Transcript: Luận Về Nhân Quả 04 - Giọng Đọc Hướng Dương

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:31:09

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Đánh chết pháp sư Đại Điên để trả thù cho cha, cộng với một lần đùa cợt hiện hình hổ để dọa hai người bạn đạo. Dù sao hai người này, Minh Không và Giác Hải, đều là những vị tu hành đắc lực, nếu không muốn nói là đã vào hàng hiền thánh. Hai tác nghiệp này khiến cho vua Lý Thần Tông đang ở thân người phải chịu đọa làm hổ một thời gian. Khi con cọp Đạo Hạnh gầm lên nhảy tới, sư Minh Không liền biết đó là người bạn mình đùa cợt, và cũng biết luôn quả báo của hành động vô ý này ra sao, nên ngài quở: "Muốn làm hổ thì sẽ được!" Quả nhiên 30 năm sau, lời quở trách kia đã biến thành sự thật. Trong tất cả tài liệu về y khoa của Đông Tây kim cổ,

[0:59]không bao giờ đề cập tới chứng bệnh hóa thành cọp như trường hợp trên đây. Bệnh lý có rất nhiều dạng sai khác bởi vì nghiệp quả của chúng sinh sai khác. Trị bệnh tức là trị nghiệp. Không trị được nghiệp thì bệnh không bao giờ hết. Dù cho y học hiện đại tiến bộ đến đâu, với vô số dụng cụ thuốc men tối tân đến đâu, nhưng khi chúng sinh còn gây nghiệp thì sẽ luôn luôn có những chứng bệnh mới mà y học hiện đại không thể nào trị nổi. Nếu y học có khả năng điều trị được bệnh đó, thì bệnh khác sẽ xuất hiện, để cho thế gian này luôn luôn tồn tại hai tiếng nan y. Nếu chúng sinh từ bỏ mọi ác nghiệp, giữ gìn giới cấm,

[1:47]bố thí lợi ích, họ sẽ được xa lìa cõi người khổ đau bệnh hoạn này, để sinh về sống chung với chư thiên không mang thân tật ách bệnh khổ. Theo truyền sử, khi bị hóa thành hổ, vua Lý Thần Tông nghe trong mình đau nhức ghê gớm, quả báo giết hại Đại Điên, nên mở miệng rên la, nhưng tiếng rên la kia lại giống như tiếng gầm thét của loài hổ. Dù được phước báo làm vua, nhưng hai bất thiện nghiệp kia vẫn còn rơi lại, ảnh hưởng rất mạnh, khiến cho vua Thần Tông phải đền trả sòng phẳng mà không hóa giải hết hẳn được. Nếu là người tầm thường không biết tu tập, có lẽ sư Đạo Hạnh phải chịu hẳn mấy đời làm cọp.

[2:30]Nhưng vì sư là người có tác phước và đạt đạo, dù chưa chứng Niết Bàn viên mãn như A-la-hán, nhưng công năng của thiện nghiệp công đức kia giúp cho sư chỉ phải trả khổ báo trong thời gian ngắn. Sư giả dạng hình hổ để dọa người đã đưa đến quả báo thọ lấy thân hổ. Nếu giả dạng để cứu người thì không sao, nhưng giả dạng để phá người, ắt bị ác báo. Có người giả dạng làm ma để nhát khách qua lại trên đường vắng, hoặc để thực hiện những âm mưu đen tối nào khác, đều sẽ đọa làm ngạ quỷ cô hồn sau khi mất thân người. Có người giả tiếng chuột kêu, mèo gọi để hẹn hò tà dâm, sẽ được làm thân mèo, thân chuột ở đời sau đó.

[3:17]Nhưng cũng có người giả dạng nhà sư uy nghi, đạo mạo để kiếm sống, hoặc để lừa gạt, họ sẽ đọa thân gì? Dĩ nhiên, như thế là có chút hư chủng tử làm thầy tu, nhưng trước hết, người này phải đọa địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ vì lạm nhận hình tướng của bậc trì giới thanh tịnh. Chỉ có bậc trì giới thanh tịnh mới được quyền khoác lấy chiếc y cà sa của Đức Phật truyền lại. Lạm nhận hình thức này mà tâm hồn đen tối, nhận lấy sự cung kính cúng dường mà nhân phẩm hoen ố, không xứng đáng, sự đau khổ và hèn hạ là sự chờ đợi dành cho họ ở mai sau. 17.

[4:26]Phỉ báng bậc thánh. Trích Tăng Chi Bộ Kinh 3B, trang 163. Rồi Tỳ-kheo Kokālika đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Kokālika bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Sāriputta và Moggallāna là ác dục, bị ác dục chinh phục." "Này Kokālika, chớ nói vậy! Này Kokālika, chớ có nói vậy! Hãy để tâm tịnh tín đối với Sāriputta và Moggallāna. Hiền thiện là Sāriputta và Moggallāna."

[5:15]Lần thứ hai, Kokālika bạch Thế Tôn: "Dầu Thế Tôn có lòng tin tưởng, đối với con, Sāriputta và Moggallāna là ác dục, bị ác dục chinh phục." Ba lần Kokālika công kích, ba lần Đức Thế Tôn cải chính. Rồi Tỳ-kheo Kokālika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi ra đi. Kokālika ra đi không bao lâu, toàn thân nổi lên những hạt to bằng hạt cải, rồi lớn bằng hạt đậu, lớn bằng hạt sỏi, hạt táo, trái cau, trái dưa, dưa hường, trái dưa chín, rồi chúng bị nứt nẻ, mủ và máu chảy ra. Tại đấy, Kokālika nằm trên lá chuối như con cá ăn phải đồ độc. Rồi Phạm thiên Độc giác Tudu, Tudu là bổn sư của Kokālika,

[6:15]khi Tudu mệnh chung, được Thế Tôn nói là chứng được Nhất Lai, hiện trên hư không, nói với Kokālika: "Này Kokālika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sāriputta và Moggallāna. Hiền thiện là Sāriputta và Moggallāna." "Ngươi là ai?" "Ta là Độc giác Phạm thiên Tudu." "Thưa hiền giả, có phải hiền giả là người được Thế Tôn công nhận đã chứng Bất Lai, sao người lại đến đây? Phải chăng người không thật chứng Bất Lai?" Phạm thiên Tudu thốt lên bài kệ: Con người được sinh ra, với chiếc búa trong miệng. Người ngu nói điều xấu, là tự chém vào mình. Ai khen người đáng chê, ai chê người đáng khen, đều chất chứa bất hạnh, do từ miệng tạo thành.

[7:23]Và bởi bất hạnh ấy, nên không được an lạc. Ai chỉ trích bậc thánh, với lời, với ác ý, trải qua trăm ngàn đời, với địa ngục Nirab, còn thêm ba mươi sáu, với ngục Abbuda, phải sanh vào địa ngục, chịu khổ đau tại đấy.

[7:52]Rồi Tỳ-kheo Kokālika do chứng bệnh ấy mệnh chung và sanh vào địa ngục sen hồng Paduma, vì tâm khởi ác ý đối với Sāriputta và Moggallāna. Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, hiện thân trước Thế Tôn, đảnh lễ và đứng một bên, bạch Thế Tôn thuật lại sự kiện Kokālika sinh về địa ngục, rồi đảnh lễ biến mất. Rồi Thế Tôn, sau đêm đã qua, bảo các Tỳ-kheo về việc Phạm thiên Sahampati thuật lại. Một Tỳ-kheo hỏi Thế Tôn về thời gian của địa ngục Paduma. Thế Tôn dùng một thí dụ để các Tỳ-kheo hình dung thời gian không thể tính kể của địa ngục này.

[8:47]Xin xem nguyên bản. Nhận xét: Kokālika phải chịu một bất hạnh lớn vì đã phỉ báng các bậc thánh, nhất là vị thánh này lại chính là hai đệ tử của đấng Chánh Đẳng Giác. Ác tâm của Kokālika nặng nề đến nỗi chính Thế Tôn ba lần cải chính mà Kokālika vẫn không thay đổi quan niệm của mình. Ác ý đối với hai Đại tôn giả Sāriputta và Moggallāna đã khiến cho Kokālika mất hết thiện căn, hiện đời cảm báo bệnh hoạn dơ dáy, khốn khổ. Rồi thêm một lần, chính bổn sư của Kokālika là Phạm Thiên Tudu, vị đã vào quả vị, hiện đến khuyên bảo, mà Kokālika vẫn không đổi quan niệm, lại còn chê Tudu chưa phải là vị Thánh.

[9:36]Như người bị té xuống hầm phân không còn một chỗ sạch sẽ nào trên mình người để cho người ở trên có thể nắm lấy kéo lên. Cũng vậy, ác tâm của Kokālika che phủ hết mọi thiện căn để có thể được người khác cứu vớt. Cuối cùng, Kokālika qua đời và sinh về địa ngục Paduma với thời gian dường như vô hạn. Những vị Thánh giải thoát giống như thửa ruộng màu mỡ tốt tươi. Gieo một sẽ được trăm ngàn. Người gieo hạt ớt sẽ nhận lấy muôn ngàn cay đắng. Người trồng hạt lê sẽ nhận lấy muôn nghìn thơm ngọt. Kokālika đã gieo vào thửa ruộng Sāriputta và Moggallāna hạt giống phỉ báng, ganh ghét để rồi phải nhận lấy khổ báo trong hiện đời bướu

[10:25]ghẻ đau đớn, nhận lấy khổ báo trong đời sau tại địa ngục mà sự đau khổ muôn vàn lần bi thảm hơn không thể diễn tả hết được. Sự phỉ báng những vị Thánh giải thoát, những vị Tăng giữ giới thanh tịnh sẽ đưa người này đến địa ngục là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, trong hiện đời y sẽ bị lìa khỏi địa vị cao sang để trở thành thấp hèn hạ liệt. Người làm Tăng sẽ mất phước làm Tăng. Người uy quyền sẽ bại hoại danh vọng. Khi Chư Thiên sắp mạng chung từ bỏ cõi đời để sinh xuống cõi nhân gian, các vị này có năm tướng xấu hiện ra báo trước. Trong đó, họ khởi tâm nhàm chán thiên xứ hiện tại của mình.

[11:09]Chính nghiệp đã tác động đến tận trong tâm thức của chúng sanh. Cũng vậy, người xuất gia chợt khởi tâm nhàm chán địa vị làm Tăng của mình, thích sống đời cư sĩ, có khi tự biện hộ bằng những lý lẽ siêu thoát rằng đạo vượt ngoài hình tướng tăng tục, rồi cởi áo cà sa khoác thế y. Phải biết trường hợp này, nghiệp đã xen vào tác động trong vô thức. Vì một lý do nào đó, phước làm Tăng của người này đã hết và ý tưởng bất thường khởi lên. Trong nhiều nguyên nhân mất phước làm Tăng, có một nguyên nhân là chỉ trích, khinh thường, ganh ghét bậc Thánh. Có người ở địa vị cao sang, nếu khởi ba nghiệp bất kính đối với bậc Thánh,

[11:54]y sẽ đánh mất địa vị của mình không lâu để lui lại vị trí thấp kém. Những quả báo nặng hơn ở phía sau khi mạng chung là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Người phỉ báng chánh pháp, chỉ trích bậc Thánh, quả báo ít nhất trong hiện đời là những khuyết tật về miệng. Miệng méo, sứt môi, câm, ngọng là sự thể hiện của nghiệp phỉ báng này. Và những kiếp được làm người về sau họ thường bị công kích, nhục mạ, chê bai. Chúng ta dễ mắc ác nghiệp này trong trường hợp bênh vực tôn giáo mình và công kích tôn giáo khác, tôn vinh giáo chủ mình và hủy báng giáo chủ khác. Có một thời gian Kitô giáo và Hồi giáo công kích nhau kịch liệt.

[12:38]Người Kitô giáo theo sự xúi giục của Éloge thế kỷ thứ tư nổi lên công kích Mahomet là tên gian dâm, bịp bợm và đại ác, là tay sai của quỷ Satan. Ngược lại sau này, Ali Imham (994 - 1064) viết trong cuốn "Tôn giáo và thừa phái phê bình": "Chúng ta không nên ngạc nhiên về óc mê tín của con người. Những dân tộc đông người nhất và văn minh nhất cũng không thoát khỏi tật mê tín. Số tín đồ Kitô giáo nhiều vô kể, chỉ Thượng đế mới đếm nổi, và họ có thể tự hào rằng có những ông vua sáng suốt, những triết gia danh tiếng. Họ tin rằng Chúa Kitô, chính là Đấng Sáng Tạo, đã bị quất, bạt tai, đóng đinh lên thập tự giá và

[13:27]trong ba ngày vũ trụ không có ai làm chủ". Kinh Cựu ước có nhiều điểm sơ hở khiến cho giới trí thức khoa học sau này mất niềm tin luôn cả Chúa Jésu. Những đoạn Phúc âm trong Tân ước của Chúa Jésu rất cảm động, nhưng người có ác cảm vẫn moi móc đủ điều. Kokālika được sinh ra với cái búa trong miệng, dễ dàng bất kính và chỉ trích mọi người. Ngay cả khi nghiệp quả bướu ghẻ nổi lên, được Bổn sư từ cõi trời thương xót hiện đến nhắc nhở, Kokālika vẫn phớt lờ, lại còn hạch sách: "Tại sao Tudu đã chứng Bất Lai còn trở lại đây, phải chăng điều này không đúng?". Qua sự kiện này, chúng ta hiểu thêm một điều:

[14:12]Quả vị của đạo Phật là năng lực tự tại đối với sinh tử, không phải là sự gò bó, bắt buộc. Một vị chứng Bất Lai có nghĩa là không còn bị nghiệp lôi kéo để trở lại cõi đời này, nhưng vị này vẫn có thể tùy nguyện trở lại làm lợi ích chúng sinh. Cũng vậy, Niết bàn A La Hán là vô sinh, không còn bị nghiệp lôi kéo để thọ thân trong tam giới, nhưng vị này vẫn có thể tùy nguyện trở lại làm lợi ích chúng sinh. Niết bàn không phải là sự kềm tỏa, cầm tù tịch, mà phải là năng lực đại tự tại, nên bậc A La Hán có khả năng đi vào sinh tử hóa độ chúng sinh. Chiến tranh tàn khốc, máu đổ thịt rơi cũng chỉ vì khuynh hướng độc tôn sai lầm này.

[15:00]Biết bao nhiêu triều đại đã qua trong lịch sử, càng công kích chỗ dở của triều đại trước chừng nào thì họ càng vi phạm sai lầm nhiều hơn địch thủ của họ nhiều chừng nấy. Nhưng sở dĩ chúng ta công kích hơn ca ngợi chỉ vì chúng ta có cảm tưởng kẻ khác bị ngã quỵ, tức là chúng ta vinh quang hơn, tài giỏi hơn. Chúng ta thấy được cái dở của người khác, tức là chúng ta giỏi hơn họ. Vì nghĩ vậy nên chúng ta chỉ trích thường xuyên. Muốn mặt mình đẹp bằng cách bôi nhọ lên mặt người khác mà không biết tự sửa soạn lại chính mình. Muốn tông phái mình nổi bật bằng cách chê bai tông phái khác mà không biết hoàn thiện lại chính tông phái mình.

[15:45]Phật dạy chúng ta phải biết ẩn ác dương thiện. Đừng bêu cái xấu của người ra, chỉ nên đưa cái tốt của họ ra mà thôi. Lòng từ bi không để cho chúng ta thấy người khác mất danh dự. Tuy nhiên, điều này không nên cố chấp một chiều. Rồi một ngày đẹp trời nào đó, người anh em của chúng ta muốn đến thọ giáo với một ông đạo có nhiều quyền năng phép lạ, tự xưng là "Phật xuất thế", là "Giáo chủ ra đời", phong thánh cho người này, người kia. Nếu chúng ta không kịp thời ngăn chặn chỉ trích để cho người anh em chúng ta lạc vào đường tà, chúng ta cũng có lỗi lớn. Không khen người đáng chê. Không chê người đáng khen.

[16:31]Đặt ngược vấn đề phỉ báng, nếu tán thán bậc Thánh sẽ đưa đến quả báo ra sao? Thiên giới, vinh quang và hạnh phúc là sự chờ đợi dành cho những người khởi tâm tịnh tín và tán thán đối với bậc Thánh. Nếu chúng ta kính trọng ai về ưu điểm nào, chúng ta sẽ thành tựu về ưu điểm đó. Nếu chúng ta kính trọng Thánh Francisco bởi nhân cách nghèo nàn, đơn giản, bởi lòng thương yêu phụng sự mọi người, chúng ta sẽ dần dần trở nên thành tựu những nhân cách đó. Sở dĩ chúng ta khát khao sự giải thoát trong khi chúng ta chưa từng nếm qua mùi vị giải thoát, bởi vì trong quá khứ có một bậc Thánh giải thoát nào đó đã làm cho chúng ta kính phục.

[17:19]Sự kính phục phong cách, oai nghi, dung mạo, tâm hồn của vị Thánh giải thoát đã ươm thành niềm khát khao giải thoát cho chính ta. Để rồi đời này chúng ta chấp nhận bao nhiêu khó nhọc, bao nhiêu giới cấm và tiến tu thiền định mãi mãi. 18.

[18:08]Tu tập Từ tâm. Trích Tăng Chi Bộ Kinh 3A, trang 146. Từ Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anathapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo." "Thưa vâng, bạch Thế Tôn." Với từ tâm giải thoát, này các Tỳ kheo, được sử dụng, được tu tập, được làm sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như căn cứ địa, được tùy trú, được tích tập, được khéo tác thành, sự chờ đợi là tám lợi ích.

[19:07]Thế nào là tám? Ngủ được an lạc, dậy được an lạc, không thấy ác mộng, được người ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư Thiên hộ trì, lửa hay thuốc độc, hay kiếm không gia hại.

[19:33]Nếu không thông đạt thượng vị, sẽ đạt được Phạm Thiên giới. Với từ tâm giải thoát, sự chờ đợi là có tám lợi ích này. Ai tu tập từ tâm, vô lượng thường ức niệm, các kiết sử yếu dần, thấy được sanh y diệt. Với tâm không ác độc, từ mẫn một chúng sanh, do vậy vị ấy thành, bậc thuần nhất chí thiện. Với tâm ý từ mẫn, đối với mọi chúng sanh, bậc Thánh khéo thực hiện, nhiều công đức tốt lành. Sau khi đã chinh phục, rất đông đảo loài người, các ẩn sĩ, vua chúa, theo nghi lễ tế tự, lễ tế ngựa tế người, lễ uống nước thắng trận, lễ ném cầu may rủi, lễ rút lui khóa cửa, không được phần 16, bậc khéo tu từ tâm,

[20:58]như ánh sáng mặt trăng, đối với các quần sanh, không giết, không bảo giết, không thắng, không bảo thắng, từ tâm mọi chúng sanh, không hận thù với ai. Nhận xét:

[21:19]Phật cho biết nếu người tu tập từ tâm một cách thuần thục sẽ đạt được tám lợi ích. Trước hết, chúng ta định nghĩa: "Từ tâm là gì?". Từ tâm là lòng thương yêu không điều kiện. Thông thường chúng ta thương yêu ai vì người đó có sự tương quan nào với mình. Hoặc họ là cha, là mẹ, là anh chị, bà con thân quyến. Hoặc họ là bạn bè đối xử ưu ái với mình. Và đậm đà tha thiết hơn cả nếu họ là tình nhân hay vợ chồng với mình. Lòng thương yêu của chúng sinh được chi phối thúc đẩy bởi nghiệp, nó có điều kiện hẳn hoi. Chúng ta thương yêu cha mẹ vì người đã nuôi nấng, sinh dưỡng, săn sóc cho chúng ta từ thơ ấu

[22:09]và có khi còn để lại cả gia tài sự sản về sau. Chúng ta thương yêu bạn bè vì họ đáp ứng những nhu cầu giao tiếp, vui chơi, đỡ đần qua lại với chúng ta. Chúng ta thương yêu tình nhân vì họ đem lại cho chúng ta khoái lạc của nhục dục. Chúng ta thương yêu con cái vì chúng nó là sự kéo dài hình ảnh, tên tuổi, dòng họ của chúng ta ở lại với cuộc đời khi chúng ta đã nhắm mắt. Tình thương có điều kiện như thế, bị chi phối bởi nghiệp như thế, luôn luôn kéo theo ô nhiễm, bất an và phiền động. Nó luôn luôn đòi hỏi sự đáp ứng trở về cho tự ngã. Nếu không được đáp ứng trở lại, tình thương sẽ biến mất và đôi khi sẽ được thay thế bằng thù hận.

[23:02]Lịch sử đã chứng minh và tiểu thuyết đã diễn tả khá nhiều về loại tình thương có điều kiện này với kết quả sau cùng là sự chiếm chỗ của thù hận. Tình thương có điều kiện ràng buộc nhau, là sự đòi hỏi nhau. Cha mẹ thương con cũng vẫn đòi hỏi một sự hiếu để trở lại. Con thương cha mẹ cũng vẫn đòi hỏi sự chăm sóc chu đáo. Vợ chồng thương nhau cũng vẫn đòi hỏi sự cung phụng về xác thịt. Có khi chỉ vì không thỏa mãn nhục dục, họ sẵn sàng ngoại tình và bỏ nhau. Tình thương yêu như thế không phải là từ tâm được Phật tán thán. Có năm giai đoạn mà chúng ta phải đi qua để phát triển từ tâm: Một: Muốn biết từ tâm này là gì, bạn hãy hướng tâm đến bất cứ

[23:55]một chúng sinh nào không có chút liên quan gì với mình và tác ý khởi lên lòng yêu mến đối với chúng sanh đó. Trong lòng yêu mến hướng về chúng sanh đó, bạn không nghe lòng mình đòi hỏi nơi họ bất cứ sự đáp ứng nào, cũng không cần họ biết rằng bạn đang thương mến họ, chỉ một sự thương yêu trìu mến, ưu ái, chứa chan, thắm thiết của bạn dành cho họ một cách thuần khiết, vô nhiễm mà thôi. Hai: Rồi bạn hướng tâm đến những người quen biết trong cuộc đời mà từ lâu bạn vẫn phớt lờ, đối xử hời hợt với họ để chan rải lòng thương mến với họ. Ba: Rồi bạn hướng tâm đến từng người từ lâu ác cảm với bạn hoặc đã mưu hại bạn.

[24:46]Phải khởi tâm chân thành bình đẳng như những chúng sanh khác. Thoạt đầu, bạn sẽ nghe tình thương mới này đụng chạm với niềm thù hận bấy lâu, nhưng sau giây phút tỉnh giác, niềm thù hận cũ sẽ tan để nhường chỗ cho tình thương ngự trị. Bốn: Rồi bạn hướng tâm đến những thú vật lớn, những côn trùng nhỏ, những ngạ quỷ vô hình, những chúng sanh ở địa ngục. Khi khởi tâm thương mến những chúng sanh bất hạnh này, liền đó có niềm xót xa, thương hại kèm theo. Từ đã sinh ra Bi, thương yêu đã sinh ra thương xót. Từ là thương yêu mọi loài một cách bình đẳng không điều kiện. Bi là thương xót khi thấy chúng sanh đau khổ. Năm:

[25:40]Rồi bạn lại tâm nguyện rằng bất cứ nơi nào có sự hiện diện của chúng sinh, nơi đó có tình thương của bạn ban phát. Bỗng nhiên một cách không cố ý, bạn thấy lòng từ bi của mình trùm phủ vô hạn trong pháp giới. Nếu mới ban đầu chúng ta quán tưởng từ tâm trùm khắp vô lượng, từ tâm này chỉ có chiều rộng mà không có chiều sâu. Phải đi qua năm giai đoạn vừa kể, từ tâm đó mới có đầy đủ bề sâu và bề rộng. Thường xuyên chan rải lòng thương yêu như vậy, tu tập từ tâm cho đến thuần thục, sung mãn như cỗ xe, như căn cứ địa, người này thành tựu tám lợi ích: Ngủ, thức thì được yên vui, không có ác mộng. Được người yêu mến, phi nhân ái mộ.

[26:31]Điều này dễ hiểu vì từ tâm lan tỏa tự nhiên, cảm ứng với tâm chúng sanh, nhất là các loài phi nhân thấy được tâm người, chúng sẽ mến mộ người nào có từ tâm lan tỏa như vậy. Được chư Thiên hộ trì. Những thiên tử là những vị đã từng vun bồi từ tâm nhiều đời, tích lũy thiện căn nhiều kiếp nên rất quý mến những chúng sanh đi theo con đường cao cả này. Với năng lực của thiên giới, họ sẽ thủ hộ, gìn giữ ai tu tập từ tâm thoát khỏi những chướng nạn trên đường tu, bảo vệ sự tu tập của vị này đến viên mãn. Lửa, thuốc độc, đao kiếm không gia hại. Thuốc độc đây bao gồm những độc trùng như rắn, rết, bọ cạp.

[27:18]Những hiểm nạn trên đây cảm ứng với tâm ác độc, không cảm ứng với từ tâm. Có thể trong quá khứ vị này đã từng tạo nghiệp đáng bị quả báo lửa, đao, độc dược, nhưng với đời này tu tập từ tâm thuần thục, quả báo kia được hóa giải qua hình thức khác nhẹ hơn. Nếu không chứng quả Thánh, sẽ sinh về cõi trời Phạm Thiên. Cõi trời Phạm Thiên dành cho những chúng sanh tu tập sung mãn từ tâm và giữ gìn phạm hạnh, đồng thời có sở đắc trong thiền định. Tu tập từ tâm trợ giúp rất nhiều cho thiền định giải thoát. Các kiết sử yếu dần, thấy được sanh y diệt. Tu tập từ tâm có công năng phá dần các kiết sử che tâm.

[28:08]Kiết sử tan đến đâu, thánh vị tăng đến đó, cho đến tận cùng thì sanh y đều chấm dứt, được viên mãn Niết-bàn. Thể Niết-bàn là thể của đại bi (kinh Đại Bát Niết Bàn hệ Phật giáo phát triển). Thế nên ai gieo nhân đại bi sẽ được quả Niết-bàn. Và khi đã thành tựu Niết-bàn, tức là viên mãn đại bi và thắng trí, vị này sẽ ra vào tam giới, hoá độ chúng sanh mà không ai thấy được dấu vết. Vì sao tu tập từ tâm có công đức như vậy? Như chúng ta đã phân biệt giữa phước và đức. Phước là do lợi ích chúng sanh, đức là do cái tốt của tự tâm. Tu tập từ tâm tức là tăng trưởng đức bên trong. Đức là cội gốc vững bền cho mọi phước nghiệp bên ngoài,

[29:01]là vốn liếng để tựu thành vô lượng công hạnh khác. Người thuần thục từ tâm là người đã có sẵn kho tàng vô giá. Công đức của từ tâm đủ sức phá tan dần các kiết sử, trợ duyên lớn lao cho thiền định giải thoát. Trong Pháp Cú truyện tích có thuật một số Tỳ-kheo ở trong rừng tu tập bị các thần cây phá phách không yên, Phật dạy các vị khởi từ tâm đối với chúng sinh, sau đó chư thiên đã hộ trì sự yên ổn cho các vị tiến tu.

[29:35]Lòng từ cảm ứng sự hỗ trợ của chư thiên hiệu quả hơn lời cầu nguyện từ một tâm hồn ích kỷ. Kẻ ích kỷ muốn được sự hỗ trợ của chư thiên bằng lời cầu nguyện vẫn không thành tựu bằng một người chan rải từ tâm cho tất cả chúng sinh. Bởi hai cách thức, một người sẽ giúp đỡ kẻ khác: hoặc do lý trí phân biệt thiện ác nên người này cố gắng làm điều thiện, tránh điều ác; hoặc do từ tâm thương yêu chúng sinh nên người này cố gắng hi sinh giúp đỡ cho kẻ khác. Nhưng nhưng trong hai trường hợp tác thiện như vậy, một do lý trí, một do từ tâm thì hành vi bởi từ tâm vẫn làm tươi mát lòng người hơn cả. Chúng ta không phủ nhận vai trò quan trọng của lý trí trong việc phân

[30:25]biệt thiện ác, nhưng cũng cần có từ tâm như dòng suối trong mát mùa hè, như tia nắng ấm áp mùa xuân một cách tự nhiên, thoải mái. Người thuần lý trí sẽ đối xử tốt với mọi người nhưng vẫn có vẻ khô khan, cứng cỏi. Còn người thuần thục từ tâm sẽ đối xử tốt với tất cả mọi người trong vẻ bao dung, ưu ái và ai cũng thích trường hợp thứ hai này. 19.

[31:21]Khinh bỉ. Trích Pháp Cú truyện, trang 81. Một người mang bệnh cùi bị mọi người ghê tởm xa lánh. Nghe oai danh của Đức Phật Đại Từ, ông tìm đến. Trong một thời nghe Pháp, ông đắc quả Tu-đà-hoàn. Nhưng bất hạnh thay, lúc trở về, ông bị một con ngựa húc vào người và ngã ra chết. Các Tỳ-kheo đem chuyện này hỏi Đức Phật và được giải thích rằng, vị ấy mang bệnh cùi vì trong một tiền kiếp đã có lần nhổ nước miếng vào một vị Phật Độc Giác, bị ngựa húc chết vì đã giết một cô gái giang hồ. Nhận xét: Vào đầu thế kỷ này, bên Mỹ xuất hiện một bác sĩ kỳ lạ làm chấn động dư luận trong một lúc lâu, đó là bác sĩ Edgar Cayce.

[32:18]Edgar Cayce tốt nghiệp bằng cấp tây y hẳn hoi, nhưng ít khi ông chẩn đoán nguyên nhân bệnh tật bằng những phương pháp của y học hiện đại. Trái lại, ông đã tìm nguyên nhân bệnh tật bằng cách nhập định, dùng thần nhãn truy tìm ác nghiệp trong quá khứ của bệnh nhân. Ông là người theo Kitô giáo, nhưng có khả năng tâm linh phi thường như những đạo sĩ Ấn Độ. Ông có thể soi thấu những tác nghiệp rất xa của người khác từ những đời sống cách đây hàng vạn năm. Những điều ông tìm thấy có vẻ xa lạ với người Kitô giáo, nhưng lại rất gần gũi với tín đồ Ấn Độ và Phật giáo. Những nguyên nhân của bệnh hoạn luôn luôn xuất phát từ một ác nghiệp trong quá khứ.

[33:01]Người thiếu máu vì đã từng dự vào chiến trận làm đổ máu nhiều người. Người mù mắt vì đã từng dùi thủng mắt những tội nhân. Người mắc bệnh đồng tính (homosexual) vì đã từng vẽ tranh hài hước châm biếm những kẻ đồng tính khác (theo Many Mansions - Edgar Cayce). Người không đứng được vì phá đường tháo cầu nơi công cộng. Người bị phỏng vì từng trụng luộc chúng sinh. Nói chung, những đau đớn về bệnh hoạn mà chúng ta phải chịu đựng đều là phản ánh những đau khổ mà chúng ta đã gây ra cho kẻ khác, vật khác. Edgar Cayce không đề cập tới địa ngục và thiên đường, súc sinh hay ngạ quỷ, ông chỉ nói tới những kiếp làm người.

[33:45]Có lẽ ông ngại nói quá rộng về siêu hình chưa thích hợp với người Tây phương Thiên Chúa giáo. Ông đã soi kiếp cho 25.000 trường hợp và mỗi trường hợp đều lưu lại hồ sơ. Nếu có điều kiện, bạn nên tìm đọc trực tiếp các tài liệu này và sẽ tìm thấy nhiều kinh nghiệm về đường đi của nhân quả nghiệp báo. Sau khi tìm thấy nguyên nhân của những bệnh, Edgar Cayce đều khuyên bệnh nhân thay đổi, gạn lọc nội tâm mình cho thuần thiện, yêu thương và giúp đỡ mọi người. Công đức của thiện tâm và phước lực của thiện nghiệp sẽ thay đổi tình trạng sức khoẻ của họ khả quan hơn. Quả nhiên, khi làm theo lời khuyên này, bệnh hoạn của họ đều chuyển biến.

[34:27]Nhưng ông cũng cho biết bệnh nào có thể hết hẳn và bệnh nào không thể hết hẳn dù có cố gắng gia tăng phước nghiệp trong hiện tại, bởi vì định nghiệp quá nặng. Riêng người bệnh cùi được dẫn ra trong đây đã bắt đầu bằng một nguyên nhân tâm lý: khinh bỉ một vị Phật Độc Giác bằng hành vi nhổ nước bọt vào vị này. Phật Độc Giác là những vị ra đời không gặp Phật, không gặp thiện tri thức, nhưng có sức huân tu từ quá khứ rất mãnh liệt và thuần thục, đời này đủ sức tự tu được viên mãn đạo quả Niết-bàn. Nơi quả vị Niết-bàn này không sai khác với các vị A-la-hán, vô minh lậu hoặc đều hết sạch, tam minh lục thông đều thành tựu,

[35:11]không còn một sức mạnh nào lôi kéo vị này vào tam giới, trừ khi chính vị này tự nguyện trở lại để giáo hoá chúng sinh. Nhưng vị Độc Giác Phật được tán thán nhiều hơn bởi không cần sự hướng dẫn như Thanh Văn A-la-hán, công đức quá khứ đủ để vị này tự đi một mình. Hành vi phỉ nhổ vào vị Độc Giác Phật sẽ đưa đến quả báo năm trăm đời mang bệnh hủi. Bệnh hủi là loại bệnh làm cho mọi người ghê tởm lánh xa. Ghê tởm vì sợ lây và ghê tởm vì sự lở loét kỳ dị của nó. Ghê tởm xa lánh là hình thức của sự khinh bỉ, tột độ của sự khinh bỉ. Sự khinh bỉ bậc thánh thiện đã đem lại quả báo ghê tởm xa lánh cho kẻ này.

[35:56]Nếu khinh bỉ người phàm phu, quả báo chỉ bị thấp hèn, khinh bỉ trở lại, không đến nỗi bị bệnh cùi, bị mọi người ghê tởm xa lánh như thế. Có khi chúng ta không khinh bỉ phỉ nhổ bậc thánh, nhưng vì sự tự kiêu nơi dòng tộc, gia thế, danh vọng, chúng ta suốt đời khinh bỉ những tầng lớp khác, đối xử hắt hủi tệ bạc với những người giai cấp khác. Quả báo cũng tương tự sẽ xảy đến bằng sự nghèo khó thấp hèn, bệnh hoạn lở loét, nứt nẻ, hôi hám để mọi người phải ghê tởm lánh xa. Muốn hoá giải ác nghiệp này, chúng ta phải hướng tâm về Đức Phật mà khởi lên niềm tôn kính vô biên. Lần lượt, chúng ta hướng tâm về chư vị Bồ-tát,

[36:42]A-la-hán với tâm tôn kính tột độ như vậy. Chúng ta lại tâm nguyện cung kính thương yêu đối với tất cả chúng sinh. Mỗi khi nhìn thấy bất cứ ai trong ngày đều phát khởi niềm cung kính đến với họ. Hạnh tu này gọi là phổ kính, cung kính tất cả. Khi hạnh phổ kính này thuần thục, tâm cung kính sung mãn thì ác nghiệp của sự khinh bỉ bắt đầu bị đẩy lùi. Bệnh hoạn sẽ chuyển biến dần để đi đến bình phục. Hạnh phổ kính cũng giống như từ bi, phải bắt đầu bằng sự tự kỷ ám thị rồi dần dần mới thuần thục trở thành suối nguồn tuôn trào tự nhiên vô tận. Khi ngồi nơi vắng vẻ, tâm chúng ta tự nhắc nhở rằng: "Tất cả mọi chúng sinh đều là những người tôi thương yêu và kính trọng".

[37:38]Hoặc khi đi vào nơi đông người, nơi thưa người, nhìn thấy họ, chúng ta liền khởi tâm rằng: "Đây là những người tôi hết lòng thương yêu và kính trọng". Phải thường xuyên huân tập nhắc nhở như vậy mãi, chúng ta sẽ thành tựu hạnh phổ kính và từ bi. Vì đã giết một cô gái giang hồ nên đời này bị ngựa húc chết, điều này dễ hiểu và có thể chính con ngựa đó là hậu thân của cô gái giang hồ nào chăng? Tuy nhiên, do một duyên đặc biệt nào không được Thế Tôn giải thích, ông gặp Thế Tôn để được chứng quả Tu-đà-hoàn. Ở quả vị Tu-đà-hoàn này, một chúng sinh không còn đoạ vào ba ác đạo nữa, hoặc họ sinh thiên hoặc họ sinh làm người, miễn sao qua vài nghìn năm,

[38:25]có thể cả vạn năm nhiều lần sinh lại cõi người, sẽ chứng Niết-bàn viên mãn. Dĩ nhiên không phải vô cớ ông được nhân duyên ngộ đạo như thế. Nếu không nhờ sự giáo hoá khéo léo nào đó, nếu ông không hối cải tha thiết từ hành vi khinh bỉ kia, nếu ông đã không quy hướng một vị thánh nào thì đời này ông không thể gặp Phật nghe Pháp và lọt vào dòng Thánh, nhập lưu. 20.

[39:20]Vũ kịch. Trích Tương Ưng Bộ Kinh 4, trang 307. Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha, Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư Natagamani đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn: "Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị đạo sư nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: 'Ai là nhà vũ kịch trên sân khấu, giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú, người này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sinh cộng trú với chư Thiên hay cười, Pahasadeva'. Ở đây Thế Tôn nói như thế nào?" "Thôi, vừa rồi, này thôn trưởng,

[40:20]hãy dừng ở đây, chớ có hỏi Ta về điều này." Ba lần vũ kịch sư Talaputa hỏi, ba lần Thế Tôn từ chối trả lời. Cuối cùng, Thế Tôn bảo: "Thật sự Ta đã không chấp nhận trả lời, tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho ngươi. Này thôn trưởng, đối với những loại hữu tình từ trước chưa đoạn trừ tham, sân, si, còn bị tham, sân, si trói buộc; nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, khiến tham, sân, si của họ tăng thịnh. Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, cũng làm người khác đắm say, phóng dật. Sau khi thân hoại mạng chung, bị sinh trong địa ngục Hý Tiếu, Pahaso. Còn người chỉ cần có tà kiến rằng:

[41:27]'Người vũ kịch làm quần chúng vui cười, thích thú sẽ được sinh thiên', Ta nói rằng, kẻ tà kiến ấy chỉ có một trong hai sinh thú: Địa ngục và súc sinh." Khi nghe như vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc, lệ đầm đìa.

[41:52]"Chính vì vậy mà lúc đầu Ta từ chối trả lời câu hỏi của ông."

[42:00]"Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng bạch Thế Tôn, vì con bị các đạo sư, các tổ sư vũ kịch thời trước lừa dối con, dối trá con trong cả thời gian dài. Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và Chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới." Thế Tôn chấp nhận.

[42:58]Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa chuyên cần tinh tiến và trở thành một vị A-la-hán. Nhận xét: Đường đi của nhân quả nghiệp báo rất là tế nhị và phức tạp, nếu không suy xét mọi khía cạnh của vấn đề rất dễ bị lầm lẫn. Tổ sư của môn vũ kịch đã dựa vào luật nhân quả để an ủi những người theo môn nghệ thuật sân khấu rằng, làm cho quần chúng vui cười thích thú sẽ được sinh thiên. Nhưng Đức Phật đã nhìn thấu suốt vấn đề để chỉ ra rằng, nếu môn nghệ thuật sân khấu đó làm tăng thịnh tham, sân, si của quần chúng, quả báo chờ đợi là địa ngục Hý Tiếu. Thường thì tâm tình của quần chúng dễ bị ảnh hưởng hướng dẫn,

[43:45]ít ai có khả năng tự chủ trước sự hấp dẫn của nghệ thuật để phê phán nó. Những phim ảnh đấu tranh tàn bạo, rùng rợn, những người hùng đánh hay, giết giỏi đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào tâm hồn bao nhiêu thanh thiếu niên, để gây cho họ sự sôi sục, dã man, hăng say và hiếu chiến. Vấn đề không dừng ngang đó. Các thanh thiếu niên bị phim ảnh kích động, muốn mình trở thành người hùng của thời đại, đã kết bè tập nhóm đánh đấu, chém giết nhau túi bụi. Những khu phố đông người với ngõ hẻm quanh co ở các thành phố, thị xã đều đã từng bị tình trạng hỗn loạn như vậy trong một thời gian khá dài. Đến 30 tháng 4 năm 75, tình trạng hỗn loạn đó mới lắng dịu.

[44:29]Cả những nước phương Tây cũng báo động về tình hình thiếu niên phạm pháp. Có đứa bé đã thản nhiên giết bạn mình, khi được hỏi cung chỉ trả lời vỏn vẹn rằng, thử xem giết người có khó không. Tệ hơn cả là những phim ảnh khiêu dâm. Kẻ làm phim đã bán đứng lương tâm của mình, dựng những cảnh dâm dục thô bỉ, trơ trẽn để thu vào ống kính. Phương tiện videocassette hiện nay trở nên thuận lợi cho việc chiếu phim khiêu dâm lén lút, làm băng hoại tâm hồn của bao nhiêu người. Tham dục của con người vốn đã đầy tràn, giờ đây còn được kích thích mãnh liệt. Và khi lòng tham dục sôi sục thì không có tội lỗi nào

[45:09]kẻ ấy từ chối, mọi luân thường đạo lý sẽ bị phá vỡ. Những kịch bản tình yêu lãng mạn, những khúc hát ân tình say đắm đã vùi trái tim ai trong bâng khuâng mơ mộng. Khi khối tình si hiện hữu thì mặt trời trí tuệ bị khuất che u ám. Sự cao thượng của con người phải vắng mặt khi những tình cảm vị kỷ chiếm chỗ. Hơn phân nửa những thi phẩm, nhạc phẩm của nhân loại chỉ để nói về tình yêu.

[46:02]Có thể bạn trách tôi quá khắt khe với quan hệ tình yêu của nam nữ, giống như mấy ông bà già xưa thường ngăn cấm con cái một cách lỗi thời. Bạn có thể cho rằng thời đại văn minh bây giờ, người ta cần công khai đặt vấn đề tình yêu để có sự giáo dục hẳn hoi hơn là che đậy để bị ức chế. Thật ra Đạo Phật không ngăn cấm người cư sĩ có tình yêu và lập gia đình, nhưng họ còn nhiều mục đích cao cả hơn trong đời sống. Tâm con người thì dễ vui, buông thả và yếu đuối, khuyến khích một, họ sẽ làm đến mười. Họ còn cần trái tim để chan rải tình thương yêu mọi người. Họ còn cần năng lực để hy sinh giúp đỡ chúng sinh.

[46:45]Họ còn cần hạnh phúc của tâm hồn thanh thản. Còn những cảm xúc sôi động bừng cháy của cảm tính thì dễ tìm và cũng thường kéo theo bất an, phiền muộn. Đời người quá ngắn ngủi để họ vùi mình mãi trong các cuộc truy hoan tạm bợ. Họ còn cần nhiều thời gian để tác thành phước nghiệp cho mai sau. Bạn sẽ nói đâu phải kịch bản nào cũng kích động hận thù và tham lam, cũng có những kịch bản có nội dung xây dựng giáo dục rất tốt. Tôi không phủ nhận điều này. Nếu kịch bản có nội dung giáo dục tâm hồn quần chúng trở nên cao thượng hơn, đây là điều đáng mừng. Tuy nhiên, để gọi là một kịch bản hấp dẫn, lôi cuốn người xem thì những pha hồi hộp, căng thẳng, mê ly cần phải có.

[47:33]Ai chịu trách nhiệm sự bất an này của quần chúng? Bệnh thần kinh tăng nhanh trên thế giới vì ngày nay sân khấu, điện ảnh đã gây cho họ quá nhiều stress. Họ đã không tìm giải trí trong sự thư giãn tâm hồn, trong buông xả những suy tư. Trái lại, họ tránh né cuộc sống mệt mỏi này để tìm quên trong cuộc sống gay cấn được dàn dựng trong phim trường, để rồi sau khi giải trí, đầu óc họ còn căng thẳng hơn trước. Ngày này qua ngày kia, não bộ quá tải thì bệnh tâm thần xuất hiện. Quả báo của những người thực hiện kịch bản kích thích tăng thịnh tham, sân, si được Phật cho biết là địa ngục, địa ngục Hý Tiếu.

[48:14]Chúng ta không được nghe diễn tả về địa ngục loại này, chỉ biết rằng hễ nói địa ngục thì chỉ có khó chịu và đau khổ. Phật cũng cảnh cáo, chỉ cần có tà kiến cho rằng gây cho quần chúng khán giả vui cười thích thú sẽ được sinh thiên, tà kiến ấy đủ đưa người này vào ác đạo. Qua điều này, chúng ta thấy sáng thêm một khía cạnh của nhân quả nghiệp báo: Chỉ cần có tư tưởng sai lầm cũng đủ để thọ khổ báo. Do đó, khi một người tu tập từ tâm và phổ kính như trước nói, sẽ kết thành phúc lạc vô lượng ở mai sau, đủ để sinh về cõi trời Phạm Thiên thọ lạc báo. Không tin hiểu nhân quả nghiệp báo cũng là một tà kiến.

[48:56]Gieo rắc sự bất tín đối với nhân quả nghiệp báo lại càng là ác nghiệp nặng nề hơn. 21.

[49:31]Muối và nước. Trích Tăng Chi Bộ Kinh, trang 284. Ai nói như sau: Này các Tỳ-kheo, người nào làm nghiệp gì sẽ phải chịu quả báo cố định như vậy, nếu sự kiện đúng như vậy thì không có đời sống phạm hạnh, không có cơ hội để đau khổ được đoạn diệt. Và này các Tỳ-kheo, ai nói như sau: Người gây nghiệp thế nào tức là có tội như vậy, nếu sự kiện là như vậy thì có đời sống phạm hạnh, có cơ hội để đau khổ được đoạn diệt. Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ, hạn hẹp, vị kỷ, nhỏ nhen. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn cũng đủ đưa nó vào địa ngục.

[50:45]Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tu tập về thân, về giới, về tâm, về tuệ, rộng rãi, không vị kỷ, sống đời vô lượng. Người như vậy có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, ngay trong hiện tại một chút ít khổ báo cũng không xảy ra, nói gì là nhiều.

[51:14]Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bỏ một nhúm muối vào trong một chén nước nhỏ, các ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, nước trong chén nhỏ ấy có vì nhúm muối này mà trở thành mặn và không uống được chăng?

[51:37]Thưa có vậy, bạch Thế Tôn. Vì sao? Thưa vì nước trong chén nhỏ ít, nhúm muối đủ làm cho mặn để không uống được. Này các Tỳ-kheo, ví như có người bỏ một nhúm muối vào sông Hằng, các ông nghĩ thế nào, sông Hằng có vì nhúm muối ấy để trở thành mặn và không uống được chăng? Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì sao? Vì lớn thay là nước sông Hằng, nhúm muối không đủ để khiến cho nước ấy trở thành mặn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, hạng người làm ác nghiệp nhỏ mọn không có tu tập về thân,

[52:28]về giới, về tâm, về tuệ, hạn hẹp, vị kỷ, nhỏ nhoi, đủ đưa nó vào địa ngục.

[52:38]Và ngược lại, ngay trong hiện tại một chút ít khổ báo cũng không xảy ra, nói gì là nhiều. Sự kiện là như vậy, này các Tỳ-kheo, thời có đời sống phạm hạnh, có cơ hội để đau khổ được đoạn diệt. Nhận xét:

[53:04]Bài kinh này nói về tính cách linh động của nhân quả nghiệp báo. Nếu người cho rằng gây nghiệp nào cố định phải trả quả đó thì vĩnh viễn không ai có thể tu giải thoát. Những ác nghiệp nho nhỏ trong đời sống đều phải trả sòng phẳng thì dù tu tập thế nào cũng phải luân hồi tái sinh để trả cho hết. Và trong đời sống tái sinh mới đó, họ lại có cơ hội để tạo nghiệp và sẽ phải tái sinh để thọ báo tiếp tục, cứ thế đến vô cùng. Ngay cả đời sống phạm hạnh cũng không thể viên mãn vì trong nhiều kiếp quá khứ luyến ái tính dục, duyên nợ ái ơn phải đền trả, vừa trả nợ cũ cho nhau mà cũng vừa tạo thêm duyên mới cho nhau.

[53:44]Sự liên quan chằng chịt làm cho không ai có thể thoát ra nếu nhân quả cố định như vậy. Bằng trí tuệ thấu suốt sự lý của tam giới, Đức Phật chỉ ra tính cách linh động của luật nhân quả nghiệp báo. Quả dị thục sẽ thay đổi tùy theo công hạnh của mỗi người. Người tạo nghiệp thế nào sẽ có tội thế ấy, nhưng có tội không hẳn là phải trả quả nếu người này có công đức, phước lực lớn lao, đủ sức hòa tan, hóa giải những ác nghiệp nhỏ mọn kia. Với người không từng tu tập những công đức khác, tâm nhỏ nhoi, vị kỷ, thì một ác nghiệp nhỏ cũng đủ đưa họ vào đọa xứ. Họ không có chút nước phước để làm loãng đi nhúm muối tội,

[54:27]họ phải nếm trải đầy đủ sự mặn đắng của chút tội lỗi đã gây. Ngược lại, người đã từng huân tu các công đức về hành vi, về giới luật, thiền định, trí tuệ, tâm hồn quảng đại, từ ái, nếu có lỡ phạm chút ác nghiệp, ao nước phước của họ sẽ vô hiệu hóa chút tội lỗi kia, nghiệp này không đủ sức kết thành quả báo. Tôn giả Angulimala tuy đã từng giết nhiều người nhưng chỉ bị đền trả quả báo trong hiện đời một cách sơ sài: bị đánh đập, ném đá, xé y áo, bể bát, và sau này Tôn giả vẫn chứng quả A-la-hán. Một tôn giả trước khi xuất gia vì ngu si đã lấy mẹ và chị làm vợ, nhưng từ khi xuất gia vị này tinh tiến và khổ hạnh,

[55:16]rồi cũng chứng A-la-hán, trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Tiểu Bộ. Không phải tất cả vị A-la-hán khi chưa xuất gia đều thuần thiện, trong sạch. Có những vị từng gây tạo ác nghiệp nhưng công đức tu tập giới, định, huệ khiến cho những ác nghiệp kia trở thành vô hiệu quả. Đường đi của nhân quả linh động, uyển chuyển như vậy nên mới có sự hóa giải nghiệp lực, có cơ hội để giải thoát đau khổ. Dù thế nào thì trong muôn kiếp si mê chúng ta đã từng tạo ra rất nhiều ác nghiệp. Bổn phận từ hôm nay là hãy tạo chứa dòng sông phước đức để hóa giải những thúng muối mặn đắng còn nằm nguyên vẹn trong kho tội lỗi kia đi.

[55:59]Dòng sông phước đức sẽ phát nguồn từ giới luật, từ tâm, bố thí, thiền định và trí tuệ. Tổng quát những điều này, tuy nhiên trong đời sống chúng ta, tùy duyên khởi hạnh: nuôi con chim non mất mẹ, ngăn cản người giết thú, tán thán người tạo phước, hướng dẫn người quy y, cho người mượn cuốn kinh, chỉ đường cho người lạc lối, biếu thuốc cho người bệnh, bênh vực người thế cô, nhặt của rơi đem trả, dành sự dễ dàng cho người nếu mình là viên chức hành chánh, sáng kiến nâng cao đời sống cho mọi người, ngăn chặn văn hóa đồi trụy, truyền bá tư tưởng cao thượng, hòa giải những cuộc tranh chấp, vân vân, đều là những công hạnh phải tích lũy

[56:47]qua thời gian dài trong cuộc sống. Có khi chúng ta có cơ hội để tạo những công đức như vậy, nhưng khi cơ hội đến chúng ta không đủ lý trí để phân biệt thiện ác, không đủ từ tâm để hy sinh giúp đỡ người, và cơ hội đó đi qua. Điều cần thiết là chính chúng ta phải luôn luôn sáng ngời từ tâm và lý trí, không để lỡ một cơ hội gây tạo công đức nào khi cơ hội đó xuất hiện. Cũng có những người ở nơi vắng vẻ, ít giao tiếp với đời sống bên ngoài, ít có cơ hội để giúp đỡ ai, người này phải tu tập từ tâm và thiền định thật nhiều để làm tăng trưởng công đức của tâm. Công đức lớn lao của từ tâm cũng là một dòng sông hòa tan

[57:30]mất những thúng muối mặn đắng từ nhiều đời của họ. 22. Vua và đất nước. Trích Tăng Chi 2A. Khi nào, này các Tỳ-kheo, các vua phi pháp có mặt, khi ấy các đại thần phi pháp của vua có mặt. Khi nào các đại thần phi pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt. Khi nào các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở nên phi pháp. Khi nào dân chúng thị thành và các làng là phi pháp, khi ấy mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo. Khi nào mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo. Khi nào tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi sai quỹ đạo.

[58:42]Khi nào thời tiết và năm đi sai quỹ đạo, khi ấy gió thổi sai lạc, trái mùa. Khi nào gió thổi sai lạc, trái mùa, khi ấy chư thiên bực mình. Khi nào chư thiên bực mình, khi ấy trời mưa không có điều hòa. Khi nào trời mưa không có điều hòa, khi ấy lúa chín trái mùa.

[59:12]Này các Tỳ-kheo, khi nào lúa chín trái mùa, khi ấy loài người nuôi sống với loại lúa ấy thì thọ mạng sẽ ngắn, dung sắc xấu, yếu sức và nhiều bệnh.

[59:30]Khi nào, này các Tỳ-kheo, các vua đúng pháp có mặt, khi ấy, các vị đại thần đúng pháp có mặt. Diễn dịch ngược với đoạn trên: Này các Tỳ-kheo, khi nào lúa chín đúng mùa, khi ấy, loài người nuôi sống với loại lúa ấy, thọ mạng sẽ dài, dung sắc đẹp đẽ, có sức mạnh và không có nhiều bệnh. Khi đàn bò lội sông, Càng đầu đi sai lạc, Cả đoàn đều đi sai, Vì hướng dẫn sai lạc.

[1:00:14]Cũng vậy trong loài người, Vị được xem tối thắng, Nếu sở hành phi pháp, Còn nói gì người khác! Cả nước bị đau khổ, Nếu vua sống phi pháp. Khi đàn bò lội sông, Càng đầu đi đúng hướng, Cả đàn đều đúng hướng, Vì hướng dẫn đúng đường. Cũng vậy trong loài người, Vị được xem tối thắng, Nếu sở hành đúng pháp, Còn nói gì người khác! Cả nước được an vui, Nếu vua sống đúng pháp. Nhận xét: Bài kinh này Đức Phật nói về nghiệp báo chung của cả quốc gia. Dĩ nhiên không phải vô cớ mà những người dân sinh ra cùng một đất nước để chịu chung một hoàn cảnh, một hiến pháp, một nền văn minh. Cũng không phải vô cớ mà một người trở thành vua của quốc gia ấy.

[1:01:21]Công đức riêng của vị này và sự liên hệ nhiều đời với nhân dân đã đưa vị ấy trở thành vua của đất nước đó. Lịch sử đằng đẵng của loài người đã chứng tỏ rằng không phải vị vua nào cũng là hôn quân vô đạo, cũng không phải vị vua nào cũng là minh quân dịu đức. Dù là cùng một thể chế phong kiến, nhưng có khi vua là chính trực, có khi vua là hôn ám, và thái độ của vua ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước. Bài kinh diễn dịch rất lạ tai về những sự đi lệch quỹ đạo của Mặt Trăng, Mặt Trời, các thiên hà, tinh tú, năm tháng không chính xác, chư thiên bực mình, thời tiết mùa màng thay đổi, nhưng có một điểm mốc quan trọng là:

[1:02:08]Khi nào dân chúng thị thành và làng mạc trở thành phi pháp. Như vậy không phải vua là nguyên nhân đưa đến đau khổ, an lạc cho đất nước, mà chính sự phi pháp của dân chúng đưa đến bất hạnh cho họ. Vua chỉ là cái cớ ban đầu dẫn đến thái độ phi pháp hay đúng pháp của dân chúng mà thôi. Nếu dân chúng hầu hết trở thành băng hoại đạo đức, phong hóa suy đồi, ác giới lừng thịnh, lấp đường bố thí, mở lối ích kỷ, thì từ đó, những sinh hóa của thiên nhiên đi dần về phía bất lợi cho cuộc sống của con người. Mưa gió sẽ thất thường không thuận lợi cho việc trồng tỉa, sâu bọ côn trùng sinh sôi nảy nở phá hoại hoa màu,

[1:02:54]động đất rung chuyển sụp lở làm chết người hư vật, bão tố lụt lội sẽ thường xuyên tàn phá xóm làng thị trấn, sóng thần trỗi dậy cuốn trôi làng mạc ven biển, bệnh dịch phát khởi lan tràn gieo rắc chết chóc tang tang. Những cơn thịnh nộ của thiên nhiên rất tàn khốc và vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Y học tiến bộ chừng nào thì bệnh nan y tăng vọt chừng nấy. AIDS đang là một loại bệnh mới xuất hiện làm điên đầu bao nhiêu nhà khoa học. Trong các hình thức nghiệp, đạo Phật có nói đến cộng nghiệp, tức là nghiệp chung. Do cộng nghiệp này mà những người cùng chung trong một điều kiện, một xứ sở, một địa phương, một làng xóm,

[1:03:37]một tập thể, một chuyến xe phải chịu chung một bất hạnh hay một may mắn. Những người dân Ả Rập sống chung trên những túi dầu hỏa, những người Eskimo sống chung nơi vùng Bắc Cực lạnh lẽo hoang vắng, những người Nhật ở Hiroshima và Nagasaki chịu chung hai trái bom nguyên tử, những hành khách trên chuyến xe hôm qua chịu chung tình trạng lật. Những gia đình bên kia chịu chung một quyết định dời nhà trong khu quy hoạch. Có lẽ do sự tạo nghiệp tập thể nào đó. Hai ba người lính không còn tìm thấy xương thịt nguyên vẹn, nhưng có một người chỉ bị cháy nám sơ sơ. Chiếc xe nổ bánh trước lật nhào xuống ruộng,

[1:04:17]hành khách bị một phen kinh hoàng, nhưng chỉ có hai ba người chết. Một thành phố tối tân giàu có, nhà cửa cao lớn chọc trời, sinh hoạt tấp nập thịnh vượng, nhưng vẫn có những người nghèo khó sống cam khổ thiếu áo thiếu nhà. Tuy nhiên, nghiệp thiện ác tương ưng trên toàn thể vẫn đem lại cho họ một sắc thái vui khổ chung chung. Bài kinh này Phật nhấn mạnh đến trách nhiệm của người lãnh đạo đất nước là phải làm sao cho dân chúng sống đúng pháp. Khi họ đã sống đúng pháp rồi, thì những kế hoạch ổn định trật tự, xây dựng kinh tế, nâng cao đời sống dễ dàng thực hiện. Nếu người dân sống phi pháp, dù cố gắng tối đa, vị nguyên thủ vẫn không thành

[1:05:03]công trong việc đem lại cho họ một đời sống ấm no hạnh phúc. Trách nhiệm nặng nề của vị vua nằm ở chỗ này, là giúp họ có một đời sống chân chính, đạo đức. Thường thì vị vua lãnh đạo đất nước chỉ đặt nặng khả năng tổ chức, thiết kế sách lược, sắp xếp kế hoạch, bổ dụng nhân sự, mà quên đi cái gốc nằm tại thái độ sống của người dân. Vị vua chân chính nào cũng muốn cho dân được hạnh phúc, ấm no. Nhưng nếu người dân thiếu phước thì không một sách lược nào thành tựu. Thế nên trên tất cả kế hoạch, vị vua phải có một kế hoạch xây dựng thái độ sống cho dân chúng. Kế hoạch này là nền tảng của mọi kế hoạch kinh tế,

[1:05:44]quốc phòng, giáo dục, công nghiệp nào khác. Nhưng muốn xây dựng thái độ sống của người dân, thì vị vua phải chọn thái độ sống của chính mình trước hết, và chính thái độ sống của vua sẽ ảnh hưởng tới các vị đại thần, tới dân chúng. Chúng ta nói vị vua ảnh hưởng tới vận mệnh đất nước nghĩa là như vậy: Từ thái độ sống của vua ảnh hưởng tới dân chúng, và từ thái độ sống của dân chúng ảnh hưởng đến đời sống khổ vui của họ. Trong Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa giáo có một huyền thoại về sự tiêu diệt thành Sodoma. Dân thành Sodoma sống trụy lạc, ác độc và ích kỷ. Chúa Trời Jehovah quyết định tiêu diệt toàn bộ thành này.

[1:06:29]Abraham xin Chúa tha thứ nếu còn một số người còn thiện tâm. Đấng Jehovah đồng ý tha thứ thành này khỏi bị hủy diệt nếu còn đến 10 người có thiện tâm. Nhưng tiếc thay, cả thành chỉ còn gia đình của Lot có thiện tâm. Thiên sứ đã hiện ra, đưa gia đình Lot ra khỏi thành. Sau đó, một cơn mưa diêm sanh và lửa từ trời giáng phủ tiêu diệt toàn bộ thành Sodoma và Gomorrah. Hai thành này bị sụp xuống thành Tử Hải cho đến hôm nay. Chúng ta bỏ qua những chi tiết huyền thoại này, chỉ hiểu đơn giản rằng do thái độ sống phi pháp quá đáng của dân chúng hai thành này nên thiên nhiên đã xuất hiện thiên tai, sự động đất sụp lở cùng với mưa lửa.

[1:07:15]Mưa lửa có thể hiểu giống như mưa axit bây giờ. Thật ra chúng ta khó đánh giá nhân quả của một quốc gia, vì sự luân hồi tái sanh đã chuyển người dân nước này trở thành người dân nước khác. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy được những nét chung chung. Dân chúng các nước Ả Rập theo Hồi giáo tuân thủ lời dạy bố thí của Tiên tri Mahomet rất triệt để. Họ bố thí rất rộng rãi với những số tiền lớn lao. Có những phú gia bố thí hết trọn cả gia tài. Nền văn minh của các quốc gia Hồi giáo đã từng vượt lên khá cao, bởi vì sự tài trợ rộng rãi của các vua chúa, phú gia cho những nhà khoa học và văn hóa bấy giờ. Bây giờ, họ là những quốc gia giàu có bởi các mỏ dầu khí

[1:07:58]nằm rải rác trong đất nước sa mạc mênh mông của họ. Tuy giàu có, nhưng họ phải chịu đựng quả báo về chiến tranh thường xuyên. Sự xung đột giữa Israel và các nước Ả Rập, chiến tranh điên cuồng giữa Iraq và Iran là sự phản ánh những cuộc hành quân truyền giáo của quân đội Hồi giáo trong quá khứ. Hồi giáo có truyền thống lạ lùng về sự truyền giáo. Họ dùng quân đội và nhiều hình thức chế tài để bắt buộc người khác theo Hồi giáo. Giáo chủ Mahomet đi tiên phong trong phương pháp này. Đạo Phật tại Ấn Độ đã bị tiêu diệt gần hết bởi đạo quân Hồi giáo ở thế kỷ thứ 13. Bắt chước Hồi giáo, Thiên Chúa giáo thành lập Thập Tự Quân

[1:08:42]để chiến đấu ngăn chặn sự phát triển của Hồi giáo. Những cuộc chiến đấu dai dẳng và tàn khốc của thánh chiến này trong năm thế kỷ còn để lại nỗi kinh hoàng đến tận hôm nay. Máu người chảy thành dòng ngập đến đầu gối ngựa. Dựa vào dòng sông máu này, chúng ta có thể đoán ra thây người nhiều ít ra sao. Tại nước Nhật, Phật giáo được xem là quốc giáo cùng với truyền thống võ sĩ đạo tại đây. Trong một chiếu chỉ ban cho toàn dân, Thánh Đức Thái Tử đã viết: Toàn dân Nhật phải kính thờ đạo Phật. Và thế là đạo Phật nhanh chóng xâm nhập vào cuộc sống người dân Nhật. Họ sống thanh thản, thánh thiện và bình thường cho

[1:09:25]đến khi người châu Âu đặt chân đến đất nước họ. Minh Trị Thiên Hoàng đã sáng suốt tiếp nhận văn minh kỹ thuật Tây phương vào đất nước mình. Trí tuệ của Thiền từ lâu ẩn núp trong phong cách mộc mạc của dân chúng Nhật, bây giờ trỗi dậy tiếp thu và phát huy những kỹ thuật của phương Tây một cách sắc bén không ngờ. Nền văn minh cơ khí vật chất vượt lên cao độ, những phương tiện xe cộ, máy bay, tàu thủy, điện tử đã đủ để họ trở nên cường quốc trong một thời gian không lâu. Khi sự vinh quang của vật chất được tôn sùng thì sự cao cả của thánh triết bị bỏ quên. Tinh thần võ sĩ đạo truyền thống của Nhật được phát tiết vào quân đội.

[1:10:10]Đảng Hắc Long ra đời với chủ thuyết Đại Đông Á, mưu đồ thôn tính các nước Á Đông ven Thái Bình Dương. Tinh thần Phật giáo nhường chỗ cho chủ nghĩa quân phiệt (militarism). Những chiến thắng liên tiếp từ Mãn Châu, lục địa Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương đã làm cho Nhật trở thành bá chủ như chủ trương của họ. Những xác người để lại bên cuộc xâm lăng, hai triệu người Việt Nam chết đói vì chính quyền Nhật ra lệnh phá lúa trồng đay còn là nỗi thương tâm khó xóa nhòa.

[1:10:44]Và rồi quân đội Đồng Minh đã phản công mạnh mẽ, chiếm lại dần dần những vùng đất bị chiếm. Quân đội Nhật yếu thế từ từ. Hoa Kỳ đặt chân càng lúc càng gần nơi lãnh thổ Nhật. Trong lúc đang tối tuyệt vọng như vậy, những nhà quân đội lãnh đạo của Nhật còn hối thúc các nhà bác học chế ra bom nguyên tử để hy vọng chuyển bại thành thắng, kế hoạch Ni. Nhưng cuối cùng, mùa thu năm 1945, Hoa Kỳ đã chấm dứt cuộc chiến tranh Thái Bình Dương này bằng hai quả bom nguyên tử tại hai thành phố Hiroshima và Nagasaki. Nhật đầu hàng vô điều kiện. Khi sự vinh quang của quyền uy và vật chất bị đập vỡ, người Nhật trở về tìm sự an ủi trong đời sống thiền định cố hữu của họ.

[1:11:33]Hoa Kỳ đã thay thế chính quyền Nhật bởi những phần tử ôn hòa, giải trừ toàn bộ quân đội Nhật. Người Nhật chỉ còn lo xây dựng kinh tế. Sự thông minh do thiền định đem lại đã giúp cho người Nhật trở thành sắc sảo trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, và sự thành công về phương diện này đã khiến cho thế giới khâm phục họ. Phước do lối sống Phật giáo luôn luôn sẵn sàng đem lại sự thành công cho họ, nhưng nếu họ hướng sự thành công đó về chiến tranh giết chóc, họ phải chịu hậu quả tức thì. Nếu so sánh các loài động vật thì con người có phước hơn các loài thú khác. Dù to lớn như voi, hung dữ như cọp, con người vẫn có khả năng khống chế như thường.

[1:12:18]Nghiễm nhiên con người trở thành chủ nhân giữa các loài trên mặt đất. Nếu so sánh giữa các giống dân thì giống dân da trắng có vẻ như là có phước hơn giống dân da màu. Bao nhiêu thế hệ trôi qua, người da trắng vẫn giữ vị trí hàng đầu của nhân loại. Dù cố gắng chống kỳ thị chủng tộc, nhưng trong thâm tâm người ta vẫn có cảm tình với dân da trắng hơn dân da đen. Nếu ai muốn hy sinh cả đời mình để tìm giá trị cho dân da đen, họ sẽ được mãn nguyện tìm thấy giá trị cho chính họ ở những đời sống về sau khi họ sinh vào giống dân da trắng. Thật vậy, ai có phước sẽ chuyển sinh về những giống dân da trắng để được giá trị hơn.

[1:13:01]Không hề có sự cố định là loài vật nhỏ sẽ tiến hóa thành những loài vật cấp cao, cũng không hề cố định những loài vật cấp cao sẽ thoái hóa thành loài vật cấp thấp. Phước của từng chúng sinh sẽ quy định sự tiến hóa hay thoái hóa của nó. Nếu con khỉ có chút lòng vị tha từ ái, nó sẽ chuyển thân thành người. Nếu con người lại vị kỷ, ganh ghét, nó sẽ chuyển thân thành khỉ. Sự chuyển thân nghĩa là thần thức ra khỏi thân gá vào thai của loài giống khác, không phải chuyển thân là đổi hình dáng của nó. Nói khỉ thành người tức là thần thức của con khỉ đó sau khi chết gá vào thai loài người. Nói người thành khỉ nghĩa là thần thức của người

[1:13:50]ấy sau khi chết gá vào thai loài khỉ. Cái động lực chính của sự tiến hóa hay thoái hóa là phước nghiệp của mỗi chúng sinh. Sức mạnh của phước nghiệp đã đưa thần thức của chúng sinh đi vào nơi tương xứng. Nói như vậy không có nghĩa chúng sinh không có quyền tự làm chủ và phước nghiệp là sức mạnh bên ngoài. Chúng sinh có quyền làm chủ từ ban đầu khi họ quyết định tạo thiện hay ác. Khi nghiệp thiện hay ác đã được tạo ra rồi thì họ trở lại bị nghiệp đó làm chủ. Chính chúng sinh tạo ra chủ nhân của mình. Nếu đó là chủ nhân thiện, chúng sinh có nhiều tự do và may mắn. Nếu đó là chủ nhân ác, chúng sinh chịu nhiều ràng buộc và bất hạnh.

[1:14:40]Nếu người có tâm từ ái tốt lành, sức mạnh của phước sẽ đưa thần thức họ về một xứ sở có nhiều người từ ái, thân thiện. Nếu người có tâm vị kỷ, ganh tị, sức mạnh của nghiệp sẽ đưa thần thức họ về một xứ sở có nhiều người hay đấu tranh, bỏn xẻn. Nơi xứ sở tương xứng đó, họ sẽ nhận được sự đối xử thích hợp của mọi người chung quanh. Nói như vậy cũng không có nghĩa quơ đũa cả nắm, vì trong cái chung cũng có vô vàn dị biệt, nhưng ngược lại trong cái dị biệt vẫn có nét chung. Bài kinh trên, Phật đặt trách nhiệm chính nơi vị vua, giống như con bò đầu đàn hướng dẫn đàn bò. Nếu con đầu đàn đi sai, cả đàn sẽ kéo nhau vào vực sâu thác ghềnh nguy hiểm.

[1:15:28]Nếu con đầu đàn đi đúng, cả đàn sẽ đến bờ an ổn. Do đó, vị vua phải sống chân chính, hướng dẫn dân chúng cùng sống chân chính. Đó là nói vị vua biết vì dân vì nước, nhưng còn có thể phạm sai lầm trong đường lối. Trong trường hợp khác, cũng có những bạo chúa không có một chút vì dân vì nước, trái lại còn đày đọa, áp bức dân chúng, đối xử tàn bạo với dân chúng như kẻ thù. Cả một tập đoàn vua quan chỉ xúm nhau hà hiếp, bóc lột dân chúng. Vua Néron giải trí bằng cách đốt cháy nhà dân chúng rồi đứng trên đài cao ngắm lửa cháy một cách vui sướng. Hitler với chủ nghĩa Quốc xã đã vắt cạn sức lực của toàn dân cho mưu đồ bá chủ.

[1:16:14]Pol Pot chụp mũ phản động để đập bể đầu gần hết dân Campuchia. Chúng ta không hiểu nổi mối thù truyền kiếp nào đã đưa đến tình trạng éo le như vậy, nhưng rõ ràng có mối thù giữa tập đoàn thống trị và dân chúng. Vua Asoka trong giai đoạn ban đầu cũng là bạo chúa, đã đối xử tàn bạo và khắc nghiệt với mọi người. Vua còn đem quân tàn phá, thôn tính các nơi để mở rộng đế quốc. Người dân đã gọi vua là Ác A-dục. Đến khi vua bị đạo Phật tấn công và cai trị cả cõi lòng, vua bỗng trở thành minh quân sáng suốt, suốt đời hướng dẫn toàn dân sống theo chánh pháp và hỗ trợ cho sự phát triển của đạo Phật. Vua còn cho cả công chúa xuất gia sang truyền giáo tại Tích Lan.

[1:17:05]Đế quốc của vua trải qua một thời gian dài thịnh vượng.

[1:17:11]Thường thì ít có trường hợp đặc biệt một người đời này là thường dân rồi qua đời sau làm vua. Họ phải trải qua nhiều đời làm quan nhỏ, quan lớn. Nếu ở giai đoạn làm quan này họ lo lắng cho dân một cách tận tình thì sẽ được làm vua ở những đời sau. Nhưng họ dễ rớt ở giai đoạn làm quan này, vì quyền uy và vật chất đã chôn vùi khá nhiều sự cao thượng của họ. Hiếm người vượt qua sự cám dỗ của ngũ dục để giữ trọn lập trường vì dân vì nước như ban đầu. Nếu họ vượt qua sự cám dỗ của ngũ dục để giữ trọn lập trường vì dân vì nước, họ sẽ tiến đến đỉnh cao của ngôi vị nhân vương. Lại nữa, nếu một người có duyên phước được làm vua tại một quốc

[1:17:58]gia giàu có, thịnh vượng, phải biết trong những đời trước họ đã từng giáo hóa dân chúng sống theo đạo đức chân chính. Nếu họ chưa từng giáo hóa dân chúng đạo đức, họ sẽ phải làm vua một quốc gia nghèo khổ, bất hạnh, thiên tai liên miên, thất mùa thường xuyên, kế hoạch thất bại. Làm vua một quốc gia như thế, khổ sở như sống trong địa ngục. Chúng ta cũng cảm ơn những nhà tư tưởng lớn đã ra đời để sáng tạo đường lối chính trị tiến bộ cho loài người, làm hạn chế sự sai lầm của tập đoàn lãnh đạo. Tuy nhiên không phải vô cớ mà đất nước có vua độc tài hay có vị nguyên thủ dân chủ. Những vị lãnh tụ độc tài có cái uy lực lạ lùng,

[1:18:43]có thể khống chế tâm hồn của người dưới một cách mạnh mẽ, buộc họ phải làm theo ý muốn của mình mà không ai dám phản đối. Vua Quang Trung được diễn tả như sau: có đôi mắt sáng như sao và tràn đầy uy lực, không ai dám nhìn thẳng; mỗi khi chỉ tay ra lệnh như có sấm sét, lời nói vang như chuông. Uy lực của vua Quang Trung đã truyền sức mạnh cho quân sĩ để họ đủ sức phá tan ba mươi vạn quân Thanh, nhiều hơn họ gấp sáu lần.

[1:19:18]Hitler có cái nhìn thấu suốt tâm hồn người đối diện như thôi miên họ. Không ai dám cãi Hitler điều gì, dù biết đó là sai. Đại chiến thứ hai bùng nổ chỉ bởi con người có uy lực độc tài này. Do phước của dân chúng để họ có được vị vua độc tài như Asoka, và cũng bởi nghiệp của họ phải chịu vị vua độc tài như Tần Thủy Hoàng. Cấu kết của nhân quả quốc gia rất linh động và tương đối, không một sự kiện nào hình thành độc lập, tất cả đều nương vào nhau mà hiện hữu. Phước của dân chúng cho họ một vị vua, và sự sáng suốt của vị vua cho họ cơ hội để tạo phước. Phước của người Việt Nam cho họ một Trần Nhân Tông,

[1:20:04]và Trần Nhân Tông đã cho họ một nền đạo đức Phật giáo. Tóm lại, trên bình diện quốc gia, vua là người ảnh hưởng lớn tới vận mệnh đất nước. Nếu vua là nguyên nhân khiến cho đạo đức dân chúng suy đồi, đất nước sẽ điêu linh, khổ sở. Nếu vua là nguyên nhân khiến cho đạo đức dân chúng tăng thịnh, đất nước sẽ thái bình, thịnh vượng. Vị vua phải thấy cả ba mặt của vấn đề đạo đức: 1. Ngành tư pháp hữu hiệu có khả năng chế tài những kẻ phạm pháp, không cho kẻ phạm tội tiếp tục phạm tội, răn đe những kẻ muốn phạm tội. 2. Ngành giáo dục đạo đức hữu hiệu đánh thức lương tâm phân biệt thiện ác của mọi người, đem lại sự tự giác cho họ.

[1:20:54]Trong tất cả, sự hiểu biết về đường đi của nhân quả nghiệp báo là đạo đức căn bản hơn hết. 3. Guồng máy kinh tế hữu hiệu không để cho người dân trở thành bần cùng sinh đạo tặc. Họ cần dư dả để bố thí, và sự bố thí là điều kiện mấu chốt để tăng nhanh sự giàu mạnh cho đất nước. Những nước Tây phương Thiên Chúa giáo lập nhiều hội từ thiện cứu tế cho những nơi bị nghèo đói, chiến tranh và tai nạn. Hầu hết các gia đình giàu có đều đóng góp cho hội từ thiện, và như vậy, sự giàu có của họ còn kéo dài rất lâu. Đủ cả ba ngành hữu hiệu: tư pháp, giáo dục đạo đức, kinh tế, người dân sẽ trở nên hoàn thiện hơn về đạo

[1:21:41]đức, đất nước sẽ bớt những thiên tai, mùa màng sẽ tươi tốt, những kế hoạch xây dựng sẽ thành công, cõi đời bớt đi khổ đau và thêm niềm vui sướng.

[1:21:55]Phần B.

[1:21:59]Nhân quả xuất thế

[1:22:08]gian.

[1:22:19]Chúng ta đã bàn về nhân quả thế gian của cá nhân và của đất nước, bây giờ sẽ bàn qua nhân quả xuất thế gian, con đường của những người muốn vượt ngoài tam giới. Nhiều người cho rằng, một vị đã giải thoát thì không còn bị luật nhân quả chi phối, có làm gì cũng không tạo thành nghiệp. Đây là một kiến chấp thiên không sai lầm. Ông già chồn mang kiến chấp này mà phải đọa thân chồn năm trăm đời. Có những học giả lý luận rằng: do hoặc đưa đến nghiệp, do nghiệp đưa đến thọ báo. Hoặc, nghiệp, báo. Chúng sinh do si mê lậu hoặc nên tạo nghiệp, và có tạo nghiệp nên phải thọ báo. Chúng sinh bị lậu hoặc che phủ nên không biết rõ hậu quả của nghiệp

[1:23:09]như thế nào, để rồi tạo những ác nghiệp đưa đến đau khổ. Bậc A-la-hán trái lại, vì hết lậu hoặc nên biết rõ đường đi của luật nhân quả nghiệp báo, đã tạo những Bồ-tát nghiệp để gieo duyên giáo hóa chúng sinh và được viên mãn Phật quả. Nếu hết hoặc là hết nằm trong luật nhân quả, thì Bồ-tát vĩnh viễn không thành tựu Phật quả, dù có giáo hóa chúng sinh trong vô lượng kiếp. Nhưng chính vì hết lậu hoặc, nghĩa là biết rõ nhân quả nghiệp báo hơn bao giờ hết, nên bậc Bồ-tát chọn những nhân thích hợp để đi về quả cần thiết. Vì thế, Tổ Bá Trượng đã trả lời cho ông già chồn rằng: Bậc đại tu hành là người không còn mơ hồ về nhân quả.

[1:24:02]Câu trả lời ngắn gọn cô đọng này đã chuyển hẳn ý thức hệ chấp không từ bao đời qua của ông già chồn, và trong chớp mắt đó, ông nhận ra bản thể trí tuệ lương tâm sẵn có, rất là linh hoạt hiện hữu. Chúng ta nghiên cứu nhân quả xuất thế gian để xét xem do những nhân nào đã tạo ra sự thuận tiện hay trở ngại cho một người muốn đi đến giải thoát. 1. Nguyên nhân của đau khổ. Trích Tương Ưng Bộ Kinh 4, trang 328. Bhadra. Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla, tại Uruvelakappa. Rồi thôn trưởng Bhadra đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn: "Lành thay bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho

[1:24:57]con về sự tập khởi và chấm dứt của khổ."

[1:25:02]"Này thôn trưởng, nếu y cứ vào quá khứ hay vị lai để nói về nguyên nhân, sự tập khởi và sự chấm dứt của đau khổ, ông sẽ có phân vân, nghi ngờ. Nhưng này, chính tại đây, với sự có mặt của ông, Ta sẽ thuyết về nguyên nhân và sự chấm dứt của đau khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm, Ta sẽ nói."

[1:25:39]"Ông nghĩ thế nào, này thôn trưởng, nếu ở tại Uruvelakappa này, có những người bị giết, hoặc bị tù, bị thiệt hại, bị chỉ trích, ông có khởi lên lo lắng, buồn khổ không?"

[1:26:00]"Bạch Thế Tôn, với những người này con có khởi lên lo lắng, buồn khổ, và với những người khác, con không có khởi lên lo lắng, buồn khổ." "Vì sao có sự sai khác như vậy?" "Bạch Thế Tôn, với những người mà con không có thương mến, thì dù họ có bị giết, con không có khởi lên lo lắng, sầu muộn. Còn nếu với người mà con có thương mến, thì khi họ bị giết, con có khởi lên lo lắng, sầu muộn." "Như vậy, chính ông đã xác định: do có thương mến mới có lo lắng, sầu muộn. Cũng vậy, dù quá khứ hay vị lai, nếu có khổ não khởi lên, đều từ ái dục làm căn bản, từ ái dục làm sở nhân. Ái dục là căn bản của khổ." Nhận xét:

[1:27:05]Bài kinh này có vẻ triết lý hơn là nghiệp báo, tuy nhiên, nó cũng là chuỗi nhân quả có liên quan với nhau. Thay vì giảng Tứ Diệu Đế cho thôn trưởng Bhadra, Đức Phật đặt vấn đề thực tế hiện tại để ông tự xác nhận bằng suy nghiệm của chính mình rằng: vì có ái dục nên có đau khổ. Phật đã hệ thống điều này trong giáo lý Tứ Diệu Đế, bốn sự thật mầu nhiệm, rằng có khổ với tám loại, và ái là nguyên nhân của khổ. Có Niết-bàn chấm dứt khổ và ái, có con đường đưa đến Niết-bàn đó. Trong giáo lý mười hai nhân duyên, ái là một mắt xích quan trọng tác động đến dòng luân hồi vô tận. Vì thương con mà cha mẹ phải lo lắng đủ cách cho đời sống và tương lai của nó.

[1:27:56]Nếu sau này nó tỏ vẻ ruồng rẫy sơ sài, cha mẹ sẽ thất vọng, đau khổ vô cùng. Ai cũng biết, tình yêu đưa đến hôn nhân, và hôn nhân đưa đến vô số trách nhiệm, bất an và phiền muộn. Thật ra, ái không đơn giản là tình thương yêu giữa người này với người kia, nó còn là lòng ham muốn đối với ngũ dục: người tham sắc, kẻ ham danh, người ưa ăn, kẻ thích ngủ, người tham tiền, kẻ lụy tình. Nếu có thương yêu ai, tất cả đều bắt nguồn từ ham muốn khoái lạc của chính mình. Chúng ta chỉ yêu mến người nào đem lại vui thú cho chúng ta, và chúng ta sẽ oán hận kẻ nào đem lại đau khổ cho chúng ta. Tình yêu thương chỉ là chiêu bài che đậy cho sự ham muốn của tự kỷ.

[1:28:52]Không có ham muốn của tự kỷ, tình yêu thương biến mất. Bạn sẽ nêu lên rằng: đau khổ không chỉ đơn thuần là nỗi lo lắng, phiền muộn, băn khoăn, thất vọng, tức là những trạng thái của tâm, nhưng nó còn là những hoàn cảnh bất như ý, như đói kém, tai nạn, bị nhục mạ, làm ăn thất bại. Thật ra người không ham giàu, thì nghèo không là nỗi khổ; không thương yêu, thì xa nhau không tiếc nhớ; không ghét nhau, thì gần nhau không bực bội; không tự ái, thì bị nhục mạ không khó chịu; không cần danh vọng, thì mất chức không là nỗi bận tâm. Có câu chuyện về người lạc quan của Mỹ như sau: A cheerful man, người lạc quan.

[1:29:42]Có một người tài xế xe lửa lạc quan đến kỳ lạ. Bất cứ một sự kiện gì xảy ra, anh đều nhìn thấy khía cạnh tốt của nó để vui mừng, mà không bao giờ quan tâm đến khía cạnh xấu của nó. Bạn bè anh vừa ngạc nhiên, vừa thán phục đặc tính lạ lùng này. Một hôm, xe lửa đi trật đường rầy. Xe cứu thương đưa anh vào bệnh viện. Cuối cùng, anh bị cưa mất một chân. Bạn bè anh đến thăm, sau khi an ủi, chia buồn xong, họ nói:

[1:30:18]"Chúng tôi nghĩ rằng trong trường hợp này á, thì anh không thể tìm thấy một khía cạnh tốt nào cả, có phải vậy không, người bạn thân mến của chúng tôi?" Anh ta cười bảo: "Ồ, có chứ, có chứ! Từ nay á thì, tôi chỉ tốn tiền mua có một chiếc giày mà thôi."

[1:30:40]Rõ ràng đối với người như thế này thì tai nạn cũng không là nỗi khổ. Anh không quá yêu thân thể của mình, nên khi bị hư hao, anh không tiếc rẻ. Đối với mọi sự kiện linh tinh khác, vì không bao giờ buồn, nên anh mới bình tâm nhìn ra khía cạnh tốt của nó để chỉ cho mọi người cùng thấy. Nếu buồn khổ vì những khía cạnh xấu, chúng ta không bao giờ nhìn ra khía cạnh tốt của chính sự kiện ấy.