[0:02]Đúng theo lời thỉnh cầu của Ban Giám hiệu, ngài đã thương tưởng chúng ta trong những năm qua đã dạy dỗ cho khóa III, khóa II Trường Trung cấp Phật học tỉnh Long An thành tựu viên mãn. Và hôm nay, cũng vì thương tưởng Tăng Ni, Phật tử Long An cũng như Thầy hoan hỷ theo lời thỉnh cầu của Ban Giám hiệu, ngài tiếp tục về hướng dẫn cho chúng ta. Một số Tăng Ni đã hiểu Thầy rồi, một số Tăng Ni mới chưa cũng cần nên giới thiệu. Thầy là một vị giáo thọ rất là nổi tiếng ở Bắc, ở Trung, ở Nam và nhất là ngài về Long An thương tưởng Trường Trung cấp Phật học chúng ta. Những tác phẩm của ngài như là: "Nghiệp quả", "Năm ấm", "Thiền quán" và gần đây có xuất bản một quyển
[1:07]Kinh Nhật Tụng Hàng Ngày, ở trong đó có những bài sám địa ngục. Nam Mô A Di Đà Phật. Kính bạch Thượng tọa, đây là những tăng sinh đã tốt nghiệp Sơ cấp Phật học khóa III và hôm nay được chính thức tuyển chọn vào Trung cấp Phật học. Tất cả các huynh đệ ở đây có một số vị đã tốt nghiệp 12 và cũng có một số vị
[1:37]đang chuẩn bị hết trung học, và cũng có một số vị văn hóa cũng không có đồng. Hôm nay, chúng con trân trọng có đôi điều giới thiệu cùng Thượng tọa. Và giờ này cũng thỉnh Thượng tọa từ bi hoan hỷ bắt đầu thời giảng. Và trước khi vào thời giảng, chúng con cung thỉnh Thượng tọa cùng đại chúng niệm Phật cầu gia bị. Nam mô
[2:11]Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[2:24]Nam mô Bổn Sư
[2:35]Thích Ca Mâu Ni Phật.
[2:46]Nam mô
[2:51]Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
[3:04]Mời tất cả an tọa. Cung thỉnh Thượng tọa. Dạ, cám ơn quý Thầy nhiều. À Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nhớ là khi nghe giảng luôn luôn phải ghi chép nha, luôn luôn phải ghi chép, mở vở ra làm việc nghiêm túc. Hôm nay chúng ta có nhân duyên để trao đổi với nhau về Thiền học. Hồi à mấy năm trước, cũng 3-4 năm trước vậy thì à Ban Giám hiệu trường đề nghị tôi hướng dẫn cái môn Thiền quán nên tôi soạn cái giáo trình nó đi thiên về cái sự thực hành. Thì năm nay tự nhiên Ban Giám hiệu đổi ý, kêu tôi hướng dẫn môn Thiền học. Đổi chữ "quán" thành chữ "học", tức là buộc lòng tôi phải đổi giáo trình.
[3:49]Thì cái giáo trình này nó lại có cái tính lý thuyết hơn, nghiên cứu hơn. Tức là một người khi học cái môn Thiền học này ngoài cái việc là phải thực hành, còn phải hiểu biết nhiều những cái kiến thức chung quanh của thiền để mình có cái sức nhận định à biết rằng cái thiền này của phái này, thiền kia phái kia, giờ nó tu vậy đúng hay không, kia trật hay không? So sánh với đạo Phật làm sao, ngoại đạo làm sao? Tức là cái chữ thiền học nó rộng hơn hẳn. Và khi mà điều quý thầy đề nghị học cái môn Thiền học thì chúng tôi nghĩ rằng cái nhìn của Ban Giám hiệu rất là sáng, cho nên để cho trung cấp mà lại học Thiền học chứ không học thiền quán.
[4:33]Tôi cũng thú nhận hồi 4 năm trước khi hướng dẫn thiền quán thì chúng tôi cũng đã không có chu đáo lắm vì lúc đó bận quá. Lúc đó dạy mấy môn và mấy nơi đi nhiều, cho nên chỉ hướng dẫn được năm đầu. Còn mấy năm sau để cho quý thầy tự thực hành, không có bám theo sát. Nhưng a năm nay Ban Giám hiệu giao cho chúng tôi cái môn Thiền học, một môn thì bắt đầu chúng tôi chuyên tâm kèm sát hơn. Và vì chúng tôi chuyên tâm kèm sát hơn, cho nên đó là nỗi đau khổ của quý thầy đó. Cái môn này mà kèm sát là cực đó, không có đơn giản. À tôi cũng nói thêm về cách làm việc của chúng ta. Thường á thì tôi có một cái tật lớn là khi đi dạy học á thì lại bắt
[5:18]làm bài, mà bắt làm bài dài, ai làm bài ngắn không có chấm. Cái môn thiền á thường thì không có làm bài nhưng mà bị lỡ kẹt là Ban Giám hiệu kêu là môn Thiền học. Mà thiền học thì nó có lý luận, có lý luận là phải làm bài trở lại. Đau khổ là cái chỗ đó. Tôi đi dạy đâu cũng vậy, nhiều khi dạy trong trường hạ, quý thầy rất là lớn. Có trường hợp mùa hạ vừa rồi ở Kim Cang là không tại vì quý thầy môn à hướng dẫn thiền thì thôi, mấy quý thầy già quá à thua. Chứ còn ở những trường hạ mà chúng tôi dạy, nhiều vị Tăng Ni lớn tuổi hết, tôi cũng bắt phải làm bài hết, mà bắt phải viết cho dài à. Còn hồi mà mấy năm tôi dạy ở khóa trước trung cấp
[5:58]thì tăng ni sinh mà làm bài mà ngắn là tôi rầy, cho nên sau này tăng ni sinh trả thù tôi. Mỗi lần nộp bài một người nộp một xấp một xấp một xấp, 10 tờ giấy đôi mà giấy đôi giấy to, viết ca-rô to để trả thù thì tôi chấm như khùng luôn. Nhưng mà cũng may mắn là tôi không có khùng là vì tôi có nguyên một nguyên một cái dàn chuyên gia chấm bài ở trên núi á, những đệ tử rất là giỏi cũng có thể chấm rồi tôi duyệt lại. Cũng có cái điều buồn là trong số đệ tử giỏi có một sư cô đã chết vì tai nạn. Ờ nhờ mà tôi ép như vậy để làm chi vậy? Mà tại sao bắt phải làm bài dài? Để cho quý thầy, quý cô tập viết chữ,
[6:38]viết câu văn nè, tập phải viết, phải sáng tác trong đầu mình, cái lý luận ở trong não nó tăng dần tăng dần thì sau này mới có thể thuyết giảng được. Thì cái người mà không có ráng viết thì sau này không nói được, mà mình phải có viết trước, mình chuẩn bị câu văn nó chu đáo, nó trau chuốt, nó cẩn thận về ngôn cú, về ngữ pháp, thì sau này khi mà đứng ra mình ứng khẩu thì cái câu nói của mình nó mạch lạc, nó gãy gọn, nó chắc, nó đúng ngữ pháp. Cho nên vì vậy cái viết rất là quan trọng. Hồi xưa chúng tôi cũng vậy, chúng tôi lúc còn nhỏ mới học đạo, lúc đó không có bị bắt buộc vì lúc đó thường là tôi tự học, tôi không có đi qua trường lớp. Tôi phải tự viết.
[7:18]Tức là sau khi tôi tu, tôi học xong rồi tôi phải lấy sách ra tôi ngồi tôi tự viết những tác phẩm, cứ tự viết hoài, viết xong á chuyền tay mọi người đọc rồi nghe ý kiến lại người ta. Cứ như vậy, nghĩa là nhờ người khác làm thầy chấm bài cho mình, chứ lúc đó tôi không có bị bắt phải viết vì mình không có học. Cho đến khi mà tôi đi dạy thì tôi bắt phải viết như vậy, bắt phải viết phải chấm thì sau này quý thầy mới mở cái vùng ngôn ngữ ra. Với hơn nữa là cái hướng của Ban Giám hiệu ở đây là đào tạo quý tăng ni sinh trong 4 năm này tương đối khá toàn diện về mọi phương diện, cho nên có cả cái môn thuyết giảng ở 2 năm cuối.
[7:57]Vì vậy quý thầy phải chuẩn bị bài viết bây giờ. Bài thứ nhất này thì thôi vì mới gặp nhau lần đầu, sơ ngộ, cho nên tôi tha. Bài này không có làm bài. Nhưng mà bài thứ hai bắt đầu phải viết lách. Do có mình ngồi thiền, tức là khi học cái môn này là phải thực hành mỗi ngày, và khi thực hành mỗi ngày như vậy mình có cái kinh nghiệm, bắt đầu là có cái lý luận từ từ. Thì tôi về đây thì 2 tuần về một lần, mà 1 tuần về không nổi ở xa quá. Ví dụ như hôm nay về đây thì ngày hôm qua đã từ trên núi phải xuống nằm Sài Gòn sẵn rồi sáng sớm chạy về về Thiên Phước rồi trưa qua đây. Rồi chiều tối về lại Sài Gòn rồi qua ngày mai mới về lại núi.
[8:38]Tức là một ngày đi vậy thật ra thành ra ba ngày, do đó mỗi tuần đi không được nên dồn hai tuần một lần. Mà quý thầy Ban Giám hiệu thương tôi mỗi lần tôi đến là dồn luôn nguyên một buổi, cho nên chúng ta sẽ trao đổi phần lý thuyết trước một chút rồi chúng ta sẽ lên chánh điện thực hành ngồi thiền. Thì khi thực hành ngồi thiền như vậy đó chúng ta sẽ có một cái tọa cụ à một cái tọa cụ để lót. Ban Thiền đường à, đếm giùm cái số thầy ở đây giùm thầy nha, rồi mua cúng dường cho mỗi vị một cái tọa cụ như vậy luôn nha, y như vậy, in trên từ từ. Tự nhiên không đâu mới vô cái bị. Thì à những bài đầu chúng ta sẽ đi về lý thuyết
[9:15]trước, nó không có giải thích về kỹ thuật. Một lát lên trên chánh điện á thì chúng ta sẽ học về kỹ thuật ngồi thiền. Học mà không được giải thích là tại sao như vậy, không được giải thích. Bởi vì sao vậy? Bởi vì cái phần lý thuyết mình đi chưa tới. Cho nên chúng ta cứ nghe lời, cứ thực hành kỹ thuật như vậy mà không cần biết, rồi những bài sau nữa sau nữa đó lần lần mình mới biết: "À, tại sao mình phải đi theo kỹ thuật đó?". Nó có những cái lý do như vậy, từ từ chúng ta sẽ biết tới. Giống như là hồi nhỏ, hồi mà học đến lớp 3 thì chúng ta nhớ học cái diện tích của hình chữ nhật là công thức làm sao, nhớ không?
[9:52]Dài nhân với rộng. Ai mà quên thì trả bằng lại nha, trả bằng cấp 1 lại. Mà mình học mà mình không được giải thích, phải không? Cứ biết là ờ diện tích là dài nhân rộng, không được giải thích. Thì tới lớp 12 mới được giải thích tại sao như vậy. Ở đây ai học lớp 12, ai tốt nghiệp 12 rồi, giơ tay lên. Ai là trưởng lớp hà? Trưởng lớp là ai ạ? À, ủa trưởng lớp hả? Sao thấy mặt quen quá, tưởng học khóa trước. Khi mỗi lần như vậy thì tôi để lại một cái bài học ở đây, mấy giáo trình ở đây hết nha, rồi lấy photo ra cho chúng mỗi người một bản. Tốt nghiệp cấp 3 chưa, trưởng lớp? Xong rồi phải không? Tại sao diện tích hình chữ nhật là dài nhân rộng?
[10:33]Trả lời không được trả bằng lại đây. Hả? Có ai trả lời được không? Nói đùa cho vui thôi. Thì lên tới lớp 12 mình học về tích phân. Nhớ tích phân không? Dám quên lắm, quên là cái này là trả thiệt á. Tới hồi học tích phân chúng ta mới biết là xác lập một phương trình rồi mới tìm được cái diện tích lớp 12 là vì lý do như vậy mà tới lớp 12 mới giải thích. Trong khi hồi lớp 3 mình biết công thức rồi, cứ ứng dụng không cần giải thích. Cũng vậy, khi chúng ta học thiền thì nó có những kỹ thuật mà những bài đầu mình không có được giải thích tại sao, cứ ngoan ngoãn làm thôi. Rồi những bài sau dần dần dần dần mình học tới 4 năm mình sẽ biết, biết hết cặn kẽ.
[11:12]Từ cái ngồi tại sao phải ngồi thẳng lưng, tại sao phải ngồi kiết già, tại sao phải đưa lưỡi lên trên, tại sao phải hơi thở như vậy, nó đều có lý do rất chặt chẽ từ thời Đức Phật cho tới bây giờ. Cái kỹ thuật đó không thể sai được, lúc đó chúng ta sẽ được giải thích. Đó là những cái điều chúng ta làm việc. À, còn điều nữa là quý thầy ở đây cũng sắp xếp học Anh văn một tuần 4 tiếng phải không thầy? À, đó. Đây cũng là một cái bước tiến mới của cái trường trung cấp Long An. Là các môn khác có thể là một tuần 2 tiết hoặc là 1 tiết, nhưng mà riêng môn Anh văn thì ban giám hiệu đã dành ưu tiên là một tuần 4 tiết, nghĩa là rất là chú trọng cái môn ngoại ngữ. Để làm chi như vậy?
[11:54]Thì để ngày nào đó, khi mà thế giới đã càng lúc càng giao lưu dễ dàng rộng rãi, thì có khi quý thầy ở đây mà cái người nước ngoài họ đến, họ đến ngôi chùa bất chợt. Nhiều khi mình ở ngôi chùa làng, một cái người nước ngoài đến bất chợt họ ghé thăm, họ nói tiếng Anh mình trả lời được. Hoặc là có khi quý thầy có cái nhân duyên đi ra nước ngoài, mình có cái vốn liếng ngoại ngữ mình sử dụng được. 4 năm đây thì không đủ đâu, nhưng mà làm cái nền tảng để cho quý thầy sau này mình có cơ hội học ngoại ngữ dễ dàng hơn, nhanh hơn, và ngoại ngữ là một điều rất là quan trọng. Cho nên đây cũng là một cái hay.
[12:30]Mà khi chúng ta nghiên cứu môn học không thể thiếu những cái ngoại ngữ hoặc là cổ ngữ. Bây giờ chúng ta định nghĩa cái khái niệm về thiền, cái ý nghĩa từ vựng của thiền trước. Thiền là cái chữ tiếng nước nào? Hả? Thiền là chữ chữ Tàu, nhưng mà sự thực cũng không phải Tàu nữa, xuất phát từ Ấn Độ. Mà ở Ấn Độ nó có hai cổ ngữ, một là Sanskrit, hai là Pali. Sanskrit là người ta gọi là Bắc Phạn, Pali là Nam Phạn. Thì các tông phái thuộc về phương Nam, kinh điển được sử dụng bằng tiếng Pali, còn những cái kinh điển mà thuộc về hệ thống phát triển Đại thừa thì dùng Sanskrit. Cho nên chúng ta học theo Đại thừa á thì chúng ta hay gặp cái từ của Sanskrit.
[13:13]Nhưng mà về sau này, có cái nhân duyên của đất nước Việt Nam là Hòa thượng Thích Minh Châu đi qua Ấn Độ học tiến sĩ mà cái bằng của hòa thượng giống như là cao nhất, được gọi như thủ khoa. Hòa thượng về nước làm hiệu trưởng cái trường Phật học Vạn Hạnh thời đó, thì hòa thượng phát huy cái môn Pali này. Cho nên sau này, cái Phật giáo Việt Nam khi mà đi về cái cổ ngữ của Ấn Độ thì thiên về Pali. Nhưng mà lại là một cái may, lại là một cái may bởi vì hiện nay xu thế trên thế giới đều chọn Pali, chọn cái cổ ngữ Pali của Phật giáo hơn là tiếng Sanskrit. Cho nên ngày hôm nay trên đất nước mình mà mình đi theo cái hệ Pali
[13:51]thì mình hòa theo cái xu thế của thế giới nó rất là tiện. Thì trong tiếng Sanskrit á, cái chữ mà thiền á, dhyāna này người Trung Hoa phiên âm chữ thiền, nhưng mà sự thực Pali nó có một cái chữ tương đương nữa, jhāna. Mình đọc là jhāna, mình đọc đại cho vui vậy nó giống giống rồi khỏi quên. Chứ trong cái tiếng Pali mà cái nào mà có dấu huyền á thì đọc là a, mà không có dấu á thì đọc thành ngắn thành dấu sắc, như ở đây đọc là jhana. À nhưng mà mấy sư Nam tông gặp mình, biết mình cũng ba chớp ba trợn nên mấy sư cũng đọc thường thường là jhana, nói như tiếng Việt Nam. Chứ đọc đúng là jhana, giật cổ lại jha-na,
[14:28]na như vậy không biết sao kỳ mấy, mấy tiếng Ấn Độ nó vậy không biết. Rồi còn mình thì thôi mình quê mùa mình cứ jhāna xong chuyện. Để jhāna này thành ra như thiền na, à. Cho nên khi ngày xưa mà người Trung Hoa họ làm cái này thì họ phiên âm này cũng là thiền na chứ không phải là thiền không. Sau này chữ na nó dư á, họ bỏ bớt một chữ đi. Tuy nhiên là cái ngữ căn jha này đó nó lại liên quan tới tới đốt lửa. À cái ngữ căn jha này ngộ lắm. Cái chữ jhāna là thiền, thiền có định nghĩa là nhiếp tâm là gom tâm lại trong thanh tịnh, nhưng mà chữ jhāpeti này là sự đốt lửa. Jhāyī này là người đốt lửa hay là người tham thiền,
[15:08]à nó đồng cái nghĩa là vừa là người tham thiền và vừa là người đốt lửa. À như vậy như vậy ngày xưa thời Ấn Độ cái hành vi mà tọa thiền với hành vi đốt lửa nó gắn bó, nó gần gũi với nhau. Thì chúng ta đoán ra coi tại sao như vậy? Tại sao mà ngày xưa người Ấn Độ họ đã dùng cái chữ là đốt lửa với tham thiền nó gần gần với nhau? Có ai nghĩ, ai đoán ra được không? Nó có liên quan gì trong thực tế á, có một lý do gì thực tế á nên khiến là họ dùng hai chữ này gần nhau? Ví dụ như thế này, ví dụ như trong cái tạng kinh Ấn Độ, trong cái kinh Ấn Độ nó có một bộ kinh Upanishad. Upanishad á Việt Nam mình dịch là Áo nghĩa thư. Thư là gì?
[15:52]Thư là sách, sơ cấp Phật học chuyện này phải biết rồi. Thư là sách, Áo nghĩa là gì? Là không phải là nghĩa của cái áo, mà là cái nghĩa thâm áo, uyên áo, sâu sắc, mầu nhiệm, bí ảo gì đó, phải không? Tức là cuốn sách mà với cái nghĩa rất là thâm áo. Mình dịch cái cuốn sách Upanishad là một kinh điển cổ của Ấn Độ có từ thời trước Đức Phật. Nhưng mà nguyên cái nghĩa của chữ Upanishad thì chả có áo quần gì hết trơn á. Upanishad có nghĩa là ngồi với nhau. Chữ shad này nó gần giống như tiếng Anh là chữ chữ sit hay là chữ sat. À, ngồi, Upanishad là ngồi với nhau. Như vậy cái kinh mà Upanishad này nghĩa là có những vị
[16:34]giữa thầy và trò ngồi lại gần bên nhau, nói những cái đạo lý thật là thâm áo, bí ẩn, kỳ diệu, vì bộ kinh Upanishad nghĩa lý rất là hay, rất là thâm diệu. Cho nên cái nghĩa này nó liên quan đến hành động thực tế là ngồi với nhau. À, bây giờ trở lại hôm nay cũng vậy, bây giờ giữa cái thiền và sự đốt lửa ngày xưa nó có gì liên quan á. Đâu chúng ta đoán coi nó liên quan gì? Đoán coi đoán, ráng ráng nghĩ coi. Mời thầy. Tuyệt vời! Đó, vỗ tay!
[17:13]Rồi ai nghĩ ra thêm? Đó, nó có thể nó có hai nghĩa. Một cái nghĩa cao siêu là thầy vừa nói, thầy pháp hiệu gì? Minh Lãnh hả? Lãnh tức là cái gì? Lãnh hả? Tên ngộ ha, tên này không có đụng hàng. Tên không có đụng hàng.
[17:33]À cái nghĩa cao siêu thứ nhất là thầy Minh Lãnh vừa nói á là nghĩa là khi mà trời Ấn Độ lạnh lẽo, khi người ta ngồi người ta cảm thấy người nó ấm như có một luồng hỏa, cho nên người ta đã dùng cái chữ là ngồi thiền và đốt lửa như nhau. Hoặc là một cái nghĩa nó cạn hơn, nó tầm thường hơn là mỗi khi người ta ngồi thiền người ta đốt một đống lửa để tránh muỗi. Có thể như vậy, phải không? Nhưng mình đoán thôi, mình đoán chứ mình không biết thật sự người xưa như thế nào, nhưng mà thôi đại khái là vậy. Rồi sau này đó về Trung Hoa người ta mới gán thêm những cái từ phía sau, nghĩa là ghép đôi một bên Tàu, một bên Ấn.
[18:07]Hay là ví dụ như chữ "thiền quán". Thiền thiền định này là của chữ Ấn Độ biết rồi, thêm chữ "quán", quán nghĩa là gì? Quán là chữ Nho, nghĩa là gì? Nghĩa là xem xét, ha, đó. Thành thử thiền quán tức là Ấn với Tàu cộng lại. Hoặc chữ "thiền định", thì định cũng là tiếng Tàu, định an định, định tâm lại, bình lặng lại. Hoặc là chữ "thiền tọa", thiền tọa là gì? Là ngồi thiền, tọa là ngồi, phải không, ghép Ấn với Tàu. "Thiền tông", thiền tông là gì? Tông phái tu thiền, chuyên tu về thiền. "Thiền khách" là gì?
[18:48]Không phải, thì người tu thiền bình thường gọi là thiền giả, thiền sinh. Thiền khách khác với tăng khách. Tăng khách này bất cứ ông thầy nào lơn tơn đi vô chùa mình chơi hoặc là nghỉ lại vài bữa, mình tiếp đãi mình đều gọi là tăng khách. Nhưng mà khi nào mới được gọi là thiền khách? Nè khi nào trong cái chùa đó có ông thiền sư dạy thiền, có tiếng tăm rồi một cái người đó họ vì muốn tham vấn thiền, họ đến chùa đó để họ hỏi về thiền thì gọi là thiền khách. Cho nên thiền khách cái nghĩa nó hơi đặc biệt là người đó đến tham vấn thiền với một vị thiền sư ở một trú xứ khác. Cho nên là từ xa tới gọi là thiền khách.
[19:31]Thiền đường là cái nhà để mà ngồi ngồi thiền, hỏi thiền hay học thiền gì đó. Thiền sư?
[19:41]Thiền sư á nếu mà nghĩa cạn là người dạy thiền, nhưng mà sự thật nó có cái nghĩa thâm sâu hơn là phải có sở đắc gì trong tâm mới được gọi là thiền sư. Chứ còn ví dụ như chúng tôi vậy cũng dạy về thiền, nhưng mà không được gọi là thiền sư là bởi vì sao? Bởi vì trong tâm không có đắc điếc gì hết trơn. Cho nên thôi, cho nên hỏi ông dạy thiền có phải thiền sư không, chỉ là một giáo thọ dạy môn thiền thôi chứ không phải là thiền sư. Thiền sư thì phải ngầu phải rồi cái nọ, không ngầu không được. Tuy nhiên cái ý nghĩa chính của thiền vẫn là cái sự thực hành, phải thực hành nha, đưa tâm trí đến cái chỗ mà an tịnh. Nó gồm ba yếu tố:
[20:22]một là không dấy động vọng tưởng tư tưởng, hai là không dấy động tình cảm, ba là sáng suốt. Nhớ phải ba cái ý nghĩa này. Nói về nội tâm của thiền á là phải đạt được ba ý nghĩa: thứ nhất là không có tư tưởng, thứ hai là không có tình cảm, thứ ba là sáng suốt.
[20:45]Chúng ta nhắc lại ba cái nghĩa chính của việc tu tập thiền trong nội tâm là một là không có dấy động vọng tưởng nè, hai là không dấy động tình cảm, ba là sáng suốt. Cho nên khi chúng ta nghe nói người ngồi thiền tâm an tịnh mà mình tưởng là cái tâm đó nó mờ mịt hư vô là sai, thiếu sự sáng suốt là sai, phải có sự sáng suốt bên trong. Đó là nguyên tắc, đó là tính chất căn bản của thiền không khác được. Còn như chúng ta vẫn liên hệ cái ý nghĩa thiền với cái tư thế ngồi kiết già bất động. Bởi vì sao? Bởi vì từ Đức Phật cho đến các vị thánh nhân đều ngồi kiết già hết. Mà cái điểm này là điểm quan trọng.
[21:27]Có một số người hiểu thiền như là một cái môn mà để cho thư giãn thôi, relax, để chống lại cái stress. Tại vì trong cuộc sống này lúc này người ta áp lực nhiều quá, bị stress căng thẳng quá, cho nên thiền như là một cái môn để relax, làm thư giãn lại. Họ hiểu như vậy cho nên họ không thấy cái ý nghĩa quan trọng của việc phải ngồi kiết già nghiêm chỉnh như thời Đức Phật, nên họ ngồi sao cũng được. Có những người họ hiểu như vậy, nên có người ngồi nghĩa là dựa tường để mà chiêm nghiệm một cái câu công án, có người ngồi ghế dựa chiêm nghiệm một câu công án, thậm chí có người vừa thiền vừa hút thuốc.
[22:04]Không biết sao kỳ không biết? Họ hiểu không hết, bởi vì họ hiểu thiền chỉ là để relax. Ở bên nước ngoài cũng vậy, có nhiều nơi người ta đã đưa cái môn thiền vào trong trường học, những học sinh trung học đều phải ngồi thiền. Nhưng mà họ cũng không hiểu hết cái ý nghĩa quan trọng của thiền nó sâu xa tới mức độ nào, cho nên là họ cũng không có chú ý tư thế kiết già. Trong khi ở trong đạo Phật chúng ta phải chú ý cái tư thế kiết già rất là kỹ. Bởi vì sao? Bởi vì tư thế kiết già nó liên quan rất là chặt tới vấn đề nhập vào trong định. Nếu mà khi tâm chúng ta chuẩn bị vào định mà phát hiện thấy mình không có ngồi kiết già, tâm mình nó không vào định được.
[22:47]Phải ngồi kiết già chứ không được ngồi bán già. Kiết già là làm sao? Hai cái chân tréo lên nhau, còn bán già chỉ là một chân bắt lên thôi, nó rất là lỏng. Cho nên nó có cái sự liên quan đặc biệt chặt chẽ giữa cái thế ngồi kiết già và cái sự nhập định của tâm. Đồng thời cái ý nghĩa lớn thứ hai nữa là cái tư cách, cái oai nghi của một người xuất gia rất là quan trọng. Ngày xưa Đức Phật nhắc cái đó kỹ lắm. Nên thời Đức Phật á, Ngài không bao giờ có một ngón tay, một ngón chân nhúc nhích trật cái tư thế. Là Ngài đứng, Ngài nói hoặc bước tới bước lui không có chỗ nào mà để sai ngón chân. Ví dụ như không bao giờ mà chúng ta thấy Đức Phật mà bước cái chân mà
[23:24]lởm chởm nửa bàn chân ở trong, nửa bàn chân ở ngoài, không bao giờ. Cái oai nghi của một bậc Thánh không có, bước đâu là đứng đâu là chính xác cái vị trí chỗ đó. Ngón tay để đâu, ngón chân để đâu là chính xác ở đó. Cho nên trong việc mà ngồi thiền cũng vậy, ngồi kiết già cái tư thế họ đẹp từng ngón tay một. Chứ ví dụ mà mình nhìn thấy cái người đó ngồi thiền mà thấy không đẹp, biết người đó tâm còn sai. Cho nên phải ngồi cho đẹp, không nói gì hết. Nên nói tới thiền là chúng ta phải hiểu đến cái tư thế ngồi kiết già nghiêm chỉnh, đẹp đẽ như thời Đức Phật và như các vị Thánh khác, hiểu như vậy. Rồi khi mà phát triển rộng hơn, cởi mở hơn thì chúng ta còn có cái môn
[24:04]là thiền hành hay là kinh hành, tức là sau khi ngồi thiền xả thiền ra chúng ta đi, đi tới đi vòng vòng hay đi tới đi lui để cho cái máu huyết lưu thông và tập quen với cái khung cảnh động, vừa đi mà vẫn vừa nhiếp tâm, vừa thực hành thiền nội tâm nhưng mà trong cái tư thế đi. Còn những người nào mà đã thực hành thiền đến cái mức độ thuần thục là bất cứ lúc nào họ cũng kiểm soát tâm được, dù đang làm việc vẫn kiểm soát được tâm, giữ được tâm yên tịnh, ngay cả khi đang nói chuyện họ vẫn giữ được tâm yên tịnh. À đối với những người mà thuần thục đó, khi họ đang nói chuyện họ vẫn đang kiểm soát tâm
[24:42]họ, tâm họ vẫn đang thanh tịnh thì những người như vậy chúng ta gọi rằng họ tu được trong bốn oai nghi: đứng, đi, nằm, ngồi họ đều tu được. Những người đó tương đối là đặc biệt, tốt như vậy. Đó là ý nghĩa từ vựng của thiền. Giờ chúng ta nói về lịch sử của thiền một chút là thiền có từ lúc nào ở trên thế giới này? Chúng ta không có xác định được vì sao? Vì chỉ biết rằng trước thời Đức Phật đã có thiền, trước thời Đức Phật đã có thiền. Nhưng bởi vì chúng ta nghe cái câu chuyện là Đức Phật khi xuất gia, từ bỏ hoàng cung, Ngài đã đến học thiền với hai vị đạo sĩ nổi tiếng thời đó là ngài Alara Kalama và ngài Uddaka
[25:22]Ramaputta, chúng ta hay gọi là Uất Đầu Lam Phất. Thì như vậy trước thời Đức Phật đã có thiền và cái thiền đó bắt nguồn từ xa từ xa nào nữa thì không xác định được. Chỉ biết một điều thế này, chỉ biết một điều là trước Phật khoảng một ngàn năm ở Ấn Độ đã có bộ kinh Veda gồm bốn quyển. Rồi trước Phật hai, ba trăm năm lại có cái bộ kinh Upanishad này. Upanishad này là triển khai kinh Veda này. Tuy nhiên kinh Veda á thì hay nói về nghi lễ, về Thượng đế, triết lý nhân sinh quan, vũ trụ quan; nhưng mà tới Upanishad á thì lại nói về tu tập tâm linh, thiên về thiền nhiều hơn từ Upanishad. Lúc đó trong cái Veda á, trong kinh Veda có hay nói tới Brahman
[26:07]là Phạm thiên giống như là một Thượng đế tạo ra tất cả, còn con người là một cái tiểu ngã, một cái Atman là tiểu ngã. Nhưng mà Upanishad á thì lại nâng cái ý nghĩa của Brahman lên, xem như là một siêu thể của vũ trụ chứ không còn là một Thượng đế có cái hình dáng bình thường nữa. Nên Upanishad là một bước nâng cao của Veda và người tu tập là làm sao làm cho cái Atman của mình thể nhập vào trong Brahman, trong cái siêu thể này. Nên cái thiền đã phát triển được từ trong thời đó. Nghĩa là cái Upanishad là câu chuyện kể lại giữa hai vợ chồng ngồi với nhau, kể lại. Trong đó kể câu chuyện mà ông chồng ông đã tu thế nào,
[26:47]người vợ tu thế nào, câu hỏi ý nghĩa rất là bí ẩn, cũng lý thú lắm nhưng mà lại đi suy cái ý nghĩa này. Và do đó chúng ta biết rằng thiền đã có từ rất lâu vào thời Đức Phật. Mà cái chữ Veda này đó, mình đọc theo tiếng Việt Nam là V, chứ còn người Ấn Độ họ không có âm v mà họ chỉ có cái âm qu, họ đọc là Queda, Queda. Nó lại gần với chữ này, wisdom, wisdom của tiếng Anh. Wisdom tiếng Anh nghĩa là gì? Trí tuệ, đúng rồi, wisdom là trí tuệ. Và như vậy kinh Veda có nghĩa là kinh kinh trí tuệ. Rồi chữ Upanishad là kinh ngồi với nhau, đại khái như vậy. Mà một cái điều lạ đó, vào đồng thời với Đức Phật á bên
[27:30]Trung Hoa có hai vị Thánh là Lão Tử và Khổng Tử. À Khổng Tử thì đi theo con đường của một nhà lễ giáo, xã hội, luân lý. Còn Lão Tử thì đi theo con đường vô vi, siêu nhiên, phóng khoáng và Lão Tử hình như đắc đạo, có đắc về tâm linh. Và cũng đồng thời với Đức Phật đó, bên Hy Lạp lại có một con người này, không biết quý thầy có quý thầy có quen ông này không? Có ai quen ổng không? Có ai gởi thơ ổng không? Ông này ổng làm gì? Thầy quen ổng là ổng khỏe mạnh ha? Ổng làm gì? Dạ, nhà toán học. Mà chúng ta có cái công thức nổi tiếng mà mình phải áp dụng cả đời của mình. Công thức đó nói làm sao? Bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc góc vuông, đó.
[28:13]Vậy được, khỏi có trả bằng ha, thuộc bài đó. Thì ông này là nhà toán học, nhưng mà cái kỳ lạ thế này là ông này ổng có thần thông, ổng có phép, ổng nói về luân hồi, nói về nhân quả, nói về ngồi thiền, cũng đồng thời với Đức Phật. Ông có một đệ tử mà ông rất là ưng ý, Zoses. Thì cái người này đạt được cái định lực rất là sâu mà ông Pythagoras ổng hay khen ngợi, nói là Zoses tâm bất động không bao giờ khởi lên ý nghĩ. Vào thời đồng thời Đức Phật, ngộ ghê lúc đó trên thế giới có nhiều vị Thánh xuất hiện cùng lúc như vậy. Thì trước Phật đã có thiền. Giờ chúng ta trở lại cái đoạn này nó quan trọng nè,
[28:52]tại sao mà Đức Phật đã kế thừa cái thiền đó và Ngài chuyển qua một cái mấu chốt nào, một cái khúc quanh nào mà thành cái thiền của Phật? Thì chúng ta nghe cái câu chuyện dài dòng về thời Đức Phật một chút. Là khi mà Đức Phật chuẩn bị xuất gia thì cái danh tiếng của hai vị đạo sĩ mà đắc đạo cao siêu, có cả thần thông đã vang đến kinh thành Ca Tỳ La Vệ và thôi thúc một vị Thái tử trong đó khát khao đi tìm cái tuyệt đối. Khi mà Ngài bỏ vương thành Ngài ra đi thì Ngài đến đầu sư với ông Alara Kalama trước. Thì ông này ổng chứng được cái định mà được Phật gọi là Vô sở hữu xứ định. Cái định đó rất là cao, có thần thông.
[29:31]Thì chỉ trong vài ngày là Đức Phật ngồi thiền xong chứng bằng ổng luôn. Ông thầy ổng ngạc nhiên tại ổng tu cả mấy chục năm ổng mới đạt được. Thì một ông Thái tử, một nhà vương tử trẻ tuổi, tóc còn đen nhánh mới đến vài ngày chứng bằng ông thầy liền thì ông mới có thiện chí, ông mới mời Thái tử hãy ở lại với ông, cùng ông mà giáo hóa đồ chúng, có mấy ngàn người theo ông như vậy, già có, trẻ có, có Đức Phật là trẻ tuổi nhất. Năm đó là Ngài bao nhiêu tuổi? Mấy? 29, 29 tuổi theo sử như vậy, 29 tuổi ngài mới bắt đầu rời hoàng cung ra đi. Thì Đức Phật mới đem câu hỏi ra hỏi ông thầy mình thế này, nói:
[30:13]"Thưa thầy, cái chỗ chứng ngộ này là còn bản ngã hay không còn bản ngã? Nếu còn bản ngã thì chưa giải thoát, nếu không còn bản ngã thì ai biết mình đã chứng?" Câu hỏi bí hiểm này ông thầy không trả lời được, và ngài ra đi. Thì đến cái ông thầy thứ hai là ông Uất Đầu Lam Phất Ramaputta. Ông này ổng chứng cái định cao hơn là Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Mình chưa cần biết cái định đó nó nghĩa là gì, mai mốt mình sẽ học tới hết, nhưng bây giờ tạm thời mình chưa biết. Cái định rất là cao. Thì cũng trong vài ngày Đức Phật chứng tới luôn, bằng ông thầy luôn. Thì ông Uất Đầu Lam Phất này ổng rất là già,
[30:50]năm đó là ổng đã tám mươi mấy chín mươi mấy tuổi, ổng mới thấy một người đệ tử kiệt xuất chưa từng thấy trong cuộc đời này. Cái định của ổng chứng được là mấy trăm năm qua chưa có người chứng được, cả cuộc đời ổng cực khổ mới chứng được, thì có một thanh niên vương tử tóc còn đen nhánh, vừa mới rời bỏ hoàng cung gia đình chỉ trong vòng vài ngày chứng luôn liền. Ổng mới nói thế này, ổng nói: "Này Si Đạt Ta, nay ta đã già, con hãy ở lại thống lĩnh hết toàn bộ đồ chúng mấy ngàn người này." Ông thầy trước thì còn cùng nhau mà thống lãnh đồ chúng, riêng ông thầy thứ hai là ổng nhường hết luôn, ổng nghỉ luôn, vì ổng thấy Si Đạt Ta quá đặc biệt.
[31:28]Thì Đức Phật cũng chỉ hỏi lại câu đó, chúng ta nghe câu này nha vì đây là mấu chốt, "Thưa thầy, cái chỗ chứng này là còn bản ngã hay không còn bản ngã? Nếu còn bản ngã thì chưa giải thoát, nếu không còn bản ngã thì ai biết mình đã chứng?" Thì ngài Ramaputta cũng không trả lời được, và thế là Đức Phật từ giã vị thầy và mấy ngàn đồ chúng huynh đệ đó ra đi, tự mình tìm câu trả lời. Chúng ta nhớ ngã hay không ngã là cái mấu chốt để là ngoại đạo hay là đạo Phật đó nha. Và Đức Phật sau khi từ bỏ ra đi rồi thì không hiểu nhân duyên gì mà ngài lại không đi tiếp con đường thiền định, ngài lại chuyển sang tu tập khổ hạnh.
[32:09]Thì chúng ta không hiểu lý do lắm, nhưng mà chuyện kể sao thì mình cứ đành phải nghe lại như vậy. Có lẽ rằng ngài nghĩ rằng là vào cái thời đó, chứng được cái mức định đó là cao nhất cái xứ Ấn Độ mà không giải thoát, có lẽ con đường thiền định không đưa đến giải thoát, nên ngài đã chuyển sang khổ hạnh. Khi mà ngài tu tập khổ hạnh á thì có năm anh em Kiều Trần Như tu tập với ngài. Ở đâu mà tự nhiên xuất hiện năm anh em Kiều Trần Như? Năm anh em Kiều Trần Như cũng là hoàng thân quốc thích từ Ca Tỳ La Vệ mà ra đi. Vì lúc đó, Phật khi mà đi như vậy chứ cũng không có đi xa đâu được, mà vua Tịnh Phạn mới cho người luôn luôn theo dõi,
[32:47]cử những cái trinh sát, thám tử về báo lại hết. Mà tại sao vua Tịnh Phạn không đến bắt Đức Phật về, không bắt thái tử về? Là vì hai lý do. Thứ nhất là cái số của Đức Phật là cái số đi tu, cho nên khiến vua cha cứ bị ngần ngại ngần ngại không có ra lệnh mà tìm cách kéo con mình về lại. Cái thứ hai là lúc đó, Đức Phật đã để lại một giọt máu là La Hầu La, cho nên vua Tịnh Phạn nghĩ rằng có La Hầu La là có thể kế thừa vương vị được. Chúng ta đừng nghĩ vua Tịnh Phạn đơn giản nha. Vì sao vậy? Bởi vì trong kinh điển á thì kể về cuộc đời hay là những hành trạng của vua Tịnh Phạn rất là đơn sơ, nhưng trong thực tế vua Tịnh Phạn cực kỳ siêu việt, ông đó giỏi ghê gớm luôn.
[33:33]Mà tại sao chúng ta biết ông giỏi? Bởi vì thế này, vào cái thời đó đó, cái tiểu quốc Sakya nó lệ thuộc với vương quốc Kosala. Kosala này là một đế quốc rộng lớn mênh mông ở phía Bắc Ấn Độ, còn tiểu quốc Sakya của Đức Phật á nằm ở phía Đông, một tiểu quốc nhỏ có cái vương thành là vương thành Ca Tỳ La Vệ. Thì á ở nơi cái đế quốc Kosala này đó, ông vua ổng độc quyền nắm hết tất cả mọi quyền hành, là Quốc vương Mahakosala, sau này truyền ngôi lại cho con là vua Ba Tư Nặc á, Pasenadi, thì nắm hết quyền hành. Nhưng mà đối với những nước chư hầu như là Sakya, còn một vài nước nữa, thì cái Quốc vương Kosala không cho phép
[34:16]các vị vua ở đó nắm độc quyền giống như mình, mà các vị vua đó phải được bầu lên bởi triều đình, bởi các tướng lãnh, các quan lại được bầu lên, và nhiệm kỳ có thể thay đổi. Cho nên là vua Tịnh Phạn á thì ông cực kỳ giỏi nên ổng đã chiếm được sự nể phục hết tất cả triều đình của cái vương thành Ca Tỳ La Vệ đó mà được đưa lên làm ngôi vua. Thì khi mà Thái tử Sĩ Đạt Đa ra, nhìn đứa trẻ xuất sắc như vậy thì ông nghĩ đến một ngày con mình là chẳng những kế thừa vương vị này mà còn có thể mở rộng cái tiểu quốc Sakya ra thành một cái đế quốc ngang với Kosala. Đó là cái ước mơ thầm kín của vua Tịnh Phạn.
[34:57]Nhưng mà chỉ có một cái điều bất ngờ là sau này mới phát hiện ra con mình không hề có tham vọng, mặc dầu là thái tử cực kỳ siêu việt nhưng mà lại không có tham vọng, cho nên ông thất vọng. Thì sau này khi mà La Hầu La cũng xuất gia rồi đó, thì cái vương quyền của Sakya không còn nằm trong dòng họ Gotama nữa, chuyển qua một dòng họ khác hẳn. Chúng ta không biết, không được nghe kinh sử nói tới. Rồi một thời gian ngắn sau đó thì vua Lưu Ly là một đứa con giống như con rơi, con nhỏ của vua Ba Tư Nặc á, cầm quân đem sang tiêu diệt sạch sẽ cái quốc gia Sakya này luôn. Tiêu diệt bình địa, xóa sổ quốc gia Sakya luôn,
[35:35]sáp nhập luôn cái nước đó vô luôn Kosala luôn. Sau đó vua Lưu Ly cũng chết luôn. Chúng ta nhớ như vậy. Thì nói như vậy để biết rằng là vua Tịnh Phạn rất là bản lĩnh, rất là giỏi. Nên khi mà con mình mà đi như vậy thì ổng đâu có làm thinh, đâu có ngồi làm thinh. Cử những thám tử đi theo dõi liền. Nghĩa là mỗi bước chân của thái tử đi đâu thì vua cha Tịnh Phạn đều biết tới đó chứ không phải là không biết. Dù mênh mông mênh mông chứ thám tử cỡ nào đi cũng tới hết. Và đời sống của thái tử tu hành như thế nào đều được báo về triều đình. Thì công nương Yasodhara, tức Da Du Đà La là vợ của thái tử, đều biết rất rõ là chồng mình đang ở đâu,
[36:13]đang sống như thế nào, thực hành như thế nào. Và đó cũng là một người đàn bà cực kỳ chung thủy, đoan chính, tuyệt vời, có thể cũng có một không hai trên thế giới này. Người đàn bà đó như thế này, khi biết mà bà không thể bỏ vương cung để đi theo chồng mình được là bởi vì còn con nhỏ ở đây, cho nên phải ở lại trông con. Nhưng mà nghe tin chồng mình sống như thế nào thì trong hoàng cung bà sống y như vậy, khắc khổ y như vậy. Chỉ có tới lúc mà Đức Phật khổ hạnh thì bà không làm theo nổi thôi, phải giữ sức khỏe để nuôi con thôi. Chứ còn bình thường là nghe nói Đức Phật mặc cái vải xấu nhặt được ở đâu quấn lên người thì bà cũng bỏ tất cả những
[36:53]cái tơ lụa của mình mặc lên người một cái vải xấu. Nghe nói Đức Phật là không mang giày dép, đi giẫm lên cái chân không, bà cũng bỏ tất cả những cái giày dép và bà đi chân không. Nghĩa là bà sống như chồng mình. Nói một người đàn bà thật là tuyệt vời, chung thủy như vậy. Cho đến ngày mà gặp lại chồng mình đã thành Phật rồi lặng lẽ sau đó xuất gia đi theo, đó là một thời gian sau này. Thì khi mà Đức Phật tu hành khổ hạnh thì ngài thực hiện một cái sự khổ hạnh khốc liệt chưa từng thấy. Ngài nhịn ăn, nhịn thở. Trong kinh mà ngài kể lại rất là rõ là: "Khi ta rờ cái bụng thì ta đụng cái xương sống", tức là bụng dẹp nép lại luôn.
[37:29]"Khi ta vuốt cái cánh tay thì lông nó rơi lả tả ra", nghĩa là người ngài năng lực nó mất hết, không còn gì hết trơn. Rồi: "Khi ta nhịn thở thì ta nghe trong đầu nổ lên những tiếng lùng bùng lung tung và đau buốt." Nghĩa là ngài nhịn ăn, nhịn thở đủ cách đày đọa mình cho đến nhiều năm dài như vậy mà ngài thấy tâm linh không hề chuyển biến. Ngài chợt hiểu ra một điều, khổ hạnh không đưa đến giải thoát, không đưa đến. Ngài nói rằng: "Trước ta chưa hề có một ẩn sĩ nào có thể thực hành khổ hạnh khốc liệt như vậy, và bảo đảm sau ta cũng không ai có thể thực hành khổ hạnh khốc liệt như vậy, mà ta không thể giải thoát thì không ai có thể đi con đường khổ hạnh mà giải thoát
[38:06]được, phải thay đổi." Thế là ngài quyết định ngài ăn uống trở lại. Khi ngài ăn uống trở lại thì năm anh em Kiều Trần Như từ bỏ ngài liền. Chúng ta trở lại năm anh em Kiều Trần Như một chút. Thì lúc đó khi vua Tịnh Phạn nghe tin là con mình đi lang thang mà đi tu vậy thì ông xót xa. Thì không có muốn phá vỡ cái chí nguyện tu hành của con mình, thì ông mới lên tiếng ở trong cái hoàng thân quốc thích nói rằng: "Nay Sĩ Đạt Đa đã là một Sa-môn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tuy nhiên là chúng ta không thể để một vương tử của cái thành Ca Tỳ La Vệ này mà sống lang thang một mình, cô độc giữa rừng núi không có người bảo vệ.
[38:44]Cho nên trẫm đề nghị là những ai phát tâm muốn làm Sa-môn trong triều đình này thì trẫm cho phép đi xuất gia và hãy đi theo vừa tu vừa hầu hạ vương tử Sĩ Đạt Đa cho trẫm." Thì lúc đó có năm người đi xuất gia theo liền, là năm anh em Kiều Trần Như. Kiều Trần Như lớn tuổi hơn Đức Phật khoảng hai chục tuổi. Thì năm người đó là rời triều đình đi tới nơi Đức Phật tới xin tu luôn. Và như vậy chúng ta biết rằng là giữa Đức Phật và triều đình có cái mối liên lạc qua lại chứ không phải là hoàn toàn không biết. Nhưng mà không ngăn cản thôi, biết ngài đi tới đâu ở đâu hết, tin tức đi tới lui báo hết. Rồi Đức Phật khi mà ngài chuyển sang ngài ăn uống lại cho khỏe mạnh
[39:26]thì năm người kia quên mất cái nhiệm vụ là phải hầu ngài, chỉ bất mãn thấy ngài giống như lùi lại, không còn tinh tấn nữa. Vì thời đó, ai khổ hạnh được á thì được ca ngợi, ai không khổ hạnh thì nói là người đó hưởng thụ. Đức Phật bị như vậy, năm anh em bỏ đi mất tiêu. Cho nên trong một lúc cực đoan, họ đã bỏ đi. Quên mất cái phát nguyện lúc ban đầu là đi theo vừa tu vừa hầu Đức Phật, họ quên, họ bỏ đi mất tiêu. Còn Đức Phật, ngài đã cô độc, lặng lẽ một mình đi tìm lại con đường của mình, đi trở lại con đường thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền và ngài nhập định 49 ngày dưới cội cây bồ đề, ngài thành tựu được chánh giác.
[40:04]Và trong vấn đề thành tựu được chánh giác đó, ngài đã giải quyết được cái câu hỏi mà ngài hỏi các vị thầy của mình, đó là còn ngã hay không còn ngã? Và câu trả lời của ngài là vô ngã. Câu trả lời mình là vô ngã và vô ngã cũng không có nghĩa là mất hết mà trong đó người ta chứng được thánh trí, sự tịch tịnh, niết bàn, cho nên vô ngã không phải là mất tất cả. Chúng ta nghe nói vô ngã đừng nghĩ là mất tất cả, nhưng nó được thay thế bởi bằng một cái khác, mà cái khác đó không có bản ngã. Cho nên đây là cái điểm mấu chốt khác nhau giữa thiền của ngoại đạo và thiền của đạo Phật là thiền của ngoại đạo theo kinh điển Upanishad
[40:42]là lúc đó tâm người ta tồn tại, người ta thành tựu được cái đại ngã hay thần ngã hay thánh ngã hay chân ngã, nhớ như vậy là coi như đã xong. Nhưng mà không ngờ rằng bản ngã vẫn tồn tại và Đức Phật ngài đã vượt qua được cái điều này, những cái ngã này hết. Dù đại ngã, chân ngã, thần ngã, thánh ngã gì phải vượt qua cho hết để đi tới chỗ hoàn toàn vô ngã. Vì chính cái chỗ mấu chốt khác lạ này và Đức Phật đã mở ra một tôn giáo mới cho thế giới. Đây là điểm mấu chốt quan trọng, chúng ta nhớ điều này cho kỹ, nhớ suốt đời điều này, ghi tâm khắc cốt suốt đời cái điều này, cái mấu chốt khác nhau giữa thiền của ngoại đạo và thiền của đạo Phật.
[41:23]Mình hiểu điều này để suốt đời mình tu không có bị sai lầm. Tại vì nếu mình không hiểu rõ cái độc đáo, cái mục tiêu cứu cánh vô ngã của đạo Phật là dù có khi mình tu tinh tấn, có khi mình tu có kết quả, khi mình có thần thông nhưng mình vẫn lạc vào cái khái niệm bản ngã, thần ngã của ngoại đạo mà mình không hay. Những cái bài sau lần lần chúng ta sẽ đào sâu, nhắc kỹ cái này. Nhưng đây là điểm mấu chốt mà không được quên, chúng ta nhớ điều này. Cái bài thứ nhất này chúng ta không phải làm bài, nhưng mà tới thi học kỳ, cái câu hỏi này sẽ được đem ra hỏi lại: Cái sự khác nhau, cái mốc mấu chốt khác nhau giữa
[41:58]thiền của Phật và thiền của ngoại đạo là gì? Phải trả lời cho được, nhớ không quý vị? Đó là nãy giờ mình nói trước Phật, bây giờ nói sau Phật. Tức là sau Phật, vẫn tiếp tục phát sinh ra nhiều cái phái thiền mới. Chúng ta cứ tưởng là khi mà sự thành tựu vĩ đại của Đức Phật như vậy rồi, là chân lý đã được thỏa mãn, ờ là người ta về sau không còn cần phải đi tìm tòi gì nữa. Ứ mà không hiểu con người sao kỳ khôi, tìm nữa, phát minh nữa, sáng chế nữa, ơ nhưng chỉ có một cái là càng chế thì càng càng thấp dần trở lại. Đây là một điều rất là lạ, càng chế thì càng thấp lại. Tức là cái thời gian này là trước Đức Phật á,
[42:37]thời gian này sau Đức Phật, là Đức Phật đã đạt được đến cái đỉnh điểm của sự chứng ngộ và cái phương pháp ngài đưa ra cũng là một phương pháp tối ưu. Tối ưu là nó hiệu quả nhất, chân chính nhất để đưa tới cái đỉnh điểm này. À nhưng mà ngộ cái là sau Đức Phật rồi, người ta cũng bắt đầu chế tiếp chứ không phải là không, nhưng mà càng chế thì càng thấp, càng chế càng thấp. Là những cái phương pháp thiền về sau này nghe nhiều khi hay, đã tai, nhưng mà nếu mà so sánh lại so với thời Đức Phật thì lại càng lúc càng thấp hơn Đức Phật. Mà thấp chỗ nào thì những cái bài học tới lần lần chúng ta sẽ nói. Mà khi nói những điều đó thì mít lòng.
[43:12]Đúng là chúng ta sẽ bị đụng chạm, mít lòng. Nhiều khi chúng ta đụng chạm tới cả những cái vị thầy thời nay đang còn tồn tại nữa. Nhưng mà mình hiểu ngầm thôi, mình nói thẳng tên ra kỳ. Để chúng ta thấy rằng đúng là không ai qua được Đức Phật, không ai qua được. Nên cái hay nhất của chúng ta ngày hôm nay mà chúng ta nghiên cứu á, chúng ta thực hành về thiền á, là chúng ta cố gắng đi trở lại trung thành với Đức Phật vào cái đỉnh điểm. Nhiều khi cái ngôn từ nó đơn sơ, mộc mạc cách đây của 2.500 năm, nhưng mà ẩn chứa trong đó cái chân lý tối thượng. Còn về sau này, chúng ta sẽ nghe những cái danh từ nó kêu,
[43:47]nó cao siêu, dễ sợ, nhưng mà không ngờ là nó thấp dần, thấp dần lại, mà nhiều khi bằng với ngoại đạo. Rất là lạ, nghĩa là sau Phật vẫn tiếp tục phát triển. Thì trong cái việc mà có những cái thiền phái tiếp tục phát triển sau Phật á, thì chúng ta bắt gặp trước hết là đạo Ấn Độ. Đạo Ấn Độ là khi mà vào thời Đức Phật, cái uy thính của Đức Phật lớn quá, cho nên họ bị yếu thế, yếu thế nhưng mà rồi cái sau đó họ mượn cái tư tưởng của đạo Phật, họ hoàn thiện chính họ và họ xuất hiện một cái lối thực hành là yoga. Và cái yoga này mượn rất nhiều tư tưởng của đạo Phật mà họ làm thành một hệ thống chặt chẽ.
[44:26]Trong đó yoga nó có nhiều cái tính cách về luân lý, về triết lý, về rèn luyện thân thể, về thiền định. Ví dụ như chúng ta có cái môn là Bhakti yoga là yoga tình thương. Tức là người mà thực hành cái yoga này đó là ngồi quán từ bi y như quán từ bi đạo Phật. Hoặc là chúng ta có cái môn là Karma yoga là người mà thực hành cái yoga này đó, chuyên môn làm phước, làm việc từ thiện, à y như bên mình mà mình tạo công đức. Hoặc là chúng ta có cái môn là Hatha yoga tức là chuyên rèn luyện thân thể. Mà chúng ta thấy mấy người mà trồng cây chuối, lộn đầu, bẻ tay, lòn chân rồi đó, thấy chưa? Vắt chân lên cổ đồ, chúi đầu làm đủ thứ hình thù kỳ dị là cái Hatha yoga
[45:11]này, họ rèn luyện cơ thể để mong rằng cũng đạt được tới giác ngộ. Nhưng mà cao hơn hết thì họ có cái này: Raja yoga tức là định, ngồi thiền. Cái này thì họ coi là cao nhất. Nhưng khi mà họ phối hợp hết toàn bộ cái này thì họ hoàn chỉnh như là đạo Phật, mà nhiều khi hơn mình luôn, tại mình không bao giờ mà làm hết tất cả cái này. Mình tu mình tu lơi khơi chút xíu. Thì những cái này đó họ gom lại hết những cái tư tưởng, họ làm thành cái đạo mới, người ta gọi là cái đạo Ấn Độ, Hinduism, là đạo Ấn Độ, Ấn Độ giáo á. Mà sau này họ càng lúc họ càng kết hợp với những cái này, họ có những hệ thống lý luận cũng rất là dữ dội.
[45:47]Và ngày nay cái đoàn truyền giáo của cái Raja yoga này đi khắp thế giới, ở Việt Nam mình cũng về tới luôn. Nó cũng cạnh tranh với đạo Phật dữ lắm chứ không phải không. Tuy nhiên là đất nước của mình thì cái bề dày của đạo Phật mạnh quá nên họ khó chen vào, nhưng mà họ cũng có được một số thân hữu đi theo họ trao đổi rồi cho vui như vậy. Rồi ví dụ như chúng ta thấy sự phát triển thêm của hệ thống Phật giáo Đại thừa cũng là những cái điều phát sinh mới sau Phật, như môn Duy Thức học cũng là môn phân tích tâm lý và nghiệp mà để mong rằng qua đó tìm được cái sự chứng ngộ tâm linh, cũng là một cái sự phát triển về sau.
[46:29]Hoặc là bên Mật tông xuất hiện, rồi sau đó đi về phía Tây Tạng, thì những vị đó sử dụng nhiều cái câu thần chú, những cái mandala, những cái hình thù, và nghĩ rằng đi tìm sự tương ứng với thần thánh, đi tìm sự tương ứng với thần thánh, với các vị Phật, và không còn tôn thờ Phật Thích Ca là quan trọng nữa, mà họ thờ Tỳ Lô Giá Na, à hoặc là một cái giáo chủ mới làm phát sinh tông Tây Tạng là Đức Liên Hoa Sanh, Padmasambhava, ừ như vậy, cũng là một cái phát sinh sau này. Mà có đôi lúc họ coi thờ kể cả cái đầu lâu con người nữa. Ở bên Tây Tạng bởi vì cái Mật tông nó hơi kỳ, nó hơi hơi xa đạo Phật.
[47:08]Mà bên Mật tông Tây Tạng á, nếu mà mình ở Việt Nam mình thấy vậy á, chứ nếu mà quý thầy bước qua bên Ấn Độ chút xíu, mình đi vào trong cái khu dành riêng cho cái người Tây Tạng họ tự trị nè, Orissa, trong cái khu đó mình đi vào các đền đài, mình té ngửa liền. Mình thấy họ thờ đạo Phật kiểu đó mình té ngửa liền, không thể nào mình tưởng tượng là có một cái đạo Phật kỳ cục như vậy. Là sao? Nghĩa là bất cứ hình Phật nào đều có một người phụ nữ ngồi ôm trong lòng hết. Không thể tưởng tượng. Nên người Việt Nam mình qua bị sốc liền, bởi vì sao mình ngồi mình thờ Đức Phật nghiêm chỉnh, còn cái bàn thờ nào cũng thờ kiểu đó. Hỏi: "Ủa sao vậy?" Nói:
[47:43]"À thờ vậy là tượng trưng cho âm dương là duy nhất, âm dương duy nhất." Thiếu gì biểu tượng mà chơi biểu tượng một cái nó không hề nghiêm trang. Như tôi có đứa em, em gái qua bên Nepal, nó ở với chồng nó bên đó, chồng nó làm việc bển, thì ông chồng lại theo Tây Tạng, theo cái đạo đó, thờ kiểu đó, nó không bao giờ nó bước vô cái bàn thờ nó lạy Phật được. Nó tức quá cho tới cái ngày tự nhiên bàn thờ bốc cháy luôn. Không biết sao cũng linh thì đốt cháy tiêu cái bàn thờ. Thế là nó thờ lại theo Việt Nam, bắt đầu nó vô lạy Phật được. Thấy nó thật kỳ khôi á, không biết sao kỳ. Nên có những cái vậy. Rồi qua bên Trung Hoa á, có một cái ngài Thiên Thai Trí Khải,
[48:17]nhờ có những cái tâm chứng gì của mình, ngài mở ra một cái dòng thiền là thiền Thiên Thai, làm cái hệ thống tu thiền là: Tức, Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh, cũng nổi danh nhiều thế kỷ, cũng đem lại hiệu quả tu hành cho rất là nhiều người. Rồi cuối cùng là Thiền tông với vô số những huyền thoại và các thiền sư đắc đạo, có như một thời gian dài là chiếm ưu thế hẳn luôn từ cái Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Nhưng mà Triều Tiên có cái tức cười nhất, Triều Tiên tức là Hàn Quốc á, Korea đó, quý thầy biết không? Biết Hàn Quốc không? Biết chứ ha, như Samsung đồ của Hàn Quốc ha. Thì Hàn Quốc giống như Việt Nam mình, cũng là một đất nước mà Phật giáo Đại thừa.
[48:57]Nhưng mà không biết tu sao không biết, mấy thầy mình bên đó làm gì không biết. Chỉ biết rằng cách đây 30 năm á thì 85% dân theo đạo Phật. Sau 30 năm ngày hôm nay thì 70% dân theo đạo Tin Lành. Người ta bỏ đạo Phật hết trơn. Trách nhiệm đó thuộc về ai? Thuộc về ai? Mấy người trọc đầu. Tu kiểu gì, làm việc kiểu gì không biết, mất hết tín đồ. Mà nguy cơ đó vẫn đang tiếp tục lan truyền qua tới Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản. Bởi vì bên Tin Lành họ có cái phương pháp gì đó. Họ thấy thành công ở Hàn Quốc họ đang áp dụng tại Việt Nam. Việt Nam đang mất tín đồ từ từ qua. Nếu quý thầy mình không có một cuộc cải cách triệt để
[49:35]trong việc tu và truyền bá đạo Phật thì sau này Việt Nam cũng vậy. Cũng vậy, tức là người ta theo Tin Lành hết. Tại vì sao? Vì cái đạo Phật của Việt Nam và Hàn Quốc rất giống nhau, cũng đều là Phật giáo Đại thừa. Rồi mất hết, chịu không nổi sức tấn công của Tin Lành. Mà có những kỹ thuật biệt của họ. Cái kỹ thuật nó như thế này, nói ra quý thầy có bắt chước được không? Họ gặp người nghèo, họ giúp đỡ với điều kiện theo đạo. Rồi theo không? Nghèo quá, bí rách giáp, quý thầy đâu có ai cho. Gặp quý thầy vô chùa hỏi quý thầy, quý thầy nói: "Con coi cái gì cũng như không đi con, rồi bình an thôi đi về." Bụng đói meo mà coi cái gì như không?
[50:07]Than đói, cho liền mấy triệu, đem thánh giá về nhà thờ liền, thực tế. Rồi còn những cái người mà sinh viên nghèo, học giỏi họ cho tiền đi học suốt 4 năm học. Ra trường làm việc xong, sau khi lãnh lương từ đây về sau phải nộp 10% tiền lương đó, mà họ lấy 10% tiền lương đó họ đi họ dụ người khác tiếp. Cho nên tín đồ càng lúc càng bành trướng, bành trướng ra. Vì có người trước nuôi người sau, người trước nuôi người sau. Còn vô quý thầy mình, quý thầy mình nói: "Con coi cuộc đời cái gì cũng như không đi con," xong ngay. Bỏ quý thầy, rồi coi quý thầy như không có luôn. Cho nên phải cải cách lại điều này.
[50:42]Tôi nhắc một chút xíu, mai mốt mình nói thêm vụ này. Những cái phái thiền về sau này chúng ta thấy vẫn thuộc về đạo Phật, nhưng mà cái đường lối tu hành bên trong đó có khi khác với cái đạo Phật từ thuở ban đầu của Đức Phật. Thậm chí có những cái phái thiền mà kích bác lại Đức Phật. Có những phái thiền họ vẫn nói họ là đạo Phật, nhưng mà chống sạch sẽ kinh điển của đạo Phật luôn. Kỳ lạ như vậy, kỳ lạ. Chúng tôi không muốn nói tên, rồi sau này quý thầy sẽ biết. Họ chống luôn đạo Phật luôn, mặc dù họ vẫn nói họ là đạo Phật. Không biết sao kỳ vậy. Bây giờ chúng ta nói thiền và thế giới hiện nay. Hiện nay á, thiền đang được nghiên cứu khắp nơi
[51:19]trên thế giới như một môn vệ sinh tinh thần. Cái xu thế nay tất cả các quốc gia trên thế giới họ đều đổ xô họ nghiên cứu thiền hết trơn. Lạ lùng như vậy. Mà càng văn minh chừng nào họ càng thích thiền chừng đó. Như hồi nãy chúng ta nói là một môn mà giải tỏa sự căng thẳng của tâm trí, họ xem là một môn vệ sinh thần kinh. Mình dùng cái chữ thư giãn, tức là cái nghĩa nó hơi nhẹ, chứ chính họ là một môn vệ sinh thần kinh. Thì có một số người thì hiểu thiền nó sẽ đưa đến những cái khai mở về cái năng lực tâm linh, nên họ bí mật họ nghiên cứu ở trong những phòng thí nghiệm không biết. Nhưng mà riêng đối với việc mà phổ biến đại trà,
[51:56]có khi đưa luôn vào trường học thì họ xem thiền như một môn vệ sinh thần kinh, giải tỏa sự căng thẳng của đầu óc, làm cho con người quân bình tâm lý, sinh lý lại. Và nhiều nước đã mạnh dạn đưa vào trong trường học. Như một số nước Tây Âu, ngay cả như Hy Lạp cũng đưa thiền vào trong trường học. Một số bang của Mỹ đưa thiền vào trong trường học luôn. Như có một cái bang đó tôi quên cái tên, Madison hay Wisconsin. À thì nhà trường mới đưa cái môn thiền dạy trong trường học thì phụ huynh của các học sinh mới kiện lên tòa án là ban giám hiệu làm bậy. Trong khi chúng tôi ở đây là Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo, Tin Lành, mà tại sao trong trường lại đưa cái môn đạo Phật vô?
[52:32]Thì bắt đầu nó thành ra một cái vụ kiện. Mà vụ kiện thì phải có bên nguyên, bên bị, bên công tố và bên luật sư. Thì bên ban giám hiệu trường họ cũng thuê luật sư cãi lại. Thì không biết ông luật sư đó ổng cãi như thế nào, không biết. Cuối cùng, tòa tuyên án là ban giám hiệu thắng kiện, là nhà trường tiếp tục được quyền dạy thiền trong trường học, và dạy là một môn chính khóa chứ không được coi là một môn phụ nha. Nghĩa là môn thiền đó được coi như môn toán, môn văn luôn vậy đó. Như vậy, dễ sợ. Nghĩa là nhiều nước trên thế giới ngày nay họ đã có xu thế nghiêng về thiền, đưa vào trong trường học.
[53:06]Như vừa rồi tôi gặp một cái bác đó, bác thì cũng là một cán bộ, bác đi qua bên Mỹ chơi. Bác về bác than, bác nói: "Trời, Mỹ chịu không nổi. Sau lưng Tòa Bạch Ốc có nguyên cái vườn nó để cái bảng là Vườn Thiền. Cho người ta vô đó ngồi thiền, chiều tối rồi đi ra, chuyên để dành thiền, ngay sau lưng Tòa Bạch Ốc của Tổng thống Mỹ." Mà bác là cán bộ. Nghĩa là trên thế giới hiện nay về cái xu thế đi về đạo Phật của những người trí thức rất là mạnh. Nghĩa là trong khi đạo Tin Lành, Thiên Chúa tràn về phía Á Châu để tìm tín đồ thì tại ngay cái quê hương của họ là Mỹ và Âu Châu thì những người trí thức đó lần lần bỏ đạo của họ, rồi họ chuyển sang đạo Phật.
[53:43]Hiện nay cái số người Mỹ mà theo đạo Phật lên tới khoảng 20 triệu người. 20 triệu người, con số rất là lớn. Mà nếu cứ cái đà này thì lần lần họ qua đạo Phật dần dần, bởi vì cái triết lý đạo Phật thỏa mãn được cái tri thức của họ. Nhưng mà tại nước mình thì mình không biết, nhiều người không biết, cứ bị dụ cái theo mấy đạo kia. Nhưng mà chúng ta biết cái xu thế của hiện nay trên thế giới là vậy. Như Ấn Độ thì họ đem thiền vào trong trại giam để cải tạo tâm lý của phạm nhân. Vì sao vậy? Thì thấy ví dụ khi mà họ thống kê họ thấy cái người phạm nhân bị giam ở chung với nhau toàn là người xấu không, cứ kể chuyện ba chuyện tào lao bậy bạ.
[54:18]Ngồi đâu biết làm gì, thì một cái tay tội phạm này mới kể lại cái thành tích của mình á, ngày xưa tao giết đứa đó làm sao, tao lừa gạt, tao trộm cắp làm sao. Đứa kia kể lại là tao đã đâm thằng như thế nào, tao oánh làm sao, nghĩa là toàn kể chuyện ác cho nhau, cái cả mấy năm trời ở trong tù là toàn nghe ba chuyện đó không. Tới chừng ra tù làm cái gì? Ác hơn, dữ hơn, thủ đoạn hơn, nhà nước khó đối phó hơn. Cho nên có một cái bà đó, bà giám đốc của trại tù bà quyết định đưa thiền vào trong, bắt phạm nhân ngồi thiền hết. Thì mới ban đầu họ khó chịu, họ ngồi không được, nhưng dần dần cái tâm họ thanh tịnh.
[54:49]Bỗng nhiên cái ác độc, cái oán thù buông dần dần, buông dần dần ra thì họ ra khỏi tù, họ trở thành con người tốt. Cái số người mà tái phạm ít, nên rất là thành công, là bên Ấn Độ, bên Ấn Độ. Họ làm một cái cuốn phim về cái bộ phim mà thiền ở trong trại giam rất là tốt. Hiện nay nhà nước của mình cũng đang có khuynh hướng là đưa thiền vào trong các trại cai nghiện, là những cái người mà cai nghiện, nhà nước đang khuyến khích để thiền. Nhưng mà bởi vì những cái người mà họ dạy thiền họ chưa có một giáo trình chuẩn, mạnh ai nấy dạy, cho nên không có một cái phương pháp chuẩn để dạy cho phạm nhân, cho người cai nghiện.
[55:24]Nên chúng tôi hi vọng là trong cái khóa này, khi mà hướng dẫn thiền ở Long An, chúng tôi đưa ra một cái giáo trình tương đối chuẩn. Tương đối chuẩn thì sao? Nó chuẩn thứ nhất là trên giáo nghĩa của đạo Phật, Tứ Niệm Xứ thời nguyên thủy. Cái thứ hai là khi đem đối chiếu với những kiến thức về y lý, về khoa học, về luân lý, phù hợp hết. Nghĩa là một người dù ở ngoài đạo Phật vẫn phải chấp nhận cái lối thiền này bởi vì cái sự hợp lý của nó, chứ không có đi theo cái khuynh hướng tông phái. Cho nên là chúng ta nhớ, chúng ta ngồi học thiền ở đây không đi theo tông phái. Có thể chúng ta xuất thân từ Tịnh Độ Tông, chúng ta xuất thân từ Thiền Tông hay Mật
[56:01]Tông, nhưng mà khi chúng ta đến trường học chúng ta bỏ tông phái hết qua một bên. Chúng ta học lại cái thiền gốc, thiền chuẩn nhất để ứng dụng. Rồi chừng nào mình trở về với thầy tổ mình thì mình muốn pha thêm, nghiên cứu thêm thì tùy. Nhưng mà ở trường thì phải học cái chuẩn nhất của thiền, chứ không có đi theo tông phái. Bởi vì tông phái nó đã có cái tư kiến, có cái thiên vị, mà cái tông nào cũng nói mình giỏi nhất, đó là cái bệnh chung. Hễ mà nói gặp Tịnh Độ thì Tịnh Độ nói Tịnh Độ nhất, gặp Thiền thì Thiền nói Thiền nhất, gặp Mật Mật nói Mật nhất. Mình tới đây không ai nhất hết, mình trở lại cái thấp nhất.
[56:35]Mình ở đây là thấp nhất. Nơi khác ai cũng nói cao nhất, nhưng lại đây tới trường học cái thấp nhất, căn bản nhất. Thì song song với cái việc mà phát triển thiền của Phật giáo, chúng ta thấy bên Trung Hoa họ cũng phát triển cái khí công của họ. Thì họ xem cái khí công của họ là một cái đặc sản, một cái sản phẩm, một cái thành tích, một cái khoa học đặc biệt của người Trung Quốc, nên họ đang phát triển và đi dạy khắp nơi. Mà họ biểu diễn cho người ta coi những cái thành tích cũng đặc biệt đi khắp thế giới. Những nhà sư Thiếu Lâm họ đi vân du khắp thế giới để họ biểu diễn và họ bán vé lấy tiền. Có một lần họ về Việt Nam, vào cái rạp Hòa Bình để họ biểu
[57:11]diễn khí công thì tôi cũng có lén tôi đi vô mua vé coi. Thì tôi lén tôi đi tôi không cho ai biết, mà không ngờ là mấy cái người mà họ quay trên đài truyền hình á, họ quay đã rồi họ quay xuống khán giả cái thấy có cái ông sư đang ngồi nhổm nhổm lên coi, quay ngay cái mặt mình chiếu lên trên truyền hình. Mấy Phật tử họ bốc điện thoại gọi nhau: "Ê, có thầy mình ngồi đi coi nè." Hết trốn! Nhưng có điều là cái đoàn mà họ qua Việt Nam á thì họ không có đặc sắc lắm. Ở bên Mỹ thì có những cái pha đặc sắc hơn. Nhưng mà cái đoàn Việt Nam mình cũng biểu diễn khí công luôn. Ồ, Việt Nam mình cũng có khí công.
[57:41]Nhưng mà những cái người giỏi thật sự đó nó không có nằm trong cái đoàn đi. Ví dụ như là có những cái vị thầy khí công của Trung Hoa họ sang Mỹ họ dạy khí công á, thì ai tới họ cũng dạy hết, nhưng mà riêng cái kỹ năng đặc biệt, bí mật nhất thì ổng giấu. Ví dụ như là ổng biểu diễn thế này: ở đằng xa cách đó chừng 10 thước, người ta thả bong bóng bay lên, ổng phất tay một cái là bong bóng này kia bể bụp liền. Thì cái đó không bao giờ ai học được hết, họ vẫn giấu lại cho họ. Đó là phách không chưởng á, cách đoạn không mà đánh được đối thủ, không cần chạm người, mà chưởng lực, kình lực phóng tới đánh người ta thì giấu.
[58:14]Ngày nay họ vẫn làm được nha, ngày nay Trung Hoa vẫn làm được mà vẫn giấu, chỉ người Trung Hoa họ truyền với nhau trong cái thân thiết lắm, còn bên ngoài họ vẫn chỉ mình hít, thở thế này thế kia làm đã đời không có gì hết trơn. Mình cũng chỉ khỏe thêm chút đỉnh thôi, không biết cái gì hết. À chúng ta cũng sẽ học khí công, bởi vì khí công nó hỗ trợ cho thiền, nhớ như vậy. Nghĩa là thiền của đạo Phật nè, khí công Trung Hoa nè, yoga Ấn Độ giáo cũng đang cạnh tranh phổ biến với nhau. Và chúng ta có thể nói như thế này, là trong thế kỷ 21 này chúng ta sẽ chứng kiến cái sự phát triển ồ ạt của cái vấn đề tu tập tâm linh ngày hôm nay.
[58:48]Nhiều nhà họ cũng tiên đoán như vậy, mà chúng ta cũng đã tiên đoán như vậy. Thì khi mà cả thế giới họ đang cạnh tranh nhau để mà khai thác về tâm linh á thì quốc gia nào mà đi chậm thì quốc gia đó sẽ lạc hậu và thua liền. Chúng ta đã thua thế giới về kỹ thuật thì coi chừng chúng ta sẽ tiếp tục thua thế giới về tâm linh. Nếu mà cả nước chúng ta không có áp dụng thiền, nhân quả vào trong nhà trường thì chúng ta sẽ tới 20 năm sau mình sẽ là một quốc gia nhược tiểu tiếp tục. Nghĩa là trên thế giới người ta ở đâu ai cũng biết thiền, ai cũng có năng lực tâm linh, người Việt Nam mình không có bằng người ta, phải làm nô lệ cho người ta thôi, nếu mình đi chậm.
[59:23]Nếu nhà không nhanh chóng áp dụng thiền và nhân quả vào trong học đường thì mình tiếp tục thua thế giới nữa, tiếp tục thua. Bây giờ nói thiền và Phật giáo Việt Nam. Ở Việt Nam mình á, sau nhiều thế kỷ loạn lạc, chiến tranh thì đạo Phật mình suy tàn, nhất là vào thời Pháp thuộc thì Pháp họ có ý là xóa dần đạo Phật và những cái đình, chùa lẻ tẻ... Và vô hiệu hóa đạo Phật để cho đạo Thiên Chúa với cái sự mà tổ chức chặt chẽ của họ phát triển ồ ạt, cho nên là đạo Phật không phát triển. Đạo Phật không phát triển đã đành rồi, thì chúng ta thấy trong cái thời gian loạn lạc đó đâu có ai mà yên tĩnh để được ngồi tu.
[1:00:00]Ví dụ như 1.000 người á thì vài người, chừng năm ba người may mắn được cái hoàn cảnh yên tĩnh để tu. Mà trong 1.000 người yên tĩnh để tu thì chừng năm ba người có thể là tương đối có chứng đắc gì một chút thôi. Cho nên thời đó thiền sư dường như vắng bóng, thiền dường như không nói tới. Và để giữ được đạo Phật chỉ còn có Tịnh độ là ta còn tụng kinh, còn lạy Phật, niệm Phật là để giữ đạo Phật vậy thôi. Còn mà ngồi mà nhiếp tâm chuyên sâu thì không còn nữa, cho nên thiền mất. Khoảng 30 năm nay thiền tương đối có sự phục hồi khi mà đất nước chúng ta bắt đầu yên bình, hết chiến tranh. Chính nhờ cái hết chiến tranh mà chúng ta
[1:00:40]không có bị bom đạn, không bị giặc giã, loạn lạc, đầu thiền được phục hồi. Tuy nhiên trong cái thiền của Phật giáo Việt Nam mình thế này là mình ngày nay do cái sự giao lưu thế giới rộng rãi mà khi thế giới họ đến với đạo Phật, họ đến với thiền, họ đến với sự thực tập. Nên vì vậy, trong cái trào lưu cả thế giới tiến như thế thì Việt Nam mình cũng bắt đầu hòa nhập vào đó, đi thiên vị về thiền chứ không còn đi về nghi thức nữa, nhớ như vậy. Như quý thầy mà lên trên học viện học là phải có môn thiền bắt buộc. Bởi vì sao? Bởi vì học viện là bộ mặt của Phật giáo Việt Nam đối với thế giới. Thế giới người ta biết thiền, đạo Phật là phải thiền, nên học viện cũng phải thiền.
[1:01:19]Nhưng mà thiền hơi còn ít lắm, ít chưa nhiều. Mà hôm nay Ban Giám hiệu trường Trung cấp Long An mạnh dạn đưa thiền vào trong trường trung cấp, làm cho thiền tiến một bước sớm so với Phật giáo cả nước, đây cũng là điều đáng mừng, cũng là đáng hoan nghênh của trường Long An. Thì chúng tôi nghe vậy, chúng tôi nghe những cái người tăng ni sinh ở các tỉnh khác họ đến học ở trên học viện hoặc là học những cái khóa giảng sư cao cấp, họ nói với tôi thế này, họ nói là: "Tăng ni sinh Long An ngoan mà giỏi." Họ nói với tôi vậy nên tôi cũng mừng và hy vọng rằng sau này quý thầy, quý vị cũng ngoan mà giỏi và mình có cái kinh nghiệm thực hành thiền định thực sự.
[1:01:56]Dù đi đâu, suốt cuộc đời còn lại quý thầy không bao giờ được bỏ thiền kể từ ngày hôm nay. Kể từ ngày hôm nay, hôm nay là ngày mấy tây ta? Hôm nay là 9 Tây tháng 10 năm 2003, bắt đầu quý thầy học bài thiền đầu tiên. Lát nữa mình lên chánh điện mình thực hành, tối nay mình thực hành và suốt đời còn lại không bao giờ bỏ buổi thiền nào nữa. Phải hứa như vậy, phải hứa với nhau như vậy. Có cái máy phát hồi lát phát cái bài Rừng cho quý thầy nghe chơi. Nói chuẩn bị ha. Tuy nhiên chúng ta thấy nè: cái số tăng sĩ của Việt Nam mà thực hành thiền một cách đều đặn, ổn định mỗi ngày thì chưa có cao. Nhiều người tu thiền tùy hứng, tùy lúc,
[1:02:33]chưa có xem thiền là một cái công phu quyết định, quan trọng của đạo Phật. Ví dụ có ông thầy ông ở cái chùa đó thì ông bỗng nhiên ông thích tu thiền, cái ông đến một thiền viện ông xin ông ở lại 6 tháng, 1 năm hay năm tu thiền. Tu xong rồi cái ông trở về chùa lại thì cái ông bữa có bữa không, bữa nào ông khoái ông ngồi, không khoái ông không ngồi. Thành thử ra cái việc mà không xem thiền là một công phu tu hành quan trọng làm cho cái hướng thiền trong đạo Phật mình bị yếu đi, bị yếu đi. Chúng ta phải biết thiền đem lại sức mạnh cho đạo Phật, thiền đem lại sức mạnh cho đạo Phật. Nó như thế này, cái thiền á nó cũng có cái năng khiếu chứ không phải là không đâu.
[1:03:10]Ví dụ như bây giờ quý thầy học văn hóa thì khi mà vào trong lớp học thì học toán giống như nhau phải không? Đúng không? Là ông thầy dạy toán như nhau. Nhưng mà khi làm bài tập á thì có người được 10 điểm, mà có người được mấy điểm? Có người được mấy điểm? Đó, có được thầy một điểm nữa thấy không? Đó vậy, đó. Cho nên nó chênh lệch, nó khác nhau. Thiền cũng vậy, ví dụ cùng học thiền giống nhau, cùng ngồi giống nhau, nhưng có người tâm vào định được, có người không vào được. Nhưng mà chúng ta nhớ lại bây giờ cái người mà ví dụ đi ra đời học toán được một hai điểm rồi có bỏ học không? Có bỏ học toán không? Không có dám phải không?
[1:03:43]Phải theo đuổi suốt đời cho tới khi nào xong lớp 12 để làm được con người đàng hoàng phải qua cái trung học như vậy. Dù tánh mình không có khiếu về toán, dù cái môn toán mình thấp điểm nhưng vẫn phải học cho tới hết lớp 12 rồi tính gì tính. Thiền cũng vậy. Là ví dụ có người họ có khiếu, họ có năng khiếu, ví dụ họ ngồi thiền họ nhiếp tâm dễ dàng thì họ cũng tu thiền suốt đời. Và ví dụ như mình không có năng khiếu, mình nhiếp tâm khó cũng phải tu thiền suốt đời, vì đó là sự bắt buộc. Hễ là đệ tử Phật thì phải tinh tấn tọa thiền, phải biết nhiếp tâm không nói gì hết. Và đó là sức mạnh của cái sự tu hành bản thân mình
[1:04:19]và cũng là sức mạnh cho đạo Phật sau này. Nếu mà mình lười biếng mình không ngồi thiền thì bản thân mình yếu đuối, đạo Phật cũng yếu theo luôn. Và chúng ta nhớ điều này: mình có một đấng Cha Lành vĩ đại, một bậc vĩ nhân nhất nhân loại, là đỉnh cao của thiền định của nhân loại, mình là đệ tử Ngài mình phải kế thừa Ngài. Nếu mà mình lười biếng không chịu tu thiền thì thứ nhất mình đối với Phật mình là một kẻ, một kẻ bất hiếu. Thứ hai là phản bội, không được phép. Mình là đệ tử của Phật, Phật chứng đạo nhờ thiền, mình lạy Phật mỗi ngày mình không bao giờ được bỏ thiền, đó là bắt buộc. Tới ngày nay phải phục hồi lại.
[1:05:00]Ngày xưa chúng ta không thiền được bởi vì hoàn cảnh đất nước mình. Ngày hôm nay hoàn cảnh đã thuận tiện không có lý do gì mà không phục hồi thiền lại. Cho nên kể từ ngày hôm nay quý thầy phải ráng mà ngồi thiền, không được bỏ bữa nào. Ai mà không ngồi thiền là thầy Đức Hoàng xử lý đó, xử lý nói rồi. Chúng ta phải biết thiền như nằm trong một cái tổng thể. Ví dụ mình nói thiền như chữ Jhana hồi nãy mình nói á, thì có nghĩa là cái gì? Là nhiếp tâm trong thanh tịnh phải không? Gom tâm lại, nhiếp tâm lại trong thanh tịnh. Nhưng mà thiền không thể tách rời khỏi cái tổng thể của con người. Cái tổng thể đó gồm những điểm như thế này:
[1:05:39]thứ nhất là sức khỏe. Người yếu, bệnh không thể tiến sâu trong thiền được, cho nên sức khỏe phải có. Do đó mà chúng ta phải có cái thời luyện tập khí công, thể dục buổi sáng. Hồi nãy chúng tôi nói với thầy hiệu phó thầy Minh Thiện là trong cái thời khóa biểu hôm trước mà bữa khai giảng đưa đọc ra thế quên mất cái thời đó. Hôm đó bị đông người tôi không nói, nhưng hồi nãy nói với thầy, thì thầy nói thầy cũng quên, cho nên phải bổ sung lại. Nên thầy Đức Hoàng à thì nhớ bổ sung lại cái thời đó nha. Và thầy nhắc bên Thiên Phước giùm luôn, thầy gọi điện thầy báo bên ban quản chúng bên đó là phải sắp cái thời gian tập khí công buổi sáng cho chúng.
[1:06:16]Bên đây cũng vậy, là buổi sáng dậy mình bớt cái thời gian công phu mà tụng kinh đi, để dành thời gian ngồi thiền, thời gian tập thể dục. Ăn cơm sáng trễ một chút cũng không sao. Sức khỏe nè, cái thứ hai là đạo đức. Không có đạo đức người ta không thể vào thiền được. Hễ trong tâm mình mà còn có những điều bất thiện, nghĩ bậy, nghĩ bạ, ác tâm với người này, ích kỷ với người kia, không thể vào thiền được. Cho nên cái yếu tố thứ hai quan trọng là đạo đức. Vấn đề đạo đức thì cũng thầy Đức Hoàng xử lý, như thầy Đức Hoàng dạy môn Tâm lý Đạo đức phải không? Cho nên là cái trách nhiệm là thầy Đức Hoàng.
[1:06:47]Cái thứ ba là giới hạnh. Giới hạnh là đừng làm điều bậy so với giới luật. Mình không được phạm những điều mà giới luật quy định thế này, thế kia, giữ cái đó. Thứ tư là công đức. Công đức là làm phước á, phải giúp người, đem niềm vui đến cho người suốt cuộc đời còn lại. Có thể là mình không có cái năng khiếu nhiếp tâm bằng huynh đệ mình, nhưng mà nếu suốt đời mình làm điều phước thì tới chừng lớn tuổi mình cũng sẽ nhiếp tâm được. Sẽ nhiếp tâm được là do phước, phước chuyển hóa tất cả. Cho nên cái yếu tố thứ tư là yếu tố công đức rất là quan trọng. Suốt cuộc đời phải hy sinh cả cuộc đời mình cho Phật pháp,
[1:07:21]cho chúng sinh và gần gũi nhất là cho những huynh đệ chung quanh mình. Nghĩa là mình sống trong cái môi trường thế này với nhau thân ái, thương yêu, thân thiện, chưa có cái chúng sinh nào để mình phục vụ thì hãy phục vụ cho huynh đệ mình trước. Sống với nhau phải thương yêu nhau, lo cho nhau từng miếng ăn giấc ngủ trước, nhớ. Trước khi mình nói là mình thương yêu tất cả chúng sinh trong pháp giới này thì hãy thương yêu huynh đệ trong trường, trong lớp mình cái đã, phải thực hành cái đó. Mỗi ngày quý thầy phải tâm niệm thương yêu huynh đệ mình. Rồi để sau này bước ra cuộc đời, khi đi làm việc Phật sự
[1:07:52]mình thương yêu được tất cả chúng sinh, nhớ như vậy. Yếu tố thứ năm nữa là đạo lý. Bởi vì việc thực hành của thiền á nó liên quan tới toàn bộ cái giáo lý của đạo Phật, chứ mình đừng có tưởng là mình ngồi vậy tôi thở ra, thở vào là chỉ là một kỹ thuật không. Cái thở ra thở vào của đạo Phật nó khác, khác cái thở ra thở vào của khí công. Khí công có một cái triết lý gì đó mình không biết, nhưng mà riêng trong đạo Phật, cái thở ra thở vào nó là có cái đạo lý. Vì vậy là một cái người tăng sĩ trong cái việc tu tập thiền định phải nắm vững giáo lý thật chuẩn. Đó là lý do tại sao mà chúng ta phải học giáo lý là vậy,
[1:08:25]phải học trung cấp Phật học để biết rõ giáo lý là như vậy. Nó có đạo lý nó dính ở trong thiền á, chứ không phải là thiền là khơi khơi là chỉ nhiếp tâm cái gì cũng bỏ hết, bỏ hết, không có, không có. Liên quan, một cái hơi thở mình thở vào thở ra liên quan tới toàn bộ cái đạo lý của đạo Phật ở trỏng, phải biết. Và cuối cùng yếu tố thứ sáu là kỹ thuật. Kỹ thuật ngồi thiền như thế nào phải biết và nắm cho vững mà chúng ta sẽ giải thích với nhau mỗi cái ngón tay ngón chân cái thế nào đều có cái lý do của nó hết. Hôm nay chúng ta không nói, là chỉ chấp nhận thôi, mai mốt từ từ mình học. Điều cuối cùng chúng ta nhắc nhau thế này:
[1:08:59]là muốn hiểu thiền thì chúng ta phải thực hành thiền với tất cả quyết tâm. Chúng ta muốn hiểu sâu đạo Phật thì chúng ta cũng phải thực hành thiền với tất cả ý chí. Nhớ như vậy: tất cả quyết tâm, tất cả ý chí, tất cả cuộc đời của mình phải thực hành thiền. Vì sao? Bởi vì thực hành thiền rất gian khổ. Chúng ta báo trước cho nhau tin buồn: thực hành thiền rất gian khổ. Đừng tưởng ngồi thiền là sướng, ngồi thiền rất cực. Nên nếu người nào không có thiện căn đời trước, người nào không có ý chí bây giờ sẽ bỏ cuộc. Nhưng mà vì chúng ta là đệ tử Phật, chúng ta không được quyền bỏ cuộc, nhưng phải biết trước là con đường phía trước đầy chông gai, không có dễ.
[1:09:40]Chúng ta nhắc với nhau thế này: hy vọng chúng ta gặp nhau đủ 4 năm để mà trao đổi với nhau về thiền, thì quý thầy vừa học giáo lý mà vừa thực hành thiền, từ đây lấy làm nền tảng trong 4 năm để suốt cuộc đời còn lại lúc nào cũng không được bỏ thiền. Bởi vì sao? Bởi vì cái sườn, cái cốt, cái lõi của một người tu theo đạo Phật là thiền định, nhớ như vậy. Và chúng ta nhớ cái câu hỏi gợi ý quý thầy nghiên cứu mà không cần phải viết, bởi vì tới học kỳ mới thi, là: cái điểm mấu chốt khác biệt giữa thiền của đạo Phật và thiền ngoại đạo là cái gì? Hiểu cái đó cho kỹ nha. Giờ có ai thắc mắc gì không? Rồi để chúng ta lên trên chánh điện chúng ta ngồi thiền.
[1:10:19]À à, mở nghe bài nhạc Rừng, nãy giờ nghe hăm he quá rồi thôi nghe bài nhạc Rừng cho thoải mái cái đã. Năm thì tôi soạn chừng một bài nhạc hoặc hai bài nhạc. Năm nay tôi vừa rồi tôi mới soạn xong cái bài Rừng Ơi, Rừng Ơi. Nói lên cái tấm lòng của người thương yêu rừng, bởi vì nhạc sĩ chưa hòa âm nên tôi hát sơ sơ trước. Lâu quá chào anh. Mong anh được sức khỏe. Có gì không anh, hỏi gì hả? - Dạ lâu lâu lắm rồi con mới mấy năm nay mới gặp được thầy. Mà không biết thầy có nhớ tới con không, chứ còn riêng con con nhớ thầy da diết lắm. Nhưng mà tại thiếu phước quá không có ra ngoài chùa Phật Quang thăm thầy được.
[1:11:00]Vậy cho con hỏi một câu: Dạ thưa thầy là cái lý Không đó thầy, không thiện không ác, nhưng mà không ác á thì được rồi, nhưng mà tại sao lại không thiện nữa? Anh nói một câu rất là hay. Phải nói là thầy tán thán anh. Lâu quá không gặp nhưng mà không ngờ là anh có tiến bộ trong cái việc mà tu học. Và cái điều này thầy đã giải thích trong phần Chánh kiến của Tứ Thánh Đế phải không? Có giảng câu đó. Hoặc là trong Chánh niệm thì phải, trong Chánh kiến, hay Chánh tư duy gì đó. Có giảng rồi. Mời anh nghe lại bộ băng đó giùm nha, thầy giải thích kỹ hơn. Giờ không có thời gian để nói ở đây. Quý Phật tử Long An có cái bộ băng đó đưa cho anh,
[1:11:37]không biết thầy cũng không biết tên anh. Cứ thấy anh đứng lên hỏi riết mấy năm trời, thầy sợ anh trốn đâu Long An mấy năm nay giờ gặp lại nữa. Nha, để anh nghe lại, thầy có giải thích cái đó rất là rõ. Giải thích rất là rõ, rất là cặn kẽ. Tại sao nói không thiện không ác nhưng đừng tưởng là không có thiện. Không nói tới điều thiện bởi vì mình đã thuần thiện rồi, không cần đặt vấn đề thiện nữa, vô lý, vô ích. Bởi vì người tu theo đạo Phật là phải thuần thiện nên không nói tới vấn đề thiện. Và cũng không nói tới vấn đề ác, bởi vì sao? Không bao giờ phạm vào điều ác. Như vậy. Bây giờ chúng ta mở nghe bài Nhạc Rừng chơi.
[1:12:35]Bóng yêu mến thương
[1:12:39]thắm lên cho rừng. Ngàn cây tươi xanh che chở cuộc sống.
[1:12:47]Mênh mông núi sông
[1:12:51]lá hoa muôn trùng đan thành chiếc áo ấm áp nhân gian.
[1:12:59]Chim tung cánh bay,
[1:13:03]thú hoang từng bầy gọi nhau trong bóng sương mờ sườn đồi. Đường chia muôn lối,
[1:13:15]suối tuôn ngàn nơi, hoa lạc trên nước cuốn trôi xa vời.
[1:13:27]Rừng đem mơ đến,
[1:13:31]nước sông vừa lên.
[1:13:35]Rừng che giông bão
[1:13:39]vươn qua trời cao. Ngày thu thay lá,
[1:13:47]xao xác bước nai. Trời đông băng giá,
[1:13:55]tuyết ven hồ bay.
[1:13:59]Rừng cho thế giới
[1:14:03]tinh đẹp không thôi.
[1:14:07]Ngàn xưa hoang vắng,
[1:14:11]rừng là nôi
[1:14:15]tạo nên sự sống,
[1:14:19]người bước ra đời.
[1:14:27]Than ôi đớn đau, đứa con của rừng giờ đây quay lưng quên nguồn yêu dấu.
[1:14:39]Cây rơi lá khô, bóng xanh bây giờ theo từng nhát chém tan biến đi mau.
[1:14:51]Rừng đang xơ xác, gốc trơ chọi phơi.
[1:14:59]Bầy chim ngơ ngác, suối khô cạn nước, thú hoang gục đầu.
[1:15:11]Hãy lắng nghe rừng lên tiếng với trái tim rừng tha thiết. Nước mắt trên từng chiếc lá rơi qua lưng đồi khói nhòa. Bão tố thay ngàn tiếng thét, nỗi đớn đau của cái chết. Ngăn cháy như tình đã hết khi con người rất mau quên. Ngày nào mọi người hiểu ra một điều,
[1:15:51]cây xanh trong rừng cũng biết thương yêu, tặng muôn lá hoa cho ta rất nhiều,
[1:16:03]giọt nắng ban mai hay mưa buổi chiều. Hãy hứa trước khi lìa xa cõi đời,
[1:16:15]gắng sức đắp xây lại cho đất trời.
[1:16:22]Một cây bóng cao mênh mông vời vợi
[1:16:27]là chút tri ân tặng đến con người.
[1:16:35]Rừng ơi hãy nói
[1:16:39]là rừng hiểu tôi, tìm cho thế giới tình người xa xôi.
[1:16:51]Vượt qua giông bão
[1:16:55]loài người thương nhau.
[1:16:59]Rừng đem tia nắng
[1:17:03]ngập ngừng trên cao.
[1:17:07]Rừng ơi có biết trái tim lệ trào. Rồi, quý Phật tử có gì hỏi thầy không? Ai hỏi thử... nghĩa lý.
[1:17:33]Nhân đêm trăng thanh gió mát như thế này, chúng ta gặp nhau như thế này rất là vui, có ai hỏi gì không? Con hỏi trước cái được không thầy? Nam Mô Phật. Bạch thầy, theo như con biết thì cái vùng Đắk Lắk là cái nơi có rất nhiều đồng bào dân tộc sống ở đó. Và với cái phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thì rất khác xa với phong tục của người Kinh. Do đó những cái hiểu về tôn giáo, về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc nó là một cái thế giới riêng so với cái thế giới của người Kinh. Ví dụ như lễ hội thì họ đâm trâu, rồi họ ăn mừng, họ uống rượu cần, vân vân. Và cái quan niệm về cái thế giới vũ trụ thì họ thờ Giàng, tức là thờ ông trời.
[1:18:23]Có chuyện gì thì cũng cầu nguyện với Giàng để xin bớt bệnh, xin được mùa màng, vân vân. Thì như vậy khi nghe nói đến đạo Phật là có thờ ông Phật thì họ không hiểu, với cái thắc mắc của họ thì ông Phật là ai, cái con người đó như thế nào, và thờ ông Phật này thì có lợi gì cho cái việc làm mùa, cho cái việc chăn nuôi, vân vân. Thì đó là một cái câu hỏi trước hết con xin nêu lên, xin thầy trả lời. Thật ra không phải là riêng các dân tộc anh em chúng ta, mà chính chúng ta cũng vậy. Chính cái người Kinh chúng ta nếu đi ngược lại 2.000 năm trước cũng chẳng biết ông Phật là ai, chẳng biết, phải không?
[1:19:03]Lúc đó mình cũng chỉ thờ ông trời, thờ ông bà tổ tiên giống y như các dân tộc anh em chúng ta ngày hôm nay, không khác gì hết. Nhưng mà chỉ hên chúng ta một cái là 2.000 năm trước là người Kinh thì được sống ở những cái vùng đô thị buôn bán và chúng ta được gặp những nhà sư Ấn Độ cập bến, họ đem đạo Phật đến để truyền vào đất nước. Và do là cái ngôn ngữ có thể giao lưu được, chúng ta biết được Phật pháp. Ngày hôm nay chúng ta biết thờ Phật, chúng ta biết tin nhân quả, chúng ta biết làm những điều lành tránh những điều dữ và nhờ cái công đức đó mà đời sống mình vượt lên, vân vân. Mà tiếc rằng lúc đó những cái người Kinh
[1:19:46]đã không có cái quan tâm đúng mức với các người dân tộc anh em mình ở những vùng cao nên đã không chịu đem Phật pháp, chuyển cái ngôn ngữ vào các dân tộc anh em của chúng ta ở trên vùng cao. Và mãi đến 2.000 năm trôi qua rồi, ngày hôm nay anh em sống chung với nhau ở trong cánh đồng, trong nương rẫy, trong sườn núi, người Kinh và các anh em dân tộc đã gặp nhau chung tay một nhà, tay bắt mặt mừng là trong cái tình thương yêu dân tộc gặp gỡ như vậy thì bắt đầu Phật pháp mới có cơ hội để giao lưu. Nhưng mà cũng may nhờ cái là người dân tộc anh em đã biết được tiếng Kinh nhiều. Cho nên nhờ như vậy mà các dân tộc anh em đã tìm đến được
[1:20:30]với Phật pháp qua trung gian những người bạn ha. Chúng ta thấy cái hàng rào ngôn ngữ nó khủng khiếp lắm. Ngày hôm nay là do người Kinh và các người dân tộc anh em đã sống chung với nhau trong bản, trong làng, trong xã, trong phường, trong buôn, trong rẫy, trong núi, vân vân. Cho nên cái ngôn ngữ bắt đầu nó chan hòa, nó giao lưu và nhờ vậy Phật pháp mới lan vào các dân tộc anh em. Cho nên chúng ta sẽ không có vội vã trả lời là phải thế nào mới là đúng. Nhưng điều chúng ta mừng là 2000 năm trôi qua ngày hôm nay mới là cái cơ hội để chúng ta giới thiệu được Phật pháp đến với các dân tộc anh em chúng ta.
[1:21:10]Mà tại sao là nói rằng ta khuyến khích các anh em chúng ta phải thờ Phật? Là bởi vì cái tín ngưỡng mà thờ trời, thờ giàng, thờ ông bà tổ tiên cũng là rất là tốt, làm cho chúng ta tin kính có những vị thần linh ở trên cao luôn theo dõi, thưởng phạt chúng ta. Nhờ vậy mà chúng ta có chỗ dựa tinh thần, cũng như nhờ vậy mà chúng ta tránh cái điều dữ, chúng ta biết làm điều lành, cũng rất là tốt, nhưng mà rất là đơn giản. Vì sao vậy? Bởi vì cuộc đời rất phức tạp, đạo lý rất là phức tạp. Cho nên những cái tín ngưỡng đơn sơ mà ông bà tổ tiên chúng ta truyền lại không đủ để cho chúng ta có một cái đạo lý ứng xử đúng
[1:21:53]hết trong mọi cái tình huống của cuộc sống, nên làm chúng ta cứ giậm chân một chỗ, cứ nương rẫy vào rừng, chúng ta không thể phát triển cái tinh thần mình cao vượt lên được. Chính là nhờ Đức Phật, từ cái đất nước Ấn Độ xa xôi, giáo lý của Ngài truyền khắp thế giới rồi truyền đến Việt Nam, mà chúng ta có được cái đạo lý sâu sắc nâng hẳn cái nền văn minh tinh thần cũng như cái đạo lý của chúng ta lên một mức rất là cao. Cho nên chính vì vậy là chúng ta cố gắng giới thiệu Phật pháp đến với các dân tộc anh em của chúng ta để cho dân tộc anh em chúng ta có cơ hội hiểu được những đạo lý thật là sâu sắc, thật là thâm thúy,
[1:22:30]thật là chặt chẽ, thật là phủ khắp, phổ biến của Phật pháp, giúp cho các dân tộc anh em của chúng ta cũng nâng cao lên cái bước tiến tinh thần. Và như vậy thì khi mà bước tiến tinh thần đã nâng cao lên rồi thì chúng ta không còn cái hàng rào ngăn cách à đây là người Kinh, kia là người Thượng nữa mà tất cả bằng nhau ở trên lĩnh vực tinh thần. Bởi hễ tinh thần bằng nhau thì giá trị con người đã như nhau. Cho nên chúng ta thương các dân tộc anh em chúng ta thì chúng ta phải cố gắng nâng cao cái giá trị tinh thần của anh em chúng ta lên. Mà trong việc nâng cao cái giá trị tinh thần lên thì cái căn bản nhất vẫn là giới thiệu Phật pháp đến với anh em chúng ta.
[1:23:10]Nên nên nên làm như vậy. Có ai hỏi gì nữa không? Mô Phật. Bạch thầy, ở trên Buôn Ma Thuột con có cái làng đó là của người Dao, người Dao tức là người Mán,
[1:23:28]từ ở phương Bắc người ta vào để làm nương rẫy. Người ta có một cái truyền thống là mỗi khi cúng tổ tiên người ta sử dụng hai bát rau xanh, hai bát rau nấu bằng rau thảo mộc đó thầy, nấu bằng các loại dầu, thí dụ dầu mè hoặc là dầu dừa hay là dầu phụng,
[1:23:55]rau nấu với dầu và hai miếng đậu khuôn.
[1:24:01]Thế thì người ta gọi là ăn chay. Nhưng mà có điều đặc biệt là người ta rất sợ thờ Phật. Bởi vì ông bà tổ tiên từ trước đến nay không có thờ Phật, không có lạy Phật. Hôm nay chúng tôi đi đến đạo Phật, thờ Phật, lạy Phật, tôi sợ con gà nó chết, tôi sợ con heo nó chết, tôi sợ gia đình chúng tôi bệnh hoạn. Thế thì có phải tu theo đạo Phật gà chết, heo chết, người bệnh hoạn hay không? Người ta sợ được điều đó, cho nên con cũng xin thầy à giải thích để cho người ta có một cái niềm tin sâu với Phật pháp. Mô Phật. Theo như mà thầy nghe kể thì các anh em dân tộc Dao có những vị tổ tiên nào đó là những người tu hành theo đạo Phật
[1:24:56]mà tu hành rất là nghiêm túc, cho nên người Dao có một cái văn hóa như người những cái tập quán phải nói rất là là đẹp. Ví dụ như là người Dao tuyệt đối không có nói dối, không ăn cắp, ừ không có gian díu, vân vân, tức là những cái điều mà họ cái đạo đức mà căn bản họ giữ á nó y như cái ngũ giới của Phật giáo. Rồi họ khuyến khích vấn đề về cúng chay, vấn đề ăn chay. Những cái câu mà niệm của họ thì là những câu niệm Phật và cái chữ bùa mà họ cho rằng là được tổ tiên truyền lại để có thể giải tất cả mọi ách nạn thì viết ra đúng là chữ Phật theo chữ Nho luôn. À điều lạ như vậy. Cho nên nghĩ là ngày xưa vì tổ tiên nào đó là một người đã tu theo đạo Phật và cái
[1:25:45]truyền thống, cái nền nếp, cái đạo đức của đạo Phật cho cái dân tộc Dao của mình. Nhưng mà chỉ vì là có khi lúc đó chưa có phương tiện để thờ Phật hay là chưa có phương tiện để tìm thấy được những cái kinh Phật chính thống bởi vì có cái hàng rào về chữ viết và ngôn ngữ, cho nên là người Dao chưa bao giờ biết rằng mình chính là là những người đệ tử Phật. Tuy ông bà dạy tất cả những đạo lý đạo Phật, thờ cả cái chữ Phật à nhưng mà người Dao chưa bao giờ chính thức biết rằng mình thật sự là đệ tử Phật. Nên không ngờ ngày hôm nay có cái duyên mà giao lưu về văn hóa thì chúng ta mới phát hiện ra một điều đáng kinh
[1:26:29]ngạc là cả một cái dân tộc đó, cả một dân tộc anh em Dao đó toàn là sống theo tinh thần của đạo Phật, không biết bao nhiêu trăm năm đã đi qua như vậy. Ừ chỉ có anh em không biết rằng cái điều mình đã sống đã thờ như vậy hoàn toàn phù hợp với cái đạo Phật mà người Kinh thờ Phật khắp nơi trên cái đất nước này. Đây là điều rất là đáng ngạc nhiên mà cũng rất là đáng mừng. Cho nên vì vậy nếu chúng ta chịu khó giải thích kỹ để anh em người Dao biết rằng họ là những người Phật tử, họ là đệ tử Phật từ bao nhiêu đời và có khi là dù chưa có hiểu đạo lý nhiều như là người Kinh nhưng mà đời sống của họ có khi họ tuân thủ
[1:27:14]theo giáo lý của Phật còn hay hơn nhiều Phật tử Kinh nữa. Nhiều người Phật tử Kinh đôi khi chưa được cái đạo đức chân chất như là người Dao. Cho nên vì vậy đây là một điều làm chúng ta ngạc nhiên, làm chúng ta vui mừng mà cũng làm cho chúng ta kính trọng anh em Dao của chúng ta. Nên điều này là thầy cũng mong là quý Phật tử ở Đắk Lắk ráng tới lui với anh em dân tộc Dao để trao đổi về giáo lý thêm để cho người Dao hiểu ra một điều chính họ là người đệ tử Phật. Rồi họ phải mạnh dạn thờ Phật và khi mạnh dạn thờ Phật, tìm hiểu thêm giáo lý đạo Phật thì cuộc sống của họ có thể là sẽ được nhiều cái điều may mắn hơn.
[1:27:57]Họ may mắn hơn, tốt lành hơn. Con gà nó sẽ sống dai hơn nếu không bị cắt cổ, con heo sẽ sống dai hơn nếu không bị chọc tiết, vân vân. Lại sợ là như vậy. Rồi cái nương rẫy biết đâu sẽ được mùa, mưa gió sẽ được thuận hòa hơn, vân vân như vậy. Rồi mà anh em chúng ta thì cố gắng tới lui để giao lưu, mình phụ giúp gì được với anh em người Dao thì ráng mà phụ giúp, như vậy ha. Thưa thầy, dân tộc của con từ ông bà tổ tiên từ những người xưa kia để lại bao nhiêu đời nay đều cúng tết, cúng giỗ và cúng hiếu, cúng hỷ đều có xôi, chè, oản và đậu phụng và rau, muối, gạo.
[1:28:44]Tất cả cái đó con hỏi có phải là đạo Phật không? Và thứ hai nữa cúng tiếp bàn thờ cúng đó, bàn dưới sẽ lại có gà, có lợn, có vịt, cúng đầy mâm. Các con cháu đem đến có xôi, có vịt, có gà, có động vật thì tất cả cái đó có phải là đạo Phật hay là đạo khác? Và thứ hai nữa là dân tộc con phong tục tập quán có khi không biết thì thầy bảo ban về giáo lý cho chúng con biết ạ. Hết, cảm ơn thầy. À, thầy cảm ơn, ngồi xuống. Cái việc mà có cái tục lệ cúng chay, cúng rau, cúng xôi, vân vân vậy, cúng oản, cúng gì đó, đậu phụ gì đó ở trên bàn trên thì thầy nghĩ dường như là có chịu ảnh hưởng của đạo Phật, tức là tổ tiên có biết đạo Phật, biết đạo Phật.
[1:29:43]Nhưng mà cúng chay tức là để cái chứng tỏ là mình dành cho tổ tiên, cho thần linh những cái điều những cái món thanh khiết. Nhưng mà nếu cúng toàn bộ như vậy không thì những người đến dự người ta sẽ buồn á, người ta buồn. Cho nên cái ngày vui như vậy người ta cũng cần có ăn uống cho nó no say. Cho nên nó thấy ở trên cái tầng trên thì cúng đồ chay là đạo Phật, tầng dưới cúng đồ mặn là đạo của mấy người người nhậu. Cho nên là như để cho vui, vì lúc đó cũng chưa có một đạo Phật chính thức là phải kiềm chế gì hết, cấm đoán gì, cho nên mọi người thấy một việc bình thường là à thanh khiết thì dâng lên cho ông bà, cho thần thánh, còn cái gì mà phàm tục thì sau
[1:30:23]khi cúng xong để lại cho con người dùng, nghĩ cũng bình thường như vậy. Với lại ở miền miền Bắc á, miền Bắc là thật ra cũng còn nhiều chùa người ta cúng mặn lắm. Nghĩa là người Phật tử đến chùa thay vì chỉ được cúng trái cây, bưng nguyên con gà tới, nguyên cái đầu heo tới, nguyên cái miếng thịt heo bự sự đem để trên bàn thờ Phật vậy đó, cúng rồi thắp nhang. Thắp nhang xong xá xá khấn nguyên một bài rồi có bài bản hay lắm, nói có câu kệ mà nói thiệt lớn nha, nói nhỏ không ăn tiền ạ. Thế là xúm nhau nguyên mấy trăm người mà ngồi la cái bài tụng rầy rền á rồi sau đó bưng cái oản đi về mất tiêu, không biết có để miếng nào lại cho sư thầy không, nhưng mà bưng về.
[1:30:58]Rồi sau bưng ra sân chùa ngồi nó xé ra ngồi nhậu tại chỗ luôn. Miền Bắc còn một số chùa như vậy. Nhưng mà dần dần thì cũng có một số chùa thì giữ được cái nề nếp ăn chay. Như vừa rồi thầy ra chùa Đồng Đắc ở Ninh Bình á thì thầy thấy giỗ chay, cúng chay là hầu hết, rất là thanh khiết. Nhưng mà thầy nghe kể là vậy đó, có một số chùa làm sao do dân chúng ta không phân biệt được giữa đạo Phật và các miếu đền á, cho nên tưởng hễ cúng miếu đền là cúng con gà được thì cũng mang cái con gà đi cúng chùa được. Không ai giải thích hay sao á, thành ra cái chùa cũng bị như vậy. Chứ còn những cái chùa nào mà có quý thầy
[1:31:33]có hệ thống quý thầy có học hỏi á thì lại vẫn rất là thanh khiết. Cho nên cái việc mà cúng chay của người Mường á, thầy nghĩ là ảnh hưởng đạo Phật á. Còn cái phần dưới là là phụ thêm để cho nó vui trong ngày ngày tiệc, vậy thôi. Mai mốt mình có thể sửa lại. Mình có thể sửa lại nếu mà chưa có thể ăn chay trong buổi cúng thì mình cứ cúng chay. Nhưng mà còn cái phần mà thức ăn thịt á thì đừng có bày ra cúng bàn thờ, cứ để dưới bếp thôi. Cúng xong rồi bưng dưới bếp lên cứ ăn ha. Nhưng mà phần dọn bàn thờ thì đừng có dọn cái thịt vì nó không nghiêm trang ha, như vậy đó. Chừng nào mà toàn bộ dân tộc Mường của mình ăn chay
[1:32:09]hết thì mình cúng chay mình ăn chay luôn. Bây giờ chưa ăn chay được thì cái đồ cúng cũng chỉ nên cúng chay đừng cúng mặn, mặn thì đồ ăn để dưới bếp. Làm lễ mình cúng tụng, lễ bái là xong hết, tới giờ ăn thì mình dọn đồ mặn lên ăn, chứ đừng cúng đồ mặn, như vậy.