cái thanh tịnh mà đi tiếp tục, tiếp tục đời sống tu hành của mình. Chúng ta đọc bài kinh này để chúng ta có được cái lòng từ bi đối với những người lầm lỗi.

[1:03:36]Trong kinh tế học nó có một cái chủ thuyết về kinh tế thế này: là cái vòng luẩn quẩn. Cái chủ thuyết đó nó có hai tên, một cái tên là cái vòng luẩn quẩn, hay cái tên thứ hai là cái cú hích từ bên ngoài. Cái chủ thuyết đó nói cái gì? Chủ thuyết đó nói rằng đối với một nước kém phát triển, nghèo khó, không kỹ thuật, không vốn, thì cái nước đó sẽ mãi mãi chìm trong lạc hậu. Vì sao? Vì không có vốn nên không thể đầu tư những thiết bị, kỹ thuật cao cấp. Mà không có đầu tư được thiết bị, kỹ thuật, đào tạo những công nhân lành nghề, những bộ phận quản lý giỏi, không thể tiếp tục sản xuất ra nhiều cái vật dụng cho xã hội,

[1:04:20]nhiều cái cái sản phẩm cho xã hội để làm cái đất nước đó tiến lên được, nên tiếp tục rơi vào nghèo khổ. Mà nghèo, không vốn thì không thiết bị, không thiết bị thì không sản xuất, không sản xuất thì nghèo, đó gọi là cái vòng luẩn quẩn. Cái thuyết đó nó còn có cái tên là cú hích từ bên ngoài, nghĩa là thế này: muốn cho nước đó được phát triển thì phải có sự tiếp sức từ bên ngoài. Là những quốc gia khác trên thế giới phải giúp đỡ về vốn và về kỹ thuật, cái tác động từ bên ngoài, cung cấp thiết bị, vốn liếng, đào tạo công nhân để cho nước đó từ từ vực dậy, đào tạo có người lành nghề giữ những quản lý, quản lý những máy móc,

[1:05:00]thiết bị đó, sản xuất ra sản phẩm, rồi bán đi, rồi có cái vòng vốn quay, tiếp tục phát triển, phát triển như vậy. Đó là cái lý thuyết kinh tế gọi là vòng luẩn quẩn hay còn gọi là cú hích từ bên... Trong đạo cũng vậy, có một số người họ có lầm lỗi, nhưng họ đủ mạnh để tự mình đứng dậy, vượt khỏi lầm lỗi đó, tiếp tục tu hành. Có, trong đạo có những người đó. Nhưng cũng có những người lầm lỗi mà tự trong họ không còn cái sức lực gì để tự đứng lên đi nữa, họ sa đọa luôn, họ sa đọa luôn. Thì trường hợp người này, làm sao giúp họ? Làm sao giúp họ?

[1:05:45]Làm sao giúp họ? Ai có ý kiến gì? Sư Minh Trung. Nghĩa là mình... sư quên nói câu này, tức là mình phải đến với người đó phải không? Đến người đó gần gũi, an ủi phải không? Khuyến khích họ phải không? Dạ, cám ơn sư, đúng. Có ai có ý kiến gì nữa không?

[1:06:10]Dạ mời sư Hải

[1:06:18]á. Dạ, dạ cảm ơn sư. Đúng như vậy đó. Như vậy là quý sư hiểu. Giống như cái lý thuyết kinh tế mà cú hích từ bên ngoài, có những người mà khi họ lầm lỗi, do họ mềm yếu, họ tham lam, trụy lạc, thích hưởng thụ, rồi khi họ phạm vào những điều đó, họ có cái mặc cảm tội lỗi. Do mặc cảm tội lỗi, họ không muốn nói đến đạo đức nữa, không muốn gần gũi những người đạo đức nữa. Họ chỉ thích chơi với những người mà giống giống như họ, nghĩa là cũng lỗi lầm như họ, cũng phạm tội như họ. Và càng như vậy thì họ làm sao? Càng ở trong cái vòng luẩn quẩn là lún sâu vào vào lầm lỗi, phải không? Cho nên ở đây giống như cái lý thuyết kinh tế cần cú hích từ bên ngoài,

[1:07:03]chỉ có những người Bồ-tát đủ lòng từ bi thương yêu những người lầm lỗi đó mới đến gần với họ được, khuyến khích họ, giống như sư Trung với sư Minh Hải đã nói. Có những người đủ lòng từ bi thương yêu đó, chứ đa số chúng ta không đủ lòng từ bi đó. Đa số chúng ta khi thấy, nghe nói một người đó: "Ôi! Ông đó ông thầy tu mà đánh bài, ông thầy tu mà đi nhậu", mình lánh xa, mình khinh bỉ, mình chỉ trích, đa số chúng ta đều bị như vậy. Chỉ có những bậc Bồ-tát mới dám làm cái cú hích từ bên ngoài, đủ lòng từ bi, mình giới hạnh không bao giờ bị lung lay nữa, dám đến gần những người đó, tỏ vẻ thương yêu họ để họ tin mình.

[1:07:41]Người ta chỉ nghe lời những người nào thương mình thôi. Cho nên những người lầm lỗi đó cũng vậy, họ chỉ nghe lời những người nào mà đến thương họ. Mặc dầu là cái người đó là người rất thánh thiện, họ mặc cảm tội lỗi, họ không thích gần những người đạo đức, nhưng tự nhiên có một người đạo đức không khinh bỉ họ, không chê họ, tới lui thăm hỏi, thăm viếng, chơi với họ, nên họ có cảm tình, rồi từ từ trong cái tình thương yêu đó khuyên họ, vực họ đứng dậy, giống như ông chủ xe bò mà cho con bò nó ăn. Ở đây, bởi vậy, chúng ta học cái bài kinh này chúng ta nhớ ghi khắc điều gì? Chúng ta phải tu làm sao đủ lòng từ bi,

[1:08:18]thương những người mà lầm lỗi, mà lầm lỗi nặng đến nỗi tự họ không còn đứng lên được nữa. Đừng chỉ trích, chê bai họ, bởi vì họ là những người không tự cứu được họ nữa, mà họ phải đợi có một cái tác động từ bên ngoài. Cũng giống như một quốc gia nghèo, không còn có thể tự vực mình lên được nữa, phải đợi sự giúp đỡ, viện trợ quốc tế, thì cái người tu cũng vậy. Chúng ta nên hiểu cái nguyên tắc này mà chúng ta có thái độ đối xử. Như có những người mà họ lầm lỗi mà tự họ đứng lên được, giống như một quốc gia còn cái vốn để mà đầu tư, phát triển lên được, thì cái người mà họ còn đủ sức đứng lên được

[1:08:53]á, thì đôi khi mình giả vờ chê họ một câu, khích họ một câu để họ tự đứng lên. Nhưng có những người mà họ rớt vào cái tình trạng không còn sức đứng lên nữa, phải có một cái tác động bằng cái sự thương yêu, giúp đỡ. Chúng ta học cái bài Kuṭivihārin trang 42. Câu chuyện về Ngài giống như câu chuyện vị Trưởng lão ở rừng Ajina với sự sai khác này: khi Ngài xuất gia với trường hợp tương tự (tôi chưa đọc câu chuyện trước của Ngài Ajina này). Ngài học Chánh pháp trong một ngôi chòi nhỏ rồi Ngài nghĩ: Chòi cũ này nay đã bị hư hại, ta phải làm chòi khác, rồi Ngài hướng tâm Ngài về hành động mới. Một thiên nhân tầm cầu giải thoát muốn làm Ngài dao động,

[1:09:41]nói lên bài kệ này với lời lẽ giản dị nhưng ý nghĩa sâu rộng: Đây ngôi chòi cũ kỹ, Ngài muốn ngôi chòi mới. Hãy bỏ muốn ngôi chòi, chòi mới đem khổ mới, này Tỳ kheo nên biết. Khi nghe vậy, vị Trưởng lão cảm thấy lo lắng, và với sự cố gắng phát triển thiền quán, Ngài chứng được quả A La Hán. Rồi Ngài nói lại bài kệ, nhờ bài kệ này Ngài đã được chứng quả, và Ngài dùng bài kệ nói lên thắng trí của mình. Vì Ngài chứng quả khi ở trong chòi lá, Ngài được gọi là Kuṭivihārī: Vị ở chòi lá. Cái câu chuyện này giống như một vị mà đi tu mà ở trong cái chòi lá trước kia. Tôi lại trích câu chuyện thứ hai này chứ không nói câu chuyện trước.

[1:10:25]Ở đây nó có hai điểm: Thứ nhất là cố gắng sống đời sống đơn giản. Cái thứ hai, chúng ta để ý câu này: Khi nghe thiên nhân nói câu đó, vị Trưởng lão cảm thấy lo lắng. Và với sự cố gắng phát triển thiền quán, Ngài chứng được quả A La Hán. Cái chi tiết này rất là quan trọng trong người tu hành, chúng ta nhớ. Gần đây có một cái... cái tông, thầy đó giảng về thoại đầu, ca ngợi cái nghi tình. Tức là lúc nào cũng phải thắc mắc thắc mắc về một cái đề mục nào đó, thì cái công dụng của cái thắc mắc nó có thể làm mình nhiếp tâm để chứng đạo. Cái câu nói đó đúng, nhưng sai là ổng đã tiết lộ cái nghi tình như thế nào, và cái sai là ổng ca ngợi cái nghi tình

[1:11:09]làm cho người ta tự hào về cái nghi tình đó. Trong khi cái mục đích của cái nghi tình là tiêu diệt tâm tự hào. Người tu bị một cái chướng lớn là tâm kiêu hãnh và tâm tự mãn xuất hiện khi mình được một cái kết quả nào đó trong sự tu. Ví dụ ngày hôm qua mình chưa nhiếp được tâm, ngày hôm nay mình ngồi thiền, nhiếp được tâm thanh tịnh, ngay đó mình thấy tâm mình nó xuất hiện niềm vui tràn đầy. Cái niềm vui đó nó kéo theo cái kiêu hãnh. Và cái kiêu hãnh này nó chặn đứng cái công phu sắp tới và bị lui lại. Đó là một điều rất rõ. Cho nên, nếu ông thầy sáng mắt, giỏi đó, biết đệ tử mình như vậy, thì tìm cách hỏi một câu hỏi cái làm người đệ tử bí.

[1:11:52]Nói, "Ủa sao mình nhiếp tâm được mà mình không hỏi... không hiểu nổi câu hỏi của thầy?". Nên từ đó, do cái thắc mắc nó khởi lên nên cái tâm tự mãn biến mất. Nhờ cái tâm tự mãn bị diệt mà thiền quán được phát triển tiếp. Còn nếu không, cứ nhiếp tâm trong định một cách bình thường thì cái tự mãn, cái kiêu hãnh nó cứ âm thầm âm thầm nó tồn tại và nó phá tan công đức thiền định của mình, làm tâm mình dao động trở lại. Nói về tôi thì tôi hơi khoe quá. [cười] Không biết làm sao nữa. Thôi đành phải nói, mà tôi nói cũng không có nghĩa là tôi giỏi, như trường hợp ở chùa tôi thôi. Nhưng những đệ tử cũng vậy, những đệ tử mà đến

[1:12:33]khoe một cái công phu được cái gì là tôi la liền, không bao giờ khen hết. Nói, "Thưa thầy, con ngồi thiền được hai tiếng hơn, tâm thân rồi nhẹ nhàng không còn tưởng". Tôi rầy liền, không bao giờ chấp nhận được. Tôi dặn dò một điều với tất cả những đệ tử là phải biết lo sợ, phải biết cảnh giác với sự tu hành của mình. Cái mà mình đang được là cái dễ thối thất, dễ biến mất lắm. Hôm nay mình được định nhưng qua ngày mai nó biến mất rồi, nó lui lại, nó động trở lại rồi. Phải biết lo sợ về nó. Ngày nào mà cái tâm lo sợ cảnh giác nó không còn, ngày đó mình thối đọa. Vì sao? Vì cái tâm lo sợ cảnh giác không còn thì cái tâm tự mãn xuất hiện

[1:13:13]liền lúc đó, cái tâm kiêu hãnh nó chiếm chỗ liền lúc đó. Còn cái người mà biết lo sợ, biết cảnh giác thì người đó nó không bị cái tâm tự mãn nó nó xuất hiện. Mà tại sao mình phải lo sợ, phải cảnh giác? Là tại vì mình biết rằng cái cảnh giới mình đang có hiện tại nó tạm bợ, nó chưa chắc ăn. Giống như câu chuyện mà kỳ rồi tôi kể "Chưa chắc ăn". Phải không? Đó, phải hiểu điều đó một cách sâu sắc mà tiếp tục lo sợ, cảnh giác tu. Nếu mà tâm mình đang tu mà không có cái lo sợ thì cái tự mãn nó chiếm chỗ liền. Đây là cái trường hợp mà đúng như vậy. Ngài cảm thấy lo lắng và cố gắng phát triển thiền quán, cái tâm tự mãn biến mất.

[1:13:57]Thôi hôm nay chúng ta học mấy vị, lần sau chúng ta sẽ học thêm. Bây giờ chúng ta viết cái câu hỏi này để về làm bài:

[1:14:07]Hãy rút ra những bài học từ sự tu chứng của các vị A La Hán đã học mà mình đã học ngày hôm nay.