Transcript: Mục Tiêu Của Thiền Định (Lễ Hội Quán Thế Âm - Đà Nẵng 2018)

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 56:30

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:42]Hôm nay hôm nay sư thúc của chúng ta hơi bị ốm, bị sốt với

[0:54]gió lạnh đó. Chùa thì nghèo, thấy chùa to vậy chứ nghèo lắm. Hơi lo, cho nên nên cái hàm bị cứng.

[1:07]Sư thúc sẽ ban đạo từ, nhưng mà chắc không nhiều, thì để để sư thúc cho vài lời chút xíu rồi xin nói tiếp.

[1:18]Nam Mô Tận Thập Phương

[1:24]Thường Trụ Tam Bảo Tác Đại Chứng Minh. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Đại Từ Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát Tát Đại Chứng Minh. Kính bạch Ngài Hòa thượng, sư huynh, thiền sư

[1:45]Thích Chân Quang,

[1:48]tọa chủ

[1:52]chùa Phật Quang, Bà Rịa - Vũng Tàu.

[1:57]Ngài có duyên lành

[2:05]pháp lữ

[2:10]trong đệ tử xuất gia của Phật là có nhân duyên lành kết nghĩa làm huynh đệ

[2:20]với chùa Quán Thế Âm. Chùa Quán Thế Âm kết nghĩa cùng với chư tôn đức, đại chúng và Phật tử, đạo hữu trong cái tinh thần tứ chúng đồng tu giữa chùa Quán Thế Âm và chùa Phật Quang, Bà Rịa - Vũng Tàu.

[2:43]Nghĩ rằng đây cũng là một cái điều rất đặc biệt, cũng ít có ở trong cái thời buổi thời đại hôm nay.

[2:57]Kết duyên rồi, chúng ta cùng nhau phụng sự Tam Bảo, phụng sự nhân loại, phụng sự xã hội, phụng sự đất nước và phụng sự những người mà có nhân duyên với chúng ta trong cái tinh thần từ bi, trí tuệ tu tập và gây tạo phước đức của đạo Phật. Rất mong rằng trong quá trình trong suốt những năm tháng sau này, chúng ta luôn luôn

[3:33]được sống trong trí tuệ, sống trong cái tình thương, sống trong cái chánh pháp và chúng ta là những người đang tu tập thì không làm sao tránh khỏi những cái sơ suất, những cái bất cập trong đời sống. Chúng ta cùng nhau cố gắng

[3:54]tu tập, hộ trì với nhau để cùng nhau đóng góp hoằng pháp trong tinh thần lợi lạc, trong cái tinh thần cứu khổ từ bi như Lễ hội Quán Thế Âm. Trong mỗi mùa, đã ba ba mùa lễ hội rồi, ngài đã về đây hướng dẫn thiền tọa cho đạo tràng, cho quý đạo hữu, Phật tử thập phương thiện tín gần xa về tham dự lễ hội trong một buổi chiều

[4:27]ngày cuối cùng của Lễ hội Quán Thế Âm. Chúng con xin thay mặt Ban Tổ chức lễ hội cũng như chư tăng, thập phương thiện tín, tín đồ chùa Quán Thế Âm, xin thành kính đảnh lễ, niệm ân đạo tình và sự tương xưởng, sự hoằng pháp của Hòa thượng, thiền sư, sư huynh cũng như toàn thể đạo tràng, hệ thống đạo tràng tu tập của ngài cũng đã vân tập về và tổ chức buổi lễ rất là trang nghiêm, thanh tịnh và đậm ấm, đầy tình đạo vị và chất lượng tu tập.

[5:08]Chúng con không biết gì hơn, xin nguyện lên Hồng ân Tam Bảo, Đức Bồ Tát Quán Thế Âm gia hộ

[5:18]cho Hòa thượng, thiền sư cũng như đại chúng và toàn thể đạo tràng luôn luôn được tinh tấn, dõng mãnh, sức khỏe, thành đạt và

[5:34]đầy

[5:39]cái hồng ân của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, của Tam Bảo gia hộ cho quý vị trên con đường học Phật, tu Phật và hành đạo.

[5:54]Một lần nữa, con xin

[5:58]đảnh lễ tri ân Hòa thượng và đại chúng. Kính chúc toàn thể có nhiều sức khỏe, an vui.

[6:10]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Quý Phật tử có biết ai vừa nói không?

[6:20]Thượng tọa là Trưởng ban Văn hóa của Phật giáo Đà Nẵng, là trụ trì chùa Quán Thế Âm, nơi tổ chức cái Lễ hội Quán Thế Âm hàng năm ở cấp quốc gia rất là đông đảo. Ở bên kia là Ni sư Tịnh Hoa, chùa Tịnh Nghiêm ở Huế cũng đến tham dự với chúng ta. Cảm ơn Ni sư. Hôm nay trong cái pháp hội buổi chiều hôm nay, ta không có đông người như cái lễ hội buổi sáng, nhưng mà ý của sư thúc, Thượng tọa Huệ Vinh rất là hay. Cái hay ở chỗ thế này là nhiều năm qua, sư thúc đã tổ chức thành công cái Lễ hội Quán Thế Âm rất là

[7:10]thu hút, thiêng liêng, thành kính, ấn tượng, đông đúc. Nhưng mà sư thúc cảm nhận ra một điều, cái lễ hội đông như vậy cần phải có một cái lõi.

[7:25]Ngoài những cái lễ hội đông vui ở ngoài kia, rất là nhiều cái hạng mục để sinh hoạt, thậm chí là có những gian hàng trưng bày, mua bán, những cái nghi thức tụng niệm. Chư tôn đức về đây rất là đông, hôm nay có cả Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng Trị sự về nữa, vân vân, rất là đông, nhưng mà sư thúc cảm nhận là những cái đông vui, thiêng liêng, trang nghiêm như vậy cần có một cái lõi, cái lõi của sự tu hành. Và sư thúc bàn với với thầy là phải có một cái khóa hướng dẫn thiền, tu tập thiền ở trong cái nội điện này để làm cái lõi cho cái Lễ hội Quán Âm. Tại vì lễ hội làm cái gì lớn lao nhưng phải có một

[8:18]trái tim, và trái tim đó là sự tu tập thiền định. Và sư thúc thì từ lâu hết sức là quan tâm tới vấn đề tu tập thiền định. Rồi đến khi mà anh em biết nhau, kết nghĩa huynh đệ với nhau thì sư thúc mới đề nghị là sư phụ phải hàng năm trong cái Lễ hội Quán Âm phải về đây để tổ chức cái buổi tu tập về thiền định làm thành cái lõi cho Lễ hội Quán Âm để Lễ hội Quán Âm được viên mãn hơn. Đây là cái nhìn của một con người hết sức là có trí tuệ, hết sức là có chiều sâu. Nói mà không vỗ tay là chết à? Nói vậy thôi. Đúng không? Một cái nhìn sáng suốt như vậy. Mà hồi nãy là sư thúc còn nói một chuyện động trời hơn nữa

[9:08]là sư thúc muốn tổ chức một cái khóa tu, một cái hội trại nhiều ngày ở đây. Thì sư phụ mới giao cho cô Tường Phổ rồi với Hải Quân với thầy Nghiêm Giám bàn. Tại vì lần trước là khi ta tổ chức cái hội trại thanh niên Phật tử ở Sóc Sơn 3 ngày rất là thành công, từ nơi cái chỉ đạo của Ban Tôn giáo Chính phủ. Thì bây giờ ta có thể lấy cái mô hình đó, có thể về đây tổ chức. Nơi đây có sẵn cái điều kiện và có sẵn cái tấm lòng của sư thúc, chúng ta có thể về đây tổ chức. Quý Phật tử không phải người Đà Nẵng, hôm nay về Đà Nẵng thấy có thích không ạ?

[9:53]Ta về Đà Nẵng, ta có cảm giác giống như là ta đi nước ngoài, đi đến nước ngoài đúng không ạ? Thành phố rất là đẹp, rất là sạch. Thầy có viết một bài nhạc để ca ngợi Đà Nẵng, trong đó thầy có nói cái câu là Đà Nẵng là một nơi mà "phố sinh thêm từng ngày". Cứ mỗi một ngày qua đi cái Đà Nẵng lại đẹp dần lên, đẹp dần lên. Bài này thầy viết cả bao nhiêu năm rồi nha, 7 8 năm, mà hôm nay là thấy rất là đúng. Không ngờ là cái đất Đà Nẵng là một cái đất tuyệt vời như vậy. Nên vừa rồi ta có tổ chức ta đăng cai tổ chức cái hội nghị APEC. Là nguyên thủ của nhiều quốc gia xuyên Thái Bình Dương về đây. Mà toàn là những nguyên thủ cao cấp nhất không về đây.

[10:41]Hội họp tại Đà Nẵng này. Mà tại sao là nhà nước ta chọn Đà Nẵng để làm nơi mà đăng cai tổ chức cái hội nghị APEC? Là bởi vì cái bộ mặt của thành phố Đà Nẵng xứng đáng đại diện cho quốc gia để mà đón các nguyên thủ các nước về. Đây là một cái sự phát triển vượt bậc của Đà Nẵng. Rồi sắp tới có thể có một cái cuộc gặp mặt rất là quan trọng của những vài hai chừng hai ba nguyên thủ gì đó thôi để về đây mà dàn xếp với đi tìm cái hòa bình cho thế giới. Và Đà Nẵng cũng là nơi mà được dự tính là sẽ diễn ra cái cuộc gặp gỡ đó. Ta không ngờ, ta không ngờ Đà Nẵng của ta lại trở thành một cái mảnh đất mà nó quý như vậy, quý như vậy.

[11:36]Ồ, Ni Ni trưởng. Ni trưởng Từ Như, ta cho tràng pháo tay. Ni trưởng từ Huế cũng về đây để tham dự lễ hội với chúng ta. Thỉnh thỉnh. Dạ. Thì có một lần

[11:53]sư phụ nói chuyện với Hòa thượng Huệ Hưng ở đây, đây có một vị sư huynh. Ông ngồi ông nghiên cứu, ông mới nói rằng là ông lấy thước ông đo, ông tính toán gì đó thì cái vùng Ngũ Hành Sơn này nè nó là đúng trung điểm từ cái cái Lũng Cú về tới Mũi Cà Mau. Ông lấy thước ông đo, cái đó chẳng ai để ý đâu. Không ngờ ông ngồi ông đo ông nói cái Ngũ Hành Sơn của Quán Thế Âm này nè là đúng trung điểm. Thì lát mình có thể kiểm tra, mình lấy thước mình căng ra thì ngay cái trung điểm lại lọt đúng cái chùa Quán Thế Âm này. Cho nên nơi đây là nơi hội tụ của đất trời. Ông nói ngoài Bắc có Tam Đảo, ở miền Tây có Thất Sơn,

[12:37]3, 7 và ở giữa có Ngũ Hành Sơn là năm, thì 3 5 7, một con số hài hòa. Nên vì thế là khi mà tính toán cái ngôn ngữ của đất trời rồi thì miếng đất này sẽ là miếng đất thiêng. Ông nghĩ như vậy. Và hôm nay ta về ta ta cũng bất ngờ cái sự phát triển của của Đà Nẵng như vậy. Mới ban đầu khi mà thầy về đây để mà nói chuyện với cái về Thiền trong hôm nay thì thấy nhiều Phật tử đòi đi thì nghĩ đi xa xôi, đi xa xôi mất công. Nhưng khi về đây rồi thì mới nghĩ ai không đi về Đà Nẵng hôm nay thật là tiếc, thật là tiếc. Đà Nẵng đẹp quá. Hôm nay vậy. Và nơi cái Đà Nẵng đẹp đó có một ngôi chùa rất đẹp, là chùa Quán Thế Âm.

[13:31]Trong ngôi chùa rất đẹp đó có một con người rất đẹp, không biết ai, không biết ai.

[13:40]Và bây giờ tương lai thì khách nước ngoài sẽ về Đà Nẵng rất là nhiều. Và khi khách nước ngoài về Đà Nẵng, họ sẽ gặp một cái nền văn hóa lớn của dân tộc ta ở tại Đà Nẵng đó là gì?

[13:56]Một nền văn hóa rất lớn của dân tộc ta ở tại Đà Nẵng đó là gì? Đạo Phật. Nhớ như vậy. Các chùa ở Đà Nẵng cứ lớn dần, đẹp dần, lớn dần, đẹp dần. Nên du khách nước ngoài buộc hễ về Đà Nẵng rồi trước sau gì cũng phải đối diện với một cái nền văn hóa lớn của nước ta, đó là Đạo Phật. Mà khi họ tìm tới Đạo Phật thì họ sẽ tìm tới cái con đường tu tập, phương pháp tu tập, kỹ thuật tu tập. Đố ai biết phương pháp nào? Phương pháp nào? Họ sẽ tìm tới phương pháp nào?

[14:38]Chắc chắn là Thiền định. Nhớ như vậy. Thế giới với cái tri thức rất cao, họ không có đi tìm một cái đường lối tu đơn giản chỉ bằng niềm tin. Mà họ buộc ta phải cung cấp cho họ một cái con đường tu tập đầy trí tuệ, thỏa mãn được cái sức thông minh của cái người Tây phương của họ. Và đó chính là Thiền định.

[15:08]Đạo Phật ta có hai cái mảng đạo lý, một là niềm tin. Ta không cần hiểu gì nhiều, không cần biết gì nhiều, cứ tin, tin vào sự gia hộ, sự tiếp đón của Phật, rồi bây giờ ta cứ tu tập vậy thôi, yên tâm mà tu, ờ cứ tin mà tu. Nhưng ta còn một cái đạo lý khác lớn hơn rất nhiều đó là trí tuệ. Ta phải dùng trí tuệ để chiến đấu với lầm lỗi của mình, ta phải dùng trí tuệ diệt trừ bản ngã của mình, ta phải dùng trí tuệ để tăng trưởng cái công đức và thánh vị của mình. Buộc là ta phải có trí tuệ. Nên Thiền là con đường đó. Nhưng mà Lễ hội Quán Âm là Bồ Tát Quán Âm,

[16:06]biểu tượng ý nghĩa về Quán Âm lại là sự dung hòa của niềm tin và trí tuệ. Nếu ta cần niềm tin thì Bồ Tát Quán Âm cho ta niềm tin. Nếu ta cần trí tuệ, Bồ Tát Quán Âm cho ta trí tuệ. Ví dụ như thầy là người chuyên về tu Thiền, nhưng mà một vị Bồ Tát mà thầy coi là bổn mạng của mình thì lại chính là Bồ Tát Quán Âm. Thầy thường niệm Quán Âm từ bé cho tới ngày hôm nay, thầy vẫn thường niệm Quán Âm.

[16:49]Có một lần thầy đi trên chuyến máy bay cái thầy bị ngộ độc. Không biết là ngộ độc cái gì không biết, nhưng mà thầy phát hiện là thầy đã bị ngộ độc. Thầy muốn chạy vào nhà vệ sinh để thầy ói, lúc ấy máy bay bay lên cao thì mọi người đã ngủ say hết rồi, không còn ai biết gì nữa, mọi người ngủ. Thầy mới cởi áo tràng ra rồi quăng xuống ghế là tính chạy vào nhà vệ sinh để ói, nhưng mà cái chất độc nó ngấm vào rồi thầy không cử động được nữa. Thầy phải gieo mình rớt xuống ghế lại, tay không nhấc lên được, miệng không nói được. À mà nếu nó mạnh tí nữa thì có lẽ máy bay đáp xuống là có một cái xác. Lúc đó thầy nằm xuống, thầy chỉ còn niệm Quán Âm thôi.

[17:32]Vì Bồ Tát Quán Âm là vị Bồ Tát bổn mạng của thầy từ bé tới lớn mà. Thầy chỉ biết niệm Quán Âm thôi. Mà đúng như trong kinh Phổ Môn nói đó, nhờ cái sức linh nghiệm của việc niệm Quán Âm đánh tan cả độc dược, đánh tan cả gì? Lửa thiêu, rừng gươm, hoặc là vực thẳm, hoặc là nước xiết, đó, sấm sét. Và hôm đó thầy cũng là người trải nghiệm. Niềm tin của thầy với Bồ Tát Quán Âm từ bé lớn nó là một điều kiên cường, không có lay động. Thì trong lúc nguy cấp đó những đệ tử bên cạnh thầy cũng ngủ say, tất cả hành khách ngủ say, các tiếp viên họ cũng ngồi nghỉ vì máy bay xong hết rồi, chỉ đang bay thôi. Thầy chỉ lúc mà thầy bị thấm thì chỉ nằm niệm Quán Âm.

[18:22]Vậy mà từ từ từ từ cái những cảm giác khó chịu nó tan dần, tan dần, tan dần. Cho đến khi máy bay đáp xuống rồi, thầy cũng đi xuống bình thường như mọi người, không ai biết thầy vừa qua một cái cơn suýt chết ở trên máy bay, không ai biết, cũng nhờ Bồ Tát Quán Âm. Đó là thầy nói về cái niềm tin, cái sự linh nghiệm của Bồ Tát Quán Âm. Nhưng mà Bồ Tát Quán Âm không chỉ là niềm tin và sự linh nghiệm, mà Ngài còn là một vị Bồ Tát dạy ta về Thiền định, đó là con đường của của trí tuệ. Nên hôm nay vậy thì trong cái lễ hội Quán Âm này

[19:00]thầy bày tỏ cái lòng tôn kính, lòng yêu kính của mình đối với Bồ Tát Quán Âm. Thầy ừm mà trong thẳm sâu nữa, trong thẳm sâu tâm hồn thầy, thực sự thầy hiểu Bồ Tát Quán Âm một cách khác, mà thầy nói ra sợ mọi người cười.

[19:22]Nói ra em đừng cười anh nha. Nếu nói thật lòng đừng cười nha. Mọi người đừng có cự. Và hôm nay nghe những điều thầy nói trong đây là xin vui lòng giữ bí mật, nghe trong đây thôi, ra ngoài đừng nói lại, tại đây là một điều hết sức bí mật trong trong lòng của thầy. Nha, nghe rồi không có đi ra nói lại ạ. Thật ra thầy xem Bồ Tát Quán Âm chính là Nữ tôn giả A La Hán Da Du Đà La. Từ lâu thầy vẫn xem bà như một người mẹ của mình, là Bồ Tát Quán Âm. Thầy có cái hiểu như vậy, không hiểu tại sao thầy hiểu như vậy, lúc nào thầy cũng nghĩ như vậy. Lúc nào thầy cũng nghĩ Bồ Tát Quán Âm chính là Nữ tôn giả A La Hán Yasodhara, Da Du Đà La.

[20:10]Đừng cười thầy nha, đừng cười. Nghe, nghe xong rồi giấu, nghe rồi giấu nha, không được ra nói lại, tại đây điều này lạ. Trong Đạo Phật cái điều này cũng chưa bao giờ ai nghe nói hết, phải không ạ? Nhưng mà thầy tự nhiên lại có cái niềm tin như vậy, thầy có cái niềm tin. Mỗi khi Đệ xin

[20:32]coi như là bày tỏ cái ý của sư huynh chỗ này. Tại vì sư huynh nghĩ rằng Đức Bồ Tát Quán Thế Âm hay là Ngài Da Du Đà La

[20:48]là hiện thân và tương ưng với nhau. Tuy hai mà một, tuy một mà hai thì cái triết học này trong Phật giáo đã có rồi. Mà hơn nữa, Đức Bồ Tát Quán Thế Âm là biểu hiện cho cái tình thương, sự lắng nghe, sự chia sẻ với cuộc sống thì những vị không kể cả là kể như là nam hoặc là nữ, nếu nhưng tấm lòng có cái tình thương rộng lớn, có cái sự lắng nghe người khác, có cái sự chia sẻ và cứu độ thì đồng đây một cái

[21:38]phương pháp vận dụng để tu tập, để thực hành trong cuộc sống. Thì sư huynh nói Đức Bồ Tát Quán Thế Âm là Da Du Đà La thì không những Da Du Đà La mà một người mẹ nào đó, người chị nào đó có cái tình thương đối với mọi người thì đó cũng là Bồ Tát Quán Thế Âm, con em nghĩ như vậy.

[22:03]Em nghĩ á em nghĩ nó có cái tính nó cao siêu quá. Tức là Bồ Tát khắp nơi là Bồ Tát, hễ ai có từ bi thì người đó là Quan Âm. Còn anh thì anh ngu, anh không có dám nghĩ lớn, anh nghĩ đúng người đó thôi: Da Du Đà La. Bây giờ nói lại về cái khía cạnh mà về trí tuệ của Bồ Tát Quan Âm cũng là khía cạnh trí tuệ của đạo Phật, thì ta có cái phương pháp tu tập thiền định mà thế giới ngưỡng vọng.

[22:34]Phim Star Wars là Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao vừa ra cái tập là

[22:40]Jedi cuối cùng, Người Hiệp Sĩ Cuối Cùng. Thầy cũng chỉ coi được mấy phút rồi bận quá rồi không coi hết được. Trong cái bộ phim mà Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao là các thế lực xấu, ác khống chế cái thiên hà, rồi những lực lượng kháng chiến quân tìm cách chống lại. Mà để chống lại cái lực lượng xấu ác trong vũ trụ này, họ cần cái người hiệp sĩ Jedi. Hiệp sĩ Jedi là ai? Là người biết tu tập thiền định, biết ngồi đó, nhiếp trong định và nhiếp trong hơi thở. Đây là một bộ phim mà của một cái đạo diễn lừng danh là Cameron. Ông đạo diễn rất là nhiều tập từ xưa tới bây giờ. Mấy chục năm qua, bộ phim là Star Wars - Chiến

[23:25]Tranh Giữa Các Vì Sao cực kỳ nổi tiếng. Và cuối cùng, ông dẫn dắt mọi người đi qua mấy chục năm của các tập Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao đến cái tập mà Jedi cuối cùng này, ông cho biết rằng cái người mà cứu cái vũ trụ này chính là những người gì? Chính là những người chứng đắc trong thiền định. Thì ra là mấy chục năm qua, ông này mưu đồ ca ngợi thiền định là cứu cánh của vũ trụ này mà ông không nói, mãi đến hôm nay, ở nơi cái tập hiệp sĩ cuối cùng Jedi, ông mới tiết lộ: thiền định chính là cái cứu cánh của vũ trụ này. Nên hôm nay vậy, cũng trong cái trí tuệ đó, cái sư thúc của chúng ta, sư thúc Huệ Vinh của chúng ta muốn cái lễ hội này có một cái chiều sâu,

[24:15]có một cái lõi chứ không phải lễ hội chỉ là những cái lễ hội như bên ngoài. Nó là cái bên ngoài mênh mông, thiêng liêng đó còn phải có một cái lõi. Và cái lõi đó chính là những người đang ngồi ở trong cái hội trường này. Những người ngồi trong hội trường này đang đi tìm con đường thiền định lặng lẽ, âm thầm, không nói. Đây chính là cái lõi của lễ hội Quán Thế Âm. Người ta tưởng lễ hội Quán Âm qua rồi, sáng nay, hôm qua, hôm nay đã xong rồi. Không, ý của sư thúc là không, cái lõi của lễ hội Quán Thế Âm chính là buổi chiều hôm nay. Có những con người lặng lẽ, âm thầm, không nói, ngồi trong hội trường này cùng nhau nói về thiền định của Đức Phật.

[25:09]Và thế giới, qua nhiều nhà nghiên cứu, qua nhiều giáo sư, tiến sĩ triết học, tâm lý học, khoa học, y học khắp nơi và qua những nhà đạo diễn làm phim, họ bắt đầu hiểu rằng thiền là cái con đường giải phóng tâm thức, đem lại cái hạnh phúc, an vui thực sự cho con người. Họ bắt đầu hiểu là như vậy. Tuy nhiên, khi mà họ muốn tìm hiểu về thiền thì họ phải gặp một cái trường hợp là quá nhiều trường phái thiền khắp nơi trên thế giới gọi tên gọi nhiều tên khác nhau. Dù có cái vẻ giống giống chung chung với nhau là đều là thiền định, nhưng mà nhiều cái trường phái khác nhau cả. Ở đây, vì ta là đạo Phật, cho nên ta nói về thiền của Phật.

[26:10]Cái khác nhau giữa thiền của Phật và thiền của nhiều cái trường phái khác trên thế giới là chỗ này. Chúng ta nhớ nha! Chúng ta nhớ bốn điều để ta làm bài tập. Thứ nhất: thiền này được

[26:33]tuyên dạy bởi con người giác ngộ cao nhất trong thế giới này. Đó là Đức Phật là bậc giác ngộ cao nhất. Và thiền của Phật là cái thiền được tuyên dương, chỉ dạy bởi con người có cái trình độ giác ngộ cao nhất. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai: thiền của Phật có công thức rõ ràng, không có nói mơ hồ, không có nói mà muốn hiểu làm sao cũng được. Thiền của Phật là có công thức rõ ràng, giống như 1 với 1 là 2, 2 với 2 là 4, chứ không có chuyện mà nói mà mơ mơ xa xa, mơ mộng lãng mạn, mây bay gió thổi không có. Thiền của Phật là toán học, là khoa học, có công thức rõ ràng. Thứ ba: thiền của Phật có cái lộ trình cụ thể.

[27:31]Cái con đường nó đi rất là dài qua nhiều kiếp, nhưng mà mỗi bước thứ nhất, bước thứ hai, bước thứ ba đi đến trạng thái nào, trạng thái nào đều được Phật diễn tả rõ ràng, chứ không có lầm. Đây là cái điều mà nó khác với những cái trường phái thiền. Ví dụ thấy à tu ồ ông đó ông ngộ đạo rồi đó, ông kia ông chứng rồi đó, nhưng mà sự thực ông ngộ chứ ông ngộ ở mức độ nào, ông chứng ông chứng ở mức độ nào, không ai biết. Chỉ thấy ổng nói là: à tôi tu đã được an lạc, đã kết quả, cái tâm mình bừng sáng, có vài cái thần thông. Ờ ông này ổng chứng, ổng là Phật sống. Không có, không có chuyện đó, trong đạo Phật không có chuyện đó.

[28:15]Trong đạo Phật, cái con đường thiền của Phật có lộ trình rõ ràng từng bước một, tu tới đâu là nằm ở đúng vị trí nào, không có sai, không có trật. Đó là cái thứ ba đó. Không có cái mà mà mơ mơ hồ hồ không biết mình tu tới đâu. Đó, tu tới đâu biết chắc mình ở chỗ đó. Và cái đặc điểm thứ tư: thiền của Phật là có khả năng đưa ta đến vô ngã tột cùng. Cái tính chất thứ tư này rất là khó, vì trước Phật và sau Phật không ai làm được điều này. Trước Phật, rất nhiều vị đạo sĩ tu tập, chứng đắc, có thần thông, nhập định, nhưng không bao giờ đạt tới vô ngã được.

[29:08]Chỉ có Đức Phật, 49 ngày dưới cội cây bồ đề, Ngài đắc đạo và đạt được sự vô ngã tột cùng. Nên suốt 45 năm thuyết pháp, Ngài luôn luôn dạy cho chúng ta cái mục tiêu vô ngã, tu là phải tìm tới vô ngã. Nhưng rồi sau Phật, khi mà các vị tôn giả A-la-hán cũng vắng bóng, bắt đầu cái khuynh hướng bản ngã nó trở lại như cũ. Đây là điều rất là khó. Tại sao là Phật dạy vô ngã, nhưng mà vắng Phật, vắng các vị A-la-hán thì người ta bắt đầu đi tìm lại cái bản ngã, vì sao vậy? Bởi vì thiền quá mầu nhiệm, quá cao siêu. Khi người ta đi vào trong cảnh giới của thiền được rồi, khi người ta vào định được rồi thì vô số điều mầu nhiệm xảy ra trong nội tâm.

[30:11]Những cảnh giới, những trí tuệ, những thần thông, những trạng thái cực kỳ mầu nhiệm, hạnh phúc, an lạc cao siêu xảy ra trong nội tâm khiến cho người ta mất cái mục tiêu vô ngã, cứ thấy hay quá và đứng lại đó để hưởng thụ cái sự cao siêu, mầu nhiệm mà mình chứng được trong thiền định. Đó là cái bất hạnh của chúng ta trong thời đại mạt pháp, xa Phật. Vì vậy, dù xa Phật, nhưng chúng ta quyết tìm lại cái Chánh pháp thời Đức Phật

[30:54]là chúng ta quyết đi tìm con đường thiền mà phải đi đến mục tiêu vô ngã. Sau này, khi chúng ta đi đúng con đường thiền định, tâm thức chúng ta mở ra nhiều cảnh giới mầu nhiệm, sâu xa, vi diệu, nhưng ta quyết vì tin kính Phật, vì tôn kính Phật, vì đem cả cuộc đời, trái tim mình dâng lên Đức Phật, cho nên ta quyết vượt qua tất cả những sự mầu nhiệm cao siêu đó để hướng về mục tiêu vô ngã, không cho mất. Vì nếu ta mất mục tiêu vô ngã thì đạo Phật cũng sao? Bắt đầu từ từ tan hoại luôn, nhớ như vậy. Nếu không còn mục tiêu vô ngã thì đạo Phật lần lần bằng với các đạo giáo khác. Không một đạo giáo nào có thể nói về vô ngã được trừ đạo Phật. Vì sao vậy?

[31:56]Vì tất cả chúng sinh trong thế giới này đều bị cái bản ngã thôi thúc. Hễ mình đi tìm con đường tu hành thì con đường đó phải tô điểm cái bản ngã của mình đẹp hơn, hay hơn, lớn hơn, sung sướng hơn. Và các đạo giáo khác đều làm điều này để thu hút tín đồ: "Hãy tu theo đạo tôi, anh được cái này, anh được cái kia, được vinh quang, được sung sướng". Duy chỉ có một đạo Phật kỳ lạ là nếu tu theo Phật thì ta không còn là ta, ta tan biến cái bản ngã của mình. Đây là một tôn giáo cực kỳ lạ lùng và chỉ có những người có trí tuệ mới chấp nhận cái mục tiêu kỳ lạ này: tu để rồi không còn là mình nữa. Nên đây là một điều thế giới không hiểu, thế giới không hiểu.

[32:54]Chỉ những con người rất có thiện căn mới chấp nhận cái mục tiêu kỳ lạ này: tu để rồi không còn có mình nữa. Còn tất cả mọi con người trên chúng sinh này, trên thế giới này do si mê, vô minh, tham, sân, si thì đều mong ước tu để được cái gì đó cho mình, tu để làm lớn lên thêm cái bản ngã, tất cả chúng sinh đều như vậy. Nên nếu ta ngồi đây, ta nghe nói về cái mục tiêu vô ngã của Đức Phật dạy, tu để rồi không còn gì là mình nữa, mà ta nghe mà ta thấy hạnh phúc, ta chấp nhận thì quý phật tử đang ngồi đây là những người nhiều kiếp có căn lành với Phật. Còn nếu không, nghe những điều thầy nói nãy giờ, lòng khó chịu, hoang mang, mờ mịt.

[33:52]Thầy nhắc lại nha, để xem lại lòng mình. Ta đến với Phật pháp, ta tu

[34:01]có hai khuynh hướng, hai mục tiêu. Một là tìm cái gì đó cho mình. Hai là để đi tìm

[34:14]cái trạng thái không còn mình nữa. Hai cái khuynh hướng, mục tiêu khác nhau. Nếu người nào nghe nói à tu là để cho mình được cái gì đó, thấy thích rồi tìm đến tu, đó là chúng sinh bình thường, tầm thường, thầy không có trách vì tất cả thế giới đều muốn như vậy. Nhưng cái người nào mà nghe nói rằng tu để rồi không còn mình nữa mà thấy vui mừng, hạnh phúc vì cái mục tiêu này thì người này là trong quá khứ đã ở một tầm rất là cao trong sự tu tập. Vậy thầy đã nói hai cái mục tiêu đó rồi, chúng ta nhìn lại tâm mình, mình thuộc loại người thứ nhất hay người thứ hai?

[35:05]Ai thích tu để cho mình được nhiều thêm, giơ tay lên thầy coi. Không thấy. Ai thích tu đi theo đúng con đường của Phật dạy, không còn gì là mình nữa, đi tới vô ngã, giơ tay lên cho thầy coi.

[35:28]Thầy rất mừng, Phật pháp sẽ còn tồn tại. Phật pháp còn tiếp tục tồn tại vì còn những con người tu để đi đến vô... vô ngã nha, tu để rồi không còn gì là ta nữa. Thầy rất là cảm ơn những người vừa giơ tay. Em em xin hỏi sư huynh cái chỗ này chút được không ạ? Hỏi gì dễ dễ thì cứ hỏi.

[35:56]Cái này không sợ vỗ tay như rớ nhưng mà không rốt ráo được.

[36:04]Sư huynh nói rõ thêm cái vô ngã chút, chứ sợ là giống như tài sản, nhà cửa, vàng bạc, xe hơi, nhà lầu, đại loại vân vân... Dạ, vân vân. Dạ, của cái là... Rồi rồi rồi. Sợ vô ngã là đem đi bỏ hết. Mất hết. Dạ. Biết có... Sư, sư thúc rất là lo xa. Không biết là trong tủ sắt sư thúc có bao nhiêu tiền mà nghe nói vô ngã sư thúc hơi hơi lo lo. Dạ. Sợ vậy đó, cho nên... Sau này, có thể là qua năm sau, có thể là qua năm sau, khi trở lại thầy sẽ giảng về cái việc phá năm triền cái. Khi ta đạt được chánh niệm tỉnh giác, ta sẽ phá lần lượt năm triền cái. Trong cái năm triền cái đó có cái triền cái ban đầu là tham.

[36:53]Khi ta phá được triền cái tham thì ta không còn tham của cải, vật chất nữa. À. Và cái người mà phá được cái triền cái tham hay làm một cái chuyện ngược đời, hay bị một cái phản ứng phụ mà sư thúc đã lo, là đem của cải bỏ, bỏ đi một cách vô lý. Và cái chuyện này trong nhà thiền đã có một người bị rồi, đó là ông Bàng Long Uẩn. Ông Bàng Long Uẩn, ông là một cư sĩ giàu sang, trí thức. Ông có người vợ và có người con trai, người con gái. Khi ông đến tham vấn với Thiền sư Thạch Đầu Hy Thiên, ông hỏi: "Thế nào là đại ý của Phật pháp?" Ngài Thạch Đầu bít miệng ổng lại một cái, ổng ngộ đạo liền lần đầu tiên, ổng ngộ đạo lần thứ nhất.

[37:46]Ông qua gặp ngài Mã Tổ, ông hỏi lại câu đó: "Thế nào là ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang?" Ngài Mã Tổ trả lời: "Khi nào ông hớp một hớp mà nuốt sạch cái nước Tây Giang này ta trả lời cho ông". Nghe đó ổng bừng ổng đại ngộ liền. Ổng đại ngộ gì không biết, ổng về nhà ổng lấy hết tất cả vàng bạc ổng đem lên chiếc xuồng, chiếc thuyền, ổng ra giữa sông ổng đổ sạch luôn. Bây giờ mình nghe mình còn tiếc, phải ổng cho mình ít để lại mình xây cái chùa Quán Âm này, tại chùa Quán Âm này vẫn còn thiếu 50 tỷ để hoàn thiện. Và đó là cái phản ứng phụ của một người khi tu đến giai đoạn phá được cái triền cái tham, hay làm chuyện ngông ngông.

[38:36]Nhưng may mắn thay, ta còn có cái quả Thánh Tu-đà-hoàn. Cái người mà chứng quả Thánh Tu-đà-hoàn cũng phá được kiết sử tham, à.

[38:49]Bên thiền thì phá triền cái tham, mà bên quả Thánh thì phá được kiết sử tham. Vậy cái kiết sử tham là gì và cái triền cái tham là gì? Hai cái đó khác nhau ra sao? Thì qua năm sau thầy mới có thời gian mà giải thích. Hôm nay trong pháp hội này, vì lát nữa ta còn phải tập luyện ngồi thiền, ta không có thời gian. Hai cái kiết sử và triền cái nó nó tinh tế lắm, hay lắm. Chứ nếu ta tu mà ta chứng được Thánh quả Tu-đà-hoàn, ta phá được kiết sử tham thì ta không còn tham vật chất nữa, nhưng tuyệt không có đem tiền đem vàng đi đổ bậy như ông Bàng Long Uẩn. Vì cái kiết sử nó làm cho ta có đạo đức, có trí tuệ hơn.

[39:32]Nếu mà lỡ xui mà hôm nay ta chứng được Tu-đà-hoàn, ta mất cái kiết sử tham, mà trong nhà mình thì có năm bảy tỷ thì lúc đó mình sẽ không có cái chuyện mà đem năm bảy tỷ ra rải trên đường phố hay đem đốt, không có, mình sẽ đem vô chùa Quán Âm mình cúng hết cho Thượng tọa Huệ Vinh để xây chùa, nói cách khác. Còn mà cái người mà phá triền cái tham á, coi chừng mà đem năm bảy tỷ ra biển đổ à. À, hai cái đó khác nhau à. Nên mà tại sao nó khác nhau như vậy thì sang năm hy vọng là ta sẽ nói rõ, năm nay ta không có thời gian. Thôi thì ráng ta tu nha, ta ráng tu để hiểu qua những điều này. Sư thúc tự nhiên lo xa nói một cái làm thầy nói ngang nó hơi bị lạc đề.

[40:17]Cái vấn đề đó sâu xa lắm, qua tới năm sau ta sẽ nói tiếp, dạ. Thầy vừa mới khẳng định thế này, ai đến với đạo Phật mà đi tìm cái mục tiêu vô ngã, người đó là con cưng của Phật, người đó giữ gìn cho Phật pháp không không tan hoại. Nhớ như vậy. Còn cái người mà tu để được thêm cho mình, người đó bắt đầu đi ra ngoài, lạc đề, không phải là người giữ gìn Phật pháp. Dạ. Rồi sư thúc yên tâm là tiền cứ giữ nha, không có sao đâu, không có gì. Cái lộ trình mà để ta chứng đắc được thiền định, Phật dạy là lộ trình Bát Chánh Đạo, từng bước đi cụ thể, rõ ràng.

[41:01]Khi bắt đầu bước vào cái ba cái Chánh cuối là Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Đó là ba cái Chánh của thiền định và từng cách dụng công mỗi Chánh như thế nào hết sức là cụ thể rõ ràng, không có mơ hồ. Và ba cái điều mà để hỗ trợ thiền là gồm có gì? Công đức, đạo đức, khí công. Cho nên cái người mà tu tập thiền định phải tạo phước rất nhiều. Cái người mà tu tập thiền định phải tu dưỡng nội tâm đạo đức rất nhiều. Và người tu tập thiền định phải luyện khí công thật nhiều, nhớ như vậy. Vì Đức Phật ta ngày xưa khi còn là Thái tử đã là một võ sư siêu đẳng, nghĩa là Ngài đắc khí công rất là cao siêu, nhớ như vậy.

[41:50]Nên ba cái yếu tố mà hỗ trợ thiền định gồm có: công đức là ta phải cả một đời làm phước, đạo đức cả một đời ta phải tu dưỡng nội tâm, và khí công cả một đời ta phải luyện tập khí công. Đó là ba yếu tố hỗ trợ. Nên vì vậy, khi ta càng tu tập thiền định thì ta có ba cái kết quả này hiện ra:

[42:17]là cái người mà càng tu thiền phải là người càng đạo đức. Chứ không thể anh càng tu thiền mà anh càng ngông nghênh, anh càng kiêu ngạo, anh càng không coi ai ra gì, sống bừa bãi buông tuồng, người đó tu sai. Cái người càng tu thiền đúng phải là người càng lúc càng đạo đức, nhẹ nhàng, hiền lành, tử tế, sâu sắc. Đó là người tu thiền đúng. Cái thứ hai là người càng tu thiền thì càng cống hiến, phụng sự chứ không có sống ích kỷ, thụ động mà lánh đời. Đó, nhớ không? Ta thường hay nghe nói có những thiền sư ẩn trên non cao, trong hang sâu, trong rừng thẳm để tu tập. Nhớ đó chỉ là một giai đoạn mà thôi, một giai đoạn. Vì sao vậy?

[43:14]Vì đến cái lúc cái giai đoạn mà cái công phu của các ngài nó sâu, nó quyết liệt, các ngài đành phải buông hết cái mọi chuyện đời để mà ẩn tu cho hoàn thành cái công trình thiền định của mình. Nên ta thường hay nghe nói những hình ảnh về sự ẩn tu, nhưng mà thật sự cái người mà tu thiền là con người càng lúc càng phụng sự, cống hiến, vị tha. Ta chưa phải là bậc thiền sư mà ẩn tu trên non cao, trên rừng thẳm, trong hang sâu. Ta là những người trong cái thời đại này, giữa cuộc đời này ta tu thiền thì một cái biểu hiện nó hiện ra là ta rất siêng năng phụng sự, cống hiến. Mình có mặt ở chỗ nào thì người chung quanh

[44:04]mình phải đều được lợi ích, nhớ như vậy. Cái người mà tu tập thiền định có mặt chỗ nào thì những người chung quanh đều được hưởng niềm vui, hạnh phúc, ích lợi. Bởi vì cái người đó luôn luôn phụng sự, cống hiến, dấn thân, gánh vác, hy sinh. Vậy, cái người mà cứ lẻn lẻn trốn trốn, kiếm chỗ nào sướng thì đến, chỗ nào cực thì tránh, người đó không phải là người tu thiền. Cái người tu thiền là người có đạo đức, thích làm phước, thích cống hiến, thích phụng sự, nhớ như vậy. Rồi có người nói nếu mà làm phước như vậy thì nó động tâm? Hổng! Cứ làm đi rồi thấy. Ví dụ như cái người ta tu tập nhiếp tâm khó khăn, tâm cứ bị loạn, cứ bị động, cứ bị vọng tưởng.

[44:57]Nghe lời thầy cứ về chùa công quả, việc nào nặng nhất bưng làm: vô quét chùa, dọn nhà vệ sinh, nấu bếp, hoặc đi đắp đường, lấp ngõ, rồi sẽ thấy ngày hôm đó tâm mình rất yên, mình nhiếp tâm rất là dễ dàng. Vì cái phước nó hỗ trợ cho tâm linh thiền định. Cho nên vì vậy, cái người tu thiền là người rất thích làm phước, vì mỗi khi làm phước xong, tâm mình rất thanh tịnh, nhớ như vậy. Đó là cái yếu tố thứ hai. Thứ nhất đã nói là gì? Là người càng tu thiền là càng đạo đức. Thứ hai là người càng tu thiền là càng cống hiến, gánh vác, tử tế, giúp đời. Cái thứ ba là người càng tu thiền càng khỏe mạnh, càng khỏe mạnh.

[45:48]Ví dụ như, ví dụ như thầy, vậy đó, năm nay thầy đã 70 tuổi rồi. Năm ngoái là thầy đi không chống gậy, năm nay thầy đã chống gậy, càng tu càng khỏe hơn vậy.

[46:08]Chúng ta có ba giai đoạn của thiền định nha, trong Bát Chánh Đạo. Mấy cái này phải thuộc nha, người tu thiền phải thuộc. Thứ nhất là Chánh Tinh Tấn, thứ hai là Chánh Niệm, thứ ba là Chánh Định. Lặp lại giùm thầy nha. Thứ nhất là Chánh Tinh Tấn, thứ hai là Chánh Niệm, thứ ba là Chánh Định. Lặp lại cho nhớ, vì tu thiền mấy cái này phải biết cho rõ à. Ta có ba giai đoạn của việc tu tập thiền định: giai đoạn thứ nhất là giai đoạn Chánh Tinh Tấn, giai đoạn thứ hai là Chánh Niệm, giai đoạn thứ ba là Chánh Định, đây trong Bát Chánh Đạo á, nhưng ba cái Chánh cuối cùng thuộc về thiền định. Chánh Tinh Tấn là gì?

[47:01]Chánh Tinh Tấn là khi ta áp dụng một kỹ thuật, một phương pháp để dụng công tu tập không có kết quả, chưa có kết quả nên hết sức là vất vả, nhớ như vậy. Ngồi thiền ngồi kiết già không được nhúc nhích

[47:21]mà phải ngồi cho lâu, tất cả đều khổ sở: chân tê, chân đau, người nghĩa là khổ sở lắm. Mà bây giờ nói: "Vậy cho con ngồi thoải mái, ngồi ghế dựa thầy cho, ngồi kiết già bắt chéo chân nó tê chân khó chịu quá, bây giờ xin Phật cho ngồi ghế dựa." Thầy sẽ cho một người ngồi ghế dựa thử 10 phút, ngồi yên, đừng nhúc nhích. Ngồi dựa ghế thoải mái, 10 phút đừng nhúc nhích. Sau đó chuyện gì xảy ra?

[47:55]Thầy cho ngồi ghế dựa 10 phút, sau 10 phút người đó vừa khóc vừa năn nỉ: "Thôi, không ngồi ghế dựa nữa." Vì sao vậy? Nói: "Ủa, đang ngồi thoải mái mà?" Mới phát hiện ra là khi ta ngồi với tư thế bất động, không nhúc nhích, ngồi cái gì cũng khổ hết trơn. Hổng tin ngồi đi. Sau đó ta mới phát hiện một điều: khi ngồi đừng nhúc nhích thì ngồi kiết già như Phật dạy mới là sung sướng nhất trên đời. Đây là điều rất là lạ, không tin về nhà làm thử. Đó, thầy cho ngồi ghế dựa nè, đừng nhúc nhích, ngồi yên. Nè nè, ví dụ nè, em ngồi em đừng nhúc nhích nha, đừng có lần chuỗi, đừng gì hết, đừng nhúc nhích 10 phút đi, lát khóc liền bây giờ.

[48:37]Đừng cười nữa đó, đừng gật gật đầu nữa đó, 10 phút là khóc liền. Lúc đó ta mới biết rằng chính là ngồi kiết già như Phật dạy mới là hạnh phúc nhất. Tuy nhiên, trong giai đoạn trong ba cái giai đoạn mà giai đoạn Chánh Tinh Tấn á, bắt đầu thầy mình dạy cho mình cách dụng công tu tập mà không nhiếp được tâm, tâm thì loạn, đây là giai đoạn cực kỳ khổ sở. Vì chưa có kết quả, tâm không nhiếp được, vì vậy Phật mới gọi đây gọi là chữ tinh tấn. Tinh tấn là hết sức cố gắng. Đa phần người ta bỏ cuộc ở giai đoạn này. Mình rủ nhiều người tới tu thiền, qua năm sau còn lèo tèo mấy người. Vì sao vậy? Vì cái giai đoạn Chánh Tinh Tấn này

[49:25]người ta chịu không nổi, người ta không đủ sức tinh tấn, tâm không nhiếp được, ngồi thiền quá cực khổ, quá đau khổ luôn nữa đó, cho nên lần lần họ bỏ hết. Còn người nào tu không có kết quả mà lì lì không bỏ cuộc, cứ ngồi mãi hết năm này tới năm kia, thậm chí tới chết vẫn chưa có kết quả mà vẫn tiếp tục ngồi, thì ta biết rằng cái người này kiếp xưa có cung kính lễ bái một bậc Thánh nào, cho nên họ còn cái phước, và cái phước đó làm thành một cái ý chí kỳ lạ giữ cho họ cứ tu tập hoài dù không có kết quả. Giai đoạn Chánh Tinh Tấn này bao lâu thì vượt qua? Không biết, tùy người. Có người trong chớp mắt gặp Phật đắc đạo liền,

[50:21]trong một giây một là chứng đạo luôn. Có người phải 7 ngày mới đắc đạo, có người 7 năm mới đắc đạo, có người 7 kiếp mới đắc đạo, mới bắt đầu có kết quả. Nên trong suốt thời gian mà tu thiền không kết quả mà ta phải hết sức cố gắng không bỏ cuộc, đó là giai đoạn Chánh Tinh Tấn. Còn người nào vượt qua được giai đoạn Chánh Tinh Tấn, bước vào giai đoạn thứ hai là Chánh Niệm thì đời đã lên hương rồi, hạnh phúc rồi. Lúc đó không cho ngồi thiền tự tử chết liền. Vì sao? Vì ngồi thiền mới là hạnh phúc, ý nghĩa cuộc đời là đây, hạnh phúc của cuộc đời là đây. Bắt mình bỏ thiền, nhảy xuống biển Đà Nẵng chết liền, vì thiền quá hạnh phúc.

[51:10]Còn mà tới giai đoạn thứ ba là giai đoạn Chánh Định thì ta không nói tới nữa, họ vào quả Thánh rồi, cao siêu rồi. Cầu làm sao mà tu vượt qua được giai đoạn Chánh Tinh Tấn để đến được giai đoạn Chánh Niệm trong kiếp này đã là tuyệt vời. Nên ta có ba cái giai đoạn như vậy và ta phải phải hiểu để chuẩn bị cái tinh thần của mình.

[51:38]Mấy mươi năm Thầy hướng dẫn thiền nơi này, nơi kia, cũng có một số người vượt qua giai đoạn Chánh Tinh Tấn để có được Chánh Niệm rồi. Ví dụ nói: "À thưa Thầy, con cũng được Chánh Niệm rồi". Nói: "Được sao?". "Có khi ngồi thiền con cũng thấy yên lắm". "Rồi qua bữa sau có yên không?". "Dạ bữa sau cái nó hết yên". Vậy chưa phải là Chánh Niệm, giai đoạn đó vẫn là Chánh Tinh Tấn. Giai đoạn Chánh Tinh Tấn này khi được, khi mất, khi tiến, khi lui; khi ngồi thấy yên rồi khi lại thấy loạn. Nó cứ đổi tới đổi lui như vậy là giai đoạn Chánh Tinh Tấn. Còn ở giai đoạn Chánh Niệm á, là nó không có cái lui đó, ổn định luôn.

[52:21]Mình đạt được một trạng thái rõ ràng, vững chắc, ổn định để mà mà tiến tu. Cho nên cái người mà đạt giai đoạn Chánh Niệm rồi họ vững vàng, họ có cái phong cách khác hẳn người thường. Còn mà ta đang ở giai đoạn Chánh Tinh Tấn thì ta phải có ý chí phi thường, nha, vì tu rất là khó khăn. Ngoài cái khó khăn về thân, về tâm, còn khó khăn rất nhiều ở chung quanh, ngoại cảnh nữa. Nên giai đoạn này ta cần ý chí phi thường, nhớ, Phật mới gọi là tinh tấn là như vậy, gọi là Chánh Tinh Tấn, nghe không?

[52:59]Khi ta nói về ba giai đoạn nè: Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định là ta đang nói về cái lộ trình mà Phật đã dạy. Trong cái Chánh Tinh Tấn này nó có bao nhiêu bước? Trong cái Chánh Niệm này có bao nhiêu bước? Trong Chánh Định có bao nhiêu bước? Ta phải biết rất rõ. Và khi ta tu đến đâu, mình biết rõ tới đó, biết chắc tới đó, không bị lầm. Không bị lầm. Không có cái chuyện mà mình tu còn chứng được thấp mà tưởng mình chứng cao. Phật pháp suy đồi bởi vì nhiều người chứng mà bị lầm, chứng thấp mà tưởng chứng cao là sau đó Phật pháp suy tàn luôn. Nên hôm nay, ta đi tìm lại cái lộ trình mà Phật đã dạy để làm chi?

[53:50]Để cho khi ta tu kết quả đến đâu, ta biết chắc đến đó, không bị lầm, không bị kiêu ngạo, không bị tổn phước. Mỗi một người đệ tử của Phật mà bị tổn phước thì toàn bộ Phật giáo bị suy thoái liền. Còn toàn bộ những đệ tử của Phật mà không bị tổn phước thì toàn bộ Phật giáo sẽ tiến lên. Nên ta tu đừng để bị tổn phước vì hiểu lầm, tu còn thấp mà tưởng mình cao. Mà muốn như vậy thì ta phải biết rất rõ cái cái lộ trình tu tập, mình chứng tới đâu, tâm mình nó hiện ra cái gì, mình biết chắc nó đang ở giai đoạn nào, nên không có hoang mang, không có suy nghĩ sai, không có đánh giá mình cao, mà biết mình cẩn thận còn bao nhiêu điều khó khăn nữa, vậy đó.

[54:46]Ta hiểu đúng như vậy là ta dựng lại Chánh Pháp. Và trên tất cả, nhớ, lòng tôn kính Phật tuyệt đối là chánh nhân để ta tu chứng.

[55:01]Không có lòng tôn kính Phật tuyệt đối, ta không thể tu chứng được. Nên ai tu nhớ phải trang bị cho mình lòng tôn kính Phật tuyệt đối. Trang bị lòng tôn kính Phật tuyệt đối như thế nào, mỗi người ráng tự tìm ra, nha. Bây giờ đó, bài Thầy gợi ý như vậy tạm xong. Giờ chúng ta sẽ đứng lên để tập khí công một chút rồi ta mới ngồi xuống ngồi thiền lại để cho quý Thầy kiểm tra, hướng dẫn lại hết nha. Giờ ta đứng lên ta tập cái Âm Dương Khí Công. Dạ. Hít vào. Thở ra. Thẳng lưng, chùng gối. Hít vô. Hít vô đều đều rồi tập thở ra...

[55:59]Thở hết hơi ra... Mỗi lần... Nhưng sau này, khi mà quen rồi, cái tâm của chúng ta rất hạnh phúc quá, an vui...

[56:20]sung sướng... quả thật... sung sướng...