Transcript: Kinh Nikaya 13 - Kinh Tứ Niệm Xứ (Quán Tâm)

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:31:54

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:22]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:34]Mời quý thầy, quý Phật tử ngồi xuống.

[0:40]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta học tiếp bài Tứ Niệm Xứ, tới phần quán tâm, cũng không hết được, không có tới phần quán pháp được, chúng ta chỉ học phần quán tâm. Cái tiêu chuẩn căn bản của Tứ Niệm Xứ chúng ta nhắc lại á, là biết đúng như thật cái gì nó có tồn tại, chỉ như vậy thôi. Tức là chúng ta không có thêm, không bớt nhiều, mà cái gì nó sự thật như thế nào thì chúng ta cứ biết rõ như thế, và rồi nó sẽ thành tựu được một điều mà như hôm trước chúng ta có nói, là sự thật giải thoát chúng ta. Khi chúng ta nhìn ra được sự thật rồi tự nhiên tâm hồn mình bỗng nhiên nó thay đổi và nó được giải thoát dần dần.

[1:32]Đó là nguyên tắc chính của Tứ Niệm Xứ. Thật ra đó, thì nghe nói như vậy thấy đơn giản là chúng ta biết về thân, biết về cảm thọ và biết về tâm. Như cái thân vậy thì chúng ta thấy là mình cũng đã từng biết thân mình nhiều, mà bây giờ Phật bắt mình ngồi để mà tiếp tục biết về cái thân của mình, nhớ về thân mình, quán về thân mình, thì thấy nhiều khi hơi dư, nhưng mà sự thật, sự tình nó lại không đơn giản như vậy. Thế chúng ta nói là bao nhiêu năm nay thì con cũng biết rõ về thân con, con đã sống với nó và lớn lên với nó và già nua với nó. Mỗi ngày con cũng tắm rửa, kỳ cọ nó hai ba lần, cũng cho nó ăn, rồi cũng nựng nó,

[2:16]cũng ngắt, cũng nhéo nó đủ điều hết, biết nó nhiều lắm. Phải vậy, nhưng mà tới chừng cái giây phút mà mình bắt chân lên ngồi kiết già, mình lặng lẽ không làm gì nữa, tức là không kỳ cọ, rửa ráy, ngắt nhéo gì nữa, ngồi yên lặng nhìn nó, mình mới chợt là thấy thân nó không giống như mình biết từ nhỏ tới giờ. Thân này nó hơi lạ, nó hơi kỳ khôi, hơi kỳ cục. Lúc đó mình mới biết rằng là thì ra là cái Tứ Niệm Xứ nó khác, cái tu nó vẫn khác với cái đời sống bình thường khi mình nhận định về thân. Rồi khi mà mình biết về thân như vậy, nghĩa là mình ngồi mình quán thân, biết toàn thân rõ ràng, giữ thân cho mềm mại,

[2:55]bất động, rồi biết thân này là hư giả, rồi bất chợt mình thấy nơi cái thân này hơi thở nó xuất hiện, nó ra vào, mình cho mình biết cách khách quan, không điều khiển hơi thở, biết như vậy trong thầm lặng lẽ. Từ từ mình thấy thân nó thay đổi qua nhiều trạng thái khác nhau, tùy theo cái tâm của mình chứng được ở mức độ nào, mình sẽ thấy cái thân nó thay đổi theo từng cái trạng thái khác nhau của nó. Đó là cái lạ và làm cho mình cảm nhận về thân nó khác đi nữa. Ví dụ trước đây mình thấy thân mình mặc dù là mình biết là thân này quan trọng,

[3:38]dù rằng mình biết cái thân này nó làm cho mình có chấp thân, mình hiểu trên lý thuyết thôi, nhưng đến khi mà mình ngồi mình quán thân, quán cái thân lặng lẽ rồi mình mới thấy dần dần à trong cái thanh tịnh lặng lẽ á, cái thân này nó đang thay đổi, biến dịch mà trước đây mình không nhìn thấy đâu. Chứ trong đời sống mình sống thế này, mình sống với nó mình cũng nghe Phật nói là thân này vô thường, cũng nghe nói như vậy, nhưng mà mình không có thấm thía lắm. Không có thấm thía bằng hai cái sự tình xảy ra: Một á, là mình một lần nào đó mình chứng kiến cái người thân yêu của mình mất, mình mới thấm thía được cái thân vô thường.

[4:19]Cái thứ hai á, là khi mình ngồi kiết già, mình biết toàn thân trong cái thanh tịnh lặng lẽ, chợt mình cảm nhận cái thân này thật sự mong manh, lúc đó mình mới hiểu rõ, hiểu sâu chứ không còn hiểu trên lý thuyết nữa. Rồi cái thứ hai nữa, mình thấy cái thân này bắt đầu nó tách ra khỏi cái tâm của mình, không giống như trước đây thì giống như thân với tâm là một, nghĩa là ai mà đánh vào cái thân mình là nó động luôn tới cái tâm của mình, động tới bản ngã của mình, làm mình khó chịu. Chứ bây giờ con người đến, cho nên người ta xúc phạm với nhau bằng nhiều cách á, hoặc là người ta mắng chửi bằng lời

[4:55]nói hoặc người ta đánh đập nhau, tức là xúc phạm. Mình đang bình thường vậy mà có người lại tát cho mình bạt tai, mình đau điếng lên thì cái đau đó nó chạm tới bản ngã của mình, làm cho mình giận sôi lên liền. Đúng không? Đúng không?

[5:15]Có ai bị tát chưa? Chắc cũng một, hai lần. Chắc một, hai lần. Thì nó chạm tới bản ngã là mình phiền não, động sôi lên liền. Còn khi mà mình ngồi mình quán cái thân của mình, mình quan sát khắp toàn thân như vậy, bỗng nhiên mình thấy thân và tâm tách ra, tách ra. Thân không phải là mình, đây là một cái lạ. Mà nếu người mà thấm sâu như vậy, huân tập sâu như vậy, lâu ngày như vậy, rồi trong đời sống mình, trong cái thanh thản chợt có người tát vô mặt mình một cái, mình thấy nó đứng lại ngay cái chỗ cái má mình thôi. Cái đau nữa, nó tát một cái đau thiệt nhưng mà nơi cái mặt nó không vô tới trong tâm mình, không vô tới bản ngã.

[5:55]Mình mới hiểu rằng cái thân nó đã tách ra khỏi cái tâm. Là do cái công phu mà mình quan sát cái thân, quán thân lâu ngày nó tách ra khỏi tâm. Nên nó là một điều kỳ lạ, gọi là điều kỳ diệu trong cái sự tu tập. Còn lúc mình mới quán thân, mình thấy cái thân mình đã biết nhiều, có gì lạ đâu mà phải quán nó, nhưng đâu ngờ khi mình quán nó mình biết về nó, hiểu về nó rõ hơn, biết toàn thân, biết từ trên xuống dưới, từ trên đầu xuống dần đầy cả cái người mình hết xuống tới lòng bàn chân luôn, mình thấy điều kỳ diệu nó xuất hiện. Mà cái biết á nó phải sung mãn, nó phải tràn đầy. Mình ví cái thân mình như cái bong bóng á,

[6:35]mà cái biết nó giống như hơi á, hễ mà nơi cái thân này mình có cái biết tới đâu thì cái thân mình nó tràn đầy, nó sung mãn tới đó, mà nếu nó không có cái biết thì thân mình giống như bong bóng xì, bong bóng xì. Ở đây là tôi không có nói đùa đâu, tôi không có ví dụ đâu mà đây nó là một cái cảm giác có thật. Khi quý thầy ngồi mà quán thân, khi mình ngồi mình biết toàn thân mình sẽ thấy thân mình nó sung mãn tràn đầy trong cái nhẹ nhàng á, nhẹ nhàng chứ không có dằn ép là vậy. Còn bây giờ nói về quán tâm thì tâm là cái gì?

[7:14]Quán tâm thì tâm là cái gì? Tâm là cái gì?

[7:21]Cái mà dễ nhìn thấy nhất, cái dễ nhìn thấy nhất của tâm là gì? Là? Là vọng tưởng. Suy nghĩ trên đầu mình phải không? Đó là cái vọng tưởng là cái dễ thấy nhất. Tâm thì nó nhiều, muôn trùng muôn lớp ở trong á, nhưng mà cái chúng ta dễ nhìn thấy nhất là cái vọng tưởng, những cái suy nghĩ có ngôn ngữ và có hình ảnh, đó là cái bề mặt cạn cợt nhất của tâm. Tâm thì nó sâu lắm. Nó sâu, khó nhìn thấy như là mình khó tìm được cái cục phấn cho cái bảng này. Ủa, ở đây hả? Thôi xin lỗi, phấn nó hiện đại quá không thấy.

[8:00]Mới ví dụ như là trên mặt biển vậy đó, rồi một chiếc tàu của chúng ta đi du hành mình thấy được một cái khối, một khối băng, thế mình thấy được một cái mảng băng nó nổi lên à, nhưng mà sự thật là ở dưới này nó còn rất là nhiều. Nó chỉ nổi lên chút à. Cũng như chúng ta nhìn vào tâm mình, mình thấy những ý nghĩ, những cái ý nghĩ này, ý nghĩ kia thì thực nó chỉ là một chút xíu của tâm thôi, còn nguyên cái khối tâm này rất là lớn, rất là khó nhìn thấy. Nên chúng ta hiểu điều đó căn bản là như vậy. Nhưng mà cái vọng tưởng này đó, nó là cái lớp tâm ban đầu mình phải vượt qua trước khi chúng ta muốn đi sâu vào trong tâm linh.

[8:42]Khi mình tu tập mà nếu mà mình còn bị những cái vọng tưởng nó nó phá, mình không thể đi vào định, không thể thực hiện được một cái thiền quán gì cho nó đàng hoàng, cho có kết quả hết. Ví dụ như một người tu tập khí công thì họ thường hay có cái vòng Chu Thiên thế này, họ có theo quan niệm của Đông phương Trung Hoa, trên đỉnh đầu mình là huyệt Bách Hội, tận cùng dưới này là huyệt Hội Âm. Ở đây huyệt Đan Điền, Khí Hải, Quan Nguyên, Mệnh Môn rồi vân vân. Thì thường á họ ngồi thiền họ ngồi tập khí công như vậy, họ hít hơi vào họ an trú nơi cái huyệt đó cho nó khai mở cái huyệt đó ra, cho huyệt nó mạnh lên,

[9:20]được khai mở để tạo thành cái nguồn lực sung mãn, họ an trú như vậy. Rồi khi huyệt này đã khai mở rồi cái họ lại dẫn hơi xuống tới cái huyệt Quan Nguyên này rồi họ an trú tại đó, để mà khai cái huyệt Quan Nguyên, rồi từ từ khai tới Hội Âm, Trường Cường lên dần dần. Đó là cái cách mà họ luyện nội công á. Nhưng mình tu theo đạo Phật thì mình không có luyện như vậy, mình chỉ đi đúng con đường đạo vì luyện như vậy nó làm mình nó xuất hiện những cái chấp ở trong. Đó là cái cách như vậy. Nhưng mà nếu nếu tâm mình còn vọng tưởng vẩn vơ mình không có dẫn hơi đi được như vậy. Nếu tâm mình mà không có thanh tịnh á,

[9:58]mình dắt xuống đây cái nó móp méo, hơi thở nó chạy qua, hơi thở nó chạy lại, hơi thở chạy lại. Đứng ở Đan Điền cái đây nó không chịu chạy Đan Điền, nó chạy qua chạy lại, chạy qua chạy lại rồi mình bị rối và có thể gọi là tẩu hỏa, mình bị dằn ép căng thẳng, tức là mình cố gắng an trú cái tâm mình nơi huyệt Đan Điền nó không chịu, nó cứ xích qua xích lại, mình cứ kéo lại kéo qua kéo lại cái ít bữa mình nhảy nóc nhà mình cười. Nên nó nguy hiểm là vậy.

[10:23]Còn khi mà tâm mình không bị những cái vọng tưởng vẩn vơ, những cái suy nghĩ, những ý nghĩ á, thì mình chỉ mình dẫn hơi thở xuống mình an trú đây nó nằm yên ở đây để cho huyệt đạo nó từ từ khai mở thì nó thành tựu được nội công. Quý thầy có coi phim kiếm hiệp chưa? Phim Hồng Kông đó, coi chưa? Coi chưa? Ai chưa đâu? Đâu có ai hiền đâu, làm gì có người nào mà hiền mà lại chưa coi phim Hồng Kông. Nên á mình thấy trong đó á những màn mà nội công, đánh chưởng, đánh võ là họ luyện theo nguyên tắc như vậy hết, dẫn hơi như vậy. Cực khổ và có người thành công, có người không. Và cái nội công như vậy thường là phải do gia truyền,

[11:05]truyền thụ từ đời tổ tiên truyền xuống dần dần dần dần rồi con cháu mới lĩnh thụ được. Chứ còn nếu không có một cái bí truyền mà ân cần dạy dỗ, người ta luyện không thành. Học mà học lỏm một hồi tập điên chết á, cái khí công này khó lắm, tâm phải định dữ lắm mới được. Rồi trường hợp ví dụ người tu theo Mật tông, họ có cái quán tưởng của họ. Ví dụ như ông thầy dạy người đệ tử là phải ngồi kiết già, nhắm mắt lại, bắt đầu tưởng tượng trước mắt mình là một cái biển cả mênh mông, một biển xanh mênh mông thâm thẳm, mà giữa cái biển xanh thâm thẳm đó một cái đóa sen từ từ nhô lên và nở ra, tung ra muôn ngàn cánh, có hào quang chiếu sáng.

[11:43]Đó là lối quán tưởng của Mật tông, một trong những lối như vậy. Thì nếu mà tâm mình đừng có vọng tưởng á thì mình mới tưởng từ từ nó ra cái biển, rồi bắt đầu nó ra được cái hình hoa sen. Còn nếu mà mình tâm không có định, tức là mình bị vọng tưởng á, thì nó không thành công như vậy. Mình đang tưởng từ từ cái biển bỗng nhiên nó chợt nó hiện ra cơm cháy, tại nhiều lúc nửa đêm đói bụng á chạy xuống bếp kiếm cơm cháy cái nó quen rồi. Đang biển hiện ra tự nhiên có cơm cháy, cái mình dẹp cái cơm cháy đó, bắt đầu ngồi tưởng tượng cái biển, cái từ từ hoa sen hiện ra, hoa sen hiện ra lát nữa có chén nước tương, tại cơm cháy phải có chén nước tương vậy đó.

[12:18]Đời làm tăng sinh á nhiều khi đói nửa đêm như vậy, kiếm lục xuống bếp kiếm ăn, nó như vậy. Rồi cái đang mình đang ngắm cái hoa sen nở giữa biển yên lành vậy, chợt cái ông thầy chợt thấy hiện ra mặt ông thầy quản sự ổng tới ổng cầm roi ổng rượt, tại lén nửa đêm xuống bếp thì có thể là bị như vậy. Cho nên những cái đó, vọng tưởng nó vẩn vơ nó phá hoại cái phép quán của mình. Cho nên nhiều cái pháp tu về thiền định, về tâm linh á, nó bị cản trở bởi cái lớp tâm ban đầu như vậy. Cái lớp này gọi là cạn nhất, nhưng mà nó là cái chướng ngại ban đầu mà không vượt qua được thì không có thành tựu mấy cái lớp kia,

[12:52]mọi cái quán tưởng, mọi cái nội công không thành được. Chúng ta biết cơ cấu của thân tâm mình là là gồm có năm yếu tố phải không, là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi mình tu thì mình vượt qua dần dần từng cái sắc ấm ban đầu, rồi tới thọ ấm, nhưng mà kỳ thực á là phải thanh tịnh được cái tưởng ấm ban đầu trước. Nghĩa là cái tưởng ấm ban đầu phải lắng được vọng tưởng, rồi khi mình ngồi thiền sắc ấm mới vượt qua dần dần. Thì cái việc mà ban đầu để mình mà khống chế cái vọng tưởng đó đó để có thể mở được cái tâm linh mà đi vào á, thì nó có nhiều trường hợp, nó có nhiều cái phương pháp. Có nhiều cái phương pháp, là

[13:33]có khi chúng ta niệm Phật, có những vị dạy chúng ta niệm Phật để chúng ta khống chế được vọng tưởng; có những vị dạy chúng ta đếm hơi thở để chúng ta khắc phục được cái vọng tưởng ban đầu đó; rồi có những vị dạy chúng ta quán Bát Nhã, vân vân, để khắc phục vọng tưởng ban đầu đó; rồi có những vị thì dạy chúng ta trực tiếp đối diện với vọng tưởng nó luôn, cái phương pháp đó chúng chúng ta gọi là chăn trâu, hay bây giờ Hòa thượng Thanh Từ gọi là tri vọng á, tức là lối mà đối diện thẳng vọng tưởng để trị nó luôn, chứ không có đi quanh co. Thì nhờ đối diện thẳng với vọng tưởng vậy nó khởi lên mình biết liền, buông liền, thì cho nó từ từ nó mất đi.

[14:20]Vì phải mất cái lớp vọng tưởng ban đầu này rồi chúng ta mới có thể đi sâu dần, sâu dần vào các lớp định khác, đó là nguyên tắc như vậy. Nên ai cũng phải đối phó với cái lớp vọng tưởng này vất vả bằng nhiều cái phương cách khác nhau hết. Thì mỗi cái phương pháp như vậy nó đều có cái hay, cái dở của nó, mỗi phương pháp đều có. Ở đây chúng ta không có tranh cãi, vì phương pháp nào cũng hay hết. Rồi có một lần, có một người Phật tử hỏi tôi vậy, nói: "Thưa thầy, con tu theo pháp môn này thấy tâm nó định, được một thời gian cái nó động lại; con đổi qua pháp môn khác, cái tâm nó thanh tịnh được một thời gian cái nó động lại;

[14:56]con đổi qua pháp môn khác, cái tâm thanh tịnh rồi cái nó động lại. Bây giờ thầy chỉ con cái phương pháp ruột của thầy, bí mật của thầy cho nó định luôn". Tôi làm gì được định luôn mà có phương pháp. Thì tôi mới nói thế này, nói thành thật, thành thật khai báo Phật tử là thầy cũng không có phương pháp nào luôn. Tuy nhiên nó chỉ có một cái, có một cái cái mà định được tâm á, thì cái phấn này sao nó kỳ quá, là nó do phương pháp nó cộng với phước. B, 3B. Nó do phương pháp tu cộng với cái phước thôi. Cho nên phương pháp nào cũng vậy, không có phước rồi phương pháp nào cũng không thành công hết, còn có phước rồi thì phương pháp nào cũng làm mình định hết.

[15:42]Ví dụ người đó có phước, họ niệm Phật sơ sơ tâm vào định; người đó có phước rồi họ niệm chú thời gian chút xíu tâm vào định, hoặc họ đếm hơi thở họ vào định nó mất vọng tưởng liền. Nên cái phước cực kỳ quan trọng, tu gì tu chứ cái phước cực kỳ quan trọng, cái phương pháp không quan trọng. Nên có những người vậy, nhiều khi thấy người đó cũng không có gì đặc biệt, tu ít bữa tâm định, thì mình hiểu ngay rằng cái người này họ ít nghiệp, trong đời sống họ không có làm điều lầm lỗi mà tâm không có xấu. Có thể là họ chưa tạo phước nhiều lắm, nhưng cũng hay giúp đỡ người này người kia chút đỉnh, không làm điều lầm lỗi.

[16:20]Một đời họ tích lũy như vậy nên đến khi họ gặp đạo Phật, họ nhiếp tâm sơ sơ bằng một phương pháp gì đó, tâm vào định liền. Ở đây là cái phước chúng ta phải hiểu, phải đánh giá trên cái đó, chứ đừng có đánh giá trên cái phương pháp thấy hay, ông đó ổng giỏi thiệt, người căn cơ, hay là phương pháp đó độc đáo, đừng, chúng ta đừng bị loè bởi những cái hào nhoáng đó, mà phải hiểu thực chất nó là nằm ở chỗ cái phước á. Cho nên vì vậy, chúng ta hiểu như vậy thì chúng ta phải cố gắng tích lũy phước cả một đời của mình, không biết bao nhiêu là đủ. Nhưng mà đời sống của tăng sinh ở trong chúng á, nhiều khi chúng ta bị hạn chế.

[17:00]Hạn chế là sao? Hạn chế là mình nạp cái sự sắp xếp của quý thầy lớn là tới giờ đó mình ăn, tới giờ đó mình học, tới giờ đó tu, tới giờ đó công quả được phân công, nên mình cứ đều đặn mà làm như vậy, nên cái phước không có vượt bực, không đặc biệt. Mà để mở được tâm linh, cái phước nó phải đặc biệt một chút. Trong cái đời sống đại chúng á, ví dụ như cái người mà biết suy nghĩ á thì nó cũng thành được cái phước. Ví dụ như bây giờ mình tới phiên nấu bếp mà lòng mình có thương yêu huynh đệ thì mình cố gắng mình nấu cho ngon, thêm món thêm đồ để cho huynh đệ ăn được thêm chén nữa. Cái bữa mình nấu ngon ngon, huynh đệ ăn thêm được một chén họ khỏe thêm được

[17:42]một chút, có cái tâm như vậy mà tích lũy nhiều cái mình có phước á. Hoặc là tới lúc cất chùa thế này, mình nghĩ cất phụ ráng cất công quả cất chùa để cho sau này có chỗ tu cho đại chúng những khóa sau, rồi mình sẽ ra đi, mình không còn ở đây nữa, nhưng mà mình đã để lại được một chút công sức cho những thế hệ đàn em mình, những khóa đàn em mình có nơi có chỗ tu hành tốt hơn. Do cái tâm đó mình làm siêng hơn một chút, chứ không có làm mà ai sai đâu làm đó, không có giống như thiên lôi chỉ đâu đánh đó, không có phải, nghĩa là mình làm có cái chủ động, có nhiệt tình, ờ có cái hăng say của mình, có cái ý thức của mình, như vậy nó cũng thành được cái phước á. Nha.

[18:23]Rồi nó cứ như vậy mà thành phước, nhưng mà cái phước đó cũng không phải là đặc biệt lắm. Còn ở trong chúng mà muốn cái phước đặc biệt thì phải con người đặc biệt, là con người đó phải tinh tế, phải sâu sắc, phải thông minh, phải lòng thương yêu lớn thì người đó thành được cái phước đặc biệt á. Tinh tế, sâu sắc, thông minh, lòng thương yêu lớn nghĩa là cái gì? Nghĩa là thôi tôi kể lại chuyện tôi chút xíu, hơi khoe một chút. Thì không biết tôi có phải thuộc cái con người đó hay không, nhưng mà hồi tôi ở trong đại chúng vậy, lúc nào tôi cũng bận tâm vì huynh đệ á, cũng xoay xở đủ cách để giúp người này giúp người

[19:05]kia, chứ không bao giờ mà chịu sống theo cái nề nếp. Nên có thể là tôi thuộc loại người hơi quậy cũng có. Nhìn người huynh đệ mà thấy họ học không tiến bộ là không chấp nhận, phải làm sao cho người này học tiến bộ lên. Tìm đến tìm nguyên nhân coi tại sao người này học không tiến, rồi mình tìm cách mình khuyến khích, chỉ họ. Nhiều khi nguyên nhân của họ chỉ là họ mất căn bản chữ Nho, thế mình có phương pháp mình chỉ lại, nói: "Bây giờ nè, là chú học theo kiểu này nè, chú học chữ Nho chú có cái lý luận kiểu này nè chú sẽ dễ nhớ, học đi ráng học". Rồi có người nhìn thấy họ như là có vẻ hơi chật vật vật chất,

[19:41]tìm cách xin đồ xin đạc cho họ để họ sống dễ chịu. Tức là thời gian mà tôi sống trong chúng vậy, lòng lúc nào cũng lo cho chúng, cứ nghĩ cách này xoay cách kia coi làm sao cho chúng cái đời sống nó đỡ, nhưng mà cái đó mình ít có lo được lắm, tuy chỉ chút chút không có nhiều, nhưng mà lo cho việc học của huynh đệ thì nhiều. Mà nhiều khi vậy, nhiều khi tôi đang không có tiền cái người huynh đệ đó nó bị đụng chuyện, mà không phải người huynh đệ đó, mẹ của người huynh đệ đó đụng chuyện, bị bệnh hay gì đó, thế là tôi tôi mượn tiền tôi cúng dường cho người huynh đệ đó liền để người huynh đệ đó lo cho mẹ mình, còn phần mình từ từ kiếm tiền trả nợ sau.

[20:19]Nhiều khi gan như vậy. Rồi do cái lòng của tôi tôi sống vậy, nên nó cũng nó lây lan các huynh đệ, các huynh đệ cũng có cái tinh thần thương nhau. Sau này mười mấy năm sau tôi gặp lại một vị huynh đệ ở chung với mình, mà lâu quá rồi không gặp lại, trước khi người này đi nước ngoài thì tôi có đến thăm, tôi nghe tin là tôi đến thăm để chào lần cuối. Thì tôi cũng không có hiểu việc mình làm nó có cái ảnh hưởng, tôi chỉ sống một cách chân thành chứ không có mong là mình để lại ảnh hưởng. Nhưng rồi cái vị thầy này mới nói thế này, nói với tôi là: "Từ lúc mà thầy đi khỏi chùa thì cái tinh thần trong huynh đệ gắn bó nhau nó

[20:57]loãng dần, loãng dần rồi mất luôn." Tôi ngồi tôi mới cúi đầu tôi suy nghĩ. Thì tôi nói, "Đúng là như vậy, chỉ cần có một người rồi nó sẽ lây lan, mà nếu không có người giữ nó mất. Nhưng mà đó là điều điều đáng tiếc." Tôi nói vậy để không phải khoe tôi, mà tôi mong làm sao cho có nhiều người như vậy. Ở đâu cũng vậy, mình thương yêu, lo cho huynh đệ, do cái tình đạo tự nhiên nó được thắp lên, nó lan từ trái tim này sang trái tim kia, thì tự nhiên mình thành phước á. Mình không có muốn thành phước, nhưng những điều đó nó làm thành cái phước á, bằng cái lòng thương yêu chân thành. Mà cái phước đó nó hỗ trợ cho tâm linh dữ lắm, để mình tu tập.

[21:36]Rồi tu với pháp môn nào cũng có thể thành tựu được. Mà sau này cái phước á nó đi tới cái lúc mà thầy đứng trên bục giảng luôn. Là chính cái phước trong đời sống á nó tạo thành từng câu từng chữ để cho quý thầy tuyên giảng thành bao nhiêu bài pháp, lay động được lòng người, là cũng chính bắt nguồn từ trong cái đời sống á. Nếu một người sống một đời hời hợt, chỉ nghĩ cho mình, rồi cứ nghĩ mình sẽ học lấy bằng cấp để dạy, thì người đó sống cạn, không có đạo đức, không vị tha, thì tâm linh người đó không tiến triển. Rồi sau này người đó đứng trên bục giảng, cũng không có lửa để truyền qua tim của người

[22:18]khác á, tại trái tim mình lạnh giá quá. Tim mình lạnh giá, tim mình được đem lác-sê.

[22:27]Có một bài hát gì đó tôi nghe người ta hay hát á, "Em hỡi em, có phải tình băng giá là tình được đem lác-sê" đó. Mà trái tim mình lạnh giá quá, rồi mình không truyền được cái nhiệt tình, cái lửa của đạo qua cho ai hết, không lay động được trái tim ai. Tất cả chúng ta vậy, chúng ta đang ở trong sa mạc, chúng ta đang ở trong cái vùng tuyết lạnh lẽo của cái tình người, con người thiếu lòng thương yêu với nhau, thế giới đau khổ vì như vậy. Thì nơi đây nơi đó thỉnh thoảng lóe lên một vài cái tia lửa để sưởi ấm nhau trong đêm trường, trong đêm đông, thì ở đây cái đó quý lắm. Mà bổn phận của quý thầy là như vậy, những người con Phật là như vậy.

[23:09]Một ngày nào đó quý thầy thắp lên ngọn đuốc trong lòng mình, để đốt, sưởi ấm cái cuộc đời đang giá băng lạnh lẽo, đang thiếu cái tình thương yêu này, làm cho cuộc đời nó đẹp lên. Mà quý thầy đứng lên bục giảng nói làm sao để lay động trái tim và làm cho người ta thương nhau được. Mà muốn có cái sức mạnh đó thì phải bắt nguồn từ bây giờ trong đời sống, từ lúc mình đang ngồi dưới mái trường ở trong chúng. Là những người huynh đệ ngang với mình, họ cũng cùng điều kiện cùng hoàn cảnh với mình, không ai hơn ai, vậy mà mình vẫn tìm cách giúp họ được. Chứ không phải đợi đến sau này khi mình giàu sang,

[23:47]vinh quang rồi mình mới bố thí những cái nhỏ nhỏ mình cho cái người thấp hơn mình. Cái đó dễ, cái đó không cần lửa nhiều. Lúc này nè, những lúc mà những kẻ khốn cùng giống nhau như vầy, trong hoàn cảnh nghèo khổ của tăng sinh thế này mà vẫn giúp nhau được từng chút, từng chút, từng lời ăn tiếng nói, từng cây viết, từng tờ giấy, giúp nhau trong đời sống, trong học tập, cái đó nó khó hơn, nó đòi lửa hơi nhiều hơn. Thì quý thầy quen được như vậy thì sau này quý thầy có nhiều lửa để cho thiên hạ. Có nhiều lửa, nên ráng. Đó, cái phước nó quan trọng, phước quan trọng. Làm gì làm phước cũng quan trọng.

[24:23]Rồi một điều nữa là chúng ta muốn hiểu được tâm, chúng ta phải hiểu được cơ cấu năm uẩn, mà trong đó quan trọng nhất là hành uẩn và thức uẩn. Thức uẩn là cái biết vi diệu, cái biết không lời, không nói, không ý tưởng, cái biết khách quan. Cái này nó là cái biết nên bỏ hết những cái khác chỉ còn cái thức uẩn thì mình thuộc thánh rồi. Còn cái hành uẩn mới rắc rối á. Toàn bộ cái tâm thức của mình nó nằm ở hành uẩn gần hết luôn. Là năng lực chấp ngã nằm ở đó, bản năng hưởng thụ nằm trong đó, bản năng sinh tồn nằm trong đó, tình cảm thương ghét nằm trong hành uẩn, nghị lực ý chí nằm trong hành uẩn.

[25:04]Những cái ý muốn, những quyết định sáng tạo đều nằm trong hành uẩn. Mà khơi nguồn cái trí ức đều do hành uẩn mà ra hết. Nên hành uẩn phức tạp mà khó thấy. Tuy nhiên ở trên lý thuyết thì chúng ta cũng có thể hiểu được sơ sơ hành uẩn là gì. Trên lý thuyết thôi, chứ còn phải chứng đạo rồi mới thấy được, chứng đạo rồi mới thấy hết hành uẩn. Chưa chứng đạo thì chúng ta chỉ hiểu trên lý thuyết, hiểu để biết rằng tâm của chúng ta rất phức tạp. Không phải là dễ biết. Nên những điều mà chúng ta biết về tâm mình chỉ biết một phần rất nhỏ, chúng ta phải cố gắng nhiều, đừng bao giờ tự mãn, đừng bao giờ cho mình đã biết hết về tâm mình.

[25:47]Như bây giờ vậy, mình nói, "Bạn có biết về tâm bạn chưa?" "Biết chứ. Tôi không biết tâm tôi thì ai biết tâm tôi, phải không? Và trong cuộc đời của tôi, tôi là người như thế nào tôi biết rõ chứ. Nghĩa là có những lúc tôi đã yếu mềm, có những lúc tôi đã cứng rắn, tôi biết tâm tôi. Có những lúc tôi đã thương yêu và có những lúc tôi đã thù hận, tôi biết tâm tôi. Hoặc là nói rằng tôi đã có những lúc tôi sáng suốt, có những lúc tôi đã mê mờ, tâm tôi đã trải qua những giai đoạn thế này thế kia tôi biết rõ nó. Vì tôi đã sống với nó bao nhiêu năm, tôi biết nó." Thì mình hiểu rằng người này chủ quan, không ai biết được tâm mình hết, chỉ có thánh mới biết được tâm thôi.

[26:29]Còn chúng ta chỉ biết cái hậu quả của tâm nó bùng ra rồi mình mới biết. Như có một lúc nào đó người nào đó nói những lời ngọt ngào làm cho mình mềm yếu, mềm yếu rồi mình ngã gục. Thì trong đời mình nói lần đó tôi đã mềm yếu, rồi có những lần nào đó mình gặp thử thách cám dỗ mà mình đứng vững vượt qua, mình nói tôi đã cứng rắn, tôi đã vượt qua. Mình cũng chỉ biết cái bề mặt cạn cợt thôi, chứ chưa hề biết được hết tâm mình là gì, vì cấu trúc của tâm mình nó phức tạp, khó khăn lắm. Do đó là chúng ta khi mà quán tâm trong Tứ niệm xứ này thì chúng ta cần phải khiêm tốn là chúng ta chưa biết gì nhiều về tâm của mình.

[27:13]Nhớ như vậy. Giờ chúng ta bắt đầu đi vào quán tâm. Trong cái ban đầu của quán tâm thì trước hết là phải thấy được lỗi của mình, đó là căn bản của quán tâm. Không thấy được lỗi thì coi như chưa có quán được tâm. Tôi nhắc lại một chút xíu, tôi nhắc lại một chút xíu là thực ra đó để khắc phục cái vọng tưởng ban đầu thì chỉ cần cái quán thân mình đã bớt được vọng tưởng rồi. Nghĩa là khi chúng ta ngồi kiết già, chúng ta biết toàn thân mình, biết rõ ràng, tràn đầy toàn thân, biết thân này là giả, vọng tưởng đã bớt từ từ hết á. Phải nhớ như vậy, chỉ cần như vậy thôi, không có rắc rối. Mà nếu quán thân như vậy mà không có hết vọng tưởng,

[27:54]vọng tưởng vẫn chập chùng khó chịu thì mình thiếu phước, phải ráng lạy Phật, ráng làm phước. Đó, công thức nó chỉ như vậy thôi, mà thực hiện được hay không là do mình nhận định, do công lao của mình. Còn ban đầu chúng ta đi con đường Tứ niệm xứ là chỉ ngồi biết toàn thân, biết toàn thân nhẹ nhàng, vọng tưởng tự nhiên sẽ mất. Mà vọng tưởng không chịu mất thì mình ráng lạy Phật, làm phước, đó rõ ràng như vậy. Bây giờ bắt đầu khi vọng tưởng nó đã lắng rồi, mình bắt đầu đi vào cái quán tâm thật sự. Như chúng ta nói phải đi qua cái lớp vọng tưởng thô đó, mình mới có công phu tu hành. Bây giờ cái vọng tưởng thô đã bớt rồi, bây giờ chúng ta vào quán tâm.

[28:36]Thì đầu tiên của quán tâm là phải thấy lỗi của mình trước. Do tâm mình thanh tịnh bắt đầu mình thấy được lỗi lòng. Thấy được lỗi lòng như thế nào? Là thường thường là thứ nhất là cái tham muốn. Tham muốn mình phải thấy trước. Cái tham muốn này là nó do ngoại cảnh tác động trước. Ví dụ như là chúng ta ở trong chùa, mình sống một đời tương dưa đạm bạc, thì chợt một lần nào đó mình thấy trong một buổi lễ của chùa rồi có nhiều người Phật tử họ đến, họ mang theo cái giàu sang đến với chùa. Họ đi chiếc xe đẹp, đắt tiền, họ mặc bộ đồ rất là sang trọng, mái tóc họ mới uốn theo cái model 2001, rồi họ đi đôi giày bốt, đôi giày bốt

[29:32]hiệu nào tôi không biết vì tôi cũng không có mang cái đó, đại khái là cái sang trọng thì trong một giây phút bất chợt tâm mình động lên, mình muốn được như vậy. Mình nói, "Ờ phải mình mặc thử chắc cũng đẹp như vậy, mình mà uốn tóc chắc cũng đẹp như ông đó vậy", chợt có một cái niệm khởi lên. Nhưng mà vì mình đã tu hành quen rồi, tâm mình đã thanh tịnh, đã nhiều đêm ngồi quán thân nên cái niệm nó khởi lên bị mình thấy liền. Nó có khởi nhưng bị mình thấy liền. Mình buông cái niệm tham muốn nó xuống, đó gọi là biết được lỗi. Mình biết rồi, mình vừa bị tham muốn khởi, biết xong buông nó xuống, hết tha muốn.

[30:07]Đó là cái tha muốn bị thấy. Còn lúc trước kia mình chưa có công phu quán thân á, vì cái tham nó khởi lên cái mình theo nó luôn, mình cứ ước ao, ước ao phải mình mặc được cái bộ đồ đẹp của thế gian như vậy, đi được chiếc xe đó, uốn được mái tóc như vậy chắc đẹp lắm. Mình bị chạy theo cả ngày luôn, cả tuần luôn, không thoát ra được, rồi nó thành cái nhân ở trong tâm, một ngày nào đó mình sẽ được điều đó. Mình sẽ được. Hình như có lần tôi kể chuyện có ông thầy khởi niệm muốn mặc đồ đời phải không? Có rồi phải không? Rồi sau ông bị mặc cả 10 năm luôn. Mình nhìn thấy cái nhân quả đáng sợ. Mà đây may mắn là nhờ mình tâm có thanh tịnh,

[30:47]nên cái tham muốn khởi lên mình thấy mình buông xuống liền, nên không thành cái nghiệp, nó không thành cái nhân rớt trong cuộc đời của mình, nên mình không bị hoàn tục. Hoặc là mình đi trên đường phố vậy, mình nhìn thấy một ngôi nhà cực kỳ sang trọng người ta mới cất lên ba bốn tầng lầu, có cái màu sơn đẹp, có cái trang trí tốt, rồi mình có duyên sự mình bước vào đó để nói chuyện với chủ nhà, mình nhìn bên trong mình choáng ngợp luôn. Nghĩa là máy lạnh, tủ bàn đắt tiền, rồi cái dàn máy karaoke, những cái ti vi, những cái dàn đĩa, cái loa, những cái lọ hoa để trên những cái ngăn kệ cực kỳ xinh xắn, và ngồi ở nơi cái salon cực

[31:26]kỳ đắt tiền đó là một cái bà chủ trẻ nào đó, mặc bộ đồ cực kỳ hấp dẫn, vân vân vậy. Cái ngồi mình mình động tâm lên một cái cái mình nói, phải mình được sống trong cái ngôi nhà này. Nhưng mà khi vừa động tâm lên thì cái tâm thanh tịnh của sự tu hành cái nó biết liền, nó phát hiện ra mình vừa tham muốn, mình vừa bị cái sự giàu sang của thế gian chinh phục, ngay đó buông xuống liền. Trở lại: "Thôi mô Phật, bần tăng xin cáo từ", dọt ra liền, đi ra liền, lọt thoát ra, không dám đứng lâu nữa. Đó là cái mình tỉnh nên mình biết được cái tham muốn. Đó là mình thấy được lỗi, do quán được tâm thấy được lỗi.

[32:05]Hoặc là cái sân hận. Cái sân hận thì nó nhiều loại lắm, gọi là giận hờn. Mỗi người ở mỗi vị trí nó có cái lối giận khác nhau. Ví dụ như hồi mình còn nhỏ, mình còn nghĩa là một tuổi hay tuổi rưỡi mình có cái lối giận nó khác, phải không? Ví dụ như là mình muốn được ẵm đi chơi mà không chịu ẵm cái mình ngồi mình giãy hai chân bạch bạch, mình khóc, mình la, mình hét. Đó cũng là một cái giận của tuổi thơ. Còn bây giờ mình lớn lên rồi lớn lên rồi, mình làm ông thầy rồi, mà mình ăn mặc ông thầy đường bệ đi ngang vậy, gặp cái người họ nhìn ngang: "Mấy thằng thầy chùa". Mình có cái giận, mình động tâm mình giận cái khác.

[32:44]Hoặc là lớn lên á mình làm trụ trì, làm thầy, đệ tử làm trái ý mình có cái giận nó khác á. Nên mỗi tuổi, mỗi vị trí nó có mỗi cái loại giận khác nhau. Nhưng mà hồi nhỏ thì mình giận là giận luôn, giận là giận luôn, không thèm ăn cơm ra phơi nắng luôn, ví dụ vậy. Nhưng mà bây giờ mình lớn rồi, mình biết tu, cái giận vừa khởi lên mình thấy. Mình thấy mình buông xuống, không giận nữa. Đó là do mình biết cái giận này là sai, cái sân này nó không hợp với đạo, mình buông. Đó là biết được lỗi, mình nhận định được liền, không để nó chi phối tâm hồn mình, là do mình lắng được cái thanh tịnh bước đầu, cái vọng tưởng thô bước đầu bị dạt ra bớt.

[33:23]Cho nên những cái tâm bất thiện, những phiền não bất thiện bị phát hiện, có khởi bị phát hiện, buông, bị phát hiện buông liền. Rồi hoặc là cái tâm hơn thua, tâm hơn thua này mới đáng sợ. Hơn thua này gây nghiệp dữ lắm. Như mới chiều hôm qua tôi đi đến cái chỗ đó rồi bị trời mưa quá không về kịp, thì nhằm lúc tới cái giờ nó chiếu cái phim Tân Bao Thanh Thiên, phim Bao Công, nên tôi đành phải ngồi coi một chút. Mình ngồi coi một chút, thì coi cũng không được hết, vì lúc đó thấy mưa tạnh tạnh rồi đâm đầu chạy. Thì thấy cái cảnh lúc đó có hai người bạn cùng đi lên kinh kỳ thi, một người thì giỏi còn một người kia thì không giỏi bằng mà lòng hơn

[34:06]thua, ganh tỵ ghê gớm, lúc nào cũng muốn hơn người bạn của mình. Thì tôi nghĩ câu chuyện kéo dài chắc thế nào cũng có án mạng, tại phim Bao Công thế nào cũng có án mạng. Thì thế nào mà vì tôi không coi nữa nên không biết. Mà chúng ta thấy đó, cái lòng hơn thua ganh tỵ nó làm cho chúng ta tạo nghiệp. Bây giờ mình cũng vậy, mình phải cẩn thận. Ví dụ, ở trong chúng với nhau thế này: mình làm cái bài được bảy điểm, ở trên núi chấm bảy điểm.

[34:36]Cái người huynh đệ mình làm cái bài mình biết là dở hơn mình, lý luận kém hơn, mà không biết trên núi cận thị hay sao không biết cho tám điểm. Bực á, mình tức. Thì ngay lúc đó mình tỉnh ra mình biết rồi, mình vừa bị tâm hơn thua chi phối, mình buông liền. Mình mới mình buông không mình thấy buông chưa đủ, mình phải phát nguyện. Mình mới nguyện rằng con đứng điểm thấp nhất, cho các huynh đệ cả lớp con đứng cao điểm hơn con hết. Mình niệm trước Phật một câu liền, buông liền cái tâm hơn thua đó liền, mà mình thấy an lạc luôn, phải không? Hễ mình vượt qua được một tâm phiền não, tâm mình nó thấy an lạc liền cả tháng.

[35:14]Đó, mà không biết tại cái người cốt đột nào trên núi chấm tầm bậy không biết, làm cho mình động tâm. Nhưng mà thôi buông, nhờ vậy mình thử mình vượt qua được cái tâm hơn thua của mình. Mà vượt được một lần á là mình thắng được cả đời đó. Thắng cả đời là sao? Tại vì sau này sẽ còn nhiều dịp nó gợi cái tâm hơn thua mình lên. Là sẽ có những người nào họ cứ hơn mình một chút, hơn mình một chút, nhưng mà mình đã quen vượt qua rồi, nên bây giờ mình thản nhiên, vẫn tiếp tục cầu mong cho người khác hơn mình: Xin cho mọi người được hơn con, xin cho con đứng phía sau, xin cho con ngồi ở dưới, xin cho con chỉ là người phù giúp để cho mọi

[35:53]người bước đến thành công, để mọi người đặt chân được đến chỗ giác ngộ. Vậy thôi. Mình chỉ nguyện như vậy và mình sống an ổn là do mình thấy được lỗi, tức là quán được tâm ở buổi đầu. Quán được tâm ở buổi đầu là thấy được lỗi của mình. Nên nó nhiều cái tâm bất thiện mà ở bước đầu của quán tâm là phải thấy được lỗi. Nhưng ở đây nó có cái khó này: Muốn mà thấy được lỗi thì tâm mình phải có cái gì? Phải phê phán được, tự mình phê phán, phải không? Ví dụ cái tâm hơn thua khởi lên thì mình phải đánh giá đây là tâm bất thiện, mình phê phán nó là sai thì mình mới gọi là thấy được lỗi. Quý thầy đồng ý không?

[36:35]Đồng ý không? Sao không ai đồng ý tui hết trơn vậy? Sao tui cô đơn vậy nè? Đồng ý không? Mình phải có cái trí tuệ phê phán được cái tâm của mình, phải không? Biết nó là sai thì mới gọi là thấy được lỗi. Chứ mà nó là sai mà mình không thấy nó là sai, không phê phán được nó là sai thì đâu thấy được đó là lỗi, phải không? Đó, nên bắt đầu là phải có phê phán, biết được phê phán. Mà cái trí tuệ phê phán được đúng sai của mình á, chúng ta gọi là lương tâm.

[37:07]Người mà có lương tâm á, tức là người biết phân biệt được phải trái, đúng sai, thiện ác. Nghĩa là cái việc làm mình đúng sai mình đánh giá được, mà thường là đánh giá chính mình chứ không phải là ngồi mình đánh giá thiên hạ nha. Ngồi mình đánh giá thiên hạ thì thuộc loại là dòm ngó lỗi người. Cái lương tâm á chủ yếu là để mình kiểm soát chính mình. Mình một ý nghĩ khởi lên, mình biết nó sai hay đúng, việc làm mình làm ra mình biết nó sai hay đúng, tự mình đánh giá lấy mình nên gọi là người có lương tâm. Nên khi mà mình có lương tâm á thì mình biết cái lỗi của mình. Còn cái người mà không có lương tâm á,

[37:45]không biết lỗi nha, không thấy lỗi của mình. Nó khác nhau. Vì tôi cũng gặp mấy người như vậy, họ chưa có làm cái điều tội nặng mà có những cái lỗi đơn giản, nhắc hoài họ không biết, không nhận đó là lỗi. Ví dụ như họ ngồi họ nói xấu, họ nói xấu, họ phê bình chỉ trích người khác thì tôi mới kêu lại tôi nói là: "Cô đừng có nói như vậy, mình đừng nghĩ xấu người khác mà mang tội." Nói: "Nó có bị xấu thầy ơi, nó cà chớn vậy đâu được." Nghĩa là cô không chịu thấy lỗi mà còn tiếp tục chửi người ta. Nói: "Đừng nói người ta cà chớn, mình sẽ cà chớn." Nói: "Vì con có tội con chịu chớ, mà nó làm cái điều đó là không

[38:21]chấp nhận được, nó hư đốn." Cũng ngồi nói xấu thiên hạ, không bao giờ quay lại nhìn cái tâm mình để thấy lỗi. Không chịu thấy lỗi, có người như vậy đó. Còn cái người mà có gọi là có cái trí tuệ lương tâm á, mình vừa động tâm người ta chỉ cái thấy liền. Đó, nhắc cái biết liền. Mà sáng hơn nữa là tự mình biết luôn, không đợi người khác nhắc, nên gọi là người có lương tâm. Ngược lại là có một loài người vô lương tâm trong cuộc đời này. Những người làm chuyện ác mà không biết sợ hãi. Nghĩa là giết người mà bàn tay không gớm máu, cuộc đời nó có những người như vậy, vô lương tâm. Chúng ta nghe trên báo chí ở nước ngoài có những người gọi là giết người hàng

[39:03]loạt á, cứ giết hết người này giết hết người kia, cầm súng xả vào đám đông. Hoặc là dụ một cô gái về nhà, cưỡng hiếp xong rồi cắt cổ cô, rồi cắt từng bộ phận để trong tủ lạnh để nấu ăn dần dần. Báo đăng á, có thật. Những người vô lương tâm. Họ hình như không phải là người nữa, là quỷ hay gì. Vừa rồi trên báo Công an có đăng mấy cái lần là cái gia đình đó đi cướp ở miền Tây đó, cướp năm mươi mấy vụ. Mà cứ vào những cái trại ruộng vắng người xa xa đó, lấy hết từng cái đèn pin, hột quẹt cũng lấy, cái gáo múc nước cũng lấy, cái rựa cũng lấy, cái xà búp cũng lấy, lấy hết. Mà hễ gặp phụ nữ thì trói mấy người đàn ông lại,

[39:43]cưỡng hiếp phụ nữ trước mặt những người chồng, người cha của họ. Họ làm được mấy chục vụ rồi đó, năm sáu chục vụ, rồi công an cũng bắt được hết, từ từ hết. Nhưng mà chúng ta thấy những người vậy không có lương tâm, mà không lương tâm vậy. Nên cái khác nhau giữa chỗ này để sống được làm người có đạo đức hay không đạo đức là có lương tâm. Cái người mà không có lương tâm á là người đó thuộc về cái thế giới của quỷ, của ác quỷ. Họ đang là con người chứ họ đang từ từ đi về phía của ác quỷ. Còn người có lương tâm á, đang đi dần về cái thế giới của thánh. Tất cả chúng ta ngồi đây, những người nào mà chịu bước vô chùa

[40:24]để ngồi thì hầu hết là ai cũng có lương tâm, phải không? Ít hay nhiều thôi. Thì cái người lương tâm sắc thì họ nhanh chóng nhận ra lỗi của mình, mà lương tâm ít thì đợi người khác nhắc một cái nhận ra liền. Hầu hết chúng ta đều có, phải không? Mà tại sao chúng ta có lương tâm mà tại sao những kẻ kia không có lương tâm? Nguyên nhân nó nằm ở đâu? Có cái lương tâm này đó, chúng ta gọi là có chủng tử của thánh. Vì có lương tâm biết được thiện ác, đúng sai, phải trái là người này đang ở thuộc về thế giới của thánh. Mặc dù chúng ta có thể ở màng rào nhưng chúng ta đang về thế giới của thánh. Còn người vô lương tâm là người đó thuộc về thế giới của ác quỷ.

[41:12]Cho nên có lương tâm tức là có chủng tử của thánh. Nhưng tại sao chúng ta có lương tâm? Tại sao chúng ta có chủng tử của thánh? Ai biết?

[41:24]Cái nhân nào? Bởi vì chúng ta đã từng cung kính những bậc đáng kính. Trong vô lượng kiếp nào đó, chúng ta đã gặp được một vị thánh cao cả, chúng ta đã cúi đầu, chúng ta đã quỳ xuống, chúng ta đã ngưỡng phục. Và cái nhân nó rớt vào trong tâm mình trong nhiều kiếp, nó xuất hiện cái chủng tử thánh trong lòng mình. Mà khi có chủng tử thánh rồi thì mình có lương tâm, biết phân biệt phải trái, đúng sai, và làm biết phê phán được tâm của mình. Đây là cái tiến trình của quán tâm. Đầu tiên là phải thấy được lỗi, mà muốn thấy được lỗi, chúng ta thấy cái nhân nó nằm rất là sâu. Từ cái cung kính về bậc thánh từ một kiếp xa xưa nào đó.

[42:08]Mà trong các vị thánh thì vị thánh nào là vị thánh cao cả nhất? Đức Phật, phải không? Mà mình không biết mình đã gặp Phật hay chưa, thì thôi từ bây giờ mỗi ngày chúng ta cố gắng quỳ lạy Phật với tất cả tấm lòng tôn kính thiết tha. Thì chúng ta đang gây được cái nhân thánh rất là lớn. Và nhờ như vậy, mình có chủng tử thánh sâu dày, lương tâm mình rất là sáng, và mình nhanh chóng nhận ra lỗi trong tâm mình liền. Cái tiến trình nó logic, nó chặt chẽ như vậy. Nên tôi cứ hay nói: khi mà mình lạy Phật nhiều, cái kết quả đầu tiên nó xuất hiện là mình thấy được lỗi mình rất là lẹ. Đó là tiến trình ngày hôm nay chúng ta mới phân tích ra,

[42:47]hồi trước là tôi chỉ nói tắt thôi, hôm nay chúng ta phân tích ra, chúng ta thấy nó một tiến trình logic chặt chẽ như vậy. Còn mà mình không thấy kịp lỗi của mình là phước lạy Phật còn thiếu, phải ráng thêm. Rồi bây giờ, đó là mình thấy cái lỗi nó khởi ra trong tâm rồi mình mới thấy, là mình đã biết tu rồi đó. Người đó đã là người xuất gia chân chính. Hễ mà cái hơn thua, tham muốn, giận hờn khởi lên trong tâm mình thấy buông liền. Người đó đã xứng đáng là ăn cơm của đàn na tín thí, đã xứng đáng là người nối dòng huệ mạng của Phật pháp rồi, tốt rồi, nhưng mà chưa siêu, chưa siêu. Siêu là làm sao?

[43:34]Siêu là thế này, là những cái sai trong tâm mình nó chưa khởi ra trong tâm, chưa khởi ra mà mình thấy luôn. Ví dụ, ví dụ như là mình chưa hề nhìn thấy một cái giàu sang của thế gian để động tâm tham muốn, không có. Nghĩa là mình chưa hề nhìn thấy cái nhà lầu đẹp đẽ để mình tham muốn, chưa hề nhìn thấy người ta ăn mặc sang trọng để tham muốn, không có. Chưa khởi ra, mà mình đã thấy được trong tâm mình có tham muốn. Thấy được tiềm ẩn trong tâm mình có sự tham muốn thế gian. Cái này mới gọi là thấy lỗi mà khi lỗi chưa khởi ra luôn. Hoặc là mình chưa bị cái điểm thấp hơn huynh đệ, mình làm bài điểm cao hơn huynh đệ.

[44:22]Nghĩa là mình không có bị bận tâm bởi hơn thua, vậy mà mình đã thấy được trong tâm mình có hơn thua. Nó chưa khởi ra. Hoàn toàn là mình chưa thấy ai hơn điểm mình để mình bực bội, không có. Mình vẫn hơn điểm. Vậy mà mình đã thấy rằng trong tâm mình có mầm mống của sự hơn thua ở trỏng. Chưa ai chọc giận mình. Nghĩa là mình đang ăn cái bánh bò, chưa có ai lại giựt ngang ăn để cho mình giận, chưa hề, chưa có ai chọc cái gì để mình động tâm, mà mình đã thấy được trong tâm mình đang có cái sân hận ở trỏng. Con người mình là người có sân hận, con người mình là người có tham muốn, có kiêu mạn, mặc dù chưa khởi ra.

[45:06]Người nào mà thấy được lỗi của mình lúc nó chưa khởi ra, thì tôi có thể nhờ người đó giảng tiếp những bài kế tiếp, tôi không cần về đây giảng nữa. Thật á, tôi nói thật á, là người đó đủ trí tuệ đó. Khó như vậy. Thấy không? Huynh Huệ thấy không? Huynh Trí thấy chưa? Mấy thầy hiền quá đâu thấy được.

[45:33]Nên thôi hôm nay tôi nói, có lần tôi nói, giờ tôi nói lại vậy. Là tôi nói có ba trình độ tu. Trình độ mà tu siêu, cao á là thấy được lỗi khi nó chưa khởi ra trong tâm. Nghĩa là mình chưa có khởi tham muốn mà mình biết con người mình là con người có tham muốn. Mình chưa có khởi động cái tâm kiêu mạn mà mình đã biết con người mình có tâm kiêu mạn ở trỏng. Đó là trình độ thứ nhất, cao nhất á. Cái trình độ thứ hai là biết được lỗi khi lỗi đã khởi ra trong tâm rồi. Ở người ngoài họ không thấy, họ thấy mặt mình tỉnh bơ. Mình đang giận mà bên ngoài không thấy, nhưng mình tự biết, mình buông rồi. Đó là trình độ thứ hai, gọi là trung bình.

[46:17]Người này là người xuất gia tốt rồi. Cái trình độ thứ ba đó là phải đợi khởi ra thái độ rồi mình mới thấy. Nghĩa là ví dụ mình vừa mới, mình mới vừa bưng cái rổ cóc đi vô, huynh đệ cùng phòng chạy lại xớt mấy trái mất liền. Cái là mình quăng cái rổ cóc mình chạy lại mình chực cổ mình kéo lại, mình giật cái tay giựt cái trái cóc lại rồi mình hậm hực đi ra, mình mới thấy chết cha, nãy giờ mình vừa mới sân. Thôi quay lại: "Thôi huynh, cóc này huynh ăn đi." Xin lỗi, xin lỗi. Nghĩa là mình cũng phát hiện kịp liền, nhưng mà phải đợi nghĩa là mình phải làm nắm cổ kéo lại, biết cái này cái gì không cái đã, rồi mình mới giật mình:

[46:53]"Chết cha, sân rồi!" Mình trả lại thì nó hơi muộn, nhưng cũng có biết lỗi khi nó đã khởi ra thái độ và hành động. Khởi ra thái độ, hành động, thì đây là trình độ kém, nhưng mà cũng có biết lỗi, cũng có lương tâm, gọi là cũng có cái lương tâm để biết lỗi mình là trình độ thứ ba, là ba trình độ. Ở đây quý thầy thuộc trình độ nào? Thành thật khai báo đi! Hãy thú tội trước bình minh nha! Đó, ba trình độ thuộc trình độ nào? Hả? Trình độ thứ ba hay coi chừng còn có thứ ba rưỡi? Để tôi nói luôn thứ ba rưỡi nữa. Trình độ thứ ba rưỡi là vậy nè: ví dụ như là mình chuẩn bị ủi một bộ đồ đẹp để chuẩn bị đi ra Long An thăm Phật tử.

[47:40]Xếp xuôi xếp lại cái ai mặc mất tiêu. Cái mình thấy: "Ủa, đồ tui mới ủi đây đâu rồi?" - "Thôi, cho mượn đỡ nha. Tôi đi Long An trước, trước huynh một chút." Thì lúc đó mình sao? Thế là mình hằm mặt mình nắm đầu mình chạy theo, mình kéo cổ lại và lột đồ tại chỗ. Thì có người mới nói: "Sao anh sân quá vậy? Anh làm vậy là anh sân." Nghĩa là người ta nói một lát mình mới từ từ nhận ra đó là sân. Nghĩa là cái lỗi của mình mình không tự thấy mà phải nhờ người thấy giùm. Thì đó là ở trình độ thứ ba rưỡi. Nên có ba trình độ: thứ nhất là thấy được lỗi khi nó chưa khởi trong tâm; thứ hai là thấy được lỗi khi nó đã khởi ra tâm;

[48:22]thứ ba là thấy được lỗi khi nó đã khởi ra thái độ và hành động; và thứ ba rưỡi là nhờ người ta thấy giùm, chứ mình hết thấy rồi. Rồi, nói nói được hết bốn trình độ. Bây giờ quý thầy thuộc trình độ nào?

[48:38]Bây giờ, bắt đầu chúng ta mới quán tâm ở mức độ thứ hai là thấy được động và tịnh. Hồi nãy là chúng ta thấy được thiện và ác trong tâm mình, bây giờ bước tới trình độ thứ hai là thấy được động và tịnh. Thì chúng ta phải hiểu điều này: là muốn thấy được động và tịnh phải đi vượt qua cái giai đoạn thấy được thiện và ác trước á, chứ không bao giờ được đi tắt, không bao giờ được đi tắt. Nên có lần tôi kể, có người gặp tôi nói: "Thầy chỉ cho con cái cách nào để nhiếp tâm trong định?" Thì tôi không có thì giờ để ngồi nói lâu, vì tôi phải sắp đi, tôi chỉ nói một câu: "Anh hãy thanh lọc tâm anh cho đến khi nào thuần thiện

[49:18]thì tự nhiên cái định sẽ tới." Tôi nói rồi tôi đi vội, không biết anh đã thực hiện được chưa. Nhưng đó là cái con đường duy nhất á, không có con đường khác. Có nhiều người hiểu thiền là siêu việt thiện ác, là không có thiện không có ác, thì ngay đó mới là bản lai diện mục. Nhiều người hiểu kiểu đó cực kỳ nguy hiểm. Nghĩa là họ chưa thanh lọc tâm được thuần thiện mà đã ép để tâm được vào định. Cho nên cái mầm bất thiện còn ở trong tâm đầy hết trỏng. Đây là một cái sai thì không tiến được xa, không tiến được xa. Họ cứ muốn là nghe nói tâm định tức là mau đắc đạo, nên họ không cần thanh lọc thiện ác,

[50:00]cứ nhiếp vào trong định, nhiếp vào trong định để đi cho lẹ, đi cho lẹ. Thì họ đi lẹ đó. Đi lẹ nhưng tới lúc nào đứng lại rồi lui ra lại, không tiến sâu nữa. Còn cái người mà thanh lọc thiện ác cho kỹ, cho tới khi tâm thuần thiện, vì họ có cái thời gian để thanh lọc cái tâm cho thuần thiện nên họ đi chậm hơn người kia, họ đi chậm, nhưng khi họ tới là họ tới được tột đỉnh luôn. Nhưng chúng ta vậy. Có một thời gian vậy, có thời gian tôi không lý giải được chuyện này mà tôi cứ buồn hoài. Thấy nhiều người tu theo đạo Phật, gọi là tu thiền, tâm họ nhiếp được. Tâm họ nhiếp được trong thanh tịnh, tôi biết họ nhiếp được.

[50:41]Họ không nói dối. Họ không nói dối. Tôi biết người này nhiếp được tâm thanh tịnh, sáng, có trí tuệ. Ngồi thiền yên ổn, trong đời sống kiểm soát được tâm mình, nhưng hễ đụng chuyện phải xử sự với con người thì hơn thua khởi lên, ích kỷ khởi lên, đố kỵ khởi lên, sân hận khởi lên. Mà không có chuyện gì đó thì ngồi nhiếp tâm như ông thánh á, mà hễ đụng chuyện cái thì tệ hơn phàm phu. Tôi cứ ngạc nhiên hoài, tôi hỏi: "Tại tại sao vậy?" Tôi nói nếu thiền là cao siêu thì phải giúp người ta xây dựng được đạo đức. Chứ tại sao người này đứng trên lý thuyết thiền thì người này đạt nhưng mà đạo đức không có, lý do nằm chỗ nào?

[51:28]Mãi đến sau này tôi mới biết một điều là chỉ vì họ vội vã tìm cách nhiếp tâm vào trong thiền định mà không thanh lọc được tâm ra khỏi cái ác. Cho nên ở bề mặt của tâm á thì tâm nó định, nhưng trong bề sâu của tâm thì những cái mầm bất thiện còn đầy trong đó hết trơn. Đụng chuyện xử sự như kẻ phàm phu tầm thường. Bởi vì cái xử sự của mình nó nằm trong hành uẩn á. Cái xử sự của mình có hay không nằm trong hành uẩn, hành uẩn chưa được thanh lọc. Cho nên hễ mà nhiếp tâm định ở cái mặt tưởng uẩn nó định thì như ông thánh á. Nhưng mà khi cần phải xử sự lấy trong hành uẩn ra xài thì móc ra toàn cái bất thiện không.

[52:10]Nên đó là lý do nhiều khi tôi than, tôi nói thế này: "Nói đạo Phật là cái con đường để người ta chứng được thánh quả, để làm được thánh, nhưng mà có nhiều khi chúng ta còn chưa làm được cái người quân tử như đạo Nho. Cái người đạo Nho họ không có con đường để làm thánh, nhưng họ xây dựng con người quân tử thực tế, chính xác là sống một đời quang minh chính đại, nói một là một, hai là hai, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, không có quanh co, không lừa dối, không luồn lách. Mà nhiều khi mình nói mình là đạo Phật là có thể thành được thánh mà không ngờ trong cuộc sống có khi mình đã gian dối, đã luồn lách.

[52:55]Lại nói không nhất quán mà nhiều khi tiểu nhân, ích kỷ, hèn hạ nữa." Tôi ngạc nhiên nói: "Tại sao vậy? Tại sao vậy?" Thì ngày hôm nay mới biết là bởi vì có nhiều người đã nghe đến cái lý thuyết là thiền là không thiện, không ác, bỏ thiện, bỏ ác. Hễ bỏ cái thiện tức là cái ác tồn tại. Lúc đó không thấy cái ác khởi nhưng cái ác nó đang còn tồn tại bởi vì mình đã bỏ điều thiện rồi. Nên bề mặt thì thanh tịnh mà bên trong mầm bất thiện còn đầy hết, nguy hiểm. Do đó tôi chủ trương vậy, trước khi chúng ta đi vào trong cái thanh tịnh là phải làm cho tâm mình thuần thiện cái đã, đạo đức cho thật vững cái đã, mới nói tới cái chuyện là thanh tịnh.

[53:41]Tôi nói rằng chỉ có cái người mà không còn bất thiện thì mới được quyền nói tới cái định. Còn cái người mà tâm còn cái mầm bất thiện thì người đó chưa được quyền nói tới cái định. Phải như vậy. Cho nên chúng ta vậy, phải quán được tâm, thấy được lỗi để mà xây dựng đạo đức cho vững trước khi chúng ta vào sâu trong thiền định. Cái vọng tưởng mà nó có ngôn ngữ á là những cái ngôn ngữ là những cái tâm thô đầu tiên, nãy chúng ta nói rồi. Cái vọng tưởng mà nó có ngôn ngữ á, cái ý niệm mà có ngôn ngữ, ý niệm mà nó có ngôn ngữ, ví dụ như là mình có cái ý nghĩ thế này: đang cất chùa, đang trong hạ, mình có ý nghĩ rằng là đến tháng 7,

[54:33]đó là ngôn ngữ nha, khi ra hạ, mình sẽ xin phép ban giám hiệu về thăm bổn sư để xin ít tiền về mà mua vở học. Đó là một ý niệm phải không? Đó là một ý tưởng. Và ý tưởng nó được trang bị ngôn ngữ bằng cái câu ngôn ngữ rất là dài: như là: "Đến tháng 7, khi ra hạ, mình sẽ xin phép ban giám hiệu về thăm bổn sư để xin tiền thầy mình về mua vở học." Đó là một ý tưởng rất là dài, có ngôn ngữ. Quý thầy có nghe cái ý tưởng này chưa? Mình gặp rất nhiều phải không? Trong đời sống mình hầu hết ý niệm mình đều có ngôn ngữ. Đó là mình cái lớp tâm thô đầu tiên. Nhưng mà khi mình tu lần lần là cái lớp tâm thô này nó vượt

[55:19]qua, bắt đầu mình mới thấy được một cái loại ý niệm cao hơn, đó là ý niệm không ngôn ngữ, chưa ngôn ngữ.

[55:28]Cái ý niệm chưa có ngôn ngữ, nghĩa là nguyên cái câu hồi nãy mình nói đó, "Đến tháng 7 khi ra hạ..." thì nó nhá một cái xẹt một cái trong tích tắc một cái nó đầy đủ tất cả toàn bộ ý tưởng đó liền mà chưa có trang bị ngôn ngữ. Khi mà nó có ngôn ngữ á, nó phải diễn tả cái ý tưởng đó qua một thời gian, mất hết mấy giây đồng hồ, mất hết mấy giây đồng hồ nó mới diễn tả hết được cái ý nghĩ mà mình tính ra hạ đi về chùa. Nhưng mà ở nơi khi mà cái ý niệm đó nó lắng xuống rồi mà mình thấy được cái ý niệm chưa có ngôn ngữ thì nó nhá một cái xẹt một cái là có liền, đầy đủ tất cả mọi cái ý đó liền. Cái ý này là ý chưa ngôn ngữ.

[56:07]Ở đây có ai thấy được cái ý này chưa? Khi ngồi thiền đã thấy chưa? Thấy chưa? Ráng thấy. Có khi cũng thấy, phải không? Có khi tâm thanh tịnh cũng chợt nhận ra những cái ý niệm nó lóe lên trong tâm mình mà nó đầy đủ ý tưởng hết mà chưa có ngôn ngữ. Có khi cũng thấy. Thì cái ngôn ngữ này, ý niệm này đó là ngôn ngữ chung của loài người. Ý niệm chưa ngôn ngữ á, mà khi nó trải xuống ngôn ngữ thì nó tùy theo quốc gia. À ví dụ như là chúng ta gặp một người nào á, người đó tốt chúng ta khen, thì mình nói là: "Bạn thật là tử tế", mình nói tiếng Việt Nam. Nhưng một người Anh á thì họ cũng nói câu đó thì họ nói là:

[56:53]"You are very kind." Tức là cùng một ý, cái ý niệm chưa ngôn ngữ thì giống nhau, nhưng mà khi xuống tới ngôn ngữ cái nó bắt đầu nó chia ra thành nhiều ngôn ngữ, nhưng cái ý chưa ngôn ngữ này giống nhau. Cho nên cái ý niệm chưa ngôn ngữ này là ý niệm của toàn thể loài người, chung của toàn thể loài người. Mà sự thật là chung của tất cả chúng sinh luôn, kể cả của loài thú, kể cả của chư thiên luôn, đều là chung nhau cái ý niệm chưa ngôn ngữ này. Nhưng mà do hoàn cảnh, tập quán, địa phương thì chúng ta tải thêm cái ngôn ngữ rồi bắt đầu chia cách nhau ra. Mỗi người một vùng một xứ nói một tiếng. Thì trong cái đầu mình á nó có...

[57:30]Ví dụ như con thú nó muốn ăn á, nó kêu nó ú ớ trong miệng á, hoặc là nó vẫy đuôi, hoặc nó đến nó nó vùi cái đầu nó nơi chân mình, nó muốn ăn, là nó dùng cái ngôn ngữ, nhưng mà nó có cái ý niệm chưa ngôn ngữ. Nhưng nhiều khi mình đọc không ra, mình không biết nó muốn làm cái gì, nó ớ ớ trong miệng nó. Còn mình thì mình nói là muốn ăn: "Dạ, xin thầy cho con miếng cơm cháy", ví dụ vậy. Còn ở trên chư thiên cũng vậy, họ đọc được tâm mình á là đọc được cái tâm mà chưa ngôn ngữ này. Ví như khi mình ngồi thiền thanh tịnh vậy á, nó có những ý niệm lóe lóe lóe lên. Nhiều khi mình không biết đâu, tại vì mình chưa đủ định để thấy được

[58:08]cái ý niệm này, nhưng mà quỷ thần chung quanh họ thấy hết trơn á. Tại họ không có dùng cái ngôn ngữ này, họ thấy được cái ý niệm chưa ngôn ngữ. Ví dụ khi mình ngồi thiền mình bị vọng tưởng đi, mình nghĩ lăng nhăng chuyện này chuyện kia, về chuyện kia, thì những cái ý đó nó không có mạnh, cái ý đó nhiều khi quỷ thần họ không biết. Họ chỉ biết rằng cái người ngồi thiền đó tâm động quá, vọng tưởng lung tung. Họ chỉ biết vậy thôi, chứ họ không biết cái chi tiết là mình vọng tưởng chuyện gì, họ không biết. Nhưng mà khi mà mình động lên một cái ý niệm mà chưa có ngôn ngữ mà muốn làm cái gì cái là nó mạnh lên, họ biết liền.

[58:42]Khi mình đang ngồi thiền mà mình nhá lên một cái mình định ngày mai mình đến gặp người nào, cái là quỷ thần họ biết liền. Tại vì cái ý niệm chưa ngôn ngữ là cái phương tiện giao tiếp của cái thế giới tâm linh, họ không cần cái lời nói. Trong thế giới tâm linh là họ nhìn nhau, họ gặp nhau, họ chỉ khởi ý họ biết nhau liền. Tâm và tâm biết nhau. Ví dụ hai vị thiên tử từ xa đến gặp nhau, một vị khởi tâm lên hoan hỷ, chúc mừng, tán thán, vừa nhá lên cái tâm đó cái là bên vị thiên tử kia nhận ra được cái tâm đó liền, đón nhận liền, hiểu liền, không cần phải nói nhiều. Đó, thế giới của chư thiên là vậy, là thế giới ý niệm chưa ngôn ngữ.

[59:21]Thì chúng ta cũng vậy, khi mình ngồi thiền vượt qua được cái vọng tưởng mà có ngôn ngữ rồi, mình phải thấy được cái ý niệm chưa có ngôn ngữ là ở lớp sâu á, mới thấy được cái tâm mình thật sự nằm trong đó. Ừm. Cái ý nghĩ này nó nhanh. Cái niệm này nó nhanh lắm, tích tắc xẹt cái. Rồi nó nhanh lắm, cho nên ngài Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục, có lần ngài nói là cái trí tuệ của cái tâm đó đó nó nhanh đến cái độ mà ngài dùng cái chữ là "điện chớp còn ở đằng sau đuôi". Nghĩa là điện mà chớp trên trời nó nhanh như vậy đó mà ngài cho rằng nó vẫn còn chậm hơn những cái ý niệm mà chưa ngôn ngữ này. Ý niệm chưa ngôn ngữ nó lẹ.

[1:00:06]Mà khi mình tâm thanh tịnh nó thuộc về trí tuệ, khi mình nhìn thấy người ta nhúc nhích một cái, mình biết trong ý người ta muốn cái gì và mình biết mình phải trả lời câu gì cho thích hợp liền, cái nó tức khắc liền, nó lẹ như vậy, gọi là trí tuệ của cái người mà ngộ đạo, nó lẹ như vậy. Nên ngài Trần Thái Tông mới nói là nó nhanh đến nỗi mà điện chớp vẫn còn ở sau đuôi. Là những những vị thiền sư đó họ chứng từ từ tới á, thấy đúng như vậy hết. Rồi còn cái điều này nữa, ví dụ như là khi mình tu á thì cái vọng tưởng hay vọng tâm là bị mình biết, là chúng ta có cái biết, mình biết cái vọng tưởng này.

[1:00:45]Hay vọng tưởng khởi lên, khởi xuống, mình quán, mình thấy, mình biết nó. Tu một thời gian mình mới phát hiện cái biết này còn bị bị biết một lần nữa. Mới ban đầu á là mình biết cái vọng tưởng, nhưng mà tu một lát cái biết này nè, bắt đầu nó lại bị biết một lần nữa. Mà cái gì biết cái biết này thì mình hết biết rồi. Vì những cái biết sau càng lúc nó càng sâu càng lúc càng sâu nó không có gốc nữa. Càng lúc nó càng sâu, những cái lớp thức ấm về sau nó sâu dần sâu dần. Mà tới cái tận cùng tuyệt đối thì thực sự là không còn có gốc nữa, không còn có chỗ khởi điểm. Mà ví dụ cái tâm mà để biết được cái vọng tưởng á,

[1:01:23]mới ban đầu vọng tưởng khởi mình biết mình buông, biết buông thanh tịnh thì mình thấy cái biết này nó hay, nó vi diệu. Nhưng thời gian mình mới hay ra rằng cái biết này vẫn còn thô, còn chấp ngã nhiều. Biết này còn chấp ngã nhiều, nên lần lần mình buông cái biết này. Nhưng mà cái gì để biết cái biết này thì mình chưa đủ sức để biết, vì nó còn nhiều lớp sâu hơn nữa. Đó là cái quán tâm, quán tâm thanh tịnh. Khi mà quán tâm như vậy mình tu tập như vậy thì tâm mình nó nó bị tiến thoái nhiều lần. Có khi ngày hôm nay tâm mình thanh tịnh, qua ngày sau tâm mình bị động lại. Rồi qua bữa khác tâm mình lại thanh tịnh, rồi bữa khác tâm mình lại động lại.

[1:02:02]Thì tiến trình tu ai cũng bị như vậy nên mình phải kiên nhẫn, không có nản chí. Cho nên đừng có đến than thở sao con tu mà cứ cứ là cứ bữa nóng bữa lạnh, bữa trồi bữa sụt hoài. Nói tốt, có tu là tốt. Chính cái trồi cái sụt đó là mình có công phu đó, mà có công phu là có công đức. Cứ như vậy mà tiếp tục tu, đừng có sợ. Đến lúc nào đó mình mới chứng được cái bất thối bất thối chuyển thì không còn bị nữa. Nhưng mà ở buổi ban đầu mình hay bị, cứ bữa nay tịnh bữa khác động, nay tịnh bữa khác động, thì cứ kiên nhẫn đừng có sợ. Sâu hơn nữa là chúng ta thấy được tâm, cái ý niệm mà nó điều khiển cơ thể.

[1:02:48]Cái này là tâm đã thanh tịnh vào đến hành ấm rồi thì mới có thể thấy được cái đầu niệm mà nó điều khiển cái cử chỉ, cử động của cơ thể mình. Đây khó. Ví dụ bây giờ này chúng ta đứng lên, tôi đưa tay lên, phải không? Đưa tay nè. Ừ. Thì như vậy là cái gì điều khiển cái này? Cái gì điều khiển?

[1:03:16]Phải là cái đầu mình phải không? Nhưng mình có thấy được không? Không thấy. Không hề thấy đâu. Mình không hề thấy là cái gì đã làm cho mình điều khiển tay chân thế này. Mình làm lực sĩ đẹp thế này, mặc dầu ốm nhom ốm nhách nè. Hoặc là mình đi tới đi lui thì rõ ràng là nếu mà cái đầu mình không điều khiển làm sao mình đi tới đi lui được. Nhưng mà có ai thấy cái tâm nào nó đã điều khiển cái chân mình đi tới đi lui chưa? Có ai thấy chưa? Có không? Có ai thấy người đó chứng đạo mất rồi. Bởi vì phải định vào sâu tới hành ấm mới thấy được cái này. Rất là khó, không phải dễ. Cho nên nhiều vị thiền sư ấy là hay diễn tả, nói thần thông diệu dụng là gì?

[1:04:00]Người này nói là đi đứng nằm ngồi đều là thần thông diệu dụng, vì họ thấy được cái đầu niệm ở trong tâm á mà điều khiển ra được cái đi đứng nằm ngồi đó. Hoặc có người hỏi: "Thế nào là thần thông diệu dụng?", thì nói là: "Gánh nước, bửa củi." Là vì họ thấy được ngay cái đầu niệm mà làm điều khiển cái tay chân của mình. Nhưng có một lần ta thấy một thiền sư mà hỏi một thiền sinh đến hỏi: "Ngươi là có chủ hay không có chủ?", nói: "Dạ có chủ." "Chủ ở đâu?", cái ông đi từ bên đông sang bên tây ổng đứng. Ngài Quy Sơn hỏi ngài Ngưỡng Sơn, ông kia chấp nhận liền. Chấp nhận rằng biết rằng cái người này cái định đã thấy

[1:04:40]được tới cái đầu niệm mà nơi xuất phát ra hành động. Chấp nhận. Còn mình bây giờ mình không biết rồi sao mình cũng bắt chước. Ai hỏi: "Ngươi là vị tăng có chủ hay không chủ?", nói: "Dạ có chủ." "Chủ như thế nào?", cái mình cũng giơ tay lên, ngài quơ quơ lại. Nhưng sự thật mình bắt chước thôi, chứ mình không thấy nổi cái đầu niệm mà đã làm thành cái hành động của mình. Nên cái chỗ này nó nhanh lắm, nó nhanh mà nó sâu lắm. Chúng ta chưa chứng thì không đủ sức thấy được chỗ này. Và đây là chúng ta thấy cũng là cái chỗ mà chưa phải là cứu đường. Tuy là thấy được cái hoạt động của tâm mà cái đầu của cử động

[1:05:22]cơ thể là sâu lắm rồi đó, vào được tới chỗ đó là sâu lắm, nhưng mà có phải là tuyệt đối chứng đạo như đạo Phật nói chưa? Thấy chưa? Chưa. Vì mới bắt đầu đặt chân vào đầu của hành ấm thôi, mà hành ấm ở phần ngoài thôi, chứ còn hành ấm trong sâu nữa chưa thấy được. Mà thấy được cái đó là cũng siêu đẳng lắm rồi đó. Cho nên bữa nào mà quý thầy có thấy chạy lên núi báo tôi biết nha. Chạy vô hỏi: "Lên đây làm gì?", cái bước qua bước lại gì đó đúng không? Đó là biết người này đã thấy được cái đầu niệm của cử động cơ thể rồi đó. Rồi thực sự thế này nữa, là chúng ta thấy là nơi cơ thể mình cùng lúc chứ có nhiều cái cử động khác nhau lắm.

[1:06:08]Quý thầy có thấy không? Như bây giờ đang ngồi nè, để ý lại đi. Để ý coi mình đang có bao nhiêu hành động? Để ý nè. Bắt đầu cái người nhìn xuống, cái liếm lưỡi một chút, liếm môi một chút, rồi cái tay nhúc nha nhúc nhích chút, cái có ý lắng nghe. Đó, cái chân hơi rung rung một chút. Rồi cái người thì móc lỗ mũi, người thì khều khều cái tay áo, lay áo. Nó cùng một lúc mình nhiều cái hành động khác nhau. Nhưng mình đi vậy đó chứ nó không phải là chỉ là đang đi đâu, mà tùm lum cái hành động kèm theo cái đi của mình. Mình đang ngồi trong lớp nghe học như vậy, chứ sự thật là đang có nhiều hành động từ cái ngón tay ngón chân của mình, từ cái răng,

[1:06:52]cái ánh mắt, cái sự chú ý của mình nó đang rất nhiều các hành động đang cùng một lúc. Khi mà tôi không nói á thì quý thầy cứ làm nhúc nhích không để ý, mà khi nói rồi bắt đầu nhìn lại mà hơi hơi ngừng lại bớt phải không? Hơi ngừng lại bớt. Chứ sự thật là chúng ta đang có nhiều hành động cùng một lúc như vậy. Mà mình không thấy hết. Mà Đức Phật là người kiểm soát được điều này rất rõ vì tâm Ngài thanh tịnh, Ngài thấy được cái đầu niệm khởi. Tâm Ngài thanh tịnh sâu vào trong đó nên Đức Phật không có cử chỉ thừa như mình. Mình thường hay bị cử chỉ thừa là vậy đó, vì mình không đủ sức kiểm soát hết cái hành ấm của mình.

[1:07:30]Vì hành ấm cùng lúc nó bung ra nhiều cái cử chỉ đó. Thế mình ngồi mình nói chuyện với nhau vậy chứ mình nhúc nhích tới lui nè, chân co tới co lui rồi ngón tay nhúc nhích nọ kia. Nhưng mà Đức Phật không á, Ngài định Ngài sâu lắng kiểm soát được hành ấm nên Ngài ngồi bất động. Nên trong những bài kinh mà diễn tả về cái oai nghi và tướng tốt của Phật, chúng ta nhiều khi mình không hiểu mình cứ tưởng bài kinh lẩm cẩm, mình nói bài kinh lẩm cẩm nói gì đâu mà nói chi ly, nhưng không ngờ đó là cả cái trí tuệ, cả cái đạo quả siêu việt á. Ví dụ như nói là khi Ngài ăn cơm thì Ngài không ăn trước khi nuốt, không nuốt trước khi ăn gì đó không biết.

[1:08:10]Đưa cái muỗng lên, đưa vào miệng ngậm lại, lấy muỗng ra, nhai đàng hoàng rồi nuốt trong thanh thản, mình nói: "Ủa, sao diễn tả Phật diễn tả gì lẩm cẩm vậy?" Nhưng đâu có ngờ, đó chính là diễn tả được oai nghi của một người mà đã kiểm soát được hành ấm. Nên làm cái gì làm việc không có cử chỉ thừa, hễ có cái gì thừa phát ra là bị biết rồi, giữ lại rồi. Và nói rằng khi Ngài bước vào nhà vậy, chân nào bước trước và chân nào bước sau, và khi Ngài quay ngó là cả thân người chuyển động như thế nào, Ngài tới lui Ngài ngồi xuống xếp chân. Diễn tả Phật từng ly từng tí mà mình thấy: "Ủa, thì ai ngồi cũng vậy, ai đi vào nhà cũng vậy", nhưng không phải.

[1:08:52]Diễn tả vậy để chúng ta thấy rằng tâm Ngài thanh tịnh không có cử chỉ thừa. Còn cái hành ấm của mình bị động, cho nên trong cái hành ấm nó cứ khởi tùm lum ra hành động này hành động kia. Chúng ta để ý lại chúng ta sẽ thấy mình không kiểm soát hết toàn bộ cơ thể và hành động của mình là do trong hành ấm còn không kiểm soát được. Nên cái mà thấy được cái tâm mà nó khởi được hành động là cái trí tuệ rất là sâu, chỗ này là chỗ chứng chứng chứng sâu. Rồi có những cái hoạt động mà tự động của sinh lý cơ thể ví dụ như là mạch nhảy nè, tim đập, ngực thở, bộ tiêu hóa co bóp. Những cái đó là nó gọi là tự động.

[1:09:37]Mình muốn không muốn nó vẫn làm. Ví dụ bây giờ mình nói: "Tim, đừng đập nữa nghe." Nó có chịu không? Không, nó vẫn đập như thường. Nhưng mình nín thở được. Nói: "Đừng thở nữa", cái nó nín á. Nhưng nín thở lát chịu hết nổi phải thở vì nó buộc phải thở. Mạch phải nhảy, bao tử mình vẫn đang co bóp, ruột mình vẫn đang đang co bóp để tiêu hóa. Đó là những cái hoạt động thuộc về tự động của sinh lý. Nhưng mà coi vậy chứ không phải tự động hoàn toàn. Không phải tự động hoàn toàn là sao? Là nó vẫn chịu sự chi phối của thần kinh trung ương não. vẫn chịu sự chi phối ở trong chứ không hoàn toàn tự động đâu.

[1:10:19]Nhưng mà vì mình chưa kiểm soát được cái thần kinh trung ương của mình, cho nên thần kinh trung ương tự nó điều khiển cơ thể, tự điều khiển tim đập, mạch nhảy. Có những người như những cái nhà yoga, họ định được, họ khống chế được cái thần kinh trung ương, họ làm tim ngưng đập luôn. Quý thầy đã nghe chuyện đó chưa? Có những người yoga mà họ biểu diễn trước nhiều nhà khoa học, cho chôn họ xuống lòng đất 7 ngày luôn. Không ăn, không uống, không thở, không gì luôn. Các nhà khoa học để những cái máy đo nhịp tim trỏng, khi lấp đất lại rồi nhìn cái đồng hồ thì cái nhịp tim đập yếu dần, yếu dần ngưng luôn.

[1:10:57]Chỉ lâu lâu vậy đó 5, 10 phút nó nhảy chút xíu, cái tim nhảy một chút, 5, 10 phút nhảy một chút. 7 ngày sau moi ổng lên. Vợ ổng lại lấy dầu xoa bóp từ từ ổng tỉnh lại bình thường. Đó là khả năng họ khống chế được cơ thể của họ luôn, cái định của họ họ vào sâu tới thần kinh trung ương, buộc thần kinh trung ương không có phát ra cái tín hiệu để điều khiển tim, điều khiển mạch nữa. Nên cái định nó sâu như vậy. Nghĩa là tuy là những hoạt động thuộc cái sinh lý cơ thể có vẻ tự động nhưng mà nó vẫn có cái tâm điều khiển nó mà vì nó quá tế, quá tế chúng ta không thấy được. Chúng ta cũng phân tích thêm chút xíu

[1:11:39]làm có những hành động là do suy tư kỹ rồi mình mới khởi ra. À khi mình ngồi đây mình cân nhắc lát nữa mình sẽ học môn gì tiếp, mình cân nhắc rồi mình đi học. Hoặc có những hành động do thói quen ví dụ như có người họ lại ví dụ như mình có người bạn bạn gái học chung hồi cấp hai, cấp ba rồi họ đi nước ngoài lâu năm quá không gặp lại tới chừng gặp lại mình thì mình đã là thành thầy tu, nhưng mà họ sống ở nước ngoài họ quen họ chạy lại họ ôm, "Ô, anh Minh Trí", họ lại ôm thì lúc đó mình sao? Mình cũng Lúc đó mình ở cái phong tục tập quán của người Việt Nam Á Đông mà của ông thầy tu nữa thì không cho phép mình để người ta ôm như vậy phải không?

[1:12:24]Mình đành phải cắn răng mà né qua một bên. Mình đau khổ mà né qua một bên vì cái phong tục như vậy. Và đó là cái phản ứng do thói quen không suy nghĩ trước, nó là do thói quen thôi. Ừ. Còn người ta thì thói quen người ta là mừng rỡ gặp nhau là ôm hôn thắm thiết, còn mình là phải né ra cho thắm thiết, không biết. Thì đó là hành động của thói quen. Đó mình nói sơ sơ chứ cái này phân tích ra thì nó còn nhiều, nhưng ở đây chúng ta thấy thế này làm quán tâm mà thấy được tới cái đầu niệm khởi đưa cái hành động là đã rất sâu. Bữa nay bây giờ chúng ta nói qua cái quán tâm mà nó xuất hiện những cái kết quả.

[1:13:06]Là dù chúng ta quán tâm nhưng vẫn không được rời khỏi cái quán thân, vẫn luôn luôn biết toàn thân. Đó là nguyên tắc của tứ niệm xứ. Làm nơi cái biết toàn thân này, chúng ta giữ cho thân mình mềm mại, bất động, ngồi đúng tư thế. Nơi cái biết toàn thân này, chúng ta thấy thân này là vô thường, là hư ảo. Nơi cái biết toàn thân này, chúng ta thấy hơi thở ra, hơi thở vào rõ ràng. Rồi cũng nơi cái biết toàn thân này, chúng ta thấy được tâm những ý niệm nó khởi ra từ nơi cái thân này. Nghĩa là cũng từ nơi cái quán thân mà chúng ta quán thọ, chúng ta quán tâm chứ không bao giờ được rời khỏi quán thân.

[1:13:57]Dù cho sau này mình có được định cũng không được bỏ cái quán thân. Nên có nhiều người vậy khi ngồi thiền cái thanh tịnh quá, chìm, họ chìm vào trong cái định trong đầu tôi cản liền, nói không được chìm vào cái định trong đầu, mà phải luôn luôn giữ cái biết toàn thân cho rõ ràng. Đó là quán thân. Không bao giờ được rời khỏi quán thân. Ở đây nó còn có cái kỹ thuật hay là một cái bí quyết, một cái mánh á là nơi cái quán thân này nó như cái đồng hồ.

[1:14:30]Nó như cái đồng hồ để chúng ta theo dõi được cái tâm của mình, chỉ cần nhìn cái thân thôi mà biết được tâm mình như thế nào. Nên trong cái bài thân hành niệm, chúng ta nhớ Đức Phật nói, "Chỉ cần quán thân thôi, đủ để chứng đạo." Còn cái quán thọ, biết được thọ, biết được tâm, nó là cái hệ quả tự nhiên. Là mình theo tứ niệm xứ thì mình phân tích, còn nếu tu á mà đúng thật sự tu chỉ cần quán thân thôi là biết được tâm mình như thế nào. Đây là cái bí quyết, rất là bí mật. Tôi nói thế này để quý thầy ráng thực hành. Là vì sao vậy? Là vì quý thầy phải thực hành, quý thầy mới hiểu được sâu cái tứ niệm xứ này.

[1:15:18]Sau này lớn lên, quý thầy còn phải đi giảng dạy nhiều. Mà có khi phải giảng lại những bài kinh Nikaya này, có khi cũng phải giảng tới tứ niệm xứ dạy người ta tu. Chính bản thân mình phải thực hành chứ không có thể không thực hành. Như tôi nói về quán thân, quán thọ, quán tâm, mà nếu quý thầy không thực hành, quý thầy không hiểu sâu nó, sau này quý thầy không dạy ai được hết. Mình cũng chỉ giảng là tứ niệm xứ ngoài da càn cạn, cợt cợt như sách như vở, không có chiều sâu, không lợi ích cho ai hết, uổng uổng một đời tu hành của mình. Nên quý thầy phải thực hành, đầu hôm cuối hôm phải ngồi bắt chân kiết già,

[1:15:56]ngồi quán thân, biết rõ toàn thân để đi sâu dần dần vào cái quán thọ, quán tâm. Quý thầy phải thiết tha thực hành, đừng có bỏ. Vì cái tứ niệm xứ này là không phải để học trên lý luận mà chúng ta học để thực hành. Mà để thực hành rồi, sau này mình mới có cái kinh nghiệm, có đạo lực mà giáo hóa chúng sinh, giữ gìn được Phật pháp. Quý thầy phải siêng năng, phải tinh tấn. Ở đây quý thầy mỗi ngày có ngồi thiền không? Có không? Hả? Tạm nghỉ hả? Quý thầy đừng có tạm nghỉ. Cố gắng đi, ít nhiều vẫn phải giữ được một, hai thời, dù là thời gian nó ngắn lại. Chứ đừng có lấy lý do mà mà làm công quả rồi bỏ

[1:16:42]ngồi thiền, nó thành cái thói quen suốt đời. Cho nên có nhiều người tôi thấy vậy, ví dụ họ cũng vào thiền viện họ tu một thời gian, khi ra khỏi thiền viện cái họ không ngồi thiền nữa. Tôi rất là buồn. Vì họ chưa lấy cái công phu thiền định làm sự tu tập suốt đời, họ cạn quá. Phải làm sao trong bất cứ mọi hoàn cảnh, dù mình rời chùa đi, dù mình ở một nơi thâm sơn cùng cốc ở một mình không ai kiểm soát, hoặc là mình về nơi phồn hoa đô hội của phố thị, vẫn không bao giờ bỏ mất một thời thiền nào. Một người tu như vậy suốt đời mới là người tu chân chính. Phải giữ như vậy, đừng vì bất cứ lý do gì mà trong ngày có mình bỏ thời ngồi thiền.

[1:17:26]Phải giữ mà nhất là tứ niệm xứ này quan trọng lắm. Nên tôi nói hết lời, tôi nói gãy lưỡi, nói tới khô miệng, nói tới đắng họng, nói bằng tất cả sự thiết tha của tôi khuyên quý thầy phải ráng ngồi thiền nếu quý thầy còn có thương yêu Phật pháp, tôn kính Phật, còn nghĩ đến chúng sinh thì bản thân mình phải ngồi thiền mỗi ngày, phải thực hành cho nó ra hết những kết quả của tứ niệm xứ mà Phật nói. Chứ đừng có coi thường. Quý thầy hãy cố gắng ngồi thiền lại, siêng năng suốt một đời còn lại. Hứa được không? Ráng, sao nhiều người làm thinh luôn, hỏi cái làm thinh cười cười, nhìn tôi cười xã giao không à?

[1:18:12]Phải ráng, phải thiết tha, phải tinh tấn, khổ cực gì cũng phải ráng ngồi thiền đừng có bỏ. Rồi bắt đầu chúng ta mới quán thân mà nơi cái thân này mình biết được tâm mình. Để ý nha, đây là những điều quan trọng. Đầu tiên khi mình ngồi quán thân, mình nhắm mắt lại hoặc là mình mở mắt, nhưng mà đến giai đoạn mà quen rồi nên nhắm mắt, biết rõ toàn thân mình. Và mình thấy thân này là một khối thịt xương nặng nề. Lúc đó biết tâm mình trên vọng tưởng đầy hết. Hễ mình thấy cái thân mình mà là một khối thịt xương nặng nề thì biết là ở trên ở trên này cái tâm mình đang động đó. Ở đây quý Phật tử lắng nghe, đừng nói chuyện.

[1:18:54]Đoạn này quan trọng. Phải ghi nhớ nha, đừng nói chuyện. Hãy lắng nghe đoạn này. Đây là cái bí quyết á, bí quyết mà dường như rất khó được nghe. Quý thầy quý Phật tử có duyên lắm hôm nay mới là được cưng mà nói cho nghe. Ráng lắng nghe. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói. Bắt chước một chút.

[1:19:23]Là khi mà mình thấy được cái thân mình là một khối thịt xương nặng nề, lúc đó biết ở trên tâm mình đầy vọng tưởng. Rồi đến khi mình ngồi một thời gian mấy tháng, mình cũng biết toàn thân như vậy, bắt đầu mình thấy cái thân mình nó nhẹ. Bắt đầu nó nhẹ, nó không còn là khối thịt xương nặng nề nữa, thì biết rằng ở trên tâm mình đã bắt đầu bớt vọng tưởng rồi. Không cần nhìn cái tâm, chỉ tiếp tục quan sát cái thân thôi. Biết toàn thân, không thèm nhìn cái tâm, không thèm nhìn coi vọng tưởng hay không vọng tưởng, mà chỉ tiếp tục biết toàn thân nhẹ nhàng và tràn đầy. Thấy thân như thế nào thì biết tâm như thế.

[1:19:59]Giai đoạn mà thấy thân nó nhẹ thì biết tâm ở trên nhẹ. Có những lúc ngồi quán thân như vậy, thấy thân mình nó như nó bay bổng, nó lâng lâng bay bổng, là biết ở trên tâm mình đang bị ảo tưởng. Đó phải sửa lại, phải sám hối, phải sửa lại, vì thấy cảm giác thân mình nó muốn bay bổng là nó bị ảo tưởng. Có những lúc mình biết rõ toàn thân, thấy thân mình nó rạn vỡ ra từng mảnh, từng mảnh là biết ở trên tâm mình cũng vậy, nó đang tan vỡ ra, nó đang vỡ vụn ra, nó đang dần dần đi vào trong thanh tịnh. Mình nói với tâm... Đến lúc nào đó mình nhìn xuống thân mình, ngồi thiền biết toàn thân mà thấy thân này như không

[1:20:41]có nữa, thì lúc đó mình đã vào được chánh niệm tỉnh giác, tâm mình đã vào được chánh niệm tỉnh giác. Chưa phải sơ thiền, nhớ nha. Thấy mà thân mình như không còn nữa thì lúc đó mình mới bắt đầu vào được chánh niệm tỉnh giác, trước sơ thiền, chưa tới sơ thiền.

[1:21:04]Và đến khi nào mà mình ngồi mình cũng biết toàn thân như vậy mà thấy toàn thân mình như một khối sữa,

[1:21:12]khối sữa thì lúc đó ở trên đầu mình tâm đã vào được sơ thiền. Đó, chỉ nhìn cái thân thôi mà biết được tâm, không cần quan sát tâm.

[1:21:27]Nên có những phái thiền họ quán thân thôi, mà từ từ họ đắc đạo được hết luôn là vậy, kiểm soát được thọ, kiểm soát được tâm luôn. Nhưng ở đây vì chúng ta học Tứ Niệm Xứ nên chúng ta phải học hết, để biết đầu ngọn ra sao hết, từ gốc tới ngọn hết. Nhưng mà cái cách tu có nhiều khi chỉ cần quán thân thôi mà kiểm soát được toàn bộ tâm của mình. Tôi nhắc lại một chút. Hễ khi mình biết toàn thân mà thấy thân này là một khối xương thịt nặng nề thì ở trên tâm mình vọng tưởng còn nhiều. Mà thấy thân mình đã nhẹ rồi thì ở trên tâm mình đã nhẹ bớt vọng tưởng. Hễ thấy thân mình lâng lâng muốn bay là ở trên tâm mình đang

[1:22:10]bị ảo tưởng, phải điều chỉnh lại, kẻo té nóc nhà cười. Thấy thân mình khi nó vỡ vụn ra từng mảnh, từng mảnh là tâm mình đang chuyển biến, đang chuyển biến. Mà thấy thân mình như không có nữa thì ở trên tâm đã vào được chánh niệm tỉnh giác. Mà hễ thấy thân mình như một khối sữa hay một khối xà bông, khối nước xà bông nước nhớt nhớt á, khối sữa đó, như một khối sữa ngọt ngào mát mẻ mà nhớt nhớt thì ở trên tâm mình vào được sơ thiền. Đó là những cái bí quyết á, bí quyết mà ít khi được nghe. Thôi tới dừng đó thôi. Tới chừng đó mới... Nên nhớ như vậy, tuy là quán tâm nhưng mà không được rời khỏi cái quán thân.

[1:22:57]Có những người dễ nhiếp tâm á, họ không cần biết toàn thân, họ chỉ cần để tâm ở trên đầu, nhiếp được tâm là vào định luôn, nhưng mà cái định đó sẽ không chuẩn, đi không xa. Còn chúng ta đó biết toàn thân thì mình đi vào định nó chậm hơn người ta, nhưng nó vào chắc, chuẩn và tiến xa được luôn, tiến tới nơi tới chốn luôn. Còn mà cái người mà hễ vào ngồi cái là nhiếp tâm trong một cái đầu mình, nhiếp tâm trong câu niệm Phật hay nhiếp tâm trong một cái chỗ nào trên đầu á, thì có khi định được nhưng định nó không có chuẩn, khó tiến xa. Đó, thì người ta kể mình nghe cũng ham vậy, thấy cũng được định thế này, định thế kia,

[1:23:37]nhưng mình đừng có bị động tâm bởi cái lời nói người ta. Mình cứ bình thản đi con đường chậm của mình, biết toàn thân, vậy chứ một ngày nào mình tới là tới rất là xa, đạo quả tiến cao hơn, như vậy. Một điều nữa là khi tâm mình vào định là mình biết tâm vào định, chứ đừng thêm cái gì khác vô trong. Thí ngày hôm trước mình còn vọng tưởng, biết tâm mình còn vọng tưởng. Đến ngày nào đó tâm không còn vọng tưởng, biết tâm mình thanh tịnh không còn vọng tưởng, đừng có thêm nha. Đừng thêm gì? Thêm "À, đây là chân tâm, đây là Phật tính." Đừng có thêm, mấy cái đó là mấy cái thêm tầm bậy vô đó. Mà trong khi Phật dạy là tâm như thế nào biết đúng như thế, đừng thêm.

[1:24:19]Tự nhiên mình thêm: "Chà, đây đúng là chân tâm, Phật tính. Chỗ này mình bằng Phật, bằng Tổ rồi đây, mình là thiền sư rồi đây." Khi mình thêm một loạt câu vô cái nó biến thành kiêu mạn và ảo tưởng, đua đòi, tham vọng. Nên có những người vậy, hay nói là "Tâm này là Phật", chỉ vào trong đây: "Phật ở trong tâm này, Phật không có bên ngoài, không cần lạy Phật. Phật chỉ là tượng cốt xi măng không cần lạy, Phật nơi đây. Ta tức là Phật, Phật tức là ta." Thì tôi dặn là hãy trả lời những người đó như thế này: "Khi nghe một người mà nói là mình bằng Phật thì chúng... tôi không tin rằng người đó có tâm bình đẳng,

[1:25:02]mà tôi nghi ngờ người đó là đua đòi, ảo tưởng và cao vọng. Chừng nào mà người đó thấy mình với con chó ghẻ ngoài đường bằng nhau thì tôi tin người đó có tâm bình đẳng.

[1:25:17]Mình bình đẳng mà đòi bình đẳng với Phật, không chịu bình đẳng với con chó à? Phải không?" Đó là một cái lừa gạt thôi, một cái cao vọng chứ không phải bình đẳng thật sự. Cho nên từ đây về sau vậy, chúng ta nghe mà người nào nói "Tâm này là Phật, mình chính là Phật" thì đừng tin vội. Mà nếu mà có duyên phản bác họ liền, phản biện liền: "Nói chừng nào bạn thấy bạn bằng con chó ghẻ ngoài đường, tôi tin rằng bạn đúng. Còn bạn thấy bạn bằng Phật, coi chừng bạn chỉ là ảo tưởng, cao vọng và đua đòi." Mình chỉnh người ta liền để người ta thoát ra khỏi cái kiêu mạn nguy hiểm đó. Và chính bản thân mình cũng vậy, khi mình ngồi thiền mà

[1:25:56]tâm được thanh tịnh thì đừng có thêm cái gì khác nữa. Đừng có nói "Tâm này là Phật" nữa nha, đừng có nói. Rồi có những trường hợp mà tâm mình xuất hiện cái tự tại, tự tại là khi mình tu một thời gian thanh tịnh rồi, mình đối với mọi việc trên đời mình bình thản, không dính mắc. Chuyện vui buồn tới mình không để tâm được, tức là tâm bắt đầu tự tại. Thì phải nhớ là đừng có thêm, đừng có tự nghĩ rằng à mình đã được giải thoát. Đừng có nghĩ như vậy. Vì mình nghĩ rằng mình đã được giải thoát, cái nghĩ đó là cái thêm á. Mà hễ thêm đó là bắt đầu nó dư, nó sai. Chúng ta nhớ điều này ha. Hôm trước chúng ta nói là khi người tu á thường

[1:26:45]hay đi tìm sự tự tại, mà hay quên cái gì? Tình nghĩa. Nên mình sống vậy, cái người mà họ đi tìm sự tự tại á, họ phớt hết và bỏ hết tất cả để giữ tâm bất động, không dính mắc, họ nghĩ rằng như vậy mau giải thoát. Thì nó cũng mau thiệt, nhưng mà tới lúc nào đó họ đứng lại và lui ra. Còn chúng ta đi tìm một cuộc sống đầy tình nghĩa. Chúng ta sống tử tế, tốt với con người, tràn đầy tình thương yêu con người, chúng ta sống cho có tình nghĩa. Song song với cái tu tập cho tâm mình định, mình sống cho có tình nghĩa với con người, mình sẽ đi chậm hơn người ta, đi chậm, nhưng đến khi mà nó tới là tới luôn tột đỉnh luôn.

[1:27:30]Còn cái người mà chỉ lo đi tìm sự tự tại cho mình thì cũng mau được tự tại, mau được định, nhưng đến mức độ nào đó đứng lại và lui ra lại. Họ đi nhanh hơn mình nhưng mà bị giới hạn. Nên chúng ta luôn luôn đi tìm con đường chậm để đi, con đường chậm mà chắc mà toàn diện. Mà nhờ chính vì nó toàn diện nên nó giúp chúng ta đi tới tột đỉnh luôn. Rồi có những lúc tâm mình nó sáng suốt. Tu một thời gian rồi đến lúc giống như nó hơi chứng, hơi chứng chứ không phải hơi giở chứng, là tự nhiên mình lanh lắm, mình sáng lắm, người ta nhúc nhích cái mình biết người ta là người như thế nào. Người ta nói ra một câu cái mình biết cái sai, cái đúng trong câu nói người ta.

[1:28:14]Người ta hỏi một câu mình đáp lại một trăm câu, nghĩa là trong tâm mình nó tràn đầy cái trí tuệ, sự sáng tạo, sự nhận định, sự phán xét tràn ngập hết. Đó là bắt đầu có trí tuệ, nhưng mà phải hiểu rằng tà kiến chưa hết, mình chỉ được một chút thôi, vì chưa thành Phật vẫn còn tà kiến. Cho nên đây là nói có khi chúng ta hơi chê tiền nhân, nhưng mà phải hiểu điều này đúng như Phật nói: Là những quả thánh mà từ A-na-hàm trở xuống vẫn còn tà kiến, chưa có hết. Chúng ta kính trọng những vị đó thật, hơn mình nhiều lắm, nhưng mà vị đó so với Phật thì vẫn còn thua xa. Thì bản thân mình cũng vậy, ví dụ mình có chứng được cái trí tuệ nào trong

[1:29:00]thiền định vẫn phải tự biết rằng là mình chưa thấy hết vấn đề. Tuy mình có lanh đó, có sáng đó, nhưng chưa thấy hết vấn đề, vẫn phải giữ sự khiêm tốn, đừng bao giờ chủ quan cho mình đã đúng hoàn toàn. Đừng bao giờ chủ quan, mới có thể tiến xa được. Rồi có khi mình tu tập rồi thấy tâm mình nó trải rộng vô tận luôn, trải rộng vô tận. Thì Phật cũng dạy mình biết nó trải rộng vô tận, đừng thêm gì nữa. Mà thường lúc đó mình hay bị thêm cái gì? Khi mình ngồi thiền mình thấy tâm trải rộng vô tận, tự nhiên mình thêm câu: Nói bây giờ mình đã hòa đồng cùng vũ trụ vạn hữu, thêm câu vô đó. Tự nhiên mình mình minh họa thêm câu cái thành vọng tưởng và sai lầm. Vì sao vậy?

[1:29:49]Vì sự thật là dù tâm mình có trải rộng vô tận, ngã chấp vẫn chưa hết.

[1:29:56]Lúc đó mình vẫn chưa thấy được bản ngã mình, ngã chấp vẫn chưa hết. Cho nên chỗ này là chỗ cảnh giác cái người tu, khi ngồi mà tâm trải rộng vô tận, thênh thang khắp đất trời, vẫn phải nhắc mình là bản ngã còn nguyên, cẩn thận như vậy. Đó, đó là những điều mà trong cái quán tâm, cái giai đoạn thứ ba của Tứ Niệm Xứ, chúng ta đi vào tới kết quả. Thì trong kết quả này, chúng ta nhớ là biết nó như thế, đừng có thêm cái quan điểm vào, đừng thêm minh họa vào, mà nhiều khi mình còn phải giữ cho nó, kềm nó lại để cho nó đừng kiêu mạn, tự hào, để cho mình giữ con đường đi chậm lại mà đúng và chắc. Ừ. Rồi trong cái biết về tâm này, chúng ta nhớ một điều nữa là:

[1:30:44]Khi công phu thiền định mà tiến bộ thì vọng tưởng mình bớt đi, đời sống mình đơn giản đi, nhưng cái biết thì nó sắc bén và nó đa dạng ra. Đó là đúng.

[1:31:01]Còn mà khi mà vọng tưởng nó nhiều, đời sống mình phức tạp thì cái biết mình tự nhiên nó bị hạn chế, nó gò bó, biết ít lắm, biết cái gì biết một, hai cái à, chút à. Còn khi mà tâm mình thanh tịnh, vọng tưởng nó lắng, đời sống mình đơn giản, thì cái biết mình nó sắc bén và nó đa dạng, cùng lúc nó biết nhiều cái, giống như vừa biết thân, vừa giữ được tư thế của thân, vừa biết được thân này là hư ảo, vừa biết được hơi thở nơi thân, vừa biết được những tâm niệm của nơi thân này xuất hiện, và đồng thời cái người kia họ nói mình vẫn hiểu được tâm họ luôn. Nghĩa là cái biết nó sắc bén mà nó đa dạng ra từ từ, đó là đúng, đúng.

[1:31:39]Còn khi mà tâm động thì cái biết nó bị giảm, giảm lại, giảm lại. Còn tâm thanh tịnh thì biết nó tăng tăng tăng tăng lên, biết tăng rất nhiều mà tâm không có vọng tưởng.