[0:09]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thỉnh Thượng tọa cùng toàn thể đạo tràng chúng ta niệm Phật cầu gia bị. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:31]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:43]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[0:56]Kính thỉnh Thượng tọa an tọa và mời quý vị đại biểu đồng an tọa.
[1:04]Kính thưa các vị khách quý và quý vị đại biểu, Đạo Phật du nhập vào nước ta khoảng những năm đầu Công nguyên và trở thành một trong những hệ tư tưởng có sức sống lâu dài song hành cùng lịch sử dân tộc và có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa cộng đồng của người Việt. Đạo Phật đã thích ứng, hòa nhập và trở thành một tôn giáo gần gũi, thân thương với dân tộc và con người của Việt Nam. Theo thời gian, Đạo Phật được Việt Nam hóa trở thành một phần cơ thể văn hóa và xã hội Việt Nam. Xưa kia, Luy Lâu là vùng đất cổ bên bờ sông Đuống, thuộc trấn Kinh Bắc, nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và một phần của huyện Gia Lâm,
[1:49]lưu nhiều dấu tích như chùa chiền, dinh thự, đền đài nguy nga, vang bóng một thời. Đây là kinh đô cổ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, là trung tâm của phủ Thuận An, có lăng mộ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ, có Nam Giao học tổ, đền Sĩ Nhiếp, chùa thờ Tứ Pháp, tiêu biểu nhất là Chùa Dâu, địa danh phát tích Phật giáo ở nước ta có từ đầu thiên niên kỷ thứ sáu... nhất sau Công nguyên. Kính thưa quý vị đại biểu, tới dự chương trình của chúng ta ngày hôm nay, ban tổ chức xin trân trọng giới thiệu: Về phía Trung ương, xin được trân trọng giới thiệu sự hiện diện của Giáo sư, Tiến sĩ Vương Lâm Lĩnh,
[2:36]nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công Công nghệ và Môi trường.
[2:44]Chúng tôi cũng xin nhiệt liệt chào đón nhà báo Trung Đông, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân.
[2:54]Chúng ta nhiệt liệt chào đón sự hiện diện của ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hội làng nghề Việt Nam.
[3:02]Về phía địa phương, chúng ta nhiệt liệt chào đón sự hiện diện của ông Nguyễn Ngọc Thuần, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm. Chúng ta cũng chào đón sự hiện diện của các đại biểu đại diện cho địa phương, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Phú Thụy và các quý Phật tử gần xa có mặt trong buổi sáng ngày hôm nay tham dự chương trình với chủ đề: Đạo Phật với cộng đồng người Việt.
[3:31]Về phía khách mời đặc biệt, chúng ta nhiệt liệt chào đón sự hiện diện của ông Bùi Hữu Dược, Vụ trưởng Vụ Phật giáo Ban Tôn giáo Chính phủ.
[3:43]Chúng ta cũng nhiệt liệt chào đón sự hiện diện của Thượng tọa Thích Chân Quang, trụ trì Chùa Phật Quang, thành phố Vũng Tàu.
[3:53]Chúng ta cũng nhiệt liệt chào đón sự hiện diện của Đại đức Thích Thanh Phương, trụ trì Chùa Sủi.
[4:01]Và một lần nữa, ban tổ chức cũng xin được nhiệt liệt chào đón sự hiện diện của các vị quan khách cùng toàn thể bà con, những người đã, đang tâm nguyện theo tiếng gọi của Phật và tham dự chương trình nói chuyện về Đạo Phật với cộng đồng người Việt trong buổi sáng ngày hôm nay.
[4:23]Tiếp theo chương trình, ban tổ chức xin trân trọng kính mời Thượng tọa Thích Chân Quang có bài phát biểu về xuất xứ các dòng thiền Việt Nam tại miền phát tích Phật giáo với chủ đề Phục Chấn Thiền Phong. Xin trân trọng kính mời Thượng tọa.
[4:47]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa Đại đức Thích Thanh Phương, trụ trì chùa chùa Đại Dương, tức là Chùa Sủi. Kính thưa các bác của Trung ương, bác Vương Lâm Lĩnh ha, anh Bùi Hữu Dược, các vị trong nhà báo và đặc biệt là ông Phó Chủ tịch huyện huyện Gia Lâm hả ta? Huyện Gia Lâm. Gia Lâm với Long Biên vậy là hai đúng không? Hai, hai huyện. Dạ, hai. Kính thưa quý thầy, quý sư cô, chư vị tôn túc, kính thưa tất cả các Phật tử. Hôm nay ta vừa dự một cái buổi nói chuyện của Chùa Sủi trong cái tiếng lễ hội
[5:45]rộn rã của cái lễ hội đình ở địa phương.
[5:50]Cũng rất là độc đáo, khung cảnh rất là đặc biệt. Thì chúng tôi có được sự gợi ý của Đại đức trụ trì với cái tâm thành rất là tha thiết và Đại đức
[6:09]chia sẻ rất nhiều về cái sự linh thiêng của Chùa Sủi cũng như cả cái vùng đất Kinh Bắc này. Mà theo như sử thì ta biết trước đây thì cái vùng phía bắc, phía đông của sông Hồng này chưa thuộc về Hà Nội mà thuộc về Kinh Bắc, về Bắc Ninh. Mà xa hơn nữa thì cái vùng Bắc Ninh này mới thực sự là kinh đô của nước Việt từ cái thời Hồng Bàng. Có lẽ là do cái địa lý thuận lợi hoặc là do cái tú khí của trời đất mà thực sự ngày xưa cái cuộc hôn nhân mở đầu tạo thành cả một dân tộc, cái cuộc hôn nhân của Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ cũng là chính tại cái vùng đất Kinh Bắc này.
[7:03]Và cái mối tình đó tồn tại rất là lâu dài, mãi đến khi mà vua Hùng ta dựng nước được cho rằng lấy cái kinh đô ở vùng Phú Thọ là vì sao trong khi trước đây đó là bố và mẹ mình thì sống ở Bắc Ninh. Trước đó nữa một thời gian rất là dài thì cái vùng Bắc Ninh như là thủ phủ của cả cái người dân Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ này. Nhưng mà khi mà lập đô thì ta được cho rằng là vua Hùng đã lập đô ở Phú Thọ.
[7:47]Nhưng đó chỉ là cho rằng thôi chứ chưa chắc đâu. Vì ta thấy ở đó có đền thờ vua Hùng, nhưng ta hiểu một điều, đền thờ là một chuyện mà kinh đô là một chuyện khác. Nhưng vì có cái đền thờ ở Phú Thọ, ta cứ nghĩ rằng kinh đô của thời Hồng Bàng ở Phú Thọ, xin thưa điều đó không chắc tí nào, không chắc tí nào. Mà cái đền thờ được ta biết đến nhiều, được tồn tại lâu là bởi vì ở trên vùng núi cao đặc biệt và tránh được các cuộc chiến tranh. Do đó, sau qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều lần ta bị xâm lược thì cái đền thờ ở Phú Thọ được tồn tại theo thời gian. Và cái chứng tích đó làm ta cứ nghĩ rằng là cái thời Hồng Bàng
[8:39]là các vua Hùng lập đô ở Phú Thọ, xin thưa điều không chắc chắn tí nào cả. Mà cái kinh đô từ trước đó, cái thủ phủ tự nhiên không tuyên bố thực sự nằm ở Bắc Ninh, ở Kinh Bắc này, nơi mà cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ sống với nhau sinh ra cả trăm người con. Cái nói rằng cả trăm người con là một truyền thuyết, nhưng ta cứ nói rằng hai ông bà đã sinh ra rất nhiều người con và những người con đó thừa hưởng cái gen sang trọng, quyền uy, đẹp đẽ, lịch lãm và trí tuệ. Nên hôm nay ta cứ nhìn mặt nhau, người Việt Nam nhìn mặt nhau, ta thấy phảng phất trên gương mặt của mình cái gen của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ.
[9:27]Gương mặt ai cũng sang trọng, đẹp đẽ và thông minh, tinh tế như vậy. Đúng không ạ? Ta nhìn anh Dược đẹp đến như vậy, thầy Thanh Phương đẹp đến như vậy, hoặc anh em MC này cực kỳ đẹp đây. Vâng. Ta mang gen của cha mẹ ta cả. Và đó là khí thiêng của dân tộc. Cho nên đến khi Phật giáo du nhập vào nước ta thì ta để ý một điều: Các thiền sư đều quanh quẩn ở cái vùng Kinh Bắc này cả, không đi đâu hết. Là vì sao? Vì đây là nơi tập trung cho cái quyền lực của quốc gia. Và đó là cái tính chất rất tự nhiên. Như ngày xưa Đức Phật ta cũng vậy, khi Ngài đắc đạo xong thì trên đường từ Vườn Nai đi để giáo hóa đi giáo hóa dần
[10:14]dần thì Ngài cũng trở về Vương Xá bắt đầu là mở ra một tôn giáo mới với sự ủng hộ của vua Bình Sa, vua Bimbisara. Tức là Ngài cũng lấy kinh đô một quốc gia lớn để làm cái thủ phủ cho cái tôn giáo của mình. Và các vị đạo sư lớn đều nhắm đến việc giáo hóa tại tại kinh đô cả. Nên vì vậy, ta sẽ không ngạc nhiên là vì sao tất cả những ngôi chùa cổ của ta, những ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng, có những vị thiền sư đắc đạo đều quanh quẩn ở quanh thủ đô cả. Và chính vì các ngôi chùa lớn đó đều tập trung ở vùng Kinh Bắc này, là Gia Lâm kéo về Bắc Ninh, nên ta xác định một điều không thể sai, là vùng Kinh Bắc Bắc Ninh này chính là thủ phủ,
[11:03]là kinh đô của Đại Việt ta từ ngàn xưa, trước khi mà kéo về qua vượt Nam sông Hồng để lập đô ở Hà Nội. Chỉ có một khoảng là khi vua Đinh Tiên Hoàng lên ngôi thì Ngài từ bỏ cả một cái khối phương Bắc, Ngài lập đô ở Ninh Bình, kéo về xa phương Nam một chút, ở cái vùng rừng núi non hiểm trở ở kinh đô Hoa Lư của ta. Nhưng mà vua Lý Công Uẩn đã nhanh chóng nhìn thấy cái vùng đất đó nó không phải là nơi hội tụ của cái khí thiêng dân tộc mà phải đi về Nam sông Hồng thay vì Bắc sông Hồng. Thì cái tư duy mà chọn Bắc sông Hồng từ ngàn xưa đổi sang Lý Công Uẩn chọn Nam sông Hồng là một cái tư duy nó gồm hai điều:
[11:51]thứ nhất là có tính tâm linh và thứ hai có cái tính chiến lược. Cái tính tâm linh là thế này: là từ Ngài Vạn Hạnh, Ngài Vạn Hạnh là một bậc thầy về phong thủy, thì lúc mà còn bé, Ngài Vạn Hạnh mới dạy vua Lý Công Uẩn còn lúc hãy còn là đệ tử của mình phân tích về phong thủy. Và Ngài có nói với vua Lý Công Uẩn lúc đó là như thế này: "Cái vùng Kinh Bắc này là thủ phủ từ ngàn xưa và cái khí thiêng nó đủ để lập thành một quốc gia. Nhưng cái phía nam của sông Hồng nhưng mà cái con sông Hồng nó dường như là một sự chặn cái bước tiến của dân tộc. Những cái rặng núi chập chùng phương Bắc và cái thế lực phương Bắc làm cho quốc gia ta
[12:39]không thể phát triển về phương Bắc được. Nhưng mà cái con sông Hồng nó cũng chặn, ta cũng không thể về phương Nam được. Cho nên nếu sau này mà con lập đô ở Nam sông Hồng thì con sẽ mở quốc gia mình vô tận về hướng Nam, đặt một tiền đề để quốc gia ta mở vô tận về hướng Nam". Và cái lời nói của sư Vạn Hạnh đã được Lý Công Uẩn thực hiện và nó đã có kết quả là ta kéo luôn tới mũi Cà Mau luôn mà chưa hết, chạy luôn tới đảo Phú Quốc luôn. Là cái lời nói đã thành sự thật, khi ta vượt khỏi Nam sông Hồng rồi là cái thế chặn của đất nước ta bị mở ra. Mà tiếc một điều, tiếc một điều nếu lúc đó có một người nào tư vấn ta lập một cái thủ phủ phụ ở cái vùng
[13:24]nếu mà ta đặt một cái thủ phủ phụ ở gần cái vùng Hòa Bình, Điện Biên một chút thì ta đã vượt về phía Tây về tới Thái Lan, Miến Điện luôn. Nhưng mà vì ta không có, ta không có một cái thủ phủ phụ ở đấy nên ta chỉ trải về hướng Nam mà đất nước ta chạy dài cong như một con rồng về tới hướng Nam. Chứ nếu lúc đó có một người mà tư vấn cho vua đặt một thủ phủ ở cái phía Tây Hòa Bình, Điện Biên là một chút thì ta đạp luôn về tới Thái Lan, Miến Điện. Ngày hôm nay có lẽ đất nước ta khác, có lẽ lịch sử sẽ viết khác đi và có lẽ là anh Dược sẽ vất vả hơn nhiều chứ không phải chỉ như thế này. Anh Dược... hả anh Dược hả? Vất vả nhiều.
[14:04]Nhưng mà thôi, nó là số phận. Nó là số phận. Thì coi như là khi mà vượt sông Hồng về phía Nam thì ta mở ra một chương mới cho Tổ quốc nhưng cái nôi của Phật giáo cái nôi giáo, cái khí thiêng Phật giáo, cái sự xuất phát Phật giáo nó cứ nằm ở cái vùng này, ta gọi là vùng Luy Lâu hay là vùng Kinh Bắc, bây giờ ta gọi là Bắc Ninh, rồi bây giờ tách ra thành một cái Gia Lâm rồi tách ra thành cái Long Biên nữa, nhưng mà các chùa thiêng đều nằm quanh quẩn ở đây cả. Ta nhớ như Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi, sau khi mà đắc pháp với Tổ Tăng Xán ở bên Trung Quốc thì Tổ Tăng Xán lúc đó là bên Trung Quốc đang có nạn là bị Phật giáo đang bị diệt, cho nên Tổ Tăng Xán mới bảo
[14:49]Ngài Tỳ-ni-ta Đa-lưu-chi hãy về phương Nam mà giáo hóa. Ngài là người Ấn Độ lại đắc pháp của một vị sư Trung Hoa rồi lại sang Việt Nam giáo hóa. Còn Ngài Khương Tăng Hội thì Ngài lại gốc ở cái miền Đông của Ấn Độ sang trở thành người Việt Nam và mở mang Phật giáo Việt Nam trước đó cũng ở cái vùng này. Còn Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi thì về đây cũng về cái vùng Kinh Bắc này. Thì cái Ngài giáo hóa thì chùa chùa Pháp Vân bây giờ gọi là chùa Diên Ứng phải không ta, ta còn cái tên Pháp Vân không không Thầy nhỉ? Giờ cũng còn chùa. Còn cái chùa Pháp Vân ở cái ở dưới chỗ Tứ Tứ Kỳ là khác rồi nha! Cái đó khác nữa đó, còn cái Pháp Vân đây khác,
[15:34]cái chùa Dâu, còn bây giờ gọi là chùa Diên Ứng. Thì Tổ về đây giáo hóa rồi mở mang cái dòng thiền kéo dài rất là lâu. Rồi sau này có một Ngài là Vô Ngôn Thông, cũng là Thiền sư Vô Ngôn Thông đắc pháp với Ngài Bá Trượng Hoài Hải ở bên Trung Hoa rồi cũng đi về phương Nam giáo hóa và mở một dòng thiền. Rồi có một Thiền sư Thảo Đường, vốn là người Trung Hoa, hổng biết đâu đi lạc bè Chiêm Thành. Rồi trong một trận đánh của ta với Chiêm Thành thì ta bắt tù binh bắt bắt nhầm luôn cả nhà sư về. Rồi sau một vài sự việc rồi khi vua ta mới phát hiện ra đây không phải là tù binh Chiêm Thành mà là một thiền sư của Trung Quốc mà
[16:14]tài giỏi nên Ngài được giáo hóa tự do ở trong kinh đô Hà Nội và sang đây cũng mở chùa đây và mở một dòng thiền Thảo Đường. Và ta cũng có một cái dòng thiền nữa là dòng thiền Trúc Lâm vào đời nhà Trần thì giáo hóa rất là mạnh ở cái chùa Báo Ân. Chùa Báo Ân nó nằm lọt bây giờ nó nằm lọt trong cái khu công nghiệp mà Đại đức Thanh Phương đã tìm và đang tìm cách phục dựng lại. Do đó là cứ quanh quẩn ở đây ta có bốn cái dòng thiền phát triển. Vì nếu mà nói bốn cái dòng thiền vậy ta sẽ hiểu là bốn dòng thiền như vậy nó khác nhau cái gì? Nói: "Thôi, chẳng khác cái gì cả". Về cái sự tu tập, về pháp môn, về kỹ thuật, về giáo lý không khác gì hết.
[16:58]Chỉ khác một điều là khi cái người mà đến giáo hóa uy đức lớn quá, ảnh hưởng lớn quá, đệ tử đông quá thì bỗng nhiên thành một tông phái. Tông phái vì ý nghĩa là sự truyền thừa, chứ tông phái đó không có ý nghĩa là sự sai biệt về giáo lý, về pháp môn. Cả một cái hệ phái từ Tổ Đạt Ma truyền xuống, nếu ta xem kỹ trong giáo lý không khác nhau gì cả. Cái cách tu, cách chứng chẳng khác gì cả. Nói là: "Năm tông bảy phái từ cái tông Lâm Tế, tông Tào Động, tông Quy Ngưỡng, tông Vân Môn, tông Pháp Nhãn gì bên Trung Quốc chẳng khác gì cả". Rồi khi tông Lâm Tế tách ra hai nhánh Hoàng Long, Dương Kỳ chẳng khác nhau gì cả.
[17:41]Rồi nhánh nó truyền sang Việt Nam từ Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Tổ Vô Ngôn Thông, Ngài Thảo Đường, Trúc Lâm chẳng khác gì cả. Chỉ khác một điều là cái sự truyền thừa nổi bật của một vị nào đó thì người ta xưng vị đó thành tông chủ, thành tổ sư, chứ còn nội dung không khác. Và chỉ có một khác là cái đời Lâm Tế về sau có một vài thủ đoạn trong nhà thiền ta hay dùng cái chữ là một thủ đoạn của thiền sư hay là một cái cái kỹ thuật đặc biệt của thiền sư để gợi lên cái sự giác ngộ bất ngờ của đệ tử, mà cái cách mà gợi ý bất ngờ đó mỗi vị một khác nhau. Ví dụ như khi mà Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến gặp Ngài Tăng Xán, thưa hỏi Ngài im lặng không trả lời,
[18:24]chỉ im lặng thôi mà ông kia ngộ đạo, không một lời. Nhưng mà có những thiền sư khơi ngộ cho đệ tử bằng cách đánh, đập một cái cái ông kia ngộ đạo. Ví dụ như là Ngài thiền Hòa thượng Thúy Lão đến gặp Mã Tổ hỏi: "Thế nào là đại ý Phật pháp?". Nói: "Ta bị lãng tai, ngươi tới gần gần đi, đứng sát hỏi ta ta mới nghe". Ông kia tưởng thiệt, cứ lết lết lại quỳ sát bên Ngài nói: "Thưa Ngài, thế nào là đại ý Phật pháp?". Bị đứng gần chân Ngài, Ngài đá cho một cái lộn cù phèo, đứng dậy ngộ đạo luôn. Rất nhiều kỹ thuật rất là lạ. Hoặc đến đời của Ngài của Lâm Tế mà đời về sau này, cái kỹ thuật là khai ngộ còn kỳ lạ kỳ lạ.
[19:05]Như là Ngài Pháp Diễn cái ngày
[19:11]Ngài tu ở trong chúng thôi, mấy cái này giờ kể ra thì dài lắm, nhưng đại khái là bị ông thiền sư ổng chọc, ổng gây một cái hoài nghi, một cái thắc mắc tột độ rồi khi gỡ ra cái ngộ đạo, nhiều trường hợp rất là lạ. Mà ngày hôm nay nhiều người hoang mang đi tìm và bắt chước nhưng mà không phải ai cũng ngộ đạo được như vậy. Thì thôi chuyện đó là để cái người chuyên tu, sau này các vị sẽ truyền đạt tiếp, ví dụ như Thầy Thanh Phương ta, lúc nào đó Thầy mở mang lại dòng thiền thì Thầy sẽ sẽ phân tích lại, còn hôm nay ta sẽ nói lại một điều khác. Tuy nhiên, sau khi qua nhiều thế kỷ mà thiền tông phát triển ở tại cái vùng
[19:55]đất này, nó tạo thành một cái sự linh thiêng, thành một cái sức mạnh, thành một sức sống của Phật giáo tỏa ra cả cái đất Đại Việt này. Và ta nhớ một điều thế này: ví dụ như ngày nay cái người Phật tử miền Nam ra miền Bắc
[20:14]nhìn thấy các chùa, nhìn thấy cái cái phong cách của các vị tăng ni miền Bắc có phần kính nể. Hoặc là cách đây hơn 70 năm, một số vị tôn túc của ta từ miền Nam khăn gói đi ra miền Trung rồi ra miền Bắc học đạo, kính nể cái phong cách của thiền môn ngoài Bắc này.
[20:37]Rồi ngày hôm nay, ví dụ như vừa rồi ta có cái lễ thượng thọ của Hòa thượng Trưởng lão Thích Thanh Bích, bên cạnh đó là ta thấy có vị Pháp chủ, ngài Pháp chủ cũng 97 tuổi, đạo phong sáng ngời, một người mà các vị thì gầy gò, khắc khổ nhưng tinh thần quắc thước và minh mẫn. Thì tất cả những cái phong cách đó, những phong cách của Phật giáo miền Bắc như thế, cái tinh hoa còn đọng lại như thế, cái sự, cái giá trị của Phật giáo miền Bắc như thế, thì ta nhớ một điều tất cả đều bắt nguồn từ, từ chư Tổ Thiền tông của cái vùng Kinh Bắc này. Chính nhờ có những bậc thiền sư đắc đạo cao siêu như thế mà có uy lực để lại đời đời cho con cháu ta cho đến tận
[21:24]ngày hôm nay, mà làm cho cái Phật giáo miền Bắc là cứ trở thành một cái tinh hoa của Phật giáo dân tộc. Sau này thì do cái cuộc Nam tiến thì đất nước ta mở rộng lãnh thổ về phía nam, rồi Phật giáo cũng theo đó tràn về phía nam, tràn về phía nam. Thì sau này ở trong miền Nam có một số dòng thiền xuất hiện, nổi bật nhất là của Hòa thượng Thích Thanh Từ, thì ngài có cái hoài bão là khôi phục lại cái thiền của miền Bắc. Đó, một người miền Nam nhưng mà mang cái hoài bão là khôi phục dòng thiền của miền Bắc, nên ngài tự nhận mình là dòng Trúc Lâm và tất cả những thiền viện đó đều lấy cái tên Trúc Lâm, ý là như vậy. Bởi vì sao?
[22:14]Bởi vì tuy ở miền Nam nhưng mà cái tinh thần mà Phật giáo Thiền tông miền Bắc vẫn tràn ngập phủ lên cả cái đất nước của ta như thế. Và cũng xin thưa, trong cái thời đại hôm nay, do một cái cơ duyên nào đó mà Tịnh độ tông phát triển rất là mạnh, một lát nữa ta sẽ bàn. Nhưng cái tinh thần, cái sức sống của đạo Phật nó cứ bàng bạc bởi Thiền tông. Chính vì có những vị tu chứng hiện tại, thực tế, nó tạo nên cái cảm xúc rất lớn cho cộng đồng quần chúng Phật tử của ta. Cái cảm xúc này rất là lạ, là có thể có những người ta không có nhiều cái hy vọng tu chứng, nên ta an tâm niệm một câu Phật để chờ ngày chết được vãng sanh.
[23:11]Nhưng mà để là có cái cảm xúc lớn lao, sự kính ngưỡng vô biên đối với Phật pháp thực sự chính nhờ hình ảnh tu chứng của các vị thiền sư trong hiện đời, lúc tại thế. Bây giờ nếu mà nói cái giá trị của đạo Phật nằm ở đâu? Ta không thể nói rằng à có cái ông đó, ông già ông Nguyễn Văn A năm 75 tuổi chết ổng được vãng sanh. Không thể dẫn chứng cái kiểu đó mà nói là giá trị của đạo Phật được. Không thể nói ờ có bà cụ 80 bà chết cái bà được vãng sanh. Không thể nói rằng giá trị đạo Phật nằm ở chỗ đó, mà cái bà đó, cư sĩ kia cư sĩ nọ được vãng sanh. Không có, chuyện đó không dẫn chứng được. Hoàn toàn trên vấn đề khoa học lịch sử, khoa học nghiên cứu
[23:56]thì những cái điều đó chỉ được xem là tin đồn, không chính thống, không chính thức. Còn nếu mà nói giá trị đạo Phật nằm ở đâu là buộc ta phải chỉ đích danh những vị thiền sư đắc đạo trong hiện đời, trong lúc tại thế. À những vị đó đã giáo hóa được như thế, thuyết pháp như thế, có những biểu hiện kỳ đặc như thế, có những trí tuệ như thế thì đó mới là những biểu tượng của Phật giáo, giá trị của Phật giáo, chứ không thể dẫn chứng cái ông cư sĩ nọ, bà cư sĩ kia chết được vãng sanh. Nên vì vậy cái sức sống của đạo Phật, cái uy lực của đạo Phật, mà nói thẳng là giá trị đạo Phật nằm hết nơi những vị tu chứng trong nhà thiền.
[24:40]Nếu bây giờ ta đi ra nước ngoài, ta đến đất nước được gọi là văn minh, tri thức như nước Mỹ, ta tiếp xúc với những người Mỹ mà họ theo đạo Phật thì ta chỉ thấy một điều rằng họ chỉ tu thiền mà thôi, không bao giờ tu Tịnh độ. Vì sao? Vì họ nói hẹn một cái gì sau khi chết được một kết quả rất giống với cái đạo Kitô cũ của họ mà họ đã chán rồi. Cứ hẹn sau khi chết, còn lúc sống không biết cái gì, hẹn sau khi chết, chuyện xưa rồi họ không thích. Họ thích cái đạo Phật là gì? Thiền! Vất vả tu thiền trong hiện tại tạo thành một đời sống nội tâm, tâm linh phong phú của họ. Cho nên nhìn cái điều đó thì ta hiểu ngay là thực sự chính những vị thiền sư đắc đạo
[25:24]bao nhiêu đời xưa để lại cái uy lực lớn cho, cho đạo Phật của chúng ta ngày nay. Và một điều thế này nữa ta thấy, là cái loại giáo lý nào thì sẽ thu hút được một số đối tượng đó đến với mình. Ví dụ chùa tu thế nào thì sẽ phát cái giáo lý đó ra bên ngoài, mà cái giáo lý phát ra bên ngoài thu hút trở lại cái số quần chúng đối tượng phù hợp với cái giáo lý đó. Giờ có những người đến than, ví dụ những người mà khi ở nước ngoài họ về họ nghiên cứu đạo Phật, họ mới nói câu này, "Ủa, tại sao các chùa Việt Nam chỉ thấy người già, người già đến?" Nói là, "Tại anh đi chưa hết các chùa", mình phải nói giở lả là, "Tại chắc anh đi chưa hết các chùa,
[26:10]chứ cũng có những chùa người trẻ đến." Nói đi đa phần cứ gặp người già. Mà thực sự như vậy. Lý do gì? Vì sao? Lý do bởi vì cái giáo lý mà chùa phát ra dạy tu là dạy cho ai? Dạy cho người chờ chết, phải không ạ? Chỉ nói tới vãng sanh thôi, nói chết rồi được vãng sanh về cõi Phật, tức là ta đang nói một điều cho người chết. Và như vậy cái người đang ham sống có thích cái đó không? Có thích nói chuyện để chết được vãng sanh không? Ví dụ như người đang yêu như tụi con trẻ trẻ như vậy, bây giờ mà nói chuyện đang tu để mà lo chết được vãng sanh tụi con có thích không? Không, phải không? Đang yêu đây mà.
[26:47]Rồi tụi con đang còn tương lai, đang đi học, để làm việc, rồi tính toán thu nhập thế nào, vân vân thì cái chuyện chết không thích hợp. Cái loại giáo lý đó, cái đường lối tu đó hoàn toàn tách rời khỏi tụi con luôn. Coi như không nghĩ đến tụi con và tụi con cũng từ chối cái lối đường lối đó luôn, phải không ạ? Đó. Nhưng mà những cụ già rất thích, tại cụ già không còn gì để mơ mộng và nên chỉ còn một điều mơ mộng gì? Sau cái chết. Và cái pháp môn Tịnh độ thu hút được đối tượng này. Và thu hút được đối tượng này cho nên ta vào chùa ta thấy toàn người già không. Cái giáo lý như thế nó sẽ thu hút đối tượng như thế.
[27:26]Còn bây giờ nếu có một cái giáo lý mà xây dựng cho con người ta một cuộc sống tâm linh hiện tại, một sự phấn đấu, sự nỗ lực trong hiện tại, đem lại lợi ích thiết thực trong hiện tại thì ai tới? Lớp trẻ và lớp tri thức tới liền. Đó là cái giáo lý như thế nó sẽ thu hút cái đối tượng như thế. À ở đây ta không trách quần chúng, không trách, "Trời ơi, sao đạo Phật hay như thế mà mấy vị không chịu tới tu?", mình không trách được, bởi vì họ đến với cái loại giáo lý nào phù hợp với họ. Nên ở đây ví dụ như, như chúng tôi nói riêng cái chùa Phật Quang của chúng tôi vậy, trong một ngày lễ hội, một năm có ba lễ hội:
[28:06]Phật Đản, Vu Lan, Thành Đạo. Như cái lễ Thành Đạo vừa rồi, chỉ riêng mà lớp trẻ tới để phục vụ, 1.300 em sinh viên trẻ. Chỉ để phục vụ thôi. Còn bao nhiêu tầng lớp khác là tất cả cộng lại là hai vạn người tới dự một buổi lễ Thành Đạo. Và trong buổi lễ Thành Đạo đó ta không nói chuyện chết, mà ta nói chuyện gì? Ta nói chuyện sống, chuyện tu, chuyện trí tuệ, chuyện xây dựng, chuyện phụng sự. Vì những điều đó cái lớp, cái đối tượng đó họ đến. À cái đối tượng mà họ thích vấn đề tri thức, trí tuệ, họ thích sống để cống hiến, để phụng sự, họ tới để nghe liền. Và đối tượng đó đến thì cũng vậy, cái thiền từ ngàn xưa mà nếu được phục dựng lại thì
[28:56]ta sẽ thấy là cái bộ mặt của Phật giáo thay đổi hết toàn bộ. Người đến chùa là người tri thức, những người trẻ, những người mà không nghĩ đến cái chết, những người sống mà nghĩ đến phụng sự và sự chuyển hóa nội tâm của mình.
[29:13]Thường thì ta có bốn cái tông phái chính và bốn cái tông phái này thu hút bốn cái đối tượng khác nhau. Thứ nhất là Tịnh độ tông thì thu hút ai? Người sắp chết. Rồi Mật tông thu hút ai? Mật tông thu hút những người thích chuyện kỳ lạ, huyền bí, những chuyện quyền năng, những chuyện mà khoa học không giải thích được. Ví dụ như có thể bấm quẻ, bói ra được một điều gì đó, hoặc là bệnh thì có thể tụng câu chú mà hết bệnh, những chuyện phi khoa học nhưng mà quyền năng, huyền bí thì người nào thích điều đó sẽ tìm tới Mật tông. Rồi Giáo tông là những người chuyên nghiền ngẫm cái giáo lý, nghĩa cú. Thì những người mà thích nghiên cứu trên tư tưởng sẽ đi
[30:01]tìm tới cái Giáo tông, thích học kinh thật nhiều, biết thật nhiều, ờ thuộc thật nhiều, hiểu thật nhiều. Rồi Thiền tông là cho ai? Dành cho những người mà thích có cái kết quả tu chứng tâm linh cụ thể. Và chính đây mới là sức mạnh của thiền. Ở bên Miến Điện á, em bé chín tuổi là nó biết ngồi thiền hết. Đạo Phật tồn tại được, trường tồn được bởi ba hạng người. Hạng người thứ nhất là người có tu chứng tâm linh. Tại người có tu chứng tâm linh có sức mạnh rất là lớn để mà tạo nên một sự kế thừa. Cái hạng người thứ hai là hạng người tuy không tu chứng tâm linh nhưng giữ được giới hạnh thanh tịnh, nghĩa là ta thấy
[30:52]à các thầy, các cô tu tốt thì ta còn niềm tin đối với Phật pháp. Hạng người thứ ba là hạng người biết thuyết pháp, vì nhờ có người thuyết pháp khai hóa nên làm cho người ta hiểu ờ đạo Phật là thế, là thế, khiến người ta kính tin mà đi theo đạo Phật. Người ta nói ba hạng người, nhưng sự thật cái điều ta mơ ước là ba trong một. Là một vị xuất gia nào cũng phải có đầy đủ ba yếu tố đó. Một là phải có cái tu chứng tâm linh, hai là phải có giới hạnh thanh tịnh, và ba là phải biết thuyết pháp. Đó là do đó, tuy là nói là ba hạng người này giữ gìn cho Phật pháp tồn tại, nhưng mà ta ước mơ ba trong một.
[31:37]Nghĩa là một vị tu hành nào cũng phải có đủ ba tính chất đó. Mà đặc biệt cái đi đầu là gì? Là cái tu chứng tâm linh. Cái tu chứng tâm linh, nó đó là cái mà người tu nào cũng đau đáu mà đi tìm. Có thể là ta chưa đủ duyên phúc để chứng ngộ, để đắc đạo, nhưng mà hết cả trái tim ta, hết cả cuộc đời ta đều hướng về cái tâm linh chứng ngộ đó cả. Giờ ta đặt vấn đề là
[32:08]biết rồi, nhưng vì sao Thiền tông thất truyền trong đạo Phật? Kể cả miền Nam, miền Trung, miền Bắc dường như là bị thất truyền cả. Rồi sau này có những vị xuất sắc đứng lên khơi lại, dạy lại, trong đó như Hòa thượng Thích Thanh Từ là một biểu tượng nổi bật. Tức là Hòa thượng ừm cho rằng đã ngộ lại được con đường của thiền, Hòa thượng mở mang, giáo hóa rất là rộng rãi, gây ảnh hưởng rất là lớn, và có cái tâm nguyện thiết tha phục hồi lại thiền của Việt Nam, mà gọi là dòng thiền Trúc Lâm. Nói Trúc Lâm chứ thiền nào nó cũng giống nhau cả. Nhưng mà đó là một Hòa thượng. Còn rất nhiều chùa khắp cả Nam, Trung,
[32:51]Bắc là thiền vẫn bị thất truyền, trong khi tổ của ta đều là thiền sư. Ngay như miền Trung cũng vậy, miền Trung bây giờ ta đến các chùa ở miền Trung cũng chỉ tu Tịnh độ, nhưng mà bây giờ hỏi lại các vị là đệ tử ai, tông nào thì xin thưa đều là tông Liễu Quán cả. Mà Liễu Quán là vị nào? Là một thiền sư đắc đạo nổi tiếng thời xưa. Ở miền Trung á, ở Phú Yên, ngài xuất phát từ Phú Yên rồi ra Huế giáo hóa, đó là một vị thiền sư đắc đạo nổi tiếng mà đệ tử của ngài, cái tông phong của ngài truyền tràn ngập hết cả miền Trung và miền Nam, xuống tới cả Tây Nam Bộ luôn. Nhưng bây giờ đến các chùa mà được nhận là đệ tử ngài
[33:28]Liễu Quán chẳng ai tu thiền cả, Tịnh độ hết. Rồi giờ miền Bắc ta cũng vậy, bây giờ lật lại chư tổ thì vị nào cũng là những thiền sư lừng lẫy, nổi tiếng, nhưng mà đến chùa nào cũng chỉ là Tịnh độ. Như vậy lý do vì sao? Có phải là tại quý thầy, quý cô ta kém dở không? Có phải không ạ? Trả lời một câu cho đúng coi.
[33:55]Không phải. Mà bởi vì quý thầy, quý cô ta kính trọng những bậc bổn sư tiền bối của mình. Khi quý thầy, quý cô vào chùa xuất gia là được học Tịnh độ, cho nên không dám trái, cứ con đường đó mà mà đi. Đây cũng gọi là lòng hiếu đó. Cái lòng hiếu kính đối với những bậc thầy tiền bối của mình nên ngoan ngoãn mà tiếp tục đi con đường Tịnh độ. Thì ta xem đây là một đạo đức đáng yêu, đáng quý. Nhưng bây giờ ngày hôm nay, à ngày mùng 3 tháng 3 là nhân dịp cái lễ hội văn hóa của cái thôn cái làng làng làng này làng gì ta? Kêu là làng Sủi luôn hả? Á, thế là chùa Sủi là mang tên cái làng Sủi. Làng văn hóa làng Sủi như vậy
[34:44]thì Đại đức Thanh Phương lúc nào cũng yêu kính chư tổ sư. À thầy cứ tự hào vì cái văn hóa của của làng quê và lúc nào cũng vọng ngưỡng về cái thiền phong của chư tổ xưa. Đó là lý do mà chúng tôi ở miền Nam lại được thầy mời ra trong cái bài nói chuyện hôm nay. Là vì thầy thiết tha với cái thiền phong của chư tổ. Do đó là chúng tôi có nói chuyện với thầy là như vậy nếu thầy đã có cái tâm đó thì biết đâu từ ngày xưa thầy đã là đệ tử của chư tổ mà mà bây giờ thầy đầu thai lại để mà có cái người mà yêu kính cái dòng thiền của chư tổ, vậy thầy phải có cái bổn phận làm một việc có ý nghĩa lớn, đó là phục chấn lại thiền phong của miền
[35:40]Bắc này, ngay tại cái vùng đất của chư tổ này. Phục chấn thiền phong đó là sứ mệnh của thầy. Mọi người có đồng ý không ạ?
[35:54]Cho nên cái lòng hiếu kính của quý thầy, quý cô á dâng lên đối với các bậc bổn sư tiền bối của mình á, xin ngày hôm nay xin hãy hướng về xa hơn nữa. Thay vì quý thầy, quý cô hiếu kính đối với các bậc tiền bối trong một, hai đời gần đây, xin bây giờ vượt khỏi một, hai đời để tìm về mấy mươi đời về trước để gặp lại chư tổ xưa, toàn là những vị tu thiền và dâng cái lòng hiếu kính về đến tận cội nguồn như thế, để thấy rằng cái việc ngày hôm nay ta phục chấn lại thiền phong là một cũng là một việc làm của lòng hiếu kính rất đáng ca ngợi. Chứ không phải là quý thầy, quý cô kém đâu. Bây giờ quý thầy, quý cô mà quyết tâm phục hưng
[36:36]lại thiền phong thì Thiền tông sống dậy liền. Mà chỉ vì quý thầy, quý cô nghĩ rằng mình không dám đi sai đường mà thầy tổ vài đời đây đã dạy, cho nên cứ tiếp tục như vậy. Chứ nếu quý thầy, cô cái lòng hiếu kính nó vượt xa hơn về cội nguồn tới chư tổ từ những vị tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi, ngài Pháp Hiền, ngài Vô Ngôn Thông, ngài Cảm Thành, ngài Vạn Hạnh, ngài Định Không, ngài Thường Chiếu, ngài Viên Chiếu, ngài Thông Biện, vân vân, ta gặp những vị thiền sư lừng lẫy đời xưa, nghĩa là thần thông nghĩa là lẫy lừng, thì ta biết rằng cái lòng hiếu kính ta hướng về các vị đó và bổn phận ngày hôm nay ta dựng lại Thiền tông.
[37:17]Không dám để cho cái tâm, cái tâm tông của chư tổ bị tắt mất. Có khi nó đã bị gián đoạn rồi, nhưng ta không được để cho cái tâm tông của chư tổ mà tắt mất. Cái lòng hiếu kính của ta phải vượt cả nghìn năm trước mà nối lại cho nghìn năm sau, chứ không thể là ta ngưng ngang cái lòng hiếu đối với một, hai đời tổ sư gần đây được, phải vượt xa như vậy. Và chúng ta tin chắc rằng quý thầy, quý cô đủ trí tuệ, đủ năng lực, đủ tâm hạnh để phục chấn lại thiền phong ở cái cái vùng nôi Kinh Bắc này. Và nếu nơi cái vùng nôi Kinh Bắc này ta phục chấn lại được thiền phong thì cái ánh đạo sẽ tỏa ra cho cho cả nước một lần nữa.
[38:05]Thì đây là điều ta được quyền hy vọng rất nhiều.
[38:13]Có một điều nữa mà ít ai biết đó, là cụ Pháp chủ của ta hiện nay, tức là cụ Thích Phổ Tuệ, là người rất giỏi ngồi thiền. Cụ rất giỏi ngồi thiền và cụ cũng rất ít nói, cho nên ta cũng ít biết. Và đó là một điều thiệt thòi cho Phật giáo của ta. Hôm trước tại buổi lễ mà chúc thọ của Trưởng lão Thích Thanh Bích, ta thấy ba vị ngồi ở trên cái lễ đài như ba ông Phật á. Hòa thượng Thanh Bích ta thì như hư vô. Ta nhìn một cái hình dáng gầy còm mà trong đôi mắt sâu thẳm đó không có gì trỏng hết, trống không có gì trong đó hết. Và ta biết đó là một nội tâm hư vô, mà cái nội tâm hư vô đó, xin đừng nghĩ rằng không có gì.
[38:59]Trong cái nội tâm hư vô đó tràn đầy từ bi và trí tuệ. Một trăm tuổi rồi nhớ hết tất cả mọi điều trong đời, kể cả nói tiếng Pháp vanh vách không sót chữ nào, nhớ hết mọi điều. Và trong cái tâm hư vô đó, lòng từ bi tỏa ra rực sáng. Chúng tôi nói đây không có nịnh nha, nói là có chứng cứ. Vì hôm đó chúng tôi đến được đảnh lễ Người, tôi quỳ dưới chân Người để hầu chuyện Người. Thì ngài cứ ngồi hư vô thế này, tâm bình an thế này, thấy tôi cứ quỳ một bên rồi ngài mới cười, ngài nói một câu: "Thầy lên đây ngồi với con". Một trăm tuổi mà vẫn xưng con với mọi người, cái tâm khiêm hạ ta nói mình theo không nổi.
[39:43]Rồi ngài xích qua khỏi cái phản kêu tôi lên ngồi. Chúng tôi dám lên ngồi không? Dám không? Lên ngồi ngài, trời đánh chết liền, bữa nay không còn sống.
[39:57]Mà lúc khi mà ngài nói cái câu thế này, ngài mỉm cười ngài xích qua một bên ngài nói: "Thầy lên đây ngồi với con", lúc đó tâm từ bi tỏa ra làm ấm lòng mọi người. Thì ta mới thấy một điều: trong cái đôi mắt hư vô đó, trong cái nội tâm hư vô đó không có gì đó, rực cháy từ bi và trí tuệ. Thật sự như một ông Phật sống của cái Phật giáo miền Bắc và Phật giáo của cả dân tộc này, nhưng mà từ lâu ít ai biết. Đó, ngài ngồi một bên. Ở giữa là cụ Pháp chủ. Cụ Pháp chủ ngồi thì gương mặt cụ rất là nghiêm khắc, tượng trưng cho một người gì, giữ gìn cái mực thước nề nếp của Phật giáo. Cụ tuy rất ít nói, rất ít tiếp xúc vì thực sự là cụ Pháp chủ ta tinh tấn tu tập.
[40:40]Ngài ngồi thiền rất là giỏi, nhưng mà ngài ngồi ở giữa với cái ánh mắt nghiêm khắc, và ta thấy rằng đó là tượng trưng cho cái gì, cái uy lực, cái nề nếp, cái mực thước, cái kỷ cương của Phật giáo của ta. Bên cạnh là cụ Phó Pháp chủ là Thích Thanh Sam, cái gương mặt hòa ái từ bi. Cho nên ba ông Phật ngồi trên đó ba sắc thái: một vị thì hư vô, một vị thì nghiêm, một vị thì từ. Và ta rất mừng vì Phật giáo ta vẫn còn ba vị Trưởng lão là ba cái biểu tượng độc đáo, đầy đủ và hoàn hảo như vậy. Vì vậy, nên ngày hôm nay khi ta đặt vấn đề phục chấn lại thiền phong của Phật giáo miền Bắc của ta, là một điều là ta đền ơn một cách đúng đắn nhất,
[41:28]xứng đáng nhất cho chư tổ của ta, chứ không phải là là nói rằng ta tự phát không có đâu, chính là một sự báo hiếu, đền ơn đúng đắn nhất. Tuy nhiên, để có thể phục chấn lại thiền phong thì ta có một số việc phải làm.
[41:48]Thứ nhất là ta phải mở lại khóa tu thiền cho Tăng Ni và Phật tử. Tại vì cái người Phật tử tu rồi họ mới hiểu được cái vất vả của việc tu mà họ mới yêu quý, quý kính những người mà tinh tấn tu. Họ mới biết là cái việc tu nó khó như vậy, nó khổ như vậy. Mà trong khi mình ở ngoài đời vừa làm việc, vừa sống, vừa hưởng thụ rồi tu, nghĩa là ba bốn cái như vậy, vừa sống vừa làm vừa hưởng thụ vừa tu nó lai rai. Còn quý thầy, quý cô dồn sức tu. Và để dồn sức tu đi con đường tâm linh này, quý thầy, quý cô, Tăng Ni vất vả biết là bao nhiêu. Cho nên ta phải mở những cái khóa tu cho Tăng Ni và cho Phật tử, đó.
[42:34]Rồi ta tìm lại những kỹ thuật để thực hành cho chuẩn xác. Ta dùng cái chữ chuẩn xác là vì sao? Là bởi vì Thiền tông ngày xưa các vị dạy cái kỹ thuật dụng công thế nào không ghi lại trong sách, mà trong sách sử chỉ ghi lại những cơ phong vấn đáp. Khi một vị thiền khách đến gặp vị thiền sư hỏi một câu khi đáp một câu, ngộ thì thôi. Hỏi hai ba câu nữa, ngộ thì thôi. Rồi có khi cái nhân duyên đến thì bừng ngộ. Thì ta nhìn đó ta không hiểu, mà bây giờ kiếm ai để hỏi? Thế còn trong hằng ngày, khi mà không có cơ phong vấn đáp thiền ngữ thì các vị tu như thế nào, không ghi. Đó, còn cái kỹ thuật thì nằm ở trong kinh tạng nguyên thủy, Phật dạy cả.
[43:25]Thời Đức Phật thì Phật mới dạy kỹ thuật để tu tập từng bước. Nên ngày hôm nay, khi mà nói đến việc phục chấn thiền phong, thì ta không phải chỉ là một việc là lặp lại cái con đường thiền của chư tổ của cách đây một nghìn năm, không phải nữa. Mà ngày hôm nay, khi nói tới phục chấn thiền phong, ta phải đưa ra được một cái thiền phong nó bao gồm nhiều yếu tố. Thứ nhất, là cái tâm linh chứng ngộ của chư tổ của ta, truyền thống của ta. Thứ hai, thiền đó nó phù hợp với con đường thiền mà Đức Phật đã dạy tại Ấn Độ hơn 2.500 năm trước. Thứ ba, là nếu đem những nguyên lý của khoa học, của y học vào đối chiếu, so sánh, khảo sát thì ta hoàn toàn hợp lý, hoàn toàn hợp lý.
[44:18]Và thứ tư, cái thiền của ngày hôm nay phải đáp ứng được, phải giải đáp được, phải hóa giải được thắc mắc, lý luận, tâm tình, triết học, trình độ của con người ngày hôm nay. Đó, nên thiền ngày hôm nay khi ta phục dựng lại, nó phải mang được cả bốn yếu tố đó, chứ nó không phải chỉ là tìm cách làm sao cho giống chư tổ ngày xưa. Bởi vì sao? Đệ tử bằng thầy là kém thầy nửa đức, đệ tử vượt hơn thầy mới kham thầy truyền trao. Nên ví dụ bây giờ chư tổ mà có về lại gặp chúng ta, ngài cũng buộc chúng ta phải làm giỏi hơn ngài, tốt hơn ngài. Chứ không có một ông cha nào mà tốt muốn con mình phải bằng mình hay kém hơn mình.
[45:06]Cái điều ước mơ của những bậc cha mẹ là con phải làm sao? Phải giỏi hơn mình. Giống như chúng tôi có một một Phật tử ông làm lái xe, lái xe cho nhà nước, mà điều ông nhắc đi nhắc lại: "Con phải học giỏi hơn bố". Con phải học giỏi, mà đúng như vậy, bây giờ con cái là tốt nghiệp những bằng cấp cao, làm ở những hãng nước ngoài được người ta rất trọng vọng, vậy. Còn hồi xưa ông chỉ là lái xe, ông lái xe ở Bộ Ngoại giao, rồi nhiều khi lái xe cho những viên chức nước ngoài, phải thức ngoài xe đợi người khách họ đi suốt đêm. Vất vả phục vụ và làm tròn cái bổn phận của mình, nhưng không không than vãn cái gì cả,
[45:42]làm tròn bổn phận, nhưng mà dặn con mình sau này phải giỏi hơn bố mẹ. Thì nhớ như vậy, chư tổ ta cũng vậy. Vào thời đó như vậy, nếu bây giờ các ngài có sống dậy nói chuyện với ta cũng bảo ta phải làm cái gì đó vượt hơn các ngài ngày xưa. Cái vượt hơn là ta không dám nói cái đức lớn hơn, không dám nói cái tâm chứng lớn hơn, nhưng mà cái con đường thiền phong ngày hôm nay ta dựng lại nó phải bao quát và lớn hơn rất là nhiều. Tức là làm sao cho khi mà đưa cái thiền của Phật giáo Việt Nam ngày hôm nay bước ra với thế giới, ta không thua kém bất cứ nước nào hết. Tức là ta dựa vào cái quá khứ, cái chiều sâu tâm chứng của chư tổ ta,
[46:21]ta cũng dựa vào tới cái kỹ thuật, cái tâm chứng của Phật ngày xưa đã dạy, nhưng mà ta vẫn phải sao, dựa vào, tham khảo vào cả cái kiến thức của khoa học, của y học hiện đại. Và ta cũng phải dựng cái thiền phong nó đủ để đáp ứng được cái tâm tình, cái ước mơ, cái khát vọng sống, cái triết lý sống của con người trong thời đại ngày hôm nay. Là bốn điều đó. Nên khi ta phục dựng lại, phục chấn lại thiền phong, ta phải cái thiền phong của ta ngày hôm nay phải đủ bốn yếu tố đó để nhìn ra thế giới. Một ngày nào đó ví dụ một cái người thiền sư Miến Điện họ sang thăm Việt Nam, họ đến chùa Suối hỏi thầy Thanh Phương:
[47:02]"Tu thiền thế nào?", thì khi ta nói ra cái thiền của ta, họ phải kính phục. Vì họ thấy rằng sao? Họ có ở trong đó, ta bao trùm họ luôn ở trong đó, là không có gì phải thắc mắc. Còn bây giờ vì cái thiền phong của ta dựng lên ngày hôm nay, của Việt Nam ngày hôm nay mà ta đứng một góc nào đó, thì khi mà ta gặp gỡ các bạn, các Phật giáo bạn tu thiền trên thế giới, họ đến họ hỏi ta là: "Ông anh tu thiền thế nào?", ta nói ra họ thấy mình khác với họ lạ quá. Và khi khác như vậy thì họ có cái sự hơn thua. "À, như vậy bên đây không biết là hơn hay là kém mình", nhưng họ vẫn nghĩ rằng: "À, con đường họ đi như vậy là chuẩn xác, là chính đáng,
[47:43]là chắc là hơn cái Việt Nam, thiền Việt Nam như vậy nó không có, không có đúng". Trong đầu họ có cái lợn cợn họ nghĩ như vậy thì ta vẫn chưa tròn trách nhiệm của mình. Nên ta phải phục chấn lại thiền phong, dựng lại một cái con đường thiền mà để một ngày nào đó Phật giáo bạn đến gặp gỡ ta, giao lưu với ta, nghe ta trình bày con đường thiền của mình họ thấy họ cũng nằm lọt trong đó luôn, họ nằm gọn ở trong đó luôn. Đó, và để có thể làm được việc này thì ta tốn công sức, phải vất vả và đây là sự quan tâm của tất cả mọi người. Trong cái việc mà ta mở các khóa tu như vậy, thì luôn luôn có một điều thế này:
[48:24]buổi đầu tu thiền là vất vả. Tu thiền cực lắm, ngồi bắt chân tréo lên như Đức Phật.
[48:33]Khi mà bắt chân ngồi kiết già như vậy thì khi mà người đã lớn tuổi, tất cả đều đau. Đau đau đau điếng người, đau chết người được. Ừ nhưng đừng lo, ta sẽ ghiền cái đau đó không bao lâu. Ngày nào không có cái đau đó ăn không ngon, ngủ không yên. Cho nên ta sẽ ghiền cái đau chân đó không sao hết. Bước đầu tu thiền rất là vất vả và những người mà không đủ quyết tâm cũng như gọi là không đủ căn duyên rút lui liền. Và cứ mỗi người mà rút lui khỏi thiền là làm cho Phật giáo Việt Nam suy yếu đi một chút. Tại vì sức mạnh của Phật giáo chính nằm nơi, nơi sức sống của thiền. Còn mỗi người ta cứ bắt chân chịu đau một chút để ngồi thiền
[49:16]ta góp thêm vào cho sức mạnh của cả Phật giáo Việt Nam này. Nên ta phải mở khóa tu, khuyến khích mọi người tu, mặc dù ban đầu rất là vất vả. Rồi, ta phải định hướng là làm sao mà cái thời khóa của thiền của chùa đó phải có thiền ở trong. Còn bây giờ nhiều chùa vẫn ngại ngùng, ví dụ à đệ tử thích tu thiền cứ tu, thầy không cản, nhưng mà không có một thời khóa bắt buộc của chùa. Bây giờ hãy muốn phục chấn lại thiền phong, bắt buộc trong chùa phải có một thời khóa thiền tu chính thức luôn. Là nếu đầu hôm và cuối hôm đều phải ít nhất hai thời thiền. Còn cái thời mà tụng niệm mà từ xưa giờ ta được gọi là công phu á bây giờ phải rút lại bớt.
[50:04]Vì cái công phu phải là cái tu thiền. Chứ còn trước đây khi ta bỏ thiền thì ta lấy cái cái việc mà tụng tụng cóc cóc cóc cóc cóc này ta gọi là công phu, công phu tu hành. Nhưng bây giờ phải biết rằng cái công phu chính là gì? Lúc mà bắt chân ngồi bất động, yên lặng, kiểm soát chính mình, cái đó mới gọi là công phu thực sự. Và đầu hôm phải ngồi, cuối hôm phải ngồi. Và nếu rảnh được, ban ngày cũng phải ngồi thêm, tức là cái thời gian dành cho thiền nhiều hơn. Và một điều nữa là thế này. Khi mà một vị thầy, một vị cô mà tinh tấn tu tập thiền định, cái kết quả hiện ra rất rõ là gì? Trí tuệ của toàn Phật giáo khởi lên hết.
[50:49]Ta sẽ có rất nhiều giảng sư. Ta sẽ có rất nhiều giảng sư lỗi lạc trong Phật giáo xuất hiện. Vì xưa nay, những giảng sư giỏi đều là những người tu thiền.
[51:02]Có đúng như vậy không ạ? Ta để ý lại, những người giảng giỏi đều là những người tu thiền. Chúng tôi cũng may mắn là người tu thiền nên giảng gần bằng anh Dược chứ không phải là đơn không phải là tệ đâu. Lát ta sẽ nghe anh Dược giảng là mê luôn á, mê hồn luôn. Để có thể là phục chấn thiền phong, ta cũng phải thêm một điều nữa là ta bổ sung cái nghi thức tụng niệm của chùa có đạo lý thiền ở trong đó. Chứ còn nào giờ cái nghi thức tụng niệm của chùa cứ thiên hẳn về Tịnh Độ, hễ tụng là chỉ hướng về Di Đà, hễ tụng là chỉ chờ chết để vãng sinh. Bây giờ trong cái thời khóa tụng niệm, nghi thức tụng niệm phải nói về việc tu tập
[51:41]thiền định, nói về việc tu tập thiền định. Đó, trên mỗi ngày khi ta tụng cái lời đó là ta phải thấy cái bổn phận của mình là phải tu tập thiền định. Và để có thể phục chấn thiền phong được thì chính Giáo hội phải yêu quý và tạo điều kiện cho các chùa tu thiền. Chính Giáo hội phải làm việc này. Giáo hội phải làm việc này và đưa vào quy chuẩn luôn, đưa vào giáo trình. Nghĩa là giáo trình Phật học dạy ở các trường Phật học từ sơ cấp, trung cấp cho tới học viện cao cấp đều phải có thiền, có thực hành thiền hết. Và khi đi thọ giới, ai ngồi thiền được bao lâu đó mới được thọ giới, phải là như vậy. Đó. Và Giáo hội phải hỗ trợ các khóa tu thiền.
[52:25]Nghĩa là nơi nào mà có các khóa tu thiền thì đích thân Giáo hội phải tới đó chứng minh, an ủi, vỗ về, khuyến tấn thì như vậy ta mới phục chấn được thiền phong. Chứ việc này không phải là việc riêng của một ông thầy, một ngôi chùa. Rồi một cái nữa là chính Nhà nước cũng phải hỗ trợ việc phục chấn thiền phong này. Khi Nhà nước thấy rõ Đạo Phật là đồng hành với dân tộc mà sức mạnh của Đạo Phật chính là nằm nơi thiền. Vì ngày xưa các vua chúa sao? Đều nhờ các thiền sư tư vấn, cố vấn cả. Các vị rất yêu kính các vị thiền sư và rõ ràng các thiền sư đó đều là những người yêu nước, phụng sự cho triều đại, làm lợi ích cho dân tộc.
[53:10]Mà sức sống từ nơi đó mà tỏa ra. Cho nên khi mà Nhà nước đóng góp, hỗ trợ việc xây dựng Phật giáo thì Nhà nước phải hỗ trợ cái việc phục chấn thiền phong lại. Và cái thiền phong đó, hãy nhớ là không phải là còn riêng là của chư tổ Thiền tông mấy nghìn năm trước nữa. Mà cái thiền phong của ngày hôm nay, nó phải trùm được luôn cả Phật giáo của cái thế giới này. Nghĩa là bất cứ một cái thiền phái nào từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan đến ta tham khảo, họ đều thấy họ nằm lọt trong của ta cả, ta bao họ lại rồi. Thì phải là như vậy, người phải có cái con mắt như vậy để mở lại cái thiền phong cho Việt Nam ngày hôm nay.
[53:51]Và cuối cùng, để có thể phục chấn thiền phong được thì chính Phật tử phải ủng hộ Tăng Ni tu thiền. Chính Phật tử phải hiểu điều này và ủng hộ. Nơi nào có những khóa tu thiền của Tăng Ni, Phật tử phải tới ủng hộ. Mà Phật tử khi mà gặp một vị thầy nào vậy, cũng đều phải nói câu này: "Chúng con mong ước quý thầy, quý cô tu thiền để dạy chúng con, vì chúng con yêu quý thiền". Đây là điều mà chính Phật tử phải phải ủng hộ. Còn ví dụ như đến thì gặp quý thầy cứ dạy, dạy cái gì ta tu cái nấy, rồi cứ dạy một cái pháp môn để chờ chết thì chính mình cũng mất cái sức sống, rồi từ từ mình cũng cũng nản, rồi còn lại chỉ là những người già chờ chết thì Đạo Phật suy yếu liền.
[54:35]Nên do đó chính Phật tử phải ủng hộ, ủng hộ bằng gì? Bằng lời nói, ủng hộ bằng tâm hồn, bằng hành động và cả bằng tài vật. Đó ta đóng góp, ta ủng hộ cho những nơi mà mà tổ chức tu thiền, như vậy. Bây giờ ta nói về về việc chứng ngộ. Nãy giờ ta cứ nói thiền là đem lại sự chứng ngộ tâm linh, nhưng mà dễ chứng không ạ? Dễ chứng không? Không. Chứng ngộ tâm linh là thành Thánh. Nhưng mà Thánh thì tới bốn cấp độ lận, trong Đạo Phật Thánh tới bốn cấp độ là: Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả. Tứ quả là cao tột, là A-la-hán rồi, là phi thường vượt khỏi tam giới rồi, nắm cả vũ trụ trong lòng bàn tay rồi.
[55:19]Mà dưới đó là Tam quả A-na-hàm, dưới nữa là Nhị quả Tư-đà-hàm, ban đầu là Sơ quả Tu-đà-hoàn. Dạ. Thì tuy làm Thánh nhưng tới bốn cấp độ, mà cái cấp độ đầu tiên là Sơ quả Tu-đà-hoàn á là mình đã khó đạt được rồi. Tại vì sao vậy? Cái bậc thánh Tu-đà-hoàn nhìn trông không khác người thường bao nhiêu, nhìn không khác. Thậm chí có những người đã chứng Tu-đà-hoàn ở kiếp trước rồi, kiếp này trở lại cũng không biết rằng mình đã chứng Tu-đà-hoàn. Vì Tu-đà-hoàn không có cái sự sai biệt lớn đối với người phàm. Tu-đà-hoàn cái quả Thánh thứ nhất á nó không có cái sai biệt lớn, nhìn bên ngoài nhìn không khác.
[56:05]Cả nội tâm nhìn cái trạng thái nó cũng không khác lắm, nhưng mà nó khác về cái bản chất của tâm. Ví dụ thế này. Ví dụ như là một cái đặc tính người Tu-đà-hoàn là sống rất vị tha. Bây giờ, ví dụ trong cái lúc mà ta đi đường, đói, à khát, rồi hai người cùng đi, rồi chợt nhặt lên được một cái cái quả, quả quả quả táo. Thì ta nhìn là ta biết là Tu-đà-hoàn hay không. Cái người Tu-đà-hoàn á, biết rằng mình cần phải ăn để đi cho hết con đường, người bạn mình bên cạnh cũng cần phải ăn để đi hết con đường, cho nên phải chia quả táo nó ra. Nhưng mà khi họ bẻ quả táo ra thì phần lớn luôn luôn đưa về người bạn
[56:50]mình, một cách rất thật lòng, vì luôn luôn yêu người hơn yêu mình. Còn trong đời sống ta không thấy khác, nhưng mà đó là dấu hiệu của con người vị tha.
[57:02]Rồi một cái gì nữa của Tu-đà-hoàn? Giờ ví dụ như ta gặp một người ác thì ta thường ta căm phẫn, ta muốn là phải trừng phạt họ nặng nề. Nhưng cái người Tu-đà-hoàn á thì có căm phẫn chứ không phải không, nhưng mà cái căm phẫn của họ trong cái lành tính và họ muốn cảm hóa nhiều hơn. Nên cái chất của người Tu-đà-hoàn không còn cái độc, cái ác bên trong thẳm sâu nữa. Nó một số tính chất bây giờ thì ta không có nói hết, nhưng mà cái quả Thánh ban đầu nhìn mà bên ngoài nó không khác với người phàm, nhưng mà cái phẩm chất của tâm nó bước qua một giai đoạn của một người rất tốt, ta dùng cái chữ rất tốt.
[57:44]Nếu theo người xưa bên Tàu ta gọi là người quân tử á, ừ còn người thời nay là một người sống rất là đạo đức. Và cái niềm tin kính đối với Phật rất là lớn. Cái dấu hiệu đó là người đã chứng Tu-đà-hoàn, hoặc mới kiếp này, hoặc từng là kiếp xưa đã trở lại. Cái người mà kiếp xưa trở lại đó, ta thấy họ yêu mến Đạo Phật cách rất tự nhiên, sống rất là tốt mà thích là thích tu, thích sống với Đạo Phật. Đó là người đã chứng từ kiếp trước trở lại, bây giờ họ ngồi thiền tâm linh họ mở ra cũng nhẹ nhàng. Còn cái người mà mới chứng Tu-đà-hoàn ở kiếp này đó thì nó có một giây phút bất ngờ xảy ra trong tâm họ,
[58:23]một trạng thái chuyển biến bất ngờ trong một tích tắc. Tâm họ thay đổi một cái, choáng ra một cái, sáng ra một cái rồi cái tâm họ thay đổi luôn. Từ đó họ yêu thương con người, từ đó họ tôn kính Phật, từ đó họ không thể làm điều ác được nữa, thì người đó đã thành Thánh Tu-đà-hoàn rồi. Nhưng mà trong đời sống vẫn không khác gì hết, nhìn vẫn thấy rất bình thường, nhưng coi chừng là Tu-đà-hoàn mà ta xúc phạm tới người đó, ta mang tội rất là nặng mà ta không biết. Nên trong cái đời này phàm Thánh lẫn lộn, ta không biết ai là ai. Ví dụ như nhìn Đại đức Thanh Phương nhiều khi đã là bậc Thánh chứng Tu-đà-hoàn
[58:57]rồi mình không biết, mà mình đôi khi mình khởi cái niệm nhẹ trong đầu mình ghét thầy là mình tổn phước hết cả 10 năm, 20 năm tu lấy lại. Hoặc như anh Dược, nhiều khi lỡ anh biết đâu anh chứng Tu-đà-hoàn rồi mình không biết, mình hơi ghét ghét anh chút xíu là mình mang tội rất là nặng. Đúng vậy. Còn cái bậc mà chứng Tư-đà-hàm, bậc Nhị quả thì kiến giải phi thường, cái người đó thì thôi kiến giải phi thường, thiền ngữ đối đáp cực kỳ nhanh chóng. Thần thông thì có một phần chứ chưa có nhiều, nhưng đã có thần thông một phần. Thì cái vị mà chứng Tư-đà-hàm, tức là chứng quả Thánh thứ hai rất khác biệt với người thường rồi,
[59:34]và ta thấy xuất hiện một phong cách vượt bậc rồi. Còn cái bậc Thánh thứ ba thì thôi khỏi nói, bậc đó đi mây về gió, bay được, đi xuyên vách tường được hết rồi, bậc Thánh thứ ba. Còn bậc A-la-hán thì thôi ta miễn bàn nha. Thì cái cái việc mà để tu chứng ngộ tâm linh theo như con đường thiền mà ta mơ ước, nó tới bốn cái cấp bậc như vậy thì ta ráng tu mà được cái cấp bậc thứ nhất cũng đã đã quý lắm rồi, chứ bình thường là không phải đơn giản. Tức là một người phải ít nhất trải qua 10 năm, 20 năm tinh tấn tu tập, đừng làm điều gì lỗi lầm, ráng làm được nhiều công đức thì phải ít nhất 10 năm, 20 năm, tâm mới chuyển biến một cái ta thành một vị Tu-đà-hoàn.
[1:00:14]Còn chưa dám ước mơ Tư-đà-hàm nha, Tư-đà-hàm là phải vài kiếp nữa, còn A-na-hàm vài chục kiếp nữa. Nên nên quá trình chứng ngộ nó lâu xa như vậy mà ta phải hiểu để làm chi? Để ta kiên trì, kín đáo và khiêm hạ. Kiên trì vì sao? Vì biết đường đi rất là lâu, không có nôn nóng, mà ai hứa cái gì nhanh nhanh là ta biết nói xạo. Ai hứa với ta tu sẽ mau đắc, ta biết tất cả là lời nói dối, nó không phải chánh kiến mà thường đó là những cái dòng phái có cái ý đồ xấu. Hiện nay vậy, có một số giáo phái nổi lên có khi xưng mình là đạo Phật, hoặc là lai lai đạo Phật mà đều hứa hẹn là tu ít mà được kết quả nhiều thì ta yên tâm một điều:
[1:01:02]tà, nói dối, có ý đồ, có mưu đồ gì mà nhiều khi liên quan tới chính trị nữa, nhiều khi giả vờ làm một hình thức tôn giáo để rồi hoạt động chính trị chứ không phải là tu hành chân chính. Còn con đường tu hành chân chính của đạo Phật là gì? Là lâu dài. Vì vậy ta kiên trì. Cái tâm ta là kiên trì đi vài trăm kiếp, không sao. Đi cho đúng, đi cho siêng năng, đi vài trăm kiếp. Cái tâm ta như vậy nên ta không bị ai lừa. Còn mà người nôn nôn nóng mau chứng, thế nào cũng có người tới lừa mình. Hứa tu mau chứng là ta bị lừa, bị gạt ngay. Rồi kín đáo là sao? Cái người tu thiền không được cứ đi đâu cũng nói
[1:01:41]là tôi tu thiền, mà ngồi thiền cũng phải là ngồi trong chúng ai cũng ngồi thì mình ngồi không sao, chứ còn mọi người họ không có ngồi, mình cứ ngồi chình ình ra cho mọi người nhìn, mọi người ngắm là ta cũng hết phước luôn, không tu được, tức là khoe khoang, không tu được. Rồi cái nữa phải khiêm hạ. Rồi ví dụ như có người nói là: "Anh tu thiền lúc này được kết quả ra sao?" thì phải khôn hồn mà trả lời làm sao? Trả lời là: "Vẫn đang cố gắng" nha, vẫn đang cố gắng. Mình nói như vậy thôi, chứ đừng nói ồ nay tôi tôi chứng rồi, bữa nay tâm tôi là siêu đẳng, là trí tuệ liền phát ra, nói ít bữa phát điên liền.
[1:02:15]Tại sao mà ta phải kín đáo? Tại sao ta phải khiêm hạ? Bởi vì cái cái vị Thánh trong thiền nó giá trị lớn quá, nên ta lạm nhận hay ta khoe khoang điều đó sẽ làm ta tổn phước rất là nặng, và cái hệ quả của nó là thường là bộ não ta hư luôn để thành điên luôn. Nên nói là người tu sai là tẩu hỏa nhập ma, nó không phải, mà chính là vì tự cao, vì khoe khoang, cho nên làm tổn phước, làm bộ não hư và phát điên. Còn nếu ai lúc nào cũng kín đáo, cũng khiêm hạ thì bảo đảm ta tu thiền không sao hết. Mà cái mà làm gì mà để ta tự cao đó thuộc loại ma. Hễ một niệm nào cứ dấy lên trong lòng ta, cứ gợi lên trong lòng ta để cho ta cảm
[1:03:01]thấy mình giỏi thì phải hiểu rằng cái niệm đó của ma, nó nó thả vào tâm ta. Còn cái niệm mà ta đi đúng với Phật là gì? Lúc nào cũng thấy mình kém, lúc nào thấy mình dở thì người như vậy sẽ đi rất là rất là lâu. Còn hồi nãy ta nói Phật gọi những sự chứng ngộ đó là theo bốn cấp bậc là Tứ quả, còn các thiền sư đời sau thì gọi những tên khác. Ví dụ ngài gọi là đốn ngộ, ngài gọi là Phật tánh, gọi là Chân tâm, là sự tỉnh giác, là ông chủ gì đó vân vân. Đó là một cái tên khác của người cách Phật cả nghìn năm họ đặt ra, mà nếu cái tên đúng vào thời Đức Phật là Tứ quả, Tứ quả Thánh, cái trạng thái nó giống như vậy.
[1:03:45]Mà người nào tinh tấn tu tập được thiền định, mà nếu có cái may mắn, hạnh duyên ta được một vài kết quả nào đó thì thật sự đó là những viên ngọc tỏa sáng giữa cuộc đời này. Và ngày hôm nay, nơi cái ngôi chùa Sủi nổi tiếng là linh thiêng này từ ngàn xưa này, ngôi chùa này rất là nổi tiếng, từ xưa các vua chúa thường về đây để mà cầu mộng, các vua chúa về đây nằm ngủ để cầu là được mộng thấy một điều gì trong cái việc mà trị dân, trị nước, và ngày xưa Hoàng thái hậu Ỷ Lan cũng về đây cầu tự,
[1:04:26]vì ngôi chùa này đã trước đó nữa, trước đó nữa nổi tiếng linh thiêng. Thì ta đang có cái hạnh duyên ta ngồi lại nơi đất Tổ này, ta nói về chư Tổ Thiền tông ngày xưa, và ta ước mơ về một thiền phong Việt Nam sắp tới trong tương lai, và ta hứa với nhau cùng nhau quyết tâm phục chấn lại thiền phong cho đất Kinh Bắc này, cho Phật giáo Việt Nam này để sánh vai, để dẫn dắt cả dân tộc ta, cũng như góp vào cái sự tiến bộ của loài người trên thế giới này trong tương lai. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[1:05:29]Ráng ngồi thiền để biết được rằng người xưa tu khó khăn là bao.
[1:05:39]Siêng ngồi thiền để nghe lòng mình còn đang mang biết bao lầm lỗi. Dù chân đau vẫn cố, mặc áo chưa kịp khô, lòng đôi khi vẫn nhớ, nhưng quyết tâm làm lơ. Buông duyên trần trôi theo bóng hư vô, xem hơi thở vào ra cũng như mơ.
[1:06:12]Nhìn toàn thân vô thường cơn gió cuốn, và nội tâm an vui không còn buồn.
[1:06:25]Ráng ngồi thiền để cõi lòng mình vượt qua bao đắng cay buồn lo. Siêng ngồi thiền để cho cuộc đời tình yêu thương với nhau đầy ắp. Dù đêm khuya sáng sớm, mặc gió thu chiều đông, trời phong ba bão tố, nhưng quyết không bỏ quên. Ai vui đùa theo hơi nóng men say, ta vui cùng dòng kinh giữa mây bay.
[1:07:05]Ngồi lặng yên âm thầm như thế đấy, lời Phật đưa ta đi qua từng ngày.
[1:07:42]Ráng ngồi thiền để biết được rằng người xưa tu khó khăn là bao. Siêng ngồi thiền để nghe lòng mình còn đang mang biết bao lầm lỗi. Dù chân đau vẫn cố, mặc áo chưa kịp khô, lòng đôi khi vẫn nhớ, nhưng quyết tâm làm lơ. Buông duyên trần trôi theo bóng hư vô, xem hơi thở vào ra cũng như mơ.
[1:08:23]Nhìn toàn thân vô thường cơn gió cuốn, và nội tâm an vui không còn buồn.
[1:08:36]Ráng ngồi thiền để cõi lòng mình vượt qua bao đắng cay buồn lo. Siêng ngồi thiền để cho cuộc đời tình yêu thương với nhau đầy ắp. Dù đêm khuya sáng sớm, mặc gió thu chiều đông, trời phong ba bão tố, nhưng quyết không bỏ quên. Ai vui đùa theo hơi nóng men say, ta vui cùng dòng kinh giữa mây bay.
[1:09:16]Ngồi lặng yên âm thầm như thế đấy, lời Phật đưa ta đi qua từng ngày.