[0:00]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy cô, quý vị đại biểu, quý vị khách quý cùng toàn thể quý vị phật tử thân mến! Lời đầu tiên xin cho phép con là Đăng Giác xin được gửi lời chào cung kính đến sư phụ, xin được gửi lời chào cung kính đến quý thầy cô, quý vị phật tử, quý vị khách quý cùng toàn quỵ cùng toàn quý phật tử thân mến. Kính thưa toàn
[0:26]Kính thưa toàn thể quý vị, tháng Năm gõ cửa đất trời bằng màu tím của hoa bằng lăng và màu đỏ rực rỡ của những tán hoa phượng vĩ. Tại mái già lam Viên Quang, khóa thiền tháng Năm chính là điểm dừng chân cho bao tâm hồn tìm về bến bờ hạnh phúc, an vui. Và trong không khí khóa thiền tình đạo thiêng liêng này, chúng con xin kính mời quý chư tôn đức, quý vị phật tử cùng thưởng thức ca khúc Đồng Dao Hòa Bình, sáng tác nhạc: cố nhạc sĩ Bảo Phúc, thơ: sư phụ Tiến sĩ Thượng tọa Thích Chân Quang, qua phần trình bày của ba ca sĩ nhí Khánh Vy, Khánh Trà, Sĩ Thái biểu diễn. Chúng con xin trân trọng kính mời!
[1:41]Ngàn lời yêu thương gửi khắp muôn hành tinh, rộn ràng vui đón bình minh. Người người bên nhau gìn giữ ngôi nhà chung, với muôn cánh tay tấm lòng.
[2:01]Biển cả bao la và núi vươn trời cao, quanh ta non nước đầy hoa.
[2:10]Cùng là anh em của trái đất đẹp xinh, nắm tay đắp xây thái bình.
[2:20]Giọt lệ tuôn rơi để tim ai sục sôi, người đành ly tán khóc than.
[2:30]Mẹ nhìn con thơ chìm trong khói mờ, che chở tim cha ngẩn ngơ. Rồi ngày mai đây lửa khói không còn rơi,
[2:50]hòa bình hoan ca mọi nơi. Cuộc đời tình yêu hạnh phúc không còn vơi, nỗi vui chiếu soi đất trời.
[3:12]Ngàn lời yêu
[3:24]thương gửi khắp muôn hành tinh, rộn ràng vui đón bình minh.
[3:34]Người người bên nhau gìn giữ ngôi nhà chung, với muôn cánh tay tấm lòng.
[3:43]Biển cả bao la và núi vươn trời cao, quanh ta non nước đầy hoa.
[3:53]Cùng là anh em của trái đất đẹp xinh, nắm tay đắp xây thái bình.
[4:03]Giọt lệ tuôn rơi để tim ai sục sôi, người đành ly tán khóc than.
[4:13]Mẹ nhìn con thơ chìm trong khói mờ, che chở tim cha ngẩn ngơ.
[4:23]Rồi ngày mai đây lửa khói không còn rơi, hòa bình hoan ca mọi nơi.
[4:32]Cuộc đời tình yêu hạnh phúc không còn vơi, nỗi vui chiếu soi đất trời.
[4:42]Cuộc đời tình yêu hạnh phúc không còn vơi, nỗi vui chiếu soi đất trời.
[4:57]Xin
[5:10]cảm ơn ba ca sĩ nhí với giọng hát trong trẻo, dịu êm cùng những ca từ vô cùng ý nghĩa. Một lần nữa xin quý vị cho một tràng pháo tay thật lớn để chúng ta ủng hộ được không ạ? Và ca khúc vừa rồi cũng đã khép lại văn nghệ khóa thiền chiều ngày hôm nay. Chúng con xin cung thỉnh sư phụ ban bố cho chúng con những lời dạy cao quý để làm hành trang tiếp bước đường tu học của chính mình cũng như trong cuộc sống. Chúng con xin được kính mời sư phụ! Kính thỉnh trên toàn thể hội chúng cùng đứng dậy, chắp tay để niệm Phật hồi niệm Phật cầu gia bị. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[5:54]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[6:08]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[6:21]Chúng con xin thành kính cung thỉnh trên sư phụ an tọa, cùng toàn thể pháp hội đồng an tọa.
[6:41]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đáng lẽ giờ này sư phụ có mặt trực tiếp ở chùa Viên Quang. Hôm nay chùa Viên Quang cũng làm lễ Phật Đản chiều tối nay. Nhưng vì vài lý do kỹ thuật
[7:00]nên sư phụ phải giảng online ở Phật Quang giảng ra Viên Quang. Cũng hơi được rồi. Thì đầu tiên là sư phụ cũng gửi lời thăm hỏi thương mến đến tất cả các hội chúng, các thầy, các phật tử ở Viên Quang cũng như tất cả các phật tử ở các nơi mà đang theo dõi online bài giảng này nha. Còn những người mà đang có mặt tại đây thì
[7:36]không không nói nữa, về chỉ kiểm tra có học nhạc hay không thôi.
[7:45]Hôm giờ hôm giờ chùa mình có cái chương trình là phổ cập âm nhạc, ai cũng phải học nhạc. Nhiều người cũng thắc mắc tự nhiên đi vô chùa học đạo bây giờ thầy bắt thầy bắt cày cái âm nhạc. Nhưng mà khi có một số người vâng lời sư phụ thấy tội nghiệp, thấy ông thầy ổng ốm, ổng già, ổng ổng canh ổng hỏi riết, tội nên ráng học. Tới chừng học thì hiểu ra, vỡ ra thì lại rất là thích. Thì ra cái thế giới âm nhạc, cái bầu trời âm nhạc rất là nhiều điều kỳ thú mà nào giờ ta chỉ đứng ở bên ngoài. Ta chỉ đứng ở cái vị trí là nghe ai hát rồi bắt chước hát lại, vậy thôi. Thì có ai hát thì mình hát theo thì được.
[8:36]Có ông kỹ sư người Nhật ổng phát minh ra cái karaoke. "Kara" trong tiếng Nhật nghĩa là không. "Oke" là từ tiếng Tây là orchestra, nghĩa là dàn nhạc. Karaoke là không cần dàn nhạc. Bởi vì sao? Ở trong đó nó có đệm hết trơn rồi, nó tự nó lấy nhạc đệm gài vô và nó chạy chữ. Nên người ta chỉ cầm micro hát theo cái dòng chữ chạy, hát đúng theo cái dòng chữ nó hiện ra, từng chữ in đậm thì nó sẽ ăn với cái dàn nhạc. Và người bên ngoài nghe cũng rất là hay. Cái hay là cái dàn nhạc họ đệm cũng tùy theo. Cái dàn nhạc nhạc hòa âm nó đưa vào trong nó phong phú rất là hay, nhưng chỉ có cái người hát nó trật,
[9:22]rồi nó la, nó gào, nó thét trong đêm khuya hoặc buổi trưa hè thanh vắng. Và và cái phát minh của ổng đã làm gây ra rất nhiều án mạng, nhiều cái chết trên thế giới này, vì không ai chịu nổi cái hát karaoke. Thật nên thực sự là nghe nhạc mà không mong muốn cũng khổ sở lắm, chứ không phải không. Thì nhưng mà cái đó nó cũng là một dạng bắt chước. Nghĩa là thay vì bắt chước, ngày xưa bắt chước sơ sài, nghe ta hát rồi bắt chước hát theo, bây giờ nó có cái nó có một cái màn hình để cho ta nhìn, ta hát theo. Giờ vậy cũng là một dạng bắt chước chứ không người hát tiến bộ và người hát cũng không biết nhạc lý gì.
[10:03]Và cái thế giới âm nhạc vẫn đứng ở ngoài tầm tay của mình, thấy hát ỳ xèo vậy chứ không hiểu gì về âm nhạc cả. Đó là lý do mà ta phải học nhạc cho nó đàng hoàng, có nhạc lý, vì âm nhạc là một mảng quan trọng của đời sống văn hóa của con người. Nói là của con người, chứ sự thật cả thú vật nó cũng dùng tới âm nhạc. Ta thấy chim hót buổi sáng, đó là tiếng tiếng chó sói kêu trong đêm trăng cũng là đều là một loại âm nhạc của của các loài khác. Tiếng cá voi, tiếng cá heo kêu nhau nó cũng có một cái âm điệu của nó, cũng là một loại nhạc của nó vậy. Nhưng chỉ có con người thì cái âm nhạc cực kỳ phong phú,
[10:44]trở thành một mảng văn hóa, một thành tố của sự văn minh loài người. Không có
[10:56]Có tiếng kêu gì đó con? Ồn quá. Ừm. trở thành một cái thành tố quan trọng. Mà lên đến cõi Trời thì âm nhạc trở thành một điều thiêng liêng. Đi vào trong tôn giáo, âm nhạc là điều không thể thiếu. Vì sao vậy? Vì trong tôn giáo đều có những lời dạy của giáo chủ, của thần thánh, mà những lời dạy của giáo chủ, của thần thánh là một điều cao quý. Và người ta không muốn tụng đọc những cái lời cao quý đó bằng một cái trùng với cái điệu nói chuyện bình thường.
[11:37]Nếu mà nói lại cái lời Phật nói, lời Phật dạy hay thần thánh trên cao dạy mà bằng cái cách nói như chúng ta nói chuyện bình thường với nhau, thì trong tôn giáo người ta xem đó là một cái gì không đủ sự kính trọng. Nên luôn luôn là người ta biến những cái lời dạy của thần thánh, của giáo chủ thành âm nhạc. Để hát, cái chữ "chant" mà ta dịch là tụng, thực sự nó cũng là hát. "Chant". "Chant" là tiếng Anh, trong tiếng Pháp là "chanter" cũng là hát. Rồi tiếng tiếng tiếng tiếng tiếng Anh nữa là "sing" là hát. Cái "chanter" tiếng Pháp là hát. Rồi từ tiếng "chanter" tiếng Pháp qua tiếng Anh là "chant", là tụng, đọc, hát, cũng như vậy.
[12:24]Tức là thường là với cái lời dạy của thần thánh và giáo chủ thì người ta hát. Mà mình nói là mình gọi là tụng, niệm, tán, tụng, niệm, vân vân, như vậy nó nó trang trọng. Mỗi một chữ đều có một cái nốt nhạc, chứ không phải là nói bừa một cách như ta nói bình thường với nhau. Mà dẫn lời Phật dạy, ví dụ dẫn trong câu chuyện ngắn, vô tình thì được, chứ để đọc trong một buổi trang nghiêm thì buộc phải có điệu, có âm điệu. Và các vị các nhà tôn giáo, các nhà hoạt động tôn giáo đã gài cái âm nhạc mà người ta thích vào trong tôn giáo, vào trong tụng niệm, vào trong kinh kệ. À trong cái thời nào họ sẽ có cái âm nhạc của thời đại đó thì nó đưa vào.
[13:13]Đưa vào và truyền đời. Chỉ có cái là là lần lần âm nhạc của thời đại bị biến đổi, nhưng mà cái điệu nhạc mà đưa vào cái bài tụng không đổi. Nên càng về sau thì cái điệu tụng của trong tôn giáo nó bị lạc hậu so với cái âm nhạc của của thời đại. Đó đó là lý do mà lâu lâu phải đợi có một người nào đó họ cải cách, họ can đảm, họ gan dạ, họ có uy tín, họ cải cách là họ đưa cái âm nhạc của đúng cái thời đại đó vào trong cái bài kinh tụng, vào trong cái nghi thức thì nó cập nhật trở lại liền. Nó cập nhật trở lại những cái bài kinh tụng theo cái cái âm nhạc của thời đại và làm cho cái đa số quần chúng trở nên thích thú lại với những bài những bài kinh tụng.
[14:03]Chứ từ từ người ta nghĩ cứ một thời gian là những bài kinh tụng từ từ lạc hậu và xa cách đối với xã hội, vì những bài kinh tụng nó mang cái âm điệu của ba bốn trăm năm trước. Mà qua ba bốn trăm năm rồi thì âm nhạc thời đại nó đã thay đổi quá nhiều, không không không còn giống nữa và người ta không còn thích nữa. Nhưng mà cái điệu nhạc trong tôn giáo nó vẫn giữ nguyên, làm cho mọi người bị xa cách vì phải đợi cho đến khi có một sự cải cách người ta mới đưa cái âm cái âm nhạc của thời đại vào. Và cũng vậy, ta điểm từ Trung Quốc qua tới Ả Rập, tới Ấn Độ và Việt Nam, như vậy. Thì cái âm nhạc nó
[14:45]nó nó có cái cổ xưa của nó, nhưng đến ngày hôm nay thì âm nhạc thế giới bắt đầu gần lại với nhau hết. Gần lại với nhau là ở chỗ nào? Chỉ bởi vì âm nhạc của Tây phương, âm nhạc hiện đại của Tây phương chinh phục hết tất cả. Tại sao âm nhạc của Tây phương lại chinh phục hết tất cả mà ta gọi là âm nhạc hiện đại? Tại vì cái hệ thống âm nhạc của Tây phương nó trở thành một môn khoa học. Cái nhạc lý nó nó kỹ lưỡng, các nhạc cụ nó tinh tế, có cái hệ thống gọi là cái lý thuyết âm nhạc nó như là một môn khoa học và nó phong phú, nó đầy đủ, nó phủ trùm. Nên mọi cái nền âm nhạc thế giới cuối cùng đều phải
[15:26]quy đồng về với cái âm nhạc của Tây phương. Có thể ta tạo ra một điệu nhạc nó mang cái âm hưởng của dân tộc mình, nhưng mà hễ đi đúng chuẩn rồi thì nó phải nằm đúng cái lý thuyết, cái nhạc lý của âm nhạc Tây phương. Đó và dần lần như vậy lần lần cả thế giới này có thể ngôn ngữ ta khác nhau, có thể văn minh văn hóa khác nhau, nhưng mà lý thuyết âm nhạc của thế giới đang trở thành thống nhất theo cái âm nhạc hiện đại của Tây phương. Phải nói rằng cái người Tây phương thì ta không có phê bình, nhưng rõ ràng ta mang ơn họ về cái nhạc lý, về cái lý thuyết âm nhạc của họ. Cây đàn piano cũng là từ Tây phương mà ra, từ châu Âu mà ra.
[16:07]À rồi cái hệ thống âm nhạc của họ cũng từ châu Âu, như là Johannes Johannes John Johann Sebastian Bach, cái người mà tạo nên một hệ thống âm nhạc nghĩa là chi tiết cho đến ngày nay cũng chẳng ai sửa được cái gì. Chỉ ta chỉ cố gắng hiểu thôi chứ không sửa được. Mà âm nhạc nó nó là một cái điều gì nó khó, ai cũng thích, ai cũng cần, nhưng mà để hiểu được âm nhạc thì lại không. Đây là một điều rất là lạ. Đúng là ở một khoảng cách rất là xa. Và ừm lúc như như như Sư phụ vậy, cả đời đi dạy nhạc đều thất bại hết, không có dạy ai thành hết, trong khi bản thân mình thì có thể mình tự học cho tới khi soạn nhạc được luôn, hiểu rất là kỹ tới khi soạn nhạc được.
[16:56]Nhưng mà dạy thì không thành công, cũng không biết tại sao luôn. Rồi sau này Sư phụ mới bắt đầu chia chẻ từng cái phần thấp, phần rất là chậm, rất kỹ để dạy thì bắt đầu mới thành công. Thì này mới bắt tất cả các Phật tử chúng ta đều phải hiểu về âm nhạc để ta theo kịp tôn giáo bạn. Có một lần Sư phụ nói chuyện với một cái cô nhạc sĩ, cổ được học trong Nhạc viện đàng hoàng, học ở ngành Sư phạm. Thì Sư phụ mới nể mấy cái người học Nhạc viện lắm, nói: "Âm nhạc mà đi học kiểu đó cực kỳ khó. Tại vì Sư phụ phải chia chẻ ra một công đoạn chia ra thành bốn, năm công đoạn mà dạy rất là chậm thì mọi người mới bắt đầu bước vào được.
[17:34]Trong khi Nhạc viện là họ dồn sáu, bảy công đoạn vô một phần cái họ dạy cùng một lúc luôn." Mà Sư phụ nói: "Vậy mà sinh viên Nhạc viện học được cũng hay." Sư phụ mới nói chuyện với cái cô nhạc sĩ thì cổ nói: "Dạ, rớt hơn phân nửa, không ra trường hơn phân nửa." Khó đến như vậy. Và khi mà làm bài, thi bài đều phải dùng rất nhiều mánh khóe để vượt qua những cái khó khăn trong âm nhạc, chứ không phải tự nhiên mà có thể là là là thi đậu nổi mà hiểu được hết. Rồi Sư phụ mới nể anh Bảo Phúc, hồi nãy ta hát cái bài của anh Bảo Phúc á, mới nể anh Bảo Phúc ừ như là một thiên tài. Gia đình anh Bảo Phúc, Bảo Chấn giỏi kỳ lạ về âm nhạc,
[18:12]nhưng không có hiếm không phải là dễ có người hiểu được như vậy. Hôm nay à Sư phụ tìm ra được một cái phương pháp đi rất là chậm, chia ra từng cái công đoạn rất nhỏ để học, ai cũng học được. Bà già, ông già cũng học được. Mình mà hiện nay là cái người lớn tuổi nhất mà học là một ông cụ ở Phước Quang, ở Long Thành, ông 85 tuổi. Ông ngồi ông vẽ biểu đồ tiết tấu từng bài từng bài và ông rất là yêu thích. Hỏi ra ông giỏi hơn cả Angela Phương Trinh. Phương Trinh thì trốn học, hỏi: "Con ráng học?", "Dạ chưa làm được bài nào." Trời ơi. Hồi con chưa biết cái roi mây của Sư phụ hả con? Trời ơi trời. Còn ông cụ 85 tuổi học say mê đến nỗi là Đạo tràng phải khen thưởng ông.
[18:54]À vì cái ông tinh thần hiếu học của ông học nhạc. Rồi ông mừng quá ông mua cái iPad để ông nghe Pháp, tưởng ông mua cây đàn chớ, không ngờ ông mua cái iPad để là ông nghe Pháp. Rồi ông cụ mình nhìn chụp hình ổng già khằng hết trơn 85 rồi mà vẫn học nhạc vì học được và học cảm thấy thích. À vì mình chia chẻ ra nhiều công đoạn vậy. Rồi Sư phụ mới nhớ tới Thiền tông. Trong cái Thiền tông của Trung Hoa vậy, hay một cái người thiền sinh đi đến gặp một Thiền sư, à hỏi: "Thế nào là đại ý của Phật Pháp?" Thì ông Thiền sư ổng nói một câu gì mà chả ai hiểu, nói bóng nói gió hoặc là ổng lấy cây ổng đập cho một cái hoặc ổng hét cho một tiếng.
[19:37]Thì trong là khoảng một trong đời ổng ổng ổng ổng dùng cái phương pháp để ổng giáo hóa một hai ngàn người thì chừng năm ba người ngộ đạo, còn lại thất bại. Nó rất giống với âm nhạc. Lý do tại sao vậy? Lý do bởi vì ngày xưa ổng cũng như vậy, Thiền sư đó cũng như vậy. Tức là ổng cũng đi hỏi đạo, rồi gặp người thầy của mình cũng đánh, cũng hét, nói một câu bóng gió gì đó. Ổng ngộ. Rồi bây giờ ổng cũng không biết dạy ai cách nào, ổng cũng làm kiểu đó thôi. Ổng lặp lại cái cách mà ổng đã được ngộ. Ngộ là cái gì? Ngộ là một cái sức tỉnh rất là mạnh làm cho cái vọng tưởng không dẫn mình đi được nữa cho tới khi vọng tưởng nó tắt và mình nhập định luôn.
[20:25]Là cái sức tỉnh rất là mạnh, chứ thường tất cả chúng ta là bị mê mờ bởi vọng tưởng. Vọng tưởng là một cái gì nó tự nó sinh trong đầu rồi nó dẫn chúng ta đi. Chúng ta cứ suy nghĩ hết cái này suy nghĩ tới cái kia. Mà bộ não này sinh ra là để suy nghĩ. Cái bản năng của bộ não, bản chất của bộ não là để suy nghĩ. Nên chúng ta không dừng được và nó dắt chúng ta đi làm tâm chúng ta mê mờ, chúng ta không vào thiền được. Cái ải vượt qua vọng tưởng này cực kỳ khó khăn. Giống như có câu chuyện mà nổi tiếng nhất trong nhà Thiền, lúc đó có một vị thấy trong kinh gọi là Hòa thượng thì ta cũng không hiểu là cái tuổi là bao nhiêu, tại vì cái chữ Hòa thượng
[21:08]mà người xưa ghi nó cũng nó không giống với cái chuẩn của bây giờ. Tới Hòa thượng Thúy Lạo đến gặp Mã Tổ. Ngài Mã Tổ Đạo Nhất là một vị đắc đạo cao siêu.
[21:23]Khi đến mới mới hỏi: "Thế nào là đại ý của Phật Pháp? Hay là ý của Tổ Sư từ Ấn Độ sang?" Thì ngài Mã Tổ mới nói: "Ta bị lãng tai, ngươi tới gần gần hỏi chứ ngươi hỏi chỗ đó ta không nghe." Ông kia ổng tưởng thiệt, ổng mới tới xích lại sát ngài, ổng mới hỏi là là là: "Bạch Hòa thượng, thế nào là ý Tổ Sư từ Ấn Độ sang?" Thế là ngài Mã Tổ bung chân đá cho một cái. Trong kinh trong trong trong câu chuyện á, trong Thục Tạng thì ghi là đạp. Nhưng mà thực sự là ngài đá cho một cái đúng cái thế nghĩa là hình như là Kim Tiêu hay là Bàn Long gì đó, đá một cái bật một cái ngài bật ngửa té liền. Thế là chứ không phải là đạp, rõ ràng một cú đá,
[22:10]một cú đá đúng chuẩn của Thiếu Lâm Tự hay sao á, đá một cái ông kia văng ra, văng ra ổng đại ngộ liền.
[22:19]văng ra đại ngộ liền. Và cái điều này nó là ứng với một câu sấm mà tổ Bát Nhã Đa La từ bên Ấn Độ đã truyền cho ngài Bồ Đề Đạt Ma khi ngài Bồ Đề Đạt Ma đi sang Trung Quốc để truyền đạo. Thì tổ Bát Nhã Đa La đã nói một câu sấm, "Sau này dưới chân ngươi mọc cái móng của một con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ." Thì ngài Mã Tổ, họ Mã nên gọi là Mã Tổ, ứng với câu sấm của tổ Bát Nhã Đa La: Dưới chân ngươi xuất hiện một móng con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ. Tức là đạp một cái làm người ta ngộ đạo. Và cái thủ thuật mà đạp một cái làm người ta ngộ đạo là một kỳ đặc, một thủ đoạn kỳ đặc của thiền sư, ta không ngờ.
[23:02]Tức là thường phải dùng một câu đạo lý. Sau này g- g- sau này mới có thêm cái đánh, cái hét á. Nhưng mà lại không trả lời gì, không trả lời gì, "Ê, ta ta lãng tai, ngươi ngồi đó ngươi hỏi sao á, ta không nghe. Đâu lại gần đây hỏi." Lại gần vừa đúng tầm chân của ngài, hỏi xong rồi dứt cho một đá bay lộn nhào ra, đứng lên té ngộ đạo liền. Cái thủ đoạn đó kỳ đặc, kỳ lạ, không ai giải thích được tại sao. Nhưng mà người ngộ đạo rồi thực sự cũng khó giải thích được. Người mà bị đá rồi ngộ đạo cũng không giải thích được.
[23:40]Rất nhiều thiền sư đã được bất ngờ ngộ đạo mà trong nhiều hoàn cảnh, mỗi hoàn cảnh. Có người, ví dụ như đang cuốc đất như ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn vậy, hừm, cuốc đất cái cục sỏi nó văng vô cái cây tre kêu cái cộp, đại ngộ liền. Cũng không giải thích được tại sao. Rồi hoặc là như ngài Tuyết Phong ngày hạ hỏi đạo với ngài Nham Đầu Toàn Hoát, lúc đó hai anh em đi du hành. Mà ngài ngài Toàn Hoát thì đại ngộ rồi, một bậc thiền sư tự tại. Nhưng ngài Tuyết Phong mới ngộ sơ sơ, trong lòng cứ day dứt day dứt, cứ hỏi hoài. Mà hỏi riết, cái ngài Nham Đầu mới nói, hơ hơ, "Giờ t- t- bây giờ đọt- bây giờ ngươi bảo ông
[24:21]kể ra hết coi nào giờ mà ông mấy lần ngộ rồi, kể lại cho ta nghe để ta ta gỡ cho." Thì ngài Tuyết Phong mới kể là, "Em lần đó em ngộ dưới pháp hội này em ngộ một lần, lần kia em ngộ một lần." Thì ngài Tuyết Phong ngài ngài Nham Đầu nói, "Không, mấy cái đó chưa xài được đâu, mấy ngộ đó còn thấp lắm." Cái nói, "Vậy làm sao?" Ờ thì ngài Nham Đầu mới nói một câu đạo lý. À, nói một câu đạo lý. Thì câu đạo lý Thôi hôm nay không tiện nói ra nhưng mà đại khái là một câu đạo lý thì ngài Tuyết Phong đại ngộ liền và nói rằng, "Sư huynh, sư huynh hôm nay mới thành đạo ở Ngao Sơn, ở ngay cái chỗ cái núi này." Thì ngài Tuyết Phong vậy.
[25:00]Còn cái chỗ ngộ của ngài Toàn Hoát rất là lớn. Mà nói là nhiều trường hợp ví dụ như ngài Đức Sơn vậy. Thì ngài là một giảng sư mà giảng kinh Kim Cang rất là nổi tiếng. Thì nghe trong phía nam là có có những thiền sư mà chỉ bằng một cái câu nói bằng thủ thuật ngộ đạo, ổng không tin. Ổng nói, "Cái đám ma! Ta sẽ vào ta dẹp hết cái đám ma này." Thế là ổng gánh cái gánh kinh đi để có gì mở ra dẫn chứng á. Đi, đi giữa đường gặp một bà già. Cái ổng kêu bán cho ổng cái bánh điểm tâm. Bà già mới nói, "Thầy là ai? Thầy làm cái gì?" Nói, "Tôi là giảng sư giảng kinh Kim Cang." "Giờ tôi hỏi thầy một câu, nếu thầy trả lời được thì tôi cúng dường
[25:48]bánh cho thầy ăn điểm tâm, còn nếu thầy trả lời không được thì mua tôi cũng không bán, xin tôi cũng không cho." Nói, "Thôi, bà hỏi đi." Đấy, ổng giảng kinh Kim Cang mà ổng quá tự tin. Bà nói, "Trong kinh Kim Cang có nố- nói rằng, 'Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc, thầy điểm tâm nào?'" Hỏi một câu, lấy kinh ra mà hỏi một câu ngớ ngẩn ngoài kinh, lấy dẫn kinh ra mà hỏi một câu ngoài kinh, ổng đứng ổng ngớ liền, bà gánh gánh bánh đi liền không trả lời. Thế là bắt đầu ổng hoài nghi chính mình liền. Hoài nghi chính mình. Thì khi đến mới hỏi hỏi hỏi gần đấy có ai, nói có ngài Thiên Vương Đạo Ngộ.
[26:28]Thế ngài mới đến ngài xin học. Ngài Thiên Vương Đạo Ngộ là một vị thiền sư đắc đạo lỗi lạc á. Mà ngài cũng day dứt lắm, cứ cứ đến hỏi. Đêm đó đến, hồi đó đâu có đèn điện gì đâu, đem đến a hỏi đạo tới khuya vậy đó, hỏi cũng không ngộ. Cái thôi mới, "Xin chào thầy để con đi về, về về liêu." Nói, "Ngoài đó đường tối thui." Nói, "Ngoài đường sao, có?" "Dạ, tối thui à." Thì ngài mới Thiên Vương Đạo Ngộ mới đưa cái đèn nến, "Thôi cầm cái đèn đuốc này đi về phòng." Thì ngài vừa mới chụp tay đèn đuốc, ngài Thiên Vương Đạo Ngộ thổi cái đèn tắt. Vừa thổi tắt cái ngài Đức Sơn đại ngộ liền. Thì những trường hợp đó cũng không lý giải được.
[27:07]Rất nhiều trường hợp không lý giải được, mà khi đại ngộ như vậy, sức tỉnh của tâm nó mạnh lên làm cho vọng tưởng không không không dẫn người ta đi được nữa. Mà cái sức tỉnh nó mạnh đến nỗi nó dập vọng tưởng tắt luôn, không cần không cần diệt vọng tưởng, vọng vọng tưởng tự tắt luôn. Thì những trường hợp đó ví dụ như một đời một thiền sư ổng ổng đắc đắc đạo, ổng giáo hóa mấy ngàn người thì chỉ một hai người, năm ba người ngộ đạo. Có người nào giỏi lắm thì được sáu mươi mấy, năm mươi mấy người, trong ghi trong sách sử mà ghi lại cái sự truyền thừa không nhiều so với cái cái số lượng tăng chúng vào thời đó.
[27:45]À và và cũng giống như âm nhạc vậy, cái tỉ lệ của những người quần chúng bên ngoài mà biết về âm nhạc không nhiều, biết cặn kẽ, biết kỹ lưỡng về âm nhạc cũng không nhiều. Ừ ví dụ nói bây giờ đây ngồi trong cái hội trường này cũng vậy, bao nhiêu người là người thực sự biết về âm nhạc? Được mấy người? Đâu giơ tay lên sư coi. Phương Trinh là chắc rớt rồi đó, ha ha ha. Ai? Thấy không? Không có mấy người.
[28:15]Có một ông già ốm xấu đây với một ông thầy Pháp Tâm đó à? Còn ai nữa không? Không. Nên cái tỉ lệ như vậy rất là thấp. Và cái tỉ lệ cái người mà ngộ đạo cũng rất là ít. Lý do tại sao vậy? Lý do vì cái ải đầu tiên chúng ta qua không nổi. Như cái nhạc lý á, cái ải đầu tiên cái khó của nhạc lý chính là cái nhịp phách. Cái tiết tấu cái nhịp phách, hát cho đúng nhịp phách. Cái ải đó đầu tiên ta không qua được rồi ta không bước vào thế giới âm nhạc được. Đó là lý do mà sư phụ chia chẻ cái nhịp phách đó ra rất là chậm, rất là kỹ mà không cho không cho vỗ nhịp tay nữa, vẽ nó ra để nhìn thấy nó rất là rõ.
[28:59]Vẽ ra thành từ cái động là cái tay mình vỗ là động đây này. Là, "Dòng sông ơi mến yêu..." la đà là lá la gì đó, đại khái vậy. Từ cái vỗ tay động bắt đầu không không vỗ mà vẽ ra, dừng nó lại để nhìn nó cho kỹ. Nhờ vậy ai cũng hiểu hết. Từ cái rất khó mà làm cho nó chậm lại, cho nó đứng lại, ai cũng hiểu và ai cũng bước vào thế giới âm nhạc được. Bây giờ thiền cũng vậy. Vọng tưởng là cái gì cực kỳ khó, ta không vượt qua được, nó khởi lên ta mê liền rồi ta đi mất, coi buổi thiền nó bỏ, thiền nó không có chất lượng. Vì trong buổi thiền ta cứ bị chập chờn chập chờn khi tỉnh khi mê, khi vọng tưởng dắt đi, khi thì tỉnh chút xíu nhớ lại rồi
[29:41]khi vọng tưởng khởi lên đi mất, làm cho cái thời thiền nó không chất lượng và ta không bước được vào thế giới thiền. Nên cái ải vọng tưởng rất là khó vượt qua. Nếu bây giờ ta hiểu về bản chất của vọng tưởng rất kỹ, có cái phương pháp đàng hoàng, đúng đắn để ai cũng vượt qua được vọng tưởng hết thì ai cũng tu thiền được hết. Giống như là ai cũng học nhạc được hết: ông già 85 tuổi cũng học được, bà già 80 tuổi cũng học được, em bé cũng học được, ai cũng học được hết. Và vậy nếu mà thiền thế giới này ai cũng học được hết thì thế giới này thực sự là gì? Sẽ trở thành một tinh cầu giác ngộ. Đó đây là cái phương pháp đó và nên cái đầu tiên của thiền
[30:23]bây giờ là vọng tưởng, cái ải vọng tưởng phải vượt qua. Bây giờ ta hiểu được vọng tưởng, ta có phương pháp để vượt qua được vọng tưởng, ai cũng làm được thì thế giới này thực sự là thiên đường. Thì cái đây là như vậy. Vì đầu tiên ta hiểu vọng tưởng vọng tưởng là cái gì đã.
[30:47]Vọng tưởng là những cái suy nghĩ. Suy nghĩ của ta gồm cái gì? Là ý nghĩ. Ý nghĩ gồm cái gì? Ít nhất hai điều: một là cái ngôn ngữ, phải không ạ? Cái câu nói người ta nói trong đầu. Rồi cái gì nữa? Hình ảnh nó hiện ra. Hai cái đó. Rồi ngoài ra ngoài ra ngoài hai cái đó đó là những cái lý luận câu nói trong đầu hoặc là những hình ảnh hiện ra trong đầu thì chúng ta thêm cái sự là tưởng tượng. Ví dụ ta tưởng tượng mùi hương, tưởng tượng âm nhạ- tiếng nhạc, ờ là nhiều loại tưởng tượng khác, hình ảnh đại khái vậy. Nhưng mà cái gốc của vọng tưởng là ý tưởng. Ý tưởng nó được diễn tả thành câu nói ở trong đầu ta đó.
[31:35]Cho nên có nhiều người học thiền rồi than, "Thôi cầu sao cho cái tâm con đừng nói nữa." À nó nói, bởi vì nói chính là vọng tưởng. Mà vọng tưởng đó là gì? Là ý tưởng. Ý tưởng được diễn tả thành ngôn ngữ hằng ngày của ta. Ví dụ như cái người Việt Nam thì cái vọng tưởng ở trong đầu được diễn tả, khởi lên là bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Còn cái người ví dụ người Mỹ thì cái ngôn vọng tưởng trong đầu họ là khởi lên là cái ngôn ngữ tiếng Mỹ. Người Tàu là tiếng Tàu, người Nhật là tiếng Nhật. Người trời là tiếng gì? Tiếng trời. Tiếng trời là tiếng gì?
[32:16]Có ai trên trời xuống biết cái này không cà? Không ai hết trơn hả? Có ai, có ai trên trời mới xuống không? Có nhớ không? Nhớ trên trời nói tiếng gì không? Hả? Thôi ít bữa lên trời rồi biết. Ráng tu, nhiếp được tâm vượt qua ải vọng tưởng rồi lên trời sẽ biết trên trời nói tiếng gì, nha. Nhưng mà cái vọng tưởng như vậy, nó vậy. Nhưng mà thật sự trước khi mà cái vọng tưởng nó hiện ra bằng một cái ngôn ngữ thì nó có cái ý tưởng trước. Và ý tưởng đó không ngôn ngữ. Ý tưởng ở chiều sâu nó không lời, không ngôn ngữ, và cái ý nó
[32:55]thoáng qua trong một sát na thôi là nó đầy đủ hết tất cả các dữ liệu. Ví dụ như thế nào? Ví dụ như ta quán thân này vô thường thì nếu quán theo bằng cái vọng tưởng bằng ngôn ngữ á, thì ta nói, "À, thân này là tứ đại, phải không? Duyên hợp nhiều thứ, từ từ già, rồi bệnh, rồi chết, chết rồi mục, rồi hoại." Đó là những câu nói ở trong đầu ta đó, nó dài đó, nó mất thời gian đâu cũng khoảng là 9-10 giây thì ta mới quán hết một cái đoạn vô thường về thân. Nhưng mà nếu là cái ý tưởng, nó tích tắc một cái là toàn bộ cái tiến trình qua đó nó có liền. Nó nhanh rồi nó có, chớp nhoáng một cái có liền. Nó chỉ là cái ý thôi.
[33:37]Và cái ý này cái ý này nó cực nhanh và không ngôn ngữ. Cái ý này thì nó trước ngôn ngữ cho nên là người nước nào cũng hiểu được.
[33:55]Cái ý này nhốm lên một cái là tất cả mọi quốc gia đều gặp nhau ở chỗ cái ý không ngôn ngữ này. Còn khi nó bắt đầu nó trở thành vọng tưởng chính thức rồi thì nó trải ra bằng cái ngôn ngữ mà ta ta hay nói chuyện với nhau. Đó là như vậy. Và vọng tưởng nó cũng có hai loại, cái suy nghĩ ta có hai loại: một loại tự nó khởi. Khi mình không có chuyện gì để làm, không có chuyện gì để bận tâm để suy nghĩ, thì tự nó cũng phải khởi, bởi vì bộ não là bản chất nó là suy nghĩ, là hoạt động. Ta dừng không được, nó cứ suy nghĩ chuyện này chuyện kia. Có những lúc ta bận tâm ta phải suy nghĩ, thì lúc đó ta có cái suy nghĩ chủ động.
[34:35]À ví dụ bây giờ nhà bếp, suy nghĩ coi chiều ngày mai khách bao nhiêu người, ta nấu món gì, thì cái bận tâm cái suy nghĩ chủ động là do cái trách nhiệm, cái công việc ta phải tính toán. Hoặc là một người đi làm một bài toán thì phải giải bài toán cách nào, đó dùng những phương trình nào, những công thức nào, đó là cái chủ động tính toán trong đầu ta. Hoặc là bây giờ một cái người hoạch định một cái chuyến đi, à chuyến đi ngày mai ta sẽ đi từ điểm này, điểm A đến điểm B, đi 10 người, đi bao nhiêu xe, trên đường đi phải ghé ở đâu nghỉ ngơi, rồi tới đâu, đoạn đường nó dài thế nào, vân vân. Thì những cái suy nghĩ tính toán trong đầu,
[35:11]trong đời đó, nó nhiều việc là ta chủ động vì nó là trách nhiệm mà ta phải bận tâm. Nhưng mà khi bỏ cái chuyện đó ra rồi thì sao? Không có chuyện gì để nghĩ hết. Đâu phải lúc nào cũng bận tâm, tại vì cái mà suy nghĩ chủ động, bận tâm, trách nhiệm, nó hao cái đầu khủng khiếp lắm, hao lắm. Và không ai đủ sức kéo dài liên tiếp mấy tiếng đồng hồ với cái suy nghĩ mà bận tâm, chủ động vì nó lấy hết năng lượng của con người, làm người ta hư não liền, nhức đầu, căng thẳng là bệnh luôn, vì rất là mệt. Mà ngoài những nên thường thường tính ra vậy trong 24 tiếng đồng hồ, hết mấy giờ ngủ, 7-8 giờ ngủ không có gì để suy nghĩ.
[35:53]Trong đó nó mơ miết, mơ mộng gì đó kệ nó, không biết. Còn còn lại là là mười mấy tiếng đồng hồ á, 16 tiếng đồng hồ á thì ta thực sự mà ta làm việc, suy nghĩ là mấy tiếng? Tính ra coi mấy tiếng?
[36:11]Ví dụ nói, "Dạ, con đi làm việc thì con làm việc tám tiếng đồng hồ." Suốt tám tiếng đồng hồ có phải suy nghĩ không? Có không? Không. Chúng ta cũng làm rất là ít. Mọi việc cũng do thói quen thôi. Ờ thói quen, ví dụ như bây giờ chạy qua cái phòng kia để lấy cái văn thư, móc mở cửa rồi qua lấy, trong suốt thời gian mình đi qua phòng đó mình xin cái văn thư cũng không cần suy nghĩ gì, phải không ạ? Nhá, nên tính ra nói đi làm việc tám tiếng đồng hồ chứ trong tám tiếng đồng hồ đó ta suy nghĩ chừng hai ba tiếng à, ba bốn tiếng à. Cho nên trong 24 tiếng đồng hồ thực sự cái thời gian mà để ta suy nghĩ làm việc chủ động bao nhiêu?
[36:46]Rất ít, hai ba tiếng đồng hồ không mấy nhiều. Trừ những người ví dụ như là phải biên soạn, phải viết văn có khi họ làm ngày làm đêm, mấy người đó cái đầu phải tốt lắm, còn không là rất là mệt, chứ không phải là dễ. Ví dụ như Sư phụ vậy, khi soạn bài nhạc, khi viết sách, nhất là viết truyện Đỉnh Núi Tuyết rất là mệt tại vì khi mình lớn tuổi rồi. Lớn tuổi rồi cái bộ não nó đã suy giảm, không còn cái sức như hồi trẻ. Hồi trẻ có thể làm việc liên tục, liên tục, liên tục, nhưng rõ ràng khi tuổi lớn rồi không còn đủ sức làm việc liên tục, làm phải nghỉ, làm phải nghỉ chút chút như vậy, thấy rõ. Thì tính ra cái thời gian mà ta chủ động để làm không bao nhiêu, không bao nhiêu.
[37:30]Còn lại là ta không có gì để suy nghĩ, thì lúc đó bộ não chúng ta không có gì để suy nghĩ, đúng không ạ? Nhưng mà nó có ngừng không? Không, nó vẫn suy nghĩ. Nó tự tạo ra những ý nghĩ để nó tiếp tục suy nghĩ, nó vẫn vận động, nó không dừng. Đó là cái bệnh của bộ não, của thế giới này là như vậy, chúng sinh là như vậy, cái đầu không bao giờ dừng. Khi thì chúng ta bận phải làm việc thì chủ động suy nghĩ, khi không bận làm việc nó cứ suy nghĩ và ta gọi đó là vọng tưởng. Làm rất là phiền vô cùng. Khi có những lúc ta mệt quá đi, thực sự có những lúc mà ta muốn thanh thản, dừng suy nghĩ, nó hổng không chịu dừng. Rất là mệt.
[38:12]Còn những lúc ta vì công việc, vì trách nhiệm ta phải suy nghĩ thì thôi không nói, nhưng có những lúc ta không phải vì công việc, ta mệt, muốn nghỉ cho nó yên cái đầu đi, nó không nghỉ. Và lúc đó người ta mới tìm cái cách chữa lành: đi chơi, ngắm trời trăng mây nước, đi bar, đi biếc rồi Suối Tiên, suối tiếc gì, ôi đủ thứ chuyện trên đời để mà người ta hy vọng là đó, là cái não nó không ngừng được suy nghĩ thì ta quên nó bằng khuây cách này cách kia, trò này cách kia trò này trò, cách kia trò này trò kia, tắm tiên tắm suối tắm gì. Đó là đủ trò hết và người ta gọi là gì đó? Giải khuây, chữa lành, thư giãn gì đủ thứ đó,
[38:51]vì cái đầu nó cứ suy nghĩ hoài làm ta rất là mệt. Nhưng chỉ có những bậc thánh triết, nhất là trong đạo Phật, có cách thiền định để dừng sự suy nghĩ lại. Và mà rõ ràng ta thấy vậy, đi khuây khỏa, đi chơi, đi du lịch là cuối cùng con người ta vẫn đau khổ vì cái đầu nó có dừng đâu. Cái ải vọng tưởng ta không vượt qua được, ta không đi tìm được cái hạnh phúc đích thực, ta không đi tìm sự giác ngộ, sự sáng suốt được vì não nó không dừng. Và ta mệt mỏi cho đến cái ngày thực sự ta tìm đến với Phật pháp, ta đi tìm đến với thiền định và ta hy vọng vì nói vì thiền là dừng vọng tưởng lại, là nhập định từng bước sâu dần,
[39:33]sâu dần cho tới vô ngã và đạt được sự giác ngộ hoàn toàn. Những cái điều Đức Phật vạch ra cực kỳ hứa hẹn. Nhưng bước vào dễ không? Bước vào dễ không? Không. Vì cánh cửa đầu tiên cứ đóng im ỉm đối với cuộc đời ta. Có khi ta đứng ta ta đập cửa mãi nhưng không ai mở. Cánh cửa đó cứ đóng im ỉm. Đến khi ta đập 10 năm rồi mới phát hiện ta ta đập nhầm cửa. Cái đó không phải là cánh cửa thiền mà đó là cánh cửa gì? Giống như cái nhà thiền, thấy có cái mái chùa cong nha, có nghe tiếng chuông, à rồi thấy có cái then, thoạt đầu ta cứ đập, ta cứ đập để hy vọng ai mở để ta bước vào. Đập 10 năm rồi mới phát hiện ra không phải cửa, cái này là cái gì á.
[40:22]Lại phải đi tìm cái cửa để đập tiếp, mà mất 10 năm. Và có những người may mắn hơn đập đúng cửa. Đập đúng cửa nhưng cái cách ta đập gì đó mà ở trong kia không nghe, cũng không ai bước ra mở cửa để cho ta vào trong chùa. Ta suốt cả một cuộc đời đi tìm cửa, đi gõ cửa, nhưng mà không có cánh cửa nào mở để ta bước vào cái cõi tâm, bước vào cái cõi thiền. Rất là mệt mỏi. Mà sao cái đầu thì lúc nào nó cứ suy nghĩ, nó đòi ta phải dừng lại, chứ không thể mà cứ lang thang trong luân hồi sinh tử với bao nhiêu vọng tưởng quay cuồng trong tâm như thế này được, phải dừng lại. Vì mọi cái trò vui, mọi cái giải trí trong cuộc đời này ta đi qua
[41:07]hết rồi, không có cái nào chữa lành cả, chỉ có thiền định. Rồi ta quyết tâm đi tìm cái cánh cửa thiền để bước vào, cả một đời đi tìm và ta đã lầm hết cửa này tới cửa kia, lầm hết cái trốn này tới trốn kia. Đến khi mà ta giống như là may mắn tìm được một cánh cửa đúng rồi, gõ cũng không mở luôn. Cái khó là như vậy. Cái vọng tưởng, cái ải vọng tưởng khó vượt qua quá! Khó vọng tưởng giống như học nhạc, trở lại nhạc nữa, cái ải nhịp phách á, nhịp phách nha. Vậy chớ rất nhiều người không vượt qua. Mới ban đầu thì sư phụ cứ nghĩ là thấy người này học nhạc này hát hay, ông kia ông ngồi ông đàn ghi-ta, ông đàn piano rồi
[41:50]ào ào á, ờ thôi họ cũng giống như mình thì cũng hiểu nhịp phách rồi, không sao. Té ra tới chừng hỏi lại chả ai biết nhịp phách cả, cũng toàn là bắt chước. Hát, nghe người ta hát rồi hát theo, đàn, thấy người ta đàn rồi tằng tắng tắng tằng tắng tắng cũng vậy, piano rác cũng toàn bắt chước không, chứ không phải là tự mình hiểu được nhạc lý, tự mình hiểu được nhịp phách. Mới té ra là như vậy. À, cái cửa ải nhịp phách đầu tiên của âm nhạc cực kỳ khó. Bây giờ thì may mắn có một cái phương pháp vậy, vẽ sóng biểu đồ tiết tấu nhịp phách, bắt vẽ và định vị từng chữ, đặt từng chữ lên, từng cái lời âm nhạc lên trên cái vị trí sóng đó,
[42:28]biết nó nằm ở đâu, từ đó ai hiểu cũng hiểu rõ. Rồi tới giai đoạn thứ hai là tự mình gõ nhịp mà hát, bây giờ không còn là cái sóng yên tịnh nữa mà bắt đầu tay mình phải động, và mình hát theo cái tay gõ này, đó hát rồi sau đó quay clip đưa lên trên Facebook mới phát hiện ra là hát lạc giọng hết, hát lạc tông hết, hát lạc nốt hết trơn, hát trật lất hết trơn. Trời ơi trời! Nhưng mà thôi cũng an ủi dù sao cũng qua được là vẽ biểu đồ tiết tấu một trăm bài, bây giờ bắt đầu tự gõ nhịp phách hát. Gõ hát ra mới trật lất. Sao không bao giờ nghe sư phụ rầy cái vụ hát lạc giọng? Nói tại chưa tới lúc, bắt đầu phải tiếp cận được cái đàn
[43:05]cái đã, nha, phải bấm được đàn, cái đàn nó định âm cho mình, nó sẽ biết cái nốt đó là là bao nhiêu vậy. Nên là, cho nên trong thời gian này sư phụ đang còn rất đau khổ khi nghe đệ tử hát, toàn hát trật hết trơn. Nhưng mà phải cắn răng chịu đựng, nỗi lòng tê tái mà không nói được với ai, thôi cứ để đó, thời gian đợi ra đánh đàn đó thì mới cái đàn mà định âm, nó fa nó ra nốt fa, nó mi nó ra nốt mi, mới đúng giọng, bắt đầu ta mới thấy cái cái hay của cái đẹp của cái âm nhạc là là thế nào. Rồi bây giờ đó, thì bắt đầu trở lại hướng thiền cũng vậy. Cái ải đầu tiên của vọng tưởng khó quá, và và nhiều người khi mà đạt được thiền định rồi
[43:48]và cứ xem cái thành tựu của mình là một cái gì nó kiêu kỳ, cao xa và cứ giữ nó bí mật với mọi người. Rồi cũng thành một cái làm thêm một cái ngăn trở nữa. Nghĩa là chính vị đó nhiều khi bất ngờ họ ngộ đạo, họ cũng không không cũng không có con đường vào, và khi ngộ đạo rồi họ truyền dạy cũng theo cái kiểu gì cũng rất là cao xa, kỳ bí, không ai có con đường vào, và giữ mãi thiền như là một cái gì huyền bí, bí ẩn, mờ ảo, ta không có đường vào. Đây là một điều rất là thiệt thòi cho chúng sinh. Và sư phụ ước mơ như vậy, vẽ cái thiền ra lại giống như vẽ biểu đồ tiết tấu, ai cũng đi vào được hết. Bây giờ ta phải hiểu rõ về vọng tưởng cái đã.
[44:35]Muốn vượt qua được vọng tưởng thì ta phải hiểu rõ về bản chất của vọng tưởng. Hiểu rồi ta sẽ biết cách xử lý nó, chứ chính vì thực sự ta không hiểu về nó kỹ. Nó nằm nơi tâm ta, nó cứ khởi lên mãi, hết ý nghĩ này tới ý nghĩ kia, ngoài những lúc ta bận tâm vì trách nhiệm ta phải suy nghĩ, ngoài những lúc bận tâm không phải còn trách nhiệm nữa thì nó cũng tiếp tục suy nghĩ, làm người ta không vào thiền được. Rất là phiền, bây giờ hiểu về nó nè. Thì bản chất đầu tiên của vọng tưởng là tự bộ não nó suy nghĩ, các tế bào não tự hoạt động, tự kích hoạt, tự hoạt động, đó là bản chất tự nhiên của vọng tưởng, của bộ bộ não á.
[45:12]Bộ não có nhiều cái bản chất tự nhiên bất lợi cho con người mà Phật gọi là bản chất là đau khổ là vậy. Ví dụ như cái bộ não ta được cấu tạo theo cái bản chất tự nhiên là buồn. À, con người tất cả chúng ta đều buồn. Có người nói: "Thầy nói buồn, đâu thấy buồn đâu?". Vì ta có phước thì chính cái tế bào não nó tiết ra một số nội tiết tố như dopamin á nó chặn nỗi buồn ta lại làm cho ta không thấy buồn, mà lâu lâu có vài điều phấn khích thì nó tiết nhiều dopamin lên một chút làm người ta cảm thấy rất là sung sướng, ví dụ vậy. Cũng vậy, bản chất của bộ não chúng ta là phát ra những tín hiệu điều khiển cơ thể ta.
[45:54]Nhưng mà ta cũng được một số cái nội tiết tố nó chặn lại, thế là ta kiểm soát được cái hành vi của mình, chứ nếu mà để tự nhiên cái bộ não chúng ta nó hoạt động á, tay chúng ta cứ giật giật thế này, cái người ta cứ lắc lắc lắc lắc, rất là kỳ, chân cứ lắc lắc, rất là kỳ cục. Cứ vậy nó cứ bắt mà ta không cưỡng lại được rồi tới khi ta loạn lên điên mà chết luôn. Đó là cái tự nhiên nó cứ như vậy. Cho nên khi mà ta ta đi ngoài đường mà thấy ai cứ vậy là biết họ bị thiếu nội tiết tố, nha, thiếu nội tiết tố, bộ não nó tự động nó hoạt động, cứ lắc lắc lắc lắc, cái bộ não tự, và bộ não tự nó suy nghĩ, nó tạo ra ý tưởng, ta gọi là vọng tưởng, nó cứ tự tạo ra.
[46:32]Cho nên nó có ba cái tự tạo ra làm cho ta rất là phiền. Một là tự tạo ra ý tưởng để suy nghĩ, hai là tự tạo ra nỗi buồn, và ba là tự tạo ra các tín hiệu điều khiển cơ thể. Nên mấy cái người mà Parkinson tay họ cứ rung thế này là bị bộ não nó phát tín hiệu ra không kiềm chế được. Rồi và có một thời gian họ dùng dopamin ngoại sinh để chặn lại thì đúng là họ chặn lại được thời gian, nhưng vì dopamin ngoại sinh thời gian nó hết tác dụng cái họ rung trở lại, rồi cũng bị tê liệt lại. Đó cái nên bộ não nó có ít nhất ba cái bản chất tự nhiên làm cho ta rất là khốn khổ mà Phật gọi bản chất cuộc đời là khổ là vì cái bản chất này.
[47:13]Một là gì?
[47:16]Ý tưởng, nha, nó tự tạo ra ý tưởng để nó sống với thế giới của nó, để nó tồn tại với cái có thế giới nó tự nó nó cảm thấy nó tồn tại, nó hiện diện quan trọng giữa cuộc đời này vì nó tự tạo ra cái ý nghĩ của nó. Hai là gì? Nỗi buồn, tự tạo ra, nó tự tạo ra cảm giác buồn. Ba là gì? Tín hiệu điều khiển cơ thể, tự nó như vậy. Ta không cần muốn gì nó cũng tự nhúc nhích tạo ra các tín hiệu để làm rung tay rung chân ta, rất là phiền. Nhưng bây giờ vậy, khi ta còn phước thì nó cũng có một cái nội tiết tố là dopamin nó tạo ra để nó chặn cái nỗi buồn lại, ta không có buồn. Nó có một số nội tiết tố cũng giống như dopamin chặn lại để cho nó
[48:02]không tạo ra tín hiệu mà điều khiển cơ thể ngoài ý muốn của ta. Nhưng riêng cái vọng tưởng thì ta chưa có, chưa có, nó cứ tự tạo ra ý tưởng vì nó cảm thấy giống như vô hại, nó cứ tự tạo ra ý tưởng trong đầu ta. Và bây giờ ta không dùng thuốc gì được, nếu mà ta chích mũi thuốc vô để cho nó dừng suy nghĩ thì ta cũng đang phá hủy toàn bộ bộ não ta luôn, nên dùng thuốc là con đường sai lầm, phải một sự tu tập bản thân mà thôi, chỉ bằng một phương pháp tu tập bản thân mà thôi chứ không còn cách nào khác. Nhưng cái phương pháp nào? Phương pháp nào? I am sorry, no way! Chữ no way dịch ra tiếng Việt là gì?
[48:48]Bó tay. No way, bó tay, thực sự không có phương pháp nào cả. Đó là lý do mà việc truyền dạy thiền định từ tôn giáo này tới tôn giáo khác và ngay cả trong đạo Phật luôn luôn thất bại. Vì no way, bó tay, không có phương pháp để vượt qua được cái ải vọng tưởng đầu tiên này. Như vậy sao nhiều người vượt qua được và nhiều người nhập được thiền? Vì? Vì? May mắn. Cái may mắn đó ta gọi là phước. Ừm.
[49:30]Phước.
[49:35]Ví dụ như Đức Phật á, năm 12 tuổi, lúc theo vua cha Tịnh Phạn đi dự cái lễ Tịch Điền, thì vua cha với các quan đi cày ruộng, thế là lúc đó thái tử đến một cái bóng cây ngồi thiền nhập định luôn, ngập Sơ thiền luôn, mà nói chuyện Sơ thiền vĩ đại vô cùng, mới 12 tuổi, đó là điều may mắn.
[49:55]Muốn nhập định nhập luôn. Và bây giờ nếu mà nói đợi một sự may mắn để ta có thể vào thiền được thì thế giới này vẫn tiếp tục sao? Xa lạ với với thiền. Nhưng hôm nay chúng ta có tham vọng, may là nhờ cái sự tiến bộ của khoa học kết hợp với triết học, với đạo học, đủ thứ hết, với tâm lý học, ta có thể giải mã được cái vọng tưởng này và có một phương pháp rõ ràng chặn nó lại, giúp cho ta vào thiền, giúp cho ta tìm được đúng cái cánh cửa thiền, gõ đúng cái mật mã của của cái cách gõ cửa thiền, và có một người nào ở trong mở cửa mời ta vào cái cõi giới của thiền định. Đó là điều mà ta mong mỏi của ngày hôm nay.
[50:47]Bản chất của vọng tưởng gồm hai điều: Một là bản chất tự nhiên của bộ não, hai là nghiệp từ quá khứ. Từ trong quá khứ ta phạm sai lầm, ta làm những điều không đúng, ta làm động tâm người khác, làm khổ tâm người khác, thì ngày hôm nay ta bị động tâm lại. Cái điều thứ hai thứ nhất trở lại đó là một điều nữa là bản chất bộ não là suy nghĩ. Nói tới bản chất của bộ não thì nó là một cái phương pháp, một kỹ thuật, một loại sinh lý. Còn nếu nói là do nghiệp từ quá khứ bởi vì ta đã làm khổ tâm người khác, làm bận tâm người khác, làm động tâm người khác thì nó thuộc về đạo lý. À, và rõ ràng như vậy, vọng tưởng nó bị kẹp bởi, bị tạo thành bởi hai yếu tố:
[51:45]một là sinh lý, kỹ thuật, hai là đạo lý, nghiệp. Và bây giờ ta cũng gỡ bằng hai cái cách này: một là gỡ cái nghiệp và hai là gỡ bằng một cái phương pháp kỹ thuật sinh lý học thì vọng tưởng ta sẽ vượt qua được. Và bây giờ nói về mà cái người Phật tử mình, người đệ tử Phật mình thì lấy cái nghiệp mà xử lý trước, lấy cái phước mà tạo trước, hướng về cái yếu tố cái cái hiện tượng may mắn giống như các thiền sư trước. À vì các thiền sư bất ngờ ngộ đạo cũng là một loại may mắn, thực sự đó là một loại phước lớn. À. Tức là ngày xưa, thay vì như chúng ta là phàm phu, chúng ta làm khổ tâm người khác, chúng ta làm bận tâm người
[52:35]khác, chúng ta làm động tâm người khác, thì bây giờ các ngài, trong kiếp xưa các ngài làm mọi người yên tâm. À. Nên bây giờ ta có thể định nghĩa lại cái nghiệp và phước lại. Thế nào là tội? Thế nào là phước? Định nghĩa tội là gì? Làm cho chúng sinh
[53:02]khổ tâm, động tâm, bận tâm. Thế nào là phước? Làm cho chúng sinh yên tâm. Hôm nay chúng ta có một định nghĩa khác về tội và phước. Trước đây chúng ta định nghĩa tội và phước theo nhiều yếu tố bên ngoài. À thế nào là phước? Là mình giúp đỡ người khác được thành tựu về ăn uống, vật chất, đời sống, kiến thức, tài năng, học hành, cơ hội là là là ta tạo phước. Thế nào là ta tạo tội? Là bởi vì ta làm cho chúng sinh không còn tiếp cận được với những yếu tố đó của đời sống như ăn, uống, y phục, tiền bạc, nhà cửa, giàu sang, hạnh phúc, mọi thứ. Ta ngăn chặn cái sự tiếp cận đó thì gọi là tội. Còn bây giờ ta mở đường để chúng sinh tiếp cận được với những điều đó
[53:56]về vật chất, về tinh thần, về tài năng, chuyện nọ thì gọi là phước. Đó là ta định nghĩa như vậy, định nghĩa rất là cụ thể, rất là dễ hiểu. Nhưng mà chưa tới cái gốc. Hôm nay khi ta học cái bài về bản chất của vọng tưởng, ta định nghĩa rút lại tận cái gốc của tội và phước. Nên ta nhớ vậy: tội tức là gì? Làm cho chúng sinh khổ tâm, động tâm, bận tâm. Phước là gì? Làm cho chúng sinh yên tâm. À. Dễ hiểu không? Dễ không? Dễ hiểu, dễ nói, nhưng bắt đầu khi ứng dụng vào trong cuộc sống thì trở thành khó. Khó là khó thế ví dụ thế nào? Khó thế nào?
[54:44]Ví dụ như là
[54:49]cái người đó họ đói, họ tới họ xin ta miếng cơm
[54:56]thì ta cho họ miếng cơm. Đó là phước hay tội? Phước hay tội? Phước chứ. Cho nếu mà định nghĩa cạn là tiếp cận cho người ta tiếp cận được với thực phẩm mà, là phước. Nhưng mà nếu sâu xa thì lúc đó làm cho người ta yên tâm được mấy tiếng đồng hồ. Vì họ ăn được cái tô cơm rồi họ bớt chạy vạy, căng thẳng đi tìm thức ăn xong được vài tiếng đồng hồ. Cho tới khi đói họ mới bắt đầu mới suy nghĩ ra để đi tìm chỗ nào để xin tiếp, phải không ạ? Thì trong mấy tiếng đồng hồ đó họ không phải xin nữa, họ no rồi bụng rồi, họ yên tâm. Như vậy một bát cơm của ta làm cho chúng sinh nó yên tâm được mấy tiếng đồng hồ, đó là làm chúng yên tâm.
[55:35]Còn lúc đó ta không cho, ta nói: "Không có cơm đâu cho mấy người, đóng cửa cái rầm, đuổi đi!". Thì điều đó nếu mà nói theo định nghĩa cạn của cái tội là ta cắt đứt cái sự tiếp cận của họ đối với với thức ăn, với cuộc sống, là tội, nhưng mà định nghĩa sâu hơn, làm cho họ động tâm, họ khổ tâm, họ bận tâm. Khổ tâm là vì họ nhục, họ bị chửi mắng, họ nghèo, họ đi xin rồi, khi mà nghe cái lời "đồ ăn mày", đóng cửa đuổi đi, họ bị khổ tâm. Rồi sau đó không tới giờ ăn rồi, xin không được thì đầu họ sao? Căng thẳng lại đi tìm chỗ nào xin nữa, không biết chung quanh đây còn ai có thể mình xin được nữa, để suy nghĩ ra.
[56:18]Cái suy nghĩ đó, cái động tâm bận tâm đó, bất bất bất an. Là chúng ta đã không cho miếng cơm, ta đẩy họ vào tiếp tục vào cái sự tình vào cái tình trạng của cái bận tâm, cái động tâm của bất an. Thấy không? Đó. Cũng là một sự tình, nhưng nếu ta định nghĩa tội phước theo kiểu cạn của vật chất, vậy nhưng ta định nghĩa sâu rõ ràng nó quy về tâm cả. Ta làm cho người khác yên tâm, ta làm cho người khác động tâm. Vậy thôi, cuối cùng tội phước chỉ là như vậy. Và khi một thiền sư bất ngờ họ ngộ đạo, chỉ vì trong nhiều kiếp họ làm cho nhiều người yên tâm quá. Cái sự xuất hiện của họ giữa cuộc đời làm cho mọi người
[57:01]yên tâm quá, cứ nhìn thấy ổng là thôi yên tâm. Vậy cũng có phước nữa. Nó là cả một cái quá trình rất là lâu, mình cứ đem lại lợi ích, đem lại niềm vui, đem lại sự an toàn cho người khác, nên bây giờ hễ thấy mặt mình là người ta yên tâm, làm cái phước. Cho nên tụi con thấy không phải khơi khơi mà mình làm cho người khác yên tâm dễ đâu, cả một quá trình tu hành, tích thiện, đạo đức rất có bề dày thì ta mới tạo ra một cái hiệu ứng là sự có mặt của mình ở đâu làm cho chúng sinh yên tâm tới đó. Hiểu chưa? Hiểu chưa?
[57:46]Thì cái rõ ràng là khi ta đem lại sự yên tâm mọi người, thì bây giờ cái phước của ta ta lọt qua được cái ải vọng tưởng để ta vào thiền, ta gõ cánh cửa thiền có người mở ra ta bước vào liền. Nhưng mà ta vẫn chưa hiểu hết bản chất của vọng tưởng. Ta may mắn ta lọt được vào cái tỉnh giác, nhưng cũng không hiểu hết bản chất của vọng tưởng. Vì vọng tưởng nó gồm hai yếu tố lận: một là nghiệp và hai là gì? Bản chất tự nhiên của bộ não là cứ suy nghĩ. À nên phải giải quyết cả hai, vừa giải quyết về cái sinh lý kỹ thuật, vừa giải quyết cái nghiệp. Rồi ta đang nói cái nghiệp tiếp. Bây giờ nói thế này: Nếu mà nói như sư phụ nói thì tụi con phải phấn đấu một thời gian rất
[58:29]dài tạo phước, nghĩa là để cho sự xuất hiện của tụi con ở đâu là mọi người yên vui đó thì tụi con mới đắc thiền, đúng không ạ? Đó là theo định nghĩa về nghiệp, thì bao lâu? Bao lâu chúng ta được cái điều đó? Mấy mấy tháng rồi? Mấy tháng? Ba tháng, ha? Ai nói ba tháng giơ tay lên! Đưa cây roi đây! Ba ba gì? Ba năm, phải không ạ? Ba năm là siêu nhân đó. Chứ đúng ra là phải ba chục kiếp. Ham ba chục năm, ham! Không dám đâu!
[59:14]Nhưng mà 30 kiếp thì quá lâu đối với chúng sinh. Trong 30 kiếp đó ta sẽ vô tình tạo nhiều lầm lỗi và không còn cơ hội để để nhập định được. Cho nên ta phải tìm một cái cách nào đó rút ngắn thời gian lại. Đó là cách gì? Lễ Phật sám hối, may mắn là vậy, may mắn chúng ta có Đức Phật, chúng ta có chư Bồ Tát, chư vị tôn giả A-la-hán là phước điền vô tận. Chúng ta cứ vậy quỳ lạy các ngài mà xin sám hối. Mà xin sám hối thì cái cái nghiệp những đời xưa mà ta đã làm chúng sinh bất an bây giờ nó rút ngắn lại do cái công đức ta lễ bái, lễ kính các vị giác ngộ. May mắn chúng ta có những vị giác ngộ như vậy để chúng ta lễ
[1:00:01]kính làm cho cái thời gian nó rút ngắn đi lại rất là nhiều. Đó là lý do mà chùa nào cũng phải có cái nghi lễ sám hối. Ví dụ như là sư phụ có viết cái bài sám hối rồi phổ thành nhạc vậy đó. Mà cái đầu tiên của những cái lời sám hối đó là đều là sự ca ngợi để gợi lên trong tâm ta cái niềm tôn kính Đức Phật. Vì cái niềm tôn kính đó là cái phước á. Thay vì ta phải làm cho chúng sinh được yên tâm thì mất ba chục ki- kiếp, bây giờ ta ca ngợi Đấng Giác Ngộ, ta cũng được cái phước để yên tâm. Ha, đây cũng là một cái mánh khóe đó, một cái lách luật. Chứ còn đi theo đi theo cái mà căn bản, 30 kiếp chưa chắc chúng ta vượt qua được.
[1:00:41]Nhưng mà có lễ kính Phật, thời gian rút ngắn lại, nhiều khi đúng là chỉ có 3 năm và nhiều khi chỉ 3 tháng ta vượt qua được. Đây là bởi vì cái phước điền của chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư tôn giả A-la-hán là vô tận. Nên có những câu: "Kính lạy Đấng Giác Ngộ, giữa thế gian tối tăm, Người là vầng ánh sáng. Đời đắng cay khó khó khăn, Người là niềm nương tựa. Chúng con xin kính dâng lên Người lòng tôn kính vô biên và mãi mãi". Thì những cái câu như vậy làm cho chúng ta tăng cái niềm tôn kính Đức Phật lên, rồi những đoạn sau bắt đầu chúng ta mới sám hối, ha. Ừm. À.
[1:01:24]Từ chấp ngã ban đầu biến thành tâm ích kỷ, chỉ biết đến thân mình quên tình thương thế nhân, bây giờ con ăn năn xin nguyện chừa lỗi trước, là khi lễ kính Đức... ta có được khi lễ có được khi lễ kính được khi lễ kính Phật khi lễ kính Phật khi lễ kính Phật để ta hối hận cái nghiệp quá khứ, thay vì ta phải trả cho đầy đủ, trả vừa vốn vừa vừa lãi, thì bây giờ ta lễ kính Phật ta trả cái rẹt cho nó ngắn lại. Đúng là may mắn là nhờ có Phật, chứ còn không mình tu không biết đời nào mới xong. Nghĩa là làm sao? Nghĩa là sao? Trả cả vốn và lãi là làm sao? Hừm ví dụ, ví dụ có cái anh chàng đó ảnh hứa ảnh thương cái cô đó, cái ảnh lấy cô đó có chửa có con ảnh bỏ đi mất.
[1:02:12]Cô kia giữa một cái coi như là hàng xóm ha, dòng họ, họ hàng mà ngày xưa chửa hoang là khủng khiếp lắm. Ngày xưa mà chửa hoang là đem bắt bỏ trôi sông rồi đó, bởi vì cái nhục của cả xóm chứ không phải là của gia đình nó không, mà bây giờ cái thằng cốt đột nó chạy đâu mất tiêu. Ta hiểu cái nỗi đau khổ của cô gái đó không ạ? Cái thời đó khủng khiếp lắm, cái nỗi đau khổ của cô gái, cái nhục nhã của cả gia đình, cả cái dòng họ, cả cái hàng xóm đó, chỉ cần nó trốn đi cái thôi mà cái nghiệp đó trả chừng bao lâu. Nói phần cái vốn thôi, cộng hết tất cả nỗi nhục nhã và đau khổ của cô gái, gia đình, dòng họ, hàng làng xóm thì dồn thành cái nghiệp của
[1:02:50]cái anh chàng đó thì nghĩ bao lâu thì anh này ảnh tu đắc đạo? Hửm? Đời trước mình có hay gây những nghiệp kiểu đó không? Không phải là vậy nhưng mà những cái cũng tương tự, ví dụ mình đi mình đánh giặc, đi vô nghi cái làng này có giặc ẩn núp đốt tràn hết cái làng của người ta đi. Mà xây một cái nhà đâu phải dễ, người nghèo mà đi kiếm vật liệu về dựng một cái nhà để ở, mà mình thẳng tay châm lửa đốt một cái vèo trong 5 phút cháy mất cái nhà. Nhà đó người ta phải xây bao nhiêu năm trời rồi trong lúc mà không có nhà người ta phải khổ sở, căng thẳng á ở thế nào, ăn thế nào rồi bây giờ làm lại nhà thế nào, rất là khổ.
[1:03:23]Nên trong vô lượng kiếp chúng ta đã tạo rất nhiều cái ác nghiệp gây khổ tâm, bất an cho biết bao nhiêu người, bây giờ mà đem lại trả vốn trả lãi mình nghĩa là nói mình cả trăm kiếp, cả ngàn kiếp bù không lại, nhưng may mắn vì có Đức Phật. Vì có Đức Phật. Thế là chúng ta cứ quỳ xuống đem hết tội mình dâng cho Phật. Thôi, tội nghiệp Phật thiệt á. Phải nói ha, phải nói là Phật ngồi đó, Phật ngồi không nói lặng im ha, mà như lay động ba nghìn thế gian là bởi vì quá khổ, quá tội nghiệp bao nhiêu tội chúng sinh đem giao hết cho Phật. Đó, bao nhiêu cái nghiệp mà mình đểu giả, mình ác độc, mình tàn nhẫn, mình quậy quạ, hôm nay quỳ trước Phật hôm nay:
[1:04:03]Con xin sám hối nộp hết cho Phật để Phật chịu hết, còn mình thanh thản ra đi, đã chưa? Thật thật phải thật sự là nói nếu mà mình mà biết Phật là như thế nào thiệt mình còn thương Phật gấp ngàn lần bây giờ. Bây giờ mình ráng tôn kính Phật, ráng thương Phật rồi bị ráng thôi, chứ nếu mà hiểu hết những điều mà Phật phải chịu đựng với chúng sinh thì mình thương Phật gấp triệu lần á, quá khổ luôn, bao nhiêu tội chúng sinh đem chất rồi nộp cho Phật hết. Đó, sáng giờ không biết bao nhiêu người đem nộp lên trước Phật á, cứ quỳ: Con xin sám hối, là giao hết cho Phật á rồi mình thanh thản mình ra về. Thế là vậy chúng ta cứ sám hối với Phật, ngày nào ta cũng lễ kính thì cái tội đó
[1:04:42]đáng lẽ ta phải trả trong 30 kiếp rút lại nhiều khi còn 3 tháng hoặc 3 năm. Nhờ như vậy, nhờ như vậy bắt đầu cái phước đó, phước lễ kính Phật và cái phước của sự sám hối đó nó đánh vào vọng tưởng của ta, làm cho đáng lẽ lúc đó cái vọng tưởng nó khởi lên nó làm dắt ta đi mê mờ bỗng nhiên ta tỉnh lại, ta có một cái tỉnh xuất hiện kèm đây nó chặn cái vọng tưởng lại và ta xuất hiện cái tỉnh thứ nhất là biết mình đang suy nghĩ, cái tỉnh thứ nhất. Nhớ không? Hôm trước Sư phụ có nói một lần rồi, đó là cái tỉnh thứ nhất.
[1:05:22]Hừm chúng sinh mê mờ bởi vì suy nghĩ mà không biết mình đang suy nghĩ, gọi là vọng tưởng, là mê mờ, là trầm luân, là đau khổ. Nhưng bây giờ ta quỳ trước Phật, ta lễ kính Phật, ta tụng lời kinh Phật, khi ta vừa động tâm suy nghĩ ta biết mình đang suy nghĩ, ta vượt qua được cái ải vọng tưởng. Đó là cái tỉnh thứ nhất. Hừm để được như vậy, để được cái vừa động tâm suy nghĩ biết mình đang suy nghĩ, phải nói ta đã vượt qua biết bao nhiêu nghiệp chướng của quá khứ mới có cái tỉnh thứ nhất này. Nhưng mà được bao lâu? Một chút xíu thì nghiệp khác lại trỗi lên, vọng tưởng khác lại trỗi lên làm cho ta mê mờ, ta trôi đi lại bởi vì ta dừng lại ở cái tỉnh thứ nhất rồi thôi.
[1:06:11]Nên ta khôn nhờ các đạo lý, phương pháp, kỹ thuật, thiền định để ta tiến đến cái tỉnh thứ hai, cái tỉnh thứ ba, cái tỉnh thứ tư, cái tỉnh thứ năm, rồi tỉnh thứ sáu, người ta tiến sâu dần vào những cái lớp tỉnh khác. Nhờ như vậy mà ta củng cố được cái sức tỉnh giác chánh niệm của mình không bị vọng tưởng dắt lôi kéo đi trong trầm luân sinh tử nữa, nhưng cái ải đầu tiên vẫn là vượt qua được cái nghiệp. Mà vượt qua được cái nghiệp thì đúng là ta phải làm phước rất nhiều, cả một đời sống này chỉ là sống vì tất cả chúng sinh, không còn sống cho mình nữa. Đó là cái căn bản, đừng khờ dại mà yêu chính mình.
[1:06:56]Yêu tất cả chúng sinh giống như lời Phật dạy, hoặc là nói gọn như Bác Hồ là yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu nhân loại. Đó, cái đó là căn bản đừng yêu chính mình, cả cuộc đời này là sống vì mọi người, cả cái thân tâm này là của chúng sinh. Vậy đó. Ta không của Phật pháp, của Tổ quốc, của thế giới, không còn là của mình nữa. Phải sống như vậy để vượt qua được cái tội lỗi mà ta đã tạo ra trong vô số vô số vô biên kiếp xưa. Nên sống là phải làm phước từng giây, từng phút và biết làm phước, không bao giờ dừng nghỉ, kết hợp với lòng tôn kính Phật tột độ, tuyệt đối và cái ý niệm sám hối, biết rằng cái nghiệp quá khứ mình quá
[1:07:43]nhiều, ngày hôm nay xin sám hối với Phật, mà sám hối Phật nghĩa là gì? Là nộp cái tội cho cho Phật. Thiệt nói đúng là có Phật chứ nếu không có Phật không ai chịu nổi cái tội của chúng sinh.
[1:08:01]Ta gọi tại sao Phật là phước điền vô tận? Bởi vì Ngài đủ công đức, đủ sự giác ngộ, đủ sự giải thoát để đón nhận hết tất cả tội lỗi của chúng sinh, tất cả tội lỗi hừ.
[1:08:20]Đó là cái cái hừm cái bước đầu tiên là chúng ta vượt qua cái ải vọng tưởng là tạo ra một cái phước chặn lại cái nghiệp quá khứ, phải sống đạo đức, lúc nào cũng làm phước và lễ kính Phật thường xuyên để sám hối. Có khi chỉ 3 tháng, có khi 3 năm chúng ta bắt đầu ta có một cái phước là có cái sức tỉnh. Khi chúng ta vừa động tâm suy nghĩ thì cái sức tỉnh nó hiện ra liền là chúng ta biết mình đang suy nghĩ, đó là cái tỉnh đầu tiên, cái thứ nhất. Và cái tỉnh thứ hai là gì? Là bắt đầu bây giờ ta nói tới cơ chế sinh lý của vọng tưởng. Để cho bộ não này hoạt động, khởi được những vọng tưởng thì bộ não này cần những cái gì?
[1:08:59]Dưỡng chất, phải không ạ? Oxy trên não, những chất lipid, những chất protein, những chất đạm, những chất khoáng và một luồng khí lực vô hình từ ở dưới bụng đưa lên, từ dưới thật ra từ dưới bàn chân đưa lên chạy từ dưới lên. Cái luồng khí lực vô hình đó nó nuôi cái bộ não để cho bộ não hoạt động. À. Thì bây giờ ta muốn cho bộ não đừng hoạt động nữa, đừng suy nghĩ nữa thì ta làm sao? Ta bóp cổ hử, không cho máu lên não nữa thì máu não nó không hoạt động nữa, đúng không ạ? Rồi sau đó thì sao? Đem chôn luôn. Nên ở đây nó có cái khó là thế nào? Não không hoạt động, không vọng tưởng nữa nhưng mà ta vẫn tỉnh táo và vẫn sống.
[1:09:43]Thì như vậy ta không có chuyện bóp cổ được, không bóp chỗ mà chận máu lên não được mà chặn cái gì? Chặn cái luồng khí lực vô hình. Chặn một yếu tố đó thôi, trong nhiều yếu tố để tạo nên cái suy nghĩ ở não thì ta chỉ chặn cái khí lực vô hình từ dưới chạy lên thôi thì bộ não vẫn còn sống, vẫn tỉnh táo, vẫn hiểu, vẫn biết, vẫn sống nhưng không động tâm suy nghĩ nữa. Cái nguồn khí lực vô hình là một yếu tố quan trọng và vì vậy khi cái tỉnh thứ nhất nó xuất hiện nhờ cái phước, ta suy nghĩ mà biết mình đang suy nghĩ là cái tỉnh thứ nhất, ta tiến tới cái tỉnh thứ hai là làm sao? Biết xuống toàn thân liền, chứ không dừng lại ở trên não nha,
[1:10:24]biết xuống toàn thân, nghĩa là khi ta an trú nơi toàn thân này thì ta đang ôm lấy cái luồng khí lực mà nó từ dưới lúc nào nó cũng tuôn trào lên trên não, nó cung cấp năng lượng cho não suy nghĩ. Bây giờ ta an trú xuống toàn thân thì ta ôm cái khí lực đó lại, không cho khí lực đó cung cấp lên trên não nữa, làm cho não nó tiếp tục nó yên ắng, không vọng tưởng tiếp. Thật ra nó không yên liền lúc đó đâu, nó vẫn còn những ý nghĩ lăn tăn lăn tăn á nhưng nó đã giảm bớt rất nhiều và ta vẫn đang còn còn tỉnh, không còn bị mê mờ chạy theo vọng tưởng. Đây là cái tỉnh thứ hai. Nhắc lại nha, cái tỉnh thứ nhất là gì? Biết mình đang suy nghĩ.
[1:11:05]Cái tỉnh thứ nhất này do đâu? Do lễ kính Phật nha, cũng là đem tội mình nộp cho Phật á, đó là nhờ lễ kính Phật. Và cái tỉnh thứ hai là gì? Biết xuống toàn thân liền, từ ngực xuống bụng liền. Nha, nhất là trong đời sống á, biết tỉnh xuống ngực với bụng là ta chặn lại được, giữ lại được, ôm lại được cái luồng khí lực đang tuôn trào chạy lên cung cấp cho não suy nghĩ, giờ ta an trú xuống dưới ngực dưới bụng thì tự nhiên, nhẹ nhàng thôi chứ đừng có an trú căng nha, an trú xuống dưới ngực dưới bụng tự nhiên ta vẫn tiếp tục tỉnh, vẫn tiếp tục tỉnh, không bị vọng tưởng dẫn đi. Mà khi đó là cái tỉnh thứ hai. Và cái tỉnh thứ ba là gì?
[1:11:46]Tỉnh thứ ba là khi ta biết thân, biết xuống thân như vậy thì tác ý thân này là vô thường, là cái tỉnh thứ ba.
[1:11:58]Cái cái thân vô thường này là quá trình quán chiếu mà hôm trước ta đã nói nhiều rồi, hôm nay ta không có lặp lại làm chi. Ngồi xuống một chút, đứng mỏi chân quá. Ái chà.
[1:12:18]Ló mặt vậy bên kia có thấy không cà? Có hả? Rồi.
[1:12:29]Bây giờ nhắc lại từng bước cho kỹ nha. Cái tỉnh thứ nhất là suy nghĩ mà biết mình đang suy nghĩ là tỉnh thứ nhất. Và cái tỉnh thứ nhất này để vượt qua được cái ải vọng tưởng, có được cái tỉnh thứ nhất này là do lễ kính Phật, sám hối, làm rất nhiều việc phước trong đời. Nhớ như vậy. Cái tỉnh thứ hai là gì? Lập tức sau đó là gì? Biết xuống toàn thân liền, để giữ cái luồng khí lực nó đang tuôn trào chạy lên mà nó cung cấp năng lượng cho vọng tưởng á, giờ mình an trú xuống ngực với bụng với thân là cái tỉnh thứ hai. Và cái tỉnh thứ ba là gì? Khi biết cái thân thì phải lập tức biết thân này là vô thường để không sinh cái bệnh chấp thân.
[1:13:10]Chứ ta biết thân mà ta không quán thân vô thường, ta xuất hiện cái chấp thân lại là một nguy hiểm khác. Nên phải biết xuống biết thân này là vô thường là cái tỉnh thứ ba. Cái tỉnh thứ tư là gì?
[1:13:30]Tỉnh thứ tư là hơi thở.
[1:13:34]Lúc đó khi ta biết xuống sâu dưới thân tự nhiên hơi thở hiện ra rõ. Trong cái hơi thở hiện ra rõ đó thường hơi thở có khuynh hướng mạnh lên. Mà khuynh hướng hơi thở mà mạnh lên nó kích động não trên, suy nghĩ mạnh, động tâm liền. Do đó khi hơi thở nó hiện ra, ta phải biết hơi thở, biết mà không điều khiển, biết mà giữ cho hơi thở chậm, ít, êm. Cái chữ ít mới là quan trọng, ít nó đã thâu tóm hết cả cái chậm và cái êm trong đó. Nhưng ta phải nói cho đủ chậm, ít, êm. Tại vì khuynh hướng hơi thở tự động khi ta biết nó một cái thì nó nhiều lên liền. Nên ở đây khéo giữ cho hơi thở chậm, ít, êm mà không dằn ép nha, không gồng, không dằn.
[1:14:23]Đó là cái tỉnh thứ mấy? Thứ tư. Nhắc lại, mấy chỗ này phải nắm cho kỹ lại giùm Sư Phụ. Tại vì đây là đi vào thực hành đó. Sau khi ta giữ gìn đạo đức của nội tâm, làm nhiều việc phước, lễ kính Phật, khi đủ rồi thì ta được cái tỉnh thứ nhất là suy nghĩ mà biết mình đang suy nghĩ. Tỉnh thứ nhất. Tỉnh thứ hai là gì? Biết xuống dưới thân liền, ngực và bụng liền, vì cái nguồn vọng tưởng, nguồn lực để cung cấp vọng tưởng nó nằm ở dưới thân nó chạy lên, ta biết xuống dưới là chặn nó lại. Biết thứ ba là gì? Cái tỉnh thứ ba là gì? Biết thân này vô thường. Cái tỉnh thứ tư là gì? Bắt đầu hơi thở, khéo giữ cho hơi thở chậm, ít, êm.
[1:15:14]Tỉnh thứ năm là gì? Biết sâu tới đáy bụng luôn khi ta ngồi thiền. Thật ra cái biết sâu dưới đáy bụng chỉ áp dụng khi ngồi thiền chứ còn trong đời sống thì không áp dụng được. Trong đời sống áp dụng bị rối loạn, vì ta không ngồi bất động thì ta không để tâm ở dưới đáy bụng được. Còn khi ta ngồi thiền thì ta áp dụng cái tỉnh thứ năm là biết sâu dưới tận đáy bụng luôn, ở dưới tận ở đan điền và huyệt hội âm luôn. Tại vì cái nguồn động của cái năng lượng mà cung cấp cho cái vọng tưởng nó nằm sâu ở dưới hội âm với đan điền. Cái đan điền nó thiên về cái tỉnh, hội âm thiên về cái cái định. Nên khi ta biết sâu ở dưới đan điền và hội âm thì tâm ta vừa tỉnh vừa định,
[1:16:03]biết sâu dưới đó thì cái mức độ mà yên lắng của tâm nó sâu dần, sâu dần. Đó là cái tỉnh thứ mấy? Tỉnh thứ thứ năm phải không ạ? Nhắc lại, cái chỗ này quan trọng cứ phải nhắc đi nhắc lại cho thuộc.
[1:16:23]Cái tỉnh thứ nhất là gì? Suy nghĩ mà biết mình đang suy nghĩ. Có được cái tỉnh thứ nhất này là do đâu? Do cả một đời sống đạo đức, làm phước, lễ Phật, sám hối, đủ thứ hết nha. Không biết bao lâu nhưng phải tinh tấn. Người nào tinh tấn thì thời gian nó rút ngắn lại, khiến cho ta được cái phước vừa động tâm biết mình đang động tâm, chứ không có chạy theo cái động tâm. Là cái thứ nhất. Cái tỉnh thứ hai là gì? Biết xuống dưới ngực và bụng, tức là biết xuống toàn thân. Vì sao? Bởi vì cái năng lượng để cung cấp cho vọng tưởng thực ra là từ ở dưới thân nó chạy lên, nên khi ta an trú xuống thân giống như ta ôm cái
[1:17:08]cái cái cái luồng năng lượng đó lại, giữ lại không cho nó chạy lên trên đầu. Đây. Cái tỉnh thứ ba là gì? Biết thân này vô thường. Quán vô thường thì ta hỏi lại huynh đệ mới biết. Cái tỉnh thứ tư là gì? Hơi thở, khéo giữ cho hơi thở chậm, ít, êm. Cái tỉnh thứ năm là gì?
[1:17:33]Là biết sâu xuống xuống đáy bụng, dưới đan điền và hội âm. Và cái tỉnh thứ sáu, cái tỉnh thứ sáu này để cho ta sau này mới chứng được thánh quả. Lúc nào cũng nhớ thẳm sâu trong nội tâm mình là vô minh, tội lỗi. Đây là cái tỉnh thứ sáu. Có nhiều người quên cái tỉnh thứ sáu này. Vì sao vậy? Họ chỉ cần biết tâm mình đang động là tâm yên liền, không cần làm gì khác nữa. Và họ dạy người ta cũng chỉ ở cái tỉnh thứ nhất thôi, biết tâm mình đang động rồi tâm nó không động nữa, họ dừng ngang cái tỉnh thứ nhất. Và nhiều người, mà phải đủ phước thì dừng ở cái tỉnh thứ nhất rồi là tâm được yên liền, thành một thiền sư liền.
[1:18:19]Nhưng mà rất nhiều chúng sinh cái tỉnh thứ nhất không đủ sức xử lý hết cái nội tâm loạn động của mình. Nên có cái người họ dạy ta tiếp cái tỉnh thứ hai: biết toàn thân. Thì nhiều người nhờ tới cái biết cái tỉnh thứ hai, nhờ biết toàn thân mà giữ được tâm mình yên tĩnh, không bị loạn động. Nhưng mà có những người ở cái tỉnh thứ hai không đủ sức để mà yên luôn, phải được tới cái tỉnh thứ ba là gì? Biết thân vô thường để không chấp thân. Rồi cái tỉnh thứ tư là gì? Có người phải biết tới cái tỉnh thứ tư là biết hơi thở, biết hơi thở ra, hơi thở vào, mà khéo giữ hơi thở chậm, ít, êm thì họ mới được yên luôn, chứ còn không có biết hơi thở họ loạn lại liền.
[1:19:02]Có người. Và có người biết cái hơi cái cái cái tỉnh thứ tư rồi vẫn không đủ sức để mà nhập định được, phải đợi tới cái tỉnh thứ năm là biết sâu ở dưới đan điền, hội âm thì họ mới được nhiếp tâm yên luôn. Nhưng có những người yên rồi vẫn không đủ sức để chứng thánh quả, dù yên vẫn không đủ sức chứng thánh quả vì thiếu cái tỉnh thứ sáu. Cái tỉnh thứ sáu là gì? Nhớ thẳm sâu trong mình là vô minh, tội lỗi. Cái tỉnh thứ sáu này mới là cái nhân để ta chứng thánh quả, còn những cái tỉnh trước kia coi vậy chỉ đủ để ta chứng thiền mà thôi, chứ không đủ sức giúp cho ta chứng thánh quả. Cái tỉnh thứ sáu này mới là cái nhân để ta chứng thánh quả.
[1:19:50]Lúc nào cũng nhớ mình vô minh, tội lỗi. Nên có một người vậy đó, khi ngồi thiền mà đạt được yên rồi, Sư Phụ chỉ nhắc: "Con nhớ quán tội trên tội, mình là một khối tội lỗi." Nhờ nhắc cái câu đó rồi mà chứng được thánh quả là như vậy. Vì cái yếu tố đó quan trọng lắm. Thực ra là mình nói cho gọn là thẳm sâu trong nội tâm mình là vô minh, tội lỗi, nhưng sự thực hôm trước Sư Phụ nói tới mấy yếu tố? Vô minh, tội lỗi,
[1:20:21]đau khổ, loạn động, loạn động, đau khổ và bấp bênh, nhớ như vậy. Nếu mình trải rộng, nhưng mà khi vào thiền sâu rồi, nói nhiều quá nó mệt, nó thành ra lải nhải, nó động tâm lại. Cho nên mình chỉ nhắc thoáng thôi là thẳm sâu trong nội tâm mình là vô minh, tội lỗi, nhắc vậy thôi. Thì sau này cái sự mà nhắc mình lúc lúc nào cũng nhớ mình là vô minh, tội lỗi á, nó trở thành một cái
[1:20:50]nó là một cái tỉnh giác nhưng nó là một ý niệm chính để giữ tâm hồn mình trong suốt cả cuộc đời này. Ví dụ tâm mình rất thanh tịnh, mình đi tới, đi lui, mình làm việc này, việc kia, nhưng mà lúc nào cái ý niệm mà thẳm sâu trong nội tâm này là vô minh và tội lỗi nó theo mình mãi, theo mình mãi. Mà khi ngồi thiền vì tâm có thanh tịnh cực độ, rất thanh tịnh, không còn động cái gì hết, cũng phải giữ cái thứ sáu này, thẳm sâu bên trong vẫn là vô minh, tội lỗi, đừng bao giờ buông. Hoặc là trong đời sống hằng ngày, dù có được thanh tịnh gì cũng không bao giờ quên cái ý niệm mình chỉ là vô minh, tội lỗi.
[1:21:29]Nha. Mà nhất là những lúc thanh tịnh thì càng phải nhớ nó. Cho nên khi ta thanh tịnh, ta dễ bị lầm lỗi là khởi lên một số khái niệm tự khen và trở thành kiêu mạn. "A, nay ta được cái này rồi. Ta kiến tánh rồi." Vân vân. Những ý niệm bất ngờ nó xuất hiện đi theo cái nội tâm thanh tịnh là một điều phá hoại, nguy hiểm. Nên vì vậy, giữ cái tỉnh thứ sáu, dù càng tâm càng thanh tịnh thì càng nhớ cái thứ sáu này, thẳm sâu bên trong ta là vô minh, tội lỗi, nhớ như vậy. Rồi, được chưa?
[1:22:21]Trong sáu cái tỉnh á, trong sáu cái tỉnh á, nó sẽ
[1:22:31]Trong sáu cái tỉnh á, ta nhớ đi vào thiền là ta đi trên hai cái gọng kềm, một là đạo lý và hai là kỹ thuật. Thực ra còn cái yếu tố thứ ba mơ hồ nằm ở vô hình ở phía sau là phước. Đó. Nhưng mà khi phân ra, phước nó là cái vô hình, nhưng mà khi phân ra cái gì dễ thấy đó thì ta có hai yếu tố là kỹ thuật và đạo lý. Thì trong sáu cái tỉnh đó, cái nào là đạo lý, cái nào là kỹ thuật?
[1:23:09]Cái đầu tiên của ta là phải tạo phước rất nhiều phải không ạ? Sám hối lễ kính, vậy đó là đạo lý hay kỹ thuật? Hả? Đó là đạo lý. Thì ta mới xuất hiện cái tỉnh thứ nhất. Cái tỉnh thứ nhất mình suy nghĩ, chợt biết mình đang suy nghĩ là cái tỉnh thứ nhất, thì cái này là đạo lý hay kỹ thuật?
[1:23:33]Ta suy nghĩ, chợt ta thấy mình đang suy nghĩ, nó là cái tỉnh thứ nhất. Thì cái tỉnh đó là kỹ thuật hay đạo lý? Ai nói nó là đạo lý giơ tay lên.
[1:23:46]Ai nói nó là kỹ thuật giơ tay lên. Còn ai không giơ tay gì hết thì giơ tay lên.
[1:23:57]Rất nhiều người không giơ tay vì không biết nó là cái gì, phải không ạ? Một vài người giơ tay thấy nó là đạo lý, một vài người giơ tay thấy nó là kỹ thuật, và còn người không giơ, hỏi lần thứ ba cũng không giơ luôn. Nói nếu không giơ tay gì hết thì giơ tay lên, cũng không giơ luôn. Không biết người thứ ba này thuộc lại cõi nào đây không biết nữa. Thực sự cái tỉnh thứ nhất này vừa đạo lý, vừa kỹ thuật, nó là cả hai. Nha! Khi ta suy nghĩ, ta bỗng nhiên chợt biết mình đang suy nghĩ, nó vừa là kỹ thuật, vừa là đạo lý. Tại sao? Tự suy nghĩ, sư phụ không trả lời câu này. Tự mình nghiệm lại nha! Rồi cái thứ hai, cái tỉnh thứ hai là gì?
[1:24:35]Biết xuống thân và tâm, biết xuống ngực và bụng á, à biết xuống thân chứ không phải thân và tâm, biết xuống ngực và bụng để chặn cái nguồn khí lực năng lượng nó chạy lên nó cung cấp cho não suy nghĩ. Là biết xuống thân và tâm an trú, á an trú ở bụng và ngực, là biết toàn thân á, thì cái này là đạo lý hay kỹ thuật? Đạo lý hay kỹ thuật? Ai nói đạo lý giơ tay lên. Ai nói kỹ thuật giơ tay lên. Very good! Đúng rồi, nó là kỹ thuật. Rồi. Rồi sau khi ta biết toàn thân rồi thì ta sợ mình chấp thân cho nên ta mới quán thân vô thường, tác ý quán thân vô thường, thấy thân này vô thường. Thì quán thân vô thường là đạo lý hay kỹ thuật?
[1:25:15]Ai nói đạo lý giơ tay lên. Ai nói kỹ thuật giơ tay lên.
[1:25:22]Lát con đi quỳ nhang nha con! Đó là đạo lý. Quán thân vô thường là đạo lý. Rồi, khi mà ta biết thân như vậy thì hơi thở nó xuất hiện, à mà nó hay khuynh hướng thở nhiều thở mạnh, do đó ta phải khéo giữ hơi thở chậm, ít, êm. Thì cái khéo giữ hơi thở chậm, ít, êm là đạo lý hay kỹ thuật? Ai nói đạo lý giơ tay lên. Ai nói kỹ thuật giơ tay lên. Giỏi! Good! Đúng rồi. Rồi, ở cái mức độ cái tỉnh thứ sáu là an trú sâu ở dưới, á thứ năm chứ, thứ năm, an trú sâu ở dưới đáy bụng, hội âm, đan điền là đạo lý hay kỹ thuật? Ai nói đạo lý giơ tay lên. Con tính giơ mà không dám giơ, thấy dòm quanh không ai giơ cái rồi nó rút tay xuống. Ngồi...
[1:26:10]Ai nói là kỹ thuật giơ tay lên. Đúng rồi, nó là kỹ thuật. Nó là kỹ thuật rất là lạ. Khi ta an trú sâu ở dưới hội âm, vậy mà bộ não ta rất là ổn, cũng đây là một kỹ thuật. Rồi khi mà yên như vậy rồi, ta nhớ thẳm sâu trong mình là vô minh, tội lỗi, thì đây là kỹ thuật hay đạo lý? Ai nói đạo lý giơ tay lên. Thì thôi giơ kỹ thuật chi nữa, giơ hết rồi còn gì nữa. Rồi vậy ha, nhớ rồi đó. Rồi! Rồi! Thì nhớ điều này vậy.
[1:26:47]Trong cái trong cái luận án tiến sĩ của sư phụ về nghĩa vụ của con người, nó có một cái câu của cái bản Tuyên ngôn Toàn cầu nói rằng con người ta có nghĩa vụ cùng nhau để... Thì cũng thì cũng vậy, thì cũng vậy, thì cũng vậy, thì cũng vậy, trên con... vậy, trên con đường thi... trên con đường thiền định giác ngộ này, ta đừng khờ dại đi một mình. Nhớ như vậy, lúc nào cũng phải share, chia sẻ đạo lý, rủ thêm người, độ thêm người, dẫn dắt thêm người để cùng tu tập. Nhớ như vậy. Bởi vì đi một mình không có kết quả, bởi vì đi một mình là biểu hiện của tâm ích kỷ. Nên trong học nhạc của Thiền Tôn Phật Quang cũng vậy, không có học một mình.
[1:27:43]Tới giai đoạn chạm vào cây đàn rồi phải có một người đọc tên nốt để cho một người bấm phím đàn. Tới giai đoạn tự mình nhìn bản nhạc bấm phím đàn, cũng phải có một người hỗ trợ kiểm sót kiểm kiểm tra cái tay mình bấm có đúng hay không. Đó là không ta không có đi một mình. Đi chung với nhau vậy mà sẽ đi nhanh hơn, sẽ đi nhanh hơn. Người ta có có một cái câu của ai nói: "Nếu muốn đi nhanh thì đi một mình, nếu muốn đi xa thì phải đi nhiều người". Mà giác ngộ là con đường đi rất là rất là xa, ta đừng khờ dại mà đi một mình. Lúc nào cũng tìm cách để gieo duyên lành với nhiều người, kết duyên lành với nhiều người, và rủ nhiều người cùng nhau
[1:28:25]tu tập hướng về sự giác ngộ, thực hành thiền định, làm cho ta có cái phước thêm. Có phước thêm ta giúp mọi người được yên tâm. Đó! Vì trong vô lượng kiếp quá khứ, ta đã gây bất an cho chúng sinh quá nhiều, để bây giờ cả cuộc đời còn lại, vô số kiếp còn lại chỉ làm một điều là đem đến sự bình yên, đạo lý, sự giác ngộ cho tất cả chúng sinh. Nên ta không... cái lộ trình giác ngộ này ta không đi một mình mà sẽ đi cùng nhau. Nhớ như vậy nha! Thôi vậy thôi nha!
[1:29:07]Hôm nay hôm nay vậy là nghỉ được rồi. Thank you for listening! Rồi, sư phụ chào các Phật tử ở Viên Quang, Nghệ An nha, hết nha! Chúc cho mọi người cùng nhau đi trên lộ trình giác ngộ thiền định nha! Bây giờ... Rồi, hồi hướng đi con. Dạ, chúng con xin thành kính tri ân Sư phụ. Kính thỉnh toàn thể Pháp hội khởi thân niệm hồi hướng ạ. Nguyện pháp giới chúng sinh cùng
[1:29:43]tinh tấn tu hành, thoát trần ngã vô minh, đồng viên thành Phật đạo.