Transcript: Kinh Nikaya 17 - Chớ Có Tin (Bhadiya - Tăng Chi 1)

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:36:37

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:13]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:22]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:33]Mời quý Phật tử chúng ta ngồi

[0:47]xuống.

[0:51]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay chúng ta học qua Tăng Chi Bộ Kinh, vì thời gian chúng ta không có nên mình không có nghiên cứu Trường Bộ tiếp, quý thầy tự nghiên cứu lấy. Học để kết thúc cái môn Nikaya sớm rồi mình qua cái môn môn kế tiếp, vì tháng Tư rồi quý thầy đã đã đã ra trường rồi, nên mình không còn thời gian để triển khai về Nikaya nhiều. Hôm nay chúng ta học bài trong Tăng Chi. Cái cuốn của tôi thì nó nằm ở Tăng Chi 1, mà qua bản in mới này thành Tăng Chi 2, nên cũng hên là tôi không có báo, quên báo xuống. Quên báo, không báo quý thầy tìm không ra. Đó là bài Bhaddiya. Đây cũng là một bài kinh mà chúng ta thường hay gặp

[1:38]mỗi khi mà có một cuốn sách nào viết về đạo Phật, thì cái đoạn kinh như vậy lại hay được kể ra để giới thiệu về tính cách của Đức Phật, của đạo Phật. Trong cái loạt mà Nikaya này, chúng ta hay học những cái bài mà mọi người hay nói đến, để cho quý thầy nắm vững như vậy. Ta những cái điểm đặc biệt như vậy thì mình đã nắm vững trong tay khi mình nói chuyện về Nikaya. Thì bài này là một bài mà chúng ta cũng hay nhắc, mà nhiều sách cũng hay nói tới, là bài "chớ có tin" đó. Có một người hỏi Phật gì đó, Phật nói đừng tin gì hết trơn, mình phải xét lại. Cái nguyên văn như thế này: Có một thời, Đức Thế Tôn ở Vesali, trong một ngôi nhà có nóc nhọn.

[2:23]Rồi cái người của bộ tộc Licchavi tên là Bhaddiya đi đến Phật. Đến, bạch thế này: "Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: là một nhà huyễn thuật..." Hồi xưa gọi là huyễn thuật, bây giờ mình gọi là ông thầy pháp hay thầy bùa. "Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật để lôi cuốn những đệ tử của ngoại đạo." Tức là Đức Phật đã dùng bùa chú để dụ người ta theo mình, theo làm đệ tử của mình. Những ngoại đạo họ mất đệ tử hết. Họ không thể nói là tại vì Đức Phật giỏi hơn họ, đức độ hơn họ, sáng chói hơn họ mà thu hút đệ tử họ đổi qua, nên họ phải nói như vậy, tức là tự họ nhận họ kém hơn Đức Phật, nên họ phải dùng một cái lối

[3:10]lập luận khác, nói rằng Đức Phật đã lôi kéo đệ tử họ bằng bùa chú. Nên chúng ta thấy đó là chuyện thường tình từ xưa tới nay như vậy. "Là Sa-môn Gotama đã lôi cuốn những đệ tử của ngoại đạo. Bạch Thế Tôn, những ai nói như vậy là có nói đúng sự thật hay không, có phù hợp với pháp hay không, có xuyên tạc Thế Tôn hay không? Và chúng con cũng không muốn xuyên tạc Thế Tôn, nên con xin phép được hỏi thẳng thắn như vậy." Ông này ổng cũng rất là đàng hoàng, ổng nghe rồi ổng đến hỏi lại, chứ không có như chúng ta, hễ nghe nói xấu ai cái mình tin liền. Hễ nghe người này nói xấu người kia, nói: "Trời, tôi biết cái bà đó chứ, bả chuyên môn lừa gạt người ta

[3:57]không à", cái mình tin liền à, không đi hỏi người ta lại. Mình hay bị cái đó, còn cái ông Bhaddiya này, ổng rất là đàng hoàng, nghe nhưng mà ổng ngờ ngợ, không tin, ổng đến hỏi lại Phật điều đúng hay không, một thái độ rất là chân chính. Đây, cái đoạn này Đức Phật nói trở thành giống như một cái, nêu ra một cái điểm đặc biệt của Đức Phật: "Này Bhaddiya...", chúng ta nghe từng điểm: "...chớ có tin vì nghe truyền thuyết. Chớ có tin vì theo truyền thống. Chớ có tin vì nghe người ta nói. Chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng. Chớ có tin vì lý luận siêu hình. Chớ có tin vì đúng theo một lập trường có sẵn.

[4:40]Chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện. Chớ có tin vì phù hợp với định kiến. Chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền. Chớ có tin vì vị Sa-môn đó là bậc Đạo sư của mình..." Khủng khiếp! Cái chủ nghĩa hoài nghi của Đức Phật. "...Nhưng này Bhaddiya, khi nào ông tự mình biết rõ như sau: Các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị người có trí chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận sẽ đưa đến bất hạnh, khổ đau, thì ông hãy từ bỏ chúng." Ở đây, chúng ta thấy có cái điểm này:

[5:22]Là một thái độ... thái độ chân chính của Bhaddiya là một chuyện rồi, tức là luôn luôn phải lắng nghe ý kiến từ mọi phía, đừng bao giờ mình nghe từ một phía. Thí dụ như mình nghe một người khen một người, mình cũng chớ vội tin là lời khen đó đã là đúng, mình tìm hiểu thêm nhiều hơn để cho chính xác hơn. Thì vì cũng vậy, nhiều khi mình nghe đồn nơi đền miếu đó linh, hay ông thầy đó ổng đắc đạo cao siêu, cũng chớ tin liền, phải tìm hiểu cho kỹ. Mà nhiều trường hợp như vậy, nhiều trường hợp mình nghe nói đó là vô thượng sư, đắc đạo cao siêu, nghe ông thầy đó là bậc chân sư ở đời, tìm đến. Nhưng có khi mình tìm đến, sự thật không phải như vậy.

[6:06]Hoặc là mình nghe người này nói xấu người kia, thí dụ một cái người tu hành vậy, rồi mình nghe người đó là người bịp bợm, lừa gạt, phá giới đủ thứ, cũng khoan tin. Mọi cái mình phải lắng nghe ý kiến từ nhiều phía. Mà chúng ta thấy khi mà tìm hiểu rồi thì sự thật nó nó khác hẳn, giống như ở trong tòa án vậy. Công an bắt được một người, còng tay rồi, bắt quả tang rồi, truy tố ra tòa, nhưng mà quan tòa vậy cũng phải cho luật sư cãi giùm người ta, chống đỡ giùm cho người bị cáo, chứ không phải là chỉ theo cái chứng cớ đó rồi kết tội liền. Tòa lắng nghe ý kiến hai bên, một bên là công tố buộc tội, còn một bên là luật sư để biện hộ.

[6:54]Tòa lắng nghe hai bên rồi mới đưa ra phán quyết cuối cùng. Thì phán quyết của tòa rất là quan trọng. Cũng không hẳn luôn luôn ông thẩm phán, ông chánh án đã phán quyết đúng đâu, cũng rất nhiều trường hợp thẩm phán đã phán quyết sai, bị án oan cũng nhiều lắm, không phải không. Nhưng mà trên nguyên tắc làm việc, để hạn chế tối đa cái sự mà phán quyết sai, họ lắng nghe ý kiến từ hai phía. Đó là vậy, đó là cái cách làm việc chân chính. Nhưng mà còn chúng ta thì sao? Thường chúng ta, trong lòng chúng ta chỉ có công tố chứ không có luật sư. Như khi mình nghĩ xấu ai thì mình lấy ý kiến đó mình chấp nhận trong lòng mình liền, nghe nói xấu ai mình chấp nhận

[7:38]liền, chứ mình không có biện hộ giùm người ta. Ví dụ như bây giờ trong huynh đệ, như mình ở trên phòng mình bước xuống, cái mình thấy giờ này 3:00 tự nhiên có ông huynh đệ mình ổng ngồi ổng ôm cái tô cơm nguội ổng ngồi ổng ăn ngon lành, thì trong đầu mình nghĩ gì trong? Trong đầu mình nghĩ: "Người ăn phi thời."

[8:01]À đây là con người ăn phi thời, không có giới hạnh, mình kết tội liền. Đó, trong lòng mình, cái người mà công tố viên nó nhiều hơn người luật sư, thì lúc đó mình từ hôm học bài này, chúng ta phải thêm ông luật sư trong đó. Nghĩa là mình vừa nghĩ: "Ủa, tại sao người này ăn phi thời? Trưa ăn cơm rồi sao giờ này 3:00 ôm tô cơm nguội ngồi ăn ngon lành, ngồi nhìn trời hiu quạnh, tức là ngồi nhịp chân đong đưa nhìn ra bờ ruộng, mà mà ngồi ăn nguyên một tô, tô cơm nguội nữa?" Mình phải đưa ra một cái ông luật sư biện hộ: "Còn lý do nào chính đáng nữa chăng?" Mình suy nghĩ một lát coi chừng có thêm lý do chính đáng nữa,

[8:38]là có khi người đó ăn là hợp lý, vì người đó vừa làm cái gì mệt, rồi trưa ăn không đủ cơm, hay là phần cơm người đó nhịn cho ai đó, vân vân. Có nhiều cái lý do trong đó lắm, cho nên người đó mới ngồi ung dung ăn phi thời chứ không có hổ thẹn, vì việc làm họ chính đáng. Cho nên nếu mình cứ buộc tội, mình chỉ có một công tố, không có luật sư, mình làm việc không hợp lý. Nên ông Bhaddiya này, khi nghe nói xấu Phật, ổng tìm đến Phật để hỏi Phật cho ra lẽ. Mà Phật cũng hay luôn. Chúng ta thấy, ngoài cái chuyện mà Đức Phật đưa ra một cái chủ nghĩa hoài nghi tột độ là khuyên đừng tin gì hết, mà chúng ta hãy xét cái lối làm việc của Phật.

[9:22]Mà cái lối này là lối mà chúng ta phải học để rút ra, sau này quý thầy lớn lên có làm trụ trì, làm giáo thọ, làm tri sự, làm giảng sư thì phải học cái lối này, là: "Chữa gì chữa ngay gốc chứ không chữa ngay ngọn." Trong cái việc mà Bhaddiya trình bày như vậy, thì nó có cái gốc, cái ngọn, nhìn ra hai phần liền. Cái ngọn là gì? Cái ngọn là Đức Phật có dùng bùa chú để dụ dỗ đệ tử người ta hay không? Vấn đề đó là ngọn. Cái gốc là gì? Cái gốc là cái sự dễ tin của con người, nghĩa là khi ai nói điều gì, hầu hết là chúng ta đã chấp nhận liền một cách dễ dãi. Đó là cái tâm trạng cả tin, dễ tin. Đó là cái gốc.

[10:12]Thì ở đây Đức Phật, Ngài không có trả lời theo cái ngọn, Ngài không có trả lời nói: "Hổng hổng, hổng có nha, ta không có dùng bùa hay là dụ ai hết á." Nghĩa là Ngài không trả lời theo cái ngọn, mà Ngài thấy cái gốc của vấn đề là cái tâm dễ tin khi nghe một lời nói đơn sơ, rồi kết luận vội vã. Nên Ngài chữa gốc liền cho Bhaddiya, mà chữa luôn muôn đời cho nhân loại. Nhưng mà nói chữa muôn đời chứ tới giờ này mình chưa có chữa được chút nào, tâm mình vẫn còn dễ bị dễ tin lắm. Nên ở đây chúng ta thấy Đức Phật chữa ngay cái tâm dễ tin. Mà sau này quý thầy lớn lên sẽ để ý cái điều này: Thí dụ như khi một người đệ tử mình đến mét mình, nói:

[10:53]"Thưa thầy, sư huynh con là một người hay nổi sân,

[10:59]là đụng một chút là nổi sân. Chẳng những nổi sân rồi mà còn có tật là hay lén vô bếp ăn vụng." Ví dụ vậy, có nhiều cái, nghĩa là nói xấu. Thì bây giờ mình cứ kêu cái người đệ tử kia lên mình rầy, nói: "Tại sao con nổi sân? Tại sao con ăn vụng?" này nọ, thì đó chỉ là cái cái cái ngọn, chữa cái ngọn. Mà chữa cái gốc là cái gì? Gốc là gì?

[11:30]Hài hước. Quý thầy sẽ gặp trường hợp này dài dài khi quý thầy lớn lên làm thầy thiên hạ. Dài dài. Chẳng những trong đệ tử xuất gia mình mà đệ tử tại gia nữa. Người này mách qua người kia mách lại, nếu mình không có cái thần kinh thép thì mình điên. Tôi thiếu điều muốn vô nhà thương điên mấy lần rồi, từ đệ tử xuất gia tới đệ tử tại gia. Nghĩa là người mách qua người mách lại, cũng may là tôi cứ xem mọi chuyện đời như hư vô, tôi cứ cười cười. Người này mách thì dữ dội tôi cứ cười cười, kia mách dữ dội tôi cứ cười cười, nhưng tôi không tin liền những cái điều mách qua mách lại. Vừa rồi tôi đang nằm ngủ, nghe tiếng chuông mới đây nè,

[12:13]đang nằm ở trên phòng, nghe tiếng gõ kẻng thức, mà thấy cũng còn đang còn buồn ngủ, tôi mới nằm nướng một chút, không ngủ nữa, thì cái máy nhắn tin nó kêu. Gửi lại cái bản tin ra nó có cái tin thế này, là để trong túi nè, là: "Chúng tôi vẫn kính trọng và tiếp nhận những băng giảng của thầy, nhưng chúng tôi không chấp nhận những phật tử của thầy." Tôi không biết ai chọc giận ai nữa đây mà lên mách nữa đây, cũng không để tên để tuổi gì hết. Rồi không biết ai làm cái gì dưới lộn xộn tùm lum nữa, đấu đá cãi lộn hay gì nữa đây. Cũng rầu, đó, vậy đó, cứ tùm lum chuyện, nhiều khi làm mình phải bận tâm.

[12:50]Thì tôi hỏi lại, ví dụ người mách người thầy có tật nổi sân hay ăn vụng, quý thầy sửa làm sao? Coi cái gốc nó đâu. Trong đây nó có hai cái gốc, một cái gốc là của người bị mách với một cái gốc nơi cái người đi mách. Coi người đi mách, thâm sâu của cái người mách mình nó là tâm gì ở trỏng? Coi chừng cái tâm hay thọc mạch, không phải là cái tâm vì thương yêu muốn sửa lỗi huynh đệ mình, mà cái tâm này là ác ý muốn hạ uy tín của người huynh đệ mình, một cái phải sửa cho ra cái đó nữa. Rồi còn cái người mà nếu người kia thật là có nổi nóng lên, có ăn vụng, cái nguyên nhân gốc nó là nằm ở đâu nữa, chứ không phải sửa cái đó nữa.

[13:29]Nhiều khi mình tìm nguyên nhân gốc là vì cái người này một á là kiêu mạn chăng? Kiêu mạn nên nổi nóng, phải không? Kiêu mạn nên ô nhiễm, nên tham lam? Thì sửa cái kiêu mạn. Hai là cái tật hay ăn vụng này có khi xuất phát từ cái thời thơ ấu đã từng bị đói một trận gần chết rồi chăng? Bị ám ảnh bởi thức ăn? Vì tôi có lần tôi nhịn đói nên tôi biết. Có một lần hồi đó tôi nhịn đói hai mươi mấy ngày, trong cơn nhịn đói nhìn cái vỏ chuối thấy: Ủa, vỏ chuối này ăn được sao người ta bỏ uổng quá kìa? Tới chừng mà hết nhịn đói rồi nhìn lại: Ủa, sao hồi đó mình nghĩ cái vỏ chuối ăn được cà? Lúc hết nhịn đói rồi thấy nó không ăn được nữa,

[14:06]nhưng trong cơn nhịn đói thì thấy nó ăn được. Như có câu chuyện của Mỹ này, có một người họ bị lạc ra gần ở bờ biển và đói gần chết, không có gì để ăn thì có một con chuột cống to cứ bò gần gần chờ người này chết để lại ăn thịt. Mà người này thì muốn chụp con chuột để mà ăn thịt, mà cũng tàn sức rồi, không rượt nó nổi, mà con chuột thì cứ loanh quanh quẩn quẩn không có dám lại gần. Nghĩa là một người một vật cứ canh nhau để mà ăn lẫn nhau. Thì giây phút cuối cùng tưởng gần chết thì may được một cái tàu ngoài khơi đặt ống nhòm nhìn vô mới thấy, mới rước lên tàu, cho ăn uống rồi khỏe lại. Vài bữa sau cái người thủy thủ lên mách ông thuyền trưởng, nói:

[14:46]"Thưa ngài, cái người nạn nhân mà chúng ta cứu hôm rồi giấu đầy bánh ở dưới giường. Dưới giường ổng dỡ nệm lên bánh đầy hết trơn, giấu dưới." Ông thuyền trưởng nói: "Ai mới bị chết đói cũng vậy, cũng là bị ám ảnh bởi lương thực một lần nữa như vậy, nó không bình thường." Thì có khi có cái tâm trạng như vậy, chứ không phải là người này ăn vụng một cách tham ăn. Nó có nhiều cái nguyên nhân phía trước, mà mình là người lớn phải phải nhìn hết mọi điều, khía cạnh, chứ không nghe đâu tin đó, nghe đâu tin đó. Đó là cả như vậy. Nên cái gốc là vấn đề là nghe đâu tin đó là cái bệnh, nên Phật không có Phật không có nói theo cái ngọn là:

[15:26]"Ờ, ta không phải thầy bùa." Ngài không nói, cái đó là cái ngọn. Trả lời câu đó là mai mốt người ta nói câu thứ khác rồi trả lời nữa, mất công. Mai mốt nói: "Ông đó ổng ổng giảng tà pháp." Nghe nói ổng ổng nổi khùng lên, "Nói xấu rồi cái tin nữa, mệt lắm." Cho nên ngài chữa luôn cái gốc để mai mốt ai nói gì tự mỗi người ráng phán xét cho kỹ, đừng vội tin. Chữa cái gốc. Thì ở đây, khi mà cái điều này đưa ra là nó trở thành một điểm đặc biệt của đạo Phật, mà điểm đặc biệt này là Đức Phật thách đố niềm tin và lý trí của tất cả mọi người trên thế giới. Đến nỗi mà chúng ta nghe nói trong kinh tạng đừng truyền

[16:07]tụng, đừng tin, bậc Đạo sư mình nói đừng tin luôn. Nghĩa là cái sự hoài nghi tột độ luôn, cái chủ nghĩa lạ lùng, Ngài thách đố như vậy. Mà tại sao vậy? Trong khi Ngài giảng kinh giảng pháp đầy mà Ngài cũng nói đừng tin luôn. Tại vì sao vậy? Ở đây nó có cái tâm trạng là vàng thật không sợ lửa. Vàng thật không sợ lửa.

[16:33]Các tôn giáo khác khi mà đưa ra một cái giáo điều, cái giáo lý nào đó thì thường là nó là có cái quy định, có cái niềm tin, hễ mà cái niềm tin đó bị đánh mất thì tôn giáo đó sụp đổ. Còn đạo Phật không phải như vậy. Những lời dạy của Đức Phật, của đạo Phật nó là một cái sự thật khách quan nào đó mà khi lý trí, trí tuệ người ta phát triển thì người ta thấy nó hợp lý.

[17:03]Chính vì Đức Phật thấy rõ như vậy nên Ngài không có sợ và Ngài thách đố cái niềm tin, lý trí của tất cả mọi người trên thế giới. Cứ tìm hiểu đi, cứ nghi ngờ, cứ phán xét đi thì lời dạy của Ngài luôn luôn đúng, đúng đến muôn đời, Ngài không sợ. Nhưng mà một số đạo không được như vậy. Một số đạo xây dựng cái đạo mình trên một cái niềm tin nào đó mà ai đập vỡ rồi, mất liền, nên họ luôn luôn kêu gọi niềm tin, bảo vệ niềm tin cho thật dữ dội. Chúng ta thấy vậy, đọc lại những kinh điển cũ của các tôn giáo, như có đạo thì nói rằng là ví dụ như thấy mặt trời quay quanh trái đất đi, thì nói mặt trời quay quanh trái đất.

[17:44]Đến khi khoa học thấy ngược lại, thế là những lời gọi là trong kinh của họ, cái kinh mà gọi là thiêng liêng của họ là bị đụng chạm, đổ vỡ, xúc phạm, bị hoài nghi liền. Nên có nhiều cái đạo họ không muốn cho tín đồ họ học giỏi. Có nhiều vậy, mấy ông tu sĩ ổng chăn một số tín đồ trong cái khu vực đó, không có khuyến khích cái việc học. Cái người dân học ít, dễ bỏ học vì cái người tu sĩ cai quản tinh thần cái vùng đó không kêu gọi học, mà người ít học họ dễ dễ chăn, vì cái người học rồi cứ hay từ từ bỏ đạo. Họ học nhiều quá, họ tập suy nghĩ, điều có lý trí, có lẽ phải, cái gì nó hợp lý, logic thì mới tin, không có tin bừa nữa,

[18:25]thì họ sẽ bỏ đạo vì cái đạo nó nhiều cái không logic, không hợp lý, vô lý. Nên có những cái khu đạo họ như vậy và họ cứ duy trì cái đạo của mình mãi bằng một cái niềm tin, niềm tin, ai đánh vỡ niềm tin đó, đạo họ sụp liền. Hoặc có cái đạo là họ xây dựng cái niềm tin, giữ niềm tin đó bằng khẩu súng, bằng cái cây gậy và bằng lưỡi gươm. Ai mà trệch ra khỏi niềm tin đó, họ giết liền, họ đánh liền. Có cái đạo như vậy nữa. Nghĩa là cái người họ xây dựng niềm tin thế này, là người ở trong đạo có thể làm bất cứ chuyện gì lầm lỗi trên thế gian này không quan trọng, miễn là trọn lòng tin cái vị thánh của họ, vị thần của họ trên trời thôi.

[19:17]Hễ mà cứ năn nỉ, lạy lục, tôn kính cái vị thần linh đó thì chết không có xuống địa ngục mà sẽ lên cõi trời. Còn sống trên đời này làm gì làm thây kệ, miễn đẹp lòng được thần linh là được rồi. Cho nên ở đây khi họ sống trên cái thế giới này họ có thể giết người, họ có thể đặt bom cho nổ, họ có thể áp bức, có thể ngược đãi, họ đánh lộn nhau, chém lộn nhau trong làng trong xóm, họ đánh lộn nhau bình thường, họ dữ lắm. Nhưng mà chỉ có một điều là ngày nào cũng phải cầu nguyện thì chết không sao hết. Họ nghĩ như vậy, cái niềm tin như vậy. Rồi từ cha mẹ... giáo sĩ họ cầm gươm, cầm súng họ canh con chiên,

[19:54]rồi những người cha mẹ sợ quá giữ gìn con mình cái niềm tin cho kỹ. Cái niềm tin đó được huân tập cả một đời, họ trở thành cuồng tín kỳ lạ. Họ có thể làm bất cứ điều gì, giết hại bất cứ ai, làm bất cứ điều gì lầm lỗi, đặt bom đánh sập cả một tòa nhà, chết năm sáu trăm người không sợ tội lỗi, không hề thấy tội. Chỉ vì nghĩ rằng điều này mình làm để đẹp lòng Thượng đế của họ là họ sẵn sàng làm liền. Vì họ mà họ giữ, họ giữ niềm tin bằng bạo lực. Hễ con nít mà làm bậy cái đè ra đánh liền, người lớn làm bậy cái đem ra lấy gươm cắt cổ liền, nên ai cũng sợ hết. Cha mẹ sợ con mình bị hại nên dạy con mình phải giữ niềm tin,

[20:34]và những lúc đó những giáo sĩ họ nắm quyền, nắm quyền cai trị cái đất nước đó. Nên có... khi mà niềm tin đó nó sẽ bị lý trí soi sáng rồi phá vỡ, đó chỉ là niềm tin những điều tin không hợp lý. Có những cái tôn giáo họ không có biện pháp nhiều để giữ gìn cái niềm tin của họ, nên từ từ họ bị mất tín đồ. Nhưng có những cái tôn giáo họ cương quyết giữ niềm tin họ bằng bạo lực thì họ vẫn phát triển, họ đang phát triển, và họ có nguy cơ là tấn công tới đạo Phật của mình luôn. Bây giờ thì tôi không có nói tên đạo nào nữa, quý thầy, quý phật tử tự suy nghĩ coi đó là những đạo nào. Nói ra sợ họ đón đường họ luộc tôi.

[21:22]Mà đạo Phật thì xây dựng trên trí tuệ, Ngài nói ra một cái lẽ phải khách quan. Khi mà chúng ta bằng cái lương tâm bình thường của mình, mình thấy nó là điều hợp lý, cái lẽ phải khách quan, chứ không phải là một cái đạo lý áp đặt. Cho nên tôi hay nói nhiều lần vậy. Pháp, Pháp của Phật là một đạo lý khách quan, là chân lý, chứ không phải là một cái điều đặt ra một cái quy định tưởng tượng, mà nó là một cái gì đó phù hợp với lòng người trong mọi thế hệ. Tôi nói câu này, sau này nếu mà có dịp mà quý thầy học với tôi tiếp, tôi sẽ giảng trong cái phương pháp diễn giảng mà tôi nói về điều này. Chúng ta là những người đệ tử Phật vậy, chúng ta cũng đi con đường này.

[22:07]Tức là chúng ta sẽ trình bày một cái lẽ phải khách quan cho mọi người, đánh thức mọi người, cái trí tuệ mọi người mở ra, chứ không có chứ không có nghĩa là áp đặt một cái đạo lý buộc người ta phải phải tin một cách vội vàng, một cách chấp nhận. Làm người ta, cái người dễ tin thì không nói, người không tin họ khó chịu. Còn ở đây khi chúng ta trình bày ra được cái lẽ phải khách quan thì ai nghe mình giảng cũng vui lòng hết. Mà đạo Phật là như vậy, nghĩa là Đức Phật mở ra chân lý, khám phá, trình bày lại, gợi ý lại, chứ Ngài không có áp đặt. Đạo Phật là như vậy, và thời đại mới này cũng vậy, quý thầy đi giảng cũng phải để ý điều này.

[22:47]Chúng ta nói cái điều gì hợp lý mà cái người của đạo Phật chấp nhận đã đành rồi, người không tin tôn giáo nào hết cũng phải chấp nhận, mà người ở đạo khác cũng phải chấp nhận. Mình chừng nào mà đủ sức thấy được cái đạo lý như vậy đó thì mới là một giảng sư thành công mà đi đúng con đường chân chính của đạo Phật, chứ không phải là mình khi mà giảng ra một cái khung buộc người ta phải chấp nhận một khái niệm lạ hoắc không phải. Khi mình giảng ra một đạo lý gì đó nó giống như là ở trong tâm người ta đã có, nó chìm đâu trỏng mà người ta chưa tự thấy, mình gợi cho người ta tự thấy. Khi là lúc đó người giảng và người nghe cùng hài hòa cùng hoan

[23:24]hỷ đồng ý với nhau một cái đạo lý chung của nhân loại. Đó là giảng sư. Người giảng sư là người gợi mở, người gợi ý, người khai ra chứ không phải là người đặt một điều tưởng tượng rồi buộc mọi người phải chấp nhận, không có. Đây là cái cách mà tôi giảng. Mà sau này khi tôi dạy môn đó tôi cũng sẽ nói rõ hơn về cái yếu tố này. Hôm nay tôi chỉ nói một chút vì hôm nay chúng ta học bài này lát cũng vậy. Nhưng mà đạo Phật cũng có nguy cơ bị lọt vào trong đạo Phật những cái pháp môn tu tập mà cũng kêu gọi niềm tin không. Đạo Phật cũng đang bị nguy cơ đó. Có một số tông phái có một số tông phái trong đạo Phật

[24:04]cũng như vậy, cũng xây dựng trên niềm tin thôi. Chứ không có không có gợi mở cái lý trí, cái trí tuệ con người, là cũng rất giống với ngoại đạo. Mà nói tông phái nào tôi cũng không dám nói nữa. Bị người ta ghét dữ quá. Giảng bị người ta chống dữ quá, nay sợ run rồi. Nhưng mà tôi sẽ nói cái cách nó như thế này: là ví dụ như có một cái tông phái đó cũng tin Phật A Di Đà giống như tông Tịnh Độ, chứ chưa phải tông Tịnh Độ, giống giống thôi. Chứ nói tông Tịnh Độ người ta ghét. Nói giống như tông Tịnh Độ, mà tin Đức Phật A Di Đà đến cái độ thế này: không cần biết mình làm cái gì, không cần biết mình sống như thế nào,

[24:49]chỉ đặt niềm tin tuyệt đối về Phật A Di Đà thì chắc chắn vãng sinh Cực Lạc. Lý luận cực kỳ giống như bên cái đạo ngoại đạo. Và để chứng tỏ cái điều này là đúng thì cái ông mà ổng chủ trương, một con đại sư mà chủ trương đó ổng ổng hoàn tục ổng lấy vợ luôn. Mà trong khi lấy vợ ổng vẫn tiếp tục truyền đạo, vẫn tiếp tục tu tập vì ổng nói rằng cái oai thần của Phật A Di Đà nó phủ trùm tuyệt đối. Tức là dù chúng ta phạm tội ngũ nghịch diệt tội đồ biết, phạm tội cực ác không cần biết, nhưng mà hễ đặt trọn niềm tin với Ngài là luôn luôn được cứu rỗi. Cái niềm tin đến độ như vậy. Còn tông Tịnh Độ đúng á thì có ba cái là: Tín, Hạnh, Nguyện, phải không?

[25:30]Tức mình tin rồi nhưng mình phải làm cái công hạnh gì, có những lời nguyện thế nào đối với chúng sinh. Nghĩa là mình phải có cái công lao gì đối với con người thì mình mới xứng đáng để sinh về Cực Lạc. Mình phải có cái công lao gì, cho nên tông Tịnh Độ mà đúng á thì nó còn có cái công bằng, vì nó còn có cái nhân quả ở trỏng. Nghĩa là muốn được về cõi Tịnh Độ chúng ta phải có một cái công lao tương xứng nào đó. Ngoài cái niệm Phật miên mật, nhất tâm còn phải có cái hạnh, nghĩa là cái cách để sống với con người cho hợp lý. Nên tông Tịnh Độ đúng thì rất hợp lý, nó có cái công bằng với nhân quả. Nhưng mà cái tông mà Tịnh Độ phẩy của cái ông đó đó,

[26:09]cái này là Tịnh Độ của ổng là Tịnh Độ phẩy, Tịnh Độ bis.

[26:15]Cái này là Tịnh Độ mà xuyệt 3A gì đó, xuyệt 18B gì đó, số nhà này nó hơi vô chút xíu. Thì cái Tịnh Độ này là bất cần, làm bậy làm bạ cũng được miễn tin tuyệt đối thôi. Cho nên ở đây đi quá rồi mình thấy nó có một điểm hở. Điểm hở là nhiều con người tin rằng á khi có người vừa chết, cái người này cả đời không biết tu tập mà nằm chết chôn trong hòm, chôn xuống đất, thì chỉ cần nhờ những cái người thân và những người tu sĩ đến niệm Phật cầu nguyện giùm thì người chết kia vẫn có thể sinh về Cực Lạc. Cái niềm tin này bắt đầu hết công bằng. Hết công bằng. Nghĩa là cái Tịnh Độ bis này nó chui vào Tịnh Độ chính rồi đó.

[26:58]Là vì sao vậy? Nếu mà người này niệm Phật người kia được vãng sinh thì thôi người nghĩa là có thể tu giùm á, mình không cần tu, người kia tu giùm thì thôi tất cả chúng ta không cần tu nữa. Chỉ cần nghĩa là cái oai thần của Phật A Di Đà ổng quơ một cái rẹt, a-lê-hấp là mình bay hết về Tịnh Độ luôn. Khỏi cần ai. Tại vì oai thần của Ngài mạnh đến nỗi người này tu giùm người kia, thôi mình nhờ Phật tu giùm luôn, phải không? Khỏi, mình khỏi tu luôn. Nếu ổng từ bi nếu ông Phật ổng từ bi, nghĩa là ổng dùng thần lực quơ cái rẹt gom hết mình lên Tịnh Độ, khỏi ai tu nữa. Nhưng không. Nếu mà cái niềm tin nó khai thác quá nó đi đến cái

[27:36]chỗ bất hợp lý, không có, không còn nhân quả. Cho nên chính vì luôn luôn lúc nào mình cũng nhớ nhân quả, cho nên giáo lý nào nói bằng trời, nói trên mây thì kệ, mình lúc nào cũng đối chiếu với nhân quả hợp lý hay không. Ví dụ bây giờ có một cái tông họ cũng tin, tin nơi tâm mình á có một cái gì đó bằng Phật. Trong tâm mình giờ có sẵn trỏng á. Mình đang quậy quậy vậy chứ trong tâm mình còn có Phật trỏng á, Phật tánh trỏng á. Quậy gì quậy trong trỏng còn có ở trỏng. Thì ở đây á nghĩa là chỉ cần mà làm sao mở ra thấy được cái tâm đó mình thành Phật. Thì cái này tôi cũng cảm thấy nó unfair, không công bằng lắm.

[28:21]Vì để thành tựu được Đức Phật mà vô lượng trí tuệ, vô lượng từ bi, tuyệt đối đạo đức thì cũng phải cái thời gian Phật tu cũng tương xứng cả mấy ngàn kiếp, vô lượng kiếp, phải không? Chúng ta thấy công hạnh của Phật. Còn ở đây mình không cần, quay đầu nhìn lại thấy bờ, mở tâm ra kiến tánh thành Phật. Tôi cảm thấy tôi hơi nghi ngờ cái lý luận này lắm vì nó không công bằng lắm, thấy bộ nó hơi đơn giản, nó dễ quá. Nên chính vì vậy cái người tu đúng không tính thời gian. Giống như trong Pháp Hoa có ngộ đạo rồi được Đức Phật thọ ký qua vô lượng số kiếp như sông Hằng ông sẽ đến cõi đó ông thành Phật, hiệu là Minh Trí Như Lai gì đó không biết.

[29:01]Thì cái đó cũng phải là tới vô lượng kiếp nó mới có một thời gian công bằng để mình làm cái công hạnh. Tức là muốn cái tuyệt đối, cái công hạnh nó cũng phải tuyệt đối. Còn qua người khác thì không phải là vô số kiếp sông Hằng mà tám muôn vô số kiếp sông Hằng ông sẽ đến cái cõi Long An ông làm An Ngôn Phật. Cái kiểu đó thì nghĩa là nghĩa là mình thấy nó phải có một thời gian tương xứng nào đó, chứ còn mà tí mở cái rẹt ra cái mình thành Phật rồi cũng hơi vô lý. Quý thầy nào muốn không tôi thọ ký giùm cho hết. An Lương, An gì đó, An Minh, An gì đó, làm

[29:37]Nên ở đây là vậy. Cũng giống như tôi hồi còn cư sĩ tôi đọc cái bài kinh là Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni, trong đó có một đoạn. Hồi đó thì tôi chưa biết là kinh Đại Thừa không phải Phật thuyết đâu. Lúc đó tôi vẫn tin là kinh Đại Thừa cũng là Phật thuyết thôi, bình thường. Mình nói là kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni thì mình cũng nghĩ là Phật thuyết thôi. Thì tôi đọc tới cái đoạn mà nói rằng dù cho cái người mà độ cho muôn ngàn người đắc quả A La Hán cũng không có công đức bằng cái người trì câu thần chú Phật Đảnh Tôn Thắng này. Tôi đọc tới đó tôi gấp lại cất kinh liền, không đọc nữa, tôi không tin.

[30:14]Tôi không tin. Tôi nói dù bài này Phật thuyết tôi không tin. Vì nó không công bằng, nó không đúng với nhân quả.

[30:23]Mà từ hồi đó tôi đã có cái lì lì, bướng bướng đó rồi đó. Hoài nghi, mặc dù là tôi ngoan ngoãn lắm, tôi ngoan ngoãn, hiền lành lắm. Nhưng mà tới đó là không chấp nhận đó, cái này quá xa đạo Phật. Chúng ta nhớ là Đức Đạt Lai Lạt Ma ổng là giáo chủ của Tây Tạng, ổng không bao giờ giảng Mật tông. Nghĩa là người châu Âu, phương Tây mà theo đạo Phật rất đông là nhờ ngài Đạt Lai Lạt Ma đi nơi này nơi kia giảng. Nhưng mà Ngài không bao giờ giảng Mật tông. Cũng giảng giáo lý bình thường, căn bản như chúng ta thôi. Nếu có ai năn nỉ Ngài học Mật tông, Ngài chỉ dạy niệm cái câu Án Ma Ni Bát Di Hồng thôi. Om Mani Padme Hum, vậy thôi, chứ Ngài không có dạy Mật tông.

[31:06]Rồi cái hạnh Ngài sao mình không biết, nhưng mà đó. Chứ còn đi Mật tông mà thuần vô rồi còn bắt đầu nhiều điều rắc rối nữa, nó xa đạo Phật lần lần, xa rất xa. Vì có những cái mà chỉ dựa vào niềm tin, không có công bằng về nhân quả lắm. Điều chúng ta để ý như vậy.

[31:26]Chúng ta nghe cái đoạn kinh. Này Bhaddiya, ông nghĩ thế nào? Nếu trong lòng có lòng có có niệm tham khởi lên thì người này sẽ được hạnh phúc hay bất hạnh? Bất hạnh, bạch Thế Tôn. Người này có tham này Bhaddiya, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không? Thưa có, bạch Thế Tôn. Ông nghĩ thế nào này Bhaddiya, lòng sân, lòng si, lòng hung bạo khi khởi lên thì như vậy đưa đến hạnh phúc hay bất hạnh? Bạch Thế Tôn, là bất hạnh. Thì đau khổ lâu dài hay không?

[32:05]Thưa có, bạch Thế Tôn. Này ông Bhaddiya nghĩ sao? Các pháp đó sân si tham hung bạo là thiện hay bất thiện? Là bất thiện, bạch Thế Tôn. Có tội hay không có tội? Có tội. Bị người có trí quở trách hay không bị quở trách? Dạ thưa bị quở trách. Nếu thực hiện, được chấp nhận có đưa đến bất hạnh đau khổ hay không? Dạ thưa có nếu được thực hiện, được chấp nhận là đưa đến đau khổ. Như vậy này Bhaddiya, điều Ta vừa nói với các ông: Chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì nghe truyền thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng, chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình,

[32:42]chớ có tin vì đúng theo một lập trường, chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện, chớ có tin vì phù hợp với định kiến, chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn đó là bậc Đạo sư của mình. Nhưng này các Bhaddiya, các Bhaddiya tức là nhiều người cùng dòng họ, khi nào các ông tự biết rõ rằng các pháp này là bất thiện, là có tội, bị người có trí quở trách, nếu thực hiện sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ thì các ông hãy từ bỏ chúng.

[33:12]Còn các ông thực hiện những điều nào mà các ông thấy đó là thiện, là không có tội, không bị người có trí quở trách, đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài thì các ông hãy thực hiện, hãy chứng đạt và an trú chúng.

[33:29]Này Bhaddiya, và như vậy các bậc chân nhân, tịch tịnh ở đời đều nói giống nhau như một điều: Hãy đến đây này các bạn, hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham. Do sống nhiếp phục tham, bạn sẽ không làm các ác nghiệp về tham nơi thân, nơi ý, nơi lời nói. Hãy nhiếp phục sân, hãy nhiếp phục si, hãy nhiếp phục sự hung bạo. Do nhiếp phục như vậy các bạn sẽ không làm các ác nghiệp về thân, về lời, về ý. Khi được nói như vậy, Bhaddiya người Licchavi đã bạch Thế Tôn: Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay! Và ông xin quy y: Mong Thế Tôn nhận cho con làm đệ tử cư sĩ từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Đức Phật mới nói:

[34:13]Này Bhaddiya, nãy giờ Ta có nói với ông là hãy đến đây để làm đệ tử của Ta hay không? Thưa không, bạch Thế Tôn. Và như vậy, bây giờ Đức Phật mới trị cái ngọn. Nãy giờ Đức Phật nói cái gốc. Như vậy này Bhaddiya, những ai nói rằng là Sa-môn Gotama là một nhà huyễn thuật, bùa chú thì lời nói đó đâu có đúng. Thấy không, tới đó Đức Phật mới chữa cái ngọn. Thì Bhaddiya nói: Bạch Thế Tôn, hiền thiện thay cái loại bùa này. Bạch Thế Tôn, thật là tốt đẹp thay cái loại bùa này! Bởi những ai được dụ dỗ bởi cái bùa này, con mong rằng bạch Thế Tôn, tất cả bà con huyết thống thân ái của con được cái loại bùa này dụ dỗ

[34:54]để cho các bà con huyết thống con được an lạc lâu dài. Bạch Thế Tôn, con mong cho tất cả người Sát-đế-lỵ, những người Bà-la-môn, những người Phệ-xá, người Thủ-đà đều được cái loại bùa của Thế Tôn này dụ dỗ để họ được an lạc lâu dài. Tôi đọc tới bài kinh này tôi mắc cười, bởi nhiều khi tôi hay gặp mấy Phật tử tôi hay nói đùa, hỏi sao, bữa nay có dụ được ai nghe băng chưa? Nói dạ con dụ được mấy người nữa, thì tưởng là thầy trò nói nhau đùa, không ngờ trong kinh này cũng dùng cái chữ dụ dỗ. Đúng như vậy, nên về quý Phật tử ráng dụ dỗ người ta thêm nghe không? Phải!

[35:34]Như vậy là phải này Bhaddiya, như vậy là phải này Bhaddiya. Nếu tất cả mọi người Sát-đế-lỵ được cám dỗ, Đức Phật cũng dùng chữ này luôn, với sự dụ dỗ của bùa chú này để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp bất thiện thì như vậy các Sát-đế-lỵ ấy, các Bà-la-môn, các Phệ-xá, các Thủ-đà sẽ được an lạc, được hạnh phúc lâu dài. Này Bhaddiya, nếu cả thế giới này cùng với chư Thiên, Ma-ra, Phạm Thiên với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn mà được huyễn thuật này dụ dỗ, cám dỗ để đoạn tận các pháp bất thiện thì mọi người sẽ được an lạc, hạnh phúc trong một thời gian dài. Này Bhaddiya, ngay cả các cây rừng này đây

[36:17]mà nếu được huyễn thuật này dụ dỗ để đoạn tận các pháp bất thiện thì chúng cũng được an lạc, hạnh phúc nữa, huống hồ là nói với con người. Cái bài kinh tới đây là chấm dứt.

[36:31]Bây giờ chúng ta phân tích lại một số điểm. Là thứ nhất, Đức Phật nói là đừng tin vì nghe truyền thuyết. Truyền thuyết là gì? Truyền thuyết là thường giống như chuyện cổ tích, giống như vậy. Chuyện cổ tích hay những truyền thuyết ngày xưa có khi nó dựa vào một sự kiện mà mình thấy có thật, nhưng mà họ tô điểm, thêu dệt bằng những điều tưởng tượng, tô vẽ không có thật lắm. Ví dụ như là trong lịch sử chúng ta có cái truyền thuyết về Phù Đổng Thiên Vương, phải không? Lúc đó giặc Ân sang đánh nước ta, vào thời đó là nước ta đang còn ở cái vị vua Hùng Vương cai trị. Thì vua Hùng mới sai sứ giả đi khắp nơi để tìm người tài đủ sức đánh giặc.

[37:18]Khi mà tin tình báo báo về như vậy, thì ở cái làng Phù Đổng đó có một đứa bé bỗng nhiên bao nhiêu năm không nói, tự nhiên xin mẹ cho ra gặp sứ giả. Ra nói là sẽ nhận đi đánh giặc. Sứ giả ngạc nhiên, nhưng bà mẹ nói: Đứa bé này kỳ lạ, bao nhiêu năm không nói hôm nay bỗng nhiên nói. Cái sứ giả đồng ý. Thì đứa bé nói: Cho giáp sắt, ngựa sắt, roi sắt rồi bắt đầu kêu cả làng nấu cơm. Thì bao nhiêu nong cơm tới ăn không hết, ăn rồi lớn như thổi lên, rồi cỡi ngựa sắt cầm roi sắt đi đánh giặc, đánh tan tành. Sức mạnh đến nỗi mà gãy roi sắt rồi nhổ những bụi tre bên đường quất quân giặc và giặc Ân tan tành.

[37:58]Thời đó bên Trung Hoa là nhà Ân. Nhà Ân, nhà Thương, nhà Ân, nhà Chu rồi nối nhau như vậy. Thì nước mình vậy cứ luôn luôn là bị phương Bắc xâm lược. Nhưng mà cái truyền thuyết như vậy thì cái sau khi đánh tan quân giặc thì Phù Đổng Thiên Vương mới cỡi ngựa sắt lên trên núi Phù Đổng rồi lên trời luôn. Đó là truyền thuyết. Thì bây giờ mình có tin không? Tin không? Các nhà sử học thì không tin nhưng mình nhiều khi cũng muốn tin cho nó đẹp, vì cái huyền thoại của dân tộc. Nhưng mà nếu bỏ qua các chi tiết huyền thoại, thần bí á thì chúng ta có thể định nghĩa thế này, chúng ta có thể kể lại. Vào cái thời vua Hùng thứ mấy đó rồi bên nhà Ân mới đem quân sang đánh.

[38:40]Và trong nước mình bỗng xuất hiện một nhân tài kiệt xuất là nghĩa là đã một mình điều hành quân đội nhưng mà đánh tan giặc Ân để bảo vệ bờ cõi. Thì người này rất phi thường, siêu việt. Nhưng mà do quá giỏi đi, nên người dân đã truyền tụng và ca ngợi, thêu dệt thành một huyền thoại đẹp của dân tộc ta. Cho nên dù có thể huyền thoại đó không thật nhưng mình cứ kể y chang như vậy cho con nít nghe, học sinh nhỏ nhỏ nghe. Nào lớn lên nó nghi tính sau. Nhưng mà truyền thuyết đã để lại mình cứ kể như vậy nhưng mà đừng tin. Vì Phật dạy: Đừng tin truyền thuyết. Thấy chuyện nhiều chuyện như vậy lắm. Ví dụ vào thời vua Quang Trung vậy.

[39:24]Do vua Quang Trung ông ở gần thời đại của khoa học quá nên người ta không kịp thêu dệt những huyền thoại. Chứ nếu vua Quang Trung mà sống xa xa hồi xưa một chút chắc là thêm số huyền thoại. Thì cái việc mà ông hành quân cấp tốc 5 ngày từ Huế ra tới Bắc rồi đánh tan quân nhà Thanh trong vòng mấy ngày, nó là một chiến công có một không hai trên thế giới. Vào thời đồng thời với vua Quang Trung và trước vua Quang Trung, trên khắp thế giới này không có một chiến công nào oanh liệt như thế. Xin nhắc lại, trên thế giới không một chiến công nào oanh liệt như thế. Cho nên nếu mà Ngài sống xa một chút chắc người ta đã dệt Ngài là ông thần.

[40:00]Nhưng vì Ngài sống gần quá nên khoa học đã tới kịp nên dừng lại không cho ai dựng lên những huyền thoại. Dù không dựng lên, nhưng mà những điều vua Quang Trung làm tới ngày nay không giải thích nổi luôn. Ví dụ cái chuyện mà nói rằng Ngài di chuyển từ Huế ra Phú Xuân, ê ra Bắc á, trong 5 ngày bằng cách là hai người gánh một người. Quý thầy có nghe chưa? Hai người võng một người phải không, rồi lát cái người kia nhảy xuống người kia leo lên võng gánh đi, rồi đổi nhau như vậy mà di chuyển liên tục không ngừng trong 5 ngày ra tới Bắc để đánh quân Thanh. Thì Viện Quân sự của nhà nước mới thí nghiệm lại.

[40:34]Cũng cho lựa một nhóm người khỏe mạnh hoàn toàn, hai người gánh một người đi mười mấy ngày mới tới hay chưa tới nữa. Như vậy không biết làm sao, nên cái cái truyền thuyết mà nói rằng hai người gánh một người, sai. Mà làm cách nào cho đúng? Không biết. Giống như ngày xưa thời Phù Đổng Thiên Vương, tại sao có một cái anh hùng nào đánh tan giặc Ân hùng mạnh lúc đó, dân số nước mình ít? Thì câu trả lời là vẫn không biết. Hoặc là thời xưa vậy, vua Quang Trung có những đoàn tàu chiến mạnh đánh tan những đoàn tàu chiến của nước ngoài, đánh tan Xiêm La, đánh tan quân Tàu. Mà cái chỗ nào đóng tàu? Không biết, đến bây giờ vẫn tìm không ra.

[41:15]Hoặc là có cái vũ khí gọi là Hỏa hổ, đánh rất ác liệt, tức là một loại vũ khí giống như súng thời vua Quang Trung vậy, đánh coi là quân Tàu sợ luôn, mà cách chế như thế nào, công thức ở đâu, chỗ nào chế, đến bây giờ vẫn là một bí mật không ai tìm ra nữa. Nó lạ như vậy. Thời vua Quang Trung nhiều cái rất nhiều chi tiết mà khi các nhà quân sự họ nghiên cứu tìm lại họ không hiểu. Mà may là mình không có dệt trong một truyền thuyết á, chỉ tìm một cách khách quan mà tìm không nổi. Đó là những truyền thuyết. Hoặc là ví dụ, ví dụ ngày xưa kể chuyện rằng tức là con vịt nó dụ cái con a con cáo làm cái gì giùm cho nó rồi nó hứa cho con cáo một cái chân.

[41:58]Nhưng tới chừng làm xong rồi nó không cho nữa. Không cho rồi cái con cáo mà tới nói, nó cứ rút một chân lên đứng á, nói: Tôi còn có một chân làm sao cho bạn được? Cho nên vì vậy cái tới ngày hôm nay hễ mỗi lần mà con vịt nó lên bờ mình nó đứng im nó ngủ mình thấy có một chân, chân rút lên vì nó sợ con cáo tới đòi cái chân kia của nó. Nó kể chuyện vậy. Mà quý thầy có thấy con vịt nó đứng một chân không? Thấy không? Cho nên câu chuyện nghe kể để giải thích tại sao con vịt nó đứng một chân, vì nó sợ con cáo tới đòi. Đó là những cái truyền thuyết, những cổ tích. Giờ mình hết tin rồi, phải không? Nhưng mà nên Phật nói đừng tin vào truyền thuyết, phải xét lại cho thật nhiều.

[42:35]Trong truyền thuyết, cổ tích nó có một điểm nào đó đúng, nhưng mà có nhiều điểm nào đó sai, nhưng phải tỉnh táo phán đoán, chớ đừng có tin liền. Ví dụ như đừng có tin truyền thuyết nói rằng hễ đưa con chuồn chuồn cắn rốn là biết bơi, cho nên đừng có cầm con chuồn chuồn cắn rốn rồi nhảy xuống sông cái ầm cái rồi ba ngày sau nổi lên đó, ngợp thở chết luôn á. Thứ hai là đừng tin vào truyền thống. Truyền thống là những cái quan điểm, những tập quán, niềm tin từ nhiều đời để lại, thì cái truyền thống này mình cũng đừng tin, nhiều cái đúng nhiều cái trật lất à. Cho nên chúng ta phải tỉnh táo xét lại hết.

[43:14]Ví dụ như là mình coi ngày tốt xấu, nhất là cái hồi xưa trước giải phóng á có cái lịch của Tam Tông Miếu á, mở ra mình tính làm gì coi ngày này trực thành hay trực phá, trực hư, trực nguy hay ngày sát chủ hay ngày tam nương rồi. Thế là rồi cái sợ, ngày nay chỉ được đào giếng, động móng không được đi cưới gả, hỏi xin đồ gì. Mình cứ dòm mà không biết ai đặt ra cái đó mà mình cứ tin thôi, mà không biết cái ông mà ổng viết cái lịch đó ổng căn cứ đâu, ổng lý luận chỗ nào, không biết, mà hễ thấy lịch vậy là ngày đó không dám. "Nay má đi hỏi vợ cho con, con chịu hết nổi rồi." Mở lên: "Ngày này sát chủ, kỵ đi cưới gả con, ngày này chỉ đi đào giếng thôi,

[43:49]con ráng đào giếng đi, đừng có nay cưới hỏi gì, bữa khác." Nói: "Nay mà không kịp nữa là cái người khác nó hỏi, con mất vợ, má mất dâu." Nói: "Thôi, kệ cho ai hỏi cho nó chết đi con, hôm nay là cử gả, cưới hỏi, mà người ta đi hỏi là đứa đó nó tiêu, kệ nó con, ở nhà với má." Kiểu đó.

[44:11]Ví dụ như mình cử á quét rác vậy, nói mình quét ra là tiền đi ra, phải không? Chứ mình cứ quét nhà quét vô mà. Ở đây có không? Phật tử có không? Bảo đảm. Nó vậy đó. Mà không biết ai đặt ra cái đó rồi tin, rồi quét vô rồi tưởng sao cũng gom lại bỏ thùng rác rồi cũng đem ra ngoài đổ chứ thôi gì có giữ được, chứ đâu phải rác nó là tiền giữ được chất đống, chất vách trong bể mình đâu. Vậy mà cứ tin hễ quét ra tiền đi ra, giờ tới giờ còn tin. Quý thầy có bị không ta? Dám nghi quý thầy ở chùa bị lắm á.

[44:43]Rồi cái xông đất đầu năm nữa, hễ Tết mà ai mà tới tới xông mình á cái sao là năm đó giống như vậy, cũng tin. Nên vì cứ mỗi năm cái tôi cứ nghe đệ tử chùa báo cáo: "Thưa thầy, năm nay người đó xông đất á, không biết năm nay làm sao làm sao." Tôi nói: "Thôi kệ, năm nào cũng như năm nấy, tôi thấy năm nào cũng vậy à, ai cũng vậy." Ăn thua mình ráng tu, biết làm sao mà nói bây giờ. Rồi hoặc là cái quan niệm là con trai là người nối dõi tông đường, cái đó là cái truyền thống. Chứ con gái đẻ con gái ra nọ lấy chồng sinh con của nó ra là lấy họ chồng nó, mình mất. Thì đây là cái vì lý do gì vậy? Lý do cũng là cái truyền thống là con con luôn luôn mang họ cha.

[45:24]Quý thầy có thấy nó vô lý không? Quý thầy mang họ cha, phải không? Em gái mình cũng mang họ cha, chị mình cũng mang họ cha, phải không? Ai đẻ ra cũng mang họ cha rồi mình thấy chuyện nó bình thường, giống như nó là chân lý, phải không? Có bao giờ quý thầy ngồi xét lại thấy tại sao như vậy không? Có đặt vấn đề? Có thấy không? Thấy nó kỳ kỳ không? Tại sao con sinh ra phải sinh mang họ cha? Trong khi mẹ là người mang nặng đẻ đau? Có thấy kỳ kỳ không? Phật tử thấy làm sao? Từ nhỏ lớn mình quen vậy phải không? Nghĩ nó là chân lý, là lẽ phải, nhưng có bao giờ mình đặt lại vấn đề: Ủa, tại sao mẹ mình mắc gì có lỗi gì mình không mang họ mẹ mình?

[46:05]Mà mở miệng hát thì "Con yêu mẹ nhất trên đời", là bông hoa cài trên áo, mà họ mẹ không mang? Nó kỳ vậy? Đó, có những cái vô lý truyền thống để lại đó, tới bây giờ mình vẫn chấp nhận đó. Nên có khi phải xét lại hết mọi điều, không phải dễ. Hồi xưa con cái mang họ mẹ hết. Nhưng mà bà đó bả đẻ hai chục đứa con cũng mang họ mẹ hết, ba là ai không biết. Tại hình như là hồi xưa người đàn bà cũng tùm lum mà không hiểu cái thời mẫu hệ đó. Cho nên bả đẻ ra thì chắc chắn là con của bà đó thì để mang họ bà đó, chứ còn con của ông nào đâu biết đường đâu mà tìm. Nhưng rồi một thời gian sau này bắt đầu cái người đàn ông

[46:44]họ mạnh mẽ, họ vai u thịt bắp cái họ quản lý năm, sáu bà thì đẻ ra là chắc chắn con ổng không lọt con ai hết. Như vậy, nhưng mà nhưng mà nó có một cái chuyện có cái chuyện là hồi xưa hồi xưa có lúc đó là thường thường á là người mới đầu là người phụ nữ là mỗi lần mà đi sinh đẻ đau dữ lắm, đau bụng đẻ, nên cái người phụ nữ mới kiện ông Trời. Ông Trời nói: "Ờ, cũng đúng." Nghe rồi phải không? Chưa? Ông Trời ổng mới nói đúng: "Đúng rồi, khi không tại sao bà đã mang nặng rồi bây giờ đẻ đau? Mới mà hễ mà vợ mà đẻ là chồng đau." Thế là từ đó bắt đầu là bà vợ mỗi lần mà mang thì mang nhưng mà hễ đẻ là ông chồng đau.

[47:29]Rồi một thời gian cái bỗng nhiên hàng xóm đau, bà vợ đẻ mà ông hàng xóm đau. Thế ông chồng nói: "Ủa sao kỳ vậy? Sao nay bà đẻ mà ông hàng xóm đau?" Thì cái bà vợ mới: "Lộn xộn quá. Thôi nói ông Trời thôi con đẻ con đau luôn cho khỏi ai đau cho rắc rối." Rồi sau này mới đổi qua bên phụ hệ. Nghĩa là ông chồng à con cái lấy họ cha. Nhưng bây giờ bắt đầu vấn đề nó đặt lại: Tại sao không lấy họ mẹ? Nên nói với Phật tử mấy đứa mà chưa lấy chồng, nó lớn lên mà mà lập gia đình nói: "Hễ đẻ hai đứa, một đứa mang họ anh, một đứa mang họ em, chịu lấy không chịu xù."

[48:08]Nó đâu có lý do gì mà cứ hễ phải mang họ cha rồi cứ buộc phải đẻ con trai để nối dõi tông đường làm rắc rối đi. Nên bây giờ đẻ con gái cũng nối dõi tông đường được nếu bắt đầu biết mang họ mẹ. Ví dụ vậy, phải không? Nó nó có một cái gì đó từ từ mình phải nhìn lại chứ không phải mọi cái dễ tin hết. Rồi cái tục mà đốt vàng mã, hễ người chết mà thấy nằm mơ thấy về lạnh quá không có đồ mặc cái mình ra mình lấy giấy cắt cắt đồ áo đem đốt cái người ta có đồ mặc, hợp lý không? Không hợp lý. Vì cái đó là do phước. Rồi có một lần vậy, tôi đến cái chùa đó thăm ba cái người Phật tử có đứa con bị mất, gửi cái cốt nơi cái chùa.

[48:46]Thì nhằm ngày cúng tuần á, cũng đang bày ra tụng cúng đồ vậy, thì thấy có người phụ nữ trẻ tuổi cũng quấn khăn tang. "Cô cúng ai?" Nói: "Dạ, con cúng chồng con." "Bị chết gì?" Nói: "Ổng bị đi xe Honda bi bị tai nạn." Nói: "Trời ơi, ổng đi xe Honda bị tai nạn còn cúng ổng thêm chiếc nữa xuống dưới ổng làm một trận nữa rồi biết..." Mà nhiều khi mình thấy cái đó nó nó ngờ nghệch á, cái niềm tin như trẻ con à. Có người cúng nguyên cái đầu máy, nguyên cái tivi xuống cho ổng coi đỡ buồn mà không có gửi phim xuống. Phim thì phải thay đổi rồi nữa làm sao mà gửi xuống cho ổng coi? Đô la xuống công an bắt liền vì đô la giả.

[49:19]Nó vậy, khổ.

[49:31]Nó vậy, khổ. Nghĩa là nhiều cái niềm tin mình tin đơn giản quá, không suy xét. Cho nên tôi hay nói ví dụ nói là nói: "Con thấy thân nhân con mơ về thấy nói bị lạnh", thì nói: "Bây giờ đem quần áo đi bố thí hàng xóm nghe thầy." Bố thí xong đứng trước Phật phát nguyện: "Con nguyện đem công đức bố thí này cho thân nhân con tên đó họ đó được quần áo nghiêm trang đầy đủ ấm áp", thì tự nhiên dưới kia người ta có liền. Bởi vì nó là do phước tạo ra rồi mình làm cái phước mình hồi hướng, chứ đâu có mình lấy lấy cái tờ giấy vàng mã có mấy xu một bản cắt cắt ra làm vậy dễ quá. Rồi có người làm nhà lầu đồ đủ thứ hết trơn đó.

[50:08]Nên những cái niềm tin về cái truyền thống như vậy mình phải xét lại hết, đừng có dễ tin. Rồi tin là người ta nói. Đó, cái người ta nói này mới rắc rối đây. Nói cái bà đó vậy chứ bả là chuyên môn nghĩa là ăn gian, lừa đảo, dâm đãng rồi kia nọ. Ai nói? Nói người ta nói. Người ta nói biết kết tội ai? Đó, những cái mình cứ nghe đi nói lại vậy. Mà tôi thấy á là tôi cũng xin báo cáo với quý thầy, năm nay tôi đã già, 42 tuổi, già rồi. Cho nên tôi nghe đủ thứ chuyện sai trên cuộc đời này hết rồi, giờ tôi nản lắm rồi. Giờ ai nói gì hết tin rồi, chứ còn tôi tôi dễ tin lắm. Vì sao vậy? Là vì thứ nhất á, tôi là người hiểu vấn đề rõ ràng, nhanh chóng, tôi dễ hiểu lắm.

[50:57]Ví dụ đi học cũng vậy, thấy ông thầy ổng giảng bài hình học cái là tôi không có cần học bài. Mà tới 5, 6 năm sau định lý tôi vẫn nhớ để chứng minh toán được. Nên ai nói cái gì tôi hiểu chính xác từng ly từng tí á. Rồi khi nói lại tôi luôn luôn nói chân thật, tôi là người chân thật chứ không phải chân giả. Như vậy.

[51:19]Cho nên tôi nghĩ ai cũng vậy, tôi nghĩ trên đời này không ai nói dối, cho nên tôi mắc cái bệnh cả tin, mấy đứa em tôi nó cười tôi hoài. Nhưng mà tới chừng lớn lên thì tới năm nay là tuổi đã già rồi, thì tôi mới thấy rằng những điều người ta nói qua nói lại không có thật đâu hết trơn á, nói trật hết trơn à, kỳ khôi. Như hôm trước vậy, tôi trên cốc tôi bị bệnh, tôi nằm cái võng, thì mấy chú đệ tử đang bấm huyệt chân cho tôi. Thì có cái chuyện gì á, cũng chú đệ tử lên báo hỏi ý kiến tôi chuyện đó nên làm như vậy không? Tôi nói: "Thôi, đừng làm như vậy." Thì chú mới gọi điện thoại xuống dưới nhà bếp nhà kho, chú nói:

[51:53]"Thầy bảo là đừng làm nha, làm thì cho mười ăn ba hèo." Chú thêm câu liền. Chú nói đùa. Thì bây giờ suy luận tiếp, cái người dưới đó, cái người nói: "Chết rồi, thầy nói là thầy đánh người ba hèo ai mà làm." Thì nếu có người Phật tử đứng ở gần đấy: "Trời, ông thầy ổng dữ quá sao ổng đụng chút ổng đánh đệ tử cây gậy không." Mà truyền xuống chân núi nói: "Trên chùa đấy nói chuyện bằng cây gậy không. Trên chùa đó coi vậy chứ là nói một tiếng là toàn bạo lực, cây gậy không có từ bi gì đâu, đừng có tin." Đó, từ một câu nói hiền lành dễ thương của tôi xuống tới chân núi là thấy cái chùa này nghĩa là chiến

[52:24]tranh rồi ghê gớm, bạo lực rồi đánh lộn đánh lạo không thấy ghê. Thấy sự thật vậy. Giống như mấy nhà xã hội học người ta thí nghiệm trên một chiếc xe buýt, cùng một chiếc là môi trường rất nhỏ cho một người kể một câu chuyện nhỏ, rồi tới người cuối cùng câu chuyện nó đơn giản là có một người phụ nữ xe bị hư ra đứng ngoài đường đón một chiếc xe đi quá giang đi. Câu chuyện đơn giản, nhưng mà tới cái người cuối cùng kể lại câu chuyện làm sao? Nói là có một băng cướp phụ nữ đã đón đường trấn lột một người đàn ông, vứt ổng vào khu rừng, lột hết quần áo không còn cái gì để cướp chiếc xe và cướp tài sản.

[52:56]Từ một người ban đầu nói một lát nó thành chuyện tào lao thiên địa rồi thiên tưởng không. Cho nên nói: "Đừng tin người ta nói" là vậy. Những chuyện kể, ngay cả báo đăng không chính xác luôn, đừng tin nữa. Nên tôi đã chứng kiến một lần có hai vợ chồng vì xích mích nhau ly dị gì đó, cái ông chồng nhờ báo đăng bài nói xấu bà vợ. Thì đọc bài báo tôi hỡi ôi, vì tôi biết chuyện rất là rõ, tôi là người đứng là sát gần cái chuyện, tôi biết rất rõ, nên từ đó nói báo nói chứ cũng khoan tin. Nên các mà các hãng thông tấn, cơ quan thông tấn họ đều dè dặt khi đưa tin. Ví dụ họ nói rằng có cái tin như vậy, nhưng chưa có nguồn tin độc lập khác để kiểm chứng cái

[53:33]tin này, họ đều nói thòng theo chứ họ không khẳng định đó là sự thật. Hoặc họ nói rằng: "Theo một nguồn tin đáng tin cậy thì như thế này", tức là họ cũng theo nguồn tin chứ họ không khẳng định đó là sự thật, mặc dù đó là nguồn tin đáng tin cậy, thì cái xác suất chính xác thì nó cao hơn thôi chứ chưa chắc nó đúng hoàn toàn. Nên họ dè dặt như vậy đó. Chúng ta thấy, vì sự thật á mới đây bước qua cái khác liền, không tin. Mà có nhiều người thích nói chuyện xấu thiên hạ, có nhiều người do là họ nghe A họ nghe thành A', họ nói qua cái thành B. Rồi họ không ác ý nhưng mà do cái đầu họ tiếp nhận thông tin nó sai.

[54:10]Cái khả năng của họ bóp méo từ từ từ qua cái thành câu chuyện khác. Nhưng có những người ác ý nói xạo, dựng chuyện rõ ràng, mà tôi cũng gặp nhiều lắm á. Như có cái bà Phật tử nhưng bà với tôi chắc đời trước có mối thù truyền kiếp gì không biết, bả chuyên môn nói xấu tôi. Nghĩa là, nghĩa là nghe ai mà nghe băng tôi là bả tới nơi bả ngồi bả nói xấu tôi cho bằng được, đừng có nghe nữa. Mà bả nói ghê gớm mà tôi nghe lại tôi mắc cười, nên tôi ít có tin là vậy. Như có hồi đó tôi đi giảng cái chùa đó thì trong chùa đó có cái cô Phật tử đó cũng xinh, chồng mất, thì à thì cổ mộ đạo nên gặp a những người như tôi là giảng

[54:47]sư thì cô cũng ân cần quý mến vậy thôi, chứ cũng không có chuyện gì. Rồi cái sau bả mới nói mọi người, bả nói là: "Tôi thấy ông á ông Chân Quang ổng ở nhà cô đó bảy ngày bảy đêm. Sáng sớm là thấy cô đó xách cà mên đi mua hủ tiếu cho ổng, tui mắt thấy rõ ràng." Mà thật ra không bao giờ tôi ở kiểu đó. Chỉ một lần duy nhất ghé với nhiều người Phật tử ghé thăm cô đó vì cô ân cần mời thăm nhà, xem bàn thờ có được hay không, vậy thôi. Nhưng mà qua miệng bà đó nói thành ở lại bảy ngày bảy đêm đàng hoàng. Tôi nghe tôi cười cười thôi, lắc đầu thôi. Nó có những người như vậy. Cho nên, cái tin mà tới tai chúng ta đó, nhiều khi có tin đó là do cái

[55:26]người nghe người nói họ tự họ không chính xác chứ họ không ác ý. Nhưng có những người ác ý dựng lên hẳn câu chuyện. Và có nhiều người vì quyền lợi dựng những câu chuyện tưởng tượng dữ dội lắm, nên tôi nghe đầy tai hết trơn. Cho nên năm nay tới 42 tuổi là tôi hoài nghi hết cuộc đời, mà tôi sợ tôi sống tới 50 tuổi rồi, 60 tuổi rồi nếu còn sống thì chắc là tôi nhìn cuộc đời còn ảm đạm nhiều nữa.

[55:52]Đó là cái thứ ba: người ta nói; cái thứ tư là: do kinh tạng truyền tụng, dễ sợ chưa. Nghĩa là kinh của các tôn giáo và ngay cả kinh của đạo Phật cũng đừng tin luôn. Nhưng mà thường chúng ta không dám không tin, vì sao? Vì sợ bị tội. Thấy là kinh là cái gì đó thiêng liêng từng chữ từng câu, đụng tới không được, nhưng mình đâu có ngờ nhiều khi trong đó cũng trật tùm lum. Nhiều khi cũng chỉ do một vài người nào đó viết. Mà người nào đó cũng chưa chắc họ đã chuẩn xác hoàn toàn. Có nhiều cái ví dụ một vị đó là một vị thiền sư đắc đạo, khi chết ngồi kiết già bất động chết đàng hoàng, thì mình cứ nghĩ rằng mọi điều vị đó nói là chân lý phải không?

[56:35]Vậy mà vẫn sai như thường, vẫn có nhiều điều sai như thường, nếu bình tĩnh mình xét lại. Nó lạ vậy. Như hôm trước có một lần mà tôi giảng bài nào tôi nói đó, ngay cả người chứng đạo, chứng là một chuyện mà dạy lại là một chuyện khác, giáo hóa là một chuyện khác, chưa chắc là chuẩn, nó lạ như vậy. Nên những cái điều mà chúng ta nhiều khi từ một vị đắc đạo mình coi như vàng như ngọc á, mà coi chừng tí mình phân tích một lát nhiều điểm lại vô lý lại, vì vị đó chưa được Nhất thiết trí, chưa được đầy đủ tất cả mọi điều, dù vị đó lúc chết là ngồi tịch tự tại, thiền sư nổi tiếng đắc đạo, một vị gọi là tổ, ví dụ vậy, cũng không hoàn toàn là đúng đâu.

[57:16]Cho nên á, tôi nghiên cứu nhiều lịch sử các vị tổ, vị thiền sư, nên tôi có cái thái độ dè dặt là vậy. Vì với tư cách của vị đó, với cái kết quả tâm linh mà vị đó chứng được, à với cái tính cách thần thánh của vị đó tôi kính trọng vô cùng, nhưng mà những lời dạy vị đó thì để đó từ từ xét lại. Cách tôi học đạo là vậy. Chớ hồi xưa đó, thì hễ nghe nói người đó đắc đạo là người đó nói gì tôi cũng tin, nhưng qua bao nhiêu năm tôi nghiên cứu học hỏi và tu tập rồi thì tôi xét lại hết. Đúng, tôi rất kính trọng cái nhân cách vị đó, cái sự tu hành kết quả vị đó, nhưng những lời dạy của vị đó tôi xét lại.

[57:58]Phải gan như vậy. Quý thầy sau này cũng phải như vậy, không phải luôn luôn.

[58:06]Rồi một điều thứ năm Đức Phật khuyên nữa là: lý luận siêu hình. Có cái lý luận siêu hình để làm cho chúng ta phải tin. Ví dụ như bây giờ trong đạo Phật mình cũng có hệ thống như Duy thức á, Duy thức là ai viết? Do ngài Thế Thân, phải không? Ngài Vô Trước. Và nói làm sao? Nói là đêm nằm mộng lên cõi trời Đâu Xuất được Bồ tát Di Lặc dạy rồi xuống viết lại. Đó là gài cái siêu hình vào, gài cái siêu hình vào để cho người ta tin. Nhưng bây giờ các nhà sử học đâu tin. Các nhà sử học chỉ nói là ngài Thế Thân viết thôi. Đó, mà Duy thức là cái môn mà dạy về tâm lý của Phật giáo. Và tôi cũng thú thật là tôi chưa đủ trình độ để hiểu Duy thức,

[58:53]nên tôi chỉ hiểu tâm lý theo đạo Phật là dựa vào cơ cấu năm uẩn thôi. Dựa vào năm uẩn Phật dạy từ thời nguyên thủy, tôi chia chẻ, tôi phân tích, tôi đào sâu để hiểu được cơ cấu tâm lý của con người, chớ tôi không có đánh giá tâm lý dựa vào Duy thức học. Tôi rất dở, tôi không đủ trình độ. Vì trong cái không đủ trình độ đó, có nhiều điều tôi chưa chấp nhận, tôi không chấp nhận về cái lý luận của Duy thức, mà có thể là tại vì tôi không đủ trình độ hiểu. Mà tôi cũng nghĩ dù sao cũng là của ngài Thế Thân, cũng là một con người, dù ngài đó có thể giỏi nhưng không phải luôn luôn luôn luôn chuẩn xác. Nên để đó, một ngày nào đó có thể là tôi giỏi bằng quý thầy,

[59:38]có thể lúc đó tôi mới hiểu được Duy thức, không biết, thôi từ từ tính sau, giờ còn dốt thì khoan chưa nói. Hoặc như nói rằng là ngày xưa lúc đó chưa có kinh Đại thừa, ngài Long Thọ mới được mời đi xuống Long Cung rồi được Long Vương giao cho kinh tạng Đại thừa để về phổ biến ở nhân gian. Truyền thuyết về kinh tạng Đại thừa nói như vậy, tin không? Vô lý. Nhưng các nhà sử học đâu tin. Các nhà sử học nghe vậy kết luận: kinh Đại thừa là do ngài Long Thọ viết. Tại vì ngài cực kỳ giỏi, ngài giỏi, ngài viết nhiều điều, kinh Đại thừa viết nhiều điều hay, nhiều điều hay, nhưng mà có nhiều điều phải xét lại. Người thì phải xét lại.

[1:00:22]Bởi vì sao? Bởi vì trong Kinh tạng Nguyên thủy á có cái hay là kêu gọi lý trí và hoài nghi. Ví dụ như bài kinh này là kêu gọi sự hoài nghi, phải xét lại, phán đoán lại. Như trong Kinh Đại thừa là phải tin tuyệt đối à, hễ mà không có lòng tin đọa địa ngục á. Giống như Pháp Hoa á. Hễ mà không tin kinh này là mặt méo rồi răng sún rồi lưỡi răng hô rồi mắt lé rồi bị lùn què, đọc hết hồn liền, mình nói phải tin. Nhưng mình thấy đó là chuyện áp đặt về niềm tin. Đến nỗi nhiều người tin quá, lạy từng chữ Kinh Pháp Hoa. Chữ "Bồ" lạy chữ một cái, "Tát" lạy một cái, "Phật" lạy một cái, tới chữ "trâu" lạy một cái,

[1:01:00]"phân" lạy một cái, "chó" lạy một cái, không biết làm sao nữa. Thí dụ. Nhiều người có công tới độ như vậy. Cho nên, Kinh Đại thừa thì hay ở cái gì? Hay ở cái lòng đại bi và công hạnh Bồ tát, nhưng mà lại dở hơn Kinh Nguyên thủy là buộc phải tin một cách một cách nghĩa là mãnh liệt, không cho phán đoán, không cho suy xét. Nhưng trong khi Kinh Nguyên thủy thì lại được cái điều đó, cho hoài nghi, cho phán xét. Nên Kinh Nguyên thủy là thách đố niềm tin và trí tuệ của loài người. Nên đây Phật nói là: "Ngay cả là cái lý luận siêu hình hay là kinh tạng truyền tụng mình có quyền hoài nghi luôn." Không phải luôn luôn vậy.

[1:01:39]Mà bây giờ vậy, ví dụ như mình nghe một người nói nói là được cái là điển của thần ở trên trời giáng xuống, xuống đây để cứu nhân độ thế mình tin không? Không! Vì đây là nhân lý luận siêu hình, Đức Phật dạy rồi: "Đừng tin!" Mấy người nói nói đừng tin, phải phán xét lại. Mà nhiều người cũng vậy đó, hay dựng lên một cái đạo mới hay để thu hút nhiều người dễ tin, cứ ngồi đó cái xưng: "Ta là ơn trên giáng điển xuống để dạy cho các con này kia nọ." Có một lần có một cái sư cô đưa tôi nghe một cái băng, nói: "Thưa thầy, băng này là của Thượng đế giảng." Nói: "Thượng đế đâu đây giảng?" - "Dạ, nhập qua một người phụ nữ." Bắt đầu tôi thấy xạo xạo rồi. Nhưng mở nghe.

[1:02:18]Tôi mở nghe tôi nói: "Trời ơi, cái bà bả xạo vậy mà tới giờ tin mà thâu băng đi truyền mà đưa tới thầy nữa là quá kinh dữ rồi." Xạo gì đâu mà xạo quá chừng, nói có gì đâu hay ho đâu, thấy chưa. Xạo, đó mà nhiều người tin. Nên là người ta lợi dụng cái tin về siêu hình họ đã gài vào trong đó. Nên đừng có vội tin những điều đó như vậy. Có những điều siêu hình đúng vì thế giới siêu hình là có thật. Nhưng mà hễ mà nói tới chuyện thế giới siêu hình mình phải dè dặt liền, không phải luôn luôn luôn luôn đúng đâu. Cho nên rất nhiều thông tin của thế giới siêu hình đến với tôi, nhiều người đến nói này nói kia mà tôi cứ lẳng lặng nghe cười cười.

[1:02:54]Đâu phải tôi tin liền! Chỉ những điều nào nói ra mà phù hợp với đạo lý tôi chấp nhận. Điều nào nói ra mà vô lý tôi gạt ngang. Mình không có nói mạnh mất lòng, cứ cười cười thôi để đó: "Ờ, thì tính lại rồi thôi, bỏ qua." Cho nên không phải mọi cái lý luận siêu hình mình đều tin được. Thứ sáu là dựa vào một lập trường có sẵn. Ví dụ từ trước mình đã chấp nhận quan điểm nào đó rồi, về sau điều gì liên quan tới quan điểm đó mình chấp nhận. Ví dụ như ở Tây Nguyên người ta có tin là có ma lai. Quý thầy có biết ma lai là gì không? Miền Tây không biết nhưng Tây Nguyên biết. Mà tôi cũng xin tự giới thiệu sản phẩm:

[1:03:32]tôi đẻ Ban Mê Thuột. Thời gian đó ba mẹ tôi đi đâu trển làm ăn, biết đẻ tôi ở trên đó. Cho nên ba mẹ tôi tin về cái truyền thuyết ma lai đó. Thì hồi nhỏ tôi thường nghe kể ma lai là như thế này: người đó cổ có ba ngấn, ban đêm họ ngủ, ai cũng ngủ hết họ rút cái ruột họ ra, họ bay cái đầu họ bay đi, bay đi rồi họ đi tìm cái phân của ai đi cầu mà để lộ liễu họ ăn. Thì cái người mà bị ăn như vậy ở nhà đau bụng mà chết, chết rồi thành ma lai, ví dụ vậy đó. Rồi khi họ ăn xong họ bay về cái họ chui cái ruột vào trong bụng họ, họ sống lại ngủ bình thường. Ban ngày là con người nhưng ban đêm là ma lai mà người nào có cổ ba ngấn bị.

[1:04:11]Thì ở ở trên Tây Nguyên vậy, hễ cái người nào mà bị dân làng nghi là ma lai thì người ta tìm cách giết người đó. Người đó phải sợ bỏ làng mà đi. Họ đi họ tập trung lại họ sống với nhau thành cái xã. Xã nhà nước thấy vậy phải giao lại cho một ông chủ tịch xã, người ta kêu cái xã ma lai. Trong đó ma lai không mà có ông chủ tịch xã tới để phải mà quản lý họ thì có ai ma lai ma liếc gì đâu. Mà chỉ họ tin như vậy, họ tin từ trước đây tin là có ma lai thì bây giờ nói người đó ma lai là tin. Hồi nhỏ tôi bị cái niềm tin đó ám ảnh lắm. Tôi với mấy gia đình mỗi lần mà đến đó uống cái nước xay trái cây ở một cái quán đó, nhìn thấy bà chủ quán có ba ngấn thì nhà tôi nói:

[1:04:48]"Hình như bà đó ma lai." Lại không biết mình uống nước bả rồi có chuyện gì không. Thứ bảy là đánh giá hời hợt những dữ kiện. Nghĩa là cái này có nghĩa là mình kết luận vội á, nghe một vài điểm cái mình mình kết luận liền. Đây là cái Phật gọi là đánh giá hời hợt những dữ kiện. Ví dụ như mình gặp người nào họ nói một vài điều đúng cái mình tưởng họ đắc đạo. Chứ không phải! Như lúc mà Hòa thượng Huệ Thới còn sống á, Hòa thượng kể tôi nghe như Hòa thượng nhìn một người phụ nữ mang bầu là biết sẽ sinh con trai hay con gái. Mà đẻ ra đúng vậy nên mấy người đó họ tin Hòa thượng dữ lắm, tin như ông thánh á.

[1:05:26]Tôi mới hỏi: "Thưa thầy, vậy sao thầy biết?" Thì Hòa thượng mới kể là nhìn cái bụng nhọn, tròn, vuông sao đó. Vì tôi không có nghĩ là mình sẽ coi giùm người ta nên tôi không quan tâm. Lúc đó Hòa thượng ổng phân tích dữ lắm, phân tích là bụng vậy trai, gái tôi nghe cười cười cười. Nhưng mà những người khác thì nghĩ Hòa thượng đắc đạo hay sao, ổng ổng dòm mình cái ổng biết mình đẻ con trai hay con gái. Nhưng ngài nhờ một cái thuật gì đó thôi. Cho nên đừng có phải ai nói đúng vài điều cái tưởng là thánh. Đó là kết luận vội vã. Hoặc là ví dụ mình vừa mới bị ăn trộm, cái là mình dòm chung quanh hàng

[1:05:56]xóm dòm người đi tới lui, dòm thấy ai cũng giống như ăn trộm. Thấy người nào lấm la lấm lét: "Ê, thằng này ăn trộm nè." Đó là gọi là dữ kiện hời hợt. Như có một lần có cái án mạng xảy ra, công an mới đi truy tìm thủ phạm thì mới tìm ra được cái thủ phạm là một người tên Hòa. Thế ổng gom hết trong cái xã đó có bao nhiêu người tên Hòa bắt lại hết. Hỏi riêng từng người: "Ngày đó đêm đó anh đang làm gì, ở đâu?" Thì kia trả lời rõ ràng: "À, đêm đó tôi ở nhà với vợ tôi." Như vậy: "Ai biết?" - "Dạ, vợ con tôi biết, hàng xóm biết." Thì thấy bình tĩnh, rồi thả, người này ngoại phạm. Có một người kêu tới: "Đêm đó giờ đó ở đâu?", mặt xanh lè xanh lét hết trơn,

[1:06:34]ú a ú ớ không nói được, còng thằng này liền, nó. Rồi vậy là rồi để tìm thủ phạm rồi. Một người tên Hòa khác: "Đêm đó giờ đó ở đâu?", thằng này cũng lấm la lấm lét ú a ú ớ luôn, hai thằng. Ủa, vậy hai thằng nào thủ phạm? Mới điều tra lại kỹ thì một cái ông mà lấm la lấm lét trước thì đêm đó bị ổng đi với bồ nhí ổng. Bây giờ mà khai ra là chết với bà vợ lớn, cho nên ổng lấm la lấm lét ú a ú ớ. Cho nên mà mình kết luận liền là kết luận liền là là thấy người ta lấm la lấm lét cái kết tội người ta liền, đó là vội vã. Nhưng mà may là thêm có người cũng lấm la lấm lét thì cái tay thứ hai mới đúng là thủ phạm.

[1:07:08]Đó, có câu chuyện chuyện thật đăng báo nha, tôi không có nói điều giả đâu. Nhưng mà tuy nhiên, hãy hoài nghi những điều tôi nói nãy giờ vì Phật dạy. Rồi số tám là đừng tin vì nó phù hợp với cái định kiến. Ví dụ như mình ác cảm với người đó, cái mình nghe người ta nói xấu, mình nghe nói xấu người đó là nói: "À, hôm qua tôi thấy cái người đó là la cà làm bậy làm bạ." Mình tin liền, vì trước đó mình có ác cảm sẵn. Cho nên điều này là cũng không có tin liền. Hoặc là mình thương ai, rồi khi mình nghe khen mình tin liền, cũng coi chừng sai, là những cái định kiến có sẵn. Hoặc là mình mình nghe nói là nhất là gì mà nhì là gì? Nhì là lùn á.

[1:07:58]Nhất gì nhì lùn đó, ví dụ vậy. Nó là một định kiến. Rồi mai mốt mình gặp người mà có những cái hình dáng như vậy, tam là hô phải không, tứ là gì đó không biết. Gì đó, thì mình thấy mình nhìn thấy người ta cái mình nói: "Đừng qua nhà, mà ghé nhà thằng kia."

[1:08:18]Mình tin liền, nhưng mà không phải như vậy. Vì trong cuộc đời tôi vậy, tôi gặp những người đúng là có những người họ họ không cao lắm thì họ cũng khó tánh thiệt. Nhưng có những người không cao lắm họ tốt và làm việc giỏi vô cùng. Họ được đúng cái tướng ngũ đoản á, này cũng tốt, ừ. Nhưng có những người cũng kỳ khôi mà người cao cũng vậy. Tôi gặp những người cao là cũng ba trợn lắm mà có những người cao cũng tốt. Cho nên nó là một định kiến, ai đặt ra cái một chuỗi đó là nó là một định kiến. Cho nên mình đừng có tin liền, đừng có tin. Đó là vì Phật dạy rồi.

[1:08:52]Rồi thứ chín là xuất phát từ nơi có uy quyền, mà cái người mà có uy quyền nói mình dễ tin. Vì cái lời nói họ có sức mạnh ở trong. Cái quyền là nó là cái phước. Nên nhiều khi Mao Trạch Đông đã nói một câu là: "Chân lý nằm trên họng súng".

[1:09:13]Tức là người nào nắm được quyền lực, người đó nói ra người khác phải tin, phải chấp nhận. Nên Mao Trạch Đông mới nói câu đó, "Chân lý nằm trên họng súng". Nên ví dụ bây giờ cái người thường á nói không tin, mà ông chủ tịch xã, ông chủ tịch huyện ổng xuống ổng nói mình tin liền, vì ổng có quyền. Mà cũng chưa chắc, Đức Phật nói cũng chưa chắc những người có quyền nói ra đều luôn luôn đúng đâu, luôn luôn đúng. Vì họ ở trên cao mà nhiều cái thông tin họ cũng mờ mịt, họ cũng nhờ người này suy xét, người kia suy xét, vậy chớ cũng không có chắc hết mọi điều. Ngay cả những nhân viên an ninh công an cũng vậy,

[1:09:49]họ là người có nhiều cái hệ thống trinh sát, có những trinh sát rồi hệ thống lấy tin cơ sở rất là nhiều, vậy chớ nhiều cái tin đưa về cũng không chính xác luôn, cũng phải kiểm tra tới kiểm tra lui đủ thứ điều hết mà cũng không đúng hoàn toàn nữa. Nên đó là cái khó như vậy. Nên cái người uy quyền nói cũng khoan tin. Ví dụ ông vua ổng phán ra một điều nào đó, ổng phán ra một điều là con người ta từ đây là chỉ được, tức là ví dụ ông vua đó ổng nói là con người ta từ bây giờ có quyền đẻ cho thoải mái, vì đẻ con nhiều là có phước. Có khi nó đúng giai đoạn nào đó à, có khi trật lất luôn. Rồi ví dụ như là nước Trung Hoa lại quy định là chỉ một gia đình một con.

[1:10:41]Là chỉ được, tức là ví dụ ông vua đó ổng nói là: "Con người ta từ bây giờ có quyền đẻ cho thoải mái, vì đẻ con nhiều là có phước". Có khi nó đúng giai đoạn nào đó à, có khi trật lất luôn. Rồi ví dụ như là ở nước Trung Hoa lại quy định là chỉ một gia đình một con, mà cái này là hợp lý, lúc này là hợp lý, là vì nếu mà để người Trung Hoa họ đẻ nhiều cả thế giới nổ, trái đất này nổ, quá đông rồi. Nhưng mà ở nước khác họ lại chống, nước khác họ cho rằng như vậy là áp bức dân chúng, nhưng đâu ngờ đó là một cái cái áp lực lên hành tinh. Nên có bài báo họ nói rằng cái việc mà chính quyền Trung Hoa buộc con cái đẻ một con đó là một cái ân huệ cho thế giới.

[1:11:28]Họ ghi rõ là người Trung Hoa đã ghi cho đã cho thế giới một cái favor, một cái ân huệ, chứ nếu mà cho đẻ thoải mái là rất nguy hiểm cho cả cái hành tinh mình, vì người Trung Hoa quá đông. Cái thứ mười là lời của thầy mình. Cái này là sự hoài nghi tột độ, vì những người kia có thể mình không tin, nhưng thầy mình mà mình không tin thì đúng là chuyện lạ trên đời, phải không? Vì nếu mình không tin thì mình đâu đến xuất gia với ổng. Nhưng mà Phật bảo cũng đừng tin luôn. Đây là chỗ rất là tế nhị, tại sao? Thì dĩ nhiên cũng có những trường hợp mà người đệ tử khi lớn lên đã xét lại và bổ sung cho giáo lý của thầy mình

[1:12:11]một cách xuất sắc và thành công, có trường hợp đó. Nhưng ở đây mà ông thầy mình nói gì mình cứ ngờ ngờ không biết nói đúng không, làm sao mình làm đệ tử. Cái mặt mình mà ổng giảng lúc mình ngơ ngơ ngơ chắc ổng đuổi đi quá. Thằng này ngó bộ chắc không làm không học trò được phải không? Đâu phải. Nghĩa là khi thầy dạy phải ngoan ngoãn chắp tay lắng nghe, học hỏi, như là uống nước cam lồ, chứ không lẽ mỗi lần ông thầy mình kêu mình dậy mình đứng chắp tay mình dòm ổng ngơ ngơ không biết nói đúng không nè, đúng không. Vậy cái là dễ xa nhau lắm. Dễ xa nhau mà mình ngơ ngơ cỡ đó ổng cho một gậy là dễ thăm nuôi lắm, thăm nuôi.

[1:12:48]Nhưng mà ở đây đó, Đức Phật dạy cái gì? Dạy tức là mình là người đệ tử Phật thì mình đi tìm một cái chân lý khách quan. Khi mình lắng nghe một cái điều gì nói đến mình thì mình luôn luôn có cái phán đoán lại, chứ không phải luôn luôn tin tưởng, đó là Phật dạy như vậy. Thì ở đây, Đức Phật để cho Ba-đi-gia tự xác nhận là cái đạo lý không tham, không sân, không si, không hung bạo là đưa đến hạnh phúc an lạc. Đó là lẽ phải khách quan. Ngài không có áp đặt. Mà đây là chỗ mà quý thầy sau này đi giảng phải khai thác điều này. Mình đừng có tô vẽ lên một thế giới tưởng tượng xa lạ rồi Bồ Tát là như vậy cái mình buộc người ta phải tin, không có.

[1:13:31]Phải đi từ cuộc sống thực, nói ra một lẽ phải mà mọi người phải chấp nhận, nó phù hợp với cái lương tâm tự nhiên của con người. Thì ở đây Đức Phật đưa ra một cái câu hỏi đơn giản, dễ nhìn thấy, là không tham, không sân, không si là hạnh phúc. Nên điều này Ba-đi-gia chấp nhận, lúc đó Ba-đi-gia mới ngộ ra rằng: "À, thì ra Đức Phật dạy đạo lý là cái đạo lý của cái gì nó khách quan, là chân lý tự nhiên của lương tâm con người, chứ Ngài không tô vẽ", nên ông quy y liền. Ổng nói: "Đúng rồi. Tu như vậy mới là tu. Đạo như vậy mới là đạo, chứ còn những giáo chủ khác hay đặt, hay tô vẽ, còn nơi Đức Phật chỉ gợi ý để chúng ta tự mình thấy

[1:14:12]được chân lý, thấy được lẽ phải, chứ Ngài không áp đặt". Đó là nguyên tắc của Đức Phật mà chúng ta phải học cho bằng được. Tuy nhiên là vừa rồi Đức Phật hỏi điều đơn giản, nhưng mà gặp những trường hợp nó khó hơn thì chúng ta khó mà nhận định trả lời liền như Ba-đi-gia. Ví dụ có một lần, có mấy người cư sĩ lên chùa tôi mới hỏi, nói: "Thưa thầy, có một chủ trương rằng chúng ta nên lo cho mình trước, vì nếu mình tu tốt, mình đắc đạo rồi mình mới giáo hóa người khác được. Mình có phước rồi, mình có giàu rồi thì mình mới giúp đỡ, bố thí cho người khác được". Nghe có lý không? Có lý. Mà nói: "Và thưa thầy, có chủ trương thứ hai rằng cứ lo cho người khác,

[1:14:58]mình cứ sống tốt với mọi người thì luật nhân quả tự nhiên bù đắp lại cho mình. Cứ sống tốt, cứ lo lắng, cứ dạy bảo người khác điều mình biết dù ít vẫn cứ dạy người ta. Dù có ít tiền vẫn cứ giúp người ta, sống xả láng vậy á, sống vị tha như vậy nhưng mà tự nhiên cuộc đời mình nhân quả mình đầy đủ. Thưa thầy, hai chủ trương đó mình nên theo chủ trương nào?" Cái chủ trương thứ hai có lý không? Cũng có lý luôn, vì dựa vào niềm tin vào luật nhân quả vững chắc. Chủ trương thứ một nghe cũng có lý, thứ hai nghe cũng có lý. "Giờ thưa thầy, như vậy tụi con nên theo chủ trương nào?" Quý thầy trả lời coi.

[1:15:31]Cho quý thầy trả lời đó.

[1:15:37]Quý thầy nghe tôi trả lời. Tôi trả lời: "Thôi như vậy nên theo chủ trương thứ ba". Cái nói: "Ủa, hỏi hai chủ trương, chủ trương thứ ba ở đâu?" À, hai chủ trương trước tuy cái nào cũng có lý nhưng có một cái sai lầm lớn là phân biệt ta và người quá gay gắt á, phải không? Trong cái đó cái trong hai chủ trương đó, chủ trương nào cái tâm phân biệt ta và người khác nhau gay gắt quá, còn chủ trương thứ ba là xem ta và người là một. Nghĩa là khi mình đói, ta đói thì cho ta ăn, người đói thì cho người ăn. Nghĩa là ta tiện thì ta học kinh, người tiện thì mình dạy lại người khác, vì ta và người là một. Ai cũng có nhu cầu phải tu học và cần được ăn uống, cần được giúp đỡ hết.

[1:16:21]Hai chủ trương trước nó gay gắt vì mình phân biệt ta người ghê quá, còn bây giờ mình sống ung dung, ta như người, người như ta. Quý thầy đồng ý chủ trương thứ ba không? Đồng ý không? Có lý không? Hợp với lương tâm không? Hợp lương tâm. Nhưng mà ông này ổng chưa chịu, ông Phật tử ổng chưa chịu. Ổng hỏi câu nữa: "Thưa thầy, bây giờ con có năm ngàn, lúc đó con bị bệnh cảm, cái người kia cũng bị bệnh cảm, mà năm ngàn chỉ đủ một liều thuốc để uống một người hết bệnh, thì như vậy con nên giành con uống hay là con cho tiền để người đó uống cho hết bệnh?" Ghê chưa? Thì đã nói rằng ta người như nhau mà,

[1:16:56]nhưng mà trong trường hợp chỉ chọn lựa được một ta một người thì làm sao? Thì tôi nói thế này: "Bây giờ quan trọng là hiệu quả phía sau đó. Ví dụ như sau khi mà đạo hữu uống xong hết bệnh đạo hữu đi dạy học thì đạo hữu uống, để cho người kia cứ bệnh nằm đó từ từ không sao. Nhưng mà nếu là đạo hữu uống xong hết bệnh đạo hữu đi chơi không làm gì, còn người kia phải đi dạy học thì mình nhường nó cho người kia uống để họ đi dạy học, vì ta là người bằng nhau. Mà quan trọng là phía sau đó ai mạnh sẽ làm được cái việc lợi cho cuộc đời hơn, không có phân biệt ta người". Nghĩa là ông vẫn tiếp tục cố gắng phân biệt ta người cách

[1:17:27]gay gắt, ở đây mình vẫn luôn luôn ta và người là một. Quý thầy đồng ý câu trả lời đó không? Đồng ý không? Cho nên ở đây nó là một cái gì tự nhiên quý thầy tự đồng ý phải không, vì cái điều tôi nói nó phù hợp với chân lý khách quan. Sau này quý thầy đi giảng phải như vậy. Nghĩa là có những cái giáo lý đơn giản như Đức Phật hỏi Ba-đi-gia là ổng chấp nhận liền: "Dạ, tham là đau khổ mà không tham là an lạc". Nhưng mà có những cái trường hợp nó phức tạp hơn ví dụ như câu hỏi hồi nãy, thì quý thầy phải đủ trí tuệ để cũng tiếp tục đào ra được một cái lẽ phải khách quan, mặc dù nó sâu hơn, để cho người ta phải chấp nhận.

[1:18:06]Đó, thì như vậy chúng ta giảng đạo không phải là chúng ta đặt ra một cái điều mơ hồ huyền hoặc, mà chúng ta mở ra cái lương tâm có sẵn trong con người, mọi người đều có cái điều hợp lý đó mà bị chìm, bị không thấy, thì mình là người giảng là mình gợi lấy điều đó ra khỏi tâm con người cho họ tìm thấy điều đó. Nó là chân lý khách quan như vậy. Cho nên vì vậy ông Ba-đi-gia ổng mê quá ổng quy y liền, đi theo Phật liền, và ổng cầu mong cho bà con huyết thống ổng bị bùa này dụ hết. Rồi một điều nữa là có nhiều khi ví dụ một cái người họ nói thế này: họ nói là họ đến họ gặp cái người nghèo, gặp người Phật tử, họ nói:

[1:18:50]"Hình như ngày mai trên chùa hình như có cho gạo gì đó". Cái người nghèo mắt sáng lên hỏi: "Đúng không anh?" "Không biết nữa, nghe nó nói vậy". Cái người nghèo xìu xuống tại nói: "Nào giờ đâu thấy chùa cho gạo ai đâu". Cái xìu xìu, họ mong mừng, mà gặp người thứ hai đến: "Ngày mai chùa đó cho gạo". "Đúng không anh?" "Tôi mà nói sai anh chặt đầu tôi đi". Nói xác quyết, nói mạnh mẽ, nó giống như nói nói: "Bên kia có cái bà đó bả gặp mặt mình bả biết hết cuộc đời, bả phun mặt mình cái là mình bệnh gì cũng hết liền. Tôi nói anh chắc chắn, tôi mới bên đó về". Họ nói rất xác quyết, mình nghe mình tin không? Tin liền.

[1:19:29]Thì ở đây thêm, nãy giờ mình học là mười điều Phật dặn đừng tin phải không, thì mình thêm điều thứ mười một: chớ có tin vì điều đó được nói với một giọng vô cùng xác quyết. Đừng có tin, vì chúng ta thử ra ngoài chợ trời bán xe gắn máy sẽ biết, cái tay nào tay nấy nói xác quyết như đinh đóng cột. Vô nói: "Dạ thưa thầy, xe này 82 đời mới chưa bị luộc". Nói chắc chắn.

[1:19:55]Nhưng mà nhưng mà sự thật là trật bậy trong xe đổi đồ hết trơn. Mà mấy dân trời trời là vậy, cái nghề của nó là nói xác quyết lắm để buộc người ta phải tin, mà nó thành cái nghề, nó thành thói quen rồi. Nên buộc người ta phải tin. Nên sau này mình gặp những cái ông đạo, giáo chủ nói về đạo lý mà nói như đinh đóng cột coi chừng là rơi vào điều thứ 11, là nói với giọng vô cùng xác quyết, xin cũng đừng tin. Nên có nhiều người nói giọng nhẹ nhàng chứ mà lại dễ tin, mà có những người nói chắc đinh đóng cột coi chừng cũng không tin. Mà không biết tôi nói thuộc loại giọng nào ta? Coi chừng coi chừng thứ 11 cái cũng đừng tin.

[1:20:34]Cái lời mà ông thầy đó, ví dụ ổng nói mạnh mẽ xác quyết á thì nếu ổng nói đúng, làm cho người khác tin thì có lợi. Nhưng mà lỡ ổng xác quyết mà ổng xác quyết cái tà kiến rất nguy hiểm. Nhất là những ông thầy mà cái người mà họ có cái cái lẽ phải trong tâm á, họ nói trầm tĩnh và vững vàng, nhẹ nhàng, vì cái đạo lý là vậy. Nhưng mà những người nào sợ người ta không tin, nói cho mạnh để người ta tin á là coi chừng có vấn đề. Cho nên vậy, cái xác quyết của một cái sức mạnh của sự thật khác và cái xác quyết cố ý là một phương pháp để buộc người ta tin nó là một cái khác. Ở đây mình phải xét nét khi nghe cái giọng nói như vậy.

[1:21:22]Vì vậy, ở đây chúng ta học cái bài kinh này để chúng ta tập cái tâm tỉnh táo, biết xét nét, biết phán đoán, biết gạn lọc, biết đắn đo khi nghe cái điều gì. Thì cái tâm như vậy đó là cái trưởng thành chín chắn. Đánh giá cái mức độ trưởng thành của mình bằng cái việc mà biết phán đoán lời người khác nói, tin từ nơi khác đem lại, chuyện gì mình cũng tập xét nét hết. Vì chúng ta biết là từ cái tin bên phòng bên kia bước qua phòng bên đây là nó sự thật đã bị bóp méo rồi một chút. Ngay cả những điều mắt thấy coi chừng trật. Nói chừng nào tôi mắt thấy tai nghe tôi mới tin, xin thưa một tin buồn, mắt thấy có khi trật luôn.

[1:22:09]Đã có nhiều trường hợp xảy ra như vậy rồi, xảy ra như vậy. Ví dụ có một lần, mình nhìn thấy có hai người đang nói chuyện với nhau, thân tình, tự nhiên một người kia nghĩa là tát người kia một cái xiểng niểng, chửi mắng tát người kia một cái dữ dội. Sau này ai hỏi mình, mình nói tôi thấy, mắt tôi thấy rõ ràng. Người này đánh người kia, ăn hiếp, rất hung dữ, con người không có đạo đức. Vì mắt mình thấy mà. Nhưng mà sự thật không phải vậy. Hỏi ra sự thật là cái gì? Có khi gặp cái người mà đánh hỏi sao đánh nó dữ dội ăn hiếp? "Dạ không có, bữa nó bị nấc cục, mình làm cái nó hết hồn cho nó đừng nấc cục nữa giống vậy hết trơn á.

[1:22:49]Chứ tôi không có dữ, tụi nó thân thương nhau gần chết à. Bị nấc cục chữa hoài uống nước hoài cũng không hết, tát nó một cái chửi nó một câu cho nó nó tức quá nó hết nấc cục giống vậy hết trơn á." Cho nên thấy mắt mình thấy đó mà nhiều khi cũng không thật luôn. Ví dụ như một đêm trời trăng sáng đẹp đẽ, gió đong đưa cái cây dừa, bóng dừa. Mình cũng hôm đó mình thấy trời đẹp cái mình ra đứng ngắm mà mình thấy một bóng một người huynh đệ mình rón rén đi nhẹ nhàng về phía nhà bếp. Cái mình đi theo liền. Cái từ từ người đó mở cửa rồi rón rén đi vô trong, rồi từ từ tới cái tủ nhẹ nhàng mở cái tủ ra. Thì mình kết luận sao?

[1:23:26]Người đó ăn? Nhưng coi chừng cũng trật. Hỏi ra, mà thấy người đó bốc ăn rõ ràng. Đứng mình nhìn thấy rõ ràng, mở cái tủ chè nhẹ nhẹ, thò tay bốc bỏ họng nhai đàng hoàng á. Thì mình kết luận người đó là sao? Dụng dược quá chứ nữa phải không? Nhưng mà sự thật không phải. Tại người này tới khi nấu bếp, sực nhớ là còn có cái nồi đồ ăn đã đậy kín lại mà để đậy như thế hầm mãi thiu, nên muốn xuống để dở nắp ra để cho nó thoáng đừng thiu. Mà đi động ồn ào sợ huynh đệ không ngủ được, mà bốc ăn thử miếng coi nó có thiu chưa, đơn giản vậy.

[1:24:05]Nên trên đời nó vậy đó, có nhiều cái chứ mắt thấy mà cũng trật lất à, mắt thấy cũng trật lất. Nên vì vậy là trong mọi điều trên cuộc sống này chúng ta phải hiểu thế này, là mọi điều mình kiểm chứng, phán đoán, xét nét lại hết rồi, hợp lý hết rồi thì chỉ cho nó sự thật nó là 95% thôi. Còn chừa 5% để mình sửa sai, biết đâu sự thật nó lại lọt vào chỗ 5%. Mà nguyên cái 95% này trật lất hết. Dù mình nghe rất nhiều nguồn tin, dù có khi mắt thấy 95% rồi đó, nhưng mà xin luôn luôn là còn 5% chưa chắc ăn. Giống như vậy, phải như vậy thì chúng ta sống trên đời là coi như mình là người trưởng thành đó. Tuy nhiên, cái tâm mà hoài nghi quá đáng cũng là dấu hiệu của cái sự kiêu mạn.

[1:24:56]Hễ ai nói gì mình cũng nghi hết thì cái thái độ đó nó rất giống cái thái độ của người kiêu mạn là ai nói gì cũng bác. Cái người mà dễ tin, kiểu như cái cả tin rồi là cái một cái bệnh, nhưng mà cái hoài nghi quá đáng nó cũng là cái dấu hiệu của kiêu mạn. Nên cái hai cái này mình coi chừng. Cho nên chúng ta có cái 12, chớ có tin cả cái sự hoài nghi quá đáng của mình.

[1:25:28]Cái điều mà chúng ta hay hoài nghi quá coi chừng nó luôn, coi chừng nó cũng thành cái bệnh luôn đó. Cho nên ở đây là làm sao chúng ta tìm được sự thật? Sự thật nó nằm ở chỗ nào?

[1:25:40]Bây giờ mình nghe nói lung tung, mình thấy hợp lý muốn tin mà Phật dạy đừng tin, bây giờ không biết sự thật nằm đâu. Vậy sự thật nằm đâu?

[1:25:52]Cho nên chúng ta học bài kinh này rồi đâm ra mình cũng hoang mang luôn. Học bài kinh hoài nghi rồi lát mình cũng hoài nghi hết tất cả, hoang mang hết tất cả. Không biết nãy giờ cái ông đứng trên bục giảng ổng nói lảm nhảm biết có nói đúng không nữa? Thấy ổng nghi quá, vì Phật dạy mà, cái gì cũng nghi. Nên vậy cái chân lý, sự thật nó nằm ở chỗ nào? Đây là điều khó, nên nắm được sự thật là điều khó. Vào mùng một tới, tôi cũng sẽ giảng cái đề tài về sự thật cho cư sĩ nghe, nó cũng giống giống bài ngày hôm nay một chút. Thì đó, cái mà thấy được sự thật là điều rất là khó. Nên do đó, chúng ta phải tu tập thiền định.

[1:26:28]Vì nơi thiền định đó, chúng ta có được hai điều: Một là chúng ta có trí tuệ và hai là chúng ta không còn thành kiến nữa. Mình không còn những cái thương ghét chủ quan, không còn ác cảm với ai thì khi mình nghe một điều, mình nói một điều gì tự nhiên mình có cái trí tuệ, có trực giác, mình nhìn sâu thâm thẳm vấn đề. Thí nghe người ta, mình cũng không có thương người đó một cách quáng quắt để mà cái gì cũng bênh họ, cũng không ghét người đó cái gì quá đáng để mà nghe ai chê cũng tin điều đó, không có. Mà có cái lạ là có cái trí tuệ, nghĩa là ai kể mình một điều thì cái tâm mình trầm lắng trong cái rỗng rang hư vô đó mình

[1:27:11]mình nhìn sâu thẳm sâu thẳm, bằng cái trực giác mình xoáy sâu vào cái lời nói của người đó, vào cái tâm của người kể câu chuyện đó, rồi sau đó mình vượt không gian mình đi tới sự kiện đó mình tìm luôn coi nó sự thật như thế nào ở trỏng. Nên cái nhờ cái thiền này chúng ta mới có được cái sự thật. Nhưng mà cũng đừng có tin lắm, vì sao vậy? Vì mình chưa phải chứng hoàn toàn thì cái trực giác của mình có khi nó vẫn chưa có sáng hoàn toàn. Nó chỉ giúp gợi ý để mình thấy được phần lớn sự thật thôi, chứ không phải là phần là hoàn toàn sự thật. Tuy nhiên, cái trí tuệ của thiền định, cái đạo đức cũng là một cái yếu tố quan trọng để giúp chúng ta biết là điều đó

[1:27:50]nên tin hay điều đó nên bác đi, nên chấp nhận hay điều đó không nên chấp nhận. Cái người mà cố chấp á, chủ quan á, chấp theo ý mình thì

[1:28:04]cũng là người khó thấy được sự thật. Vì có một lần vậy, có mấy hai người Phật tử không biết sao mà lên mét tôi là người A nói xấu người B. Thì nghe nói là tôi làm thinh, tôi không nói, tôi nói về sự thật nó sẽ sáng tỏ. Nhưng mà người A này quá tin rằng mình đúng nên đem cái điều nói xấu nói tràn lan ra. Bắt đầu nó tạo thành cái sự xung đột trong huynh đệ Phật tử với nhau rất là mệt. Cho nên tôi cứ nghe qua nghe lại mấy cái chuyện mét người này, mét người kia tôi mệt. Nhiều khi tôi nghĩ mọi người có cái tâm giống tôi một chút cho nó cuộc đời nó đỡ, vì tôi cho ai tôi cũng thương. Nhiều nghe người ta lầm lỗi vậy chứ mình cũng bao dung mà,

[1:28:48]không có xem nó quan trọng, rồi tìm cách có duyên rồi sửa nhau từ từ từ. Nhưng mà có những người khác hễ thấy người ta nhúc nhích có lỗi một cái là bực, giận, tức lên rồi công kích rồi nói lan ra. Cho nên cái tâm nó mệt lắm, mà làm cuộc đời này nó rối rắm lên. Còn tôi vì nghe ai phạm lỗi bằng trời tôi cứ tỉnh tỉnh, bình thường. Nó có nguyên nhân của nó, mình phải biết và lòng mình trước hết cứ tha thứ cái đã cho nó cuộc đời nó nhẹ đi. Lòng mình cũng nhẹ, cuộc đời nó cũng bớt căng thẳng bằng cái lòng bao dung như vậy. Nhưng mà cái người A thì không được vậy, họ tin họ đúng quá họ nói tràn lan, chuyện xung đột xảy ra cái tôi phải kêu lên tôi rầy.

[1:29:24]Mà tôi không có rầy ngay cái mà người B có lỗi không có lỗi, tôi chỉ nói cái người A này chấp ý mình quá, ý nghĩ mình vừa khởi lên chấp quá, chấp ra rồi cái thành chuyện quá tin rằng mình đúng đi nói tràn lan. Nhưng nếu lúc đó mình có cái hồ nghi là mình thấy như vậy chứ chưa chắc đúng hoàn toàn thì mình mình đã chưa có vội đi nói bậy, chưa vội đi nói tràn lan để huynh đệ đỡ mít lòng, đỡ chia rẽ với nhau. Cho nên sự thật là một cái gì rất là khó. Mà quan trọng á, chúng ta muốn biết được sự thật đừng có thành kiến, đừng có chấp cái ý mình, buông buông cái lòng mình cho rỗng rang, nên thiền định là cái mà hỗ trợ rất là tốt.

[1:30:04]Bây giờ mình còn nhỏ, quý thầy đang còn phải học, chưa có làm việc nhiều, nhưng phải thực tập điều này. Thực tập là mọi điều mình được nghe, được thấy, ngay cả những chuyện bâng quơ nhỏ nhặt nói qua nói lại, quý thầy tập xét lại hết, không tin liền. Từ chuyện nhỏ ngay trong chùa từ bây giờ, tập cho thói quen đó. Mình không bao giờ nói dối, nhưng mà chuyện gì mình cũng phải kiểm chứng. Ví dụ như có người huynh đệ lại nói mình: "Huynh nghe nói là thầy tính kêu huynh đi đám với thầy đó nha." Đó là chuyện bình thường trong chùa, nhỏ và dễ là sự thật phải không? Nhưng cũng đừng tin. Cứ đi lại hỏi thầy coi có đúng hay không.

[1:30:44]Đừng nghe qua trung gian, không chính xác. Tập lại. Giống như vậy, trên núi tôi vậy, tôi mới kêu người thị giả tôi kêu cái chú đệ tử, chú Bảo Nghiêm lên. À nói là: "Chắc thầy kêu huynh đi Sài Gòn để coi cái khóa thiền, phụ coi khóa thiền." Cái chú đi, chú Bảo Nghiêm chạy đến gặp tôi thì tôi chỉ hỏi về lịch sử thôi. Hỏi chút, ừ thì ra chuyện không có gì hết. Nhưng mà qua, nghĩa là người thị giả thôi rồi đó, mà đi nói lại một chút cũng trật liền, cũng thêm chút vô, thêm mắm muối vô cái thành món gì. Tôi đưa cơm trắng cái thành cái cơm chiên mất rồi. Mình nói đó, cho nên chúng ta thấy nhiều khi chuyện

[1:31:21]nhỏ nhỏ trong chùa chứ sự thật nó đã bị bóp méo. Do đó bây giờ mình đang còn ở trong chùa mình phải tập cái bản lĩnh này. Vì đây là bản lĩnh để sau này mình làm Phật sự mình ít có bị hố. Là mình nắm được cái dữ liệu gì nó là sự thật hoàn toàn để mình xử lý cho chính xác. Bây giờ tập từ bây giờ, tập từ bây giờ. Chúng ta để ý thêm những điểm này nữa, là có những điều dường như là được cả thế giới chấp nhận cũng chưa chắc là chân lý. Có khi sau này trong tương lai người ta thay đổi. Ví dụ thời xưa vua là ông chủ của cái đất nước, điều đó nó như là một chân lý mà cả thế giới này nước nào cũng công nhận.

[1:32:01]Nhưng đến sau này Jean-Jacques Rousseau đưa ra: "Không, đất nước này của dân." Cho tới ngày nay cả thế giới đều phải sao? Là dân dân chủ, nước là của dân. Nhưng coi chừng vài thế kỷ nữa cái nó khác. Đất nước là của dân không hợp lý nữa. Chúng ta vậy, nhiều khi cả thế giới chấp nhận rồi đó, vậy mà đến lúc nào người ta vẫn phát hiện nó sai. Đừng có tin gì hết. Rồi có những điều mà nó hợp lý vào lúc này nhưng mà qua lúc khác nó bất hợp lý. Chân thật vào lúc này mà giả dối lấc lúc khác. Ví dụ cái người đó bao nhiêu năm chơi với mình luôn luôn nói thật. Đến lúc nào đó có một lần họ đã nói dối mình không ngờ.

[1:32:43]Cho nên luôn luôn vậy, vẫn phải đề phòng. Mặc dù là cái người đó đã nói thật nhiều lần, có uy tín, mình biết người này thường hay nói thật, vậy thôi. Nhưng mà bất cứ tin nào lạ, tin nào lạ vẫn phải phải đề phòng. Như tôi nghe có cái chuyện có ông Tàu, ổng đến mượn người kia một ngàn đồng, ổng hẹn ba ngày trả, ba ngày trả. Lần sau mượn năm ngàn đồng, ba ngày trả, ba ngày trả. Lần sau mượn năm chục ngàn. Cho tới cái ngày ổng mượn năm triệu ổng trốn đi mất. Thì vì cứ tin là ổng trả đúng hẹn á, không ngờ đó là một cái âm mưu của ổng. Có chuyện như vậy. Nghĩa là nhiều khi người ta nói thật cả một thời gian dài,

[1:33:18]nhưng trong lúc buồn đời đó, người ta nói dối một cái mình bị hố chết. Là vì vậy. Tuy nhiên, có một điều cuối cùng không bao giờ được nghi. Có một điều cuối cùng. Cái gì mình hồ nghi thì được, nhưng riêng Đức Phật là mình phải trọn lòng tôn kính tuyệt đối luôn. Mọi trên đời, mọi giá trị đều tương đối, tạm bợ, có thể thay đổi, có thể không chính xác, nhưng nơi cái đạo đức của Đức Phật, cái trí tuệ của Đức Phật, cái từ bi của Đức Phật, cái công hạnh của Đức Phật là tuyệt đối mà chúng ta phải đặt niềm tin tuyệt đối. Đây là chỗ dựa cuối cùng của chúng ta. Mọi điều khác: nghi hết. Nghi hết. Chúng ta hoài nghi phải phán đoán lại, xét lại.

[1:34:00]Nhưng chúng ta phải tin nơi cái lòng thương yêu tuyệt đối của Đức Phật đối với chúng sinh. Chúng ta phải tin nơi cái Nhất Thiết Trí của Đức Phật, trong cái tâm vô ngã Ngài phủ trùm thấy được hết mọi điều trong pháp giới này. Chúng ta phải tin như vậy, những cái đạo đức sâu thẳm. Dù chúng ta không đạt được, nhưng đây là chỗ cuối cùng trong mọi điều chúng ta nghi ngờ giữa thế gian tương đối này, còn lại một điểm cuối cùng là tuyệt đối là Đức Phật, chúng ta phải trọn lòng tôn kính. Có ai hỏi gì không? Hy vọng đạo hữu kia kẹt xe. Ủa, không kẹt xe hả? Hỏi đi. Dạ bạch cho thầy hoan hỷ cho con hỏi vài câu.

[1:34:46]Là người ta hay có, con có nghe một cái câu thường thường là: "Ngày xưa quả báo thì chầy, ngày nay quả báo một giây nhãn tiền." Mà không phải không, con không biết là là là ngày nay là có phải là quả báo nhãn tiền hay là không? Hay là do cái người này đó, là cái kiếp trước gây nghiệp ác, bây giờ cũng gây nghiệp ác, mà cái kiếp đó bây giờ tới đây bây giờ phải trả, thành ra nó trời cái trùng hợp á, cái sự trùng hợp đó mà trả là sao?

[1:35:14]Nó có hai trường hợp mà mình thấy cái nhân nó ra cái quả sớm. Cái trường hợp thứ nhất á là đúng như đạo hữu suy luận, là ngẫu nhiên trùng hợp. Nghĩa là đời trước làm điều ác, đời này làm điều ác thì mình trả quả báo này là trả cái này. Phải không? Nhưng mà vì hai cái này nó gần nhau quá mình tưởng là cái này là của cái này. Đó, đây là điều nghĩa là đạo hữu nghiên cứu Phật giáo tới ngày hôm nay là đã khá tiến bộ. Nên trong khi hỏi mà đã đưa ra tự mình đưa ra được một câu trả lời hợp lý. Đó là trường hợp thứ nhất mà thấy giống như là quả báo nhãn tiền nhưng không phải quả nhãn tiền, quả báo của cái kiếp cũ, rất là chính xác.

[1:35:52]Trường hợp thứ hai là đúng là quả báo nó đến liền, đến liền. Lý do thế này: lý do là vì trong kiếp trước mình không có tạo nhiều thiện ác rõ ràng. Thiện làm chút, ác làm chút, thiện làm chút, nó không có rõ ràng, không nhiều. Cho nên khi đời này mà làm một cái ác mạnh, quả báo tới liền. Nó không còn, nó không có mấy cái tích lũy để dồn lại đó, cho nên nó đến không bao lâu, ba năm, năm năm nó tới. Thì cái người này ráng làm phước, ba năm, năm năm, một thời gian trúng số liền. Hoặc là làm bậy, làm ác đi, ba năm, năm năm đi ở tù hay là rơi vào khốn cùng liền. Là cái này là do quá khứ không có tích lũy cái thiện ác rõ

[1:36:29]ràng mạnh, sống hời hời hợt hợt hời hời hợt hợt thôi. Nó bị, đây là hai trường hợp.