[0:42]Lòng bồi hồi bước chân nhẹ trên đường phố,
[0:50]Trời Hà Nội gió mang về hương mùa thu,
[0:58]Từng nẻo đường vẫn in đầy trang sử cũ,
[1:07]Người tìm người, nước non này vẫn đợi chờ.
[1:15]Rồi buổi chiều nắng rơi vàng trên Hồ Gươm, Giọng Hà Nội, tiếng muôn đời sao lạ thường! Về Hà Nội, thấy thêm niềm yêu Tổ quốc, Nguyện lòng rằng sẽ không phụ ơn của người. Ôi thiêng liêng núi sông của ta bao la! Nay công lao máu xương tổ tiên đơm hoa, Xin dâng lên trái tim chân thành đậm đà, Ta thương nhau cháu con dân Việt một nhà.
[2:18]Rồi sẽ thấy nước non đẹp ngời, Cùng thế giới đắp xây tương lai. Sương Hồ Tây vẫn bay dịu dàng, Chuông chùa xa
[2:35]tiếng buông nhẹ nhàng. Tình người thắm thiết, Hà Nội yêu thương. Bóng trăng tỏa xuống, Phố xưa rộn ràng, cây gạo nghiêng dáng. Hà Nội mãi mãi Là vì sao mai. Ai biết chăng ai, Qua những đêm dài, son sắt chẳng phai.
[3:56]Lòng bồi hồi bước chân nhẹ trên đường phố,
[4:04]Trời Hà Nội gió mang về hương mùa thu,
[4:13]Từng nẻo đường vẫn in đầy trang sử cũ,
[4:21]Người tìm người, nước non này vẫn đợi chờ.
[4:30]Rồi buổi chiều nắng rơi vàng trên Hồ Gươm, Giọng Hà Nội, tiếng muôn đời sao lạ thường! Về Hà Nội, thấy thêm niềm yêu Tổ quốc, Nguyện lòng rằng sẽ không phụ ơn của người. Ôi thiêng liêng núi sông của ta bao la! Nay công lao máu xương tổ tiên đơm hoa, Xin dâng lên trái tim chân thành đậm đà, Ta thương nhau cháu con dân Việt một nhà.
[5:32]Rồi sẽ thấy nước non đẹp ngời, Cùng thế giới đắp xây tương lai. Sương Hồ Tây vẫn bay dịu dàng, Chuông chùa xa
[5:49]tiếng buông nhẹ nhàng. Tình người thắm thiết, Hà Nội yêu thương. Bóng trăng tỏa xuống, Phố xưa rộn ràng, cây gạo nghiêng dáng. Hà Nội mãi mãi Là vì sao mai. Ai biết chăng ai, Qua những đêm dài, son sắt chẳng phai.
[6:29]Tình người thắm thiết, Hà Nội yêu thương. Bóng trăng tỏa xuống, Phố xưa rộn ràng, cây gạo nghiêng dáng. Hà Nội mãi mãi Là vì sao mai. Ai biết chăng ai, Qua những đêm dài, son sắt chẳng phai.
[7:05]Thủ đô yêu dấu,
[7:12]Ta còn... có... nhớ...
[7:26]Xin được cảm ơn các nghệ sĩ. Sau đây là phần chính của chương trình, chúng tôi xin trân trọng kính mời ông Bằng Việt, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội lên có lời mở đầu chương trình.
[7:41]Kính thưa Thượng tọa Thích Chân Quang. Kính thưa tất cả các đồng chí và các bạn. Trong chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội chúng tôi, có thể nói hôm nay tức là một cái dịp họp mặt rất đặc biệt. Đặc biệt là vì Thượng tọa Thích Chân Quang, người trụ trì ở trong Bà Rịa - Vũng Tàu, hôm nay đã nhận lời với Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật ra đây để nói chuyện về những vấn đề của văn hiến 1000 năm Thăng Long. Đấy là việc đặc biệt thứ nhất. Cái thứ hai nữa là ngày hôm qua thì Thượng tọa cũng bận phải nói chuyện ở trên Phú Thọ trước cái kỷ niệm Đền Hùng và à cái ngày lễ kỷ niệm Đền Hùng.
[8:26]Nhưng hôm nay, Thượng tọa cũng đã có mặt ở đây để có dịp giao lưu với tất cả công chúng của Thủ đô Hà Nội nhân dịp 1000 năm Thăng Long. Chúng tôi phải nói rằng hết sức cảm ơn và hết sức trân trọng giới thiệu với tất cả các bác, các anh, các chị: Thượng tọa Thích Chân Quang, và là người của Bà Rịa - Vũng Tàu hôm nay có mặt ở đây để gặp mặt tất cả chúng ta.
[8:51]Thưa tất cả các bác, các anh, các chị! Nói về văn hiến 1000 năm Thăng Long, chúng ta có rất nhiều các nhà nghiên cứu về Hà Nội, các nhà Hà Nội học, các nhà nghiên cứu về lịch sử, về văn hóa của Hà Nội. Nhưng hôm nay có thể nói là một cái buổi nói chuyện hết sức đặc biệt là Thượng tọa Thích Chân Quang là trụ trì ở tận trong Bà Rịa - Vũng Tàu, là một trong các nhà nghiên cứu về Phật học rất lỗi lạc của nước ta, đã nhận lời đến nói chuyện với Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội tại đây, là trung tâm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, trung tâm của văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Đấy cũng là một cái điều hết sức đặc biệt.
[9:30]Và chúng tôi nghĩ rằng là có lẽ cái buổi nói chuyện này sẽ lưu lại dấu ấn trong chúng ta rất lâu dài, và cũng là một trong những kỷ niệm rất đẹp đẽ của công chúng, của những người yêu mến văn hóa Thủ đô Hà Nội đối với Thượng tọa Thích Chân Quang. Chúng tôi xin giới thiệu rất ngắn gọn là Thượng tọa Thích Chân Quang là trụ trì ở chùa Phật Quang, núi Dinh, Bà Rịa - Vũng Tàu, là một trong những giảng sư Phật học hết sức lỗi lạc của à Phật học à thời đại ngày nay. Thượng tọa đã thuyết giảng hơn 800 bài giảng, trong đó có hơn 100 đĩa đã được ghi hình, ghi băng và được Nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành. Ngoài ra Thượng tọa còn viết gần 20 cuốn sách
[10:17]và đã được xuất bản và công bố trong cả nước. Thượng tọa Thích Chân Quang đồng thời là nhạc sĩ. Thượng tọa đã sáng tác hơn 70 ca khúc, trong đó có tuyển tập Những Điều Thiêng Liêng được Nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành. Nhiều ca khúc của Thượng tọa đã được trình diễn tại các chương trình ca nhạc trong cả nước, được giới thiệu trên Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Hà Nội, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình Kỹ thuật số, Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Âm nhạc Việt Nam và rất nhiều các cơ quan thông tấn khác nữa. Chúng tôi cũng xin vui mừng giới thiệu với các đồng chí
[10:54]và các bạn là trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, một bản nhạc của Thượng tọa Thích Chân Quang sẽ được giới thiệu trên sóng của công chúng cả nước được nghe sau lời phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Chúng tôi xin một lần nữa trân trọng giới thiệu Thượng tọa Thích Chân Quang lên gặp gỡ, giao lưu và nói chuyện với tất cả các bác, các anh, các chị hôm nay.
[11:30]Xin kính thưa ông Bằng Việt, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội. Xin kính thưa Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch Hà Nội, lãnh đạo khu di tích lịch sử quốc gia Văn Miếu - Quốc Tử Giám, kính thưa tất cả quý khách quý ở đây. Thực sự, khi chúng ta nhìn vào cái tiêu đề được ghi trên cái biển phía sau này, chúng ta thấy hơi sợ. Sự thật là chúng tôi không có tham vọng một người ở miền Nam xa xôi mà dám về Hà Nội để nói về cái văn hóa nghìn năm của Hà Nội. Vì thực sự là chính ngay người Hà Nội cũng chưa chắc biết hết được cái văn hóa của Hà Nội một nghìn năm, đừng có nói một cái người cù bơ cù bấc ở đâu
[12:18]miền Nam trôi dạt ra mà dám nói về chuyện văn hóa Hà Nội một nghìn năm. Điều không có đâu, dạ. Trên cái biển này ghi thiếu ạ. Biển này nếu mà ghi đầy đủ phải phải thế này, là Thượng tọa Thích Chân Quang về đây bày tỏ cái lòng yêu kính của mình đối với cái nền văn hóa một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, tức là sự ngưỡng mộ của mình đối với một nghìn năm văn hóa của Thăng Long - Hà Nội, chứ không hề dám trình bày, bởi vì không ai đủ sức làm điều đó cả. Ngay chính cả những học giả lỗi lạc mà nói tới đề tài này còn phải sợ. Nha. Vậy khi mà chúng tôi nói rằng chúng tôi về đây bày tỏ cái niềm yêu kính của mình
[12:55]đối với cái văn hóa Hà Nội là chúng tôi không có nói nịnh người Hà Nội nha. Nói rất thật lòng. Nói rất thật lòng vì sao ạ? Bởi vì cũng không biết vì sao. Từ thuở mà chúng tôi còn nhỏ, cứ khi học lịch sử về miền Bắc, nhưng lòng cứ dạt dào thương mến, cứ mơ ước ngày đất nước được nối liền để về thăm quê hương miền Bắc. Rồi khi mà nghe những bài hát, đọc những cái quyển sách nói về cái miền Bắc, nói về Hà Nội, cái lòng thương nhớ vơi vợi như là thương nhớ một quê hương nào trong thẳm sâu cái tâm linh của mình, cũng chẳng biết được nữa. Và cứ cứ cái niềm yêu thương nó cứ lớn dần cho đến ngày mà đất nước được
[13:36]thống nhất, cho đến cái ngày mà chúng tôi được về thăm Hà Nội. Thật ra là mãi đến cách đây tám năm mới lần đầu tiên được đặt chân về Hà Nội và cũng lần đầu tiên là đặt chân về Văn Miếu này. Và lúc đó cái niềm cảm xúc nó không thể nào mà tính kể được. Chính vì vậy mà vài năm sau, sau vài lần đi về Hà Nội, chúng tôi mới viết cái bài mà "Đi giữa Hà Nội" mà lúc nãy ca sĩ Lê Anh Dũng đã trình bày rất là thành công. Tức là lòng bồi hồi, bước chân nhẹ trên đường phố, đi từng cái nẻo đường trên Hà Nội để thấy rằng là bao nhiêu là chiến công, bao nhiêu là cái công đức của tiền nhân, bao nhiêu là lịch sử của cha ông ta đã ghi lại trên từng cái
[14:15]nẻo đường của Hà Nội mà lòng mình cảm xúc biết là biết là bao nhiêu. Cho nên vì vậy là hôm nay là ngồi trước mặt tất cả quý quan khách như vậy, chúng tôi cũng không có tham vọng để trình bày về văn hóa Hà Nội đâu, mà chỉ nói cái niềm kính yêu của mình, và thật sự là đại diện cho những người ở miền Nam xa xôi nghĩ về Hà Nội, hướng về Hà Nội với cái lòng yêu mến giống như là nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ đã bày tỏ vậy, là: "Ai về miền Bắc ta đi với, Thăm lại non sông giống Lạc Hồng. Từ độ mang gươm đi mở cõi, Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long." Mà cái bài thơ đó đọc lên dường như khó ai cầm được nước mắt là vậy.
[15:04]Mà sự thật mà những người miền Nam biết suy nghĩ, có lương tri đều dường như cùng cái tâm tình như thế. "Từ độ mang gươm đi mở cõi", nói là "Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long" mà có người nào đó đã sửa lại cũng cũng hay là "Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long". Mà chúng tôi cũng vậy, cũng mãi ở trong miền Nam xa xôi, bây giờ thì được xe, được tàu, được máy bay đi nhanh, chứ lúc trước là Nam - Bắc xa vời vợi, cái niềm thương nhớ của mình nó thẳm sâu trong tâm linh, trong cái mạch sống tâm hồn của mình như thế nào không hiểu nổi mỗi khi nghĩ về miền Bắc, mỗi khi nghĩ về Thăng Long - Hà Nội. Nên hôm nay cũng bày tỏ chút tấm lòng của mình như
[15:40]thế, trên cái góc nhìn của một người miền Nam, của một người ngoài Hà Nội, của một người đứng trong cái phương diện của đạo Phật là như thế. Để trước tiên nói về văn hóa là gì thì chúng ta xin đi qua một cái thang định nghĩa về các chữ "văn" trước. Trước hết là văn chương, cao hơn văn chương là tới văn học, cao hơn văn học là tới văn hóa, cao hơn văn hóa là tới văn hiến, và cao hơn văn hiến là tới văn minh. Ta sẽ đi qua cái thang định nghĩa đó trước. Thì văn chương là gì? Văn chương là một cái tác phẩm được trình bày theo cái dạng ngôn ngữ mà thường là được ghi chép lại trên giấy hơn là được truyền miệng.
[16:21]Tại vì văn chương mà truyền miệng thì ta thường xếp vào loại là văn chương bình dân, văn chương bình dân, còn mà khi văn chương bác học rồi hầu hết là được ghi trên giấy. Và những sáng tác như là thơ, văn xuôi, những câu đối, những câu phú, vân vân, có tính bác học được ghi lại trên giấy, được chắt lọc cẩn thận thì ta gọi là là văn chương. Mà khi đã gọi là văn chương thì ta phải hiểu thế này, là nó có cái sự chắt lọc rất là cao độ. Nó khác với cái ngôn ngữ mà ta nói trong đời thường. Vì ngôn ngữ người ta nói trong đời thường nói xong ta chỉ giữ cái ý thôi, còn tất cả những điều mà ta đã nói với nhau ta quên hết, không để lại.
[17:03]Còn mà khi đã được gọi là trở thành văn chương, trở thành tác phẩm là nó được lưu lại, nó lưu lại trên hai phương diện: được người ta công nhận nó là có giá trị để lưu lại trên giấy, trên sách, hoặc là người ta công nhận nó có giá trị để người ta truyền miệng từ người này sang người kia. Ví dụ như những câu ca dao của ta vậy: "Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương, Mịt mù khói tỏa ngàn sương, Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ." Tức là những nếu mà truyền miệng thì nó phải có một cái giá trị gì đó buộc người ta phải giữ lấy nó, còn nếu không thì được lưu trên giấy nó cũng phải
[17:38]có cái giá trị gì đó để người ta mới tốn giấy, tốn mực mà ghi chép nó lên. Ta nhớ rằng vào thời xưa, giấy rất là hiếm, không như bây giờ. Và vì vậy, một tác phẩm mà được ghi chép lên giấy là phải được sự chắt lọc, sự chọn lọc rất là gay gắt, rất là khắt khe. Thì ta hiểu là như một cái nho nho sinh vậy, là có cái nuôi cái tham vọng đi học ra đỗ làm quan. Nhưng mà không phải ai cũng có giấy, có mực để có thể học được các sách của thánh hiền, mà cũng không phải ai cũng có thể tìm được một bộ kinh thư để đem về nhà đọc. Hầu hết là cứ mượn chuyền tay đọc của nhau thôi. Người nào rất giàu mới có thể mua được một cuốn kinh,
[18:17]một cuốn thư về mà để trong nhà làm gia tài, còn bình thường cứ chuyền tay đi chuyền tay lại hoặc là hay lắm thì chép lại. Và có rất nhiều cái ông đồ ngày xưa, những nho sinh ngày xưa học, dùi mài kinh sử chờ ngày lên kinh ứng thí đã phải học bằng cách là viết chữ trên đất, hoặc là đắp bằng đất sét trên một cái bảng cho ướt rồi cứ lấy cây mà vẽ để tập viết chữ Nho, chứ không phải là ai đi học đều có giấy viết như ta ngày nay. Chính vì vậy mà để gọi là cái văn chương của vào đời xưa, nếu mà ta nói bắt đầu từ 1000 năm và từ đời Lý - Trần thì những cái áng văn, áng thơ đó mà được chép trên giấy đều phải là những tuyệt tác.
[18:59]Nhưng rất tiếc là sau khi mà nhà Minh xâm chiếm ta, trong hai mươi mấy năm đó, họ đã tiêu diệt, tiêu hủy gần hết cái văn hóa trước đó vào thời Lý - Trần, nên ta còn sót lại rất là ít cái văn thư. Sau này từ đời nhà Lê trở đi thì ta mới bảo tồn được, cũng là một cái tiếc như vậy. Thì ta thấy là như cái câu ca dao mà "tiếng chày Yên Thái", đó là tiếng chày mà giã cây, giã vật liệu để làm giấy mà sản xuất ngay tại Hà Nội mà để cung cấp cho cả nước này không được nhiều lắm. Cho nên cái văn chương ngày đó cái sự chắt lọc tinh túy nó nó đạt đến mức độ cao độ, nó khác hẳn với cái văn chương bây giờ. Là vì sao vậy?
[19:36]Văn chương bây giờ là giấy, mực ta tràn đầy, bây giờ thêm cái phương tiện internet nữa. Nên người nào biết một chút về internet có thể vào mạng được, đặt ra một cái trang blog của mình, viết đủ thứ điều gì mình muốn. Và nó dễ dãi đến cái mức độ là cái sự chắt lọc tinh túy không còn. Bây giờ thì những ngôn ngữ bừa bãi, méo mó bắt đầu tràn ngập trên internet. Ta nói đây là một cái sự phá hoại, một cái dấu hiệu của sự nguy hiểm. Nó xâm xâm thực vào cái nền văn hóa nghìn năm qua của ta, rất là đáng lo lắng. Chỉ bởi vì chỉ bởi vì người ta dễ viết quá, dễ viết, dễ lưu lại cái điều mình muốn bày tỏ quá.
[20:16]Chính cái sự dễ dãi đó làm cho cái sự chắt lọc nó không còn và văn chương đã giảm đi cái mức độ mức độ cao quý hay là thẩm mỹ của nó. Đó là cái sự văn chương. Và từ những bài những cái tác phẩm văn chương mà ta có như văn xuôi hoặc là thơ, thơ mà đến cái niêm luật mà khắt khe như thơ Đường, như hôm trước Văn Miếu ta cũng tổ chức cái ngày hội thơ Đường vậy. Cái thơ Đường giống như là cái tinh túy về thơ mà không phải là riêng của Đông của của Á Đông đâu, mà phải nói là của nhân loại. Những cái niêm luật khắt khe của nó mà hiếm có nhà thơ nào mà mà mà sáng tác thơ Đường thường xuyên, thường thường là tập trung
[20:59]lắm mới viết được một vài bài, còn đa phần ta cứ viết những thể loại khác để cho dễ chịu, dễ trình bày ý tưởng của mình. Còn trình bày một bài thơ Đường mà vừa đạt được cái ý tưởng của mình mà vừa tuân thủ được cái niêm luật của nó là đòi hỏi cái trí tuệ cực cao. Lát nữa ta sẽ trở lại cái chỗ trí tuệ cực cao này. Bây giờ, sau khi mà ta có một cái những cái hệ thống văn chương của ta, gồm cả văn chương bác học được lưu lại trên giấy, rồi có văn chương bình dân được truyền miệng, thì ta có một nền văn chương, bắt đầu ta nâng lên một cái cấp nữa gọi là nền văn học. Nền văn học là gì? Văn học là văn chương cộng với sự đào tạo, sự nghiên cứu.
[21:41]sự phân loại, sự phân tích thì ta có nền văn học. Giống như là hiện nay ta có cái Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật vậy. Là tại sao lại có cái liên hiệp với nghệ thuật là ta sẽ nói sau. Nhưng là khi mà văn chương nó thành phong phú tràn đầy rồi thì bỗng nhiên sẽ có những người nói về cái văn chương. Vậy văn chương nói về cái gì mà xuất hiện văn chương, rồi tại sao lại xuất hiện cái văn học để nói về văn chương? Đây là cái quy luật tự nhiên của loài người. Thế ta viết là viết về cái gì? Một tác phẩm văn chương xuất hiện là nói về đời sống, nói về những điều không phải của văn chương. Ta nhớ như vậy, ta nhớ như vậy. Văn chương nói về cái gì?
[22:22]Văn chương nói về cái không phải của văn chương mà nói về những khía cạnh khác của cuộc sống như là chuyện chính trị, các triều đại vua, chuyện võ công hiển hách, chuyện một cái người vợ thương chồng đi rong ruổi chiến trường xa hoặc là cái nỗi buồn của của của bà Huyện Thanh Quan khi khi nhìn lại cái cố đô hoặc là cái châm biếm như là của Hồ Xuân Hương những điều trong cái cuộc sống này, vân vân. Thì đó là những điều mà ta nói về những điều không phải của văn chương. Nhưng đến khi mà ta nói về văn chương thì lập tức đó là trở thành văn học, văn học. Ta phân tích, ta phê bình, ta nghiên cứu, ta đào tạo, ta truyền thừa, ta kế thừa thì văn chương đã trở thành văn học, đó.
[23:07]Mà khi mà có văn học là ta phải có một cái gia tài văn chương đồ sộ thì mới có điều để ta nói về về văn chương. Mà khi nói về văn chương là nói về về là ta thành tựu cái văn học. Rồi đến khi ta nâng lên một bước khỏi văn học nữa là văn hóa. Văn hóa là gì? Văn hóa tức là cái nền văn học đó kết hợp với những nghệ thuật có trong cuộc sống này, cộng thêm với lối sống đạo đức, phong tục tập quán của xã hội và ta biến thành văn hóa. Văn hóa của một quốc gia, của một xã hội, vậy là ta cái thang nâng thêm một bước nữa để thành văn hóa ta gồm có: thứ nhất là nền văn học cộng với nghệ thuật cộng với cái lối sống,
[23:50]cái phong hóa, phong tục tập quán của xã hội thành văn hóa. Đó ta người ta đi thấp trở lại. Thứ nhất là văn chương, tức là những áng tha văn áng thơ, những tác phẩm được viết trực tiếp như văn, thơ, cả bác học, bình dân lưu trên giấy hoặc truyền miệng là văn chương. Đến khi cái gia tài văn chương lớn để khiến cho người ta phải nói về văn chương thì lập tức ta có một nền văn học. Rồi bây giờ khi văn học đó kết hợp với nghệ thuật như là nghệ thuật sân khấu tuồng, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật điêu khắc, hội họa... bây giờ có thêm điện ảnh nữa đó, vân vân. Thì khi mà cái văn học kết hợp với nghệ thuật
[24:28]kết hợp với cái phong tục tập quán mà văn chương đã thổi vào trong cuộc sống này. Ta nhớ là cái phong tục, cái phong hóa, tập quán và cả nhiều cái hoạt động khác của nghệ thuật, của cuộc sống con người đều từ văn chương đi ra. Văn chương là ngòi bút vậy chứ thật ra đã định hình tất cả. Cho đến khi mà cái văn chương đó từ ngày xưa đó nó thổi vào trong mọi khía cạnh khác, nó thổi vào trong nghệ thuật và nó kết hợp với nghệ thuật, ta bắt đầu có cái cái văn hóa. Ví dụ bây giờ, khi một cái à người miền Nam ra gặp gỡ người miền Bắc thì sẽ thấy có vài điểm lạ trong cái văn hóa, trong cái lối nói chuyện, trong cái lối giao lưu.
[25:06]Ừ bởi vì mỗi miền có một cái văn hóa hơi hơi khác khác nhau như vậy. Ví dụ như người miền Nam nói cái gì là nhập đề, trực khởi. Muốn xin cái gì là anh cho tôi xin cái đó, chưa nói vòng vo. Nhưng mà ra người Bắc mà để ta muốn hiểu được người đó muốn xin cái gì thì phải rào đón trước sau rất là cẩn thận chứ không có đường đột. Nhưng người miền Nam thì đường đột nói luôn ngay. Cho nên là chúng tôi ở trong miền Nam nhiều khi cũng bỡ ngỡ lắm. Nhiều khi người Phật tử đến thăm mình nói chuyện, mình cứ tập trung lắng nghe để xem nói cái gì. Nói là không hiểu, họ nói gì thì thầy thầy không hiểu. Thì ra là họ chưa vào đề, mới nói vòng vòng thôi.
[25:43]Chúng con đến đây gặp thầy từ bao lâu nay thế này thế kia, nói nói nói gần 5 phút rồi vẫn chưa biết nói cái gì. Hỏi: "Có gì vậy?" Mình là mình đang tập trung cao độ, cứ tưởng như người miền Nam đó hễ nói là vào chính đề liền nên phải tập trung để mình nhận được cái ý. Đúng, phải không có, chuyện ban đầu không quan trọng nhưng bất ngờ một cái là vào liền. Đó là cái văn hóa. Rồi rồi ngay cả như cái giọng nói của người miền Bắc cũng tạo cũng được xếp vào cái gọi là nghệ thuật cái văn hóa của Hà Nội mà chúng tôi đã đã ca ngợi: Giọng Hà Nội tiếng muôn đời sao là thương, hồi nãy trong cái bài hát như vậy á.
[26:16]Bởi vì cũng không biết tại sao chúng tôi sinh ở trong miền Nam nói giọng miền Nam, nhưng mà từ nhỏ đã phải dùng thẳng cái chữ miền Nam là mê, mê giọng miền Bắc, nhà mê giọng miền Bắc. Và bây giờ thì nói lịch sự hơn là yêu quý giọng miền Bắc, chứ hồi ở miền Nam là mê. Cứ nhớ vậy, từ lúc chúng tôi còn nhỏ, lúc còn bé mới hơn 10 tuổi mà hễ đi ngang cái nhà nào mà nói giọng Bắc thì đứng chân lại một chút xíu, để nghe người ta nói chút xíu cho đỡ ghiền á, để ghiền. Bây giờ ra đây thì hết ghiền vì gặp gặp ai cũng nói giọng miền Bắc cả. Hồi đó vậy. Rồi cứ chơi với hàng xóm, cách cách mình hai căn nhà có cái gia
[26:49]đình ở miền Bắc là cứ kết thân với gia đình đó để chi vậy? Để được nghe cái tiếng nói miền Bắc mỗi ngày. Đến nỗi là trong nhà đó có một cái cô con gái nhỏ nhỏ nói giọng Bắc cứ mê, người ta cứ tưởng mình mê cô đó. Sự thật không phải, chỉ mê cái giọng Bắc thôi, vậy. Cũng không biết tại sao. Nên lớn lên mà là khi mà chúng tôi viết cái bài nhạc Đi giữa Hà Nội buộc lòng phải nói cái phải đưa cái tình cảm của mình vào trong đó là giọng Hà Nội tiếng muôn đời sao là thương. Và chính cái giọng Hà Nội này mà chúng tôi đánh giá này, nó là một trong những yếu tố để giữ cái độc lập cho dân tộc. Khi chúng tôi nói điều này thì nhiều người ngạc nhiên.
[27:25]Nói tại sao mà cái giọng Hà Nội lại cũng là một yếu tố để giữ gìn cái độc lập của dân tộc? Lúc đó có một lần chúng tôi nói chuyện trong một bài giảng với Phật tử, chúng tôi nói là giảng trong miền Nam á, chúng tôi nói thẳng điều này: Cái giọng Hà Nội đã góp phần giữ gìn cái độc lập của dân tộc. Nhiều người ngạc nhiên nói muốn giữ độc lập dân tộc thì phải cầm gươm, cầm súng mà đi đánh người ta chứ, cứ làm sao mà chỉ bằng giọng nói? Không, thật như vậy. Vì khi ta bị một một cái sự xâm lược của một đất nước nào đó thì đến khi mà họ vào đây họ dùng vũ khí, họ chiếm giữ ta thì nó có cái sự giao lưu về ngôn ngữ.
[28:00]Họ nói ta nghe, rồi họ cũng nghe ta nói. Nhưng khi mà họ nói ta nghe đó thì ta mới nghe một cái giọng nói của cái người này, cái giọng nói của họ không thể thẩm mỹ bằng cái giọng nói miền Bắc ta mà nhất là người thủ đô Hà Nội. Cái từng chữ từng lời của ta trau chuốt, đẹp đẽ như thế, thẩm mỹ như thế, lịch sự lễ độ như thế. Còn cái dân mà họ mạnh, họ cậy cái sức mạnh bằng cái vó ngựa, bằng lưỡi gươm, họ đem mà chiếm ta mà nói năng cái giọng mà ta nghe cái mức độ thẩm mỹ nó rõ ràng nó kém hơn. "Ngộ tả nị xẩy a?" Không thể nào mà: "Xin mời anh vào đây uống với em một bát nước." Nó không thể đẹp được như vậy.
[28:38]Nói giọng hơi lớ lớ không đúng lắm. Nhưng mà khi ta nghe như vậy thì ta hiểu rằng là cái người mà xâm lược ta thấp hơn ta, văn hóa thấp hơn ta. Và chính vì nhận định điều đó, ta không chịu đựng được cái sự mà cai trị của họ nên nó nung nấu một cái sự quật cường, nung nấu một sự quật cường và đến lúc ta phải đứng lên. Đó là lý do tại sao mà ta bị thuộc Bắc hay là Bắc thuộc 1.000 năm nhưng không thể nào mà không thể nào chịu đựng mãi, không thể nào chịu đựng mãi vì vì rõ ràng cái văn hóa ta cao hơn họ một bậc. Mà tại sao đánh giá văn hóa ta cao hơn họ một bậc khi mà cái chữ viết hoặc là nhiều cái kinh thư của họ ta phải học?
[29:17]Thì chính bởi vì cái giọng nói người Hà Nội cực kỳ thẩm mỹ, cực kỳ thẩm mỹ. Dựa vào giọng nói này mà ta có cái tự hào dân tộc, đóng góp vào cái tự hào dân tộc mà ta đã đứng lên. Có phải vậy không ạ? Phải vậy không? Chúng tôi đã nhận định điều đó đấy. Nên đó cũng là giọng nói của người Hà Nội cũng là một trong những yếu tố, một trong những sắc thái của văn hóa, văn hóa Thăng Long - Hà Nội rất là độc đáo như vậy. Thì khi mà văn hóa thành tựu được, cái văn chương đã trở thành văn học, đã trở thành văn hóa nó đi vào mọi cái góc cạnh của cuộc sống, nó đi vào tâm hồn con người, nó tạo thành những tác phẩm của nghệ thuật,
[29:55]của âm nhạc, của mỹ thuật về kể cả của trang phục, làm thành cái lối sống, tập quán, cái đạo đức và nó làm thành các ngành nghề thì nó làm thành cái cái mức sống của xã hội, nó làm thành cái mức sống, nó làm thành cái quy phạm, cái tiêu chuẩn của xã hội. Mà nếu cái văn hóa đó nó được ấn định, nó không thay đổi, nó xác định cái giá trị của nó trong một thời gian rất dài thì ta gọi là văn hiến, dạ. Nên ở đây để ta theo cái thang định nghĩa: Từ cái văn chương là những tác phẩm được viết, được nói cho đến nền văn học để phân tích về cái văn chương đó cho đến cái văn hóa mà do cái văn chương đó ảnh hưởng vào
[30:36]trong cuộc sống đến mọi khía cạnh, bắt đầu khi mà cái văn hóa nó đã được ấn định, được xác định, được tồn tại qua một thời gian rất là dài thì ta gọi là văn hiến. Như ta đã từng nghe cái từ là Việt Nam với 4.000 năm văn hiến. Khi mà nghe nói 4.000 năm văn hiến là ta xác định được cái văn hóa của ta đã có từ thời lập quốc, từ thời vua Hùng. Cũng xin thưa là thế này: Sáng hôm qua chúng tôi cũng có cái vinh dự được về đền Hùng để giao lưu và nói chuyện. Hôm đó có ông ông giám đốc của đền Hùng, ông mời thì chúng tôi về đó có buổi nói chuyện. Trước hết nghe ông trình bày về lịch sử đền Hùng trong 30 phút và
[31:15]sau đó chúng tôi trình bày những cái cảm nghĩ, những ý tưởng của mình về đền Hùng cũng như cái triều đại Hùng Vương lập quốc. Thì chúng tôi cho rằng dựa trên lịch sử mà ta hiểu biết được thì mặc dầu là quốc tổ của ta nếu nói đúng là từ thời Kinh Dương Vương nhưng mà Kinh Dương Vương ổng đã ổng đã không màng tới cái ngai vị, ổng bỏ lỏng cái việc quản lý đất nước cả phân nửa đất nước Trung Hoa từ cái hồ Động Đình đến khi mà giao lại quyền cho con trai là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân cũng không màng đến ngai vị, đi lang thang về miền Bắc Việt Nam đến cái vùng khoảng Bắc Ninh gặp một nàng tiên cực đẹp,
[31:53]nàng tiên cực đẹp là Âu Cơ và ông đã phải lòng và hai người kết hôn nhau. Nhưng nàng tiên này cá tính mạnh quá. Nếu anh yêu em thì xin anh vui lòng ở rể, chứ còn em vĩnh viễn không làm dâu, chịu không chịu thôi, nghỉ. Thì không ngờ là là ông chịu. Thì chia lại thì cái truyền thuyết rằng là mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng để mà ta có cái từ "đồng bào" á, "bào" tức là cái bọc á. Đồng bào. Sinh ra trăm trứng thì sự thật chỗ này ta không lý giải nổi, ta không hiểu mà mà mà mẹ đã sinh cái cách nào kỳ lạ như vậy, nhưng mà thôi cứ là cho là như vậy đi. Thì à khi mà sinh ra rồi và lúc hai người bắt đầu có những cái mâu
[32:32]thuẫn Tại vì hai người họ sống với nhau cả mấy trăm năm á. Vì hai vị đó đều là thần tiên, sống rồi mâu thuẫn rồi bắt đầu chia tay nhau. Chia tay nhau thì đến lúc này, Lạc Long Quân mới truyền lại cho con trai mình là Hùng Vương đầu tiên cái ý chí lập quốc, chứ trước đó ta chưa hề có lập quốc. Đến từ đời Hùng Vương đầu tiên mới có ý chí lập quốc. Và cái ý chí lập quốc đó, khi mà được vua cha giao lại, Hùng Vương mới dùng cái phép thuật của mình đi khắp cả miền Bắc, đi đến từng bộ tộc để mà thu phục các bộ tộc, thành lập đất nước Văn Lang. Cái chuyện đó dài thì chúng ta không có trình bày lại. Nhưng mà đây là khi mà ta có cái nền văn hóa
[33:14]từ 4.000 năm là phải bắt đầu từ cái ý chí lập quốc của vua Hùng Vương đầu tiên. Mà có thể cái ý chí lập quốc này do vua cha Lạc Long Quân truyền lại, chứ trước đó khi hai người lấy nhau, Lạc Long Quân và Âu Cơ lấy nhau, chưa hề có tính tới chuyện lập quốc Văn Lang. Nên vì vậy mà ta hay thờ Hùng Vương là quốc tổ, chứ thay vì ta thờ Lạc Long Quân mới là đúng. Nhưng mà ta vẫn thờ Hùng Vương, chính vì cái ý chí lập quốc đầu tiên là của vua Hùng Vương. Mà tại sao? Đây, nói thêm một điều nữa. Là ngoài cái giọng Bắc mà chúng tôi mê từ nhỏ, còn mê thêm một cái nữa, mà cái này nói nhỏ thôi, xin quý quan khách nghe điều này rồi ra ngoài đừng nói lại.
[33:54]Là từ nhỏ chúng tôi có nhận định một điều: sao gương mặt người miền Bắc đẹp hơn người miền Nam? Đừng nói người miền Nam biết nha, nói người miền Nam biết là nguy hiểm, chúng tôi không về Nam được. Nhạc. Lúc nhưng biết như vậy nhưng mà giấu trong lòng, giấu trong lòng thấy kỳ lạ chứ. Tại vì lúc đó người Bắc năm 54 họ vào trong Nam cũng nhiều, mình tiếp xúc cũng nhiều, nhưng mà hễ gặp người miền Bắc cứ có cảm nhận, ủa sao họ lại đẹp hơn người miền Nam vậy? Cứ giấu trong lòng không nói. Mãi đến khi sau này đi tu rồi lên núi, rồi hôm đó có một cái Phật tử họ về thăm, lần đó không biết nói cái gì đó vui miệng mới nói với họ, nói:
[34:28]"Thầy thấy cái điểm này mà lâu rồi thầy không dám nói ra, thầy thấy cái gương mặt người miền Bắc đẹp hơn người miền Nam nha." Cái người Phật tử đó cũng nói: "Dạ, con cũng thấy như vậy." Thì ra là có thêm một người đồng tình, nhưng mãi đến nay không tìm được người thứ ba, bởi vì không dám bày tỏ do vẫn còn sống ở miền Nam á. Chừng nào ra Bắc ở luôn thì sẽ dám nói, không dám nói. Vâng. Thì khi khi mà ra Bắc, chúng tôi mới được dịp tiếp xúc rất nhiều với nhân dân, đồng bào miền Bắc, những vị Phật tử yêu quý của mình, thì mới nhìn thấy người nào cũng đẹp, đẹp, hầu hết là đẹp. Thì chúng tôi mới nói thế này:
[34:58]như vậy là cái người miền Bắc, dĩ nhiên là người miền Nam cũng được hưởng chứ không phải không, có mang hai cái gen của mẹ Âu Cơ. Một là giọng nói của mẹ Âu Cơ. Chúng ta đang nói giọng của mẹ Âu Cơ, xin thưa đó là điều xác định. Chúng tôi phủ nhận cái chuyện nói người Mường là người Việt cổ hay tiếng nói Việt Nam bắt nguồn từ tiếng Mường, xin thưa không có. Khẳng định tiếng ta đang nói là tiếng của mẹ Âu Cơ truyền lại. Đẹp như thế, hay như thế. Và một điều thứ hai nữa, khi cái ta nhìn vào người miền Bắc mà phảng phất phảng phất cái vẻ đẹp và sang, thì ta phải hiểu rằng đó là cái gen của mẹ Âu Cơ truyền lại.
[35:32]Và ta muốn biết đẹp thế nào, hãy nhìn vào gương, mỗi người hãy nhìn vào gương và thấy cái nét đẹp của mẹ Âu Cơ đã rớt lại trong trong tâm hồn và trên xác thịt của ta là như thế. Lát tối nữa ta về nhìn gương nha, nhìn gương vậy. Đó, đây là nói thật, không có nịnh đâu, không nịnh đâu, nói thật. Người miền Nam ăn ngay nói thẳng không có nịnh. Tuy nhiên là không phải tất cả mọi người miền Bắc đều đẹp. Câu này nghe hơi mất lòng. Vì sao vậy? Vì trong hơn 4.000 năm lập nước như thế, nó đã bắt đầu có sự gọi là pha trộn huyết thống giữa cái dòng máu mà của 100 con của mẹ Âu Cơ với rất nhiều cái bộ tộc ở khắp nơi, rất nhiều bộ tộc khắp nơi.
[36:13]Cho nên do đó, ta bị pha trộn nên có những người mà giữ được cái gen của mẹ Âu Cơ nhiều thì sẽ đẹp như thế này. Mời anh Kim Quốc Hoa đứng lên chút xíu. Anh là Tổng biên tập báo Người Cao Tuổi, sang và đẹp. Anh quay lại mọi người mới thấy cái đẹp của anh. Dạ đó, đẹp trai như thế, đó là cái gen mẹ Âu Cơ. Còn khi mà đã pha trộn cái bộ tộc mà xấu bớt rồi thì hãy nhìn vào đây. Đó. Xấu ốm thế này nè thấy không? Đàng hoàng. Nhưng mà 4.000 năm văn hiến từ cái văn hóa của vua Hùng Vương truyền lại, nay ta khẳng định ta có cái nền văn hóa đặc thù, không lẫn với các nước. Dù ta rất nhiều lần ta bị ngoại xâm và rất nhiều lần những cái cuộc xâm lược
[36:50]mà chiếm đóng ta rất là lâu, nhưng ta đã khẳng định cái văn hiến của mình. Văn hiến là gì? Như nói lại, đó là cái văn hóa được xác định, được ấn định qua một thời gian rất là dài. Đấy, đó. Bây giờ bắt đầu nói về văn minh. Văn minh là gì? Văn minh tức là cái nền văn hiến đó, cái nền văn hóa đó cộng thêm những thành tựu của những ngành nghề khác trong xã hội, nhất là khoa học, chính trị. Như vậy, khi ta có văn hóa, văn hiến cộng với khoa học kỹ thuật, cộng với chính trị, ta có cái văn minh. Đó, là đây, đây là chỗ bắt đầu ta lát nữa ta sẽ bàn lại. Khi mà nói đến 1.000 năm văn hóa Thăng Long - Hà Nội
[37:30]thì ta đành phải đặt cái mốc từ thời nhà Lý. Bởi vì năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã dời đô về về Thăng Long, đặt một cái nền móng cho cái nền thịnh trị lâu dài của đất nước ta và cái nền văn hóa gọi là văn hiến 1.000 năm cũng bắt đầu từ đó. Và cũng từ cái văn hóa, văn hiến đó, ta xây dựng được một cái đất nước văn minh đến dần dần như như ngày nay. Dĩ nhiên là trong suốt 1.000 năm đó, ta đã phát triển thêm, ta đã bổ sung thêm, cũng như ta đã vay mượn, học hỏi thêm từ nhiều nguồn văn minh khác để ta có cái nền văn minh ngày hôm nay. Nhưng mà bắt đầu cũng từ cái văn hóa của thời nhà Lý trước khi mà vua Lý Thái Tổ dời đô về đây.
[38:15]Thì như ta biết là vua Lý Thái Tổ là một người xuất thân từ ở trong chùa, mà chùa Tiêu Sơn. Nói về vua Lý Thái Tổ là ta hiểu ngay, ta nhớ ngay đến cái dấu ấn của đạo Phật trong tâm hồn của vua. Nên hễ nói tới Lý, tới Trần là ta nghĩ ngay đến đến đạo Phật là như vậy. Mà cái nguồn gốc của vua Lý Thái Tổ cũng có hai cái nguồn sử liệu khác nhau. Chúng tôi cũng xin nói sơ qua một chút xíu. Cái nguồn thứ nhất là theo sách ghi thế này mà chúng tôi sự thực cũng không đồng ý lắm: là mẹ của ngài đi chơi trên chùa Tiêu Sơn, gần gũi thần nhân, về có mang, sinh ra đem giao cho Lý Khánh Vân, nhà sư Lý Khánh Vân.
[38:55]Rồi Lý Khánh Vân nuôi một thời gian, giao trở lại chùa Tiêu Sơn cho anh mình là sư Vạn Hạnh. Thế là ngài ở trong chùa lớn lên, làm chú tiểu. Lớn lên là ngài sư Vạn Hạnh không cho không cho xuất gia, mà bắt phải học tất cả mọi ngành nghề, văn võ song toàn do sư Vạn Hạnh dạy. Bởi vì sư Vạn Hạnh là một siêu nhân. Ngày nay ta ít biết một điều thế này: sư Vạn Hạnh là một siêu nhân phi thường, ngài giỏi tất cả mọi điều. Chính ngài đã đào tạo nên một ông vua lẫy lừng mà cái tài năng của vua Lý Thái Tổ nó truyền đời dài dài dài dài cho đến xuất hiện nên những cái điều hiển hách trong đất nước ta. Mà hiển hách như thế nào?
[39:34]Là nếu mà nói thì ta không kể hết, ta chỉ kể một điều rất nhỏ thôi: cái học nghệ, cái tài trí của Lý Thái Tổ truyền cho đến đời cháu mình là Lý Long Tường, cách đó tám đời. Lý Long Tường vì không muốn gây hấn với nhà Trần, vì biết rằng vì tổ tiên mình đã nói trước nhà Lý chỉ tồn tại tám đời, cho nên là ta không nên gây một cuộc binh đao để mà cố giữ ngai vàng. Vì vậy, Lý Long Tường đã rời ra đi, bỏ đất nước ra đi để giữ gìn cái dòng họ mình và sang Cao Ly, ta gọi là Triều Tiên hay là Hàn Quốc á. Và tại nơi đó, Lý Long Tường đã lãnh đạo quân đội của Hàn Quốc đánh thắng được quân Mông Cổ luôn. Như vậy khi mà quân Mông Cổ đã đặt cái vó ngựa mình lên cả cái thế giới này,
[40:19]gần như cả thế giới này, thì quân Mông Cổ bị thảm bại bởi hai nơi: một là tại Hàn Quốc do người Việt Nam lãnh đạo chiến đấu, hai là tại Việt Nam do người Việt Nam lãnh đạo chiến đấu. Tức là nếu nói thắng, ta thắng người, ta thắng giặc Mông Cổ trên cả hai mặt trận cách nhau rất xa đều bởi người Việt Nam. Và cái tài trí đó cũng xuất phát từ Lý Công Uẩn hay nói là thẳng là từ nhà sư Vạn Hạnh. Cái điều mà thực sự là một võ công phi thường ta không bao giờ ngờ được như vậy, cả Lý và Trần đều giỏi như vậy. Thì một cái truyền thuyết thứ hai thế này: là mẹ của cha mẹ của Lý Công Uẩn không rõ nguồn gốc,
[40:56]hai người đi vào rừng thì mẹ đang có mang. Cái ông cha mới đi tìm nước thì rớt luôn xuống cái giếng chết. Mối nó đùn vào thành một cái ngôi mộ mà chung quanh có tám cái gò như một đóa sen. Và cái người mẹ mà mang bầu nặng tới ngày sinh đó mới khóc và đi lang thang, nghe tiếng chuông chùa mới tìm đến. Trước đó một đêm thì nhà sư Khánh Vân đã nghe đã nằm mộng thấy thần nhân mách bảo: "Ông dọn chùa cho sạch, ngày mai có thiên tử đến." Ngày mai thì ông chờ hoài, dọn dẹp không thấy thiên tử, không thấy vua đến, vì vua mãi trong Hoa Lư. Chỉ thấy một cái bà mang bụng bầu, đói gần chết, khát gần chết tới xin ở nhờ.
[41:33]Thì thương tình thì trong khi ngài đang chờ vua tới đó, thì thôi sẵn, tội nghiệp thì cho bà ở đó chờ, thì tôi đang mắc chờ vua theo hộ pháp mách bảo. Thì cho bà miếng ăn miếng uống đó. Vua chờ hoài tới tối không thấy, bà kia đẻ ra một đứa con. Đẻ xong bà chết, theo như rất là nhiều trường hợp các sản phụ ngày xưa sinh con rồi chết vì các phương tiện mà sinh nở vào thời đó rất là kém. Thế là vua đâu không thấy, ôm thằng nhỏ mồ côi cha mẹ nuôi luôn và không ngờ nó chính là thiên tử mà hộ pháp đã mách bảo. Và đến khi lớn lên thấy cái thiên tư đứa bé này nó phi thường, mới biết rằng tài năng mình không đủ dạy,
[42:09]nó mới giao cho anh mình là nhà sư Vạn Hạnh. Cái chuyện như vậy, cho nên cái văn hóa nhà Lý bắt đầu từ đạo Phật. Ta không phủ nhận điều đó. Chính các nhà sư với cái đạo lý của nhà Phật, cái từ bi, nhân quả và siêu thoát đã ảnh hưởng lên cái dấu ấn của sự cai trị của các vua đời Lý rất là nhiều. Mà đặc biệt ta còn nhớ mãi như vua Lý Thánh Tông. Khi mà có hội nghị hội họp với triều thần đã chỉ công chúa bên cạnh nói rằng: "Ta yêu dân như yêu con ta. Cho nên vì vậy, các ngươi làm quan phải biết lo cho dân mà thương dân như là cái tâm nguyện của ta vậy." Hoặc là đêm mùa đông giá rét mà, trời Hà Nội lạnh quá, trong Nam ra lạnh sợ chịu không nổi. Nói:
[42:55]"Ta ở trong cung mặc áo bào thế này còn thấy lạnh, bao nhiêu cái tù nhân xét tội chưa rõ, chưa biết tội thực hư ra sao mà cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, họ lạnh biết dường nào. Cho nên các ngươi phải cấp phát áo, cơm gạo cho người ta." Nên cái, một vị vua mà để ý những điều nhỏ nhặt như vậy nó thể hiện được cái cái đạo lý của đạo Phật trong cái cách sống và cách cai trị của vua. Nhưng, 60 năm sau cái ngày mà vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long thì vua Lý Thánh Tông bắt đầu cho xây dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử. Như vậy nghĩa là gì? Như vậy là triều đại nhà Lý ngoài cái tư tưởng, cái văn hóa của Phật giáo
[43:41]đã chấp nhận thêm cái nguồn tư tưởng, cái văn hóa của Nho giáo, nên Văn Miếu được lập nên để thờ Khổng Tử. Rồi sau đó ta mới thờ thêm những người tiền hiền, 72 bậc tiền hiền, vân vân, vân vân. Thì 6 năm sau nữa đó mới bắt đầu là thành lập cái Văn Miếu này như là một cái trường đại học mà ta gọi là Quốc Tử Giám, mà sau này nhà Trần gọi là nhà Thái học sinh để đào tạo các quan chức cao, cao cấp. Thì cái mà cái mà ta có cái nền học thuật, cái văn hóa, cái tư tưởng của đạo Phật, sau đó ta bắt đầu sáp nhập thêm, chấp nhận thêm cái văn hóa, tư tưởng của nhà Nho, nó tạo thành một cái cái văn minh. Như ta đã nói, văn hóa nó sẽ đưa đến cái văn minh,
[44:28]và cái văn minh đó nó có hai cái thành tựu: một cái thành tựu ít được nói đến và một cái thành tựu luôn luôn được nói đến, là cái nền văn minh của ta đó, là do cái văn hóa Lý - Trần kết hợp giữa cái Phật giáo và Nho giáo. Vì nhà Trần vẫn rất là tôn tôn trọng cái nhà cái Văn Miếu Quốc Tử Giám này, nên ta có hai cái cái triều đại đều ủng hộ Phật giáo và Nho giáo, và cái văn hóa đã tạo thành cái văn minh. Văn minh đã tạo thành hai cái kết quả. Hai cái kết quả đó, một cái kết quả ít được nhắc tới, phải có những nhà nghiên cứu chuyên sâu mới biết, và một cái kết quả luôn luôn được cả thế giới ca ngợi.
[45:08]Cái kết quả mà ít được nói tới, chỉ có những nhà nghiên cứu chuyên sâu mới biết là thế này: là lúc đó tại Hà Nội ta giống như là một cái xưởng kỹ nghệ và một trung tâm thương mại lớn của cả nước á. Tất cả mọi cái nghề: đúc đồng, đúc sắt, đúc tiền, làm giấy, làm chuông, làm tượng đều là ở Hà Nội, và Hà Nội các con buôn mới đưa những hàng đó đi về khắp nơi trong cả nước này. Nên ta có cái phố Tràng Tiền là cái chỗ đúc tiền, hoặc là cái làng Yên Thái là nơi để làm giấy, rồi cái chỗ mà cái làng Ngũ Xã là nơi đúc đồng, vân vân. Là tức là nhiều cái ngành công nghệ, kỹ nghệ đã được thành lập nơi cái xứ Hà Nội Thăng
[45:50]Long này, và đó là một cái thành tựu do văn hóa đưa tới. Ta nhớ như vậy, văn hóa nó đưa tới văn minh, nó kết hợp với cái kỹ thuật khoa học, cái bộ mặt chính trị để làm nên cái văn minh. Và văn minh Lý - Trần là như thế. Nhưng mà cái nền văn minh mà các công, kỹ nghệ của ta, các ngành, các phường nghề của ta tại Hà Nội thì chỉ có những người nghiên cứu chuyên sâu mới biết là vào thời Lý và qua đến đời Trần, các cái phường nghề của ta tại Hà Nội rất là giỏi, rất là có tiếng, như ngành gốm sứ ở Bát Tràng, ngành đúc đồng, ngành đúc sắt và vân vân nhiều mặt đều rất là thành công. Nên các con buôn từ Trung Hoa cũng về đây mua,
[46:31]thậm chí cái người Ấn Độ cũng đã có lần tới đây, và thậm chí là có nhiều người từ phía Chiêm Thành cũng lên đây, họ ở lại đây và họ giao lưu mua bán, học hỏi với ta. Nên ta có một cái chùa, chùa cho cái người Hồi giáo họ ở họ tu, mà sau đó thì họ có vì lý do gì đó họ không ở được nữa họ rút đi, để lại một cái chùa vắng tanh không ai tới mà ta gọi là chùa Bà Bà Đanh. Nhớ! Vì sao mà gọi là vắng như chùa Bà Đanh? Bởi vì chùa đó không phải thờ Phật, mà chùa của Hồi giáo, nên khi người Hồi giáo đi hết rồi chẳng ai tới nữa, nên gọi là vắng như chùa Bà Đanh. Bây giờ cái dấu vết chùa Bà Đanh cũng hơi khó tìm, đó.
[47:06]Thì đó là cái văn minh, đó là văn minh mà ít người biết là đã tạo nên cái các phường nghề rất là giỏi. Còn một cái kết quả của nền văn minh đó nữa mà ta thường hay nói tới, đó là cuộc chiến thắng lẫy lừng quân Nguyên Mông. Ba lần sang đây ba lần ta đập tan đuổi về hết trong chớp mắt, không có để lâu. Lần đầu tiên 6 ngày đuổi anh ra khỏi bờ cõi liền. 27 năm sau, 30 năm sau anh trở lại, lần nào anh chỉ hơn một tháng là đuổi anh ra khỏi đất nước, đánh tan tành, đánh tan tác, đánh mà anh không dám trở lại nữa. Đến như vậy! Thì mà tại sao ta có được cái kết quả xuất sắc trong cái quân sự mà toàn dân đồng lòng, mà từ quân,
[47:44]từ trung ương tới địa phương, tới làng xã đều tham gia vào cuộc chiến vĩ đại này? Văn hóa, nó chính là văn hóa. Nó chính là tấm lòng, nó chính là những áng văn bất hủ mà làm cho ta có cái niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn mà sẵn sàng xả thân cứu nước, giống như bài Hịch tướng sĩ của của Trần Hưng Đạo vậy. Ông nói đến cái cái nhục của người mất nước. Một đất nước cả nghìn năm như vậy mà bây giờ giặc nó qua nó giày xéo, đó là cái tên sứ nó ngông nghênh nó đến đây nó nó làm nhục cả vua của mình, các ngươi không thấy nhục hay sao? Bình thường các ngươi sống nhờ ơn vua lộc nước, mà bây giờ giặc nó tới, các ngươi không dám chiến đấu thì là như thế
[48:26]nào, để đất nước nghìn thu này lại cho ai, con cháu, vợ con các ngươi sẽ đi về đâu? Vì vậy từ bây giờ, các ngươi phải lo mà rèn luyện binh lính để chuẩn bị chiến đấu mà chống giặc. Cái bài Hịch tướng sĩ thật là cảm xúc, khiến cho các quân sĩ sau khi mà đọc xong cái lời đó rồi là khắc lên tay mình cái chữ "Sát Thát", quyết giết quân Mông Cổ, mà biết rằng khi đã khắc lên tay mình rồi mà nó bắt được nó có tha không? Không tha. Tức là chấp nhận chết thôi chứ không bao giờ trở thành tù binh. Vậy, chính vì vậy, chính cái bài văn Hịch tướng sĩ đó mà đã bốc thành một ngọn lửa chiến đấu mà đánh đuổi ngoại xâm.
[49:00]Thì sau này ta cũng đều có những điều tương tự như vậy, nên cái văn minh của thời Lý - Trần đã tạo thành những cái điều như vậy, nhưng ta không có Viện Hàn lâm Khoa học. Thời nhà Trần có lập thêm một cái Giảng Võ đường song song với cái Văn Miếu, tức là Văn Miếu là nơi học văn, mà bên Giảng Võ đường, bây giờ ta có cái đường Giảng Võ đó, là cái Giảng Võ đường để học về võ, thi cử về võ, luyện tập về võ. Bởi vì vua biết rằng là có văn có võ đất nước mới cường thịnh được, giống như Khổng Tử đã nói: "Túc thực, túc binh, dân tín chi", dân chỉ tin vua khi nào mà dân đủ ăn và vua có đủ sức mạnh để bảo vệ họ.
[49:42]Thì cái văn võ như vậy, nhưng vào đời Trần còn có một cái trường học bí mật nữa mà ít ai biết, đó là trường dạy tình báo của Trần Ích Tắc, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Như vậy vào thời Trần, ta có ba cái trường, ba cái trường lớn: Văn Miếu là nổi bật nhất vì từ thời Lý đã thành lập, rồi sau đó tới cái Giảng Võ, và tới Trần Ích Tắc thì ổng lập thêm một cái trường riêng không tên không tuổi bên cạnh cái phủ đệ của ông, trường để chuyên dạy về tình báo. Và đây là một điều ta biết thêm nè, xin thưa: Mạc Đĩnh Chi cũng là một nhà gián điệp tài ba, vì Mạc Đĩnh Chi là học trò của Trần Ích Tắc; Trương Hán Siêu được thờ trong Văn Miếu,
[50:25]cũng là một nhà tình báo tài ba vì Trương Hán Siêu cũng là học trò của Trần Ích Tắc. Nên vừa có học văn tại nơi Văn Miếu, học võ ở Giảng Võ đường, và có cái trường tình báo của Trần Ích Tắc. Nhưng chỉ có một điều đáng buồn thế này, một điều đáng buồn mà sử ghi lại, lúc đó Trần Ích Tắc cho rằng mình quá giỏi, giỏi hơn anh mình là Trần Thánh Tông, nên trong lòng cứ nghĩ rằng mình phải là ngồi người nắm ngôi vua mới xứng đáng, nên đến khi mà quân Nguyên Mông chuẩn bị nó sang đánh ta thì nó cho tình báo đi vào trước. Nó đi vào trước thì khi mà tình báo nó xâm nhập thì cái lực lượng tình báo của Trần
[51:00]Ích Tắc chộp được liền, tại vì ông Trần Ích Tắc ổng ổng chuyên trị về tình báo. Ổng chộp được liền nhưng mà khi chộp được rồi thì ổng bị mua luôn. Nên lúc đó là cái người đệ tử trưởng tràng là Nguyễn Văn Lăng là xúi Trần Ích Tắc là phải nên đầu phục nhà Nguyên Mông Cổ để đến khi Nguyên Mông Cổ nó đánh mình chắc chắn nó thắng, nó sẽ phong cho Trần Ích Tắc làm An Nam Quốc vương, mình sẽ trở thành vua. Nói đúng ngay cái tim đen, cái tham vọng bí mật của Trần Ích Tắc, thế là Trần Ích Tắc đã bí mật ký kết với với quân Nguyên. Và chính vì cái ký kết bí mật đó mà Trương Hán Siêu đã bạt phải là bôn tẩu chạy trốn, chạy trốn khỏi cái trường và
[51:39]trốn về Ninh Bình, sau này mới phò tá cho Trần Hưng Đạo, là cố vấn cho Trần Hưng Đạo trong hai cái trận chiến rất là khốc liệt. Đến khi mà cái cuộc chiến tan, thì lính của Phạm Ngũ Lão mới bắt được nguyên một cái tập hồ sơ bí mật về các người ở trong triều đình nhà Trần mà đã ký kết với quân Nguyên Mông, thì đem về giao nộp lại cho Cho Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Vương và Trương Hán Siêu xem. Thì việc này là việc lớn của triều đình nên Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng không quyết định. Sau khi đọc qua hết, thấy tất cả các tên rồi mới giao lại cho vua Trần Nhân Tông. Thì hôm đó, khi mà họp các triều thần để luận công luận tội,
[52:19]vua Trần Nhân Tông mới đưa cái xấp tài liệu đó ra, xấp tài liệu mà mọi người đều có ký tên với với quân Nguyên. Mà nếu theo cái luật pháp vào đời xưa, vào thời phong kiến á thì không phải chém một đời đâu, không phải chém một cái người mà đã ký tên với giặc đâu, chém mấy đời á? Chém ba đời vì cái tội phản quốc. Nhưng mà vua Trần Nhân Tông làm một điều mà lịch sử trên thế giới có lẽ chưa từng có. Vua cầm cái xấp đó vua đưa ra, vua nói: Rất nhiều người trong triều thần kể cả trong hoàng tộc đã ký kết với quân Nguyên, nhưng ta đã đánh thắng được giặc, ta đã xác định được cái uy quyền của dân tộc, giặc đã thua, đã khiếp sợ và ta nghĩ rằng các ngươi
[53:03]đã lầm lỡ một lần trong đời, ta cho các ngươi cơ hội để làm lại cuộc đời, chuộc tội, phải phục vụ đất nước cúc cung tận tụy, không bao giờ được nghĩ tới cái chuyện mà phản bội quốc gia, phản bội tiên đế một lần nữa, và để tha thứ ta đốt tập này không bao giờ luận tới. Vua đốt cái tập đó luôn trước triều đình. Mọi người thở phào, kể cả Mạc Đĩnh Chi, thở phào và từ đó coi như cái hồ sơ tội phạm mình xóa mất luôn. Vua Trần Nhân Tông cái đức độ lớn như vậy và có lẽ cũng chính vì điều đó mà con cháu nhà Trần sau này cũng hưởng được nhiều cái đức độ của của vua. Đó, nhưng mà ta thấy rằng cái học thuật của nhà Trần
[53:40]rất là giỏi, vừa dạy văn, dạy võ và cả cả cái tình báo, nhưng ta thiếu cái cái Viện Hàn lâm Khoa học mà nó để lại một cái ảnh hưởng rất là lớn cho ta. Cho nên từ cái văn chương, ta có những áng văn rất là hay, ha, ta thành lập được cái nền văn học, ta thành một cái văn hóa, rồi ta thành cái nền văn hiến, rồi ta thành cái nền văn minh. Nhưng mà khi văn minh mà ta có đó, ta đụng phải cái người Tây phương là người Pháp, ta thua liền. Khi mà những trận đánh Bắc Hà đầu tiên tấn công vào Hà Nội, dù là ta rất giỏi võ nghệ, ta múa cái đường gươm mà có thể mà hạt mưa không chạm vào người được, là ta có thể có những cái lời mà thuyết
[54:21]phục một con người người ta phải mềm lòng, ta có những câu phú, câu đối để đời trong sách sử, nhưng ta thua súng đại bác nữa. Đại bác nó đánh nó bắn vào thành Hà Nội ầm ầm ầm, vỡ từng góc thành ra. Súng mà súng với hỏa châu của nó bắn từ xa ta chưa lại gần được, nó bắn ta chết mất. Vì vậy mà ta thất thủ từ từ rồi cả đất nước ta rơi vào tay giặc. Chỉ bởi vì ta có Văn Miếu, ta có Giảng Võ Đường, ta có cái trường tình báo Trần Nhật Duật, nhưng ta không có Viện Hàn lâm Khoa học, nên cái nền văn minh ta thiếu một mảng đó, mà để lại 80 năm ta bị Pháp đô hộ.
[55:04]Nên cái văn minh của ta là văn hóa chưa kết hợp đủ với các ngành nghề khoa học. Ta có các phường nghề rất giỏi vào thời nhà Trần kéo dài qua các đời nhà Lê, nhưng mà không phát triển thêm nữa để không trở thành những khoa học do ta không có Viện Hàn lâm Khoa học như là các nước phương Tây. Cả Trung Hoa cũng thua đau vì chuyện này, không phải riêng ta. Cả Trung Hoa cũng vậy, cũng có các dòng võ thuật, cũng có Văn Miếu, cũng có các đào tạo tình báo, nhưng mà rồi vẫn bị Bát quốc liên quân xâu xé, đánh tan nát, bị cai trị một thời gian dài, kể cả phải lệ thuộc cả nước Nhật nữa. Cũng giống như ta thôi, chỉ bởi vì cái văn minh mà ta thành
[55:46]lập được nó thiếu một mảng khoa học kỹ thuật, mà sở dĩ thiếu cái khoa học kỹ thuật bởi vì ta thiếu cái Viện Hàn lâm. Đến ngày nay ta dường như cũng chưa có Viện Hàn lâm. Ngày nay những cái viện sĩ Hàn lâm của ta cũng đều là viện sĩ của nước ngoài. Tuy ta là là một người Việt Nam nhưng mà do cái tài trí của ta giỏi quá rồi những cái Viện Hàn lâm nước ngoài phong ta làm viện sĩ, chứ ta chính ta cũng chưa có Viện Hàn lâm, nhưng mà thôi để đó nhà nước tính từ từ như vậy. Nhưng mà điều đó, chính vì điều đó mà ta thấy rằng điều này là cái văn minh ta thiếu một mảng, mà tại sao, tại sao ta giỏi đến như vậy, tài trí người Việt Nam giỏi như vậy mà ta lại thiếu mất?
[56:30]Lỗi tại đâu? Cho đến ngày hôm nay vậy, khi mà người Việt Nam ta ra nước ngoài đi học, học không thua ai, mà dường như lớp học nào có người Việt Nam thì người Việt Nam đều đỗ đầu trong lớp đó. Ở đây những vị mà có con em mình đi du học có thấy có nghe nói như vậy không ạ? Có nghe nói như vậy không ạ? Ta thường đỗ đầu. Các nước này nước kia cả bên qua sang Trung Quốc học cũng giỏi nhất nhì, qua tới Tây phương, tới Mỹ, tới Âu châu ta cũng đều giỏi nhất nhì. Mà chúng tôi nghe nói thế này, người Việt Nam mình sang Trung Quốc học tiếng Trung Quốc, nói hay hơn người Trung Quốc và đều được người Trung Quốc giữ lại để dạy và để làm việc cho họ
[57:13]bởi vì người Việt Nam nói tiếng Trung Quốc hay hơn người Trung Quốc. Xác định lại cái điều mà chúng tôi nói hồi nãy là chúng tôi mê tiếng Bắc là hoàn toàn chính xác là như vậy, không phải một mình chúng tôi mê mà người Trung Quốc cũng mê luôn. Người ta cũng mê luôn. Ta đi đâu ta học giỏi đó, nhưng mà tại sao ta không có cái nền khoa học kỹ thuật vượt lên? Xin thưa, xin thưa chỉ bởi vì cái câu thơ ta hay quá, cái câu phú ta hay quá, cái câu đối ta hay quá, ta mê, ta chìm trong đó luôn. Trong cái việc mà làm thơ, làm văn, làm phú á, cái khó nhất, cái đánh đố mà phức tạp nhất là những câu đối. Những câu đối là cái một cái người họ ra câu đối thứ nhất,
[57:59]mình phải đối lại câu thứ hai mà mỗi cái câu nó mang tính chất gì khi ta tạo ra nó cũng phải giống như vậy, mang đầy đủ những tính chất đó, nghĩa là một chữ mang rất nhiều tính chất mà vẫn tải đầy đủ một cái ý mà ta muốn nói. Ví dụ như khi Mạc Đĩnh Chi đi qua cái cổng thành, ông ông quan giữ thành ông đóng cửa lại, ổng thảy xuống câu đối: Quá quan trì, quan quan bế, thỉnh quá khách quá quan.
[58:26]Ta cứ nghe quan quan quan lặp lại. Quá quan trì, đi qua cửa trễ rồi, quan quan bế, cửa thành đóng rồi, thỉnh quá khách quá quan, ông có ngon đi qua đi. Mạc Đĩnh Chi đối lại: Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối. Ta cũng nghe đối đối đối lại, tức là chữ nào quan nằm vị trí nào bên đây chữ đối nằm lại. Xuất đối dị, ra câu đối dễ, đối đối nan, đối lại mới khó, thỉnh tiên sinh tiên đối, ông có ngon đối trước đi. Nói là câu thách nhưng sự thật câu ông đã hoàn chỉnh là một câu đối, nó mang đầy đủ tính chất như vậy, nên ông kiêng nể quá mở cửa thành cho vô. Hoặc là những cái câu đối mà ta thấy nó nó phức tạp lắm như một ông quan
[59:04]mà nói chuyện với một cái người học trò ra một câu đối, thách câu đối: Mu là mủ, để thì mới, đội thì cũ, đội rồi tiến lên phủ. Đây là câu đối bằng chữ Nôm. Thì ta cứ nghe mu, mủ, mủ, mủ rồi phủ đó nó vần nhau, chữ này nó nối theo chữ kia. Mu là mủ, để thì mới, đội thì cũ, chữ mới với chữ đội nó vần nhau đứng sát bên cạnh nhau, đội thì cũ, chữ cũ nó vần với chữ phủ, đội rồi tiến lên phủ, chữ phủ nó vần với chữ cũ, nó vần với chữ mủ, thì cái người học trò đối lại: Đái là đai, để thì ngắn, vấn thì dài, vấn rồi bước lên ngai. Cứ dài, ngai, đai nó vần vần vần với nhau, nó nối tiếp nó nằm đúng vị trí trở lại,
[59:44]mà cái câu đầu chỗ này tính từ câu thứ hai chỗ đó phải là tính từ, câu này bên đây danh từ chữ đó phải danh từ, câu cái này nó vần kêu cái thứ mấy thì bên đây phải vần thứ mấy. Nghĩa là một cái câu đối nó một chữ nó mang rất nhiều tính chất mà nó vẫn phải hiểm hóc như vậy, mà nó vẫn phải hay như vậy, thì những cái đó nó lấy hết tất cả những cái tinh hoa trí tuệ của nhà nho ta. Ta tối ngày cứ lo mà làm mấy câu đối để mà chứng tỏ cái tài năng của mình. Hoặc là như vậy, khi mà Cao Bá Quát còn nhỏ đi đường ngông nghênh, mà ổng ngông nghênh từ nhỏ cho tới lớn, gặp một quan, quan đi ổng không thèm tránh đường, cái ông quan trói lại, hỏi:
[1:00:21]Mày là con nhà ai mà quan đi không biết tránh đường? Nói: Dạ tôi là học trò. Mày học trò tao ra câu đối mày đối được mới tha, không là đánh đòn mày. Thỉnh ngài ra câu đối. Cái ông quan ổng đứng đó gần cái cầu ổng thấy dưới nước trong có con cá, mới là ổng mới ra câu đối: Nước trong leo lẻo cá đớp cá. Ông kia nói liền: Trời nắng chang chang người trói người. Ông cũng người với tôi mà ông, cái cá đớp cá người trói người. Nghĩa là nó vần sát sát sát sát và đầy đủ, ông kia nể quá tha liền. Đâu biết sau này Cao Bá Quát lên tới làm quan, làm quan chưa vừa ý làm loạn luôn, rồi sau này bị chém đầu. Thì những cái câu đối như vậy nó đòi hỏi những cái
[1:00:57]tinh ba trí tuệ đó ta chìm mất trong đó luôn. Ta cứ nghĩ là cái văn minh là những câu đối hiểm hóc. Bên Tây phương đi đường khác, nó không thèm chìm vào đó, nó chẳng bao giờ có câu đối hay, chẳng bao giờ có những cái áng thơ mà hiểm hóc như là ta. Nó lo đi nó chế tạo vũ khí, nó lo nó rèn luyện, nó nghiên cứu về hóa học, vật lý và toán học, rồi nó phát triển lên thành một cái nền khoa học kỹ thuật. Còn ta mãi đến đời Lê Quý Đôn ta mới bắt đầu có nhà toán học xuất sắc đầu tiên để đời lại. Nhưng mà cái toán học đó cũng không phổ biến cho đến khi Hồ Quý Ly khi mà ổng ra khoa thi rồi ổng bắt trong khoa thi đi thi triều đình phải thi môn toán.
[1:01:31]Phải nói cái nhìn của Hồ Quý Ly cực kỳ sáng suốt. Nhìn đi trước thời đại bao nhiêu năm. Cái cái nhìn của Hồ Quý Ly giỏi hơn cả cái tầm nhìn của Trung Hoa. Mà nếu Hồ Quý Ly mà có thể tồn tại, ta mới có thể đuổi theo kịp Tây phương. Nhưng tiếc rằng là Hồ Quý Ly đã thua trận nhà Minh. Thua trận nhà Minh là do dân không ủng hộ. Đây là điều rất là đáng buồn. Dân không hiểu nổi Hồ Quý Ly, dân không hiểu nổi cái tài của Hồ Quý Ly đã cải cách để có thể làm đất nước mình vươn mình lên với thế giới. Nhưng không thấy. Chỉ thấy bữa nay sao ổng cắt ruộng tôi, ổng chia ruộng người nọ, ổng ra tiền tôi đang xài bằng tiền đồng
[1:02:06]tiền vàng ổng bắt tôi xài tiền giấy, ổng cho nên không ủng hộ khi nhà Minh sang nói giả vờ nói là để giúp nhà Trần diệt nhà Hồ, dân theo hết trơn. Thế là ta bị chìm trong cái ách xâm lược một lần nữa. Phải đợi đến khi mà Lê Lợi khởi nghĩa rồi ta mới giành lại được độc lập một lần nữa. Khi mà Pháp đã xâm lược ta, ta đã bại trận với cái người Pháp thì ta mới mở mắt ra là cái văn minh mà ta có được từ cái văn chương, văn học, văn hiến, văn hóa gì đó nó vẫn thiếu một mảng rất là lớn là cái khoa học kỹ thuật. Và vì vậy là những nhà lãnh đạo kế tiếp của ta đã đưa cái khoa học kỹ thuật vào rất là khẩn trương.
[1:02:48]Nhất là ngày hôm nay, Đảng và Nhà nước ta rất là chú trọng cái việc đào tạo khoa học kỹ thuật. Bởi vì nếu thiếu khoa học kỹ thuật, ta không thể theo kịp các nước được trong lĩnh vực về xây dựng kinh tế, quốc phòng. Và có có kinh tế, quốc phòng rồi ta mới có cái quyền lực chính trị đối với quốc tế được. Nên ngày hôm nay, nhiều khi đến nỗi mà trong lý thuyết ta đã nói khoa học kỹ thuật là then chốt để tiến lên xây dựng mà chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản gì đó vân vân nên ta thấy như vậy. Người Tây phương á họ không đào sâu văn chương, nhưng mà đầu tiên của họ là gì? Là họ tham vàng. Họ mê vàng quá và họ tin rằng là nếu họ biết cách họ sẽ chế tạo sắt thành vàng.
[1:03:31]Họ đi tìm cái công thức để chế tạo sắt thành vàng để cho họ giàu lên, nhưng vĩnh viễn không bao giờ chế được vì đó là nguyên tố, ta không thể đổi nguyên tố này sang nguyên tố khác được. Nhưng mà trên bức đường mà lầm lạc đó, sai lầm đó, họ đi mày mò họ tìm cách mà chế tạo sắt thành vàng, không ngờ là họ tìm ra quá nhiều điều của khoa học, rồi phát triển khoa học lên luôn. Và cái hay của họ là họ vinh danh được những nhà khoa học bằng những viện hàn lâm. Chính vì điều đó nên họ phát triển đồng bộ giữa văn chương, giữa võ học quân sự và các ngành khoa học kỹ thuật. Thế nên họ đã một thời gian rất dài họ đi chiếm thuộc địa và làm chủ thế giới này.
[1:04:11]Một thời gian rất là dài như vậy mà tạo nên cái bộ mặt của văn minh toàn cầu hiện nay. Cái văn minh toàn cầu hiện nay ta thấy là hỏa tiễn bay về sao Hỏa, ta thấy cái máy vi tính, internet ngồi một chỗ ta lấy được thông tin toàn thế giới, ta thấy xe máy chạy ngoài đường, máy bay bay trên trời, tàu thủy lặn dưới nước, đủ thứ hết. Cái nền văn minh toàn cầu ta có chính là nhờ cái văn minh của Tây phương. Ta phải công nhận như vậy, không chối cãi được. Nhưng cái nền văn minh toàn cầu hiện nay vẫn còn thiếu một cái gì đó. Ta nói với nhau là vẫn còn thiếu một cái gì đó khiến cho thế giới chưa thể có hòa bình,
[1:04:50]vẫn còn chia rẽ, vẫn còn hận thù, vẫn còn những cái hưởng thụ sa đọa và cái sinh thái môi trường bị đe dọa nặng nề. Nên vẫn còn thiếu một cái gì đó. Lúc trước ta thiếu một cái gì đó nên ta mất độc lập, và bây giờ ta mới thấy rằng ta thiếu khoa học kỹ thuật. Ngày hôm nay thì ta đã tiếp nhận được khoa học kỹ thuật của thế giới rồi, nhưng cái văn minh của thế giới này vẫn thiếu một cái gì đó khiến cho tình người với nhau không đầm ấm, thế giới vẫn chia rẽ, hận thù, vẫn chiến tranh. Con người vẫn đi tìm cái hưởng thụ sa đọa, vô lý và cái môi trường toàn cầu bị đe dọa. Rừng vẫn bị phá, nước thải vẫn xả vào các sông hồ thiên nhiên,
[1:05:35]không khí thì ô nhiễm và con người phát sinh ra nhiều bệnh tật không lường được. Như vậy rõ ràng cái nền văn minh toàn cầu hiện nay vẫn thiếu một cái gì đó. Và đây hôm nay ta, những người Việt Nam, được thừa hưởng bốn nghìn năm văn hiến của cha ông, ngồi hôm nay ta chuẩn bị đón nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, ta đang nói với nhau về nghìn năm văn hóa Thăng Long, ta nhìn thấy cái thiếu đó của thế giới. Hôm nay ta ngồi với nhau ta nhìn thấy cái thiếu đó của thế giới, cái văn minh của thế giới thiếu cái gì đó, thiếu cái gì đó. Và để lấp đầy cái thiếu đó cho thế giới, ta sẽ tình nguyện là một trong
[1:06:16]những người tiên phong, sẽ làm một cái gì đó để lấp đầy lại cái nền văn minh cho nhân loại để cho nhân loại ngày sau này không còn hận thù, không còn chiến tranh chia rẽ, không còn những con người sa đọa hưởng thụ và không còn cái sự tàn phá môi trường như thế này nữa. Ta sẽ nguyện hứa người Việt Nam sẽ đi đầu cùng với những người có lương tri trên nhân loại sẽ lấp đầy cái điều mà nền văn minh nhân loại đang còn thiếu đó. Hôm nay hướng về một nghìn năm Thăng Long, ta hứa với thế giới điều đó. Người Việt Nam sẽ làm lại, bởi vì người Việt Nam đã từng thiếu một cái góc văn minh nào đó nên ta đã bị ngoại xâm,
[1:06:55]và ngày hôm nay ta hòa nhập được, ta tiếp nhận được cái văn minh của nhân loại nhưng ta chợt thấy nhân loại vẫn còn thiếu cái gì đó như ta đã từng bị thiếu, và hiểu được cái nỗi đau của cái nền văn minh chưa toàn vẹn. Ta hứa với nhân loại, những người Việt Nam yêu nước, yêu nhân loại này sẽ lấp đầy cái thiếu thốn đó cho văn minh thế giới. Nha, ta hứa với nhau chắc như vậy, ừ. Nhưng mà để lấp đầy cho cái nền văn minh toàn cầu tương lai thì ta bắt đầu từ đâu ạ?
[1:07:30]Ta bắt đầu từ đâu?
[1:07:35]Ta bắt đầu từ ngòi viết. Ta trở lại với những nhà văn, những nhà sáng tác trở lại. Vì ta biết rằng chính những nhà sáng tác đó, những người cầm bút đó tạo nên những văn chương. Và khi văn chương mà được xã hội chấp nhận nó sẽ tạo thành cái văn học, văn hóa, và ta cũng biết vậy, cái văn hóa đó sẽ định hình cái văn minh của con người. Nên trở lại ngay từ căn bản chính là những người cầm, cầm bút. Ta sẽ trở lại điều này một lần nữa. Nên để lấp đầy cái văn minh toàn cầu lại trở lại vai trò của người cầm bút một lần nữa. Đó, anh Hoa thấy không? Anh Bằng Việt thấy vai trò của anh ghê gớm lắm. Sau này các anh sẽ thay đổi thế giới đấy chứ không phải không đâu.
[1:08:15]Chính những người cầm bút chứ chẳng phải ai cả, lạ như vậy. Bây giờ hôm nay ngồi trước Văn Miếu, chúng ta
[1:08:24]nói về nghìn năm văn hóa Thăng Long mà xem như Văn Miếu đặt cái mốc tư tưởng của văn hóa Việt Nam trong một nghìn năm này. Trước hết là để thờ Khổng Tử vào đời vua Lý Thánh Tông, sau đó đến đời Lý Nhân Tông thì dựng trường Quốc Tử Giám tại đây luôn. Mà tại sao vua là những Phật tử nhưng mà lại tiếp nhận Nho giáo để đồng hành trong cái hệ tư tưởng quốc gia mà cảm thấy rất hòa hợp, rất bổ sung không hề chống trái? Mặc dù sau này giữa Nho giáo có xung đột với Phật giáo một phần nào nhưng không đáng kể vì vua là người đạo Phật mà vẫn chấp nhận Nho giáo. Ban đầu thì Phật giáo và Nho giáo đều hướng thiện giống
[1:09:07]nhau, nhưng Phật giáo khi càng đi sâu vào thì càng đi vào cái tâm linh, giác ngộ, siêu thoát; còn Nho giáo đi sâu vào thì đi vào cái nhân cách phẩm hạnh của cá nhân, cái đạo đức để làm quan, cái đạo đức làm vua, mối tương quan giữa cộng đồng, mọi điều rất là sâu sắc và thực tế. Cho nên vua đã sáng suốt nhìn thấy hai hệ tư tưởng này bổ sung cho nhau. Con người ta phải có một cái chỗ đi về tâm linh cao siêu chứ không thể là sống làm một người tầm thường, đó là Phật giáo, vua xác định điều đó. Nhưng trong cái cuộc sống hiện tại thực tế này, khi ta chưa thể trở thành thánh một cách siêu thoát thì ta cần có cái hệ tư tưởng để sống rất thực tế giữa người
[1:09:49]và người để chuẩn bị cho cái sự siêu thoát đó, và Khổng Tử đã đáp ứng được những cái điều mong đợi này. Những cái lời dạy của Khổng Tử đơn giản và sâu sắc, ứng dụng cả đời không xong: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Điều gì ta không muốn, đừng làm cho người khác. Câu nói này ta ứng dụng cả đời mình chưa hết mà thực tế vô cùng, thực tế vô cùng. Đó là đạo đức cơ bản. Hoặc là: Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân. Cái gì ta muốn thì cũng hãy làm cho người khác, cái gì ta thành tựu rồi cũng hãy giúp người khác thành tựu như thế. Đó là cái lòng nhân, đó là cụ thể hóa cái từ bi của đạo Phật, hai điều này không hề chống nhau.
[1:10:32]Một bên Đức Phật nói là yêu thương tất cả chúng sinh, một bên Khổng Tử dạy là cái gì ta muốn cũng hãy làm cho người khác được như vậy, cái gì ta đạt được rồi cũng hãy giúp cho người khác đạt được như vậy. Hai cái này không hề chống nhau nhưng mà Khổng Tử cụ thể hơn và sâu sắc hơn. Hoặc là: Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung. Vua đó mà đối với bề tôi của mình thì vẫn phải dùng cái lễ, tức là dùng cái phép lịch sự và sự tôn trọng, chứ đừng ỷ mình là người cấp trên mà nạt nộ, hống hách. Và thần sự quân dĩ trung là cái người bề tôi mà thờ vua mình thì lấy cái trung làm đầu, dứt khoát vĩnh viễn không bao giờ phản bội.
[1:11:15]Những cái lời dạy như vậy, nó cô đọng như vậy mà muôn đời không bao giờ sai. Hoặc bây giờ nói tới cái sâu sắc của tâm lý như thế này: Quân tử huệ nhi bất phí, lao nhi bất oán, dục nhi bất tham, thái nhi bất kiêu, uy nhi bất mãnh. Nghe đọc giống đọc thần chú quá ha, mà hay vô cùng. Là người quân tử đó, huệ nhi bất phí là có ân huệ nhưng không bao giờ phí phạm cái điều được ân huệ đó, không bao giờ lạm dụng cái ân huệ mà mình có được. Lao nhi bất oán, sống trên đời này đôi khi có những lúc cực khổ nhưng không bao giờ oán than. Dục nhi bất tham, tức là có lý tưởng nhưng không bao giờ trở thành tham vọng cá nhân.
[1:11:58]Dục tức là muốn, đây có nghĩa là ta có mục tiêu để sống trong đời, nhưng mà bất tham, tức là không trở thành tham vọng thái quá của cá nhân. Thái nhi bất kiêu, tức là người quân tử có cái phong cách thư thái nhẹ nhàng, nhưng không bao giờ trở thành kiêu hãnh. Tại vì giữa cái mà ta thanh thản tự tại nó rất giống với cái kiêu căng, tại vì cái kiêu căng cũng bất cần, mà cái thanh thản cũng bất cần. Nhưng mà người quân tử là gì? Thanh thản, thư thái, không tham, không cần, nhưng mà không có kiêu mạn, khác nhau. Uy nhi bất mãnh, tức là người quân tử khi mình gương mặt mình nhìn vô có cái uy nghi nhưng không có cái hung dữ.
[1:12:37]Nó khác với cái người nhiều khi có uy quyền, bày tỏ cái uy quyền của mình là bằng cái sự hung dữ, nó khác. Như vậy là Khổng Tử dạy năm điều: huệ nhi bất phí, có ân huệ không được phí phạm; lao nhi bất oán, đôi khi trong cuộc sống vất vả nhưng không hề oán than cuộc đời này; dục nhi bất tham, có lý tưởng sống nhưng không tha tham vọng; thái nhi bất kiêu, sống rất thanh thản nhưng không kiêu căng; và uy nhi bất mãnh, người có uy lực nhưng không bao giờ trở thành để trở thành sự hung dữ. Những điều này nó sâu xa không ạ? Quá sâu sắc phải không? Quá sâu sắc. Nên chính vì những cái lời nói đẹp như thế này mà vua đã chấp nhận đưa Nho
[1:13:17]giáo vào trong cái hệ tư tưởng của ta, mà đã xây dựng Văn Miếu luôn. Còn đạo Phật thì có cái đạo lý nhân quả công bằng vô hình qua nhiều kiếp sống. Đời trước ta làm điều sai, đời này ta phải chịu đau khổ. Những đời trước ta làm nhiều điều phúc thì đời này ta sẽ được nhiều điều hạnh phúc, an lạc. Và đời này cũng vậy, ta sống thế nào, ta định hình lại cho đời sau, đó là sự công quả vô hình kéo dài qua nhiều kiếp sống, nên có cái khái niệm về luân hồi, rồi có cái đạo lý về lòng từ bi vô hạn, yêu thương khắp tất cả chúng sinh, rồi có cái giới luật là nghiêm ngặt, không được làm điều này, không được làm điều kia, rồi có cái thiền định là phải có cách ngồi
[1:13:58]tĩnh tâm, nhiếp tâm vào trong an định, mà có lần chúng tôi đã nói trong một bài giảng, thiền định sẽ là tương lai của nhân loại.
[1:14:08]Bây giờ là các nước văn minh trên thế giới đang đi tìm về thiền định, nhưng mà dĩ nhiên là để hiểu đúng cái thiền của Phật thì rất là khó. Nhiều người đã đi lạc qua cái thiền của rất nhiều cái tông phái khác hay đạo giáo khác, nhưng mà rồi cuối cùng khoa học sẽ vào cuộc và họ sẽ tìm ra được cái thiền định chuẩn nhất cho thế giới phải học, và thiền sẽ là tương lai của nhân loại. Đây là một cái đóng góp rất lớn đối với thế giới mai sau. Tại sao thiền sẽ trở thành tương lai của nhân loại? Bởi vì con người ta khát khao trí tuệ. Con người là loài người thông minh và luôn luôn khát khao hiểu biết trí tuệ, khác với các loài giống khác, họ không biết tìm cái để hiểu
[1:14:52]biết hơn, nhưng con người luôn luôn tìm cách hiểu biết hơn. Và để hiểu biết hơn, phải có trí tuệ, mà cái trí tuệ của con người nào giờ đó là bằng suy luận, logic. Từ một ta cộng một ta sẽ có hai, hai ta cộng một ta sẽ có ba, cứ như vậy mà ta mở ra cả một cái hệ thống khoa học mênh mông luôn, bằng cái suy tư logic. Thế thiền cũng sẽ đem đến trí tuệ mà cái trí tuệ này là cái trí tuệ trực quan. Khi con người tâm không suy nghĩ nữa thì chính trong nội tâm này phát ra được cái trí tuệ trực quan, biết cái gì biết trực tiếp. Ví dụ bây giờ ta gặp một người rồi ta bằng cái kinh nghiệm, ta nhìn gương mặt người đó, ta thấy cái ánh mắt đó,
[1:15:35]mái tóc đó, nụ cười đó, người này phúc hậu. Rồi người này nói ra, cái giọng nói nghe phúc hậu, rồi sống với người này một vài tháng, thấy người này cư xử tử tế, kết luận à sau nhiều cái yếu tố mà ta tổng hợp lại, ta kết luận người này phúc hậu. Đó là cái suy tư logic của loài người hiện nay. Còn cái người mà có thiền định trực quan, họ không có suy nghĩ, không suy tư, vừa gặp con người, họ biết luôn trong tâm người này, lòng rất tốt, biết luôn thẳng trong tâm người này. Đó là cái trí tuệ mà trực quan, đó là cái mà thế giới phải đi tìm, sẽ đi tìm, và để phải đi tìm, để sẽ đi tìm chỉ bằng con đường của
[1:16:13]thiền định, mà nhất là thiền định của Phật giáo, nên đây là điều mà Phật giáo sẽ đóng góp rất lớn cho nhân loại ở mai sau.
[1:16:24]Thì khi mà nhà Lý đưa cái tư tưởng Nho giáo vào trở thành chính thống cho triều đình và cho hệ tư tưởng quốc gia rồi thì ta thấy là giống như là chắp thêm đôi cánh á. Từ đó là ta có những cái nhân tài, những hào kiệt, những nền văn học tung bay tung bay, như bài thơ của Lý Thường Kiệt đã dựng nên một chủ nghĩa yêu nước: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Thì cái văn chương này đó là một văn chương nhưng mà mang tư tưởng yêu nước, nó tạo thành cái văn hóa yêu nước đời đời cho dân tộc ta, và cũng trở thành cái văn minh
[1:17:06]để ta có thể thấy được những cái chỗ yếu kém của mình để lấp đầy và bước lên cùng với thế giới, do đó ha. Thì qua nhiều cái thời đại từ Lý, Trần đến nhà Lê, Mạc rồi là Nguyễn, vân vân, thì cái hệ thống mà văn chương chúng ta có được, cái nền văn học ta có được, tạo thành cái văn hóa có được thì không ai đủ sức biết hết, cũng không ai có thể thuyết trình được trong một hai tiếng đồng hồ. Vì cho nên ta chỉ cảm phục tiền nhân của ta đã để lại được rất nhiều cái áng văn thơ tạo nên tâm hồn của người Việt Nam ta, tạo nên cái văn hóa Việt Nam của của ta. Sang đến thời Pháp thuộc, khi mà ta bắt đầu xuất hiện
[1:17:47]chữ quốc ngữ là dùng cái mẫu tự La Tinh giống với thế giới mà người ta nhanh chóng học được cái chữ quốc ngữ đó, do đó bắt đầu có cái gọi là xóa mù chữ. Nhất là khi Bác Hồ mà đưa vào kháng chiến là phải xóa mù chữ là một quyết định sáng suốt đi trước cả Liên Hiệp Quốc, đi trước cả UNESCO bao nhiêu năm. Sau này mấy mươi năm sau UNESCO bắt đầu mới kêu gọi xóa mù chữ trên thế giới, Bác Hồ đã đi trước rồi, kêu gọi xóa mù chữ. Vì sao? Vì chữ quốc ngữ rất dễ học, và chính vì cái chữ quốc ngữ rất dễ học cho nên thời gian sau này là các tác giả sáng tác ồ ạt, những tác phẩm rất nhiều trang, khác với hồi xưa là giấy ít,
[1:18:26]chữ viết khó, cho nên những tác phẩm nào ngắn ngắn ngắn ngắn vừa chừng, như Truyện Kiều là đã dài ngất ngư. Nhưng mà qua đến những sau này vào thời Pháp mà có chữ quốc ngữ, những tác phẩm rất là lớn, và khi có những tác phẩm dày như vậy ta mới bộc lộ được những tài năng. Ví dụ bây giờ ta nói tại sao mà cái tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng mà ta thích như vậy? Ổng viết chuyện tào lao, viết chuyện châm biếm, chuyện cười, châm biếm xã hội, nhưng mà tại sao ta đặt nó vào thành một tác phẩm nổi tiếng, một kiệt tác của thời đại vào thời đó? Chỉ bởi vì khi đọc vào trong đó, ta ngạc nhiên trước cái kiến thức của tác giả.
[1:19:01]Ổng biết đủ thứ chuyện trên đời, mới cũ cái gì ổng cũng biết á, lý số, tướng mạo, cái gì rồi đời sống, ngóc ngách, những tâm lý bí ẩn của ta ổng hiểu, biết sạch hết trơn, ổng đưa hết vô trong tác phẩm và ổng viết nó nghe nó tức cười, nghe châm biếm, ta đọc đâu phì cười tới đó nhưng phải nể phục cái kiến thức của nhà văn này. Và cái kiến thức của người nhà văn á nó tạo nên giá trị của tác phẩm. Do đó cái người mà cầm bút không được quyền mà thiếu kiến thức, thiếu kiến thức ta sẽ nói lệch lạc. Và những tác phẩm thời đó là như vậy, và những sau này cũng vậy, bắt đầu trong những cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta,
[1:19:36]biết bao nhiêu tác phẩm đã xuất hiện để đời, tạo nên những cái xúc cảm và đã làm thành cái độc lập, hòa bình, thống nhất của dân tộc ta. Tuy nhiên kinh đô nó có cái văn hóa gọi là văn hóa của kinh đô, nó khác với văn hóa của cái tỉnh thường. Vì sao vậy? Bởi vì văn kinh đô là nơi tụ hội nhân tài. Ví dụ như nói nhà thơ Huy Cận đi, một nhà thơ nổi tiếng mà được là vào cái Viện Hàn lâm của thơ thế giới, nhưng mà ổng là người nào, người tỉnh nào ạ? Người Hà Tĩnh. Lớn lên đi học ở đâu? Học ở Huế. Nhưng mà rồi ra làm việc và đóng góp vào cái thơ văn của kinh đô. Nhưng mà ngược lại ta có nhà văn Nguyễn Khải, ổng là người chính cống Hà Nội,
[1:20:19]nhưng sau này vô trong miền Nam ở, viết văn ở trỏng rồi chết ở trỏng luôn, thì như vậy mình có xếp ổng vào là văn chương văn hóa Hà Nội được không ạ? Thấy ông ta ăn gian, hễ là người Hà Nội dù bỏ đi đâu ta cũng xếp vào là văn chương, văn tài của Hà Nội. Nhưng mà còn cái người ở tỉnh khác về Hà Nội ta cũng gom luôn cho Hà Nội luôn. Không phải ta ăn gian không ạ? Nhưng mà không, nó là cái đặc tính của kinh đô, đặc tính của văn hóa kinh đô là gom hết về cho mình rồi sau đó tỏa ra lại cho cả nước. Nên không cần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, chỉ cần văn hóa nghiên cứu văn hóa kinh đô Việt Nam là ta biết văn hóa của cả đất nước Việt Nam này.
[1:20:58]Đúng không ạ? Bởi vì kinh đô là nơi hội tụ. Kinh đô là nơi hội tụ là như thế đó. Nên không cần nhìn nhiều, rồi ai rồi cũng phải về kinh đô đâu. Đường nào rồi cũng về Tràng An thôi, chẳng đi đâu mất cả. Nên cứ nhìn vào kinh đô thì nói là nghìn năm văn hóa Thăng Long nhưng sự thật là nghìn năm văn hóa của Việt Nam mình, chẳng chạy đường nào được cả. Nhìn vào đó biết cả vì mọi người tài đều phải về kinh đô làm việc. Và những cái tài năng nào của kinh đô, những cái điều hay của kinh đô cũng phải tỏa ra cho cho cả nước học và làm như vậy, không còn cách nào khác. Rồi ví dụ như bây giờ như nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ mà cái bài thơ nổi tiếng
[1:21:36]của ông ấy, ta muốn nhắc lại một lần nữa bởi vì nhân cái dịp mà nghìn năm Thăng Long thì có một người của miền Nam xa xôi chỉ một lần tập kết ra Bắc rồi đi về lại mà nhớ thương mãi cái quê hương miền Bắc này. Mà viết những câu thơ mà ta đọc là ta phải khóc. Chúng tôi vừa nói là đọc phải khóc, không biết mọi người có tin không? Ai đi về Bắc ta đi với, Thăm lại non sông giống Lạc Hồng. Từ độ hay là từ thuở, Từ thuở mang gươm đi mở nước, hay là mở cõi, Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long. Chúng tôi đọc câu này xong tôi khóc, không biết mọi người có tin không? Bởi vì cảm thấy là máu trong tim mình bao nhiêu đời cha ông sinh đẻ mình
[1:22:19]đây cho tới khi ngày hôm nay có được dòng máu này thì nó đã chảy từ Hà Nội, nó chảy đi hết qua người này tới người nay chảy trong tim mình. Cho nên dù ở đâu xa xôi vậy, vẫn có một Hà Nội trong trái tim ta, vẫn có một Thăng Long thiêng liêng trong tấm lòng của ta, trong tâm hồn của ta mà bất cứ người Việt Nam nào không thể quên được. Vì vậy, dù ở đâu ta vẫn phải về thăm thủ đô một lần, bởi vì về Hà Nội để thấy lòng mình thêm yêu Tổ quốc. Đúng không?
[1:22:52]Ngày hôm nay ta tiếp xúc với phương Tây, ta phát hiện ra những viện hàn lâm khoa học của họ, ta tiếp xúc với những nền kỹ thuật tiên tiến của họ và ta đã học hỏi những điều này. Mình dùng chữ bắt chước cũng được, dùng chữ học hỏi cũng được, để ta lấp đầy cái chỗ còn thiếu trong cái nền văn minh của ta. Tuy nhiên, cái nền văn hóa hiện nay nó đang trở thành cái văn hóa toàn cầu thông qua cửa ngõ Internet. Là cái nối mạng Internet rồi, ranh giới quốc gia biến mất. Ở đâu ta cũng mò tới hết, có địa chỉ gõ vào là chỗ nào ta cũng tìm tới hết. Và như vậy, khi một cái người gọi là tín đồ của Internet hay
[1:23:33]là công dân của Internet rồi, bỗng nhiên cái ranh giới quốc gia, cái ý niệm quốc gia tự nó nó nhạt nhòa dần. Nên vì vậy, cái văn hóa Internet là văn hóa toàn cầu nhưng nó cũng là con dao hai lưỡi. Con dao hai lưỡi vì sao vậy? Nó có thể cung cấp cho ta cái lượng kiến thức khổng lồ bất cứ điều gì ta muốn tìm, nhưng mà chính nó cũng lây lan những cái văn hóa độc hại vào tâm hồn của biết bao nhiêu con người mà khi tâm hồn người đó không đủ sức đề kháng lại trước cái sự xấu xa. Và cũng chính vì vậy mà ta nghe biết bao nhiêu điều đau lòng. Một đứa bé 12 tuổi làm cha
[1:24:18]vì nó học từ Internet sớm quá. Một đứa bé 14 tuổi đã đi cưỡng hiếp một đứa bé gái khác chỉ bởi vì nó ảnh hưởng từ cái độc hại ở trong Internet. Và biết bao nhiêu những cuộc tình qua mặt cha mẹ, phá vỡ cái luân thường đạo lý, cái nền nếp gia phong chỉ bởi vì chúng nó gặp nhau qua cái cổng Internet, cha mẹ không kiểm soát được. Nhiều khi cha mẹ bước tới xem con mình nó làm cái gì trên Internet, nó bấm xóa trắng màn hình nó gõ gửi qua cái chữ POS. Cha mẹ nhìn thấy nó gõ chữ POS nó gửi đi cũng chẳng hiểu cái gì. Không ngờ đó là cái mật mã mà nó gửi lẫn cho nhau: Parents over shoulder. Ba mẹ đang đứng sau vai tao, đang đứng coi cái màn hình
[1:25:02]tao nên tao không, nói như vậy là tức là tao không có nói chuyện với mày được nữa đó, biết là phải tạm ngưng. Parents over shoulder, đó, nó viết vắn tắt là POS. Cha mẹ không biết nó viết gì nhưng sự thật nó đã gửi đi mật mã lát nữa nói chuyện tiếp. Nó qua mặt bố mẹ cho nên cái gia phong, cái nền nếp bị phá hoại ngang, cha mẹ không thể kiểm soát được, nhà trường không kiểm soát được, luật pháp không kiểm soát được, nên nó là con dao hai lưỡi. Và như vậy, hiểu được điều đó ta không có phá vỡ Internet được, mà ta cần những con người, những anh hùng mới trên mặt trận văn hóa toàn cầu này. Những anh hùng mới trên mặt trận văn hóa toàn cầu này nghĩa là gì?
[1:25:39]Nghĩa là những người làm văn hóa, những người sáng tác nhưng mà rất giỏi mạng Internet để bước vào đó chiến đấu với những cái xấu đang tràn lan trên mạng. Và cuộc chiến này cũng vẻ vang không kém, lợi ích không kém những cuộc chiến mà chống ngoại xâm của ta vậy. Nên những nhà văn, những nhà thơ ngày hôm nay xin vui lòng phải rất giỏi Internet để ta bước vào một cuộc chiến mới với những kẻ thù vô hình xa xăm đang lây lan cái độc hại vào trong cái tâm hồn của những trẻ thơ của ta. Nên vì vậy là ta cần những anh hùng văn hóa mới mà chiến đấu là trên mặt trận, trên phương tiện Internet. Xin vì ngoài cái ta cầm cây bút,
[1:26:22]xin bây giờ phải cầm thêm bàn phím gõ thêm bàn phím nữa. Ta hãy khuyến khích điều này. Đây là điều rất là rất là quan trọng cho mai sau.
[1:26:32]Cái Thăng Long ta đó có một cái văn hóa rất là đặc biệt mà chúng tôi ở miền Nam ít có thấy, đó là cái lòng sùng kính các nhân vật lịch sử mà nâng lên thành thần thoại. Cứ qua tới chỗ này nói: "Dạ đây đền Thánh Gióng", qua kia là đền của Trần Hưng Đạo, qua nữa, tức là vì những vị anh hùng nâng lên thành những vị thần mà người ta sùng kính, thờ kính mãi, cầu nguyện, cầu xin mãi. Như hôm rồi vậy, đi ghé cái đền nhà Trần, nói: "Dạ đến cái ngày đầu năm là mọi người về đây để xin cái ấn của vua Trần". Không biết in ra cái ấn mà họ tin rằng là nếu mà xin được cái ấn đó về mình sẽ làm quan. Anh Bằng Việt có xin ấn không mà anh làm quan lớn
[1:27:14]quá vậy, tức là làm Phó Chủ tịch Hà Nội lận. Anh Bằng Việt đã từng là Phó Chủ tịch Hà Nội, vào trong Thành ủy Hà Nội hai nhiệm kỳ luôn. Nên bây giờ thì anh làm là Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội, nhưng trước đây anh từng là Phó Chủ tịch Hà Nội đó. Tức là ông sếp của ta đó, thủ lĩnh của của lãnh tụ của Hà Nội ta. Mọi người cho tràng pháo tay ạ, đấy là một Phó Chủ tịch Hà Nội. Chưa đi xin ấn hả? Anh chưa đi xin ấn? Đó là tại anh chưa, chứ nếu mà anh xin không biết giờ anh tới chức gì nữa nha. Nhưng mà đây nó là một cái nét văn hóa mà như chúng tôi trong miền Nam không thấy. Ví dụ bây giờ có một cái đền thờ Nguyễn Trung Trực gì đó thì cũng vào thờ,
[1:27:55]lễ, kính, nhưng mà nó không có nâng lên thành mức độ thần thoại như ngoài Bắc. Ngoài Bắc ta nâng lên thành thần thoại, thì cái nâng lên thần thoại nó có một cái hay và cũng có một cái dở. Một cái dở là ta đang đứng sát bờ vực của mê tín, phải không? Vô cầu xin quá chừng, nhét tiền nhét bạc, đốt vàng mã tùm lum. Nhưng mà nó lại có cái hay, cái lòng yêu nước của ta nó được nâng lên thành một cấp bậc mới, một sự lãng mạn mới là có có tính chất của thần thoại. Nên vì vậy là đừng hòng ai mà phá vỡ lòng yêu nước của ta, bởi vì lòng yêu nước của ta nó đã mang tính chất của thần thoại chứ không phải lòng yêu nước thường của lô-gíc, của lý trí.
[1:28:35]Ví dụ lớn lên đứa con ta nói rằng: "Có yêu nước nha! Con yêu nước nha!" Nhiều khi lớn lên mà nó đi đâu xa nó quên mất. Nhưng mà dắt nó đi cái đền: "Đây là đền Lê Lợi, đây là đền Trần Hưng Đạo", thiêng như thế, nó tin vào cái điều thiêng liêng đó, cái lòng yêu nước của nó đã gắn vào thần thoại rồi sau này không ai gỡ ra được nữa. Nên đây là một cái rất đặc biệt. Như chúng tôi vậy, nếu mà nói trong miền Nam á thì bản thân cá nhân chúng tôi cũng thuộc loại là người người yêu nước có tiếng. Vì trong những bài giảng của chúng tôi thì chúng tôi luôn luôn nhắc nhở người Phật tử phải yêu nước song song với tinh yêu đạo.
[1:29:12]Thì chúng tôi cũng được xếp loại là một cái người có tiếng yêu nước, thì tưởng mình ngon lắm. Khi ra ngoài Bắc thì không ngờ bất cứ một nhân sĩ nào của Bắc Hà, một sĩ phu nào của Bắc Hà cũng yêu nước hơn mình cả trăm lần. Không biết có đúng không ạ? Không biết đúng không? Sĩ phu Bắc Hà.
[1:29:33]Mới thấy là cái văn hóa mà ta thờ kính những cái anh hùng dân tộc ta, nâng lên thành một mức thần thoại có một điều rất là đặc biệt. Mà đó cũng là văn hóa của Hà Nội ta, rất là lạ. Nó lan qua nhiều tỉnh, nhưng mà vẫn tập trung ở ở Hà Nội rất là là hay. Thì bây giờ, ta chuẩn bị đón nghìn năm Thăng Long - Hà Nội một cách tưng bừng. Rất là nhiều lễ hội sắp tới sắp tới chung quanh đây, đều hướng về cái lễ hội nghìn năm Thăng Long - Hà Nội. Như vài hôm nữa, ở Đền Hùng cũng sẽ tổ chức cái quốc giỗ mà cũng là hướng về nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, mà sẽ tổ chức một cái lễ giỗ rất là lớn. Mà ông giám đốc, ông nói ước đoán rằng kỳ này
[1:30:14]sẽ phải có tới 5 6 triệu người về dự lễ. Và ông nói rằng một cái một cái bà giám đốc mà ghi chép về kỷ lục quốc tế đã nói thế này: Như vậy, cái số người mà về dự lễ hội Đền Hùng đông nhất so với tất cả lễ hội trên thế giới này. Tại vì có một số lễ hội trên thế giới người ta đến cả triệu người, có lễ hội đến 2 triệu người. Nhưng mà trong Đền Hùng vượt khỏi con số 3 triệu là chuyện thường, lớn nhất thế giới. Trong khi cái lễ hội thế giới thì người ta quy tụ rất nhiều người trên thế giới, còn lễ hội Đền Hùng là chỉ người Việt Nam mình về thôi, mà về đông như vậy. Mà về đông như vậy thì như vậy rõ ràng là cái lòng
[1:30:51]của ta mà hướng về cội nguồn thật là thật là lớn. Đây cũng chính là một điều đặc biệt, một cái văn hóa rất là đặc biệt của ta. Mà hôm trước, hôm qua, khi mà về Đền Hùng để nói chuyện, chúng tôi bước vào bài nói chuyện không hề kính thưa, không hề chào hỏi ai, vô đọc luôn bài thơ. Mà cảm hứng từ cái bài dân gian đã có sẵn: "Dẫu ai buôn bán gần xa, nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười. Bên trời rong ruổi ngược xuôi, cũng về giỗ Tổ mùng mười tháng ba. Mộng đời sương gió đi qua, làm sao quên được tháng ba mùng mười." Bài thơ dài lắm, nhưng thôi nói. "Ngày đông rét, sáng xuân tươi, trái tim vẫn nghĩ mùng mười tháng ba.
[1:31:32]Bé thơ hái một cành hoa, nhờ bà gửi đến để hòa niềm vui. Gặp nhau khách mỉm miệng cười, dẫu rằng xa lạ cũng người nước ta. Nhớ thương thuở trước ông cha, dày công gầy dựng bao la đất trời. Non sông yêu dấu đẹp ngời, anh hùng tài đức nhiều đời bước ra. Giữ gìn gấm vóc sơn hà, điểm tô phong hóa, mọi nhà an vui." Thôi còn dài nữa, không nói. Nhưng mà thế này, là hôm nay khi mà ta bắt đầu bước vào cái lễ hội nghìn năm Thăng Long và ta chuẩn bị đón rất tưng bừng. Và ta thấy một điều, đất nước ta chưa bao giờ hạnh phúc như thế trong suốt một nghìn năm qua. Hãy nhìn đi, chúng tôi nói không nịnh mà nói không ngoa.
[1:32:15]Chưa bao giờ đất nước ta đẹp như thế. Ví dụ như nói là vào thời Lý, đất nước ta cũng thịnh trị, nhưng không thể có một dải non sông gấm vóc đẹp từ Nam tới Bắc, tới Mũi Cà Mau như thế này, cũng chưa. Ta cũng chưa thể có một nền hòa bình, thống nhất, độc lập, ổn định như thế này. Ta cũng chưa thể có một cái đời sống ấm no, hạnh phúc như thế này. Có thể là mức sống ta chưa bằng nhiều nước trên thế giới, nhưng mà nếu so ngược về lịch sử, rõ ràng rằng lúc này ta đã no ấm hơn rất nhiều trong lịch sử đời xưa. Phải đúng không ạ? Đến nỗi vào cái thời buổi mà kinh tế thế giới khủng hoảng, thì cái phòng thống kê Nhà nước rất ngạc nhiên
[1:32:56]là người Việt Nam vẫn mua xe hơi ào ào. Như vậy, cái tiềm lực kinh tế trong dân ta đã có mạnh, rõ ràng ta đã no ấm hơn rất nhiều. Nên khi đón một nghìn năm Thăng Long, kể từ ngày mà vua Lý Thái Tổ dời kinh đô về đây, ta may mắn, ta hạnh phúc là cái thời điểm đón lại một nghìn năm đó trong lúc đất nước ta đang từng bước đi lên rất là ấm no, rất là hạnh phúc, rất là vẻ vang. Dĩ nhiên là ta chưa bao giờ tự mãn vì những điều này, vì còn rất nhiều điều khó khăn phía trước, vì còn rất nhiều điều của thế giới mà ta vẫn chưa theo kịp. Nhưng ở mốc son này, mọi điều đối với ta quá hạnh phúc so với những cái vất vả mà cha ông ta đã phải nếm trải.
[1:33:39]Nên ta, cái niềm vui được nhân lên gấp bao nhiêu lần. Chứ ta nói nếu lỡ, nếu lỡ là 1.000 năm mà nó xảy ra vào thời thời mà Pháp thuộc thì ta không bao giờ có được cái không khí thế này. Họ sẽ dập luôn, không bao giờ cho ta tổ chức lễ hội. Nhưng 1.000 năm Thăng Long đến vào lúc mà đất nước ta hòa bình, thống nhất, độc lập thế này, thật không có niềm vui nào lớn hơn, không có niềm vui lớn hơn. Thì hôm nay vậy, đứng nơi Văn Miếu, ta thấy nền văn minh toàn cầu của tương lai.
[1:34:13]Hôm nay nói về văn hóa, nghìn năm văn hóa Thăng Long là không phải nghìn năm văn hóa Thăng Long đã qua mà ta chuẩn bị nhìn 1.000 năm tới. Ta đoán xem 1.000 năm nữa con cháu ta sẽ làm cái lễ này như thế nào? Lúc đó đất nước ta đã như thế nào? Lúc đó cả thế giới đã như thế nào? Và bây giờ ta phải nhìn thấy trước, mà những người làm công tác văn hóa phải nhìn thấy trước. Ta thử đoán xem 1.000 năm nữa thế giới này sẽ ra sao? Thì nó có nhiều cái lời tiên đoán, có những lời tiên đoán rất đẹp nhưng cũng có những lời tiên đoán rất bi quan. Rất đẹp là gì? Rất đẹp thì cho rằng càng về sau, con người càng văn minh, ấm no, hạnh phúc, đạo đức, thế giới hòa bình.
[1:35:03]Nhưng cũng có những cái bi quan: càng về sau, dân số càng tăng lên, con người ta môi trường bị tàn phá hết, tội ác chất chồng, người ta giành nhau từng mẩu bánh mì, từng cái ngụm nước vì tất cả đều thiếu, và thế giới chuẩn bị đi vào sự diệt vong. Đó là hai cái điều tiên tri ngược hẳn nhau. Nhưng mà ta phải có cái nhìn của mình. Trong cái nhìn của ta về cái nền văn minh toàn cầu của tương lai đó, ta phải đoán, ta phải đoán và sau đó ta quyết định hành động của mình. Những nhà văn hóa, sau khi đoán được cái văn minh toàn cầu phải đi về đâu, "phải đi về đâu" tức là ta định hướng cho nó chứ không phải ta cúi đầu đi theo nó.
[1:35:41]Sau khi ta đoán cái nền văn minh toàn cầu sẽ đi về đâu trong 1.000 năm nữa, và bây giờ ta bắt đầu hành động. Giống như cái Hội nghị cấp cao ASEAN, để "Vision and Action" - tầm nhìn và hành động mà ta thấy treo những dải đầy đường là vậy. Cũng vậy, ta cũng vậy, người làm văn hóa phải có con mắt nhìn cho 1.000 năm sau nữa, chứ không phải là ngồi đây để mãi mãi chỉ nói về 1.000 năm trước. Ta yêu thương, ta quý trọng 1.000 năm trước, bởi vì những điều tổ tiên ta làm được đã gây nên cái văn hóa này, nên nên cái cảm xúc này, tạo thành cái dòng máu trong tim ta này, nhưng thừa hưởng điều đó, ta nhìn cho 1.000 năm
[1:36:17]sau nữa mà cái văn hóa toàn cầu phải đi về đâu. Thì có hai cái hướng mà ta phải đoán trước cho 1.000 năm sau. Một cái hướng thứ nhất là sự thật đã đến lúc ranh giới các quốc gia bị xóa nhòa. Ví dụ như là cái tổ chức ASEAN mà Việt Nam ta gia nhập, mà ta đang đăng cai cái tổ chức đây, cũng là một dấu hiệu mà biên giới các quốc gia đang xóa dần xóa dần. Mà trong cái tổ chức ASEAN này, cái vị thế Việt Nam ta rất được tôn trọng. Hoặc giống như là tổ chức Liên Hợp Quốc, thì ta bước vào cái tổ chức Liên Hợp Quốc với cái tư thế rất là đường bệ. Và đến ngày hôm nay, uy tín của Việt Nam trên trường thế giới rất là vững chắc.
[1:37:01]Đó cũng là một dấu hiệu mà ranh giới quốc gia sẽ xóa dần dần, xóa dần dần. Và như vậy, trong cái việc mà cái văn hóa nó giao lưu, nó hội nhập và đến nỗi mà gần như xóa các ranh giới thì nhân loại sẽ sống như thế nào? Sẽ suy nghĩ như thế nào? Sẽ nói ngôn ngữ nào? Cái văn hóa sẽ ra sao? Ta phải thấy trước. Và ta thấy trước để làm gì? Là ta thấy trước rằng trong cái sự mà xóa nhòa các ranh giới đó, thế giới phải được hòa bình hơn, hạnh phúc hơn, ấm no hơn, sinh thái môi trường phải được bảo vệ chặt chẽ hơn. Cái đó là cái phải, cái phải mà ta định hướng cho thế giới. Mà ta ngồi đây, giữa Văn Miếu thiêng liêng này, ta định hướng cho thế giới đó.
[1:37:43]Ta biết rằng cái ranh giới thế giới sẽ phải xóa nhòa. Nhưng mà chính những con người Việt Nam ngồi ở thủ đô Hà Nội này đón mừng lễ hội nghìn năm Thăng Long này sẽ góp phần định hướng cho thế giới tương lai là thế giới phải hòa bình hơn, hạnh phúc hơn, ấm no hơn, môi trường sinh thái được bảo vệ chặt chẽ hơn. Đó là cái nhìn thứ nhất của ta về văn hóa tương lai, văn minh tương lai của toàn cầu.
[1:38:11]Cái đoán định thứ hai của ta nữa về văn minh của toàn cầu trong một nghìn năm sau nữa là chắc có lẽ ta phải tiếp xúc với nền văn minh vũ trụ. Đến lúc nào đó, những người ngoài hành tinh không còn lén lén mà cứ bay xẹt qua xẹt lại hoài nữa, không còn lén lén mà tạo hình trên những cánh đồng nữa, lâu lâu hiện ra cho ta thấy rồi xẹt đi mất, không có nữa. Đến lúc nào đó, họ sẽ đậu xuống đường hoàng, bước xuống đĩa bay và đến bắt tay anh Bằng Việt, bắt tay anh Kim Quốc Hoa. Và xin giới thiệu, tôi là người của hành tinh nào đó đến đây thăm người địa cầu và để đặt một nền bang giao chính thức, thay vì cả nghìn năm qua chúng tôi cứ lén lén lút lút mà nhiều khi
[1:38:47]chúng tôi ăn cắp tài nguyên dưới biển của các anh mà các anh không hay. Xin thưa, từ rất lâu ta bị ăn cắp tài nguyên dưới biển mà ta không biết. Họ đến ăn cắp, nhưng mà đến lúc nào đó, do cái nền văn minh của ta đã cao lên, con người ta đã sống trong hòa bình, nhân ái với nhau, cái nền văn minh tâm linh của nhân loại cũng cao lên hơn thay vì là cái nền văn minh vật chất này, con người thế giới đã biết bổ sung vào cái văn minh khoa học kỹ thuật này thêm một cái nền nữa là nền văn minh tâm linh bởi thiền định. Bởi thiền định, con người ta sống nhân ái, hiền hòa với nhau và đủ thuyết phục được các người ngoài hành tinh.
[1:39:24]Họ thấy rằng cái văn minh của Trái Đất đã đến lúc xứng đáng để họ nói chuyện và sẽ có ngày họ đáp xuống Quảng trường Ba Đình. Mở đĩa bay ra: "Chúng tôi xin tuyên bố, tôi là người ngoài hành tinh hôm nay sẽ được chính thức tiếp xúc với người địa cầu, thay vì chấm dứt cái việc mà cả nghìn năm chúng tôi lén lút bay xẹt qua xẹt lại hù các anh cho vui." Chúng ta đoán trước. Và như vậy, và như vậy, khi mà ta đoán được cái dấu hiệu này ta phải làm gì? Đó, đây là vai trò của những người cầm bút, của những người làm văn hóa. Ta cũng chuẩn bị cái tư thế đó, cái tâm thế đó, một ngày nào đó lỡ người ngoài hành tinh với những nền
[1:39:59]văn minh siêu việt của họ đến với ta, chắc chắn là ta sẽ kém họ, nhưng mà ta vẫn phải đối xử như thế nào, đối tiếp, đón tiếp như thế nào một cách đĩnh đạc, đường hoàng như thế nào với tư thế là, là công dân toàn cầu. Mà điều này ta nói với nhau hôm nay, ta nói tại Văn Miếu này có nghĩa là gì? Có nghĩa là người Việt Nam
[1:40:23]sẽ là một trong những người đóng góp rất nhiều cho cái nền văn minh toàn cầu khi ta có cơ hội tiếp xúc với nền văn minh vũ trụ. Người Việt Nam phải làm được điều đó. Mà để cho người Việt Nam có thể làm được điều đó thì ta phải cố gắng rất nhiều, ta phải cố gắng rất nhiều. Chứ không thể tự mãn, vì sự thật nếu mà so sánh về những mức độ tiến bộ của thế giới ta vẫn còn thua sút, mặc dù tài trí người Việt Nam rất cao, ta đi học đâu ta cũng được kết quả rất là lớn. Nhưng mà, nhưng mà trong cái kết quả của khoa học kỹ thuật và xã hội kinh tế ta vẫn còn kém. Nhưng biết đâu, biết đâu với sự cố gắng, với sự nỗ lực của ta, với cái tấm lòng nhiệt thành
[1:41:08]của ta, 1.000 năm sau nữa, 1.000 năm tới trong khoảng 1.000 năm đó, ranh giới các quốc gia được xóa nhòa, người Việt Nam sẽ làm được một điều là góp phần định hướng cho văn hóa tương lai của toàn cầu, xây dựng một cái thế giới hòa bình, hạnh phúc, ấm no và cân đối giữa cái, cái đời sống tâm linh và đời sống vật chất, cũng như người Việt Nam sẽ là những người đóng góp được rất nhiều trong cái việc mà đưa Trái Đất đến tiếp cận với, tiếp xúc với nền văn minh của vũ trụ, vũ trụ. Ta hy vọng như thế, ta ước mơ như thế và sẽ cố gắng như thế. Và như vậy, từ ngày hôm nay khi nhìn về 1.000 năm cũ, ta càng yêu nước nồng nàn.
[1:41:53]Ta nhìn tới 1.000 năm tới, ta yêu nhân loại thiết tha. Và như vậy, hôm nay giữa Thăng Long Hà Nội, để đón mừng cái lễ hội nghìn năm Thăng Long của quốc gia, thì người Việt Nam ta xây dựng cho mình cái tình yêu nước nồng nàn và song song với tình yêu thế giới đậm đà. Vì thế giới phải đi tới cái hướng đó để được một thế giới hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Ta đồng ý không ạ?
[1:42:23]Và để như vậy, ai có thể mở ra cái con đường mà ta xây dựng cái tâm hồn con người của 1.000 năm cũ đầy lòng yêu nước nồng nàn, cũng như ta xây dựng tâm hồn con người của 1.000 năm sau yêu thương nhân loại đậm đà, thiết tha? Chính những người cầm, cầm bút, những người làm văn hóa. Bởi vì từ những cái văn chương ta thành văn học, thành văn hóa, văn hiến rồi tới văn minh cũng bắt đầu từ những áng văn mà thôi. Nên những người làm công tác văn hóa chính là những người định hướng cho cái văn minh của tương lai. Nhưng mà để có thể cái người cầm bút làm văn hóa đó định cái hướng cho văn minh của tương lai thì buộc cái người cầm bút đó phải sao?
[1:43:04]Phải hoàn thiện chính tâm hồn của mình. Phải hoàn thiện chính tâm hồn của mình. Mà cái việc mà hoàn thiện chính tâm hồn của mình thì hôm nay ta không nói tới nữa vì thời gian có hạn, vì thời gian có hạn. Nhưng đó là trách nhiệm của ta. Ta hoàn thiện tâm hồn của mình, ta định hướng được tâm hồn của mình cho 1.000 năm cũ và cho 1.000 năm sau thì ta mới có thể đặt ngòi bút xuống ta góp phần định hình lại cho nền văn minh 1.000 năm sau của đất nước ta và của cả thế giới này, của cả thế giới này.
[1:43:39]Để kết thúc cái buổi nói chuyện hôm nay, chúng tôi xin đọc lại vài cái,
[1:43:49]cái mẩu văn thơ nhỏ, dĩ nhiên là không bao giờ nó là đại diện hết được cho văn thơ của Thăng Long Hà Nội nhưng nó làm cho chúng tôi cảm xúc. "Gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương, mịt mù khói tỏa ngàn sương, nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ." Đây là ca dao, nhưng mà ca dao với lời văn cực kỳ bác học, rất là đẹp. Hoặc là của Huỳnh Văn Nghệ là người miền Nam như là gửi ra để góp vào cái văn hóa nghìn năm Thăng Long Hà Nội: "Ai đi về Bắc ta đi với, thăm lại non sông giống Lạc Hồng, từ thuở mang gươm đi mở cõi, trời Nam thương nhớ đất Thăng Long." Hoặc là câu nói của Bác Hồ:
[1:44:30]"Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành." Xin dùng những lời nói này thay cho cái lời kết thúc của buổi nói chuyện hôm nay. Và chúng tôi rất là cảm ơn, nhất là Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội đã cho phép cái buổi nói chuyện này được xảy ra. Xin cảm ơn anh Bằng Việt với bao nhiêu là tấm lòng, bao nhiêu là công lao đã làm nên được cái buổi nói chuyện này. Chúng tôi xin cảm ơn Sở Văn hóa - Thông tin - Du lịch Hà Nội, Ban Lãnh đạo Khu di tích lịch sử quốc gia Văn Miếu - Quốc Tử Giám
[1:45:12]đã cho phép, đã ủng hộ để tổ chức được cái buổi nói chuyện này. Và xin cảm ơn tất cả những vị khách quý đã về đây tham gia nghe buổi nói chuyện này khiến cho chúng tôi hết sức là hởi lòng hởi dạ. Và xin kính chào, hẹn gặp lại chúng ta vào một lúc khác ạ. Kính thưa Thượng tọa Thích Chân Quang và kính thưa tất cả các quý vị hôm nay có mặt tại đây. Thay mặt ban tổ chức cuộc nói chuyện hôm nay hết sức cảm động và bày tỏ lời cảm ơn rất trân trọng tới Thượng tọa Thích Chân Quang vì buổi nói chuyện hết sức hấp dẫn và hết sức là chân tình đối với tất cả các khán giả của Thủ đô hôm nay. Và như thế có thể nói rằng là cuộc nói chuyện hết sức
[1:45:58]thành công, bởi vì ngay trong sân Văn Miếu - Quốc Tử Giám, một cái nơi gắn bó rất nhiều với các cái huyền thoại, huyền tích của văn hóa Thăng Long - Hà Nội thì Thượng tọa Thích Chân Quang đã có một buổi nói chuyện hết sức thành công và đi đến tận tâm hồn, tận tấm lòng của từng khán giả có mặt ngày hôm nay. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn rất là sâu sắc. Xin chúc Thầy luôn luôn mạnh khỏe. Và hôm nay Thầy mới đề cập đến vấn đề văn hóa của Hà Nội, nếu đề cập đến cả văn hiến Thăng Long - Hà Nội, tức là có cả cái phần thứ hai nữa, tức là văn hóa, văn minh thì Thầy nói rồi, còn cái phần hiến ấy tức là hiền tài và hào kiệt
[1:46:38]của Hà Nội, địa linh nhân kiệt của Hà Nội, thì rất hy vọng khi nào đó có dịp ra Hà Nội, Thầy lại tiếp tục có buổi nói chuyện khác nữa về các nhân tài, tài năng và hào kiệt của Hà Nội để phục vụ cho tất cả công chúng của chúng ta hôm nay. Xin một lần nữa cảm ơn tất cả các quý vị, các bác, các anh, các chị đã có mặt ngày hôm nay và cũng thay mặt tất cả các vị có mặt ở đây xin bày tỏ lời cảm ơn rất chân thành đến Thầy Thích Chân Quang.