[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Dạ xin cung thỉnh Thượng tọa giảng sư an tọa, và xin mời tất cả các phật tử an tọa. Nam Mô Bổn
[0:23]Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay, trước khi vào buổi sinh hoạt hàng tuần của chúng ta, chúng tôi xin
[0:36]được nói về đề tài:
[0:46]Cuộc đời Đức Phật. Ở đây, không muốn nói lại cái lịch sử của Ngài, vì lịch sử của Ngài có lẽ ở đây quý Phật tử cũng biết gần hết rồi. Xuất gia, thành đạo, ai ai cũng biết. Chúng tôi muốn phân tích một vài điểm ở trong cuộc đời của Ngài và những cái gì đặc biệt của Ngài để chúng ta hiểu được Đức Phật của mình hơn. Chúng ta hiểu được Đức Phật rồi, ta có cái lòng kính trọng sâu sắc hơn. Lần trước, chúng tôi cũng nói với các Phật tử là chính cái sự kính trọng Đức Phật làm cho chúng ta tăng thêm được công đức. Mỗi người đều đến lễ Phật, nhưng mà lòng kính trọng mỗi người khác nhau. Điểm nào? Vì mình hiểu Đức Phật khác nhau.
[1:37]Người mà hiểu Đức Phật một cách sâu sắc thì sẽ có cái lòng kính trọng sâu sắc hơn. Bây giờ chúng ta nói về một vài cái huyền thoại trong cái sự kiện đản sinh của Ngài. Chúng ta đều biết là Ngài đản sinh vào khoảng năm 623 trước Tây Lịch. Và trong cái nhân quả nhiều đời, Đức Phật đã chuẩn bị cho cái sự đản sinh của mình. Mọi sự đều có nhân duyên. Tại sao lúc đó Ngài giáng trần, Ngài vào cái thai của Hoàng hậu Ma Gia, Ngài sinh vào hoàng tộc, và chung quanh Ngài là cái khung cảnh Ấn Độ như vậy, như vậy? Tất cả đều đã được chuẩn bị từ nhiều kiếp, chứ không phải là một sự ngẫu nhiên. Điều chúng ta để ý trước hết á là cha và mẹ của Ngài,
[2:31]mà nhất là mẹ của Ngài, Hoàng hậu Ma Gia, là một người phụ nữ vô cùng đạo đức. Chính cái tâm hồn đó, chính cái đạo đức đó nó mới đủ, mới xứng đáng để hoài thai một bậc Thánh cao cả. Đây là cái tương quan nhân quả. Còn một người mà cái tâm hạnh bình thường thì không đủ sức để cưu mang những người con, những người cháu lỗi lạc. Đây là tương quan nhân quả. Thì chúng ta cũng vậy thôi. Nếu mà chúng ta, quý Phật tử đây nè, có cái tâm hồn, có cái đạo đức sâu sắc thì tự nhiên ứng với những người con, người cháu sinh vào gia đình mình là những người đặc biệt. Thường thường tục ngữ chúng ta nói là: Ăn hiền ở lành để đức cho con.
[3:32]Nó không phải là để đức cho con, mà nghĩa là khi chúng ta có đạo đức thì ứng, khiến cái nhân duyên để cho những người con đặc biệt sinh vào trong gia đình mình. Đó là cái tương quan nhân quả nhiều đời. Thì chúng ta thấy cái sự vĩ đại của Đức Phật, chúng ta mới hiểu được cái vĩ đại nơi cái đức hạnh của Hoàng hậu Ma Gia, người đã cưu mang, đã hoài thai một bậc thánh nhân vĩ đại nhất trong lịch sử của nhân loại. Câu chuyện mà Hoàng hậu nằm mơ thấy voi trắng sáu ngà đi vào bụng mình, quý Phật tử có nghe rồi chứ hả? Rồi từ đó bà hoài thai. Rồi cái ngày mà đản sinh Đức Phật ở khu vườn Lâm Tỳ Ni, lúc đó bà trên đường trở về quê của mình để mà sinh.
[4:28]Đi giữa đường mà ghé cái khu rừng đó thấy cành hoa vô ưu bà với tay lên hái thì ngay lúc đó hạ sinh Thái tử. Cái câu truyền tụng nói rằng: Thái tử khi sinh ra thì có chư thiên, long thần phun nước tắm và Ngài đi bảy bước, dưới chân nở ra những cái đóa hoa sen. Ngài mới nói rằng: Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn, nhất thiết thế gian, sinh lão bệnh tử. Câu này cũng gây nhiều nghi vấn và tranh cãi. Quý Phật tử có xem cái bộ phim mà Đức Phật nhỏ ở mấy cái chỗ video có. Trong đó có diễn tả cuộc đời Đức Phật, một đoạn cuộc đời, lúc Ngài sinh ra Ngài đi trên mặt đất rồi tự nở hoa sen ra. Cái câu nói của Ngài gây nhiều tranh cãi là
[5:22]giống như Ngài tự phụ, trên trời dưới trời chỉ có ta là hơn hết. Câu này những người bình thường nghe rất dội, nói: Ông này tự phụ. Còn bên Đại thừa thì mới chống chế nè. Nói: Duy ngã độc tôn, chỉ có ta là hơn hết, thì cái ta này không phải là cái chấp ngã bình thường của con người mà là cái đại ngã, cái bản thể gì đó, hay cái ta chân thật nào đó, bên Đại thừa chống chế cãi lại. Nhưng thiệt ra cũng không phải. Đây chỉ là huyền thoại nên gây tranh cãi. Chúng ta tin cái điều này cũng tin một cách dè dặt thôi, chứ cũng không nên là hoàn toàn tin vào điều này phải có thật. Đôi khi nó cũng có sự thêu thắt
[6:04]để mà tô điểm thêm cái cuộc đời của bậc giáo chủ của mình. Nếu giải thích, chúng ta giải thích như vậy là đúng nhất. Cái câu đó phải hiểu thế này: Trên trời dưới trời chỉ có ta là hơn hết, còn cả thế gian vẫn chìm trong cái sinh, già, bệnh, chết. Như vậy cái mà gọi là cái hơn của Ngài đó, không phải là Ngài uy quyền hơn, có cái gì đó ghê gớm hơn, mà chỉ bởi vì Ngài quyết định phải giải thoát. Còn người khác thua Ngài chỉ là thua cái gì? Cái không giải thoát thôi. Như vậy cái hơn thua ở đây, nó không phải là cái hơn thua trên cái danh dự, địa vị, cái gì hết, mà chỉ vì giải thoát hay không giải thoát.
[6:49]Như vậy có nghĩa rằng Ngài tôn vinh cái sự giải thoát, Ngài đề cao cái sự giải thoát. Chúng ta chỉ nên hiểu điều đó như vậy. Ngài hơn mọi người bởi vì Ngài giải thoát. Như vậy Ngài tuyên bố điều gì và ca ngợi điều gì? Tức là ca ngợi sự giải thoát, chính như vậy. Theo kinh điển để lại mà chúng ta cũng tin như vậy, Ngài từ lúc sinh ra Ngài đã có một cái phong cách tuyệt vời. Bên ngoài cái dung mạo của Ngài tuyệt đẹp. Trong những bài kinh còn nói lại có một đoạn kinh như là ông Sonadanda đến nói chuyện với Phật, ổng là một người Bà-la-môn, ổng có dắt theo một người cháu trai rất là đẹp. Thì trong đoạn kinh có ghi thế này:
[7:34]Ở đây cái người cháu Angaka của tôi có cái dung mạo tuyệt đẹp, ngoại trừ Sa-môn Gotama thì không ai đẹp bằng cái người cháu của tôi. Một chi tiết nhỏ nhưng mà mình hiểu rằng dung mạo của Đức Phật thật là tuyệt vời, thật là đặc biệt. Ngài có cái phong cách khác người từ nhỏ là trầm tĩnh, đạo đức, hiền lành, trong cái khiêm tốn và uy nghi. Nghĩa là có thể nói cái kết tinh của những đức hạnh đều tập trung vào cái con người mà khác nhau tuyệt đối này. Dĩ nhiên như chúng ta biết là từ thuở nhỏ Ngài được nuôi trong cái sự sung sướng, giàu sang tột bậc, bởi vì cha Ngài là mắc nợ Ngài nhiều kiếp. Nói theo nhân quả, khi mà Đức vua Tịnh Phạn quá thương yêu Ngài,
[8:31]quá kỳ vọng nơi Ngài, nên lo lắng cho Ngài đủ mọi điều thì chúng ta phải hiểu trên nhân quả, nghĩa là ông đã mắc nợ Ngài rất nhiều. Có một lần trong cái kinh Bổn Sanh, Đức Phật có kể lại những cái ân nghĩa của ngài đối với cha mẹ trong một lần mà cha mẹ ngài cũng là vua, bị giặc đánh, chạy trốn vào trong cái đường hầm, có ngài đi theo và bị đói. Và ngài tự sát để lấy thịt mình cho cha mẹ ăn, được sống sót mà sau này mới phục thù trở lại, phục hồi lại cái ngôi báu. Rất nhiều, rất nhiều như vậy. Cho nên bây giờ cái ân nghĩa giữa vua Tịnh Phạn với ngài nó là vô hạn vô biên rồi. Cho tiền cho bạc còn dễ trả,
[9:15]còn cho cả cái mạng sống của mình thì cái đó không thể đền được. Nên ông thương yêu ngài tột bực. Mà giữa cảnh giàu sang sung sướng cực kỳ như vậy, ngài vẫn khắc khoải đi tìm một cái gì đó. Nó là một sự thúc đẩy bí mật từ bên trong. Nếu chúng ta lui lại từ cái thuở bé, từ cái thuở mà ngài được cái lời tiên tri của vua A Tư Đà, quý phật tử có nhớ đoạn đó không? Thì đức vua mới nhờ nhiều vị Bà-la-môn mà giỏi coi tướng đến xem ngài, thì ông tiên A Tư Đà là một người có thần thông, đã tiên đoán Đức Phật... thái tử sau này sẽ là một vị Phật đắc giác ngộ để mà cứu vớt muôn loài. Còn ông chỉ tiếc rằng ông bỏ thân này ông sinh lên cõi trời
[10:07]xa xôi mà không còn được gặp Phật để nghe giáo lý. Nên ông cho đó là điều bất hạnh của ông, rồi ông khóc, ông có lệ ngài. Cái cuộc đời của ngài từ thuở nhỏ lớn lên trong kinh được ghi lại là ngài sống trong cảnh giàu sang sung sướng. Về sau này có một vị Thượng tọa viết lại cái đoạn đời đó, nói rằng ngài siêng đi làm việc thiện, là đi vào làng vào xóm tìm những người nghèo để mà giúp đỡ họ, nhưng mà theo kinh thì điều đó không có. Theo kinh là chỉ như thế này. Cuộc đời ngài, ngài trải qua hai cái cực đoan. Lúc còn trong hoàng cung thì ngài hưởng thụ trọn vẹn mọi thế cảnh. Vinh hoa phú quý đó, sự sung sướng của một bậc đế vương mà không ai bằng được.
[10:57]Mà đức vua cha cố ý ngăn không cho ngài tiếp xúc với cái cảnh đau khổ bên ngoài, sợ ngài động tâm mà bỏ đi tu như những lời tiên tri trước đó, cố gắng giữ ngài lại để mà ngài nối tiếp trị vì cái ngôi báu. Đó là một cái cực đoan. Tuy nhiên, ở cái cương vị của một vị vương tử, ngài được học hành, ngài học các triết lý, các kinh điển thời đó, ngài học võ, học các phương pháp cai trị dân, về văn hóa dĩ nhiên là ngài rất là giỏi. Ngay ngôn ngữ, ngài có thể ngài biết nhiều ngôn ngữ, được học tập như vậy. Mình điểm qua như vậy thì chúng ta thấy là ngài được cái may mắn, cái cơ hội, một cái đời sống đặc biệt hơn tất cả chúng ta trong cái khung cảnh đế vương đó.
[11:51]Đó là điểm thứ nhất. Thứ hai là là một vị thái tử được mọi điều thỏa mãn mà ngài vẫn giữ được cái đạo đức tuyệt vời, cái phong thái trầm lặng uy nghi như là một bậc triết gia có cái nhìn sâu sắc và không thỏa mãn, tâm tư luôn luôn khát khao cái gì đó. Chúng ta nói lại, coi đây là cái điểm đặc biệt của Đức Phật. Mình đánh giá một con người cái căn cơ của họ đó là do cái sự thúc đẩy âm thầm bên trong của họ. Ví dụ quý phật tử ngồi đây, có một người nào đó mà tự nhiên cứ thiết tha về cái nghề làm thuốc, cứ muốn làm sao mình phải làm thuốc cứu người, tức là người này đã có cái duyên về vấn đề đó, chắc chắn là sẽ nghiêng về đó, đi học về đó để thành tựu cái đó.
[12:44]Nên cái nhân quả của mình nó nằm từ trong cái tâm tư sâu kín của mình rồi. Rồi có những người tự nhiên cái họ thích làm nhà văn thì đó là sự thúc đẩy từ bên trong tâm của họ, cứ phải hướng theo cái đó, nên cái nhân quả nó nằm từ trong tâm. Thì Đức Phật ở đây cũng vậy. Cái đặc biệt của ngài là mặc dầu được học mọi cái thuyết lý, mọi học thuật, nhưng mà cái thúc đẩy bên trong ngài, ngài đi tìm cái tuyệt đối. Ngài không thỏa mãn với những giáo lý mà ngài đã học được. Cái sự thúc đẩy ngấm ngầm... cái sự thúc đẩy âm ỉ nó thôi thúc ngài phải đi tìm cái gì đó, còn cái khung cảnh giàu sang sung sướng này,
[13:26]ngài nói không phải là cái đích của cuộc đời. Chúng ta cũng nghe giảng rằng ngài có chứng kiến được cái bốn cảnh: sinh, già, bệnh, chết của con người để rồi phát tâm xuất gia thì thật ra đó chỉ là những cái gợi ý cuối cùng thôi. Chứ từ lúc nhỏ nơi bản chất của một Đức Phật tương lai, cái khát khao đi tìm tuyệt đối là điều không thể thiếu được. Ở đây chúng ta nhìn lại mình, chúng ta sẽ thấy sở dĩ mà cái căn cơ mình không có lớn là cái mục đích của mình á nó nhỏ mà mình vội thỏa mãn. Chỉ cần đánh giá điểm đó là biết cái người này có căn cơ nhỏ. Ví dụ như là một người đi tìm đạo, gặp được một ông thầy dạy cái giáo lý
[14:17]nào đó nghe cao siêu, mình có thực hành được một số điểm và mình thỏa mãn, mình cho đây là hay, thì ngay đó biết rằng cái căn cơ của mình là nhỏ hay lớn? Là nhỏ. Cái hay của Đức Phật là cái không tự mãn. Những điều mà ngài tiếp nhận, ngài học hỏi không bao giờ ngài thỏa mãn. Mà không bao giờ tự mãn, không cho mình là hay, là đủ. Đó là cái điểm để một người mà đi tới cái tuyệt đối hoàn toàn. Như khi ngài xuất gia rồi cũng vậy, ngài đến học với hai bậc đạo sĩ lỗi lạc thì trong vài ngày ngắn ngủi ngài tiếp nhận được hết giáo lý và đạt được cái trình độ như những cái vị đạo sĩ đó. Khi vị đạo sĩ đó tuyên bố ngài bằng họ
[15:03]thì ngài tự bên trong ngài, ngài biết chưa phải tuyệt đối và ngài từ giã ra đi. Đây là cái điểm mà chúng ta không thể bằng được Đức Phật ở điểm này. Ví dụ như chúng ta đến gặp một bậc thầy dạy chúng ta tu, rồi chúng ta đắc đạo, chúng ta có thần thông, vân vân, được những cái gì mà ông thầy ổng khen, ổng nói: "Rồi, con đã bằng thầy, con đã việc tu tập đã xong." Thì ngay đó chúng ta chấp nhận cái lời khen đó và đứng đó, giữ lại ở đó. Mà đây chúng ta thấy cái trí của Đức Phật nó biểu hiện cái chỗ này là được ông thầy chấp nhận, khen rồi mà ngài biết liền đây chưa phải là viên mãn, là cái tuyệt đối mà ngài muốn đi tìm nên ngài từ giã ra đi.
[15:49]Đây là một cái đặc biệt của Đức Phật. Nói cái chỗ này á chúng ta phải là người trong cuộc, chúng ta mới cảm thấy cái hay này. Thường là chúng ta không đủ cái trí tuệ để cảm nhận được cái hay hơn là cái mình đã có. Ví dụ như là mình có cái trí tuệ của một bác sĩ thì mình không cảm nhận nổi cái trí tuệ, cái trình độ của một người mà tiến sĩ y khoa là cái gì, mình chưa cảm nhận nổi. Trừ trường hợp mình có cái trình độ đó để mà hiểu được. Thì một người đứng ở lớp năm thì không hiểu được cái người ở lớp chín, cái trình độ, cái thông minh của họ; cái người lớp chín không hiểu được cái người 12, cũng như không hiểu được cái người có trình độ đại học.
[16:35]Còn Đức Phật, ví dụ ngài đạt được hết những gì của ông thầy dạy mà ngài biết liền chưa phải là xong. Chính cái mà tự biết đây chưa phải tuyệt đối, chúng ta gọi là một việc rất đặc biệt của Phật mà hiếm có người có được. Ở đây như vậy, cái điều này cho chúng ta một bài học gì trong sự tu hành? Cho chúng ta một cái điều là vĩnh viễn không bao giờ chúng ta được tự mãn với cái mình đã có, luôn luôn biết rằng cái chân lý mà mình hướng về còn rất xa. Chúng ta là những người phật tử, chúng ta đi tìm lẽ thật, đi tìm cái sự giải thoát. Như ngày hôm nay, chúng ta đến chùa thọ Bát quan trai, hiểu được nhân quả, được quý thầy hướng dẫn ngồi thiền,
[17:23]làm được một số công đức thì chúng ta phải thấy rằng cái chân lý cuối cùng mà buộc lòng tất cả chúng ta phải hướng tới còn rất xa, còn rất xa. Mà chuyện chúng ta làm được hôm nay chỉ là như một cái vốc nước nhỏ trong đại dương, như một nắm cát nhỏ trong sa mạc. Mà khi chúng ta có cái ý thức đó đó, tức là chúng ta có cái căn cơ lớn, chúng ta cho mình một cái căn cơ lớn để chuẩn bị từ đây và nhiều kiếp về sau mình vươn lên nữa, vươn lên nữa chứ không có đứng lại. Đây là một điểm. Khi mà Đức Phật xuất gia, thì quý phật tử có nghe cái đoạn ngài xuất gia phải không? Trong cái đêm mà ngài vượt thành đi á, có nghe kể không?
[18:10]Là sau một buổi tiệc vui, ngài không có vui. Khi mọi người đã yên giấc rồi, thì ngài lặng lẽ ngài đi qua các phòng nhìn mọi người nằm ngủ, tự nhiên một sự thôi thúc bí mật, ngài cảm thấy cuộc đời nó giả tạm. Sau một cái trò vui, sau một cái tiệc vui thì người ta mệt mỏi, rã rời. Nó không phải là cái niềm vui trường cửu lâu dài. Nó chỉ là che đậy một cái nỗi đau khổ, một cái vô thường biến đổi. Ngài quyết định ngài ra đi. Ngài lay cái người giữ ngựa là Xa Nặc, thắng ngựa để ngài vượt thành ra đi. Lúc đó thì trong kinh ghi lại, cũng như chúng ta đánh giá được là cái lòng thương của ngài đối với gia đình là còn nhiều hay ít?
[18:58]Còn hay là đã hết?
[19:02]con. Ngài rất thương cha, thương vợ, thương con, nhưng mà cái lòng thương yêu chúng sinh, cái khát khao đi tìm chân lý nó mạnh hơn nên Ngài ra đi. Đây là cái điểm để chúng ta đối chiếu đánh giá lại mình. Có nhiều phật tử chúng ta có gia đình rồi, sau đó chúng ta phát tâm tu thì nó sẽ có cái tư tưởng như thế này: là nói nếu mà còn cái ái thì không thể tu được. Đây là cái câu nói hơi vội vàng, bởi vì sự thật không phải vậy. Không thể nào với một người chưa giải thoát mà kêu họ bỏ hết tình thương yêu gia đình được, dù cái người đó đi xuất gia rồi. Ví dụ như thấy cái ông đó có vợ có con, sau đó ông phát tâm xuất gia rồi nói rằng:
[19:54]"Hễ vào chùa rồi là phải chấm dứt tình thương yêu vợ con", điều đó không bao giờ được, không bao giờ được. Lòng thương yêu nó nó là cái tự nhiên nó sâu kín tận trong thâm tâm của con người mà chưa chứng đạo không ai vượt qua được. Chỉ có điều thế này: cứ để cho cái vị mới xuất gia đó yên tâm tu hành ha. À gia đình thì hỗ trợ, đừng có chuyện gì xảy ra, rồi người đó được nhiếp tâm tu tập. Cho đến khi nào chứng đạo thì tự nhiên cái tình thương yêu gia đình nó tan vỡ, nó biến thành tình thương yêu tất cả chúng sinh. Lúc đó nó mới tự nhiên mà có, còn ngay bước đầu mà bảo rằng phải bỏ hết gia đình tình thương yêu để tu là điều không có thực, không có thực tế.
[20:39]Thì quý phật tử cũng vậy, là ta đến với đạo Phật không buộc chúng ta bỏ hết cái tình thương yêu gia đình, chúng ta vẫn thương yêu mọi người, chúng ta vẫn thương yêu như là chúng ta đang ở trong cái vị trí hiện tại. Như quý bà thì vẫn tiếp tục thương chồng, thương con, thương cháu mình, như các ông vẫn thương vợ, thương con, thương cháu mình. Chuyện bình thường, chỉ có một điều chúng ta hiểu đạo hơn để có cái là thương đạo hơn. Chúng ta phải thương đạo hơn thương gia đình thì lúc đó bắt đầu tu. Nên ở đây chúng ta thấy cái vai trò của những người thân trong gia đình nó giúp đỡ cho một người tu dễ thở lắm, rất là nhiều.
[21:22]Ví dụ như là trong khung cảnh cái người cư sĩ tại gia mà phát tâm tu, không xuất gia, người này không có duyên xuất gia, chỉ tu tại gia thì rất cần cái khung cảnh gia đình êm ấm, rất cần cái khung cảnh gia đình êm ấm mới tu được. Chứ còn ông đó ổng phát tâm tu mà gia đình lộn xộn, rối loạn, chia cách thì chắc chắn sẽ không tu được. Cho nên người ta phải yên tâm trong tình thương yêu gia đình rồi sau đó người ta tìm cái đạo tiếp. Đó là cái áp dụng cho người tại gia á. Cho nên ví dụ như là các ông mà thấy vợ mình, con mình mà tu á thì mình hỗ trợ bằng cách là giữ cái khung cảnh gia đình cho êm ấm.
[22:07]Cũng như các bà mà thấy chồng mình phát tâm tu hành, tu tại gia đó thì cố gắng giữ cái khung cảnh gia đình cho êm ấm. Đó là sự hỗ trợ. Bởi vì đừng có nghĩ là mấy ông mê đạo rồi bỏ bê vợ con, không có đâu. Cái người biết đạo người ta vẫn thương yêu mọi người, nhưng mà chỉ có cái là lòng mến đạo nó mãnh liệt hơn để đi tìm cái cao siêu hơn. Và thí dụ như người thân của mình tìm được đạo rồi thì cái người lợi ích trước nhất vẫn là gia đình của mình. Chúng ta thấy khi Đức Phật Ngài thành đạo rồi, Ngài độ gần hết sạch cái dòng họ Thích Ca đi tu luôn. Độ gần hết sạch, đến nỗi cha Ngài cuối cùng cũng chứng A-la-hán luôn.
[22:53]Còn vợ Ngài, con Ngài là tất cả đều chứng đạo hết. Thêm một điểm đặc biệt nữa: có một số giáo chủ khi bước ra lập thành vị đạo thì không hóa độ được cái người trong gia đình mình nên người ta nói là "bụt nhà không thiêng". Ngay Chúa Giê-su cũng than là không ai có thể làm tiên tri ở cái quê hương của mình, phải đi chỗ khác mà làm giáo chủ, làm tiên tri. Nhưng riêng Đức Phật thì khi mà Ngài trở về quê hương thì Ngài độ sạch hết tất cả mọi người của mình. Đây là điểm đặc biệt mà khó có vị giáo chủ khác bằng được. Như vậy, ở cái điểm này trong đạo Phật thì cái tình thương yêu gia đình và tình thương yêu chúng sinh nó không có
[23:36]chống trái nhau lắm, nó bổ sung cho nhau thôi. Đó là điều chúng ta hiểu cái tích cực của đạo Phật cũng như cái dung hòa của Đức Phật.
[23:48]Bây giờ chúng ta nói sơ qua cái đoạn Ngài tu khổ hạnh. Quý phật tử đã nghe cái đoạn mà Đức Phật tu khổ hạnh chưa? Ở trong cái thời gian đó thì Ấn Độ quan niệm rằng người mà muốn giải thoát là phải hành cái xác này, phải hành cái xác này mới có thể đi tìm được cái chân lý, mới thành một bậc A-la-hán. Và Ngài quyết định thực hành khổ hạnh. Rồi Ngài thực hành nín thở tới nỗi mà đầu Ngài đau buốt lên, hoặc là Ngài nhịn ăn. Ta thấy khi mà lông lá trên người Ngài rụng hết, cái da bụng nó đụng tới xương sống, Ngài nói là: "Khi ta rờ cái da bụng thì ta đụng cái xương sống, mà rờ cái lưng thì đụng cái da bụng."
[24:32]Cái chân tay Ngài khẳng khiu, còn như là cái bộ xương. Ngài tính đi xuống bờ sông uống nước thì ngã nhào bởi vì quá yếu đuối. Sau nhiều năm tháng thực hành khổ hạnh như vậy, Ngài cảm thấy tinh thần càng lúc càng suy sụp bởi vì thể chất nó yếu đuối, thân và tâm nó ảnh hưởng với nhau. Nên Ngài nói khổ hạnh không phải là con đường đi tìm chân lý. Ngài nói trong kinh là: "Ta đã thực hành một cái khổ hạnh mà trước đây không ai thực hành nổi và chắc chắn sau này cũng không còn ai thực hành nổi mà ta vẫn không tìm thấy được chân lý thì như vậy có thể kết luận: Khổ hạnh không đưa đến chân lý." Cái ý chí của Ngài nằm ở chỗ này nữa là đặc biệt đó,
[25:19]là từ một cái sự hưởng thụ tột bậc mà Ngài dám từ bỏ, đó là cái vĩ đại của Ngài. Và khi bước sang đời sống khổ hạnh, Ngài thực hành một cái khổ hạnh với cái ý chí mà không ai có thể làm theo được nữa, mãi mãi muôn đời về sau không ai làm theo được nữa. Đây là cái vĩ đại thứ hai của Ngài, nghĩa là Ngài đi tìm chân lý bằng mọi cách và cách nào Ngài cũng quyết liệt và xuất sắc mà vẫn không tìm thấy chân lý. Có một lần khi mà Ngài đắc đạo cho năm anh em Kiều Trần Như thì Ngài nói rằng: "Ta đã tránh được hai cực đoan, ta đã từ bỏ được hai cực đoan. Thứ nhất là đời sống vương giả sung sướng tột cùng", Ngài từ bỏ để đi tu, cái thứ nhất.
[26:07]"Cái thứ hai, ta từ bỏ được cái khổ hạnh sai lầm." Mặc dầu cả hai cái đó Ngài là người đều tột một cách khủng khiếp, rất dữ dội. Lúc mà Ngài hưởng thụ hoàng cung thì không ai bằng được, thì sung sướng cũng không ai bằng được, mà Ngài thực hành khổ hạnh từ đây mãi mãi về sau không ai làm được nữa cái khổ hạnh như Ngài. Mà với cái ý chí sắt đá, Ngài làm được, đây là cái vĩ đại của Ngài. Nhưng mà Ngài từ bỏ. Khi Ngài từ bỏ cái khổ hạnh thì năm anh em Kiều Trần Như bỏ Ngài ra đi, nói rằng Sa-môn Cồ-đàm đã từ bỏ cái con đường cao thượng của mình để mà lui trở lại đời sống xa hoa. Thì cái đoạn chuyện này cho chúng ta một bài học, cho chúng ta bài học là thế nào?
[26:58]Là chúng ta dễ phê bình người khác trên cái chủ quan thiên kiến của mình vì chúng ta chưa hiểu hết vấn đề. Như sau này quý phật tử cũng vậy, mình gặp ai làm cái việc làm nào đó, mình đánh giá người ta sai, coi chừng coi chừng đó chỉ là cái chủ quan của mình mà cái chê bai của người ta nó dễ tổn phước lắm. Cho nên chúng ta dè dặt là đừng nói xấu, đừng chê bai ai cả vì dễ dễ bị rơi vào sai lầm chủ quan. Nhưng mà mấy ông bà già mình dễ mắc cái lỗi đó, dễ mắc cái lỗi là hay gán cái xấu cho người khác. Do nhiều năm nhiều tháng mình sống á, dễ phê bình người trẻ lắm, dễ gán cái xấu cho người khác, dễ suy diễn thêm.
[27:51]Như ví dụ mình thấy người đó trưa ăn cơm, cái lát hai ba giờ cái thấy xuống bếp lục cơm. Đúng không? Mình nói làm sao? Mình nói làm sao?
[28:08]Người ta khuyên... nhưng mà những cái việc phạt về, phạt về họ xuống bếp đồ này kia họ đem cơm cho chó ăn này kia, hay là quên cho chó ăn xuống bếp bới cơm ra. Nhưng mình vừa thấy cái mình lật đật mình phê bình, mình kết luận liền. Có rất nhiều cái trường hợp như vậy. Rồi thấy cái ông đó ổng ví dụ như ổng sáng đi làm, tối đi làm, ổng chạy làng chuyện này làm chuyện kia, thấy không? Kì. Kì.
[28:34]Nhưng mà đâu hiểu được những cái việc làm của ổng. Ví dụ thấy ổng sáng ổng đi làm ở bên cơ quan này, chiều đi làm ở cơ quan kia coi chừng có khi ổng đi làm việc từ thiện ở đâu á. Ổng đi làm việc cơ quan có một nửa, còn phân nửa ổng chạy vô cái hội đoàn nào đó ổng làm việc từ thiện. Mình chỉ mình không hiểu hết mà đánh giá. Giống như năm anh em Kiều Trần Như khi thấy Đức Phật từ bỏ con đường khổ hạnh cái từ bỏ, bỏ Ngài ra đi luôn. Đó là cái bệnh chung của chúng sinh. Đánh giá chủ quan. Rồi lúc đó Ngài cô đơn một mình, không có ai hầu hạ hết. Ngài mới không theo quan niệm truyền thống nữa. Là tu theo như bên Ấn Độ là phải khổ hạnh mới đắc đạo. Ngài từ bỏ con đường đó.
[29:15]Ngài ăn uống lại bình thường, đi khất thực ăn uống lại. Ngài có sức khỏe rồi thì Ngài mới chuẩn bị một lần quyết tâm, một lần quyết tâm. Tại vì nghĩ Ngài nghĩ rằng chính cái con đường thiền định đó cái con đường tâm á mới đi đến tuyệt đối chứ không phải con đường ép xác, cũng không phải là con đường lý luận, mà con đường đi tìm cái định, cái định sâu thẳm, vượt hết cái bao nhiêu tầng lớp tâm thức mới đem đến sự giải thoát, sự giác ngộ trọn vẹn. Khi mà Ngài chuẩn bị cái tư tưởng đó đó thì tự nhiên có một cái người thiếu nữ, một người phụ nữ ở trong làng chế ra cái bát sữa gì đặc biệt. Đây cũng là một cái nhân duyên có lẽ là một cái lời nguyện
[29:59]nhiều đời của cái người phụ nữ đó đối với Đức Phật. Có lẽ bà đời xưa cũng có phát nguyện gì khiến bà làm được một cái công đức đặc biệt mà khó ai có cái duyên để làm. Bà đem bát sữa nhiều dinh dưỡng đó đến cúng cho Ngài. Đức Phật thọ dụng chén sữa xong, Ngài cảm thấy cơ thể khỏe mạnh, sung mãn. Ngài mới đến, Ngài tắm rửa bờ sông Ni Liên Thiền, Ngài cầm cái bát, Ngài thả dòng sông, Ngài phát nguyện: Ngài nói: "Nếu mà Ngài thành Phật thì cho cái bát này trôi ngược dòng." Thật sự là cái bát nó trôi ngược dòng sông lại. Đó là nó khẳng định cho cái quyết tâm của Ngài sẽ thành được. Ngài đến ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, Ngài phát nguyện:
[30:44]"Nếu ta không đạt được sự giải thoát giác ngộ thì ta thà xương tan thịt nát, ta không rời khỏi chỗ này." Ngài mới bắt chân kiết già ngồi, nhiếp tâm vào định luôn. Ngài áp dụng cái định này là do do hai yếu tố: một cái yếu tố là từ thuở nhỏ lúc mà Ngài đi cùng với phụ vương, đi xem cái lễ hạ điền á, lễ khai đất vào mùa xuân để chuẩn bị cày cấy, chính vua Tịnh Phạn cũng phải đi xuống ruộng cày cấy để làm cái lễ hạ điền, cầu nguyện cho năm đó được trúng mùa, nông dân đồ theo rất là đông, hàng cung nữ, vua quan, quan chức đồ đều theo vua để mà làm lễ hạ điền. Cảnh cũng có lẽ là cũng mở cái hội vui vân vân.
[31:30]Nhưng mà lúc đó thái tử không màng, thái tử đến ngồi bên một gốc cây, Ngài kéo chân kiết già và Ngài nhiếp tâm. Do công đức nhiều đời nên ngay lúc đó Ngài nhiếp tâm vào sơ thiền, Ngài hưởng cái trạng thái an lạc đó rất là đặc biệt. Rồi cái bóng mặt trời từ từ, từ từ nó ngả qua bên hướng Tây. Mới đầu Ngài ngồi á thì bên phía hướng Tây cái bóng nắng nó che qua đây. Nhưng đến khi mà mặt trời nó đã ngả qua hướng Tây rồi thì đáng lẽ chỗ Ngài ngồi là bị nắng, nhưng mà tự nhiên trong cái sức mầu nhiệm gì không hiểu, cái cây nó vẫn đứng yên cái bóng của bên đó, nó phủ bóng qua để cho Ngài không bị nắng.
[32:10]Thì lúc đó vua Tịnh Phạn thấy những cái cảnh kỳ lạ vậy mới lễ Ngài một lễ, lạy Ngài một lạy. Đó là lần lần thứ hai mà Đức vua lạy Ngài. Còn hồi nhỏ, khi mà Ngài được ông tiên A Tư Đà xem tướng, Đức vua cũng đã lạy Ngài một lần, cái nhân duyên kỳ lạ mà chính vua Tịnh Phạn không hiểu nổi, cái lòng kính trọng từ ở bên trong nó phát ra như vậy. Rồi lúc mà theo các vị đạo sĩ Alara Kalama với ông Udaka Ramaputta để mà tu thì Ngài cũng đã tập định được rồi. Nên Ngài trở lại cái con đường định đó Ngài đi. Ngài nhiếp hết tất cả vào trong định luôn. Ngài nói: "Đi tìm chân lý không thể bằng sự hưởng thụ, không thể bằng sự khổ hạnh,
[32:58]không thể bằng cái lý luận, mà bằng con đường tâm, con đường định của tâm. Khi nào vượt hết cái tâm thức này, dùng cái sức định vượt hết tâm thức này, người ta sẽ tìm thấy được cái tuyệt đối, tìm thấy được sự giác ngộ." Ngài nhiếp tâm vào định thì trong kinh ghi lại là Ngài ngồi bất động nhập định suốt 49 ngày.
[33:23]Khi mà Ngài vào định thì cái đoạn mà Ngài thành đạo cũng được khá nhiều vị diễn tả, nhưng có những vị thì diễn tả theo như kinh, có những vị diễn tả theo cái ý nghĩ của mình, vân vân. Ở đây, chúng ta sẽ giải thích cái đêm thành đạo của Đức Phật.
[33:43]Trong kinh kể là có đoạn mà ma vương nổi lên chống Ngài, hiện ra đủ thứ để mà dụ hoặc Ngài, Phật tử có nghe đoạn đó không? Có, phải không? Đầu tiên là họ trong cái cảnh thiền định đó, Ngài thấy binh ma kéo tới, buộc Ngài phải rời khỏi tòa. Rồi không được, rồi dùng những cô gái đẹp đến múa hát để mà khiêu gợi Ngài. Rất là nhiều cái như vậy mà Đức Phật không lung lay. Thật ra cái đoạn đó á, chúng ta phải hiểu như thế này: Ở đây quý Phật tử đã nghe cái bài năm ấm rồi, phải không? Những kỳ trước đã nghe giảng rồi, năm ấm, những lớp tâm thức của mình á, khi chúng ta vào định thì chúng ta vượt qua cái gì trước nè?
[34:36]Vượt qua cái ấm nào trước? Sắc ấm, phải không? Rồi gì? Hai, ba là gì? Thọ, tưởng, rồi hành, rồi thức. Các bà cụ nghe tai này qua tai kia hết rồi.
[34:52]Tức là cái lớp tâm thức mình nó sâu dần, sâu dần. Mà trong đó thì cái tâm mình nó chia làm hai lớp: ý thức và và gì?
[35:05]Và vô thức. Chính ở trong vô thức này đó, cái bản năng của con người nó giấu ở trong đó. Ví dụ như một người mình thấy như người đó là tham thì cái tham nó nằm ở đâu? Nằm ở ý thức hay vô thức? Nằm ở đâu? Nằm ở cõi ý thức hay ở vô thức? Tham nó nằm sâu, nó nằm trong vô thức. Ví dụ như là tôi đây, chắc lòng tôi có tham. Nhưng mà hiện tại lúc này nè, có ai thấy tôi tham không? Không ai thấy hết á. Tại vì sao? Tại vì tôi ngồi giảng rất là đàng hoàng, đạo mạo, thấy không? Hồi nãy ai mời tôi ăn, tôi cũng: "Thôi, thầy không ăn đâu kì quá." Ví dụ vậy. Rồi ai mà đem tiền lại cho, tôi nói: "Thôi kì quá bà." Phải không? Ví dụ vậy.
[35:59]Thấy tôi cũng đàng hoàng lắm, không có ai mà nghĩ rằng tôi tham. Tại vì sao? Tại vì cái tham nó đâu có nằm ở ngoài ý thức, nó nằm ở trong vô thức. Nên một người bình thường chính họ không thấy họ tham, mà người ngoài không thấy họ tham, đụng chuyện mới thấy họ tham. Như một người nổi sân cũng vậy, ví dụ người đó có cái nóng tính, nhưng mà nãy giờ ngồi đây có ai nóng không? Không ai nóng, ai cũng hiền hiền gần như Phật vậy đó, phải không? Gì đó, nhưng mà cái người ngồi một bên chừng thúc thúc cùi chỏ, phải không? Ngồi một bên thúc thúc cùi chỏ là mình mới quay qua trợn mắt, chứ còn bây giờ thì mình đang hiền quá. Như vậy cái sân nó nằm ở đâu?
[36:37]Nằm tuốt trong vô thức chứ đâu. Cái ý thức bên ngoài mình nó tỏ vẻ hiền lành nó giống như ông Phật vậy đó, nhưng mà cái trong vô thức nó đủ tham, sân, si hết trơn. Thì một người mà nhập vào định cũng vậy. Mới đầu mà nhập vào cái ý thức á, tâm mình nhiếp lại được rồi đó, tâm định lặng lẽ rồi thì không thấy gì xảy ra. Nhưng mà tiếp tục định đi, tiếp tục nhiếp tâm vào định đi, từ từ nó vào sâu vào sâu tới cái vô thức. Lúc đó mới đối diện những cái bản năng của mình trong đó. Những bản năng, những cái chấp ngã, cái tự cao, rồi tham lam, oán hờn, sân hận, đủ thứ trong đó đó. Mình vào được vô thức rồi mới thấy mặt mày của nó.
[37:22]Cái đoạn diễn tả mà Đức Phật trong khi nhập định thấy vô số ma vương đến để mà nào là tham, sân, si, ái nọ đến để mà dụ Ngài thì chúng ta phải hiểu là Ngài nhập định vào được tới vô thức và Ngài đối diện được những cái tham, sân, si, ái nó giấu ở trong cái vô thức đó. Đây là một bài học cho tất cả chúng ta, chứ sự thật thì tôi nghĩ Đức Phật không có đâu. Tại vì Ngài nhiều kiếp, quá nhiều kiếp Ngài tu tập quá thuần rồi. Ngài xuất hiện cái kiếp cuối cùng để quyết định thành một Đức Phật, thành một bậc giác ngộ vĩ đại nhất của nhân loại thì cái tập khí tham, sân, si trong vô thức của Ngài có thể là dường như không còn.
[38:05]Tuy nhiên, cái điều Ngài kể lại như một cái ẩn dụ thì chúng ta vẫn phải theo Ngài mà phục lại để rút kinh nghiệm cho sự tu hành của chính chúng ta. Khi Ngài nhập định, từ bỏ ý thức Ngài vào được vô thức, bắt đầu Ngài đối diện với cái tham, sân, si, ái của mình, nghĩa là ma vương kéo rần rần rần rần tới đó. Rồi ở đây chúng ta nghe cái diễn tả đoạn này: Lúc đó đoàn binh ma mới dọa Đức Phật phải bỏ cái tòa này, ngừng tu không là nó giết. Đức Phật ngồi lặng lẽ không trả lời, Ngài vẫn tiếp tục giữ cái định của mình. Rồi cái binh ma đó mới dùng cái tên lửa bắn Ngài, thì những mũi tên nó bay tới Ngài, thì ai nhớ lúc đó là sao?
[38:49]Là sao?
[38:56]vừa tới, tới gần ngài thì những cái mũi tên biến thành bông hoa, rơi lả tả lả tả quanh ngài. Đó, cái đoạn trong kinh sách nó diễn tả như vậy. Thì cái điều này cho chúng ta bài học gì? Điều này nó ẩn dụ điều gì? Ẩn dụ điều gì?
[39:17]Nghĩa là chúng ta đối trị cái tham, cái sân của mình bằng phương pháp này, bằng phương pháp mà Đức Phật đã làm nha. Đây để dạy cái cách đó, hướng dẫn quý Phật tử cách đó, sau này khi mình tâm mình tham thì mình sẽ bắt chước Đức Phật. Ví dụ như là bây giờ chúng ta nhìn cái bó hoa này, quý Phật tử nhìn bó hoa này thấy nó ở ngoài hay là nó ở trong tâm mình? Ở ngoài phải không? Thì bây giờ, ví dụ như bó hoa này bỗng nhiên nó bị tàn, hoa này thì tàn không nổi,
[39:56]chỉ có dơ thôi chứ không có tàn. Ví dụ đi, ví dụ bó hoa này nó tàn thì nó có đụng tới cái tâm mình không? Có không? Có. Có hả? Sao dễ sợ vậy? Nó ở trên bàn ngó lằng nó đụng nó chưa đụng tới được cái da mặt của mình nữa thì làm sao mà đụng tới cái tâm mình, phải không? Nhưng mà tại sao tâm mình động? Tại sao tâm mình động? Tại vì mình tưởng nó là nó là chính mình. Nó là của mình. Chứ nếu biết cái này của thầy trụ trì đây thì thôi nó tàn kệ nó. Thiệt cũng vậy nữa chứ bộ. Cho nó tàn, héo gì đó. Ví dụ vậy. Ví dụ như là cái ly này nó rớt nó bể. Nó đâu có đụng tới con người của mình, phải không? Nó là cái bên ngoài.
[40:40]Thì cái ly bể rồi thầy trụ trì ráng chịu, mua ly khác, ví dụ như vậy. Nhưng mà nếu mình nghĩ là cái ly này của mình, nó bể một cái, hết, phải không? Mình cảm thấy nó động tới mình. Cho nên, khi mà mình thấy cái bên ngoài mà tưởng là của mình á, thì mình sẽ bị xao động theo nó, phải không? Còn nếu mình biết nó không phải của mình, của ta, thì không có gì dính líu tới mình nữa, tâm mình sẽ không động. Đó, đó là cái nguyên tắc để mình đối trị cái tham sân. Bây giờ, một lúc nào đó cái sân nó nổi lên. Ví dụ như quý Phật tử đang ngồi nghe ở đây, đang ngồi nghe như vậy đó, bỗng nhiên có người nào đó ở đằng sau thò tay cú đầu cái cốp.
[41:18]Lúc đó cái mình nổi cái gì lên? Nổi khùng lên phải không?
[41:26]Ngoảnh quay lại chửi "con cái nhà ai mà hỗn láo" này nọ, đang nghe pháp mà như vậy, thì thấy cái sân nó nổi lên phải không? Có không? Có. Bây giờ, đổi chiều nè, quý Phật tử xem cái sân đó nó nằm ở ngoài giống như cái bó hoa. Thì sao? Tự nó thì cái sân đó là sao? Nó tiêu. Còn nếu mà mình không thấy nó là cái bên ngoài, không thấy nó là cái đối tượng bên ngoài, thì mình nghĩ nó là mình đó, thì mình sẽ làm sao? Mình quay qua quay lại trợn mắt la hét phải không? Nghiến răng trèo trẹo lên. Ai ai ai, tìm ra để mà cú lại người ta. Còn nếu cái tâm nó nổi lên, mặc dầu nó nổi lên bên trong mình, ở trong óc mình, trong tim mình, mà mình vẫn nhìn thấy nó
[42:11]là cái bên ngoài, thì mình thắng được nó, nó tan. Đây là cái nguyên lý, đây là cái phương pháp mà Đức Phật đã áp dụng. Khi Ngài nhập định vào trong vô thức, Ngài thấy được cái tham, cái sân lúc đó, nhưng mà Ngài thấy nó là cái bên ngoài, giống như đám ma bên ngoài. Khi tên nó bắn vô Ngài bất động, Ngài thấy cái bên ngoài thì lập tức nó biến thành gì? Biến thành hoa rơi. Thì cũng vậy, khi mà cái sân nó nổi lên trong lòng quý Phật tử, quý Phật tử bất động nhìn cái sân đó, chớ đừng có theo cái sân đó mà quay qua trợn mắt nhìn người ta. Như vậy, chúng ta nhớ nha, khi cái sân nó nổi lên thì mình mình nhìn cái gì?
[42:53]Mình nhìn cái gì? Mình trầm lặng nhìn lại cái sân, chứ đừng có trợn mắt nhìn qua cái người đối diện. Nhớ điều đó! Lát nữa quý Phật tử về nhà, rồi có một người nào đó, ví dụ mình đang đi đường, cái họ trên lầu cao họ quăng cái bịch rác xuống, họ không có chấp hành cái chủ trương không xả rác của Nhà nước hiện nay, họ ở trên lầu họ quăng cái túi rác xuống, trúng mình, thì lúc đó mình nhìn cái gì trước? Đừng có trợn mắt nhìn lên lầu họ mà nhìn lại cái sân của mình nó vừa nổi lên. Thì đó là chúng ta áp dụng được đúng cái điều mà Đức Phật đã làm trong đêm mà Ngài thành đạo, trong 49 năm mà Ngài tu tập.
[43:37]Có một lần lâu quá tôi cũng quên, lúc đó tôi đang đi trên đường, cũng đi chiếc xe, cái không biết có chuyện gì đó mới thắng cái xe lại dừng bên lề đường, thì tôi nghe cái "bê" trên đầu cái, thì cái bịch rác nó rớt cái "bịch" xuống à. Mới đầu mình tưởng là ai quen biết một thầy hay cho cái này cái gì, kêu ghé vào chụp không kịp, chưa kịp cảm ơn, nhưng mà nhìn lại là cái bịch rác. Hôm nào quý Phật tử đi ngang cái tiệm bán vàng, mình thấy trong đó có bày vàng á, thì lúc đó như vậy thì mình nhìn cái gì?
[44:13]Nhìn vàng hả? Lúc đó mình nhìn cái gì? Đúng rồi. Mình nhìn cái tham của mình coi nó khởi động lên như thế nào, chứ đừng có nhìn vàng. Thì đó là cái ta làm, Phật đã áp dụng trong đêm thành đạo. Ở đây nó khó, nó đòi hỏi mình một cái ý chí. Nó khó, nhưng mà nó nhẹ nhàng. Bây giờ nói quý Phật tử nghe, thí dụ nói mấy cụ già đây, tuổi già sức yếu, làm việc gì cũng có con cháu đỡ đần, mà hôm nào đó nói cất chùa, cái cụ tới cụ trộn xi măng, trộn hồ, khiêng gạch đồ để cho thợ xây. Mình làm thợ chính không được thì làm thợ phụ, phụ hồ, để mà góp một phần công đức cho cái ngôi chùa, có nơi cho các Phật tử tới tu học, nghĩ như vậy.
[45:03]Thì lúc cái mà khiêng gạch, khiêng đá cực khổ như vậy, với một người tuổi già sức yếu thì cái đó có ý chí hay không có ý chí? Có ý chí phải không? Đó. Thì cái việc nặng nhọc vậy mình làm nổi, nhưng mà cái ý chí mà nhìn cái sân, cái tham, cái tự kiêu, tự ái của mình á, chỉ cần ráng nhìn nó như cái bên ngoài, cái đó nó không đòi hỏi ý chí. Mà cái đó dễ hay khó? Nó không đòi hỏi mình phải gồng cái tay này lên. Không có, không phải cần gồng gì trơn á. Nó nhẹ hơn là việc mình xách 10 cục gạch đi vô cho thợ xây nữa. Ví dụ như có người đến, mình đang nói chuyện, mình đang ngồi mình góp ý, nói chuyện đạo, nói là:
[45:48]"Hôm nay Phật Đản sắp tới, ngày rằm..." Cái nọ, cái có một người buông lời: "Cái này anh, chị không rành đâu. Anh ngồi nghe tôi nói nè." Rồi cái nói giựt tay rồi đó. Lúc đó cái gì nó khởi lên bên trong mình? Sân. Chưa nói tới cái sân, ví dụ cái người này hiền hơn chưa tới nỗi sân, thì là cái gì? Cái gì? Tự ái. Tự ái, phải không? Cái tự ái nổi lên. Thì như vậy, mỗi lần mà ví dụ có ai họ cướp cái ý kiến của mình, họ chê mình, thì mình nhìn cái gì? Mình đừng có trợn mắt dòm họ nữa ha, mà mình trợn mắt dòm cái tự ái của mình nó nổi lên. Thì như vậy, những cái mũi tên mà người ta bắn vô mình thì nó biến thành cái gì?
[46:33]Biến thành bông hoa liền. Ngay đó tự nhiên mình nghe cái mùi hương thơm của đức hạnh nó ngạt ngào. Còn mà nếu lúc đó mình không có nhìn lại cái tự ái của mình, mà mình trợn mắt mình dòm người ta, thì cái mũi tên nó bay vô nó thành cái gì? Nó ghim vô mình và mình đau đớn không tả được, đau đớn không tả được, phải không? Đó. Người ta chê mình một câu mà mình trợn mắt mình dòm người ta, thì nó thành cái mũi tên nó ghim vào trong cái tâm hồn mình, nhức nhối bảy, tám ngày chưa hết. Còn ngay cái câu mà người ta chê mình, mình mỉm cười mình nhìn lại cái tâm tự ái của mình, thì những cái lời chê của người ta nó biến thành những cái bông hoa.
[47:22]Làm cho cuộc đời mình nó ngát hương, nó tràn ngập hạnh phúc. Dễ không? Dễ.
[47:33]Như Đức Phật như vậy, trong cái đêm mà Ngài thành đạo, Ngài nhập định sâu vào vô thức, Ngài đối diện với những cái bản năng đó rồi sau đó bắt đầu Ngài mới đến được cái tuyệt đối này. Khi vượt hết cái tâm, hết chấp ngã, Ngài đạt được Niết bàn tuyệt đối. Đây chỗ này gọi Ngài là giác ngộ. Để chúng ta diễn tả cái giác ngộ, cái này có giảng trong cái bài nói về Tứ Diệu Đế rồi, quý Phật tử nhớ không? Trong bài Diệt đế. Giờ nhắc lại ha. Mấy cụ già nghe tai này bay qua tai kia hết trơn. Giờ nhắc lại. Khi mà Ngài, tâm của Ngài đã vào được tính tuyệt đối thì nó có những cái điều này xuất hiện. Trước hết là toàn bộ cái thời gian vô lượng kiếp nó hiện bày, hiện bày.
[48:25]Ngài nhớ lại vô lượng kiếp của mình. Ngài nhớ lại trong kiếp trước, Ngài sinh ở đâu, tên là gì, cha mẹ là ai, Ngài làm những cái hạnh nghiệp gì, rồi kiếp trước nữa Ngài làm gì, tên họ ở đâu, cha mẹ những chi tiết, rồi kiếp trước nữa, kiếp trước nữa. Nghĩa là vô lượng kiếp Ngài bày hiện, Ngài nhớ hết. Những cái nhân, những cái quả Ngài thấy hết toàn bộ. Đó là cái gọi là gì? Cái đấy gọi là gì? Túc mạng minh. Cái thứ hai là
[49:02]Thiên nhãn minh nghĩa là cái này. Trong cái mà toàn bộ cái thời gian nó bày hiện á thì ngay lúc đó toàn bộ không gian, toàn bộ tương quan của chúng sinh, toàn bộ hạnh nghiệp của chúng sinh Ngài thấy hết trơn. Do đó nó hiện lên cái nhân quả, Ngài thấy được, khám phá được cái luật nhân quả. Từ trong cái bản thể tuyệt đối của Niết bàn, Ngài thấy được cái sự chi phối của luật nhân quả. Cho nên sở dĩ là chúng ta khó cái giải thích luật nhân quả là như vậy á. Cho nên nhiều người thấy rằng luật nhân quả cũng hay thiệt, nó làm cho người ta tin vào cái đạo đức, người ta sẽ tránh cái ác để mà làm cái điều thiện, nhưng mà vẫn khó giải thích.
[49:48]Nhiều người nói thì thấy luật đó cũng hay nhưng mà không biết sao giải thích, không thấy nó hợp lý chỗ nào. Bởi vì đâu? Cái khó là vì nó nằm trong cái bản thể tuyệt đối này. Mà Đức Phật khi Ngài vượt hết cái tâm thức, Ngài đến được cái tuyệt đối, Ngài mới thấy được nhân quả. Cái thấy được nhân quả, cái tương quan nhân quả của chúng sinh gọi là Thiên nhãn minh. Ngài mới nói rằng: "Như một người đứng trên cái lầu cao ở ngã tư đường thấy mọi người đi qua đi lại. Cũng vậy, Như Lai thấy hạnh nghiệp của tất cả chúng sinh, người đã làm cái hạnh nghiệp gì và phải tái sinh về nơi đâu; những người làm việc ác,
[50:33]bất thiện, không kính trọng các bậc thánh, bòn xẻn, tà hạnh, nói dối, ăn cắp, vu khống thì sinh về cõi ác, đoạ xứ, địa ngục; còn những người làm việc thiện, có chánh kiến, biết kính trọng các bậc thánh, rộng rãi, bố thí vân vân, thì sinh về cõi trời, cõi người, những cõi lành để hưởng hạnh phúc". Đức Phật nói điều đó thông suốt. Đó là Thiên nhãn minh. Và ngay lúc mà Ngài vào trong bản thể tuyệt đối thì Ngài chứng được cái thứ ba là gì? Thứ ba là gì? Thứ ba là gì? Lậu tận minh.
[51:20]Lậu tận minh có nghĩa là
[51:24]chấm dứt hết tất cả những cái
[51:30]phiền não, vô minh, chấp ngã, sai lầm, những cái mà như một hạt bụi nhỏ, Ngài gạt thoát hẳn. Như chúng ta vậy, ví dụ như người mình biết đạo Phật, đi chùa tu thì mình thấy mình sống cuộc đời khá đạo đức. Mình không giận ai, không ghét ai, với mọi người mình cũng thương, mình cũng biết bố thí, biết giữ giới, làm lành lánh dữ, là có ai có cái gì sai lầm, mình không có chỉ trích mà thường phớt lờ, thường tha thứ. Thì một người như vậy là tốt không? Tốt chứ sao không tốt, quá tốt chứ gì nữa, phải không? Một người Phật tử mà được như vậy thì quá đạt yêu cầu. Tuy nhiên, tận trong thâm sâu của chúng ta,
[52:22]chúng ta còn rất nhiều cái vô minh, chấp ngã, sai lầm, tham sân nhỏ nhỏ, bí mật còn ẩn giấu ở trong đó, rất tế, rất tế. Nhưng một người đắc đạo như Đức Phật vào được tới bản thể tuyệt đối thì tất cả những cái sâu kín nhất, dù cái sự sai lầm nó như một hạt bụi nhỏ, hoàn toàn biến mất. Cái khả năng đó gọi là Lậu tận minh. Với một điều nữa, điều nữa là Ngài trong cái đêm thành đạo đó mà có được túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh thì Ngài có một cái nhận định về cuộc đời, về con người là cái gì? Cái gì? Học rồi. Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế mà đầu tiên nói là cái gì? Cuộc đời là khổ. Khổ. Đó là cái chân lý đầu tiên mà Đức Phật khám phá.
[53:30]Nơi cái chân lý đầu tiên này nhiều người đã hiểu lầm và phê phán đạo Phật là một cái đạo tiêu cực. Vì chỉ nhìn thấy cái khía cạnh khổ của cuộc đời mà không nhìn thấy khía cạnh vui của cuộc đời. Ở đây quý Phật tử có thấy khía cạnh vui của cuộc đời không? Có không? Có không? Có chứ, cũng nhiều lắm chứ không phải không. Những cái ví dụ như là... Thí dụ mua tờ vé số trúng độc đắc vui lắm chứ không phải không? Thấy một cụ già đi đâu ngoài đường chống gậy rồi có ai khen: "Trời ơi, cụ dạo này dạo này đẹp lão quá!". Vui không? Vui chứ. Nó có nhiều cái lặt vặt trong cuộc đời để gọi là cái niềm vui. Ngoài những cái nỗi khổ như là gì:
[54:20]tương tư, thất tình, tự tử, nghèo nàn, thất nghiệp gì đó, thất học, thất nghiệp, thất tình, thất bại gì đó mà làm mình đau khổ, phải không? Nhưng mà cũng có nhiều cái làm mình vui. Thì như vậy đạo Phật nói rằng: "Cuộc đời là khổ", có phải là chủ quan không? Có phải là chủ quan? Phải không? Đạo Phật phải yếm thế tiêu cực không? Điều này nhắc lại nha, hôm trước chúng ta giảng trong Tứ Diệu Đế rồi. Có nghĩa là khi mà Ngài thấy được cái niềm vui của Niết bàn á, cái niềm vui vĩ đại của Niết bàn, Ngài mới thấy rồi tất cả những trò vui của thế gian chỉ là xao động, bất an và lặt vặt, tạm bợ. Do thấy được Niết bàn rồi mới biết tất cả cái mà thế gian
[55:08]này, dù gọi là vui dù gọi là khổ đều là bất an, xao động, tạm bợ, phù phiếm, vô nghĩa và phải trả giá.
[55:17]Như bây giờ mấy đứa trẻ trẻ tụi con thích muốn đi hát karaoke cho vui thì phải sao? Phải trả cái giá phải không? Một giờ mấy ngàn đó, thấy không? Thì cũng phải năn nỉ tới ba tới mẹ hay là phải để dành tiền. Nghĩa là mình muốn có một cái trò vui nào thì đều phải trả một cái giá. Đó là cái Đức Phật gọi là khổ đó. Cái bản chất cuộc đời này tuy gọi là vui vẫn là khổ, chỉ có Niết bàn mới là niềm vui vĩ đại thực sự, viên mãn, vĩnh hằng. Chính vì điểm này. Đó, như vậy chúng ta thấy đêm thành đạo Đức Phật là một sự kiện vĩ đại không phải một cái suy luận, mà Ngài nhập định sâu vượt hết tâm thức để rồi Ngài thắng được tất cả bản năng sâu kín trong vô thức.
[55:59]Ngài vượt hết cái chấp ngã tới được tuyệt đối, trong cái tuyệt đối này Ngài chứng được Túc mạng minh: thấy được vô lượng kiếp; Ngài chứng được Thiên nhãn minh: thấy được cái tương quan nhân quả của tất cả chúng sinh; và Ngài chứng được Lậu tận minh là Ngài vĩnh viễn chấm dứt vô minh, phiền não.
[56:20]Đó là đêm thành đạo của Ngài. Từ cái đêm thành đạo này, cả cuộc đời 45 năm còn lại Ngài giáo hoá không biết mệt mỏi. Mà sự giáo hoá của Ngài chúng ta nghe thấy rất là kỳ. Hiện nay trên thế giới thì
[56:46]so sánh cái số tín đồ mà theo đạo thì đạo Phật gần như là ít nhất,
[56:53]hơn 200 triệu tín đồ. Đạo Hồi là hơn 800 triệu. Đạo Thiên Chúa hơn 900 triệu, gần một tỷ. Đạo Phật chỉ hơn 200 triệu. Chúng ta thấy rằng đạo Phật có trước đạo Thiên Chúa do Chúa Giê-su đó là hơn 500 năm. Mà đến ngày hôm nay thì số tín đồ chỉ bằng được 1/5 của đạo Thiên Chúa. Như vậy rõ ràng là cái sức truyền đạo của đạo Phật bị bị kém. Kém so với người ta. Đạo Hồi lại còn sau đạo Thiên Chúa nữa, nghĩa là sau đạo Phật rất xa mà hơn 800 triệu tín đồ.
[57:42]Quý Phật tử biết tại sao, biết tại sao? Phải nói rằng cái sự truyền bá đạo Phật không hiệu quả bằng tôn giáo khác, phải không? Cho nên tín đồ mới ít. Không hiệu quả bằng. Ở điểm nào?
[58:00]Trong khi chúng ta nói rằng đạo Phật mình là ưu việt hơn các tôn giáo khác, là chân lý. Đức Phật mình là một đấng giác ngộ mà bao nhiêu triệu năm thì mới có một lần, bao nhiêu mấy chục ngàn năm mấy trăm ngàn năm mới xuất hiện một lần. Và giáo lý đạo Phật là vô cùng cao cả. Thế nhưng mà con số thực tế thì thua các đạo khác. Phải chăng sự truyền bá đạo Phật không hiệu quả khi mà trên thế giới đạo Phật là chân lý? Ai biết tại sao?
[58:40]Tại vì cái phương pháp đạo Phật, phương pháp của mình là tự giác. Đi đạo là phải tự giác. Còn các đạo khác thì họ có cái phương pháp là hoặc là bắt buộc, hoặc là dụ dỗ, hoặc tổ chức lôi cuốn đủ thứ. Thí dụ như bên Thiên Chúa là cha mẹ là Thiên Chúa đẻ con ra là phải đi rửa tội liền, thế thì thêm tín đồ. Đứa nhỏ lớn lên mà đi hỏi vợ lấy chồng này, vợ chồng phải theo đạo liền là thêm tín đồ nữa. Như vậy là bảo đảm là đàn cháu đẻ ra là phải theo đạo Thiên Chúa luôn, nó lớn mạnh. Đồng thời là họ đến họ giúp đỡ những nơi nghèo khổ, cho một chai, cho bao gạo ăn. Nói đây là: "Chúa cho con, Chúa cho con." Còn cha đem cho chứ không phải
[59:29]Chúa nữa nhưng mà đòi Chúa, rồi con theo về với Chúa. Mình không dám nói họ là dụ dỗ nha, đây hoàn toàn tôi không có nói, ai nói nói chứ tôi không có nói đâu. Nghĩa là nhờ sự giúp đỡ mà nên người ta theo đạo Thiên Chúa. Còn bên Hồi giáo thì cương quyết hơn. Hồi giáo cương quyết hơn, Hồi giáo á là họ cầm cuốn kinh Koran một bên, cầm cây gươm một bên, mà đưa kinh Koran ra họ mới nói là: "Tin không?" "Không tin." Dao đâm liền. Còn tin không? "Tin." Rồi, cho cuốn kinh, tặng kinh đem về nhà đọc. Mỗi tối cầu nguyện thánh Ala, vậy cũng truyền đạo được nữa. Cho nên nó lan từ cái vùng Ả Rập, lan cùng cùng cùng xuống hết cả cái Trung Đông gần hết là đạo Hồi.
[1:00:15]Chưa đủ, cái nói cái phía Âu châu mà đạo Thiên Chúa nhiều quá, họ cử binh đi họ đánh, họ tiêu diệt các đạo Thiên Chúa để họ truyền đạo họ đi. Truyền qua tới Nam Tư, qua tới Nga, qua tới các lãnh thổ Liên Xô cũ. Rồi bây giờ chạy, còn phía Nam thì chạy về tới Indonesia, lọt qua Philippines bây giờ mới có các toán Hồi giáo cực đoan mà đang bắt cóc tống tiền tùm lum đó. Cho nên họ truyền bá bằng cái con đường bạo lực. Khi mà đã tín đồ rồi thì họ rất là giúp đỡ nhau. Nghĩa là người này đạo Hồi, người kia đạo Hồi thì họ bố thí giúp nhau nhiều lắm. Nhưng mà không phải là đạo Hồi mà chống họ là họ giết liền.
[1:00:55]Bởi cái phương pháp đó mà làm cho các tôn giáo kia họ truyền bá rất nhanh. Còn đạo Phật mình thờ ơ, có khi là cha mẹ là Phật tử mà con cái không theo. Có không? Có. Hiện nay rất nhiều. Hiện nay vậy, khi tôi đến thăm những người gia đình Phật tử này kia, nghĩa là cha mẹ: "Thầy... Thầy... con mời... con mời Thầy vô." Cúi đầu chào, còn đứa con liếc... Giống như cái người hành tinh nào mới tới vậy đó, nó trừng mắt nhìn. Cho nên vì cái do cái tự giác á mà đạo Phật mình truyền bá chậm, không hiệu quả. Nhưng mà chúng ta hãnh diện vì điều đó. Bởi vì chúng ta dám nói điều này: Đừng có dùng phương pháp nào hết,
[1:01:47]với những người hiểu biết, chúng ta có quyền đem giáo lý mình thử thách trước sự phán xét của tất cả mọi người, không cần dùng sự dụ dỗ hay bắt buộc nào hết. Chúng ta dám làm việc đó. Còn các tôn giáo khác có những cái giáo điều của họ họ không dám thử thách với khoa học. Ví dụ khi khoa học tiến bộ, họ phải che lấp. Ví dụ khi một tôn giáo nói rằng Thượng đế đã sinh ra con người, Trời đã tạo ra trái đất và bắt nghĩa là tinh tú, mặt trời, mặt trăng quay quanh trái đất này, đó là Trời đã định. Tới khi mà khoa học tiến bộ thì nói ngược lại thì mình thấy là nó bị giáo điều tôn giáo đó nó bị lung lay, bị lung lay.
[1:02:39]Còn đạo Phật mình nói rằng sao? Tất cả do nhân duyên, đạo đức của mình đặt trên cái nhân quả nên mình dám thách đố với khoa học. Như Einstein, nhà bác học lỗi lạc nhất của thế kỷ này, ông bác học Einstein có nghe tên không? Bác học nổi tiếng nhất, ông nói thế này: "Cái tôn giáo của tương lai đó phải là một tôn giáo mà thỏa mãn được hai vấn đề: tính tự nhiên và cái tâm linh, khoa học tâm linh. Phải có hai điều đó, tôn giáo của tương lai. Chứ không thể chỉ nói cái chuyện thần bí tâm linh không mà quên đi cái khoa học tự nhiên đang tiến bộ. Một cái tôn giáo tương lai phải là tôn giáo có cả cái học tự nhiên và cái tâm linh." Rồi ông kết luận:
[1:03:26]"Đạo Phật đáp ứng được cái đòi hỏi này." Đó là nhà bác học Einstein. Nên chúng ta thấy rằng tương lai về sau, khi mà cái thế giới đã gắn bó lại, mọi người hiểu biết nhau, đạo Phật và các tôn giáo khác được phơi bày trước mặt mọi người thì chúng ta vẫn hãnh diện là chúng ta không lạc hậu vì thời đại mà càng lúc càng có nhiều người trí thức ca ngợi đạo Phật. Như Bertrand Russell, nhà toán học cũng là nhà triết học, ông không theo tôn giáo nào hết. Thì người ta hỏi ông tại sao không theo đạo Chúa thì ông trả lời bằng một bài nói rất là dài. Mà người ta hỏi ông: "Bây giờ nếu ông theo đạo thì ông theo đạo nào?" Ông nói:
[1:04:18]"Nếu phải chọn một tôn giáo để theo thì tôi chọn đạo Phật." Rất nhiều vị như vậy. Như là thánh Gandhi. Thánh Gandhi của Ấn Độ đó, người mà đã giành lại độc lập cho Ấn Độ bằng con đường bất bạo động đó, Phật tử có nghe không? Có phải không? Ông nói rằng, ông là người đạo Ấn Độ nha, đạo Hindu đó chứ không phải đạo Phật, ông nói rằng đạo Hindu của ông đó đã mắc nợ rất nhiều đối với đạo Phật bởi vì những lý luận ở trong đạo Hindu của ông đã vay mượn rất nhiều từ những giáo lý của đạo Phật. Chúng ta cũng ca ngợi như vậy. Những người Tây phương hiện nay họ nói rằng đạo Phật là đạo của thế kỷ 21. Họ nói rằng sang thế kỷ 21 các tôn giáo khác
[1:05:19]sẽ bị lu mờ bởi sự tiến bộ của khoa học. Khoa học càng tiến chừng nào thì khoa học đã chứng tỏ rằng những cái giáo điều của các tôn giáo đó sai lầm. Nhưng khoa học càng tiến bộ chừng nào thì đạo Phật càng đúng chừng nấy. Và đạo Phật luôn luôn tiếp tục đem lại lợi ích cho con người chừng nấy, không có bị mất tác dụng, luôn luôn lợi ích. Họ đã nói như vậy. Từ từ hiện nay rất nhiều người Tây phương đang quy y theo đạo Phật. Kỳ rồi có một cầu thủ Ý cũng theo đạo Phật nữa. Phật tử có nhớ không? Nhớ tên không? Hồi nãy không theo dõi bóng đá hả, đâu có nhớ. Là dân Ý, dân Ý là dân theo đạo Thiên Chúa hết nha, vì Giáo hoàng Vatican nằm ở đó.
[1:06:06]Lúc mà dân Ý mê bóng đá quá thì mới nói cái ông cầu thủ đó, ổng đá cho đội Ý thắng á thì bảo cả nước Ý theo đạo Phật luôn. Cũng hên, hên sao bữa đó Chúa làm cho ổng thua. Thế, thế thôi dân Ý không theo đạo Phật nữa, họ tiếp tục theo đạo Thiên Chúa. Mấy ngày đó Giáo hoàng cũng hồi hộp. Hôm đó bóng đá vô gôn vài trái nữa thì dân Ý theo đạo Phật hết luôn. Ở đây, cái con đường giáo hóa của đạo Phật, chúng ta nhìn lại cái sự vĩ đại của Phật ở chỗ này: Là Ngài để lại một cái giáo lý trong đó, trong đó thuyết phục, lý luận, hướng dẫn, không có bắt buộc. Chính vì đó, chính vì một cái giáo lý mà chỉ thuyết phục, chỉ giải thích,
[1:06:53]chỉ hướng dẫn, cho nên từ triều đại này sang triều đại khác không ai bắt bẻ được đạo Phật, không ai bắt bẻ được. Đây là cái vĩ đại mà Đức Phật đã sáng suốt nhìn thấy trước. Nếu vào ngày đó, Đức Phật với cái uy thế của mình, cái thế lực của mình là vua chúa đều ủng hộ phải không? Dân chúng cũng ủng hộ Ngài hết, thế lực Ngài rất mạnh. Ngài cứ tuyên bố: "Vua phải bắt buộc dân theo đạo Phật hết" thì ông vua ổng dám làm không? Dám làm lắm chứ. Tại ổng quy y, ổng là đệ tử Phật mà. Mấy ông vua là đệ tử Phật mà. Nên Đức Phật mà cố vấn ông vua nói bây giờ Đại vương ra lệnh cho thần dân phải theo đạo Phật hết thì có thể làm được chứ phải không?
[1:07:39]Nhưng mà rồi chúng ta thấy khi cái triều đại đó bị sụp đổ thì cái tôn giáo mà cái triều đại đó ủng hộ sẽ bị gì? Phê phán, chỉ trích và có khi bị tàn phá luôn. Đúng không? Cho nên Đức Phật cái hay của Ngài là Ngài không có dựa vào cái thế lực của chính quyền, nhưng mà Ngài đi bằng con đường đạo đức, lý luận, giải thích, hướng dẫn một cách trong sáng và tự giác. Cho nên mấy ngàn năm trôi qua, hết chế độ chủ nghĩa này tới chế độ chủ nghĩa khác, hết ông vua này tới ông vua khác, vẫn không có ai có thể mở lời phê bình đạo Phật được. Đây là cái sáng suốt của Ngài mà cái lợi ích đến ngày hôm nay chúng ta còn thụ hưởng.
[1:08:27]Đó là cái sự giáo hóa của Ngài, bây giờ nói tới cái sự gia hộ. Thí dụ quý Phật tử đi đến chùa vô thắp nhang Phật rồi khấn nguyện cái gì? Nói thử coi. Kìa thử nói nho nhỏ thôi, thôi, tôi nghe đi. Nói nho nhỏ đừng nói lớn, bảo đảm không có nói cho ai nghe đâu. Cầu cái gì? Cầu cái gì? "Thưa thầy, cầu khỏe mạnh." Cầu Đức Phật gia hộ cho con khỏe mạnh, phải không? Con của con đó thi đậu. Chiều nay con trúng số. Chồng con không giở qué. Bán hàng cũng buôn may bán, bán đắt. Sang năm con cất được cái nhà lầu. Rồi nghĩa là đó là những điều mà mình, mình nói thầm thầm thầm thầm Đức Phật nghe. Thì nếu mà quý Phật tử đi ra ngoài Bắc,
[1:09:16]vào cái chùa vào cái ngày lễ hội thì mình sẽ nghe những người miền Bắc của mình đó, nào giờ rất có khiếu đạo Phật lắm, quỳ thắp nhang: "Cầu cho con", nghĩa là mấy bà đi mua bán mà, "đi tốt về tươi, đi thì mua được tốt về tươi, đi chín về thành mười." Mà nói lớn lắm chứ không phải, nghĩa là như vậy. Nghĩa là cầu cho chư Phật gia hộ lại cho mình. Có một lần, có một người, một Phật tử hỏi tôi: "Thưa thầy, con ngạc nhiên thấy sao có nhiều người đi chùa mà càng
[1:09:55]đi càng dữ?" "Thì lý do gì con thấy bà đó hồi xưa đó, 10 năm trước bả chưa đi chùa bả hiền, mà 10 năm nay bả đi chùa bữa nay bả dữ dằn, cả xóm không ai chịu nổi bả hết. Con không biết tại sao?" Quý
[1:10:07]Phật tử biết tại sao không? Đố ai biết. Mà có không? Có không? Nói câu cho mạnh đi. Tại sao? Cái nguyên nhân nằm ở chỗ nào?
[1:10:26]Nguyên nhân nằm ở chỗ này, là khi mình quỳ trước Phật thắp nhang mình cầu nguyện á, mình cầu nguyện cho ai? Mình cầu nguyện cho cái mạng bọc của mình, phải không? Như vậy nó là cái gì? Nó là cái gì? Phải là sự ích kỷ không?
[1:10:48]Đúng ra một người biết đạo mà vị tha đó, mình quỳ trước bàn Phật, mình cầu nguyện cho ai? Bá gia bá tánh, phải không? Cho chúng sanh, cho mưa thuận gió hòa. Chiều nay xin mưa cho mọi người nó mát mẻ, như vậy. Cầu cho mọi người, thì như vậy mỗi lần mình cầu nguyện cho mọi người thì cái lòng vị tha của mình nó, nó lại nở. Còn đây ngược lại, mình cầu nguyện cho mình, cứ mỗi ngày đi chùa mà cầu nguyện cho mình thì sự ích kỷ nó thêm một chút, mỗi ngày như vậy. Thì 10 năm nó cỡ nào? 10 năm nó cỡ nào? 10 năm thì mình bay vô đây nó nở gấp 10 lần nữa. À, thì lúc đó mà cái ích kỷ nhiều thì nó kéo theo những cái gì nhiều?
[1:11:36]Tham, sân, si, tự ái, đủ thứ. Đó là lý do tại sao mà mình đi chùa càng lâu thì bắt đầu mình càng càng dữ.
[1:11:48]Như vậy, quý Phật tử suy nghĩ lại, tuy chưa cần tu gì hết, mình đi chùa mình cầu nguyện cho bá gia bá tánh, tức đã là tu, rằng tiêu trừ cái ích kỷ mà tăng trưởng cái vị tha, thấy không? Rồi bây giờ mình nói lại về sự gia hộ của Phật. Ở đây có ai cầu nguyện Phật mà thấy được linh thiêng không? Có không? Có không? Có, phải không? Như vậy là Phật có gia hộ không? Có không? Có. Chắc chưa ai bị bắt. Vậy là Phật có gia hộ. Thì chúng ta so sánh giữa cái gia hộ của Đức Phật với cái gọi là cứu rỗi của các tôn giáo khác nó khác nhau chỗ nào? Khác nhau chỗ nào? Nó khác nhau chỗ này: ở các tôn giáo khác á yêu cầu tín đồ
[1:12:41]đặt niềm tin nơi Thượng đế hay nơi vị giáo chủ, và sau đó thì vị giáo chủ đó sẽ chịu trách nhiệm cuộc đời mình, từ đây mình khỏi phải lo nữa, chết họ sẽ đưa mình về về thiên đường. Đó là cái cứu rỗi, cái nghĩa cứu rỗi. Còn ý nghĩa gia hộ nghĩa là sao? Gia tức là thêm, hộ là phụ, phụ thêm chút đỉnh chứ không có nhiều. Như vậy cái gia hộ có phải là Ngài bao tiêu cho mình không? Mà Ngài chỉ phụ thêm thôi. Nghĩa là mình phải có cái gì của mình rồi phải không, thì Ngài mới phụ thêm chút đỉnh. Vậy mình có cái gì? Có cái phước. Đúng rồi, chùa này hay thật. Như vậy mình cầu nguyện cái điều gì được hay không á,
[1:13:30]trước hết cái căn bản là cái phước mình có rồi Ngài phụ thêm. Có nghĩa là gia hộ. Cho nên cũng cầu Bồ Tát Quan Âm á mà người cầu linh, có người cầu không linh, đó là điều có thật. Có người mà có làm phước rồi đó, tự nhiên đến lúc chuyện đó có đến, đến cầu nguyện Bồ Tát Quan Âm thì nó xảy ra liền, thấy linh ứng liền, có chuyện, thấy điều có thật. Nhưng một người quá ít phước đi, nào giờ chẳng làm lợi ích cho ai hết thì cầu Bồ Tát Quan Âm cũng không xảy ra đâu. Đó là ý nghĩa gia hộ là đúng là chư Phật có gia hộ, có nha! Chư Phật trong Niết Bàn có gia hộ cho mình, có linh thiêng. Nhưng mà vai trò của mình vẫn là quan trọng. Bởi vì sao?
[1:14:17]Bởi vì luật nhân quả là tuyệt đối. Luật nhân quả là tuyệt đối. Dù là Phật cũng không vượt khỏi luật nhân quả. Chúng ta nhớ cái điều đó. Nên đây là cái ý nghĩa của Đạo Phật khác với các đạo khác là chỗ tôn trọng giá trị của con người. Con người mình chịu trách nhiệm của chính mình chứ không có ai giúp được điều đó hết. Quý Phật tử phải tự đi tìm cái tốt để mà tu, đi tìm cái tốt để mà làm, đi tìm cái tốt để mà sống, rồi từ nơi cái tốt của mình đó, rồi chư Phật mới gia hộ thêm, còn vai trò của chính mình vẫn là cái chủ yếu, vẫn là quan trọng.
[1:15:04]Chúng ta thấy, bây giờ chúng ta điểm qua một vài đặc tính của Ngài, hết giờ rồi. Thời Đức Phật á, các tôn giáo đều tin vào Thượng đế, mà Đức Phật dám bác bỏ Thượng đế. Đây là cái can đảm thông minh của Ngài. Mình bây giờ không dám. Thí dụ như chung quanh mình ai cũng tin có trời, mình không bao giờ dám nói điều đó. Đức Phật thẳng thắn, thẳng thắn nói: "Không có Thượng đế. Không có một Thượng đế để tạo ra muôn loài vạn vật, mà tất cả do nhân duyên và do nghiệp của chúng sinh. Chính con người đã tạo nên tất cả, chính cái nghiệp chúng sinh chứ không phải Thượng đế." Đây là cái thứ nhất. Cái thứ hai, cái vĩ đại thứ hai của Ngài á là Ngài xóa bỏ giai cấp.
[1:15:47]Thời đó cái tín ngưỡng của Ấn Độ tin rằng có giai cấp. Ngài nói: "Không, con người bình đẳng. Con người sai biệt nhau là do phước mà thôi. Con người hơn kém nhau là phước ít, phước nhiều." Như vậy, một người bất kỳ ở dòng họ nào nếu làm phước thì sẽ đạt được cái ưu thế trong xã hội. Còn nếu mà gây tội thì bất cứ giai cấp nào cũng phải bị bắt bỏ tù. Đó là một bài kinh mà Đức Phật đã nói, bài kinh Madhura. Đức Phật nói: "Bây giờ ông nói Bà-la-môn là hơn hết, nhưng nếu người Bà-la-môn này giết người, trộm cắp, tà dâm, vân vân, thì ông làm sao với họ?" Nói: "Dạ, con bắt bỏ tù người đó. Và họ không còn cái danh hiệu Bà-la-môn nữa,
[1:16:32]mà chỉ gọi là một người tội phạm." "Đó, bây giờ không biết người giai cấp nào mà người đó xuất gia tu hành chân chính thì ông đối xử người đó ra sao?" Nói: "Dạ, thì con sẽ cung kính, cúng dường, che chở người đó đúng theo pháp luật." Rõ ràng là chỉ do phước con người mà thôi. Cho nên ở đây là cái vĩ đại thứ hai. Cái vĩ đại thứ ba của Đức Phật mà đến bây giờ các học giả Tây phương còn khen ngợi là thế này: Ngài cho phép hoài nghi cái lời dạy của mình. Trong khi các giáo chủ khác nói: "Lời của ta nói là chân lý, không ai được nghi ngờ. Nghi ngờ là xuống địa ngục. Các ngươi mà nghi ngờ lời của ta thì xuống hỏa ngục,
[1:17:15]bị thiêu đốt, bị quỷ sứ đâm gì đó." Còn Đức Phật nói: "Khoan tin. Khi nghe một điều nào, dù do bậc Đạo Sư khả kính nói lại, dù do truyền thống truyền lại, do chính mình nghĩ như vậy, cũng phải bình tĩnh xem xét lại mọi khía cạnh đến khi nào mà mình thực hành thấy đúng, ích lợi thì hãy chấp nhận cái lời dạy đó." Nên Ngài là một giáo chủ duy nhất trên thế giới mà dám cho phép người đệ tử hoài nghi cái lời dạy của mình. Đây là điều mà các giáo chủ khác không làm được. Mà tại sao? Mà tại sao Ngài dám như vậy? Bởi vì sao? Bởi vì rõ ràng Ngài tin rằng cái chân lý là cái không ai có thể phủ nhận được.
[1:18:00]Dù người đó có xét nét trên nhiều góc cạnh, cuối cùng chân lý vẫn là chân lý. Đó. Cái điều vĩ đại của Ngài nữa là cái đời sống của Ngài cực kỳ đơn giản. Ngài từ là một vị vua cho đến khi thành Phật vô số tín đồ đệ tử đã đông mà người Phật tử tại gia, tín đồ tại gia theo Ngài cũng rất là đông. Trong đó có nhiều vua chúa mà Ngài vẫn giữ kỹ cái đời sống đơn giản không cho vượt khỏi đời sống đó. Đây là cái vĩ đại của Ngài mà đến bây giờ chúng ta khó bắt chước được. Ngài đi lang thang đi bộ lang thang từ nơi này sang nơi kia để mà giáo hóa chúng sinh. Mang theo cái bình bát với những tấm y khoác trên mình đơn sơ.
[1:18:51]Rồi khi xin được thức ăn, Ngài cũng đi khất thực thức ăn như mọi người chứ không phải là phải đòi phải có trai tăng đông đảo, thỉnh thoảng ân cần mới đến. Ngài vẫn đi theo đường phố lang thang, xin được đầy bát, Ngài đi về một cái góc rừng vắng nào đó, ngồi dưới gốc cây mà thọ thực. Thọ thực xong Ngài ngồi thiền. Thiền tới chiều Ngài thong thả, bình an đi về cái tịnh xá nghỉ qua đêm. Đó. Và tùy cơ duyên mà thuyết pháp. Đó là Ngài không một tài sản nào, không cái gì hết. Nên cái chính cái đời sống cực kỳ đơn giản của Ngài làm cho Ngài trở thành vĩ đại. Chúng ta luôn luôn có nhiều nhu cầu mà con người của
[1:19:34]chúng ta hiện nay càng lúc càng nhiều nhu cầu. Chính vì chúng ta nhiều nhu cầu quá mà cái trái đất này nó muốn bể tung lên. Chúng ta phải xài xăng, xài dầu, phải cưa gỗ đóng bàn đóng ghế, phải đục đá cất nhà, phải chế xi măng, chế nhựa, làm thủy tinh. Chúng ta đòi hỏi quá nhiều cho cái nhu cầu của mình, phải không? Chúng ta về nhìn lại coi. Chúng ta đòi có máy lạnh, chúng ta đòi phải có quạt máy. Nãy ngồi không quạt máy là thấy chịu không nổi. Rồi đi dép là từ cái dép cao su tới dép da, dép nhựa rồi tới làm dép xốp cái gì đủ thứ. Nghĩa là cái nhu cầu của con người hiện nay nó quá nhiều và trái đất chịu không nổi.
[1:20:16]Thì Đức Phật cho chúng ta một bài học về cái sự đơn giản. Đơn giản để giữ cái phước của mình mà nó cũng chứng tỏ cái tinh thần mình được giải thoát. Bây giờ khó ai bắt chước được. Dù chúng ta không bắt chước được nhưng chúng ta phải nhớ chúng ta là đệ tử Phật thì càng bớt nhu cầu thì mình càng xứng đáng là đệ tử của một đấng giác ngộ hơn. Như vậy chúng ta hạn chế bớt. Cái điều vĩ đại của Đức Phật nữa là cái sức cảm hóa mênh mông của Ngài. Ví dụ như là nay quý Phật tử ngồi trước mặt tôi thì nhìn tôi
[1:21:01]thì có người ưa cũng có người không ưa lắm. Người mà có duyên á thấy ông thầy này nói cũng lốp bốp nghe cũng đỡ. Lâu lâu mình có buồn ngủ thì ngủ chút nhưng mở mắt nghe tiếp thì cũng đỡ buồn. Cái người mà không ưa đó thì nói thầy này nói khó ưa, người hiểu nhom nhắt nghệ nhìn ke ma túy gì. Nghĩa là do cái phước của tôi không bao nhiêu, cái duyên với chúng sinh ít cho nên mọi người mà nhìn tôi đó cái sự mà cảm mến nó không có nhiều. Còn Đức Phật cái duyên phước Ngài lạ lùng, cái sức cảm hóa Ngài mờ, chúng ta không diễn tả được. Ví dụ như ngày hôm nay thời này chúng ta chúng ta gặp Đức Phật, ví dụ bây giờ chúng ta lui
[1:21:47]lại đi, chúng ta lui lại 2500 năm trước ở Ấn Độ để chúng ta trông thấy Đức Phật ôm bình bát đi ngoài đường thì giờ này chúng ta không có ngồi đây nữa đâu. Không ngồi đây, chúng ta sẽ bị chinh phục bởi cái nhân cách của Ngài, bởi cái oai nghi để mà chúng ta tự nhiên chúng ta phát tâm mãnh liệt tu hành, không có tu lai rai nữa, không có tu hờ hợt, lơi khơi nữa. Tự nhiên chúng ta tinh tấn, phải học, phải tu, phải ngồi thiền, quỳ cách nào đó để đạt được cái sự bình an, giải thoát thật sự. Nhưng mà ngày hôm nay chúng ta kém phước, chúng ta không chiêm ngưỡng được Đức Phật tại tiền. Chúng ta chỉ ngắm bức tượng rồi tùy cái hiểu của mình mà quý hay không quý Phật.
[1:22:36]Cho nên cái sức phát tâm mình đối với đạo không bao nhiêu. Còn thời Đức Phật Ngài xuất hiện rực rỡ trước mắt mọi người bởi cái oai nghi, cái sự thánh thiện. Ngài lặng lẽ ôm bình bát đi trên đường, Ngài không cần nói lời nào đủ để cho mình khởi lên một sự kính ngưỡng vô hạn, vô biên. Cho nên người xưa họ đắc đạo nhanh là vậy, họ dễ tu là vậy. Vì họ có cái lòng kính trọng cao tột đối với bậc Thánh, đối với Đức Phật. Nhờ cái phước đó họ nhanh chóng chứng đạo. Còn đời nay mình không được chiêm ngưỡng cái dung nhan, cái oai nghi, cái đời sống thánh thiện của Phật nên cái sự kính trọng, cái sự phát tâm của mình nó yếu ớt, nó mệt mỏi.
[1:23:21]Nếu chúng ta hiểu cái vĩ đại của Đức Phật, cái sức cảm hóa mênh mông của Ngài, chúng ta cảm phục được Ngài thì sự tu hành của chúng ta nó khác. Cho nên thời đó vậy Ngài hóa độ nhiều người mà bây giờ mình không dám hóa độ như trường hợp mà Angulimala đó, quý Phật tử có nghe không? Tên cướp mà chặt ngón tay người ta đó, có nghe chưa? Có cần phải kể lại không? Hay thôi? Kể sơ chút ha? Là Angulimala là một người thông minh hiếu học, đi học đạo với một đạo sĩ. Cái bà vợ của ông đạo sĩ mê thì Angulimala từ chối. Bà này mới thù, mới nói với chồng là: "Thằng học trò của anh nó dê em." Ông kia giận lên nhưng mà ổng nhịn.
[1:24:13]Ổng mới không có trừng phạt liền. Ổng nói thế này: "Ta có một cái loại bùa phép rất đặc biệt. Nếu con chặt đủ 100 ngón tay út bên phải để làm kết thành xâu chuỗi, ta sẽ truyền cho con cái bí quyết đó." Tức là muốn xô thằng này vào con đường tội phạm và tù đày thôi. Đó, bà nói như vậy. Thế là chàng kia nghe lời của thầy, cầm cây dao ra đứng bên rừng. Rừng vắng ai qua lại là đè chặt tay người ta. Mà ai chống cự nhiều quá thì đâm người ta chết. Đó như vậy. Còn ai không chống cự thì đưa chúng ta chặt bực lấy ngón tay rồi cho đi. Như vậy 100 người, tới 99 người thì mẹ của Angulimala đi qua. Đi tìm con nghe tin con mình phải bị gì ta?
[1:24:54]Bị quan quân vây ráp bắt á. Bà ấy đi tìm con. Angulimala đang trong lúc say máu người, còn cần một ngón tay cuối cùng nữa. Thấy thấy bà mẹ từ xa đi tới thì hăm hở chạy tới để được mà chặt cho bằng được. Ngay lúc đó Đức Phật đi ngang qua. Ngài đi ngang qua giữa hai người. Cái Angulimala đổi hướng rượt theo Đức Phật. Đức Phật cũng đi thong thả thong thả từng bước mà Angulimala rượt theo rượt không kịp. Nói: "Sa-môn ơi, hãy dừng lại!" Nói: "Này Angulimala, Như Lai từ lâu đã dừng lại." Nói: "Ủa, không, ông vẫn đi mà." Đức Phật mới mới đứng lại quay lại nói: "Không, từ lâu Như Lai đã dừng tay sát hại chúng sinh,
[1:25:37]còn ngươi chừng nào ngươi mới dừng tay sát hại?" Những lời ngắn ngủi vậy, Angulimala buông đao, quỳ xuống xin làm đệ tử Đức Phật. Đức Phật hóa độ liền. Sau này ngài cũng đắc đạo. Hoặc là cô gái Amrapali. Amrapali này là một người gọi là một cô gái kỹ nữ, gái giang hồ.
[1:26:03]Mà một người như vậy thì có lẽ là nếu gặp mình mình né xa phải không? Nếu mình là người đàng hoàng mình không dám giao du. Đức Phật Ngài nhìn thấy căn cơ, Ngài giáo hóa độ mà bà ta trở thành đắc đạo được. Rồi rất nhiều người có những người trong cái khốn cùng tột bực, Ngài nâng đỡ dìu dắt vào tu và đắc đạo. Có những người say mê trụy lạc, Ngài giải thích, hướng dẫn, hóa độ rồi cũng đắc đạo. Nên cái sức cảm hóa của Ngài mênh mông như vậy. Và uy danh của Ngài lớn, Ngài vẫn không giữ lại. Vẫn để lại một cái giáo lý kêu gọi sự tự giác, giải thích, hướng dẫn cho người ta hiểu và người ta tự giác đi theo.
[1:26:50]Đó là lý do mà 2500 năm nay, đạo Phật phát triển chậm so với các tôn giáo khác. Nhưng từ đây cho tới 2500 năm sau nữa thì ngược lại.
[1:27:05]Chúng ta tin điều đó. Bởi vì thế giới ngày nay là thế giới có lý trí. Thế giới không có dễ tin. Mà đạo Phật là đạo của lý trí, cho nên từ đây tới mấy ngàn năm trước thì mình thua. Nhưng từ đây tới mấy ngàn năm sau thì tình hình nó sẽ khác. Bởi vì với một thế giới của lý trí thì cái tôn giáo của lý trí sẽ chiếm ưu thế. Mình chào Phật mãi mãi. Nói được những điều đúng và vẫn tiếp tục đem lại được ích lợi cho con người. Cái hay, cái vĩ đại của Đức Phật ở chỗ là có thế lực rất lớn mà không bao giờ sử dụng tới thế lực đó. Ngài không có lợi dụng cái sự tin tưởng, kính ngưỡng đối với Ngài từ vua quan tới các dân gì nọ không dùng đến.
[1:27:54]Vẫn sống cuộc đời đơn giản, vẫn để lại cái giáo lý hiền lành không bắt buộc ai hết. Đây là cái vĩ đại của Đức Phật. Thế còn ví dụ như mình ngày hôm nay, gửi mà mình làm giáo chủ mà được nhiều người kính ngưỡng thì bắt đầu mình bậy bạ liền. Mình sẽ lợi dụng thế lực đó để làm bậy liền. Cái Đức Phật là Ngài từ bỏ được đời sống vương giả. Và sau này khi trở thành Đức Phật, uy thế lừng lẫy, Ngài cũng từ bỏ thế lực đó, tiếp tục sống cuộc đời đơn giản thanh thản, nhẹ nhàng để làm một vị thầy đúng nghĩa, làm một vị thầy dạy dỗ đúng nghĩa mà thôi.
[1:28:37]Còn nhiều điều để chúng ta ca ngợi Đức Phật của chúng ta lắm, phải không? Còn quá nhiều điều. Nhưng mà thì giờ đã hết. Những điều vừa nói ngày hôm nay, chỉ là một vài điểm gợi ý để chúng ta hiểu Đức Phật của chúng ta hơn, để chúng ta chuẩn bị tâm hồn mình đón mừng ngày Phật đản sắp tới, phải không? Sắp tới ngày Phật đản, thì mấy hôm nữa, khi mà đến ngày lễ Phật đản, chúng ta đến làm lễ, chúng ta tới quỳ trước Đức Phật, chúng ta lạy Ngài với một sự hiểu biết sâu sắc hơn, với một lòng kính ngưỡng lớn lao hơn, với một niềm tin, niềm tin yêu trọn vẹn tha thiết, và điều đó nó hứa hẹn cho chúng ta một cái quả báo lớn lao về sau.
[1:29:33]Thì như vậy trước khi dừng bài nói chuyện ngày hôm nay, tôi cầu chúc cho quý Phật tử
[1:29:42]hiểu được sâu sắc về Đức Phật của mình để chúng ta có được phát tâm cầu đạo đúng cái nghĩa của chữ vô thượng, và từ đây và mãi mãi những kiếp về sau, chúng ta luôn luôn thấm nhuần trong cái ánh hào quang mà Đức Phật đã soi sáng từ mấy ngàn năm qua.
[1:30:07]Và chúc quý Phật tử đều an vui, khỏe mạnh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất
[1:30:37]cả, đệ tử và chúng sanh đều