Transcript: Hiện Tượng Đốn Ngộ

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:31:29

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:22]Mời quý thầy, quý phật tử ngồi xuống. Hôm nay chúng ta nói chuyện về cái hiện tượng đốn ngộ trong việc tu tập thiền định.

[0:39]Đốn ngộ là gì? Đốn là một thoáng chốc, một khoảnh khắc cực ngắn hay là điều bất chợt. Ngộ là là ngộ. Nên đốn ngộ tức là sự biến chuyển tâm thức trong một thoáng chốc, một khoảnh khắc bất ngờ nhất mà chúng ta không có dự báo trước được. Thì trong cái khoảnh khắc này, cái tâm thức của người tu thay đổi từ cái trạng thái tầm thường trở thành phi thường, từ cái mê tối trở thành sáng suốt, từ cái loạn động trở thành thanh tịnh. Nên cái hiện tượng đốn ngộ rất là đặc biệt và được ca ngợi suốt từ xưa tới giờ, nhất là vào những thời kỳ mà Thiền tông Trung Hoa hưng thịnh.

[1:40]Và đến nỗi con người ta vì cái người tu hành cả một đời chỉ đi tìm cái đốn ngộ, rồi nói nếu không có đốn ngộ là coi như không có biết tu, là không có sự tu hành không có giá trị. Nên cả một đời nhiều người cứ đi tham vấn hết từ nơi này tới nơi kia. Mà cái đất nước Trung Hoa thì nó lớn mênh mông, một tỉnh nó bằng nước Việt Nam của mình. Mà những những người họ phải đi tham vấn, họ lặn lội trèo non vượt suối lúc đó không có đường xá, họ đi từ cái tỉnh này qua tỉnh kia để tham vấn, để gặp gỡ các vị thiền sư danh tiếng mà hi vọng rằng là các vị đó có những cái phương tiện đặc biệt, qua một câu nói hay qua một cái hét,

[2:23]một cái đánh gì đó, làm cho cái người thiền sinh đó được khai ngộ. Cho nên cái hiện tượng đốn ngộ như là niềm ước mơ và là cái nét kỳ lạ, độc đáo của Thiền tông. Bài này chúng ta nói về hiện tượng đốn ngộ thì nó liên quan nhiều đến Thiền tông, nhưng sự thật chúng ta chưa có nói về Thiền tông. Một bài khác, một bài sau, chúng ta mới phân tích thế nào là các tông phái. Chúng ta sẽ phân tích ba tông phái chính hiện nay đang còn tồn tại là Thiền tông, Tịnh độ và Mật tông song song với cái Nam tông nguyên thủy, để chúng ta so sánh bốn cái phần tu hành đó với cái thiền gốc của Đức Phật từ ngày xưa, mình biết mỗi bên có ưu có khuyết như thế nào.

[3:13]Từ đây cho tới những bài còn lại thì cái lý thuyết nó hơi cao, nên quý thầy cố gắng chăm chú nghe rồi nắm vững, đừng nói chuyện. Hồi sáng quý cô nghe ngủ hết phân nửa á, mấy cái này nghe không vô.

[3:29]Vào thời Đức Phật vậy, là rất nhiều trường hợp các vị được đốn chứng đốn ngộ như vậy. Có khi chỉ nghe Phật nói một câu hay thuyết một bài là ngay đó sau đó đốn ngộ liền. Có những vị chứng những quả vị rất là cao, nhưng mà Phật lại không nhấn mạnh à rất là lạ. Chúng ta để ý điểm này. Cái hiện tượng mà đốn ngộ là xảy ra rất thường xuyên trong việc tu hành, nhưng Đức Phật không bao giờ chú trọng. Hãy nhớ điều đó giùm một chút, là căn bản. Tại sao Đức Phật không chú trọng? Lát nữa từ từ chúng ta phân tích, nhưng hãy nhớ điều đó để thấy rõ cái khác nhau giữa cái giáo lý từ thời Đức Phật và giáo lý của cái sự tu hành về sau này.

[4:13]Nhớ như vậy, hãy nhớ là đốn ngộ là hiện tượng thường xuyên xảy ra, nhưng Đức Phật không hề chú trọng. À chúng ta nhớ là ví dụ như trường hợp của ngài Xá Lợi Phất vậy. Ngài với ngài Mục Kiền Liên cùng hẹn với nhau là sẽ đi tìm sự giác ngộ. Thì một hôm, ngài Xá Lợi Phất thấy tôn giả A-sơ-di ôm bình bát đi ngoài đường mà với một hình tướng trang nghiêm, thanh tịnh phi phàm. Thì tôn giả Xá Lợi Phất mới phát tâm kính mộ, mới đến gần chắp tay thưa hỏi, nói: Thưa tôn giả, tôn giả đắc được quả vị nào, thầy tôn giả là ai, thầy tôn giả đã dạy giáo lý gì mà tôn giả có được cái dung nhan kỳ tuyệt như vậy?

[5:04]Tôn giả A-sơ-di mới trả lời, nói: Này hiền giả, thầy của tôi là dòng dõi Gotama, là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, từ cái thành Thích Ca xuất gia thành Phật hiệu là Mâu Ni. Thầy tôi dạy rằng: tất cả pháp do nhân duyên mà sinh thì tất cả pháp cũng do nhân duyên mà mà diệt. Ông nói câu đó xong, ngài Xá Lợi Phất chứng liền. Không phải chứng tột, nhưng mà ngộ liền bước đầu. Trong kinh ghi là chứng quả Tu-đà-hoàn đấy. Thì ngài Xá Lợi Phất mới về kể lại cho ngài Mục Kiền Liên nghe cái nhân duyên gặp gỡ vừa rồi, vừa kể đến cái câu đó xong, ngài Mục Kiền Liên cũng lập tức đốn ngộ liền. Thế là hai vị kéo nhau đi tìm Đức Phật để xin xuất gia.

[5:53]Thế là vừa thấy hai vị từ xa là Đức Phật đã nói với đại chúng đó là một đôi bạn phước duyên thật là hoàn toàn. Và theo Đức Phật, là nương vào cái sức ngộ hôm đó, Đức Phật cũng không phải dạy gì vất vả thêm, hai ngài an trú sâu vào trong định rồi chứng luôn A-la-hán. Khi chứng A-la-hán rồi thì Đức Phật giao hết Tăng đoàn để cho hai ngài lãnh đạo luôn, mặc dù là hai ngài xuất gia sau và chứng A-la-hán sau nhiều vị khác. Nhưng mà cái uy đức gì đó không biết, nhưng mà Phật giao luôn. Đó là một trong vô số vô số những trường hợp mà có những vị thời Đức Phật chỉ nghe thoáng qua một lần là là chứng ngộ.

[6:32]Đó cũng gọi là hiện tượng đốn ngộ. Nhưng mà trong suốt những bài kinh của Đức Phật, không bao giờ không bao giờ Đức Phật nhắc tới điều này, không bao giờ. Một điều rất là lạ. Chúng ta sẽ để ý phân tích. Mà chính vì cái việc mà Đức Phật không bao giờ chú trọng đến sự đốn ngộ này nên sau này Thiền tông cứ xem cái giáo lý thời Đức Phật là thấp, mà giáo lý của Thiền mới là tối thượng thừa là vì điểm này. Nhưng mà sự thật không ai bằng Đức Phật. Đức Phật không có chú trọng vì Ngài có cái trí tuệ, Ngài có cái lý do sâu xa, hợp lý hơn mà người sau không hiểu nổi thôi, ừ. Rồi nghĩ rằng bởi vì có cái đốn ngộ mới là

[7:18]cao siêu, ai mà không đốn ngộ thì không cao siêu, cho nên cái lịch sử thành đạo của Đức Phật đã bị sửa lại, ừ. Theo mà kinh chính Đức Phật diễn tả thì chúng ta nhớ là Đức Phật khi mà đến cội cây bồ đề, Ngài ăn uống khỏe lại xong, bắt đầu Ngài ngồi cội cây bồ đề Ngài nhập định thì Ngài đi qua cái gì? Thứ nhất là nhập Sơ thiền, rồi Nhị thiền, rồi Tam thiền, rồi Tứ thiền, rồi chứng Tam minh xong Ngài đắc đạo luôn. Thế là đó là chính Phật diễn tả. Nhưng mà sau này vì Phật không diễn tả cái giây phút đốn ngộ, cho nên cứ bị như là nếu không có đốn ngộ thì không cao siêu, nên người ta đã sửa cái đêm thành đạo

[7:59]Đức Phật lại là khi sao mai giao vừa vừa mọc thì Đức Phật hoắc nhiên đại ngộ và Ngài thành Phật. Bị sửa lại chứ Phật không có kể chuyện đó, không à. Ơ nên sau này vì cái người ta cứ lấy khi sao mai vừa mọc, Đức Phật nhìn sao mai vừa mọc, chợt Ngài đại ngộ, thế là bị sửa lại chứ thời Đức Phật không có. Kể là lúc ngộ rồi cái Đức Phật mới nói đó: Lạ thay lạ thay đó, tất cả chúng sinh đều có đó đầy đủ nhân duyên tri kiến Phật nhưng mà sao không tự hay tự biết, nhớ không? Nhớ bài kinh Hoa Nghiêm nói vậy. Đó là đã bị sửa á, chứ Đức Phật không bao giờ nói là mình đốn ngộ như vậy hết. Mặc dù chuyện đó chuyện xảy ra thường xuyên.

[8:44]Có những bài thuyết pháp, Đức Phật nói xong cả trăm vị chứng A-la-hán luôn, cũng là hiện tượng đốn ngộ, à nhưng mà Phật không nói.

[8:54]Vào thời Đức Phật á thì ví dụ như khi một vị mà bất ngờ đốn ngộ như thế này thì Phật sẽ xác nhận là vị đó chứng cái gì, hoặc là chứng một trong Tứ Thiền hoặc là chứng một trong tứ quả. À nhưng mà sau khi Đức Phật nhập diệt rồi truyền lui dần lui dần cho những đời sau này thì khi có một người mà hoắt nhiên đốn ngộ thì không ai biết là vị đó chứng cái gì. Cứ đại khái nói chung chung là đốn ngộ hay là kiến tánh, nhưng mà không biết chính xác là chứng cái gì, không biết. Mặc dầu là tâm có khai mở, thanh tịnh hơn, sáng suốt hơn, nhưng mà cái thanh tịnh hơn sáng suốt hơn đó cũng không biết là cái gì, không ai biết.

[9:42]Cho nên là đã có nhiều cái hiểu lầm. Thời Đức Phật thì không hiểu lầm, bởi vì khi mà đốn ngộ xong đến trình Phật thì Đức Phật báo cho biết liền là ông chứng ở quả vị nào hay ông chứng ở mức thiền nào, rồi từ đó tiếp tục đi tiếp mà yên tâm tiếp tục tu cho sâu mà thành tựu được những quả vị cao hơn. Còn sau này hễ mà có cái giây phút đốn ngộ đến trình thì được gọi là đốn ngộ, là kiến tánh. À rồi ông thầy ổng khen rồi ổng nói thôi cứ tu tiếp là đốn ngộ tiệm tu hay là kiến tánh khởi tu, đại khái là vậy. Đây là điều thiệt thòi mà vì chúng ta không có Phật để hướng dẫn, soi lối, mình không biết đường mà đi, rồi ai cũng như ai, rồi đi tin ông thầy.

[10:25]Nhưng mà chính ông thầy, ông cũng không có lập được cái thang chuẩn xác của cái Tứ Thiền hay tứ quả, tại vì chính ông ông cũng chẳng biết ông chứng cái gì. Cho nên là khi mà nghe một người đệ tử trình bày cái đốn ngộ thì chỉ coi người người đệ tử đó bằng thầy hay chưa thôi, chứ cũng không có biết là đã chứng tới mức độ nào. Hễ bằng thầy thì được thầy truyền tâm ấn, ấn chứng. Không bằng thầy thì biết là không bằng thầy, thế còn ông thầy mình thì ổng tới đâu mình cũng không biết, rồi mình tới đâu ông thầy cũng chẳng biết. Trong nhà thiền vậy, có nhiều người ngộ đạo đến gặp thiền sư thì trình ra thì ông thiền sư thấy đúng là người này có ngộ đạo nhưng

[11:06]mà chưa sâu, thế ổng khai thị tiếp, ổng khai thị tiếp cho sâu, ở đó tu tu tới chừng nào mà ngộ bằng ổng thì ổng công nhận. Bằng ổng rồi thì ổng cho đi giáo hóa hoặc là ổng giao chùa cho giáo hóa, vậy thôi. Bằng thầy, nhưng mà ông thầy ở mức độ nào theo tứ quả thì cũng chẳng biết. Đại khái là như vậy. À nhưng mà dù sao cũng là con người đã khác thường, đã tiến bộ, vượt hơn so với khi mà chưa có cái giây phút đốn ngộ, như vậy. Bây giờ chúng ta sẽ phân tích về bốn cái trường hợp mà có cái hiện tượng đốn ngộ này xuất hiện. Giờ cái trường hợp thứ nhất là do nghe giáo lý à minh bạch, rõ ràng mà đốn ngộ, đó là trường hợp thứ nhất.

[11:51]Thì chúng ta có thể kể một vài cái sự kiện, cái sự tích mà nổi tiếng, ai cũng biết, như vậy.

[12:01]Hồi thời Đức Phật thì chuyện này xảy ra nhiều, nghe một bài kinh Phật giảng rồi ngộ đạo liền, một câu nói Đức Phật ngộ đạo liền. Nhưng mà kinh ghi đầy đó, bây giờ còn cái thời sau này thì cái người nghe kinh mà ngộ đạo thì nổi tiếng nhất là ai?

[12:17]Đúng rồi, Lục Tổ Huệ Năng. Thì Lục Tổ Huệ Năng là người xứ nào?

[12:26]Việt Nam. Tổ Huệ Năng là người xứ Việt Nam. Cho nên khi mà người Việt Nam lúc đó ở phía nam Trung Hoa và bị Trung Hoa đô hộ thì người Trung Hoa gọi người Việt Nam là gì? Nam. Nam Man. Man tức là mọi. Nhớ như vậy. Cho nên chúng ta nhớ cái mẩu đối thoại giữa cái Lục Tổ Huệ Năng với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn không? Khi mà ngài mới đến đó thì Ngũ Tổ mới kêu là ông là mọi mà cầu làm Phật cái gì đó, nhớ không? Đó, thì đó là xác nhận là Tổ Huệ Năng là người người Việt Nam ta, người Việt Nam. Thì vào thời đó người Việt Nam mà bị đô hộ thì ba của ngài cũng có một cái chức quan nhỏ gì đó rồi mất sớm. Mất sớm cho nên không có gia tài sự sản gì để

[13:14]lại, nên ngài phải đi đốn củi để nuôi mẹ. Thời đó thì củi không có hiếm như bây giờ, cho nên là nó không mắc tiền và cũng khó bán. Vì sao vậy? Vì ai họ cũng có thể kiếm củi được hết, bước ra ngoài đi quẹt quẹt kiếm cây về chụm được, chứ không có khó. Như vậy cái người nào mới mua củi để đun? Người nào? Người giàu. Rất giàu thôi, phải không? Chứ không giàu họ tự họ vào rừng chút xíu à. Ai thì họ có thể đi ngày nào rảnh rảnh cái họ đi vào rừng xúm nhau cả nhà chặt bó củi về chụm ba bốn ngày rồi vào rừng hái tiếp vậy. Chỉ có người giàu họ chê công việc đó họ mới mua. Như vậy cái người mua ít thì cái củi mắc hay rẻ? Rẻ rề.

[14:01]Cho nên một ngày vào rừng đốn bó củi đem về thì không được bao nhiêu tiền để mà rồi cứ đi mua gạo, mắm gì đó về hai mẹ con sống với nhau, vậy thôi. Nhưng mà vào thời đó ở cái xứ Việt Nam mình cũng đã có đạo Phật, à nên ngài mới đem củi đến cái nhà giàu ngài bán. Chúng ta không tìm được chính xác là ngài là người ở tỉnh nào của Việt Nam, tại vì trong sử phần đó bị xóa mất. Thì khi ngài gánh củi đến thì đi ngang qua cái phần, cái chánh điện, cái phòng thờ của ông nhà giàu thì nghe ổng tụng kinh, kinh gì? Kinh Kim Cang. Thì ổng tụng là ổng tụng, ngài mới ngồi ngài lặng lẽ ngài chờ để lấy tiền, đợi ổng tụng xong bài kinh rồi lấy tiền, chứ không gì hết á.

[14:47]Thì trong khi rảnh rỗi chờ, ngài mới lắng nghe cái lời kinh. Ngài lắng nghe nhưng mà cái điều lạ là thế này, là ổng ổng tụng kinh chữ Nho mà ngài hiểu.

[14:59]Như vậy ngài biết chữ hay không biết chữ? Hả? Ổng tụng chữ Nho, tại vì chuyện là nghe ngài ngộ, phải không? Mà hiểu mới ngộ, không hiểu lấy gì ngộ? Như vậy ngài biết chữ hay không biết chữ? Biết. Biết sao không biết? Tức là lúc đó đó cái ngôn ngữ chữ Nho cũng khá phổ biến đó nha trong Việt Nam mình đó, nên người Việt Nam mình vừa biết nói tiếng Việt mà vừa biết nói theo kiểu chữ Nho cũng nhiều lắm chứ không thể phải không biết. Với lại là dù ba ngài mất, nghe nói ba ngài làm chức quan thì có thể là mẹ ngài cũng dạy cho ngài một số số chữ võ vẽ, tuy không nhiều. Tuy không nhiều như là những cái bậc danh tăng ở bên Trung

[15:41]Hoa nên ngài luôn luôn bị gán là cái người gì? Ngu dốt, không biết học. Không biết học là vì so với những cái bậc mà tăng tài bên Trung Hoa là kinh đọc bộ này qua bộ kia, còn ngài nhà nghèo ít học nên không thể đọc nhiều như vậy, nên bị chê xếp vào loại ngu dốt, chứ không phải là ngu. Nhưng mà người ta hay nói cường điệu. Giống như là bây giờ nói: "Trời, cái thằng đó chữ bẻ hai không biết." Nhưng mà sự thật người ta cũng học được tới lớp năm rồi chứ không phải không, phải không? Đó, nhưng mà người ta cũng học tới lớp năm mà mình chê ôi thằng đó học chữ bẻ hai không biết, tức là cường điệu thôi, thì cũng vậy. Nói:

[16:19]"Ôi, cái thứ ngu dốt mà đòi làm tổ, rồi giành chức làm tổ, giành cái y mất tiêu của tôi, cái thứ ngu dốt." Nhưng mà sự thật là không phải là hoàn toàn, ngài biết. Cho nên ông đó ổng tụng cái đoạn mà tới chỗ mà "Bất ưng trụ sắc sinh tâm", nguyên đoạn đó lận. Quên, xin lỗi, ổng tụng giọng Bắc: "Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm." Ổng tụng đúng giọng Bắc Kỳ á. Nghe tới câu đó ngài bừng ngộ, ngài khai ngộ lần đầu tiên. Mà khi mà ngài chợt đốn ngộ một cái như vậy thì ngài thấy con đường phải đi, tức là con người ta sống ở đời không thể tiếp tục sống mê mờ được nữa,

[17:03]chỉ có con đường giải thoát phải đi tới, thế ngài lúng túng liền. Ngài thấy nào giờ ngài sống trong đời cách cực khổ, vô nghĩa. Chính cái niềm vui, cái hạnh phúc, cái chân lý là ở chỗ này, bây giờ phải đi tới, bởi vì ngài biết cũng chưa tới đâu. Ngài mới hỏi là khi mà ổng ra, ngài mới nói: "Thưa ông, hồi nãy ông tụng là kinh gì?" Cái ông kia nói: "Đó là Kinh Kim Cang." Ông nhà giàu cũng tốt bụng. "Kinh Kim Cang." Nó nói: "Ở đâu có kinh này?" Nói: "Kinh của Phật." Nói: "Vị nào dạy kinh này?" Nói: "Ở bên Trung Hoa thì nhiều lắm, mà ở đây thì kinh tụng vậy thôi chứ không biết." Cái ổng hoang mang lúng túng, ổng lấy tiền về ổng đưa cho mẹ xong ổng nói:

[17:40]"Con xin đi qua Trung Hoa để học đạo." Thì mẹ cũng không biết đường đâu, người mẹ thì hiền lành nhưng mà không biết, nói: "Con đi rồi bỏ mẹ cho ai?" Thì ngài cũng phân vân, ngài chạy trở lại ông nhà giàu hồi nãy, ngài mới nói là: "Thưa ông, giờ con muốn", thì năm đó ngài mới mười mấy tuổi à, mười tám, mười chín à, "con muốn sang Trung Hoa để học cái Kinh Kim Cang này, giờ nhưng mà còn người mẹ không ai nuôi." Mẹ ngài lúc đó cũng còn trẻ, chừng bốn mấy. "Giờ mẹ không ai nuôi, con không biết sao." Cái ông kia ổng ngồi ổng ngồi ổng suy nghĩ sao ổng: "À thôi được, để ta đem mẹ ngươi về nuôi luôn, cho về làm việc trong nhà rồi ngươi cứ đi."

[18:15]Cái bà mẹ được ông nhà giàu đem về, còn ngài thì ông nhà giàu cho ít tiền rồi đi khăn gói đi qua Trung Hoa. Mà cái nước Trung Hoa nó mênh mông, một cái tỉnh bằng cái nước Việt Nam mình á. Ờ rồi ngài đi ngài cái khi thì ở trọ, khi ăn xin, đi lần lần lần lần hỏi người ta ở đâu dạy Kinh Kim Cang này, ngài cứ ghé chùa. Thì trong suốt thời gian mà đi từ Việt Nam qua tới cái chỗ mà Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn ở Huỳnh Mai thì ngài cũng bắt đầu biết nói tiếng Tàu luôn, tại tiếp xúc riết à. Trên đường đi, tức là một hai năm như vậy ngài học cũng biết nói tiếng Tàu luôn, vậy nên mới có cái cuộc nói chuyện mà thông suốt,

[18:51]chứ không phải khi không ở Việt Nam lên mà gặp ngài Ngũ Tổ mà nói vanh vách vậy được đâu, chúng ta phải hiểu nó có đầu có đuôi như vậy. Thì trong truyện ghi, trong Pháp Bảo Đàn ghi vắn tắt lắm chứ sự thật nó rắc rối hơn nhiều. Thì trên đường ngài đi dò hỏi và nói chuyện tới nơi bắt đầu người ta mới từ từ chỉ lên phương Bắc, đi về phía Bắc từ từ, trời lạnh lẽo. Càng về phía Bắc thì càng lạnh lẽo mà ngài cũng vì lao động quen, ngài đi vào rừng lao động quen nên ngài chịu đựng từ từ, quần áo vá víu đồ vậy, đi tới nơi thì thôi rách bươm hết trơn. Người ta chỉ lần lần tới: "Ờ, ở đây không biết nhưng mà thấy có ngài Hoằng Nhẫn á kêu người

[19:26]đời nổi tiếng ở chùa Huỳnh Mai á hay dạy kinh này." Thì lúc đó ngài Hoằng Nhẫn chuyên giảng về Kim Cang, chuyên. Cho nên ngài nổi tiếng. Cái ngài mò tới ra mắt Tổ thì vô thì chúng ta biết á cái túi quần áo của ngài có gì đâu, đúng không? Nghĩa là giở ra thì ở đây miếng vải, giở kia đây cái quần có còn có một cái ống à. Cái ống mới đứt ra mới rút ra. Hễ xỏ vô có một chân thì có ống, cái chân không có ống. Như vậy nghĩa là rách bươm vậy đó. Vô thì chẳng ai để ý, chẳng ai để ý cái nói giống như cái thằng ăn mày nào đi vô, chắc vô chùa xin tiền. Mà cái nằng nặc đòi gặp Hòa thượng trụ trì, vị mà nào mà giảng kinh Kim Cang.

[20:06]Cái vô cái họ nhìn nhưng mà nhìn thì tổ biết. Lúc đó ngài khoảng chừng 20 21 à. Còn trong đây người ta trong chúng của ngũ tổ là cái hàng thượng tọa 40 50 tuổi, 50 60 tuổi là 30 40 tuổi hạ, người nào đường bệ, tăng tướng mà áo quần là y áo rồi rực rỡ đẹp đẽ, nha, chứ còn cái thằng mà rách vá mà cột một túm một chùm nuôi không ai để ý. Tóc tai lâu ngày không cắt rồi nó xù xù nó dài dài dài bó một cục ở đây nè. hỏi: "Ngươi là ở đâu đến đây có việc gì?". Nói: "Bạch Hòa thượng, con là người ở xứ Lĩnh Nam." Lĩnh Nam là Việt Nam á. "Đến đây cầu làm Phật." Cái họng tướng thì mấy cái ông thầy đứng ở gần mới liếc

[20:49]liếc mắt cái rằng là thằng này khùng đâu tới. Thấy Hòa thượng nói: "Trời, ngươi ở cái xứ mọi mà muốn làm Phật cái gì?". Mà ngài tự tin lắm. Ngài nói: "Bạch Hòa thượng, người thì có kẻ nam người bắc nhưng Phật tánh vốn đồng."

[21:06]Nghĩa là trước bao nhiêu là cái chùa lớn bên Trung Hoa, chùa to, Hòa thượng uy đức rực rỡ, tăng chúng đường bệ đầy. Vậy đó, trong cái buổi tham vấn mà ngài bước vô ngài nói đúng một mẹ chút xíu. Trẻ măng mà nói vững vàng, không rung không sợ, bởi vì sao ai biết? Ngài mất cái kiết sử gì? Nghi, nhớ nha. Chính cái nghi này làm mình hoang mang, do dự, mất tự tin. Nhưng mà ngài đốn ngộ cái đầu tiên là ngài mất kiết sử này liền nên ngài không hoang mang, không do dự và ngài rất tự tin. Nên trong chúng cái thân phận mình thì nghèo khổ, không một đồng xu dính túi, xin ăn gần chết mới tới đây được, mà ngài trả lời vững vàng.

[21:44]Cái bản lĩnh nên tổ biết là pháp khí. Nhưng mà đứng nó nói lâu sợ lộ. Vì tổ biết nghĩa là trước cái là mấy trăm năm trăm tăng chúng, người nào nó bề dày tu học, nó có công lao, có thành tích, mà bây giờ thua hết một thằng nhỏ này thì không được. Bị ganh tị chết. Tâm người ta không chịu đựng nổi một cái nó lật đảo, nó đảo lộn hết tất cả mọi khái niệm, mọi truyền thống, không ai chịu đựng nổi. Nên tổ tinh ý ngài tế nhị, ngài mới nói: "Thôi! Phật cái gì? Phật cái gì, xuống nhà bếp giã gạo, đi lên! Không nói nữa." Nói nữa sợ lộ, sợ xì. Thì chúng ta tưởng tượng một người đi từ Việt Nam mà đi tới miền Bắc Trung Hoa

[22:28]không một đồng xu dính túi, ha, tới gặp được ngũ tổ thì còn mấy ký lô? Mấy ký lô? Chúng ta đem thầy nào nhỏ nhất đây ha, đem cân cũng nặng hơn Ngũ, Lục Tổ nữa. Nên người nào trong chùa này mà mình xách một tay giở lên á thì cũng nặng hơn Lục Tổ thời đó nữa.

[22:50]Thì ngài giã gạo mà cái cối nặng quá, vì cối mà giã cho 500 người ăn đúng không ạ, nên ngài phải cột đá thêm. Ý chí ngài dữ dội á. Và ngài giã gạo, cứ lặng lẽ giã mà trong lúc giã vậy ngài an trú, ngài nhiếp tâm. Nên công phu tiến từ từ, sáng dần dần, sáng dần. Ngài mộng lần lần cũng trở nên có sức khỏe, từ từ lại mập lại, rồi ăn uống ổn định. Mặc dù làm việc cực hơn, cực nhưng mà không còn phải lặn lội sương gió, đêm hôm, rồi lang thang ngoài đường ngoài xá nữa. Có mái ấm rồi ở rồi cái từ từ sức khỏe cũng phục hồi. Bắt đầu cũng tròn tròn lại, không có bằng mấy thầy đây nhưng mà cũng khá khá, khá khá.

[23:26]Thì trải qua mấy năm như vậy, thì ngũ tổ bằng thần thông biết cái duyên đã tới rồi, cũng không để lâu được. Cái tổ mới xuống nhà bếp mới hỏi, làm: "Ngươi làm việc cực khổ quá ha?". Cái ngài mới nói: "Dạ, cái vì đạo thì con không tiếc thân mình." Cái ngũ tổ mới nói là: "Gạo đã giã trắng chưa?". Nói: "Bạch Hòa thượng, gạo đã giã trắng nhưng chưa có người sàng." Tức là từ mấy năm nay là ngài hàm dưỡng cái tâm của ngài rất là vững, rất là chắc rồi, nhưng mà chưa có một sự điểm hóa cuối cùng. Thì ngài ngũ tổ ngài không nói nhiều, ngài gõ lên cối ba cái, cốp cốp cốp, rồi quay lưng bỏ đi. Là nói gì? Canh ba.

[24:10]À, đó đi, đó cái gõ ba cái nó lợi hại lắm. Nhưng mà quý thầy thời nay chớ nha. Phật tử mà tới gõ thì cốp cốp cốp ba cái thì kệ người ta. Đừng canh ba mà leo rào, không được, nhớ không được. Nhưng Hòa thượng gõ thì được, chứ còn Phật tử gõ là không được nha. Phật tử mà lại gõ mình ba cái cốp cốp cốp thì mình sao? Mình giơ lại ba cái đấm.

[24:39]Thì câu chuyện kể là khi canh ba ngài đến ngài gõ cửa thì vào trong tổ mới đóng cửa lại, chặn cái cửa sổ lại sợ người ngoài thấy. Thì tổ mới đọc bài kinh Kim Cang lên, đọc mà không giảng, cũng đọc tới cái đoạn đó. "Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sinh tâm, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm." Ngài bừng ngộ lần này là triệt ngộ luôn. Thì sau khi ngài triệt ngộ rồi tổ mới truyền cái y quý giá đó cho ngài và bí mật tiễn đi trong đêm luôn, không để lại. Chúng ta có nghe cái câu chuyện về hai bài kệ phải không? Một bài kệ của Thần Thần Tú và một bài kệ của ngài ngài Huệ Năng.

[25:16]Nhưng thật ra là từ bài kệ đó là ngài đã bị lộ thân phận. Trong cái câu chuyện mà khi mà tổ kêu là: "Ai đặt câu kệ hay đó?", thì ngài Thần Tú viết câu kệ là: "Thân như thân như Bồ-đề thọ, phải không? Tâm như minh cảnh đài, thời thời thường phất thức, vật sử nhạ trần ai." Là ngài ngài nói rất là nghiêm chỉnh, nghĩa là thân như cây bồ đề, tâm như cái đài gương sáng, mỗi ngày ráng lau chùi đừng để dính bụi dơ. Tức là tu rất là nghiêm túc đàng hoàng. Còn tổ thì: "Thân bồ đề bổn vô thọ." Cái bồ đề đó nó không có cái tướng cây, cái gương đó nó không có cái đài để cột lấy nó. "Nên xưa nay không một vật, chỗ nào dính được bụi." Tức là ngài theo cái

[25:58]kiểu chứng ngài nói, còn ngài Thần Tú thì theo cái tu mà mà nói. Hai cái đều không sai. Ờ nên từ đó bắt đầu là chúng là liếc theo con quạ này đã gườm gườm rồi đó. Nói thằng này coi bộ nó muốn cái y của Hòa thượng hay sao á. Nên ngài bí mật trong đêm thấy tiễn đi là vậy, vì sợ lộ. Thấy câu chuyện nó cảm động, đưa qua sông, nghĩa là đích thân Hòa thượng phải chèo thuyền đưa đệ tử qua sông. Tình thầy trò chỉ có một chút đó. Nghĩa là trong cái chuyện kể về nó Lục Tổ thì cái tình thầy trò chỉ một chút đó thôi. Trong một đêm đó thôi ngắn ngủi. Còn suốt mà 3 năm thì sao? Không bao giờ gặp được ông thầy mình.

[26:38]Viết bài kệ trình lên vách, còn bị ông thầy sao? Lấy dép mà bôi đi, tàn nhẫn như vậy. Nhưng mà không bao giờ được thưa, được dạ, được hầu, được gì, không bao giờ có cái tình. Nhưng mà chỉ điều đặc biệt là đêm chính thầy chèo thuyền đưa đi, bởi vì sao? Bởi vì ngài cả đời không biết chèo thuyền. Mà nếu không biết chèo thuyền mà xuống chèo thì chuyện gì xảy ra? Nó không chìm mà nó làm sao? Quay vòng vòng. Ở đây quý thầy có chèo thuyền rồi phải không? Bơi á. Không biết bơi thì một lát nó quay vòng vòng vòng vòng trở lại chỗ cũ. Phải biết bơi, kéo một cái rồi hơi nạy chút xíu không? Kéo một cái rồi hơi nạy chút xíu nó mới giữ được thẳng, nghĩa là ai bơi mới vậy.

[27:16]Cho nên nếu mà đưa xuống mà đưa ngài bơi nghĩa là hầu thầy chuyện xảy ra? Cho tới tới sáng vẫn còn ở nơi nơi bến đò, không đi đâu được. Nên chính Hòa thượng phải chèo đi. Mới nói là đi tới nơi rồi cái nói đáng lẽ thầy phải đưa con đi thêm, tới đây mới là tình thầy trò một chút. Nói: "Thưa thầy, khi con chưa ngộ thì con nhờ thầy độ, bây giờ con đã ngộ con phải ráng con tự đi." Rồi bái biệt thầy quỳ xuống đảnh lễ ba lễ rồi lật đật mà đâm đầu mà chạy cho lẹ, bởi vì chuyện sẽ xảy ra. Rồi ngũ tổ mới bơi thuyền trở về, lặng lẽ nghĩa là vượt trong bóng đêm trở về phương trượng mình như không có chuyện gì xảy ra.

[27:54]Nhưng mà chúng ta nhớ ngũ tổ là người võ phi thường nha, người rất là giỏi võ. Câu chuyện như vậy. Thì đó là cái chuyện mà nổi tiếng nhất là nghe kinh mà ngộ đó. Thì chúng ta sẽ có những cái trường hợp khác, như ngài Lương Giới Động Sơn cũng vậy. Ngài cũng đi tham vấn nhiều nơi. Khi mà đến gặp ngài Đàm Thạnh ở Vân Nham thì hỏi giáo lý, ngài Vân Nham mới dẫn kinh Di Đà. Nói: "Ngươi không nghe kinh Di Đà nói rằng: Cả chim, suối, cây, rừng đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng sao?". Ngay đó ngài bừng ngộ liền. Là sau này khai tổ tông Tào Động. Ngài có một người đệ tử giỏi là Tào Sơn, còn ngài là Động Sơn,

[28:36]hai thầy trò ghép lại thành Tào Động, gọi là tông Tào Động cũng nổi tiếng. Tông Lâm Tế, tông Tào Động, tông Vân Môn, tông Pháp Nhãn,

[28:47]tông Quy Ngưỡng nữa, ừ, đó tức là năm tông tất cả, hoàn toàn đúng. Như vậy cái mà chim suối cây rừng đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng là đạo lý gì? Quý thầy hiểu không? Phật tánh bình đẳng, thiệt chưa, trời ơi nghe ớn chưa. Hoặc là chúng ta nghe kể câu chuyện là ngài Vô Ngôn Thông, một vị rất là điềm đạm, ít nói nhưng mà sáng suốt. Ngài đi thưa hỏi nhiều nơi mà cũng không có được cái đốn ngộ này nên riết ngài cũng nản. Rồi sau đó ngài tới cái pháp hội của ngài Hoài Hải Bá Trượng. Ngài vô trong chúng mà ngài cũng không thưa hỏi gì, ngồi nghe. Ai hỏi hòa thượng trả lời nghe chơi, chả thèm hỏi.

[29:26]Lúc có vị tăng hỏi gì đó thì ngài Bá Trượng mới trả lời là: Tâm địa nhược thông, huệ nhật tự chiếu. Đất tâm nếu là thông thì mặt trời trí tuệ tự nhiên soi sáng. Ngay câu đó ngài đại ngộ luôn. Ngài đại ngộ rồi ngài đi về đâu? Đi về Việt Nam. Ngài đến chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng. Ở nơi đó ngài gặp được một người đệ tử có nhân duyên là ngài thiền sư Cảm Thành. Ngài Cảm Thành hầu ngài Vô Ngôn Thông rồi được truyền tâm ấn luôn, cũng được ngộ đạo truyền tâm ấn, ừ. Hoặc là thiền sư Việt Nam là ngài Thường Chiếu rất là xuất sắc, khi mà giải thích cái đoạn của giáo lý rõ ràng cho ngài Thông Thiền là: Phật pháp bất khả hữu tri, tức là Phật pháp không thể biết rõ;

[30:18]thử vô tri pháp, nơi cái giáo lý này không có cái pháp gọi là biết; chư Phật như thị, nghĩa là chư Phật cũng như thế; tu nhất thiết pháp nhi vô sở đắc, nghĩa là tu được tất cả pháp mà không thấy có cái gì chứng ngộ. Nghĩa là ngài nói giáo lý rất rõ ràng vậy đó, thế mà ngài Thông Thiền đại ngộ luôn, nó thành dòng thiền Việt Nam cũng rất là rực rỡ, ha. Hoặc là ngài Thái Hư Đại sư cũng vậy. Ngài Thái Hư Đại sư ở Trung Hoa vào những đầu của thế kỷ này, ngài là người mà chủ trương chấn hưng lại đạo Phật. Vì đạo Phật của Trung Hoa thời đó bắt đầu nó bệ rạc, đạo đức của tăng sĩ thì suy tàn, hư hỏng; chùa viện thì lôi thôi, rời rạc, chia rẽ;

[30:59]tăng chúng không còn sức sống, nghĩa là mọi cái nó tệ không còn gì. Và nước ngoài họ vào họ truyền cái đạo Kitô ồ ạt, mà quý thầy mình đưa mắt ngó chả ai làm được gì hết. Đó, nên đạo Phật thời đó giống như bên Việt Nam mình vậy, rất là suy yếu. Thì ngài Thái Hư mới phát động một cái cuộc chấn hưng đạo Phật, ngài làm cuộc cải cách trên ba điều là cải cách giáo lý, cải cách giáo chế và cải cách giáo sản. Cải cách giáo lý là phải ngồi xét lại coi cái giáo lý gì tại sao làm đạo Phật yếu dữ vậy. Cải cách giáo chế là quy chế của giáo hội, việc tu hành, chùa viện như thế nào. Rồi cải cách giáo sản, tài sản của chùa phải như thế nào,

[31:40]tại lúc đó tài sản giống như tài sản của riêng, của tư á. Trong cái giáo lý thì ngài xét lại vấn đề mà tụng kinh Lăng Nghiêm buổi khuya, bởi vì kinh Lăng Nghiêm buổi khuya là xuất hiện từ đời nhà Thanh do quốc sư Ngọc Lâm ấn định. Ngài bắt khuya phải tụng bài chú Lăng Nghiêm tại vì ngài quốc sư Ngọc Lâm là tu theo Mật tông nên ngài buộc cả nước phải tu, tụng chú, chứ trước đó không có. Trước đó thì khuya dậy người ta hô chuông, lễ Phật rồi ngồi thiền, nên được nhiều người đắc đạo và có thời gian để họ hàm dưỡng đạo lực. Nên khi có đạo lực rồi thì đạo Phật tự nhiên thịnh. Còn cái thời mà người ta xúm nhau tụng Lăng Nghiêm buổi khuya rồi không

[32:18]ai ngồi thiền nữa hết, rồi cái mà cái không có đạo lực, không có người có chứng ngộ tâm linh, cái đạo Phật suy tàn luôn vào thời đó. Nên ngài Thái Hư nghĩa là ra lệnh chấn hưng lại, phát động chấn hưng lại đạo Phật. Và cuộc phát động của ngài lan tới Việt Nam luôn, nên mình sau này có những vị hòa thượng tôn túc như hòa thượng Khánh Hòa là tiêu biểu nhất trong cái việc mà đi vận động để chấn hưng lại đạo Phật á. Chứ thời đó đạo Phật mình cũng suy tàn, không còn gì hết, là bên đạo Kitô lấn hết luôn. Nếu không có cuộc chấn hưng của ngài Khánh Hòa khởi xướng thì giờ này mình cũng không có được mặc áo tăng mà ngồi đây, ừ.

[32:55]Thì ngài Thái Hư vậy, có một lần á sau nhiều có những năm tháng ngài hoạt động Phật sự ngài mệt mỏi, cái ngài mới về cái ngôi chùa ngài nằm rảnh đọc kinh thôi. Ngài đọc cái bộ Đại Bát Nhã sáu trăm quyển, ngài đang đọc nửa chừng ngài bừng ngộ luôn, cũng là trường hợp đọc kinh mà ngộ. Nên cái công phu ngài rất là tiến. Có một đêm ngài ngồi thiền, khi bắt đầu cái chuông báo ngồi thiền ngài ngồi đến khi nghe chuông xả thiền thì đã tới sáng rồi, ngài ngồi qua một đêm. Khi thiêu ngài thì đếm được khoảng bốn trăm viên xá lợi. Ngài Thái Hư là mới đây, mới mất đây, mất năm năm mươi mấy, sáu mấy.

[33:34]Nên chúng ta thấy là đó là trường hợp thứ nhất, tức là nghe cái giáo lý rõ ràng, rành mạch và được đốn ngộ. Bây giờ trường hợp thứ hai là ngộ đạo trong khi ngồi thiền. Ngộ đạo trong khi ngồi thiền thì nhiều lắm, nhiều lắm, nhưng bởi vì nó không có cái lạ lùng, lãng mạn cho nên ít được kể. Còn nghe ví dụ như có cái chuyện gì đó tự nhiên mình bừng ngộ lên cái nghe nó kỳ thú, nó lạ lẫm nên hay được truyền tụng và kể lại. Còn những vị mà trong khi ngồi chợt nhiên ngay trong khi đang nhiếp tâm nó bừng ngộ luôn thì ít được kể, nhưng mà trường hợp này xảy ra cũng rất là nhiều, ừ. Có nhiều vị đang ngồi thiền cái tự nhiên la lên: Tôi ngộ rồi, tôi ngộ rồi!

[34:14]Bởi vì ổng ngộ thiệt, sau đó hỏi đáp ổng đáp rành mạch lắm. Như có một ông tăng vậy, nửa đêm ra ngồi thiền tự nhiên ổng la lên: Tôi ngộ rồi, tôi ngộ rồi! Cái chúng không biết làm sao, thôi ổng ngộ ngộ từ từ tính, để hòa thượng tính với ổng chứ mình không biết. Sáng dậy cái hòa thượng trụ trì mới hỏi: Hôm ông thấy đạo lý gì mà lúc ngồi thiền la? Ổng trình bày, ổng nói là: Dạ, ni cô vốn là người nữ.

[34:42]Hòa thượng gật đầu chấp nhận ông này ngộ đúng. Ổng nói có trật không? Không, ni cô vốn là người nữ không trật. Nhưng quý thầy đừng bắt chước nha, khổ ghê. Cái hồi cười lắm, hồi tôi quản đông chúng á có cái ông sư huynh ổng cũng cắc cớ vậy đó. Ổng đang vo gạo cái ổng la lên: Tôi ngộ rồi, tôi ngộ rồi! Cái quay lại dòm ổng, ổng nói: Ni cô là người nữ. Cả huynh đệ xúm nhau cười. Như vậy đó là đạo lý gì? Ni cô vốn là người nữ là đạo lý gì?

[35:16]Mấy cái người ngộ đó họ nói ẩn ẩn ý ý kỳ cục lắm, mà ở trong cuộc người ta mới hiểu với nhau, chứ người mình là người ngoài mình không hiểu, ừ. Ví dụ bây giờ mình là người ngồi trong nhà với nhau cái mình nói: Hai cái quay quay ở trên đầu. Mình hiểu không? Hiểu không? Biết không? Thì cái quạt. Mình ở trong nhà mình thấy nó rồi, thì cái chuyện mà nói hai cái quay quay trên đầu là cái mình thấy có phải suy nghĩ không? Không. Nhưng mà nếu mình ra cái vùng quê nào cả đời người ta không bao giờ thấy quạt á, mình nói hai cái quay quay trên đầu mát lắm, họ làm sao? Họ nghĩ hoài không hiểu ông này ổng nói cái gì, phải không? Thấy bí hiểm.

[35:55]Nhưng mà sự thật là đối với cái người mà ở trong nhà này thấy rồi thì có gì bí hiểm không? Không, cũng vậy. Cho nên hỏi: Ngươi ngộ cái gì nói coi? Nói: Dạ, ni cô vốn là người nữ. Đồng ý, được, ngộ, rồi thôi, ngộ đúng rồi đó. Nhưng quý thầy đừng bắt chước nha, nửa đêm la làng ha. Nửa đêm ngồi thiền: Tôi ngộ rồi! Sáng ra hỏi: Ngộ gì? Dạ, ni cô là người nữ, chết. Vào thời Đức Phật á vô số những vị A La Hán là chứng được trong khi ngồi thiền, vô số vị như vậy, nhưng mà chuyện này được ít được kể cho nên chúng ta không nghe nhiều, ừ. Chỉ nhờ có cái ông tăng đó. Bây giờ chúng ta nghe trường hợp thứ ba

[36:34]là nghe một câu nói úp mở, bí hiểm, khác thường rồi ngộ đạo. Cái trường hợp đầu á là nghe một cái giáo lý rõ ràng, rành mạch mà ngộ, còn trường hợp thứ ba này là nghe một câu nói úp mở, bí hiểm mà ngộ, ừ. Thì đây là một cái tính cách rất là đặc biệt của Thiền vì không có nó nói giống như kinh điển, cho nên nhiều khi chúng ta nghe truyền tụng cái câu là giáo ngoại biệt truyền là chỗ này. Nghĩa là bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật là chính nhờ ở chỗ cái những cái giai thoại nè, tức là nghe nói úp úp mở mở, câu không ra đầu ra đuôi gì hết trơn, không đúng với giáo lý mà vẫn làm khai ngộ.

[37:12]Nhưng mà sự thật nói rằng giáo ngoại biệt truyền cũng không đúng đâu, bởi vì nó cũng chỉ là một trường hợp chứ không phải là tất cả mọi trường hợp. Thì như trường hợp đầu tiên chúng ta thấy là đúng giáo lý, phải không? Đúng giáo lý mà ngộ. Còn cái trường hợp thứ ba này là úp úp mở mở mà ngộ, làm người khác ngộ, ha. Thì có vài cái công án nổi tiếng mà công án nổi tiếng là của ông Bàng Long Uẩn, là một cư sĩ. Thì ông Bàng Long Uẩn là một cư sĩ nhưng mà ông giống như người đại căn cơ, cả gia đình như vậy, vợ, con, con trai, con gái gì cũng là người xuất cách. Lúc đó ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng có hai đệ tử giỏi nhất là Mã Tổ Đạo Nhất.

[37:54]Lúc đó ngài Mã Tổ Đạo Nhất và Hy Thiên Thạch Đầu thì hai người đó đều là bậc chứng ngộ phi thường, nhiều người tới học. Thì ông Bàng Long Uẩn cũng tới, ngài gặp ngài Thạch Đầu trước, ổng hỏi một câu: Bạch hòa thượng, chẳng cùng vạn pháp làm bạn là ai? Câu đó nghĩa là gì? Vạn pháp là cái gì? Vạn pháp tức là là đủ mọi thứ trên đời này. Tức là những thứ đó nó thuộc loại là vô vô vô thường, sinh sinh diệt. Tức là những pháp hữu vi tương đối, những thứ mà lộn xộn, hầm bà lằng đủ thứ á, là vạn pháp là thứ đó. Thế ai là người mà không có làm bạn với cái vạn pháp lộn xộn vô thường sinh diệt đó? Tức là đó là cái gì?

[38:42]Đó là cái sự giác ngộ đó, sự giác ngộ, sự giải thoát là như thế nào? Mà ổng hỏi một câu dài dòng, thấy mệt nữa, hỏi một câu rắc rối, bí hiểm. Nói: "Bạch Hòa thượng, không cùng làm bạn với vạn pháp là ai?" Ổng vừa dứt lời, ngài Thạch Đầu bụm miệng ổng lại, ổng bừng ngộ liền. Chúng ta thấy cái thủ thuật của thiền sư, những cái đó không phải ai cũng biết đường mà làm. Làm đúng trường hợp người ta mới ngộ, nên mới những bậc xuất cách, những bậc thiền sư phi thường mới làm những cái thủ thuật như vậy. Ổng ngộ rồi thì ổng sống cuộc đời tự tại, ổng giáo hóa vợ con đều tu không xuất gia, nhưng mà ở nhà cả gia đình tu rất là tốt.

[39:18]Thì ổng cũng nghe tin là có người huynh đệ là Đạo Nhất ở Giang Tây. Ngài Thạch Đầu thì ở Hồ Nam, nhớ như vậy nha, ngài Hy Thiên Thạch Đầu giáo hóa ở vùng Hồ Nam, còn ngài Mã Tổ Đạo Nhất thì giáo hóa ở vùng Giang Tây. Cái ngài cũng sang Giang Tây để hỏi đạo. Thì gặp Mã Tổ, ổng cũng hỏi lại câu đó, mà hỏi với cái ý là để xem Mã Tổ trả lời sao thôi. Nói là: "Bạch Hòa thượng, chẳng cùng làm bạn với vạn pháp là ai?" Thì lần này thì ngài Mã Tổ lại không phải làm hành động mà lại nói một câu nói: "Đợi khi nào ông hớp một hớp hết sạch nước Tây Giang thì ta trả lời cho ông." Ngay câu đó ổng đại ngộ luôn,

[39:55]lần thứ hai triệt ngộ luôn, trở thành con người xuất sắc luôn. Tức là một cư sĩ mà cái sức ngộ không thua gì các thiền sư đương thời. Cho nên sau này cả nhà ổng đều chết một cách rất tự tại, chúng ta nghe câu chuyện, phải không? Nghe chưa? Có nghe câu chuyện không? Chưa. Đó là cả nhà chết một cách tự tại. Ông chết, ổng mới đợi đúng giờ Ngọ ổng chết. Cái ổng nói Linh Chiếu là con gái: "Con ra coi đúng Ngọ chưa?" Con gái ra nói: "Thưa cha, đúng Ngọ mà có nhật thực." Cái ổng tò mò, ổng bước ra coi cái con gái nhảy lên cái tòa ổng ngồi tịch liền, trong chớp mắt tịch, bỏ thân liền. Ổng ở lại ổng chôn cất con gái xong, cái ổng có người bạn tới thăm ổng,

[40:35]ổng nằm trên bờ đùi người bạn ổng, ổng nói một câu đạo lý ổng tịch luôn. Cái cho người bạn chôn ổng. Cái tin về tới bà mẹ, tại hai vợ chồng lúc đó không biết sao ly thân, ở riêng, không biết sao kỳ quá. Không biết có ra tòa không, biết mà ở riêng. Thì bà mẹ mới nghe tin vậy cái mới ra nói với con trai đang cuốc đất: "Nói cái ông già đó với con Linh Chiếu chết rồi, tịch bỏ đi rồi." Cái người con trai nói: "Vậy hả?" Đứng chống cây cuốc xuống đứng tịch tại chỗ liền. Cái bà mẹ bả chôn cất con trai xong bả đi vô rừng mất luôn, không thấy, không biết bả chết như thế nào. Đó là một câu nói nó ngộ. Rồi có một công án nổi tiếng, Cây bách của Triệu Châu là thế này:

[41:15]Lúc đó là có vị tăng đến hỏi ngài Triệu Châu, ngài Triệu Châu là sống 120 tuổi, sức ngộ phi thường, mới hỏi ngài Triệu Châu: "Bạch Hòa thượng, thế nào là đại ý của Phật pháp?" Ngài Triệu Châu mới chỉ là: "Cây bách ở trước sân." Trở thành công án nổi tiếng. Vị tăng mới nói: "Hòa thượng đừng liếc cảnh lừa người." Nói: "Không, ta không liếc cảnh lừa ngươi." Nói: "Vậy thế nào là đại ý Phật pháp?" Nói: "Cây bách ở trước sân", bừng ngộ liền. Cái đó nghĩa là gì? Thật ra đó, tất cả những cái công án của thiền sư hoặc là một câu nói hoặc là một hành động đều có cái ý ở trỏng, chứ không phải là không ý nha.

[41:54]Vì chúng ta không phải là người ngộ, chúng ta không hiểu thôi, chứ có cái ý. Thì cái ý đó đó, nhiều khi nó là một cái đạo lý rõ ràng. Có khi các ngài nói một cảnh giới của tâm, cảnh giới của tâm mà ngài thấy được. Có khi đó là một lời chê trách, có khi đó là một lời xác nhận, có khi đó là một sự kích thích. Chúng ta nhớ như vậy. Thì có những cái trường hợp mà một câu nói các ngài nó không có nằm trong đạo lý mà lại thuộc về cảnh giới của tâm. Thì câu nói của ngài Triệu Châu là thuộc về cái thứ hai: "Thế nào là đại ý Phật pháp? Cây bách trước sân." Thì cái người nghe đó do cái nhân duyên cái tâm của họ cũng gần đến cái mức đó,

[42:35]gần đến mức chín muồi, nghe bừng ngộ luôn, nhận ra được cái cảnh giới cùng ở luôn. Ở đây chúng ta sẽ thắc mắc, nói cảnh giới của tâm tức là cái gì? Thênh thang, bao la, thanh tịnh, giải thoát, giác ngộ, sao này là cây tùng trước sân? Nhưng mà cái người ở trong cuộc người ta hiểu. Nó là một điều người ta thấy giống như mình nhìn mình thấy hai hỏa, không có suy nghĩ. Khi mà ngộ rồi thì biết: "À! Cây bách trước sân." Như bây giờ mình nói cây gì trước sân? Cây dầu trước sân, ví dụ vậy, cũng tương tự như vậy. Hoặc là ngài Huệ Cầu ở Ngoạ Long, sau này ngài khai tổ một tông rất là lớn, hỏi ngài Huyền Sa:

[43:14]"Thế nào là mặt trăng thứ nhất?" Chúng ta có nghe câu mặt trăng thứ nhất, mặt trăng thứ nhì chưa? Ở đâu? Trong kinh Lăng Lăng Nghiêm, khi mà diễn tả thì Phật nói mặt trăng thứ hai là giác quan, còn mặt trăng thứ nhất là tánh giác. Thì ngài Huệ Cầu mới hỏi ngài Huyền Sa Sư Bị, Huyền Sa Sư Bị giỏi lắm: "Thế nào là mặt trăng thứ nhất?" Ngài Huyền Sa lại không trả lời mà lại hỏi lại: "Dùng mặt trăng của ông làm gì?" Ngay đó ngài bừng ngộ luôn. Những câu nói như vậy, bí hiểm như vậy. Ừ, hiểu không? Mình nghe không hiểu lát từ từ ngủ hết à. Hồi sáng vậy, hồi sáng nha tôi giảng, ráng giảng dễ sợ lắm,

[43:51]gần tới cuối bài cái từ từ từ từ từ từ bắt đầu chống cằm nhắm mắt lại hết rồi đó. Ráng tại vì cái này nó cũng là trong cái tiến trình kiến giải của thiền nên chúng ta ráng sau này mà mình biết mình dạy người khác, ai hỏi mình biết đường trả lời. Có thể mình chưa có đốn ngộ nhưng mà mình biết đốn ngộ là gì, mình biết bản chất của nó. Thí dụ như là ngài Tông Huệ đến tham vấn với ngài Vân Môn Văn Yển, ngài Vân Môn cực kỳ nổi tiếng, giỏi khủng khiếp luôn. Thì ngài Vân Môn hỏi: "Ngươi từ đâu tới?" Nói: "Dạ, con ở Tra Độ." "Đi rời đó ngày nào?" "Rồi trên đường đi có khỏe không?" Ổng hỏi thì ổng kia cứ thật thà mà trả lời.

[44:28]Sau khi trả lời hết rồi cái ngài mới nói: "Thôi, tha ngươi ba gậy. Đi về đi, đi ra phòng tăng nghỉ." Ổng đi về ổng nghỉ mà ổng thắc mắc hoài, nói: "Ủa, Hòa thượng hỏi mình đáp mà đúng hết mà sao ổng tha ba gậy, tức là thay vì đánh ba gậy mà thôi thấy ổng mới tới thì thương tha." Ổng thắc mắc hoài, qua bữa sau ổng tới: "Bạch Hòa thượng, hôm qua Hòa thượng hỏi con đáp mà không biết con có lỗi gì mà Hòa thượng nói là tha ba gậy?" Ngài Vân Môn mới nạt: "Cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam liền thế ấy." Ngay đó ngài đại ngộ liền. Cái túi cơm nghĩa là gì? Hử? Khi mà mình chê ai thì mình nói gì? Cái phường giá áo túi túi cơm nghĩa là sao?

[45:14]Cái người đó làm sao? Cái người mà mình chê là cái đồ giá áo túi cơm nghĩa là người đó làm sao? Vô tích sự, không làm gì được hết á. Cái người đó không có giá trị. Cái người đó chỉ có cái giá gì? Chỉ có cái giá trị là để treo được cái bộ đồ lên trên. Và cái bao tử là cái túi đựng cơm thôi, chứ ngoài ra không làm được chuyện gì hơn nữa. Tức là cái thứ vô tích sự. Thay vì đem cái áo mà treo ngay trong cái mắc áo thì treo lên cái thân người mình, thân người mình chỉ có giá trị là làm cái mắc áo thôi, tức là con người vô tích sự. Thì ngài mắng, mắng ngài Tông Huệ: "Đồ cái túi cơm!", tức là người ngu á, "Cái túi cơm!

[45:55]Giang Tây nghĩa là gì?" Giang Tây là ngài Mã Tổ, hồi nãy mình nói rồi. Giang Tây là chỗ ở của Mã Tổ. Hồ Nam là chỗ ở của ai? Ngài Hy Thiên Thạch Đầu. Thì chữ nói "Giang Tây, Hồ Nam" là tượng trưng cho cái gì? Cái tông phong sâu sắc nhất của thiền á, là ngay ngay đó đó. Thấy ổng hỏi Hòa thượng: "Không biết Hòa thượng, con có lỗi gì, sao Hòa thượng đòi đánh con?" Nói: "Ngu! Cái tinh túy của thiền là đó đó." Ngay đó ngài bừng ngộ liền. Nhưng mà người xưa họ hay nói xa xa gần gần á: "Cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam liền thế ấy." Ngài ngộ liền.

[47:04]Cái tinh túy của thiền là đó đó, ngay đó ngài bừng ngộ liền. Nhưng mà người xưa họ hay nói xa xa gần gần á: "Cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam liền thế ấy." Ngài ngộ liền. Ngay trong cái chỗ hỏi đáp mà là tông phong của thiền. Quý thầy hiểu chưa? Hả? Ai biết hỏi ổng hả? Ờ.

[47:35]Hoặc là câu chuyện này ngài Thiện Chiêu ngài đến ngài hỏi ngài ngài Thủ Sơn Tỉnh Niệm. Ngài Thủ Sơn Tỉnh Niệm tức là những vị này là tổ của tông Lâm Tế không đó, những vị xuất sắc của tông Lâm Tế truyền truyền nhau là những vị này. Mới hỏi: "Bá Trượng cuốn chiếu là nghĩa lý gì?" Thì đây chúng ta nghe những cái câu mà rất là kiêu kỳ nha, những câu mà rất là sang, rất là kiêu, rất là lớn. Thì vì ngày xưa có cái chuyện là lúc mà ngài Bá Trượng ngài sau khi ngộ đạo xong thì hôm sau là ngài Mã Tổ mới thăng pháp tòa để giảng pháp thì người ta trải chiếu để ngồi chứ lúc đó không có bàn ghế, trải chiếu trải chiếu vậy đó thì ngài Bá Trượng cuốn chiếu lại không cho giảng nữa.

[48:17]Thì bây giờ người ta thắc mắc không biết là đạo lý gì mà ngài Mã Tổ chấp nhận. Bây giờ vì ngài Thiện Chiêu phần nhiều ngài không hiểu, ngài mới hỏi ngài thầy của mình là ngài Thủ Sơn, nói: "Bạch Hòa thượng, Bá Trượng cuốn chiếu là ý nghĩa gì?" Thì ngài Thủ Sơn ngài trả lời bằng câu thơ là: "Áo rồng vừa phất toàn thể hiện." Ngài cũng không biết. Cái ngài mới hỏi lại: "Như vậy còn ý thầy là cái gì?" Mà ngài lại đáp một câu là: "Chỗ tượng vương đi bặt dấu chồn." Thì ngài Thiện Chiêu liền đại ngộ. Tức là hai câu thơ rất là cao sang. Một câu là áo rồng, tức là cái long bào áo vua phất lên thì tất cả phải hiện ra hết.

[48:58]Hoặc là chỗ tượng vương đi, chỗ con voi chúa mà đi á thì mấy con chồn nhỏ đừng có léng hánh tới. Chỗ tượng vương đi bặt dấu chồn. Thì những câu đó thì mình có thể hiểu được nhưng mà mình không ngộ. Nhưng mà ngài Thiện Chiêu thì lại ngộ, ngài đại ngộ liền. Những câu nói nó nó cũng bí hiểm, úp úp mở mở chẳng rõ đạo lý gì hết. Nhưng mà tự nhiên người ta tới cơ duyên chín muồi như vậy người ta bừng ngộ, tâm khai phát liền, rỗng suốt, thanh tịnh liền, rất là lạ cái sự chín muồi. Và chúng ta nghe một câu chuyện ngài Triệu Châu thì lại rất là bình dị. Có một vị tăng cầu xin ngài Triệu Châu chỉ dạy, ngài Tùng Thẩm á chỉ dạy thì thay vì ngài nói câu

[49:37]cao sang, ngài nhờ xin đạo lý ông hỏi lại là là: "Ông ăn cơm, cháo chưa?" Nói: "Dạ, con ăn cháo rồi." "Thôi, rửa chén đi!" Ông kia đại ngộ liền. Thấy ngộ ghê! Tức là những điều rất là bình thường rất là bình thường rồi ngộ đạo liền. Nhưng mà cái câu nói mà: "Ăn cháo chưa? Rửa bát đi. Ăn rồi thì rửa bát đi." có đạo lý gì không? Có không? Nó vừa là đạo lý mà nó vừa là cảnh giới. Một cảnh giới trong tâm như thế, vừa là một đạo lý cái đoạn này. Nhưng mà nãy giờ tôi có giải thích cái đoạn nào không? Nãy giờ tôi có giải nghĩa đoạn nào không? Tại sao không? Bởi vì những cái thiền ngữ, những công án là những

[50:24]bí mật của chư tổ, không được phép giải thích.

[50:29]Mà cũng có khi tôi không biết cũng có. Nhưng mà dù có biết không được phép giải thích. Nếu mình giải thích là phản bội chư tổ. Cho nên là những cái đoạn này ai hiểu hiểu, không hiểu thôi, ráng chịu. Nhưng mà chúng ta chỉ nêu ra, bởi vì hôm nay chúng ta học bài đốn ngộ nên chúng ta nêu những trường hợp ngộ đạo thôi. Thì trường hợp thứ ba này là nghe câu nói bí hiểm mà ngộ, tức là căn cơ của vị đó cũng đã tới mức chín muồi. Cái câu bí hiểm đó nhưng mà các ngài hiểu được rồi tâm biến chuyển luôn, nha. Cái câu vị tăng tha thiết xin chỉ một cái yếu chỉ Phật pháp, tức là ổng cầu cái đạo lý. Nhưng mà ngài Triệu Châu lật ngược lại không cho một cái đạo lý cao

[51:08]siêu mà lại nói một chuyện rất là bình thường trong đời sống. "Ông ăn cháo chưa?" Nói: "Dạ, con ăn rồi." "Rửa chén đi!" Ngộ đạo liền. Ý gì?

[51:23]Thật ra á, giải này ra cũng được nhưng giải ra rồi thì quý thầy sẽ thấy coi thường coi thường những câu thiền ngữ. Nhưng mà những câu đó làm chết người trong thiên hạ đó. Những câu đó điểm huyệt cái người ta đứng liền. Nhưng mình giải ra hết rồi cái mình thấy nó tầm thường, mình mang tội. Cho nên vì vậy phải để trong bí mật mãi mãi để cho quý thầy, chừng nào quý thầy ngộ rồi quý thầy sẽ hiểu lấy chứ không được nói. Không được nói. Bây giờ chúng ta nghe nghiên cứu qua tới trường hợp thứ tư là đốn ngộ do những cái cử chỉ lạ lùng, khó hiểu hoặc do những sự kiện vô tình. Cái này nè mới làm cho Thiền tông có phong cách

[52:00]lãng mạn, kỳ lạ, bí hiểm còn hơn hồi nãy nữa. Hồi nãy là mấy câu nói mờ mờ, bí bí nhưng mà ngộ mà cái này không nói luôn, chỉ hành động thôi mà vẫn làm người ta ngộ. Như thời Đức Phật á, ngài Châu Lợi Bàn Đặc á mà ngài mà nổi tiếng là học đâu quên đó, quý thầy nhớ không? Đó, nói là ổng học đâu ổng quên đó. Nhưng mà khi Đức Phật đưa ổng cái khăn, ổng nhìn cái khăn dơ mà ổng nhập định, ổng chứng đạo luôn. Đó là trường hợp này Châu Lợi Bàn Đặc mà không có giáo lý gì, nhìn cái khăn dơ rồi chứng đạo. Còn cái đời Thiền tông thì những giai thoại nổi tiếng nhất là ngài Thủy Lạo với Mã Tổ. Lúc ngài Thủy Lạo mới đến hỏi Mã Tổ:

[52:39]"Bạch Hòa thượng, thế nào là đại ý Phật pháp?" Ngài Mã Tổ nói: "Ta già, lãng tai, ngươi lại gần nói hỏi mới nghe." Trong khi lại gần: "Bạch Hòa thượng, thế nào là đại ý Phật pháp?" ổng dứt cho một cái Bàn Long Cước bay ra, lộn nhào ngoài kia. Đại ngộ liền. Chúng ta nhớ hồi xưa là các vị thiền sư đều giỏi võ nha. Các ngài rất là mạnh. Cú đá của ngài Mã Tổ khủng khiếp lắm, đá một cái bay ra đằng kia. Mà lúc đó đó, khi mà ngài Bồ Đề Đạt Ma đó đi từ bên Ấn Độ sang, ngài Bồ Đề Đạt Ma là người Ba Tư, tức là người Iran, Iran ngày nay là người Iran, thì ngài mới học, bên đó có Phật pháp rồi ngài đi học

[53:19]mỗi nơi từ từ dần dần qua Ấn Độ rồi đi sang Trung Hoa. Thì khi đi, thầy của ngài là ngài Bát Nhã Đa La có nói câu sấm: "Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện móng một con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ." Thì cái câu đó là câu sấm được truyền được truyền truyền dần truyền dần cho tới ngài Lục Tổ. Ngài Lục Tổ khi mà truyền tâm ấn cho ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng á mới nói: "Ngày xưa tổ Bát Nhã Đa La có câu sấm á, bây giờ câu sấm nó tới đời ngươi là ứng. Tới đời ngươi là ứng câu đó." Thì đúng là ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng mới có một đệ tử là Mã Tổ. Họ Mã, Mã Tổ. Và họ Mã nằm đạp một cái khai ngộ được một con người, không cần nói gì.

[53:58]Cú đạp nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo. Ở trong từ á thì gọi là đạp nhưng mà thật sự là sao? Đá. Quý thầy có biết Bàn Long Cước không? Biết đá Kim Tiêu này không? Không hả? Phải đi học võ mới được. Tức là đại khái nghĩa là ngài ngồi gần thế này thì chúng ta cứ tưởng tượng thế thì ổng ngồi ở trên bệ này lại ngồi gần ổng, đạp thì nó tiện không? Nó không thích thích, hất một cú vậy nó mới ngon. Nghĩa là ngài đá một cú hất cái lật ngửa ra, đứng lên ngộ đạo. Cho nên có những cái trường hợp kỳ lạ, đó là không nói không rằng hết, một cú. Chúng ta nghe kể chuyện nhiều lạ lắm trong nhà thiền. Như ngài Bạch Ẩn á, chuyện kể là ông thầy

[54:42]quất cho một hèo rớt từ trên cái nóc rớt xuống. Tại lúc đó đó, chùa bên Nhật Bản có vực á, rớt cái bực rớt xuống, ổng xỉu tỉnh dậy ổng ngộ đạo. Những câu chuyện mà nghe mình khó hiểu lạ lùng, không biết tại sao. Kích thích cái gì?

[54:56]Hoặc là ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn câu chuyện mà viên sỏi á, thấy không? Ngài Hương Nghiêm ở cái hội của ngài Quy Sơn, hôm đó tới phiên ngài nấu cơm, ngài đang sàng gạo gì đó, ngài Quy Sơn mới nói là: "Muôn ngàn hạt lúa nó sinh ra từ một hạt lúa." Nghĩa là sao? Mình đem hạt lúa mình trồng thì nó ra được một chùm, chùm hạt rồi đem một chùm hạt đó trồng thì ra muôn ngàn muôn ngàn, cứ như vậy. Cho nên ngài nói là muôn ngàn cái hạt lúa nó sinh ra từ một hạt lúa đầu tiên. Nhưng mà hạt lúa đầu tiên ở đâu ra? Cái ngài ổng sững người liền, ổng về ổng lật hết kinh này kinh kia tìm không ra. Ổng đến ổng thưa hỏi. Ngài Quy Sơn cười cười ổng không đáp.

[55:37]Thế ổng ổng lại ổng tức quá, ổng bỏ đi, ổng buồn ổng bỏ đi. Ổng buồn ổng thề, ổng nói thôi đời này ổng chỉ làm tăng cơm cháo thôi, tu qua ngày thôi chứ thấy buồn quá, có một cái đạo lý đó mà hiểu không được mà hỏi thầy thầy không nói. Thì ngài ừ nhưng mà thời xưa phải cuốc đất, ngài cuốc đất ngài sống rồi ngài bỏ về vùng núi. Hôm đó ngài cuốc nhằm viên sỏi, nó văng vô cái ống tre kêu cái cốc, ngài ngộ đạo liền. Ngài thắp nhang hướng về Quy Sơn đảnh lễ liền. Cho nên sau này ngài hay ca ngợi, ngài nói: "Ta không kính trọng tiên sư bởi vì tiên sư đạo cao đức trọng mà ta chỉ kính trọng tiên sư ở chỗ là tiên sư đã không giải thích

[56:16]cho ta nghe." Thế là ngài không tìm được cái câu mà cái hạt lúa đầu tiên ở đâu ra, hỏi tìm trong kinh không ra, lại hỏi ngài Quy Sơn thì ngài Quy Sơn không trả lời, cười cười không nói. Nhưng mà nhờ không trả lời nên khi ổng nghe cái cốc ổng ngộ đạo. Đó là lý do tại sao mà tôi không bao giờ giải thích những cái công án là vậy. Mà đó là tuyệt đối không được nói. Bây giờ quý thầy mà có muốn ngộ á thì quý thầy cũng phải tự tìm chứ không được hỏi. Quý thầy gom một đống sỏi để đó, lấy một cây tre ngồi chọi vô. Trúng kêu cái cốc, không trúng thì nó rớt ra ngoài. Mà trúng cái cốc, biết đâu sẽ có một cái cốc nào đó làm mình ngộ.

[56:51]Còn nếu mà nó không ngộ thì mình hốt sỏi vô, chất vô thùng để lại, bữa khác rảnh ra ngồi chọi nữa. Đó là một cái sự kiện vô tình á, nên có nhiều cái sự kiện vô tình lạ lắm nha. Cái đó đó là cái cây tre hay cục sỏi nó có ý nó muốn dạy ngài Hương Nghiêm không? Không, vô tình á. Cái trường hợp mà ngài Mã Tổ đá một cái á là bởi vì Mã Tổ có cái ý, thấy không? Ngài có cái chủ trương là cú đá này khai ngộ một con người. Cho nên là ngài đá là có cái ý muốn dạy nhưng mà viên sỏi nó không hề ý muốn dạy. Hoặc là trường hợp như là thiền sư mà nhớ tự nhiên ngài Bàn Tăng á đó, ổng muốn vô đi đâu vô chợ rồi ổng đi ngang qua hàng thịt,

[57:30]nhưng mà chắc ngài không đi mua thịt đâu, ngài đi đâu qua đó. Ngài nghe cái người mua nói chuyện với người bán: "Lựa cho tôi miếng nào ngon nhất." Thế người bán mới trả lời: "Thịt của tôi miếng nào cũng ngon nhất." Ổng đại ngộ liền, ngay giữa chợ, ngay hàng thịt. Nha. Nên quý thầy muốn ngộ bằng cách đó cũng được, quý thầy cứ ra chợ Long An đảo qua đảo lại hàng thịt á, đi tới đi lui biết đâu sẽ có người ta hỏi mua gì đó mình cũng ráng ngộ lắm à, ha. Ráng ngộ luôn. Có những trường hợp, nghĩa là cái ông bán thịt ổng cũng không hề cố ý là ổng muốn dạy cho ngài ngộ, nhưng mà ngài nghe câu đó ngài ngộ, ngộ vậy đó.

[58:08]Còn cái trường hợp mà ngài Hoài Hải với ngài Bá Trượng là một công án nổi tiếng. Lúc đó ngài Hoài Hải cũng rất là giỏi, thông minh lắm, ngài Mã Tổ mới cho theo hầu. Thì lúc hai thầy trò đi nhau ở rừng ở núi vậy, có một đàn vịt trời nó bay qua thì Mã Tổ mới hỏi: "Vịt trời bay đi đâu vậy?" Ngài Hoài Hải mới trả lời là: "Dạ bay qua mất." Bay qua mất là đạo lý gì? Đạo lý gì? Vô thường, tức là mọi chuyện trên đời đều đều vô thường. Thì lúc Mã Tổ mới nắm mũi kéo một cái muốn đứt ra luôn rách mũi luôn, tại vì ngài có võ mà, giật một cái, ông kia la đau la lên, Mã Tổ nói: "Đó, nói đi, bay qua mất đi." Ông kia đại ngộ liền.

[58:48]Ông về, ổng khóc ba ngày ở trong phòng. Khóc quá chừng khóc, cái mấy huynh đệ cũng mũi lòng nói hoài, nói: "Nói huynh bộ nhớ cha nhớ mẹ gì sao mà khóc dữ vậy?" Nói: "Hòa thượng nhéo mũi tôi đau quá." Cái huynh đệ cũng bất nhẫn á, nói: "Trời, ổng đi theo ổng làm thị giả cho hòa thượng, ổng thương hòa thượng, ổng kính hòa thượng chứ, nhéo mũi một cái thì con người ta thì chơi kỳ." Phải không? Lên thưa lên mắng vốn hòa thượng, nói: "Hòa thượng nhẹ tay một chút chứ hòa thượng nhéo mũi ổng khóc ba ngày nay ổng không nín." Cái ngài Mã Tổ nói: "Không, y đã sáng việc rồi." Mấy người kia chạy về nói: "Ủa, sao hòa thượng nói anh ngộ đạo anh sáng rồi?" Cái ổng cười ha hả, nói:

[59:22]"Ủa, sao ba ngày nay anh khóc giờ anh cười?" Cái ngài trả lời: "Thì mấy ngày nay khóc, giờ cười." "Mấy ngày nay khóc, bây giờ cười, thì khi thì khóc, khi thì cười." Câu đó là một đạo lý. Câu đó là một đạo lý. Nhưng cái công án ngừng lại. Đây chúng ta thấy, tức là cái trường hợp bị ngộ nó không có theo tiêu chuẩn giáo lý mà bằng một hành động nhéo lỗ mũi đau, nó nói: "Bay qua mất đi", ngộ liền. Thôi đừng nhéo tay người ta, người ta cho ăn một chỏ, người ta cho ăn cái bánh mì khô bây giờ. Chứ đó, đừng bắt chước mà nhéo tai người ta nha, người ta không ngộ mà mình ăn cái bánh mì khô đó, coi chừng.

[1:00:02]Hoặc là một công án nổi tiếng nữa là ngài Thiện Hội Giáp Sơn với ngài Hoa Đình Thuyền Tử. Ngài Hoa Đình Thuyền Tử á, ngài ngộ đạo xong rồi cái ngài lại không có ở chùa giáo hóa, mà ngài biết cái duyên ngài với chúng sinh ít, ngài cũng không có phước nên ngài mới sắm một cái thuyền nhỏ trên sông để đưa người đi qua lại làm phước. Ai cho cái gì á thì sống không cho thì thôi, nhịn. Còn ai để lại một đồng xu hay để lại cái bánh gì đó thì ngài sống bằng cái đó chứ không đòi hỏi, cứ làm phước đưa người qua đưa người lại trên sông để làm phước thôi. Nhưng mà rồi danh tiếng ngài cũng vang xa. Có nhiều người biết ngài cũng đến hỏi đạo nhưng mà cái

[1:00:36]cách ngài trả lời bí hiểm quá không ai hiểu nổi. Nên đôi khi ngài cũng than là: "Câu khắp dòng sông cá vàng ít gặp." Ai hỏi đạo ngài cũng trả lời nhưng mà hầu như không ai ngộ hết, nên ngài than. Thì hôm đó có ngài Thiện Hội tới, tức là đúng căn cơ thầy trò. Thì khi mà đến hỏi á, thì đứng mà thấy ngài ở dưới xuồng mà đứng trên bờ mà hỏi thì vô lễ, phải không? Ngài mới biểu: "Bước lên xuồng." Lên tới xuồng, cái xuồng ngài cũng không có lớn lắm, tại vì bơi một mình mà. Lên xuồng cái mới hỏi giáo lý, hỏi qua hỏi lại vài cái. Cái ngài Hoa Đình Thuyền Tử mới bắt: "Nói nhanh, nói!" Tức là trong lúc ép như vậy đó,

[1:01:16]buộc con người kia còn suy nghĩ hay không. Nghĩa là kêu nói, bật miệng nói liền thì là thứ thiệt. Thì ngài Thiện Hội chưa phải thứ thiệt, cho nên khi mà ngài Hoa Đình Thuyền Tử kêu ngài Đức Thành á, Đức Thành kêu: "Nói, nói!" Cái ngài mới suy nghĩ tính nói, ổng quất một cái bóp, bay rớt xuống nước liền. Bình thường á mình quất người ta một chèo người ta có rớt nước không? Không đâu. Không đủ sức đâu. Như vậy mình biết ngài có võ không? Có võ, quất một chèo mà ngài Thiện Hội Giáp Sơn ngài to con lắm nha, quất một cái ổng bay khỏi thuyền rớt xuống nước liền, thì phải hiểu là nội công cũng dữ dội lắm á.

[1:01:47]Rớt xuống nước cái ùm ổng, may ngài Thiện Hội biết bơi. Ngài bơi, ngài ngóc đầu lên ngài ngài lồm cồm leo lên thuyền lại. Leo lên thuyền, người còn ướt sũng, chưa kịp nói cái gì cái ngài kêu: "Nói, nói!" Cái ngài suy nghĩ tính nói nữa, quất một cái bóp nữa, lần này thì tại vì đang ngồi đó, đề phòng rồi nên không té, nhưng mà đại ngộ liền. Đại ngộ xong ngài gật đầu ba cái, nghĩa là được rồi được rồi, đừng đánh nữa. Là sau đó là ngài Hoa Đình mới dặn dò, truyền đạo, dặn ngài Giáp Sơn ẩn thân tu thêm rồi sau này mở mang giáo hóa, rồi ngài mới bơi cái thuyền ngài ra giữa dòng sông ngài lật úp xuống ngài đi, tịch liền.

[1:02:24]Đó là trường hợp của ngài Đức Thành Hoa Đình Thuyền Tử cũng rất là rất là đặc biệt như vậy. Ừ.

[1:02:31]Thì cái mà đánh đó là đạo lý gì?

[1:02:37]Hả? Hả? Chúng ta thấy rất là lạ nha. Lát nữa là chúng ta sẽ giải thích với nhau là bản chất của đốn ngộ là gì, mà tại sao có những cú đánh như vậy mà làm người ta ngộ. Đó giờ mình cứ nghe thôi, cứ nghe để đó. Trường hợp của ngài Quy Sơn cũng vậy, ngài Quy Sơn đệ tử của ngài Bá Trượng, hôm đó là đứng hầu thầy mình, hầu thầy bữa qua trời mùa đông lạnh nên có cái lò sưởi, mà đứng nói chuyện qua lại uống trà cái lò sưởi nó tàn nó hết, nhìn cái tro nó lạnh đành đành lạnh. Cái ngài Bá Trượng mới kêu ngài Quy Sơn: "Đâu con lại con tìm coi còn chút lửa nào không?" Ngài Quy Sơn mới lại khươi khươi không thấy.

[1:03:12]Khươi khươi khươi lát qua loa lại sơ sơ không thấy. Nói: "Dạ hết rồi." Cái ngài Bá Trượng mới lại, moi kỹ hơn chút nữa gắp lên đốm lửa chút xíu. "Vậy cái này là cái gì?" Ngay đó ngài Quy Sơn bừng ngộ liền. Ngộ gì? Do đạo lý gì mà ngộ?

[1:03:31]Tôi rất thích công án này. Công án này rất là hay. Mấy công án kia coi vậy chứ nghe thấy lạ mà không đã. Cái công án này mới đã. Ý nghĩa nó rất là thâm sâu. Công án này rất là hay mà tức mà không nói được. Nói thì phản bội chư tổ, mà để trong bụng thì tức. Nhưng công án này rất là hay. Tôi rất là thích công án này. Hử?

[1:04:03]Tôi mà không biết kềm chế tôi nói ra tôi lại phản bội chư tổ. Thầy nín luôn.

[1:04:11]Hoặc là trường hợp của ngài Huệ Lăng ở Trường Khánh cũng vậy. Ngài theo học với ngài Tuyết Phong 20 năm, ngồi rách bảy cái bồ đoàn rồi mà không ngộ, nghĩa là dụng công rất là tha thiết á, cứ sấp ngửa cực khổ tới lui tu hoài không ngộ. Mình ở đây tu được nhiêu rồi? Năm chưa? Chưa phải không? Cho nên đừng thắc mắc tại sao chưa ngộ. Ngài Huệ Lăng là đại căn đại cơ đó, mà ở với ngài Tuyết Phong 20 năm, ngồi rách bảy cái bồ đoàn chưa ngộ. Vậy một hôm có cái chuyện ngài vào cái nhà ngài vén rèm lên cái ngài ngộ liền. Nên ông có làm bài kệ cũng hay: "Vừa cuốn rèm lên thấy thiên hạ." Đó vậy, hay. Còn một cái công án khác cũng nổi tiếng là ngài Vân Môn.

[1:04:52]Ngài Vân Môn cực kỳ giỏi. Trong những hàng thiền sư đời xưa vậy, ngài Vân Môn là một Thái Sơn, một đỉnh Thái Sơn, là khai tổ tông Vân Môn luôn. Thì ngài đến ngài tham học với ngài Trần Tôn Túc. Ngài Trần Tôn Túc là đệ tử ngài Hoàng Bá. Ổng ở trong chúng ổng giỏi lắm, ổng có đạo đức kỳ lạ lắm, ổng có cái uy gì đó nên người ta không dám gọi tên, cứ gọi là Trần Tôn Túc. Thì sau khi chứng ngộ rồi thì ông lại về nhà ông nuôi mẹ, ông may giày để nuôi mẹ, tại lúc còn người mẹ không ai nuôi, ổng phải bỏ về ổng nuôi. Nhà mẹ ở một bên, ổng cất cái thất ổng ở một bên. Mà nhiều người tới lui thưa hỏi, nhưng mà ổng bí hiểm quá,

[1:05:25]cái sức ngộ ổng cao quá nên ổng trả lời không ai hiểu nổi. Thì lần đó ngài Vân Môn nghe tiếng mới tới, cứ thưa hỏi thưa hỏi ổng không cho vô, ổng không không mở cửa luôn. Cái lần đó ngài Vân Môn tức quá mới hất cửa chen vô đại, đạp cửa chen vô, ơ hết lịch sự rồi, là xô cửa chen vô đại nữa chứ không còn lịch sự nữa. Mấy bữa trước thì còn nhịn, tới trước hòa thượng không cho vô cứ đứng ngoài cửa chấp tay rồi nghiêm chỉnh: "Bạch hòa thượng, con tha thiết cầu đạo." Ổng ngồi trong trỏng ổng không nói gì, hỏi hỏi ổng không thèm trả lời, ổng chỉ nói vài câu sơ sơ, tức. Tới cái ngày thứ ba chịu hết thấu rồi, tông cửa vô đại.

[1:06:01]Vừa mới tông cửa vô cái ngài ổng nắm áo lên kêu: "Nói!" Ngài suy nghĩ định nói, ổng xô ra ổng đóng cửa cái rầm. Cũng thiệt, mấy ông có nội công đóng một cái kẹt nát cái bàn chân liền. Ngay đó đại ngộ luôn. Nên ngài Vân Môn là bị tật suốt đời luôn. Ngài Vân Môn là sau này là vị tổ nổi tiếng lừng lẫy, nhưng mà đi đâu cũng phải chống gậy đi cà nhắc cà nhắc á. Sau này ngài Vân Môn á, khi mà ngộ đạo với ngài Trần Tôn Túc rồi thì ngài mới đi tham vấn nơi này nơi kia. Thì đặc biệt ngài nghe tin là ngài thiền sư Tri Thánh ở ở Linh Thọ là một vị thiền sư đắc đạo cao siêu, ngài mới đến. Mà ngài mà Tri Thánh Linh Thọ thì mới thứ dữ á.

[1:06:40]Thế là ổng ở chùa ổng dạy chúng vậy đó, dạy chúng bình thường ổng nói: "Thủ tọa của ta vừa mới sinh ra." Một thời gian sau cái ổng nói: "Thủ tọa của ta bắt đầu đi hành khước", tức là đi tham vấn. Rồi một thời gian sau nữa cái một bữa nọ cái tự nhiên ổng kêu nói: "Chúng đắp y ra cửa đón thủ tọa vô." Và khi chúng không biết gì, cũng nghe lâu lâu nhắc là ông hòa thượng mình hay nói về một thủ tọa, một người mà sẽ làm chức thủ tọa, mà không biết là ai. Thì đúng ngày hôm đó tự nhiên kêu: "Toàn chúng đắp y ra đón thủ tọa." Thì chúng không biết gì cũng đắp y ra đứng hai bên cổng chùa thì ngài Vân Môn xách cái túi đi tới.

[1:07:15]Tới nơi mệt quá, vì Trung Hoa đó trời chùa này điều kiện nó xa thăm thẳm rồi leo lên tới nơi, cái xìu xìu đi vô tự nhiên thấy hai hàng tăng chúng đứng đón, vô đảnh lễ mình cũng không biết sao, vừa vô đảnh lễ hòa thượng là ổng giao chức thủ tọa liền. Tức là ngài Tri Thánh là một thứ dữ á, thần thông quảng đại. Thì lần đó là nước Trung Hoa cũng chia năm xẻ bảy rồi đánh nhau tá lả á, thì cái ông lãnh chúa vùng đó lần đó ổng muốn cất quân đi đánh ai đó, ổng mới đến hỏi ngài Linh Thọ. Thì ổng ngồi đây ổng biết ông kia sắp sửa tới hỏi là đi đánh thắng hay không, mà trong nhà sư mình có nên nói chuyện đó không? Không.

[1:07:51]Ờ nên ổng ngồi ổng tịch luôn để ổng không trả lời câu đó. Thì ông kia vô sồng sọc đi vô tìm hỏi: "Hòa thượng đâu?" Vô thấy hòa thượng vừa mới tịch, để lại bức thư. Ông kia biết là hòa thượng tránh mình. Tại vì nào giờ là hòa thượng ngài Tri Thánh Linh Thọ nói gì là trúng cái đó, không bao giờ trật, biết trước chuyện ngàn năm trước ngàn năm sau, dễ sợ vậy. Vô thấy để lại bức thư mở ra chỉ có một câu vỏn vẹn, nói: "Thủ tọa của chùa này đó, của chùa đó chính là con mắt của trời người, con mắt của nhân thiên, tri nhãn mục." Tức là biết biết là ý là giao chùa lại cho ngài Vân Môn, thế là ngài Vân Môn Văn Yển lên làm trụ trì luôn.

[1:08:29]Nghĩa là chính quan đó đưa lên, tại vì xưa chùa đồ mấy ông quan kiểm soát hết trơn rồi, thời đó như vậy. Thì cái công án này cũng rất là lạ, đó là kẹt gãy nát bàn chân luôn mà làm người ta đại ngộ. Đại ngộ rồi đi cà nhắc không biết lỗ hay là khổ không biết. Chơi kỳ không biết nữa. Ngộ nhưng mà cho người ta còn đi đàng hoàng chứ.

[1:08:52]Bây giờ chúng ta nói chuyện với nhau về bản chất ngộ là cái gì. Đốn ngộ như chúng ta nói á nó là sự biến chuyển bất ngờ, nhanh như chớp khiến tâm thức thay đổi từ loạn động thành yên tĩnh, từ mê tối thành sáng suốt. Trong cái khoảnh khắc bất ngờ đó đó, hành giả mới thấy là trước cái khoảnh khắc đó tâm mình rất là nhỏ hẹp, sau khoảnh khắc đó tâm mình bùng ra lớn rộng. Trước cái khoảnh khắc đó đó, tâm mình như cái gì nó bó lại, sau khoảnh khắc đó những cái lớp dây nó tan mất trơn, tự nhiên thênh thang, tự tại. Trước đó mình còn mờ mờ, do dự, sau khoảnh khắc đó mình rất là sáng suốt, lanh lợi. Cho nên nó rất là đặc biệt, làm người ta rất là thích.

[1:09:33]Nhưng mà cái đốn ngộ nó không phải là ngẫu nhiên mà có. Nó phải là cả một quá trình sao, công phu tu tập, tích lũy công đức của nhiều năm tháng và nhiều đời kiếp chứ không phải mới mới đời này. Giống như là bây giờ mình muốn hái xoài ăn thì mình làm sao?

[1:09:56]Thì cái người mà đơn giản là cứ lúc nào cũng nhìn lên trên, lên tàn cây là cứ thấy có trái thì khoèo mà hái. Nhưng mà điều đó nó có cái nguy hiểm là gì? Nguy hiểm là gì? Một hôm nào đó mình sẽ hái lộn nhầm cây của hàng hàng xóm thì người ta vác hèo người ta nó rượt. Còn mà mình muốn ăn xoài á, mình gieo ngay từ đầu trên mảnh đất của mình, mình chăm mình bón lên thì tới lúc có trái thì đó là chắc ăn. Cho nên vậy chúng ta xét về đốn ngộ cũng giống như là mình hái xoài á, là thật ra tuy biết có trái xoài chín, có xoài rụng nhưng mà phải biết nó là tích lũy từ cái công mà gieo trồng, chăm bón rất là lâu đời chứ không phải là một ngày một bữa.

[1:10:41]Nên cái người mà tu hành á mà cứ đòi đi kiếm trái xoài hái thì cái người đó làm sao? Không có không có căn bản, không có chánh kiến. Cứ đòi đi kiếm trái mà hái là không có khôn. Còn cái người khôn là người biết gieo trồng, giữ gìn cái cây công đức của mình không có lẫn lộn. Đó cũng là lý do mà Đức Phật không bao giờ chú trọng tới cái việc đốn ngộ mặc dù chuyện đó thường xuyên xảy ra. Ngài luôn luôn dạy một cái đạo lý tu hành đi từ căn bản, tu dần dần, tu chầm chậm mà chắc. Nó cũng giống như vậy á. Giống như là khi chúng ta học toán thì ông thầy buộc mình làm toán cộng trừ nhân chia bằng cái gì?

[1:11:21]Phải tự cách mình mình làm một cách thủ công phải không? Là viết con số ra, viết con số rồi ngồi đếm từ từ mà cộng, mà trừ, mà nhân, mà chia, làm thủ công. Nhưng mà bây giờ thì có cái máy máy tính bấm. Thì cái đốn ngộ cũng giống như là xài máy tính á, còn cái mà tiệm tu giống như là mình làm toán bằng thủ công á. Thì làm toán bằng thủ công á nó có cái lợi gì? Là khi mà không có máy thì mình vẫn vẫn làm được. Như khi khai căn vậy, không có máy mình vẫn khai căn được, khai căn bậc hai được. Còn cái người mà không có học cái tính toán thủ công chỉ biết bấm á, khi mà mất cái máy thì sao? Thì không biết làm gì nữa hết.

[1:11:57]Phải không? Còn cái người mà họ biết làm toán rồi đó, khi có máy thì họ vẫn bấm được phải không? Vẫn bấm được, mà khi không máy thì làm thủ công, cả hai đều được hết. Còn người mà chỉ học bấm máy thì biết một cái một thôi chứ cái căn bản không biết. Cũng vậy, cái người mà chỉ đi tìm cái đốn ngộ á thì nếu không có đốn ngộ rồi, không biết đường tu. Nên Đức Phật không thích. Còn cái con đường của Phật dạy á là từ cái không có gì, không biết gì mà mình tập từ từ, từ từ rồi mình tiến lên. Từ cái căn bản là biết rõ toàn thân, giữ thân mềm mại, bất động, thấy thân là vô thường, hư ảo rồi bắt đầu từ đó thở, biết hơi thở vào, biết hơi thở ra mà không can thiệp.

[1:12:46]Khi hơi thở dài, khi hơi thở ngắn, không can thiệp. Chỉ có mình nín thở một chút để lấy khí lực. Thì sau này cái bài về khí công chúng ta sẽ nói về điều đó. Đó là đi từ căn bản mà lên từ từ như vậy thì rất là hay, đụng trường hợp nào mình cũng xoay xở được hết. Chúng ta còn bốn bài nữa là hết bài thiền. Một bài chúng ta sẽ nói về các tông phái, bốn tông phái chính hiện nay. Một bài mình nói về Bồ tát hạnh, một bài mình nói về xả thiền, giám thiền, một bài cuối cùng nói về khí công. Là chúng ta kết thúc cái môn Thiền học. Bắt đầu sau đó chúng ta cho thi hết môn rồi nghỉ một tháng rồi chúng ta bắt đầu vào cái môn Hoằng pháp.

[1:13:27]Học môn Hoằng pháp thì sẽ cực đấy. Mùa hạ năm nay á tôi lại không có đi giảng hạ được nhiều bởi vì mắc học lái xe.

[1:13:40]Chuyện rất là tức cười, cái này là tôi cứ tùy thuận duyên mà sống á, tôi nghĩ chắc cũng là ý của Phật thì thôi cứ tùy thuận. Là bởi vì cái bằng lái của tôi nó lâu rồi, cái mấy chú đệ tử mới nói thôi bằng lái thầy cứ ba năm phải đổi một lần theo quy định nhà nước, đổi hoài mất công. Thôi năm nay thầy học lên dấu, học lên dấu chừng tháng à. Tức là bằng C là bằng tải nặng mà lên bằng D là lái được 30 chỗ thì có một tháng à. Tôi nghĩ một tháng thôi chịu một tháng cũng được nên mới khám sức khỏe, đóng tiền, đăng ký đồ, chờ kêu. Tới chừng trường kêu thì đúng vào hạ. Vô học rồi mới phát hiện té ngửa ra là xin thưa ba tháng, đi luôn ba tháng hạ luôn.

[1:14:18]Mà cái trường Vũng Tàu họ dạy kỹ quá, ở Vũng Tàu họ dạy. Nghĩa là cái xe trong trường á là xe đời mới nhưng mà họ bắt thao tác theo xe đời xưa. Là vào cái xe mà máy móc không tinh vi á, họ bắt mình phải lái theo kiểu đó. Mình thấy nó thừa nhưng mà vì họ chấm điểm, họ cấp bằng nên mình phải nghe lời. Tức là thao tác thay vì ví dụ như mình đạp côn xong, am-bray-ya xong mình gài số, ha, mình trả số, gài số xong rồi mình buông côn rồi mình đi tiếp, còn kia không, đạp côn, trả ra cái số không rồi nhở côn ra, đạp côn cái nữa mới đẩy vô con số khác. Tức là thao tác nó vất vả hơn rồi khi mình lui số cũng vất vả như vậy.

[1:14:56]Mới đầu á tôi cũng cảm thấy là họ hơi vô lý. Tại vì cái xe đời này làm gì có xe đời cũ nữa, phải không? Xe đời cũ đã cấm lưu hành, chỉ còn xe đời mới thì cứ đi một côn cho nó tiện lợi chứ đâu phải đi hai côn. Nhưng mà học ít bữa rồi mới phát hiện ra là ý tốt của trường. Ví dụ trên dốc mà lao xuống, xe lao xuống mà nó mất thắng thì chỉ người nào mà học cách căn bản này mới cứu chiếc xe được, mới thắng chiếc xe được khi mà xe đứt thắng rồi. Chứ còn mà học theo kiểu xe đời mới rồi đứt thắng rồi là lao luôn xuống vực, gặp ai tông nấy thôi chứ không thể nào dừng được. Nhưng cái thủ thuật mà đúng họ dạy thủ công á không ngờ

[1:15:33]mới là cái cứu mình trong cái hoàn cảnh mà những cái phương tiện hiện đại nó mất hết, mình xử lý được liền. Nghĩa là kềm xe lại, xe đang lao xuống vực đứt thắng rồi mình sẽ làm cho xe chậm dần chậm dần chậm dần rồi từ từ đứng lại được. Chứ còn mà nếu học theo kiểu đời mới đứt thắng rồi là bỏ luôn á, chết hết. Hay như vậy. Thì cũng vậy, cái đốn ngộ này là một cái trường hợp đặc biệt mà Phật không chú trọng bởi vì trí tuệ của Phật rất cao siêu. Lỡ mình không đốn ngộ nhưng mình vẫn có con đường để tu. Còn cái người mà cứ đi tìm cái đốn ngộ mà không đốn ngộ được cả đời cũng hoang mang hoài, không có gì để tu hết,

[1:16:07]không biết tạo công đức, không biết nhiếp tâm trong thiền. Cho nên là vì lý do đó Phật không có chú trọng cái đốn ngộ mà luôn luôn chú trọng cái tiệm tu. Phật nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong các bài kinh mà đây là người sau không hiểu nên cứ chê là cái giáo lý thời Phật là giáo lý thấp, mà giáo lý đời sau Thiền tông mới là tối thượng thừa. Nhưng mà sự thật không phải tối thượng thừa. Cũng giống như là chúng ta thấy cái người mà học lái xe vậy đó, thao tác theo xe đời xưa mình chê, ô cái này là đời xưa, xe bây giờ hiện đại. Nhưng không ngờ chính cái thao tác đời xưa đó mới là con người chín chắn, trí tuệ.

[1:16:43]Cũng giống như là một người nè mình thấy hễ làm toán cái móc cái máy tính ra bấm bấm bấm liền, mình thấy hay, nhưng mà hễ mất cái máy tính hay rớt cái máy tính, máy tính mà hết pin hết điện rồi là ngồi khóc. Còn cái người mà học làm thủ công thì trường hợp nào cũng xoay xở được, có máy tính thì bấm, không máy tính thì lấy giấy ra làm thủ công, được hết. Đó là con đường của Phật. Chính vì vậy, hôm nay chúng ta nói về hiện tượng đốn ngộ để chúng ta thấy là tại sao Phật không chú trọng mà tại sao đời sau này lại chê thời Phật, cứ cho rằng cái kiến tánh đốn ngộ đó mới là cái cao siêu? À, vì không hiểu nổi trí tuệ của Phật, không thấy được cái sự chín chắn,

[1:17:17]cẩn thận của Phật để dạy đệ tử của mình nên không biết mà chê. Chớ trường hợp đốn ngộ xảy ra rất thường và đời sau cứ ca ngợi cái đốn ngộ này mà quên đi cái tiệm tu Đức Phật dạy từ căn bản rất là thấp. Ta hiểu điều này chúng ta mới thấy là không ai qua được trí tuệ của Phật. Mình không biết mà mình chê thời Phật là thấp mà đời sau này là tối thượng thừa là mình mang tội đó, mang tội ha. Nên mình cứ điềm đạm, chững chạc mà tu từ căn bản, về sau này thì lại thành công.

[1:17:48]Với một điều nữa là chúng ta không biết là cái người mà đốn ngộ đó là được mức độ nào, Tứ thiền hay là Tứ quả? À, không biết là Tứ thiền hay Tứ quả. Bởi vì thiền á là chúng ta đánh giá theo mức độ gì? Hử? Thiền? Theo mức độ định tâm sâu cạn, phải không? Còn nếu mà chứng theo Thánh quả đó thì đánh giá theo mức độ gì? Nhớ không? Thánh quả thì đánh giá theo mức độ gì?

[1:18:25]Đạo đức, nhớ giùm nha. Nhớ giùm, hồi sáng nghe mấy cô lại nhớ được. Thiền á, được đánh giá theo mức độ là nhập định sâu cạn, còn quả Thánh đánh giá theo mức độ đạo đức. Thì khi một người mà họ đốn ngộ một cái, mình không biết được là họ chứng theo thiền hay chứng theo quả hay chứng cả hai. À. Có những vị chứng cả hai, khi mà đốn ngộ rồi thì vừa vào được định sâu hơn, mà cũng thành tựu được Thánh quả luôn. Nhưng có người thì chỉ vào được định sâu hơn, mà không chứng được Thánh quả, bởi vì đạo đức không thành tựu. Chúng ta để ý điều này. Thí dụ như là mình có nghe ai kể về họ đốn ngộ, họ có xuất hiện hiện tượng đốn ngộ trong sự tu hành, mình cũng khoan tin.

[1:19:08]Coi coi cái đời sống của họ. Nếu là họ có đạo đức thì biết rằng người này, cái đốn ngộ này đã đưa người đó vào Thánh quả, thì người đó là Thánh rồi, mình nên hầu hạ, có phước. Còn nếu mà họ kể về cái trường hợp đốn ngộ của họ, nhưng mà sau đó mình thấy họ tầm thường, họ kiêu căng, họ khoe khoang, thì biết người này có thể chỉ chứng thiền thôi à. Chứng thiền để giúp cho họ định tâm dễ hơn, sáng hơn, tốt hơn, nhưng mà không phải Thánh quả, vẫn là người phàm phu tầm thường. Đó. Và trong nhà thiền có nhiều trường hợp lạ lùng lắm, là có những người có đốn ngộ nhưng về sau lại hèn hạ, tầm thường, hư hỏng.

[1:19:47]Rất là nhiều, kể không hết. Bây giờ cũng vậy mà đời xưa cũng vậy. Nhưng mà đời xưa nổi tiếng nhất là cái chuyện của ngài Bình Thị Giả. Lúc đó vào đời của ngài Phần Dương Thiện Chiêu á, thì ngài Thiện Chiêu có hai người đệ tử giỏi, và nghe nói bên tông Tào Động, ngài Thiện Chiêu là bên tông Lâm Tế, còn ngài Minh An là bên tông Tào Động, mà ngài Minh An cũng rất là giỏi, bậc mà có thần thông trí tuệ quảng đại á, thì ngài Thiện Chiêu mới cho hai đệ tử mình sang bên ngài Minh An học. Thì hai ngài học rất là xuất sắc, nên ngài Minh An mới khen. Nhưng mà hai ngài đó khiêm tốn không dám nhận, mà khen Bình Thị Giả là người có con mắt ngộ đạo, nên mới đó là người giỏi.

[1:20:29]Thì chúng ta thấy cái người mà ngộ, họ khen một người khác thì người kia có ngộ không? Có không? Có, sao không có? Tại vì họ ngộ với nhau họ hiểu được nhau. Giống như ở trong nhà mình nói hai cái quấy trên đầu là mình biết là cái gì liền, phải không? Mình ở trong nhà mình biết đó là nói cái quạt. Thế nên khi mà hai vị đó khen ngài Bình Thị Giả thì chắc chắn ngài Bình Thị Giả có xuất hiện cái đốn ngộ trong công phu tu tập của mình. Nhưng mà ngài Minh An lại chê, chê là tâm của Bình Thị Giả không tốt nên về sau sẽ chết ở chỗ này. Đây trong tiếng Tàu gọi là hổ khẩu, là miệng cọp. Thì chuyện nó trôi qua.

[1:21:05]Khi ngài Minh An tịch, chôn cái tháp ở nơi vị trí đúng phong thủy, địa lý rất là đẹp. 10 năm sau cái ngài Bình Thị Giả này đang là trụ trì, ổng tự nhiên ổng động tâm, ổng thấy cái tháp nó án mà ổng khó chịu, chiếm mất cái vị trí đẹp của ổng. Ổng kêu đệ tử quật mồ lên, dời đi chỗ khác. Khi đập cái tháp ra thì ngài Minh An vẫn còn tươi nha. Ngồi 10 năm trong đó vẫn hồng hào, râu tóc vẫn ra dài. Thì chúng mới là quỳ xuống đảnh lễ thì ngài... Bình Thị Giả thì lại chất củi đốt, không cháy nha, không biết ngài nhập cái định gì. Cái Bình Thị Giả thấy vậy mới lấy cái lưỡi rìu chém bể đầu luôn, chém nát cái cơ thể của ông thầy mình,

[1:21:46]đổ thêm dầu phộng vô, chất thêm củi đốt cháy luôn. Thì đệ tử trong chùa chịu hết nổi mới chạy báo ông quan, quan cai trị địa phương. Tại mấy ông quan ổng kiểm soát chùa hết à. Ông quan ổng tức quá tại ổng cũng là đệ tử của chùa mà. Ổng tức quá ổng dắt binh lại, ổng bắt Bình Thị Giả ra ổng lột y tại chỗ liền. Ổng đuổi ra đời luôn, không cho tu. Và ổng ra ổng thông báo cái lệnh là cấm chùa nào mà nhận cái ông này vô chùa. Thế là ngài Bình Thị Giả phải lang thang đi ra, đổi tên là Hoàng Tú Tài, nhưng mà đi tới đâu cũng không ai nhận nuôi hết, rồi đói khổ. Hôm đó đi đến ngã ba đường bị cọp nhảy ra nó vồ

[1:22:20]chết luôn, đúng như ngài Minh An đã sấm ký. Đó là người có hiện tượng ngộ đạo, nhưng rồi trở thành con người rất là hèn hạ, không có đạo đức. Chúng ta nhớ như vậy, chứ không phải luôn luôn ngộ đạo là Thánh đâu nha. Thời bây giờ cũng vậy, cũng có những người đã xuất hiện được cái hiện tượng đốn ngộ, nhưng mà rồi cũng tầm thường, hư hỏng. Bởi vì sao? Bởi vì cái đốn ngộ đó không có đi vào cái quả Thánh mà lại lọt vào cái thiền, chứng được thiền cao hơn nhưng không có quả Thánh nên không có đạo đức. Chúng ta cẩn thận điều đó, chứ không phải thấy là đốn ngộ rồi là tưởng người đó là thành Phật, nói là kiến tánh thành Phật, không có đâu.

[1:22:57]Nhiều người tầm thường lắm, do không phải chứng quả Thánh mà chứng bên tứ thiền thôi. Thí dụ ta thấy nữa là thật ra đó, cái đốn ngộ là giọt nước cuối cùng làm tràn ly á.

[1:23:11]Tức là cái việc mà khai thị của ông thầy đó là giọt nước cuối cùng làm tràn ly, chứ trước đó là họ đã chuẩn bị tâm tư họ đầy đủ rồi. Tức là họ rất là thiết tha, rất là tập trung. Chúng ta nhớ điều này, rất là thiết tha, rất là tập trung, và cái công đức đã đầy đủ thì cái lời khai thị của ông thầy, một cái đánh, một cái hét, hay là một tiếng động, hay một cái gì đó, một nhân duyên gì đó là làm ngộ đạo. Giống như ngài Đức Sơn được ngài Long Đàm đưa cái đèn trong đêm thổi tắt cái, ổng trong đêm bóng đêm ổng đại ngộ luôn. Là cũng là cái nhân duyên đã đầy đủ cuối cùng, chứ không phải là ai cũng có được,

[1:23:49]nhưng mà phải là người rất là thiết tha và rất là tập trung. Còn cái người nào đến với đạo mà tâm hời hợt thì vĩnh viễn không bao giờ xuất hiện được cái hiện tượng đốn ngộ hết, như vậy. Mà cái giọt nước cuối cùng đó, cái giọt nước cuối cùng đó có khi là một cái đạo lý nói được rõ ràng, có khi là diễn tả một cảnh giới mà cái người kia bỗng nhiên cảm nhận được rồi chứng luôn. Có khi là một lời chê trách, cái người học biết cái lỗi mình rồi tự nhiên chứng luôn. Có khi đó là một sự kích thích giác quan chứ chả có gì lạ hết. Thí dụ như trong truyện kể mà Đức Phật đưa cành hoa sen lên, ngài Ca Diếp ngộ, đó là kích thích con mắt.

[1:24:25]Hoặc là thiền sư nghe tiếng trắc một cái mà ngộ là kích thích cái cái tai, hoặc bị đánh một cái vô xúc giác thì là kích thích cái gì? Cái thân. Đó, chỉ là một sự kích thích giác quan đơn giản không hề có đạo lý vẫn làm ngộ, chúng ta nhớ điều này nha. Ở trong cái cơ cấu của cái việc mà đốn ngộ là một sự kích thích, có khi không phải là một đạo lý mà chỉ là kích thích giác quan. Khi mà cái cơ cấu tâm đã đủ rồi thì ngộ, giống như là ngài Mã Tổ quất cho một đá, ngài Thủy Lão ngộ liền, là cũng kích thích giác quan. Nhưng mà biết lúc nào kích thích giác quan để người ta ngộ cũng phải là bậc thầy đầy trí tuệ mới dám dùng, chứ bình thường mình không biết.

[1:25:02]Mình không biết người ta đã là giọt nước, đã là cái ly nước tràn chưa mà quất một cái. Mình không biết, mình quất một cái người ta không có kết quả, nói vậy. Cho nên cái hiện tượng đốn ngộ nó chỉ xuất hiện sau khi mà người ta đã đủ công đức. Thí dụ bây giờ, thí dụ nói vào cái thời thế kỷ thứ 7 này nha, thứ 8, thứ 9, cái hiện tượng đốn ngộ xuất hiện rất nhiều thì chúng ta suy ra được điều gì trước đó?

[1:25:30]Nghĩa là trước đó là sao? Trước đó những thế kỷ trước đạo Phật có nhiều người tu đúng hướng. Trước đó trong đạo Phật có nhiều người đã tích lũy được công đức, cho nên đến cái thế kỷ này thì hiện tượng đốn ngộ xuất hiện nhiều. Rồi sau những thời gian sau, là những thế kỷ gần đây, ví dụ như 15, 16, 17 rồi tới 20, cái hiện tượng đốn ngộ không xuất hiện nhiều nữa thì mình biết là điều gì trước đây? Người ta đã lệch hướng nhiều rồi, tu đã sai rồi, cho nên là vào những thế kỷ này cái hiện tượng đốn ngộ không xuất hiện nữa, là không có những người có ly nước tràn đầy nữa. Và bây giờ nếu từ bây giờ chúng ta tu đúng lại,

[1:26:10]chúng ta thiết tha, chúng ta tập trung, chúng ta tích lũy công đức, để dành nhiều thời gian ngồi thiền buổi khuya, thì hy vọng là sau những thế kỷ tới thì sao? Hiện tượng đốn ngộ sẽ sẽ xuất hiện trở lại, ồ ạt trở lại. Đó, cho nên chúng ta nhìn cái dòng của lịch sử Phật giáo đi như vậy, chúng ta đánh giá. Chúng ta biết là giai đoạn nào thì trong đạo Phật có nhiều người tu tốt, là không phải do cái giai đoạn mà đốn ngộ nhiều mà giai đoạn trước cái đốn ngộ đó. Đến giai đoạn mà sau đó rồi không ai đốn ngộ nữa thì biết là giai đoạn trước đó người ta đi lệch hướng, nó là như vậy. Và đốn ngộ cũng có cái sâu cạn khác nhau.

[1:26:50]Có những trường hợp các ngài siêu phàm như là ngài Lâm Tế, ngài Vân Môn, ngài Đảnh Sơn đốn ngộ một lần là suốt đời không bao giờ có vọng tưởng nữa, thành tựu luôn, siêu việt luôn. Nhưng có những vị đốn ngộ rồi phải tu 40 năm sau tâm mới hoàn toàn thanh tịnh. Nhưng mà nói hoàn toàn chứ mình không biết đâu, tại vì sao vậy? Bởi vì chưa nghe một thiền sư nào mà có được tam minh lục thông giống như các vị A La Hán hết. Tức là thời Đức Phật á, một vị A La Hán là phải một vị có cái túc mạng thông, nhớ suốt vô lượng kiếp của mình. Nhưng mà các thiền sư dù đốn ngộ vậy, nghe quá chừng, nhưng mà không vị nào có khả năng nhớ được vô lượng kiếp.

[1:27:28]Cho nên là dù gì thì dù thì chúng ta thấy là cái đốn ngộ của vào thời sau này không bằng các vị A La Hán thời Đức Phật. Đó là cái khẳng định. Và có những người ngộ rồi rất là sâu, cái sở chứng rất là cao, nhưng có người ngộ rồi cũng còn cạn và phải hàm dưỡng rất là lâu mới thành tựu được hẳn. Và chính vì vậy mà cái sự tiệm tu coi như là một sự bổ sung trong Phật pháp. Tức là vì đốn ngộ rồi mà thấy người ta chưa thể tự tại với sinh tử, cái đức hạnh cũng chưa hoàn chỉnh, cái định lực chưa sâu, cho nên là buộc phải tiệm tu, tức là tu từ từ, từ từ tu nữa, tu lâu dài.

[1:28:12]Mà nó có cái lỗi này, trong cái mà tiệm tu thì nó lại có một cái lỗi nó dễ xảy ra, chúng tôi nói trước để cho quý thầy lỡ sau này mà quý thầy có cái đốn ngộ thì tránh cái lỗi này. Là nhiều người đó biết là đốn ngộ rồi phải tiệm tu, nhưng mà rơi vào cái lỗi là ngồi đó chiêm ngưỡng cái trạng thái của tâm. Lúc đó tâm mình nó rất là vi diệu, nó rỗng rang, nó sáng tỏ, nó thênh thang. Khi ngồi thiền như vậy là cứ ngồi đó cứ ngắm cái tâm của mình, từ từ nó hết phước à. Hết phước nó mất định, rớt trở lại. Rất là đáng sợ, cho nên tuyệt đừng bao giờ. Khi mà mình đốn ngộ được rồi á thì mình được một cái là mình

[1:28:50]không còn bị xao lãng nữa, cái chánh niệm rất là vững, thì lợi dụng cái chánh niệm đó mà nhiếp trong hơi thở. Tức là mặc dầu có đốn ngộ rồi nhưng mà khi tu thì vẫn sao? Vẫn theo dõi hơi thở, nắm hơi thở mà đi tiếp. Thì như vậy rất là có lợi, mình không bị cái lỗi là chiêm ngưỡng cái trạng thái của tâm nên không hết phước, giống như có tiền không hưởng thì không hết tiền, nó là như vậy đó. Chứ nhiều người bị cái lỗi đó lắm, đốn ngộ rồi cái ngồi đó chiêm ngưỡng tâm mấy chục năm trời. Còn nếu mình đừng có chiêm ngưỡng tâm, mình nắm hơi thở mình đi thì thời gian nó sẽ ngắn hơn. Người nghe câu đó thì ngộ, có người nghe câu đó không ngộ, phải không?

[1:29:28]Giống như vậy là chúng ta nghe lại những công án đời xưa có khi mình cũng hiểu, mình không ngộ, nhưng mà người xưa người ta ngộ vì căn cơ đã đầy đủ, công đức đã đầy đủ. Nên cái quan trọng vẫn là cái công đức, cái công phu tích lũy trước đó, chứ không phải là lời nói của ông thầy trong lúc bất chợt đâu. Lời nói nó cũng chỉ là cái kích thích cuối cùng thôi.

[1:29:51]Hôm nay chúng ta nói chuyện nhau về cái hiện tượng đốn ngộ là như vậy. Tuy nhiên là hiện tượng đốn ngộ này nó kỳ đặc, nên chúng ta không có làm bài về cái câu hỏi đốn ngộ này, nhưng làm qua cái khác, chứ không bỏ không. Và cái câu hỏi là: Thế nào là một người quyết tâm tu tập thiền định? Cái câu này lại là nói đến khi chúng ta gặp khó khăn, chúng ta chậm tiến, chúng ta quyết tâm như thế nào. Tại vì có nhiều người tu vài năm thấy không tiến cái nản nè, đó là cái phước mình quá ít nè, thiện căn quá mỏng. Còn cái người nói là cực khổ gì đó, mấy chục năm mấy chục kiếp cũng quyết tâm tu, đó mới là đệ tử Phật xứng đáng nha.

[1:30:32]Thôi chúc cho quý thầy là tu tiến, hoặc có hoặc không có đốn ngộ gì cũng rồi được đắc đạo hết. Thôi nghỉ ha.

[1:30:47]Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả

[1:31:01]đệ tử và chúng sinh

[1:31:08]đều trọn thành Phật đạo.