Transcript: Nương Thần Lực Chư Phật

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:23:55

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa quý thầy, quý cô, chư tôn đức và các Phật tử. Hôm nay thật là một điều xúc động khi chúng ta được về cái Đất Tổ, rồi được đến viếng cái ngôi chùa nằm trong cái khuôn viên Đất Tổ này. Tên chùa đây là chùa Am Đường. Nó là cùng một gốc chùa với chùa Thiên Quang ở trên núi, trên đỉnh, coi như là cũng nằm trong cái khu vực của Đền Hùng. Trong cái khu vực Đền Hùng thờ Quốc Tổ, ta lại có hai ngôi chùa, mà cũng là một ngôi, để cho thập phương bá tánh khi về đây viếng Quốc Tổ thì ta cũng được viếng Phật.

[0:57]Đây là một điều rất là là xúc động. Thì sáng nay chúng ta có cái dịp để trao đổi với nhau về cái sự uy linh của Đất Tổ thấm đẫm trong tâm hồn của ta. Chiều nay thì chúng ta nói với nhau về cái đề tài là Nương Thần Lực Chư Phật. Cái đề tài này nó như thế này: nếu ai có tụng kinh Pháp Hoa thì ta sẽ thường nghe cái câu này của chư Bồ Tát nói là: Con nương thần lực của Phật mà làm các Phật sự giáo hóa chúng sinh.

[1:39]Thì khi một vị Bồ Tát làm được một cái công đức to lớn gì đó, đều cứ nói một câu là: Con nương thần lực của chư Phật. Hoặc là trong bộ kinh Bát Nhã cũng vậy, thì khi một vị Bồ Tát đứng giữa một cái hội chúng mênh mông, trong kinh Bát Nhã thì diễn tả là chư thiên đầy cả bầu trời, ở dưới đất thì vô số chúng sinh đến nghe. Thì khi một vị Bồ Tát đứng giữa một hội chúng lớn lao mênh mông như thế rồi đối đáp với nhau, có chư thiên tử hỏi và một vị Bồ Tát trả lời, hoặc là khi Phật hỏi, vị Bồ Tát đó trả lời theo đạo lý. Những cái đạo lý vi diệu không thể nghĩ bàn được, làm cho mọi người xúc động, thì lúc đó các vị Bồ Tát đó đều cũng nói:

[2:24]Dạ, con nương thần lực của Phật mà nói lên những cái đạo lý này, nói ra những cái giáo pháp này. Mà khi ta đọc những đoạn kinh đó, như là những đoạn kinh trong Bát Nhã, trong Pháp Hoa, ta cũng không thể tưởng tượng được con người có thể nói lên những đạo lý hy diệu như thế, vì nó vượt khỏi cái tầm suy nghĩ của con người. Mà khi ta xúc động vì có những cái đạo lý cao siêu vi diệu đã xuất hiện giữa cái cuộc đời này, lòng ta biết ơn vô hạn chư Thánh, những người đã đến với trần gian, mở con mắt tuệ cho chúng sinh, khiến cho chúng sinh chợt nhận ra được mình từ lâu đi trong đêm dài tăm tối mà phải biết vượt khỏi cái si mê, cái trầm luân đó để thoát ra ngoài.

[3:12]Những cái giáo lý thật là cao đẹp. Nhưng mà khi nói được những giáo lý hay như vậy, thì cái vị Bồ Tát đó đều không bao giờ nhận mình là tác giả, đều không bao giờ nhận mình là người chủ sở hữu của những cái đạo lý đó, mà cứ nói: Con nương thần lực của Phật nên mới nói được những điều này. Thuở ban đầu như chúng tôi vậy, khi mới vào tu tập thì tụng những đoạn kinh đó không hiểu. Cứ nghĩ rằng các vị Bồ Tát thì có cái đạo đức khiêm tốn, cho nên khi làm được cái điều gì thì cũng nói một câu nghe nó khiêm hạ là: Con nhờ Phật lực mà con mới làm được điều này, con nói được điều kia, chứ không phải là sức của con.

[3:56]Thì mới đầu ta chỉ hiểu như vậy thôi, và cứ yên tâm là các vị Bồ Tát là khiêm hạ, và ta cứ học nơi các Ngài, nghĩa là lúc nào cũng ráng là khiêm hạ, không bao giờ thấy mình là hay, làm được cái gì cũng biết là đừng có nhận công về mình. Thì hiểu như vậy thì coi như là mình cũng tốt lắm rồi, tu vậy cũng tốt. Nhưng khi mà cứ tu vài năm vài tháng dần dần dần dần ra, đến hôm nay thì được xem như là thượng tọa đi, mấy mươi năm tu hành gì đó được xem là thượng tọa, thì mới chợt hiểu ra rằng cái câu mà trong kinh các vị Bồ Tát nói: Con nương thần lực của chư Phật, thì không phải là lời nói khách sáo,

[4:35]cũng không phải là lời nói đãi bôi lịch sự, mà là một sự thật. Đúng là các vị Bồ Tát khi làm được những Phật sự lớn lao, khi nói được những đạo lý vi diệu đều nương nhờ thần lực của Phật, chứ không phải tự mình. Bây giờ thì mới hiểu điều đó. Và hiểu được điều đó rồi thì ta mới vỡ ra được nhiều điều trong cái cuộc sống của ta để ta nhìn lại chính mình, mà biết rằng trên đời này không có cái gì mà tồn tại một mình, nó đều có những cái sự liên quan giữa nhiều yếu tố với nhau cả. Và lúc đó vị Bồ Tát thấy rõ mình là một phần nhỏ trong cái oai thần của mười phương chư Phật. Ở đây á, ví dụ bây giờ một người thợ mộc đóng được một cái tủ

[5:23]thì họ nghĩ rằng là đây là cái tài của họ đóng được cái tủ đẹp như thế này. Hoặc là một người nhạc sĩ viết một ca khúc hay thì cứ nghĩ là cái tài của mình đã viết được ca khúc hay này. Hoặc là một nhà văn để viết một cuốn sách thì cứ nghĩ rằng cái tài của mình mà viết được cái cuốn sách này. Nhưng mà một vị Bồ Tát á, khi mà giáo hóa được, ví dụ họ đến một cái cõi nước nào đó, họ thể hiện thần thông, đưa bao nhiêu chúng sinh về với Phật đạo, giáo hóa cho bao nhiêu con người được thức tỉnh, thì họ lại không thấy đó là cái tác phẩm hay công lao của mình, mà thấy rằng tất cả những việc mình làm là cũng giống

[5:59]như là một cái luồng sóng trong một đại dương cùng có tương tác với nhau, hay mình chỉ là một phần nhỏ trong cái oai thần của mười phương chư Phật khắp cả pháp giới vũ trụ này. Thì cái nhìn đó nó là cái sự khác biệt giữa Bồ Tát và chúng sinh. Như chúng ta đó, lúc nào hễ mình viết được một bài thơ thì đó là tác phẩm của mình chứ có mắc mớ gì đụng tới ai đâu, ta cứ thấy như vậy. Nhưng mà nếu lúc nào con mắt tuệ ta mở ra thì ta mới thấy rằng là cứ mỗi dòng, mỗi chữ mà ta đặt bút ta viết xuống, thật sự không phải của ta, đều có cái thần oai của chư Phật, có cái nhân duyên của nhiều đời nhiều kiếp, có không biết bao nhiêu ảnh hưởng

[6:40]của con người nào đã đi qua cuộc đời ta để lại dấu ấn trong lòng ta, bao nhiêu công lao dạy dỗ của thầy, cô giáo, cái sự nhắc nhở của cha, của mẹ, của ông, của bà, nó đi vào thành từng cái giọt máu ta, từng cái hơi thở của ta. Như hôm nay ta đặt xuống viết một bài thơ thì cái bài thơ này là công lao của biết bao nhiêu con người. Đó là nói về quá khứ, còn mà ở trong đạo còn vi diệu hơn nữa, mỗi khi ta đặt bút xuống ta viết một cái lời đạo lý thì ngay lúc đó có cái sự gia hộ của chư Phật mười phương chứ không phải là tự một mình ta. Ví dụ hôm nay đây, ta ngồi đây với nhau thì chúng tôi là người thuyết

[7:19]pháp, quý Phật tử là người nghe pháp, nhưng đừng tưởng rằng là: Ồ, cái ông thầy đó ông giảng hay là cái tài của ổng, không có. Ổng đang ngồi đây nhưng mà sự thật lúc này là lúc mà nếu ông thầy này ổng đàng hoàng chút, có lòng thành, biết khiêm hạ thì ổng được chư Phật gia hộ, tiếp sức. Và quý Phật tử cũng vậy, khi đang ngồi đây như vậy, khi mình ngồi lắng lòng mình nghe là cũng không phải là cái tâm trí của mình nghe, mà mình đang chìm trong, đang được tắm trong, đang được tràn ngập trong cái thần uy của chư Phật, nó thành một cái pháp hội có người nghe, có người nói rất là vi diệu, rất là linh thiêng.

[8:00]Những giờ phút như thế này. Bởi vậy, những giờ phút đang thuyết pháp, đang nghe pháp thế này mà nếu ai giữ gìn cái buổi thuyết pháp cho thành công ta được phước lành rất là lớn, ta được chư Phật ấn chứng, gia hộ cho ta trong cuộc sống sắp tới. Còn cũng vậy, cũng những buổi thuyết pháp như thế này, nghe pháp thế này, mà nếu ta tìm cách phá hoại thì đời đời mình như câm, như ngọng, như điếc, vì ta phá hoại cái pháp bảo. Nên nhớ về những lúc như thế này không phải là lúc ngồi chơi. Những lúc thế này là chung quanh ta, trên đầu ta, khắp nơi đều có thần lực của chư Phật giăng bủa. Chư thiên, chư hộ pháp đều nhìn ngó hết,

[8:39]và nhìn ngó cả người giảng và cả người nghe giảng. Thật sự ta như là một hạt bụi trong một sa mạc, ta như giọt nước trong một biển khơi, ta như là một đứa con của chư Phật vậy. Ta đang tắm mình trong hào quang của Phật những lúc mà ta chí tâm tu hành. Ta không thấy nhưng nó là một sự thật. Và cái người giảng cũng vậy, nương nơi thần lực của Phật mà để đem đến cái giáo pháp cho chúng sinh, mà cái người này như là trong lúc này thì có cái nhiệm vụ như thế, và người đó cứ xả tâm vô ngã để cho thần lực của Phật ngự trị, gia hộ mà thành những lời pháp đến với chúng sinh, chứ còn không phải là do tài trí của riêng mình.

[9:22]Cái ý nghĩa này nó rất là lớn, mà nếu ta hiểu nhầm thì ta sẽ thất bại. Nếu ta cứ tưởng là mình làm được cái gì hay là do mình nghĩ ra, do mình tạo nên thì lập tức ta cắt cái duyên với chư Phật liền. Là tự mình nghĩ cái điều đó, cái là mình gieo một cái nhân không tốt, mình cắt cái duyên với chư Phật, rồi mình cứ cô độc mà đi, không ai gia hộ nữa. Cái sự kiêu mạn nó đã tràn ngập, rồi ta sẽ đi vào thất bại. Còn nếu ta hiểu ta làm điều gì ta cũng nương thần lực của chư Phật thì đời đời cứ được Phật dìu dắt ta đi từng bước trong cái cuộc sống này. Mỗi một lời nói ta nói ra đều có Phật dẫn dắt ta, mỗi một việc làm ta làm đều có Phật che chở cho ta.

[10:05]Mỗi một ngày cái cuộc sống đi qua như vậy, ta đi trong hào quang của Phật, và ta cứ nép mình như vậy, cứ khiêm hạ, cứ vô ngã như vậy, và cuộc sống của ta hạnh phúc biết là bao. Chỉ có những người kiêu mạn, không hiểu điều này, cứ tưởng cái gì cũng do tài của mình, thì người đó sẽ đời đời bị cô độc, cô độc đối với chư Phật. Nên đây là cái tiền đề của cái bài mà ta nói là nương nương thần lực của chư Phật. Mà vì sao một vị Bồ-tát được nương nơi thần lực của chư Phật, được chư Phật gia hộ để có thể mà tu hành, thuyết pháp, giáo hóa độ sinh, làm vô số Phật sự? Vì sao mà được như vậy? Là bởi vì ngay từ giờ phút đầu ta đã kính tin Phật.

[10:47]Ngày đầu tiên ta quỳ xuống dưới bàn Phật, dưới chân Phật, ta lạy Phật với lòng kính tin tha thiết là ta đã gieo một cái nhân cho đời đời ta đi trong hào quang của Phật. Rồi mỗi khi ta làm một việc gì ta đều cầu Phật gia hộ thì từ đó là Phật lực sẽ theo ta mãi mãi. Ở đây, như quý thầy, quý cô thì là người đã hiểu rất rõ điều này thì không nói. Quý Phật tử, mỗi khi mà sắp làm một việc gì, có hay cầu nguyện chư Phật không? Có không ạ? Đó, đúng, tốt, rất là tốt. Mỗi khi ta làm một việc gì ta đều cầu nguyện sự gia hộ của chư Phật thì ta đã gieo một cái nhân là đời đời mình được đi trong thần lực của Phật.

[11:30]Mà khi làm việc thành công rồi mình có kiêu mạn không? Có tự cao không? Không, bởi vì mình đã xin Phật. Còn nếu mà trước khi làm mà ta không xin Phật á thì mình làm xong mình rất dễ kiêu ngạo. Và cái kiêu mạn đó phá vỡ hết tâm hồn của ta, làm cho ta có thể là phát sinh ra nhiều cái tâm niệm xấu nó nối theo sau cái sự kiêu mạn đó. Còn mà ta khiêm hạ rồi thì những tâm lành cứ nảy nở trong lòng ta. À như vậy là ta nhớ một điều vậy, trước khi ta làm điều gì cũng đều cầu nguyện sự gia hộ của chư Phật. Cho nên nếu có thành công thì ta hiểu rằng không phải là do cái năng lực một mình của mình. Cũng vậy, những người giảng sư cũng vậy.

[12:15]Đối với người tu sĩ, nó có hai cái khó. Một cái khó là lúc mà âm thầm lặng lẽ một mình mình tu tập không ai biết. Thì trong cái âm thầm lặng lẽ không ai biết đó, không ai đánh giá được mình đó, mình vẫn phải tu cho tốt, giữ được những cái giới mà chư thánh ái kính, nhiếp tâm trong cái thiền định mà chư thánh đã dạy dỗ. Đó là cái khó. Cái khó thứ hai nữa là đăng đàn thuyết pháp độ sinh. Thì nhiệm vụ của một vị xuất gia là giáo hóa độ sinh. Thì trong hai cái khó đó thì cái khó nào đều cũng phải nương nơi thần lực của chư Phật. Mỗi khi một vị Tỳ-kheo bắt chân lên ngồi thiền cũng phải niệm Phật cầu xin gia

[13:01]hộ, chứ không ai dám nói từ cái sức mình mà nhiếp được tâm vào trong định. Rồi mỗi khi đương đầu với bao nhiêu sóng gió, nghịch cảnh, cám dỗ của cuộc đời nào cũng thầm thầm niệm Phật cầu xin gia hộ, vì biết rằng cái tâm hồn của mình yếu đuối, mong manh, nghiệp chướng dày. Nếu không có Phật giữ gìn thì không ai chắc rằng mình giữ được cái sự tu hành của mình bền vững cả. À cũng vậy, mỗi khi mà đăng đàn thuyết pháp thì lúc nào cũng phải niệm Phật cầu gia bị, như hồi nãy chúng ta niệm Phật xong ta mới ngồi nghe. Nhưng sự thật, khi mà một vị giảng sư họ ngồi họ soạn bài hay là trước khi đi đến đâu để thuyết giảng thì đều đã lạy Phật tha thiết,

[13:41]lúc nào cũng nép mình trong cái thần lực yêu thương của chư Phật. Nhờ như vậy mà công đức cứ tăng dần, cái năng lực cứ tăng dần và thành tựu được cái đạo nghiệp, làm thành những Phật sự được trong đời của mình. Còn người nào chủ quan, ỷ lại, cứ tưởng là mình giỏi, mình thông minh, mình trí tuệ, làm gì tự mình làm thì chẳng chóng thì chầy tất cả đều đổ vỡ, trí tuệ biến mất, mọi cơ hội cũng lui xa, rồi đời mình đi vào trong ngõ cụt.

[14:13]Vì thế mà một vị Bồ-tát từ ban đầu phát tâm tu hành đã thiết tha kính Phật, lúc nào cũng cầu nguyện chư Phật gia hộ. Nên đến khi chứng quả thánh thì bản ngã tan biến và hòa luôn vào oai thần của chư Phật luôn. Ta đó thì thấy mình còn tồn tại, cho nên mình nương thần lực của chư Phật. Còn các vị thánh đắc đạo á thì bản ngã tan biến. Các ngài như một giọt nước rớt vào trong biển cả, tan vỡ vào trong đó, hòa vào trong đó, không còn riêng của mình, hòa chung vào cái oai thần của mười phương chư Phật luôn, và như vậy cực kỳ hạnh phúc. Ta thích riêng hay là ta thích chung? Riêng hay chung? Tốt lắm. Cái người mà thích chung là cái người bản ngã rất là nhỏ, rất dễ tu tiến.

[15:01]Còn người thích cái gì cũng riêng riêng là người bản ngã rất là lớn, rất là khó tu. Ta thấy á như những người ở trong quân đội là ví dụ họ đi là phải xếp hàng, làm gì cũng theo hiệu lệnh. Thì người nào ở trong quân đội một thời gian, tự nhiên cái bản ngã rất là nhẹ, là phải chấp hành kỷ luật. Mà trong cái kỷ luật của đồng đội đó, ta sống theo đồng đội đó, ta không có cái riêng tư nữa. Vô trong quân đội không có cái riêng tư. Cho nên sự thật là cái môi trường của quân đội là môi trường giáo dục khá tốt. Có nhiều người thấy con hư quá thôi, cho nó đi bộ đội 3 năm đi, mà đúng 3 năm về ngoan thiệt.

[15:35]Tại vì trong cái kỷ luật đó bản ngã mình bớt xuống nhiều. Bản ngã bớt xuống rồi là mọi điều tốt nó sẽ xuất hiện. Dĩ nhiên là nó cũng không phải tốt hoài, nếu người không biết tu dưỡng thì từ từ nó cũng quậy lại, nhưng mà nép mình trong kỷ luật quân đội đã là như vậy. Thì trong cuộc sống cũng vậy, hiện nay nó có một cái trào lưu, cái mốt mới là cái gì nó cũng có cá tính riêng riêng, không đụng hàng, ta có nghe không ạ? Có, và cái đó là sự cực kỳ nguy hiểm. Cái đó là bắt đầu khuyến khích cái bản ngã con người ta nó lớn dậy, thích cái gì cũng riêng riêng, đừng có đụng hàng với ai, đâu có ngờ rằng cái đó phá hoại xã hội.

[16:10]Ví dụ như ta bước vào cộng đồng của một cái ngôi làng, ta thấy mọi người từ cụ già cho đến trẻ em ăn mặc giông giống nhau, mái tóc cũng giông giống nhau, cái cách nói chuyện giông giống nhau, ta cứ yên trí rằng cái làng đó sống rất thanh bình. Vì người ta không có cái riêng, cái bản ngã người ta rất nhẹ, mà bản ngã nhẹ nó không đưa đến sự xung đột, sự gây hấn với nhau. Còn nếu ta bước vào một cái phố mà ta thấy người thì cái tóc thì nhuộm màu đỏ, qua bên kia gặp cái người tóc nhuộm màu xanh, người thì mặc quần đủ hai ống, người mặc quần chỉ có một ống, vân vân, thì ta biết rằng cái những người này họ thích cái gì riêng,

[16:45]thích cá tính đừng đụng hàng, và ta cứ yên trí rằng cái phố đó là sáng ba người gây lộn, chiều mười người oánh nhau. Tại vì thích riêng là bản ngã, bản ngã nó lớn lên. Và vậy ta biết rằng Đạo Phật là đạo của cái vô ngã. Cái vô ngã đưa đến vô số điều tốt lành cho tâm hồn ta và cho cộng đồng chung quanh ta. Thế vì vậy là ai ưa thích cái điều chung thì đó là dấu hiệu của đạo đức, còn ai ưa thích cái gì riêng đó là dấu hiệu của sự lầm lỗi. Vào thời xưa đó, lúc có có một ông tướng quân, vào thời xưa khi có giặc nổi lên xong rồi tin tình báo báo về, tức là những thám tử từ biên giới tốc hành chạy ngày chạy đêm về báo ở kinh thành.

[17:31]Nói là tin từ biên giới nước ngoài sự thật thì ông vua nào cũng vậy, ông vua nào cũng phải gài thám tử ở bên các nước bên ngoài chứ không phải là chỉ đứng canh biên giới ở nước mình. Ví dụ người Việt Nam ta vậy, hồi xưa các vị vua chúa cũng phải thả người qua bên Trung Quốc nằm hết. Thì khi mà bên đó định đánh ta là thám tử đã ngày đêm chạy ngựa về báo. Khi báo rồi thì ông vua mới khẩn trương họp lại các tướng, các quan liền. Nói bây giờ nước bạn đã hành binh rồi, chuẩn bị kéo qua đánh ta. Thì bây giờ là các khanh nghĩ xem là ta phản công, chống đỡ như thế nào? Ai sẽ là người cầm tướng đi tiên phong,

[18:05]người là chủ tướng, người nào là tiết chế gì đó vân vân. Rồi sau khi các quan bàn qua bàn lại rồi là chọn ra được cái người chủ tướng rồi, vì tướng quân, đại tướng cầm giữ đại binh rồi thì vua mới gọi người đó lên trao cho cây kiếm lệnh và định ngày xuất chinh. Định ngày xuất chinh là không phải là vua nói đâu mà phải có ông thầy bói coi, tức là có cái ông quan chuyên về bốc phệ đó, gieo quẻ rồi tính toán rồi nói là: "Muôn tâu Hoàng thượng, khi mà giặc đánh như thế này ta đi vào cái ngày này, ta xuất quân vào ngày này giờ này kia nọ thì nó sẽ là điềm tốt rồi ta sẽ đánh thắng. Còn nếu đi vào ngày này giờ này ta đi đánh thua." Chẳng biết có không.

[18:39]Nó qua tới nơi đó mà đợi ngày tốt đánh chết luôn. Nhưng mà hồi xưa tin vậy. Thì thế là cái vị tướng quân mới lên đường, đem quân đi rần rần rần rần kéo quân ra, là mọi người cứ trông theo cái đoàn quân bốc bốc bụi mù mờ mịt như vậy. Thì đánh đâu cũng phải mấy tháng trời, có khi đánh cũng phải mấy năm trời, rồi cái vị tướng đó trở về coi như thắng trận, đánh tan được quân giặc trở về. Thì khi mà trở về thì vua đã hay tin rồi, tại vì cái người mà lính họ đã chạy về trước họ thông báo. Có khi là vua ra tới cổng thành để nghênh đón vị đại tướng thương yêu của mình, có khi là vua đã triệu tập quần thần để ngồi chờ vị tướng quân về.

[19:14]Thì vị tướng quân về sau khi mà buông yên ngựa xuống rồi chạy vào, gửi cái kiếm lệnh, nếu mà cầm kiếm lệnh phải đi vào để dâng lại vua, còn kiếm của mình, cá nhân mình phải cởi ra gửi bên ngoài cổng, chạy vào quỳ xuống trước vua nói câu này: "Muôn tâu Hoàng thượng, nhờ đức của Hoàng thượng mà con đã phá tan giặc, định được bờ cõi." Nói cái câu đó, cái câu đó nói nịnh hay nói thiệt? Không, lúc mấy ông quan nói là nịnh, đúng là thiệt, nhưng mà nó lại là sự thật. Lúc ông tướng nói câu đó là nói nịnh: "Nhờ đức của bệ hạ, nhờ đức của Hoàng thượng mà chúng con đã phá tan được quân giặc. Hôm nay ca khúc khải hoàn trở về." Hoặc là xin tấu công,

[19:53]nói là xin trình công, trình công gồm có những trận đánh này, trận đánh kia, quan nào, chú nào, lính nào coi như là làm được cái gì gì gì đó đại khái báo ra để dâng công, và vua theo đó mà định công mà ban thưởng, đại khái là vậy. Nhưng mà cái câu đầu tiên phải là: "Nhờ đức của Hoàng thượng mà con thắng được giặc." Hoặc là một cái sứ thần cũng vậy. Sứ thần mà khi vua mới sai đi sứ sang kia để mà điều đình, nói: "Bây giờ đó, cứ hai bên buôn bán hục hặc hoài, bên kia đánh thuế thế này, bên ta đánh thuế thế này, việc buôn bán hai nước không thông, làm cho dân tình khổ sở. Bây giờ khanh hãy hãy sang đó điều đình, làm sao mà nó giảm cái thuế của

[20:28]ta, cho người qua lại dễ dàng một chút thì khai thông về cái kinh tế cho nó tốt đẹp." Như vậy, thế là ông sứ thần đó ổng sang, sang đến triều đình hội kiến, bàn bạc, nói năng gì đó không biết, sau đó ông vua ổng chịu, đồng ý là mở mang, khai thông giao thương hai nước. Khi về cũng vậy, cái câu đầu tiên nói là: "Muôn tâu Hoàng thượng, nhờ đức của Hoàng thượng mà hạ thần đã điều đình được thành công thế này thế kia, mở sửa được những điều luật của nước đó ở vùng biên giới, khiến cho hai nước giao thông thương mại được dễ dàng." Cái câu đầu tiên cũng là: "Nhờ đức của Hoàng thượng." Câu đó nói nịnh hay nói thiệt?

[21:03]Nói nịnh, nhưng mà lại rất đúng sự thật. Bởi vì cái đức của ông vua nó liên hệ đến vận mệnh của đất nước. Cái đất nước lúc đó suy hay thịnh, nó lệ thuộc vào cái đức của người lãnh đạo. Nó liên quan, nó tương quan, nó phù hợp với đức của người lãnh đạo, và đây là một sự thật. Thì có thể là ông quan đó ổng không hiểu điều đó, hoặc là ổng không hiểu ổng chỉ nói nịnh thôi, hoặc là ổng hiểu rất rõ về điều này. Nhưng mà câu nói đó là ẩn chứa một sự thật đủ trăm phần. Và cái cái phần mà ta luôn luôn nương đức của cái người lãnh đạo là một sự thật, cũng giống như khi ta tu hành trong Phật pháp, ta đã nương nhờ được thần lực của chư Phật.

[21:43]Hồi xưa Trương Hán Siêu có một bài phú nổi tiếng là bài phú Bạch Đằng Giang. Thì sau khi mà tan giặc thanh bình thì ông Trương Hán Siêu ổng lên làm quan thì do Trần Hưng Đạo tiến cử, vì ông là coi như một cố vấn quan trọng của Trần Quốc Tuấn, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, nên ổng không qua thi cử. Đến giặc tan hết rồi thì Hưng Đạo Đại Vương mới biết đây là con người kỳ tài, thì tiến cử vào luôn cho vua luôn, thì ổng vào làm quan luôn. Khi ổng vào làm quan chức này chức kia vậy, một lần ổng mới đi về ổng thăm lại cái sông Bạch Đằng Giang, sông đó nước cuốn cuồn cuộn cuộn chảy mạnh lắm, ổng đi thăm rồi về ổng mới làm bài phú.

[22:18]Bài phú trong đó nó có mấy cái câu cuối như thế này: "Sông Đằng một dải dài ghê, sóng hồng cuồn cuộn trôi về biển Đông. Những phường bất nghĩa tiêu vong, nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh." Mà bốn câu cuối này làm cho ổng ta thấy hiện lên cái đạo lý: "Anh minh hai vị thánh quân", tức là vua Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, trong cái cuộc chiến tranh đó là công của hai vị vua rất là lớn. "Anh minh hai vị thánh quân, sóng đây rửa sạch mấy lần giáp binh. Giặc tan muôn thuở thái bình, bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao." Tức là ổng cho rằng cái cuộc chiến thắng mà Bạch Đằng Giang, chiến thắng mà ba lần Nguyên Mông vĩ đại như

[22:57]vậy, đừng nghĩ rằng là do cái chiến thuật ta giỏi, cũng đừng nghĩ rằng là cái đất của ta hiểm nên giặc nó khó đánh, mà sự thực chỉ bởi vì cái đức của vua lớn. Cái câu nói rất là xác định, mà khi ổng nói cái câu đó thì ổng cũng phủi công của ổng luôn, vì lúc đó là biết bao nhiêu là tướng, quân, dân mà tham gia cái trận đánh, đánh vào cả cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta vậy, mà Trương Hán Siêu cũng là người góp công rất là lớn trong cái việc mà bàn mưu tính kế lên kế hoạch trước đó biết bao nhiêu năm và lên kế hoạch rất là chi tiết. Nhưng mà khi ổng làm cái bài phú Bạch Đằng Giang này ổng phủi công ổng mất luôn, ổng chỉ nói rằng là:

[23:31]"Giặc tan muôn thuở thái bình, bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao." Không phải do tài, không phải do đất mà chính cái đức của ông vua mới xác định được cái cuộc chiến thắng này. Mà nếu mà nhìn theo nhân quả của đạo Phật thì rất là đúng. Vì nếu mà ông vua ổng đức kém á thì tự nhiên ổng phải mất ngôi, ổng mất ngôi có nghĩa là đất nước ta bị giặc giày xéo và chiếm mất luôn thì ông vua mới mất ngôi. Nhưng mà cái đức của ông vua lớn quá, không ai làm ổng mất ngôi được có nghĩa là đất nước này sao? Không thể bị nô lệ, đúng không ạ? Cho nên, chính cái đức của vua đức vua lớn mà giữ luôn cả cái đất nước này lại luôn, đất nước mình yên luôn.

[24:08]Mà cái nhìn của Trương Hán Siêu thật là một cái nhìn cực kỳ độc đáo thì ta không hiểu là ổng cái nhìn đó từ đâu. Trong Trương Hán Siêu ổng có hai cái nguồn tư tưởng chủ đạo trong người ổng, một là Phật giáo và hai là Nho giáo. Ban đầu thì ổng là học trò của Trần Nhật Duật nên ổng ảnh hưởng Phật giáo, sau đó ổng đi theo Nho giáo rồi cuối đời ổng lại trở lại với Phật giáo, nên người ổng có hai nguồn. Mà cả Nho giáo của Khổng Tử dạy cũng đều nhấn mạnh cái đức của người lãnh đạo, nghĩa là của vua, mà trong đạo Phật cũng vậy, cái đức của người lãnh đạo rất là quan trọng. Và chính vì cái đức của người lãnh đạo mà toàn dân được được hưởng thái bình.

[24:43]Giống như là đời vua Lê mạt, tới cái đời cuối vua Lê của triều đại Lê rồi, lúc đó chúa Trịnh đã nắm quyền hoàn toàn, thì có vua Lê Hiển Tông, thì ổng không có quyền gì cả tại vì chúa Trịnh nắm quyền hết. Nhưng mà lúc đó chúa Trịnh là muốn hất luôn cái triều đại vua Lê để lên làm vua luôn, nhưng mà cứ nấn ná nấn ná không dám, vì Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bảo rằng là: "Thờ Phật thì mới được ăn oản", nghĩa là hễ ngày nào mà ổng còn thờ vua Lê thì ổng còn sống, mà ổng ngày nào mà ổng dã tâm ổng cướp luôn ngôi của vua Lê là ổng ổng mất chỗ sống luôn. Nghĩ vậy mà các đời chúa Trịnh cứ dùng dằng dùng dằng không dám đụng chạm tới vua Lê.

[25:18]Thì một lần đó khi mà đưa vua Lê Hiển Tông lên ngôi cũng vậy, thì chúa Trịnh cũng cứ phân vân phân vân, nhưng mà đêm đó mọi người thấy có một ông chúa Trịnh ổng nằm mơ ổng thấy là nhạc trời tấu trên hư không, hoa trời bay phất phất giữa cuộc đời, sáng ra ổng hỏi ổng nói: "Không, Lê Hiển Tông này đức lớn quá không được đụng tới." Mà đúng như vậy, lạ là vào cái đời khi mà Lê Hiển Tông lên ngôi vua, mặc dù ổng chẳng có quyền gì cả tại vì chúa Trịnh nắm quyền hết, đất nước ta lúc đó lại rất là thanh bình, mùa màng lại được trúng, nhân dân lại được no ấm. Qua những điều đó người ta thấy là cái đức của người lãnh đạo nó rất là quan trọng.

[25:55]Vì vậy mà đời xưa, khi một vị mà họ lên ngôi vua mà nếu họ hiểu được những đạo lý này, họ tu dưỡng giữ mình rất là kỹ, chứ không có dám buông lung. Chỉ có những vị vua mà không có ý thức điều này, không thấy được cái đức của mình ảnh hưởng đến cái sự sướng khổ của nhân dân thì mới dám là chơi bời hưởng lạc tầm bậy tầm bạ, còn không thì ai cũng hết sức là ráng giữ mình nghiêm túc. Vì đâu có biết rằng là trời sẽ đổ cơn mưa hay là sẽ khô hạn, mùa màng sẽ trúng hay thất lại là do cái đức hạnh của mình. Nghĩ vậy sợ nên không dám. Có nhiều khi mà trời hạn hán thì vua phải sao? Phải trường trai, giữ giới ra ngoài giữa đất trời mà tế lễ đất trời để cầu xin

[26:39]cho mưa xuống cho dân, vì biết rằng mất mùa hạn hán lại là lỗi của mình. Đó cái hệ trọng như vậy. Ờ bây giờ thì cái nhiệm kỳ ngắn, cho nên ta không cảm nhận điều này, nhưng mà thật sự là bất cứ cái tổ chức nào, cái đức của người thủ lĩnh là là vô cùng quan trọng. Bây giờ ta bước vào đạo Phật cũng vậy, trong cái sự tu hành của ta, trong cái công phu của ta đều là nương nhờ thần lực của Phật hết. Ta ăn chay được, ta giữ giới được, ta thiền định được, ta làm bao nhiêu điều phước đức, đời sống ta được yên bình để được tu tập cũng được đều là nương thần lực của chư Phật. Phải hiểu như vậy, hiểu như vậy không có nghĩa là

[27:18]ta ỷ lại cầu xin, nó khác với cái ỷ lại cầu xin. Nó có hai cái cực đoan: một cái cực đoan á là ta nghĩ cái việc tu của ta là của ta, do chính ta, đó là một cực đoan; cái cực đoan thứ hai là cái việc tu của ta là do Phật sắp xếp, cho nên ta phó mặc cho Phật, đó là cực đoan thứ hai là sai lầm. Đạo lý là chính là cái sự trung đạo, cái sự nỗ lực của ta phải cộng với sự gia hộ của chư Phật thì ta mới thành tựu được cái công phu tu hành của mình. Nhớ vậy. Là dù cái người cái người xuất gia thì cái công phu tu hành gọi là phải ráo riết, miên mật vì đã bỏ đời rồi để đi vào đạo rồi. Từng ngày mình mặc cà sa ở trong cái khung cảnh tu hành

[28:01]của chùa thì coi như là cái sự tu hành ráo riết. Còn người cư sĩ tại gia thì việc đời đã chiếm gần hết thời gian của mình, mình phải biết bao nhiêu là bổn phận phải lo toan, phải lo việc đời và trích lại cái phần rảnh để ta dành sức tu tập. Khi mà ta tu tập mà biết vừa nỗ lực, biết cầu nguyện sự gia hộ của chư Phật bỗng nhiên cái đạo lý, cái sự tu hành của ta nó chiếm dần chiếm dần hết tất cả cái thời gian còn lại của ta. Nói như vậy nghĩa là sao? Nói vậy nghĩa là thế này: ví dụ như ta phải lo toan chăm sóc gia đình thì ta xem đó là việc đời, ta phải vào cơ quan làm việc, ra ngoài đi mua bán làm ăn, đó là việc đời.

[28:40]Ta phải ngoại giao, ta phải giao tế tiếp xúc với bao nhiêu con người, đôi khi phải dự tiệc tùng thế này thế kia, đó là việc đời, việc đời chiếm hết. Rồi bây giờ ta còn một ít thời gian rảnh rảnh ngày chủ nhật, thứ bảy vậy đó ta đến chùa một chút, thì còn ít thời gian để dành cho sự tu tập. Thì trong một ít thời gian dành cho sự tu tập đó, ta tinh tấn, ta nỗ lực và cầu nguyện Phật gia hộ thì nếu mà tính theo tỷ lệ thì ta tu có chút xíu à, cái thời gian dành cho sự tu hành có chút xíu à. Nhưng cái sự tu hành của ta nó tốt lên từ từ bởi sự gia hộ của chư Phật, bỗng nhiên cái sự tu hành nó lấn dần lấn

[29:14]dần vào những lúc mà ta gọi là việc của thế gian. Bây giờ ta lo cho gia đình ta, ta cứ ngỡ là việc thế gian nhưng không, bây giờ hết rồi bắt đầu biến thành việc tu luôn rồi. Trong cái việc mà ta đối xử với gia đình của mình, ta thương yêu vợ, chồng mình, con cái mình, cha mẹ mình, ta chăm sóc họ, ta nói với họ từng lời không phải việc đời nữa mà đó là việc đạo luôn, bắt đầu đó là việc tu luôn. Cái việc tu nó lấn dần vào trong cuộc sống của ta. Rồi ta đi vào cơ quan ta làm việc với đồng nghiệp, ta lo công việc cho cơ quan, cho tập thể nhưng nó cũng không phải là việc đời nữa, bắt đầu việc đạo đi luôn vào đó rồi.

[29:46]Ta làm với tất cả tấm lòng yêu thương của mình với mọi người, với tất cả tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy, tức là cái đạo lý đi vào trong cuộc sống ta luôn rồi. Hoặc là ta bước ra ngoài ta buôn bán, trong cái buôn bán của ta không còn có cái tham lam như lúc trước mà tìm cái lời cho nhiều nữa, mà ta buôn bán lúc ta hiểu rất rõ đây là sự phụng sự, ta tạo ra một dịch vụ để phụng sự, ta lấy lời vừa chừng và trong cái sự cạnh tranh của cái thương trường đó ta biết lúc nào nên nhường nhịn, lúc nào nên cứng rắn là đạo nó đi luôn vào cuộc sống của ta hết. Rồi những lúc mà ta phải xã giao, phải giao tế, phải tiếp xúc, nhiều khi phải tiệc tùng,

[30:21]lúc trước đó là việc đời bây giờ việc đạo đi luôn vào đó, là khi có một cơ hội nào gặp gỡ ai thì ta cũng chỉ nói những điều đạo lý, khuyên răn những điều tốt đẹp, gieo cái duyên lành để mà đưa Phật pháp đến với mọi người. Và như vậy ta cứ tưởng là hết 90% là việc đời chỉ còn 10% là việc đạo, nhưng do ta cố gắng tu tập, do ta biết quỳ lạy cầu nguyện xin Phật gia hộ thì bỗng nhiên đạo lý nó lấn hết vào trong cái 90% còn lại. Mà lúc này cái người cư sĩ tại gia này bỗng nhiên hầu như cả cuộc đời của mình, toàn thời gian của mình đều là đạo lý cả, không khác gì người xuất gia. Như vậy cuộc sống có đẹp không ạ? Rất là đẹp phải không?

[31:02]Toàn thời gian của mình giờ phút nào cũng là giờ phút của đạo thì ta sống rất là đẹp và rất là hạnh phúc. Thấy mình là đời nhưng mà đạo nằm trong đó. Còn cái người xuất gia thì hẳn nhiên rồi, phủi tóc, mặc áo cà sa hằng ngày sống chung quanh toàn là Phật với Bồ Tát, mọi thứ kinh kệ đều vang lên đây, nên là hết sức là cố gắng mà được như vậy cũng là cái duyên phước của nhiều đời, cũng là sự gia hộ của chư Phật. Như thầy nhớ giống như hồi khi mà thầy được vào chùa cũng vậy, đêm đó nằm mơ thấy có một cái lễ đài ở ngoài trời, mình cũng là một người cư sĩ đứng đó làm lễ, chợt ở trên trời có một bà già bả bay xuống bả nắm tay bả

[31:42]kéo lên trên cái lễ đài chỗ của người xuất gia đứng, bả nói: "Cậu ăn chay thôi cậu đứng đây." Thế là sáng ra giật mình tỉnh dậy biết là duyên xuất gia đã tới, vào chùa lễ Phật rồi bỏ đi luôn, là xuất gia luôn. Lúc đó ta hiểu rằng ta được xuất gia sự thật là có sự gia hộ của chư Phật, chứ không phải là cái ý muốn riêng của mình. Vì vậy là được xuất gia cái nhân quả, cái duyên phước của nhiều đời mà cũng là sự gia hộ của chư Phật. Quý Phật tử vậy, bây giờ mình còn nặng nợ đời, còn ngồi đây nhưng trong lòng mình lúc nào cũng nghĩ đến một ngày nào đó mình cũng phải được làm sao? Được xuất gia, chứ không thể sống ngoài đời mãi đâu.

[32:20]Này thầy nói thật á, nói nghiêm túc á. "Thế gian này là biển khổ mênh mông sóng ngợp trời, khách trần chèo một chiếc thuyền chơi. Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió, xem lại cùng trong bể khổ thôi."

[32:36]Chỗ thế gian không phải là chỗ ta tham đắm, mà bến bờ tu hành giải thoát mới là chỗ ta chỗ ta hướng về. Tuy bây giờ ta còn là người thế tục nhưng phải nghĩ đến một ngày ta phải xuất gia. Ai cũng phải vậy cả, nha. Rồi khi mà một người tu tập lâu năm, bắt đầu Phật mới giao cái công việc cho người đó làm. Hoặc là người đó là người xuất gia thì Phật giao cho người đó phụ cất cái chùa này, độ cho cái số Phật tử kia, thuyết pháp cái bài nọ, vân vân, nhiều việc, có khi làm việc trong giáo hội. Hoặc là cái người cư sĩ tại gia thì tự nhiên khiến Phật gia hộ cho mình đến chùa mình phụ việc với quý thầy trong cái việc mà giáo hóa chúng

[33:18]sinh, xây dựng chùa viện, hoằng truyền chánh pháp, vân vân. Lúc đó là tự nhiên ta có việc phải làm ở trong đạo. Những cái việc mà làm như vậy ý ta khởi lên cái muốn, ta thích, hoặc là bất ngờ quý thầy giao cho ta, huynh đệ giao cho ta cũng đều là những cái Phật sự nằm trong cái sự phân công của chư Phật. Và lúc đó khi ta làm những điều đó, ta nương theo thần lực của chư Phật mà làm, chứ đừng bao giờ chủ quan làm theo ý mình. Đừng bao giờ chủ quan là tưởng đó là việc riêng của mình rồi làm của ý mình thì sẽ phạm sai lầm. Ta ví dụ như là có một cái đạo tràng rồi thầy giao cho ta làm chúng trưởng, chúng phó thì ta phải hiểu đây là cái duyên của trời,

[34:05]Phật giao cho ta mà ta cố gắng làm cho tận tụy, làm cho được việc, có lợi ích cho huynh đệ mà không nghĩ đó là cái công lao của mình. Hoặc là quý thầy ta vậy, xây được một ngôi chùa lên cũng không nghĩ rằng cái chùa này là do công sức của mình, mà đây là do Phật gia hộ nên đàn na tín thí phát tâm cúng dường. Lúc nào cũng nghĩ như vậy và mình chỉ là một cái duyên trung gian để làm cho Phật pháp nảy nở, phát triển. Nhớ như vậy. Ai cũng nghĩ mình là một cái duyên trung gian mà được Phật đặt vào trong đó, nên ta nối kết được với con người với nhau, ta nối kết được con người với Phật pháp, ta nối kết Phật pháp về với con người và đó là một cái duyên.

[34:47]Trong cái duyên đó ta tận tụy, ta gắng sức mà không bao giờ nghĩ là cái gì là của mình. Còn cái người mà không biết đó, ta si mê, không đủ trí tuệ, mỗi khi mà độ được một người nào về với Phật thì ta lại cứ tự khen mình, nói: "Năm nay tôi đã độ được 10 người về chùa quy y, tôi đưa được 50 huynh đệ về chùa quy y", thì những cái mà khoe khoang hay chấp công như vậy làm cho ta xa Phật dần dần. Còn nếu ta hiểu, ví dụ đợt đó ta đưa được 70 người về chùa quy y Tam Bảo, thì ta nghĩ: đây là do Phật độ ta, nên khiến ta kết nối được giữa con người về với Phật pháp, mà ta ta được Phật độ thôi, chứ không phải là do cái miệng mình giỏi,

[35:28]nói hay, hay là mình dễ thương, khả ái, không phải, mà sự thật là Phật độ ta. Ta mới làm được những điều này. Hoặc là ta kêu gọi được huynh đệ, phụ thế có người nó kêu được, có người phát tâm tới cả 500 triệu xây được cả ngôi chùa lên, thì cũng nghĩ rằng: đây là Phật độ cho ta khiến cho ta gặp được một cái người, một cái nhà hảo tâm lớn, và cái người này họ lại phát tâm lớn cái tiền của họ, xây nên cái chùa của quý thầy, còn ta chỉ là cái duyên trung gian, quên đi. Chứ còn không hiểu thì nói là: "Trời, thầy xây cái hậu cung đó, cái nhà tổ đó, thực sự là do tôi quyến hóa mà có thể tới được năm, có người đã cúng được 500 triệu".

[36:08]Mình nói là do tôi, bởi tôi thì cái đó là cái mà ta không biết rằng mình đã được Phật gia hộ, mà cứ nói lại cho mình. Mà khi nói về cho mình rồi thì lần sau Phật không gia hộ nữa, ta làm đâu thất bại đó. Nhớ như vậy. Khi mà ta làm đâu thất bại đó thì phải biết rằng là Phật không gia hộ ta nữa, bởi vì ta cứ kiêu mạn, tưởng là việc gì cũng là do mình. Còn người nào hiểu được rằng ta đang sống trong hào quang gia hộ của chư Phật, làm gì cũng được Phật dìu dắt, gia hộ thì ta không có kiêu mạn, rồi Phật giao việc cho ta tiếp, ta sẽ làm nữa. Còn nếu ta kiêu mạn, Phật không giao nữa là ta không có việc làm là

[36:46]thất nghiệp á, không có việc làm nên không tạo nên được công đức. Còn khi ta hiểu rằng mọi việc ta được Phật gia hộ cho nên lòng ta rất là khiêm hạ, lúc nào cũng yêu kính mọi người, tôn kính chư Phật thì Phật lại tiếp tục giao việc cho ta làm nữa. Nên quý Phật tử nghiệm cái điều đó mà hiểu mọi việc trong đời sống này. Khi mà khi ta hiểu cái điều đó, tức là ta đang gieo cái nhân vô ngã, là không thấy có ta. Mà đạo Phật là đạo đi tìm cái sự vô ngã, không thấy có cái ta, không có cái tôi. Khi ta làm điều gì thì ta cũng nghĩ là ta nương thần lực của chư Phật, không phải là do cái hay của mình. Người đó cũng không có cái tôi, người đó cũng gieo cái nhân vô ngã.

[37:33]Mà gieo cái nhân vô ngã thì sau này sẽ chứng được vô ngã, mà chứng được vô ngã tức là chứng A La Hán, tức là thành Phật, thành Bồ Tát là bởi cái vô ngã này. Mà để có được cái vô ngã vĩ đại của A La Hán, của Phật, của Bồ Tát thì bây giờ ta phải gieo cái nhân vô ngã, và cái nhân vô ngã là trong cái ý niệm của ta suy nghĩ thôi. Từ khi ta nói một bài pháp, từ khi ta làm được một việc Phật sự, ta gieo được một cái duyên lành đến với chúng sinh, ta hoằng truyền được chánh pháp ra ngoài rộng rãi thì phải hiểu rằng không phải bởi ta mà bởi thần lực của chư Phật. Cái ý niệm đó tức là cái nhân vô ngã mà ta gieo được trong lòng mình.

[38:11]Thì cái người mà vô ngã thì nó phát sinh ra một cái hệ quả đó là hạnh khiêm hạ, khiêm tốn. Cái người đó không có kiêu mạn, không có thấy mình hơn người và gặp ai cũng thấy quý kính. Vì không nghĩ mình hay thì tự nhiên mình yêu thương được, mình quý trọng được mọi người. Còn khi mà nghĩ rằng mình hay rồi thì tự nhiên mình xem thường mọi người, do mình trở nên kiêu mạn, và kiêu mạn xem thường mọi người rồi thì bao nhiêu công đức mình tan vỡ, tâm hồn mình tan vỡ, hư hỏng và sự nghiệp của mình gãy luôn. Nhớ như vậy. Cái kiêu mạn rất đáng sợ, kiêu mạn rất đáng sợ. Như có lần về chúng tôi gặp một cái cô Phật

[38:50]tử, cô có than về người chồng của mình. Thì cô cũng khá giỏi, nói: "Chồng con ổng rất là giỏi, thế mà suốt 30 năm qua ổng không làm được điều gì, con cứ phải nuôi ổng không". Nghe hiểu liền. Hiểu cái gì? Chính vì ổng giỏi nên ổng xem thường mọi người, ổng khinh thế ngạo vật, cứ nghĩ trên đời này không ai bằng mình. Và bỗng nhiên ổng thất bại luôn, suốt 30 năm không làm ra được một đồng nào để nuôi vợ, nuôi con và phải sống nhờ vợ con. Chỉ bởi vì kiêu mạn, chứ còn cái tài giỏi của ổng dư sức để làm ra tiền nuôi vợ, nuôi con, rất là lạ. Nên là ta hiểu được khi ta làm cái gì ta cũng nương đức của chư

[39:28]Phật thì ta đạt được cái vô ngã, ta gieo được cái nhân vô ngã. Mà đã có vô ngã rồi cái nó phát sinh ra cái tâm khiêm hạ. Mà khi cái tâm khiêm hạ nó có thì ta yêu quý được mọi người. Ta nhìn ai ta cũng thấy cái hay của họ để ta quý trọng. Bây giờ giữa những Phật tử với nhau như thế này, khi ta nhìn nhau, ta không biết ai là ai hết, nhưng mà nếu tâm ta có sự khiêm hạ thì ta nhìn người nào ta cũng tìm thấy cái ưu điểm người đó để ta quý trọng. Còn nếu cái kiêu mạn nó che tâm ta rồi thì ta nhìn ai ta cũng thấy điểm dở để ta xem thường. Mà đã xem thường rồi cái nhân quả nó trở lại cuộc đời ta cũng trở thành tầm thường luôn. Nhớ như vậy.

[40:07]Khi ta xem thường người khác thì tự nhiên cuộc đời ta cũng sẽ trở thành tầm thường luôn, con người ta cũng trở thành tầm thường luôn. Còn khi mà ta nhìn thấy mọi người, ta nhìn người bạn bên này, người em bên kia, ta đều thấy điểm hay nào đó để ta quý trọng, tự nhiên con người ta, chính bản thân của ta sẽ phát triển lên dần dần. Nên cái khiêm hạ nó được cái phước như vậy. Mà muốn có cái khiêm hạ đó ta phải có cái vô ngã. Mà muốn có cái vô ngã thì ta phải luôn luôn có cái ý niệm rằng: trong cuộc đời mình, mỗi khi làm được điều gì thật sự là bởi đức của ai đó, mà rõ ràng nhất là nương vào cái thần uy của chư Phật mà làm.

[40:45]Thật sự lát nữa thì ta sẽ nói ta còn nương đức nhiều người lắm, mà trước hết ta là đệ tử Phật thì ta nương đức của Phật mà làm mọi việc. Thì khi một người vô ngã đạt được cái khiêm hạ thì họ xuất hiện một cái hệ quả là sự hòa đồng, sự hòa đồng. Nghĩa là khi họ sống với mọi người, họ tan biến trong mọi người luôn. Chúng ta nghe câu này nhận ra không ạ? Khi ta sống với mọi người, do ta có cái vô ngã nên có khiêm hạ, và có khiêm hạ nên ta tan biến giữa mọi người nó mất luôn. Nghĩa là sao ạ? Ai hiểu được cái chỗ mà ta tan biến vào với mọi người luôn? Một thiền sư có nói câu này: "Vào rừng không khua lá, vào nước không dậy sóng."

[41:30]Ví dụ như là một con người bình thường vậy đó. Ta băng vào trong rừng, mà cái rừng ngày xưa rậm lắm chứ không còn rừng thưa như bây giờ. Ta vào là sao? Cây lá xột xoạt, xột xoạt. Ta xô cành này, ta bẻ cành kia để ta chui qua, lách lại. Thì như là một con vật hay là một cái người trong rừng cái họ nghe sột sột sột sột sột sột là biết là con người đi vào, vạch lá vạch gai để đi vào trong rừng. Tức là người đó vào rừng khua lá. Nhưng mà có cái người họ vào rừng êm đến nỗi mà khi vào rừng không nghe lá động, không khua lá. Hoặc khi ta vậy, mỗi lần ta xuống nước, ta nhảy xuống cái ầm, sóng nghe cái ầm một cái thôi, lăn tăn lăn tăn thôi.

[42:03]Còn có người nào họ êm đến nỗi mà họ nhảy xuống nước rồi mặt hồ vẫn yên tĩnh, không gợn sóng. Tức là vào rừng không khua lá, vào nước không gợn sóng. Ở đây ta nói khi một người mà được cái hạnh khiêm hạ họ sống với mọi người, họ tan vào trong mọi người mất luôn, gọi là sự hòa đồng. Ta hình dung ra điều đó không? Ta hình dung ra một người mà khi sống với mọi người tan mất vào trong mọi người để gọi là sự hòa đồng không? Hình dung ra không? Có cần phải diễn tả kỹ không? Có cần không? Có thể ta cần phải diễn tả kỹ, nhưng không nên diễn tả ở đây nha. Mỗi người ta về nhà ta suy nghiệm điều này. Ta suy nghiệm cái điều mà ta sống như thế nào

[42:46]ở trong tập thể, ta vào trong cộng đồng, vào trong các huynh đệ tu tập, ta mất tiêu luôn. Không ai thấy mình nữa. Mất luôn, tan biến trong đó luôn, hòa đồng trong đó mất luôn. Sống như thế nào để được cái điều đó là ta rất là dễ tu. Người đó rất dễ đắc đạo. Mọi người đang ngồi đây hầu hết là mọi người đang hòa đồng. Tại không ai nói điều gì, mọi người tâm đang rất là lắng lòng, thành kính, thanh tịnh. Trong giây phút này, mọi người đang biến mất, không còn ai tồn tại, chỉ có một người đang tồn tại là lải nhải nói hoài nãy giờ. Cái người này không có hòa đồng được. Người này hư lắm nha, chứ còn mà bao nhiêu người khác

[43:26]thì đang rất là thành kính, thanh tịnh, lắng lòng. Nhớ vậy đó. Nhưng mà sau khi mà một lát hết cái hồi pháp hội này thì ta còn tiếp tục thành kính, lắng lòng, thanh tịnh, hòa đồng biến mất không? Hết, lát nữa bắt đầu ta quậy rồi nha. Tại vì người này yên lặng, à ha, tại vì người khác quậy. Thầy nói cho vui. Nhưng mà ta hình dung cái mà một người khi mà được cái vô ngã, được tới cái khiêm hạ bắt đầu đạt được cái hòa đồng. Tức là mình sống chan hòa giữa mọi người mất luôn. Ta nhớ cái câu này, ta nhớ hình ảnh mà thầy vừa nói để phấn đấu tu cho được như vậy, sống cho được như vậy. Không thấy mình nổi trội lên giữa mọi người mà thấy mình tan mất giữa mọi người.

[44:07]Nhớ cái hạnh này rất là quan trọng. Để làm chi vậy? Để làm chi vậy? Để đi tới cái giai đoạn thứ tư là ta hợp nhất cùng chư Phật. Khi một người chứng được đạo, đạt được thiền định thâm sâu, bản ngã tan vỡ hoàn toàn không còn nữa thì người đó trở thành duy nhất với chư Phật, trở thành duy nhất với tất cả chúng sinh. Đó là lý thuyết. Đó là cái lý tưởng, đó là mục tiêu của ta tu tập. Dĩ nhiên giờ này thì chưa ai đạt được điều đó cả, nhưng ta biết đó là mục tiêu ta đi tới. Đi tới cái chỗ là khi ta tan vỡ hết bản ngã, ta hòa đồng vào khắp nơi, đến một ngày ta chứng đạt được Niết bàn thì ta trở nên hợp nhất,

[44:50]duy nhất với chư Phật và với tất cả chúng sinh. Người đắc đạo hợp nhất với chư Phật, trở thành duy nhất với chư Phật thì ta nghe chấp nhận được. Nhưng mà người đó cũng trở thành tất cả chúng sinh, ta nghe thấy hơi khó hiểu phải không? Tại vì chúng sinh rất là lộn xộn. Chúng sinh thì tham, sân, si. Như thế thì tại sao một người đắc đạo lại trở thành hợp nhất duy nhất với tất cả chúng sinh? Như vậy cái người đó cũng tham, sân, si sao? Là sao ạ? Chỗ này nó hơi khó hiểu nhưng ta nên biết một chút. Bởi vì đó là mục tiêu mà ta phải đi tới, cho nên ta phải biết một chút. Cái bước thứ nhất là vô ngã nè.

[45:27]Biết rằng mình nương được thần lực của chư Phật, cho nên đó là ý niệm vô ngã. Nhờ ý niệm vô ngã này, ta đạt được cái tâm khiêm hạ, hiền lành. Nhờ cái khiêm hạ, hiền lành này ta được cái thứ ba là ta sống hòa đồng với tất cả chúng sinh. Và nhờ cái tâm hòa đồng với tất cả chúng sinh này mà ta tu riết đến khi đắc đạo thì ta đạt được cái thứ tư là ta hợp nhất được với chư Phật và cũng hợp nhất với tất cả chúng sinh. Cái người đắc đạo rồi hợp nhất với chư Phật, đồng ý, tại vì thánh với thánh là một. Thánh với thánh là hợp nhất đúng rồi. Nhưng mà tại sao lại hợp nhất với chúng sinh trong khi chúng sinh là tham, sân, si?

[46:00]Mà cái người đắc đạo thì không tham, sân, si. Thế tại sao cái người không tham, sân, si lại hợp nhất với người còn tham, sân, si? Chỗ này khó rồi, nhưng mà ta phải hiểu. Thật ra á, nói hợp nhất á là không phải là hợp nhất trong cái tham, sân, si, mà vì thánh không còn thấy mình khác với ai nữa cả. Như bây giờ ta đứng bên cạnh nhau thì ta thấy là mình với cái người bên cạnh khác nhau. Cái người kia cao, mình là thấp; người kia đẹp là mình xấu; người kia giàu, mình nghèo; người kia mặc đồ đẹp á, mình mặc đồ dở hơn. Cứ mình cứ thấy hai cái khác nhau. Nhưng mà khi một bậc thánh đắc đạo rồi, họ không thấy cái khác đó nữa.

[46:40]Họ không thấy cái khác. Mặc dầu cái khác vẫn còn khác á, nhưng mà họ không thấy, tâm họ không thấy nữa. Cái sự phân biệt nó biến mất á. Và chính vì nó biến mất rồi nên họ thấy chúng sinh cũng như mình thì lúc cái lòng đại bi thương yêu tự nhiên xuất hiện dù không nói thương. Dù không nói thương. Khi cái người đó chính là mình thì mình có cần nói thương không? Nhưng mà có thương không? Có. Đó là cái đại bi đó, đó là tâm đại bi. Nó khác với cái mà ta yêu thương chúng sinh như là nào giờ ta học. Ví dụ bây giờ là ta học cái hạnh từ bi mà Phật dạy, thế là ta phải ngày đêm ta quỳ trước bàn Phật, xin Phật gia hộ cho con trải lòng yêu thương tất cả chúng sinh. Đúng không ạ?

[47:19]Hiện nay là ta đang tu như vậy. Có ai không tu như vậy không? Nghĩ chứ nhiều người không có nguyện câu này nữa nha. Mỗi ngày nhớ nha, ta phải quỳ trước Phật ta nguyện: "Xin Phật gia hộ cho con trải lòng yêu thương tất cả chúng sinh." Ai có nguyện câu này mỗi ngày giơ tay lên thầy coi để thầy chấm điểm thầy cho 10 điểm. Đừng có ăn gian giơ tay lên rồi nha, không có là không đưa à. Rồi thầy cảm ơn mấy người có đưa. Còn những người mà không đưa thì sao ạ? Hư lắm, nha, hư lắm. Tu mà không nguyện lòng yêu thương chúng sinh là hư lắm. Nên vì vậy là nhớ là mỗi ngày ta phải quỳ trước Phật, nguyện lòng yêu thương chúng sinh.

[47:59]Nhưng mà yêu thương như vậy là có người yêu thương và có người được yêu thương, hai người đó khác nhau. Đúng không ạ? Còn khi một bậc thánh rồi, họ mất cái bản ngã, họ không thấy họ với chúng sinh khác nhau, nên họ không hề nói yêu thương, nhưng mà đó là yêu thương. Ta nhận ra điều này không ạ? Cái đạo lý này rất là rất là khó hiểu nhưng mà rất là rất là vi diệu, phải không? Rất là tuyệt vời. Không hề nói yêu thương nhưng mà yêu thương tràn ngập, vì người đó chính là mình. Đẹp không ạ? Đạo lý đạo Phật là như vậy. Nên đó là lý do mà tại sao ta đi mãi trong đạo Phật mà ta không chán là vì cái giáo lý đạo Phật quá tuyệt vời.

[48:36]Cứ càng đi sâu là càng mở ra, càng đi sâu là càng mở ra những điều vi diệu mà ta không bao giờ hiểu nổi. Đây là ta tự khen mình, nhưng mà cái lời khen rất là đúng. Như hôm đó vậy, có lần có một số Phật tử đến thăm chúng tôi, rồi mới nói rằng nói: "Thưa thầy, đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy người ta ăn hiền ở lành." Nói: "Đúng, đạo nào cũng dạy ăn hiền ở lành ở buổi ban đầu." Ban đầu đạo nào cũng dạy ta ăn hiền ở lành cả, nhưng mà khi vô sâu hơn nữa thì có một số đạo đứng lại hết đường đi. Không biết đi đâu nữa, nhưng mà đạo Phật thì không, đạo Phật cứ đi vào là càng con đường mở ra, cứ đi vào là con đường lại mở ra, giáo lý cứ càng mênh mông, vi diệu, bất tận.

[49:15]Như hồi nãy ta nói với nhau là ta nương thần lực của chư Phật để ta được cái khiêm hạ, ta được cái vô ngã. Nhưng không ngờ đi lần đi lần nó tới cái đại bi mà cái lòng yêu thương từ bi đó thật là vi diệu, không thể nói bằng ngôn ngữ được. Cái ngôn ngữ ta diễn tả cái gì? Ngôn ngữ chỉ là diễn tả cái này: "Tôi thương yêu mọi người." Hết chuyện. Và như vậy có nghĩa là tôi và mọi người khác nhau ạ, phải không? Có người thương và có người được thương. Nhưng còn cái lòng đại bi của chư Phật, của chư thánh thì không hề nói yêu thương mà yêu thương tràn đầy vì thánh và phàm là một. Người bậc thánh đó với tất cả chúng sinh là một,

[49:51]nên nó xuất hiện một cái tình, ta không biết kêu tình gì mà ta đặt là đại bi. Không nói yêu thương mà yêu thương tràn ngập. Cái đó ngôn từ diễn tả được không ạ? Không, không diễn tả được, không biết kêu cái gì. Chỉ có bậc chứng đạo thì họ hiểu điều đó thôi. Còn ta bây giờ nghe ta hiểu lờ mờ và ta và ta ta ngưỡng vọng vô cùng. Ta biết rằng con đường của ta là đi tới là như thế, đẹp vô cùng. Và đạo Phật là như vậy, cứ đi tới chừng nào thì chân lý mở ra chừng nấy, đi tới chừng nào những điều vi diệu phát hiện thêm chừng nấy, không bao giờ bao giờ cùng tận. Nên nói rằng khi một người khi ta hiểu được cái ý niệm ta làm điều gì ta

[50:26]cũng nương thần lực của chư Phật thì tâm ta đã gieo cái hạnh vô ngã. Từ cái vô ngã này ta xuất hiện cái đạo đức khiêm hạ. Nhờ cái đạo đức khiêm hạ này ta sống chan hòa với mọi người, ta sống hòa đồng được với mọi người. Mà khi chứng đạo rồi thì trở thành sự hợp nhất, hợp nhất với chư Phật. Trên thì hợp nhất với chư Phật, dưới thì hợp nhất với tất cả chúng sinh. Mà ở đây là nói là hợp nhất với chúng sinh nhiều người không hiểu, cho nên là chư tổ đã nói cái câu nè: "Trên hợp với chư Phật trong một thể tánh, dưới hợp với tất cả chúng sinh trong lòng từ vô tận." Là như vậy. Hợp với chúng sinh trong lòng từ vô tận là bởi vì mình với chúng sinh không khác nữa.

[51:05]Khi mà nói mình với chúng sinh không khác, bỗng nhiên đó là sự yêu thương. Sự yêu thương bởi vì không còn khác nhau nữa. Đây rất là rất là đẹp, rất là hay. Bây giờ cái người tu thì hiểu là như vậy. Bây giờ ta là Phật tử tại gia thì ta thứ nhất là ta nương đức của ai ạ? Kể ra coi. Phật thì đương nhiên nãy giờ ta nói nhiều rồi. Bây giờ ngoài là nương thần lực của chư Phật, ta còn nương cái đức của ai nữa? Thứ nhất là ta nương đức của Quốc Tổ ta, phải không? Đó, ta là con dân nước Việt thì chắc chắn là ta hưởng được cái đức của tổ tiên ta, từ Quốc Tổ ta, từ đời Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân cho tới các vị

[51:43]Vua Hùng truyền đời bao nhiêu vị vua, bao nhiêu vị anh hùng. Đó là cái thứ nhất ta nương cái đức. Gần nhất trong gia đình ta, ta nương đức của ai? Ông bà ta. Gần nữa là ai? Cha mẹ ta, đúng vậy. Và nếu ta đi làm thì ta nương đức của ai? Lãnh đạo của cơ quan. Nên cái người lãnh đạo cơ quan quan trọng lắm á. Mà nếu ta chọn người lãnh đạo sai hay là mình xui mà gặp nhằm cái ông lãnh đạo ổng hơi bê bối là cơ quan mình sẽ vất vả và bản thân mình cũng vất vả. Cho nên cái người lãnh đạo phải là người tu thì cơ quan mới yên ổn. Còn cái người lãnh đạo đất nước phải sống như ông thánh, đất nước mới khá được.

[52:19]Nhưng bây giờ đòi hỏi lãnh đạo đất nước mà sống như ông thánh thì chắc không ai lãnh đạo nổi, phải không? Khó làm thánh. Khi ta đến chùa thì ta nương đức của ai? Thầy trụ trì của mình, thầy bổn sư của mình. Rồi mà cái chùa đó thì nương đức của ai? Của giáo hội, của một giáo hội chung, người lãnh đạo giáo hội chung. Nên khi nào mà người lãnh đạo giáo hội tốt thì ta sẽ thấy giáo hội được phát triển, đạo Phật được phát triển. Nên vì hễ là người lãnh đạo thì cái trách nhiệm mình rất là rất là nặng, rất là nặng là vậy. Vì cái đức của ta tự nhiên trở thành chỗ nương tựa của mọi người, mà cái duyên mà ta lãnh đạo, tự nhiên ta đứng vào vị trí đó.

[53:00]Nên là nhiều khi ta ca ngợi một vị thầy nào đó ta hay nói câu này: "Thầy là bóng cây che mát đời con. Thầy là ánh sáng dắt dìu đời con." Là vậy. "Xin thầy là cho là bóng Bồ đề cho chúng con nương tựa." Phải không? Đó, cái câu đó nói rất là chính xác. Khi một cái người lãnh đạo tự nhiên họ trở thành chỗ dựa, quan trọng. Nhưng mà cái người lãnh đạo họ là chỗ dựa nên họ phải tu thân tích đức, nhưng mà đồng thời họ phải phát huy cái thế mạnh của của quần chúng. Ở trong đây, Đức Phật hay đạo Phật cũng nói câu thế này: "Đức chúng như hải." Cái đức của số đông nó cũng lớn như là biển cả vậy. Mà cái người lãnh đạo tốt là người xây dựng được cái đức của cái số

[53:47]đông đó phụ với mình, chứ không phải là lấy một mình mình ra mà trần mình mà chịu để gánh cho cái vận mệnh của bao nhiêu con người. Khi mình là người lãnh đạo, thì đúng là cái đức của mình đứng đó mình gồng để mà bao nhiêu con người được nương tựa, nhưng phải khôn ngoan xây dựng cái đức độ hết cho tất cả mọi người để tạo thành cái đức của quần chúng mà chư tổ ta đã nói là đức chúng như hải. Ví dụ như ông thầy ổng vậy, cái ông thầy ổng cứ nhận đệ tử, nhiều người nói: "Thầy ơi, nhận vô rồi làm sao mà nuôi, không đủ gạo để nuôi?" Ông thầy nói: "Không sao đâu con, đức chúng như hải à." Tức là cứ nhiều người vào mà người nào vào cũng ráng

[54:28]tu thì nó thành cái đức lớn của cả cái chùa, bỗng nhiên cũng đủ gạo ăn chẳng bao giờ thiếu thốn gì cả. Đó là như vậy. Bây giờ thì ta lấy câu đó ta nói: "Không sao đâu, giờ ta cứ tăng dân số thoải mái, đức chúng như hải." Thì n- được không à? Thì cái tăng dân số nó khác với cái việc mà nhận người vào chùa cho nhiều. Vì cái nhận người vào chùa cho nhiều á là người ta vào chùa người ta làm gì? Người ta tu nên ta có cái đức, còn tăng dân số cho nhiều có cái đức không? Không bảo đảm, không biết đẻ ra cái đứa nào, đẻ ra nhiều quá không biết đứa đó có chịu tu hay không. Nếu mà cứ tăng dân số mà mỗi người công dân đều là những người

[55:05]đạo đức tu hành á thì đúng là cái đức của cái đất nước nó rất là lớn, không bao giờ ta sợ thiếu thốn, chắc chắn là như vậy. Nhưng chỉ sợ là đẻ nhiều mà nhằm cái đứa nó không ra gì nó quậy á, thì nó góp phần nó phá cái đức độ của quốc gia và quốc gia đó sẽ rơi vào cảnh lầm than liền. Nên hai cái khác nhau, ta đừng có liên tưởng chuyện này qua chuyện kia nha. Cái quốc gia đó đông dân mà không nghèo khó chỉ khi nào là toàn dân biết tu. Nhưng vì sợ là đông người mà toàn dân không biết tu, nên nhà nước phải sao? Phải đưa ra chính sách gì? Kế hoạch hoá gia gia đình để cho dân số đừng có đông, lo không xuể.

[55:43]Lo không xuể là sao? Ví dụ nhích lên cái dân số, cứ tăng lên thêm một triệu đứa nhỏ thôi, thì ta phải xây thêm một triệu chỗ học về mẫu giáo trong năm năm nữa. Chứ nhìn năm nay nè, thấy nó tăng thêm một triệu đứa rồi đó, báo cáo lên là ông thủ tướng ổng méo mặt. Tiền ở đâu mà xây thêm một triệu chỗ ngồi, triệu chỗ trong lớp học để cho một triệu đứa nữa? Ngân sách cứ chạy theo hoài chạy không nổi, tại phải lo bao nhiêu việc. Nên vì vậy để cho thủ tướng ta đừng méo mặt, để cho ngân sách quốc gia ta đừng có khủng hoảng, thì làm ơn bớt mà bớt mà bớt mà sinh, bớt sinh giùm. Để cứu quốc gia đó. Đó là lý do mà tại sao ta thấy là nhà nước phải đưa ra chính sách

[56:25]kế hoạch hoá là vì ta tính toán rất là kỹ, mà cũng chỉ bởi vì không có những cái may mắn bất ngờ trong cái cuộc sống này. Họ phải tính toán cả, không có thể là liều mà nói là cứ sinh nhiều mà quốc gia cứ ấm no, không có đâu, cứ phải tính toán. Chỉ có nhiều, liều, đông người, nhiều mà không có lầm than không đói kém là chỉ trong chùa có tu thôi. Hễ người ta cứ càng vào tu mà tu cho tốt chừng nào thì cái chùa đó cứ thịnh vượng lên chừng nấy. Quý Phật tử không tin, bao nhiêu con người đây vào xuất gia hết trong chùa Am Đường này cho thầy. Cạo tóc xuất gia và tu nghiêm chỉnh hết cho thầy. Thử coi chùa có đói không cho biết.

[57:04]Thử đi, mai làm thử nha, lát làm thử coi. Thử coi nó đúng không.

[57:09]Không sao, nên sẽ không bao giờ đói vì ta tu. Chỉ sợ là ta cạo tóc xong vào không tu thì chùa đói liền á, không có cái đức chúng như hải. Nhớ vậy. Nên lúc nào ta nhớ là mình cũng đang đang nương đức của ai đó. Tu sĩ, nhất là một tu sĩ, để ý là mình nương đức của ai? Gần nhất là bổn sư của mình. Hai là của ai? Của cái giáo hội nha, kế đó là đức của ai? Đức của đại chúng. Và trên hết là đức của ai? Đức của Phật. Nhớ như vậy. Thì cái người xuất gia là đi trong bốn cái đức đó, đi trong bốn cái đức: đức của Phật nè, đức của giáo hội, đức của bổn sư, đức của đại chúng, ở trong bốn cái đức đó mà mà tu tập.

[57:48]Bốn cái đức đó khác tứ ân, tứ ân là ơn quốc vương thuỷ thổ, ơn đủ thứ hết, nhưng mà đây là bốn cái đức như vậy. Khi hiểu như vậy, ta mới thấy là mọi việc nó có cái tương quan. Ví dụ bây giờ ta nghe nha. Có ở đây có ai mê bóng đá giơ tay lên thầy coi? Cũng nhiều lắm mà lén giấu á, ráng giữ tay kềm tay lại không đưa tay lên, chứ nhiều người mê bóng đá lắm. Thầy không mê, nhớ nha, thầy không ưa. Tức cười lắm, từ nhỏ thầy cứ thấy tức cười thế này, thấy tại sao cứ có cái quả bóng đá chạy qua đá chạy lại mà người ta điên cuồng vì nó. Nên thôi thầy không thèm để ý tới nó. Rồi trời xui đất khiến cái có một người cầu thủ nổi tiếng đến xin

[58:28]làm đệ tử thầy, đến xin quy y thôi, cả nhà dắt lên quy y. Cái buộc lòng thầy phải xét lại cái quan điểm của mình. Lúc đó thầy mới nói với người cầu thủ đó thế này: "Khi mà con người ta chưa thể làm thánh được, thì người ta luôn luôn còn cái sự hơn thua, tranh chấp, tranh giành, cạnh tranh. Đúng không à? Luôn luôn. Mà bây giờ người ta tranh giành bằng cách là đem súng ra người ta thử tài với nhau thì sao ạ? Rất là đau khổ, phải không? Bom rơi đạn lạc, máu đổ xương tan, nhà nát. Đó. Nên thôi bây giờ lấy cái lòng hơn thua còn của chúng sinh đó đổ qua cho bóng đá, thì hai nước mà cứ giận nhau quá đem trái banh ra đá.

[59:07]Đá coi nước nào thắng, vậy thôi, nó đỡ buồn. Chứ còn hơn là đem súng đạn mà giành với nhau thì chiến tranh xảy ra điêu loạn. Cho nên thôi, bóng đá cũng tốt lắm. Nó giải toả được cái tâm lý mà hơn thua tranh đấu của con người nhưng mà rất là hoà bình. Rất là hoà bình, rất là vui. Đó, bên đây cứ hò hét vô vô rồi gì đó đại khái là vậy đó, nhưng mà nó đỡ hơn là đem súng mà choảng nhau." Bữa đó thầy nói với người cầu thủ, người cầu thủ rất là vui: "A dạ, ồ vậy là con làm bóng đá cũng tốt lắm." Thầy nói cũng đỡ buồn. Bây giờ là ta xem ta theo dõi một trận bóng đá ta thấy thế nào? Hai nước đấu nhau, ví dụ mình với Thái Lan đấu đá

[59:43]với nhau, thì cuối cùng là nước nào thắng ạ? Ví dụ khi một cái đội bóng của Thái Lan thắng thì cả cái đất nước đó làm sao? Vui mừng. Còn nếu mà đội bóng của Việt Nam thắng thì sao? Cả Việt Nam mình vui mừng. Mà Việt Nam mình có thắng lần nào chưa cà, thầy cũng không biết nữa? Có hả? Ờ. Thì bữa nào đó lỡ hên mà thắng một trận thì coi như là cả cái đất nước này vui mừng. Thì ta xem nè, đội bóng là mấy người nha, thầy cũng không biết nữa? 11 người. Ủa, sao giỏi dữ, ta biết hết trơn vậy? Đội bóng 11 người. 11 phải không? Ờ, đội bóng 11 người mà làm cho cả một đất nước này vui. Như vậy là công của ai?

[1:00:25]Công của ai? Huấn luyện viên, rồi ai nữa? Của cầu thủ nữa. Của ai nữa? Thật ra của những người lãnh đạo nuôi dạy đồ quá chừng cực khổ. Mà của ai nữa? Thật ra ta cũng phải nhớ ơn ông trọng tài nữa, ổng không bắt tầm bậy á. Chứ ông trọng tài ổng bắt tầm bậy là thắng cỡ nào cũng thành thua, đúng không à? Nên bữa vừa rồi mà Công Vinh mà quỳ lạy coi trọng tài trên sân bóng đá rồi bị phạt luôn đó. Thấy ông trọng tài ổng bắt kỳ quá, tức quá không biết làm cái gì, quỳ xuống lạy ổng giữa bao nhiêu bàn dân thiên hạ, rồi cái bị phạt á, bị phạt là cấm mấy trận vậy đó. Vậy thầy cũng rành bóng đá ha? Không, tại thầy đọc báo chứ

[1:01:04]Thầy để ý thế này, tức cười lắm nha. Cái bữa đó thì nghe lao xao lao xao hỏi chuyện gì vậy, nói: "Việt Nam thắng rồi, Việt Nam thắng rồi." Ai đổ ra đường mừng. Cái thầy nói: "Chèn, cho vui 5 phút thôi, qua trận sau thua liền." Là vì sao vậy? Vì ta không đủ phước để vui nhiều nữa. Cả dân tộc ta phải thua, mà đại diện là 11 con người thôi. Cho nên tuy là 11 con người nhưng mà nó biểu hiện được cái phước của cả dân tộc ta. Hãy tin điều đó, chứ không phải chỉ vì 11 con người đó đâu. Khi nào mà cả dân tộc ta đủ phước, 11 con người đó đá đâu thắng đó, đá đâu lủng lưới đó. Nhưng mà cả dân tộc ta ít phước rồi, 11 con người đó đi đâu là lủi thủi đi về đó.

[1:01:51]Đúng vậy. Như Thái Lan vậy, là bóng đá rất là mạnh ở cái vùng Đông Nam Á, nhưng vừa rồi như có cái trận gì vô cái là thua liền bị loại liền, có không ta? Thầy nhớ mang máng. Phải không con? SEA Games vừa rồi phải không? Đó đó, con phải vậy, con phải giỏi như vậy mới được, phải nhắc thầy như vậy mới được. Thì thì nghe xong thầy cũng cười, thầy nói: "Bị cái dân tộc Thái Lan cũng đã giảm phước rồi." Nên vừa mới đấu vòng loại xong là bị loại ra. Thầy cũng nghe báo thôi chứ thầy không bao giờ thầy coi. Coi thấy người ta nhảy tưng tưng thấy tức cười quá, thầy không có coi. Nhưng mà ta cứ tưởng là 11 con người đó là tài giỏi không

[1:02:25]á, 11 con người đó mang theo cái phước của cả dân tộc. Nên ta biết rằng là cái sự thành bại nó liên quan tới nhiều yếu tố chứ không phải là của cá nhân ta. Vì họ thắng cái là cả dân tộc vui mà họ thua cái cả dân tộc nó buồn. Thì như vậy nó là mang theo cái phước của cả dân tộc. Và như vậy khi mà một người làm được một điều gì đó thì xin đừng nghĩ rằng đó là chuyện của cá nhân mình. Mặc dù là cùng là công của mình, ví dụ đội bóng thắng 11 người đi về ôi cả nước tung hô, thưởng đủ thứ thì cũng có công mình thật, nhưng mà sự thật là mình mang theo cái công đức của cả dân tộc mình đi. Hoặc là một đứa trẻ khi đi thi piano quốc tế hay là thi toán quốc tế đoạt giải

[1:03:07]thì cũng đừng nghĩ rằng đó là tài trí của riêng mình, mà phải hiểu đó là gì? Ta cũng mang trên lưng mình cái công đức của cả một cái dân tộc này. Mà có cái đặc biệt thế này là người Việt Nam ta khi mà đi dự các giải khác thì rất thường hay chiếm giải thắng lớn, từ âm nhạc cho tới khoa học, phải không ta có nghe tin như vậy đúng không ạ? Thầy cũng không rành lắm nhưng mà thầy nghe thoang thoảng như vậy. Thì phải hiểu rằng ở trong lĩnh vực đó những cái người đó, thí sinh đó là đã mang theo cái hồn của cả dân tộc này, cái công đức của cả dân tộc này đi. Và dân tộc ta xứng đáng thắng điều đó. Nhưng mà công đức này cha ông ta không cho ta thắng bóng đá hoài.

[1:03:49]Vì Quốc Tổ Hùng Vương ta đó biết cho nó thắng bóng đá là cả đất nước này xúm nhau đi đá banh hết rồi không ai học hành gì rồi không ai xây dựng đất nước được. Thành thử rồi cứ cho nó thua, cho nó thua cho nó bớt mê bóng đá đi. Cho nên ta yên tâm rằng đội bóng ta đi đá sẽ không bao giờ vô địch nhiều, cứ thứ thua thua vậy. Bởi vì sao? Bởi vì Quốc Tổ rất chăm lo cho cái vận mệnh, tiền đồ của dân tộc. Hễ cho nó thắng vài trận nó là xúm nhau bà già ông già cũng đi đá bóng hết, chết luôn. Cũng phải để cho nó học hành, phải không, để cho nó nên người, cho nó đi thắng những cái giải khác, ồ giải âm nhạc được, giải toán được,

[1:04:21]giải vật lý được, vân vân, mấy cái giải mà rô bốt gì đó, được, tốt, mà bóng đá không cho thắng đâu. Nhưng khi ta nghe xong là ta biết là cái sự thắng thua trong cái đội bóng đó có sự sắp xếp của ơn trên mà nhất là của Quốc Tổ ta. Quý Phật tử có tin điều đó không ạ? Nên vì vậy là thôi ha, đá banh cho vui thôi chớ đừng quá mê nha, đừng có thức đêm mà đi coi đá banh hoài nha con, chết nha con. Con đó. Nói hỏi đâu biết đó trơn, không có được à.

[1:04:52]Rồi cái nhân quả đó cái tài trí của ta là vậy, là cái tài trí của ta mà phát triển ra được là ta cũng nương đức của ai đó. Đầu tiên là cái đức của cả dân tộc ta, rồi mà khi ta đi theo Phật rồi ta nương được cái thần lực của chư Phật. Còn cái người mà không theo Phật thì cứ hưởng cái đức của ông bà thôi. Còn như ta là Phật tử thì ta vừa hưởng được cái đức của Quốc Tổ mà cũng hưởng được cái thần lực của chư Phật. Mà nhờ như vậy mà tài trí của ta phát triển dần dần, và ta nương trong cái đó mà ta tu, ta học, ta làm được mọi điều tốt cho cuộc đời này, làm rất nhiều điều cho cuộc đời này mà vẫn không

[1:05:26]thấy mình hay, vẫn không thấy mình giỏi, thì đó là con người rất là dễ thương nha, rất là dễ thương.

[1:05:35]Trong kinh có nói câu này: "Là sự hộ niệm của chư Phật. Người nào mà được chư Phật hộ niệm thì người đó sẽ tu đắc đạo." Đó là điều chắc chắn. Mà gần hơn đó là ta làm những điều Phật sự đều được thành công, tốt đẹp nếu ta được chư Phật hộ niệm. Mà muốn được chư Phật hộ niệm, ta phải xứng đáng để được chư Phật hộ niệm. Mà muốn xứng đáng thì có mấy chuyện, mấy điều ta phải làm cho được. Cái điều thứ nhất là phải giữ được những cái giới mà chư thánh ái kính. Cái câu này rất là đẹp, đây là trong kinh Nikaya á. Có những cái giới mà các bậc thánh ái kính ta phải giữ cho được. Ví dụ như thế này: không có ác độc, không có tàn hại đối với chúng sinh.

[1:06:26]Khi mà ta đánh một con vật, ta giết một con vật, đó là cái tâm mình có sự ác độc. Và cái người dứt khoát từ bỏ sự ác độc trong lòng mình, đối xử với mọi người mọi loài một cách tử tế, yêu thương thì người này giữ được cái giới mà chư thánh ái kính là không gây tổn hại, không làm tàn hại, không sát hại chúng sinh. Đó là người giữ được cái giới mà chư thánh ái kính. Hoặc là ta không tham lam, cái của người khác ta không muốn chiếm về cho mình. Vì cái sở hữu của người khác nó là cái xương, cái máu, là ruột rà của người ta, và thành cái chắc ngã của người ta, ta không nên đụng tới, không nên chiếm đoạt của

[1:07:05]người khác về cho mình để thỏa mãn cái lòng tham của mình. Mà cái người mà từ bỏ cái sự ăn cắp, trộm cắp, không chiếm người khác về của mình, dứt được cái tâm tham để không phạm tội đó, là người giữ được cái giới mà chư thánh ái kính. Đánh bài có phải là tham không ạ? Rất tham. Tức là ta không hề bằng cái sức lao động của mình, chỉ mong vào sự may rủi mà ta lấy được tiền của người khác về cho mình. Đó là chưa nói gian lận, còn gian lận thì còn đúng là thứ cướp thiệt thực sự. Nghĩa là chỉ ngồi chia bộ bài ra, lúc nào cũng mong rằng mình gặp may để mình thắng và lấy tiền người ta về cho mình, chứ không có tốn sức lao động.

[1:07:42]Thì đó là tham, cũng là một hình thức ăn cắp. Đó là lý do tại sao mà luật pháp của xã hội chủ nghĩa Việt Nam mình không chấp nhận đánh bài, không cho đánh bài. Mặc dù người ta cứ lén đánh bài. Bộ bài bán tùm lum, bán thì không cấm nhưng mà cấm đánh, kỳ ha. Như vậy là Nhà nước chỉ cho bán bài để coi bói thôi, chứ không cho đánh bài, ừ quái. Tuy nhiên, vì con người mê đánh bài quá nên Nhà nước buộc phải mở mấy cái sòng bài để cho dụ người nước ngoài nó mê đánh bài thôi cho nó đánh làm đó làm, nhưng mà người Việt Nam thì Nhà nước rất yêu thương, không cho đánh bài. Tới bây giờ vẫn giữ nghiêm cái luật đó,

[1:08:21]mà ta rất mừng, ta rất mừng là Nhà nước rất sáng suốt. Vì nếu mà cho đánh bài tự do thì con người ta rơi vào lòng tham liền, không cần lao động mà cứ muốn lấy tiền của người khác vào trong túi mình, đó là cái tham lam và cũng là ác độc. Đó là phạm vào cái giới mà ăn cắp á, ăn cắp mà ăn cắp công khai. Cho nên ta rất mong là Nhà nước giữ giùm, tiếp tục giữ giùm cái luật pháp này, cứ cho bán những bộ bài để bói thôi, không cho đánh bài. Nó khó thiệt, là chúng sinh trong cái cõi Dục này ta vẫn còn phải gọi là có có hôn nhân, có đời sống gia đình gọi là có tính dục. Nhưng mà nếu những vị nào tu hành

[1:09:01]mà thoát được cái điều này, sống được trong sạch thì cũng được gọi là người này giữ được cái giới mà chư thánh ái kính. Bởi vì các bậc thánh xem tính dục là sự ràng buộc, là gai nhọn, là thuốc độc, là sự ô uế. Nhưng mà còn chúng sinh ở cõi Dục thì lại xem tính dục là lạc thú, là trò vui, là hạnh phúc, là sự hưởng thụ. Nhưng mà đối với bậc thánh thì xem tính dục là thuốc độc, là gai nhọn, là ràng buộc, là ô uế. Để đổi cái quan điểm từ cái xem nó là cái lạc thú biến nó thành ra cái ô uế, sự thay đổi rất là lớn, sự thay đổi rất là lớn, mà khi ta đổi được như vậy, ta giữ được như vậy thì cũng là một cái ta giữ được cái giới mà bậc thánh ái kính.

[1:09:48]Thì cái gọi là giữ gìn cái giới mà bậc thánh ái kính này cái nghĩa nó rất lớn. Cái người mà quyết tâm không lầm lỗi, giữ được cái giới mà bậc thánh ái kính này được quỷ thần ủng hộ, kiêng dè, kính phục luôn. Ở trên chư thánh thì yêu thương mình, còn ở dưới quỷ thần nhìn thấy mình đâu là kính phục tới đó, chỉ giữ được cái giới này thôi. Đó là không làm điều sai lầm là cái thứ nhất để được chư Phật hộ niệm. Cái thứ hai để được chư Phật hộ niệm là ta sống một đời sống vị tha, yêu thương con người. Cái vị tha yêu thương con người này nó đi vào những khía cạnh rất là sâu sắc, rất là tinh tế. Rất là sâu sắc, rất là tinh tế như thế này:

[1:10:33]Ví dụ như là ta giúp đỡ người đó về vật chất khi người đó khó khăn mà ta có khả năng giúp được, hoặc ta chỉ giúp bằng cái công lao thôi, là thấy được một cái người họ xách nặng qua đường ta ghé tay ta xách phụ, đó cũng là đời sống vị tha. Hoặc là ta thấy cái người yếu sức ta nhường cái ghế cho người đó ngồi, cũng là cái sống vị tha trong cái nhỏ nhỏ chút chút như vậy. Hoặc là ví dụ như là người ta cười giống như trên xe của thầy vậy đó. Xe của thầy mà đi á thì thầy ngồi cái ghế đầu tiên bên cạnh của người lái xe, vì sao vậy? Có phải là thầy muốn nổi mà ngồi trước mặt người lái xe không? Không phải, vì ở trước để chân dài ra được á,

[1:11:11]ngồi đỡ mệt thầy ngã lưng ngủ được, đi đường xa ngủ được. Hàng kế tiếp bắt đầu cho các cô Ni. Hàng sau nữa thì quý thầy, kỳ khôi ha. Tại sao quý thầy lại ngồi sau mấy cô? Ai biết? Đúng là sức khỏe. Quý thầy có võ cho nên quý thầy hy sinh ra ngồi phía sau để cho quý cô ngồi ở ghế trước chút xíu đỡ sốc. Hôm trước không biết có ai phê bình nên quý cô sợ quá quý cô nhảy ra phía sau ngồi. Đi 10 cây số rồi là ói... Đúng là quý cô sức khỏe không bằng quý thầy. Thì ở đây ta không có đưa ra nguyên tắc là Tăng phải trước Ni, mà ta nói về vấn đề sức khỏe. Mà nó cũng phù hợp với văn minh của xã hội, lúc nào ta cũng ưu tiên cho người yếu, cho phụ nữ, vân vân, là như vậy.

[1:11:58]Ở đây nó là cái đạo đức, nó vượt ra ngoài những nguyên tắc. Mà sống vị tha là như vậy, khi nào ta phải nghiêm túc giữ những nguyên tắc, mà khi nào ta phải cởi mở để mà giúp đỡ tử tế với nhau, đây là thuộc về trí tuệ. Thì một đời mà ta sống vị tha, yêu thương mọi người trong từng những chi tiết chút chút chút chút như vậy thì ta được chư Phật hộ niệm. Bởi vì cái đức của đời sống vị tha rất là lớn. Ha, ta nhớ có hai điều đó. Thứ nhất là giữ những cái giới mà bậc Thánh ái kính, thứ hai là sống một đời vị tha, sống tràn đầy lợi ích cho mọi người, mọi loài chung quanh mình, hai điều. Thêm điều thứ ba nữa.

[1:12:40]Điều thứ ba nữa là gì? Là thiền định, nhiếp tâm vào trong trong an tĩnh. Bởi vì Phật dạy chỉ có ba điều thôi: Đừng làm những điều ác, hãy làm những điều lành, giữ tâm cho thanh tịnh, ấy lời chư Phật. Dạy chỉ nhiêu đó thôi, mà người nào làm được ba điều này, người này được chư Phật hộ niệm và chắc chắn sẽ đắc đạo. Cái yếu tố thứ ba là thiền định, và thiền định này dễ không? Rất là khó, nhưng đó là con đường ta phải đi tới, không còn cách nào khác. Bởi vì trầm luân sinh tử rất là đau khổ, không có lúc dừng. Kiếp này ta sống như vậy, kiếp sau đầu thai trở lại. Kiếp này ta vinh quang, kiếp sau ta tầm thường,

[1:13:25]ráng làm phước kiếp sau vinh quang, hết phước trở lại tầm thường, cứ lăn trôi như vậy hoài, rất là vất vả. Cho nên cuối cùng ai cũng phải giải thoát cả, mà muốn giải thoát thì không thể không thiền định, bắt buộc như vậy. Ví như những người đang ngồi ở đây, biết đâu ở những đời xưa đã từng là công chúa, hoàng tử con của vua Hùng, biết đâu được, phải không? Nhiều người nhìn mặt đẹp lắm, biết đâu là công chúa vua Hùng tái lai. Nhưng mà sao, bây giờ thì ngồi đây làm gì ạ? Ngồi đây không phải là công chúa nữa mà là công... công nhân, công nhân. Công nhân của sở hỏa xa gì đó, vân vân. Mặc dù trước đây là công...

[1:14:04]công chúa, công nương, công gì đó. Nếu mà ta hiểu điều này, ta thấy thấy buồn chán cho cái luân hồi sinh tử này. Biết đâu có những người ngồi đây từng làm vua cũng có nữa, nhưng mà bây giờ cái điều đó, vinh quang đó đã đi qua rồi. Mà cái luân hồi sinh tử là cái vậy, cứ vậy, cứ lên thăng trầm, lên xuống mãi. Mà nếu ta không khéo giữ, nó tụt tụt đi luôn xuống địa ngục luôn nữa. Còn nếu ta ráng giữ thì lên được một chút, nhưng mà lên rồi nó cũng rớt xuống lại, cứ vậy hoài. Nên cuối cùng ai cũng phải có bổn phận tu hành để giải thoát giác ngộ, không còn cách nào khác. Mà muốn giải thoát giác ngộ thì phải có thiền định.

[1:14:40]Mà muốn có thiền định thành công đắc đạo, ta phải được chư Phật hộ niệm. Mà để được chư Phật hộ niệm, ta phải giữ cái giới mà bậc Thánh ái kính, sống một đời sống vị tha, tràn đầy lợi ích cho mọi người, mọi mọi loài, không còn cách nào khác. Nên vì vậy, Phật tử ta cứ phải tập hợp lại trong các đạo tràng để mà cùng nương nhau tu tập, nhất là tu tập thiền định. Vì thiền định rất là khó, ta không tinh tấn thì ta dãi đãi bỏ hoài. Nhưng mà ta nhờ có một cái đạo tràng để huynh đệ nương tựa với nhau, nên ta có cái sức mạnh. Tới giờ tu cái mình ráng tu, vì mình nghĩ rằng: "À, hai ba bữa nữa mình đi sinh hoạt đạo tràng,

[1:15:17]mà bữa nay mình không ngồi thiền thì mình nhìn huynh đệ mình mắc cỡ". Huynh đệ hỏi sao: "Cả tuần qua chị có ngồi thiền không?", cái mình cười cười: "Thôi, kỳ quá không trả lời đâu", thì kỳ lắm. Cho nên là ta cứ phải sống cho đúng, cho tốt, tinh tấn để huynh đệ hỏi ta thì ta cứ nhìn thẳng mặt huynh đệ mà trả lời: "Dạ thưa chị, em ngồi thiền đầy đủ trong suốt một tuần qua". Còn nếu mà ta không ngồi thiền, ta cứ trốn trốn, huynh đệ hỏi: "Sao, tuần rồi có ngồi thiền không?", mình cười: "Thôi, kỳ quá à, đừng có hỏi nữa", là do mình dãi đãi. Nên vì vậy ta phải tham gia những đạo tràng để nương tựa với nhau mà tu tập, mà tu tập nha.

[1:15:55]Trong cái tu tập thiền định thì ta nhớ thế này, có chánh niệm và có chánh định, là hai giai đoạn. Sẵn ở đây thầy nói chút xíu luôn, mọi người ráng nghe, điều này nó hơi khó, nhưng mà ráng cố gắng nghe chút xíu để biết. Hôm rồi ở Nam Định có một người Phật tử mới nói với thầy, nói: "Thưa thầy, thầy ráng dạy làm sao để chúng con nhập Sơ thiền cho sớm một chút". Thì mới nói thế này: "Muốn nhập được Sơ thiền á, trước đó phải chứng được Chánh niệm tỉnh giác và phá được năm triền cái. Mà để có thể là chứng được Chánh niệm tỉnh giác, phá được năm triền cái, con đi hết một đời này chưa xong, thầy không hứa, không hứa điều đó được.

[1:16:37]Mà chứng được Chánh niệm tỉnh giác, phá được năm triền cái rồi, ngày mai chết sinh lên cõi trời liền, vì đã vào Thánh vị rồi. Còn mà chứng được Sơ thiền á, diệt được cái dục là lên cõi trời Sắc giới luôn, lên cõi trời rất cao. Cõi trời Sắc giới tức là cái cõi đó chư Thiên chỉ còn có hình hài hào quang đẹp đẽ, tuyệt đối không còn dâm dục. Còn cõi trời Dục giới trở xuống thì chư Thiên vẫn còn ái, cho xuống tới cõi người, cõi thú mình là đều là cõi Dục giới. Còn lên cõi trời Sắc giới á là chư Thiên hết dục. Chư Thiên có Dục giới và chư có chư Thiên Sắc giới nha. Chư Thiên Dục giới là từ tầng thấp xuống tới loài người

[1:17:14]mình đều thuộc về Dục giới, súc sinh cũng là Dục giới. Còn chư Thiên mà Sắc giới thì từ cõi Sơ thiền trở lên là hết dục, mà cũng phải là do ta chứng được Sơ thiền ở đây. Từ cái còn dục và hết dục nó cách xa nhau như trời với đất, giống như là từ súc sinh mình lên làm người như vậy, nó cách xa như vậy đó. Nên không có hứa là trong kiếp này ta chứng được Sơ thiền. Đừng nói tới chuyện mà chứng Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, chứng A La Hán, đừng nói". Nói: "Vì sao vậy?" Nói: "Vì thế này, giống như một người học sinh mới học lớp một mà ông thầy ổng toàn nói chuyện chứng đậu bằng tiến sĩ, trình luận án tiến sĩ thì đứa bé đó làm sao ạ?"

[1:17:50]Nó không hiểu mà nó điên, nó không học được. Còn cái người học lớp một mình nói làm sao thì nó học? "Con ráng làm sao hết năm nay con đừng có lưu ban mà lên được lớp hai", vậy thôi. Thì ta cũng vậy, trong cái tu thiền cũng vậy, đừng có nói là "vô thiền, nói thầy làm sao cho con chứng Sơ thiền, Nhị thiền", nói thầy bó tay. Mà con phải làm ơn tu chứng được Chánh niệm tỉnh giác giùm thầy, tức là đừng quên hơi thở giùm thầy. Chỉ vậy thôi. Nghĩa là khi ta ngồi thiền thì ta bắt chân kiết già, ngồi như Phật, ngồi đúng tư thế, biết rõ toàn thân, buông lỏng toàn thân, toàn thân mềm mại, bất động. Đó là nguyên tắc. Rồi khi mà biết rõ toàn thân, giữ toàn thân mềm mại

[1:18:31]bất động rồi, ta mới quán thân này là vô thường. Tức là trước sau gì thân này cũng chết, thân xác sẽ tan hoại, mục rã cho đến khi xương cũng thành bụi bay luôn. Phải quán cái thân vô thường này suốt mấy tháng trời, bốn năm tháng, cả năm trời cho nó thấm, cho nó thấm để nó phá cái chấp thân đi. Mà chấp thân là nền tảng của chấp ngã, nên đầu tiên phải ngồi là quán thân vô thường. Mà khi quán thân vô thường thấm rồi á, bắt đầu mới biết hơi thở vào, biết hơi thở ra. Giờ ta để ý hơi thở coi. Ta đang thấy hơi thở vào, hơi thở ra không? Có, phải không? Vì nếu không thở nó chết liền, nên ta chỉ cần biết.

[1:19:09]Nhưng mà khi biết cái là ta điều khiển liền, bỗng nhiên ta điều khiển nó phải thở thế này, phải thở thế kia là sai. Nên ở đây Phật dạy ta là: Hơi thở vào ra như thế nào ta biết như vậy nhưng đừng điều khiển, mà chỉ biết thôi. Mà vừa biết hơi thở, vừa biết toàn thân. Biết mà đừng điều khiển, biết mà song song với biết toàn thân, đó là chìa khóa của thiền, chìa khóa ban đầu. Thực hành được như vậy thôi là ta đã nắm được cái yếu quyết của thiền ở buổi ban đầu. Thì khi vào mà ngồi tu như vậy đó, mà ta lúc nào cũng biết được hơi thở và biết toàn thân, ta không quên thì gọi là ta có chánh niệm. Còn nếu lúc đó vọng tưởng nó khởi lên nó làm cho ta quên hơi thở,

[1:19:51]ta nhớ đi ra chuyện khác thì gọi là ta bị thất niệm, mất chánh niệm. Thì như vậy tu không có tiến. Nhưng mà còn nếu lúc nào ta cũng nhớ được hơi thở ra, nhớ được hơi thở vào và biết toàn thân, biết hơi thở vào, biết hơi thở ra mà không điều khiển, vừa biết hơi thở vào, vừa biết hơi thở ra, vừa biết toàn thân, đó là ta có chánh niệm. Ta có chánh niệm. Nhưng mà nếu vọng tưởng khởi lên làm ta nhớ chuyện đời, ta quên mất cái hơi thở thì gọi là vọng tưởng, thì ta bị, bị gì? Thất niệm, thất niệm nha. Còn ta nhớ được hơi thở, nhớ được toàn thân thì gọi là ta có, có chánh niệm, đó là căn bản như vậy. Thì nếu mà ta nhớ được hơi thở rất là lâu, ta kéo dài được rất là nhiều,

[1:20:37]nhiều phút như vậy cứ nhớ hơi thở hoài mà không bị vọng tưởng nó kéo đi, thì bắt đầu tâm ta nó rỗng sáng ra, nó tỉnh lên nó sáng ra, gọi là có tỉnh giác. Tức là người này có chánh niệm, có tỉnh giác nếu mình nhớ hơi thở mà không quên. Còn mình vừa mới nhớ hơi thở cái chút xíu vọng tưởng khởi lên kéo chạy mất, thì mình thất niệm, thì tâm không có chánh niệm nên không có tỉnh giác. Còn nếu ta nhớ được hơi thở và nhớ được toàn thân lâu, kéo dài, kéo dài hoài, ngồi đó cứ nhớ miết hoài, biết hoài, không bị xao lãng, không bị vọng tưởng kéo đi, bắt đầu tâm ta chuyển từ từ từ từ nó rỗng sáng ra, tỉnh ra, rỗng ra từ từ, sáng ra từ từ, gọi là có tỉnh giác.

[1:21:14]Tức là có chánh niệm, có tỉnh giác. Mà khi có chánh niệm, có tỉnh giác mà ta cứ duy trì như vậy, cứ kéo dài mãi như vậy, bắt đầu nó phá lần lần từng cái triền cái trong năm cái triền cái, nhất là tham, thứ hai là sân, thứ ba hôn trầm, thứ tư là nghi, và thứ năm là trạo cử. Để hiểu năm cái triền cái này thì ta còn phải một, một thời giảng khác, chứ bây giờ ta đã hết giờ, nhưng mà ta nhớ như vậy. Thì cái người mà ngồi thiền mà được biết cái hơi thở không quên, tâm bắt đầu rỗng sáng lên, yên lành, rỗng sáng, lần lần mà phá được hết năm cái triền cái đó, tu hết đời này chưa xong, đời sau tu tiếp. Mà như vậy đã là cục cưng của Phật rồi đó,

[1:21:56]là đệ tử ngoan của Phật, chứ đừng mơ ước cao xa, đừng nghĩ tới chuyện chứng quả quá xa, quá cao. Vì sao vậy? Bởi vì thời này là thời, thời mạt pháp, căn cơ chúng ta rất là thấp. Đừng mơ ước cao mà ta với không tới rồi lại loạn thần kinh. Nên nhớ là ta cứ đi từng bước rất chậm mà, mà rất chắc. Đó là khi mà ta đã được như vậy, tức là ta được sự hộ niệm của chư Phật. Hôm nay ta nói với nhau cái bài là nương thần lực của chư Phật, vì ta biết rằng không bao giờ có một cái cá nhân tồn tại độc lập một mình, tất cả đều có cái nương tựa với nhiều nhân duyên. Mà ta may mắn ta là đệ tử Phật, có lòng tôn kính Phật,

[1:22:36]cho nên ta nương được thần lực của, của chư Phật. Và khi nương được thần lực của chư Phật như vậy, ta biết rằng trong mọi cuộc sống của ta, trong việc làm của ta, trong sự tu tập của ta đều có Phật dõi bước ta đi, gia hộ cho ta trong mọi việc làm, trong hành vi, trong ý nghĩ, trong lời nói. Mà hiểu như vậy ta trở nên khiêm tốn, hiền lành, bản ngã mình nhẹ dần để có thể mình sống với mọi người một cách hòa đồng, chan hòa trong đó. Và gieo cái nhân đó, một ngày nào đó ta đắc đạo, kiếp nào đó ta đắc đạo thì ta hợp nhất được với chư, chư Phật và cũng là trải được lòng đại bi với tất cả, tất cả chúng sinh.

[1:23:18]Nên bài hôm nay là ta nói như vậy. Thì: Con chỉ là một giọt nước của dòng sông. Con chỉ là một đóa hồng trong vườn thắm. Con chỉ là một hơi ấm của quê hương và chỉ là một hạt bụi đường dưới chân Phật. Xin được sống vì tình yêu thương Tổ quốc. Xin được thở bằng ân đức của Như Lai. Cõi trầm luân, người thức giữa đêm dài. Xin nương tựa sức thần uy cao cả. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.