[0:08]Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nay chúng ta nghe tiếp về Tứ Thánh Đế, cái phần Bát Chánh Đạo. Hôm trước chúng ta giới thiệu tổng quát về Bát Chánh Đạo, giới thiệu chưa xong. Hôm nay chúng ta sẽ giới thiệu cho xong và bắt đầu đi vào chánh đạo thứ nhất là Chánh kiến. Trong Bát Chánh Đạo thì hôm nay quý Phật tử đã thuộc lòng chưa hả? Trước hết là chánh gì? Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Những cái đó phải thuộc lòng nha. Nghĩa là mình là người đệ tử Phật thì Bát Chánh Đạo phải thuộc cho chắc, cái quá trình thứ tự thứ tự như vậy phải thuộc cho chắc.
[0:51]Chánh kiến đầu tiên là cái quan điểm tu hành đó, cái hiểu biết cho đúng đó, là đầu tiên. Nhờ có quan điểm đúng ở kế đó mình mới có Chánh tư duy, tức là cái sự suy gẫm, suy nghĩ, suy tư về cuộc đời, về đạo lý, về sự tu hành cho đúng. Rồi có cái tư duy đúng rồi, bắt đầu mới có cái Chánh ngữ là cái lời nói cho đúng. Nghĩa là từ đây, cái người đệ tử Phật mở miệng nói ra lời nào là đều ích lợi cho mọi người, phù hợp với đạo lý, đem lại cái đẹp, cái hay, cái an vui cho cuộc đời này, là Chánh ngữ. Rồi có nói được rồi, bắt đầu mới tới làm là Chánh nghiệp. Tức là từ đây, cái người đệ tử Phật phải tu làm sao mà mọi cái việc
[1:33]làm của mình đều là những điều chân chính, những điều tạo nên được những điều phước cho mình và cho người, những cái chỉ làm những cái gì mà chặn lại cái đau khổ của người rồi của mình. Hay là làm làm những cái gì mà giúp cho đạo pháp được lan truyền, vân vân. Thì đó, rồi có Chánh nghiệp rồi bắt đầu mới có phước để có được cái Chánh mạng. Chánh mạng là cái nghề để nuôi sống bản thân á, là có cái sự sống á. Ví dụ người tu thì có cái chánh mạng của người tu là sống nhờ vào sự giúp đỡ của của tín đồ, Phật tử. Nhưng mà giúp đỡ làm sao á để đừng có thành tà mạng, ở trong đó mình không có cái kỳ cục hay không có cái
[2:13]lừa dối, mà làm sao để cho Phật tử phát tâm tự nguyện, vân vân, cách thoải mái, nhẹ nhàng. Còn người cư sĩ đó thì có những cái nghề để mình làm ăn, mà cũng vậy không có cái gian trá, không có tạo nghiệp, mà nó đến với mình rất là dễ dàng, thuận lợi, vì nhờ những cái phước từ cái Chánh ngữ, Chánh nghiệp phía trước, cho nên mình sẽ có được cái Chánh mạng tốt. Ở đây chúng ta thấy đạo Phật thực tế là vậy đó. Rồi sau khi có được cái cuộc sống ổn định rồi, về kinh tế vật chất rồi, bắt đầu mới nói tới chuyện tu hành, là bắt đầu với Chánh tinh tấn. Cái Chánh tinh tấn là một cái cách để mình siêng năng mà chuẩn bị bước vào thiền định.
[2:49]Nghĩa là đây là tới lúc cuối cùng có phước rồi bắt đầu mới nói tới Chánh tinh tấn ha. Tức là trước khi mà để quyết tâm tu thiền, thì mình phải có cái phước là có tạo ra được phước, có được đời sống ổn định, bắt đầu mới nói tới chuyện quyết tâm tu hành là Chánh tinh tấn. Khi mà có Chánh tinh tấn rồi á thì mình sẽ tu theo một phương pháp để có được cái Chánh niệm trong tâm mình, nghĩa là không xao lãng, không giờ phút nào xao lãng hết, gọi là Chánh niệm. Và nếu mình thành tựu được Chánh niệm, là không có giờ phút nào mình xao lãng hết cái pháp môn tu hành hết, thì bắt đầu mình chứng được cái Chánh
[3:22]định, là tâm bắt đầu nhập được từng mức thiền định dần dần. Thì Chánh định mà đi hết con đường Chánh định rồi thì mình chứng được cái Diệt đế, là những đạo quả, trí tuệ, vân vân. Đó là cái trình tự Phật thiết lập ra một cách nghe đơn giản mà cực kỳ hợp lý, thông minh và sâu sắc, và thực tế. Cái hay của Bát Chánh Đạo là rất thực tế, rất hợp với nhân quả, rất hợp lý, không ai có thể bẻ ngược, không ai thêm không ai bớt gì được nữa hết trơn. Chúng ta chỉ có thể dựa vào Bát Chánh Đạo để đào sâu thêm thôi, chứ không có ai mà dám đổi ngược cái quá trình đó, hoặc là không có ai dám mà nói à chỗ này Phật còn thiếu mình thêm
[3:57]vô, hay nói Phật ở đây lấy bớt ra không có, không bao giờ có nữa. Nên đây là điều mà ba đời chư Phật cũng chỉ nói như thế. Là nếu có những vị giác ngộ nào đó xuất hiện trước Phật cũng chỉ nói quá trình Bát Chánh Đạo đúng thứ tự như vậy, không thể nói hơn. Và sau này có nhiều vị Phật xuất hiện ở tương lai cũng chỉ nói Bát Chánh Đạo đúng trình tự như thế, không thể nói khác đi được, vì đó là chân lý. Vừa rất cao siêu mà cũng rất là thực tế, đây là điểm độc đáo như vậy. Đầu tiên của Bát Chánh Đạo là Chánh kiến, nghĩa là cái quan điểm tu hành cho đúng, phải có cái quan điểm trước. Muốn có quan điểm mình phải có hiểu biết về
[4:34]Phật pháp cũng như hiểu biết về cuộc đời. À, đây là cái lạ. Nghĩa là muốn có cái quan điểm tu hành cho đúng, trước đó chúng ta phải có hai cái hiểu biết sâu sắc: một là hiểu biết về giáo lý, về đạo lý, về Phật pháp, hai là hiểu biết về cuộc đời. Bởi vì sao? Bởi vì mình phải tu làm sao á để sống an lạc trong cuộc đời này, từ cuộc đời này, chứ không phải là trốn cuộc đời này. Do đó, cái người mà đệ tử Phật có Chánh kiến là người hiểu cuộc đời rất sâu sắc. Có thể là mình không có đụng chạm nhiều với cuộc đời, nhưng vẫn là một người hiểu về cuộc đời rất sâu sắc, thì đó mới là Chánh kiến. Đó là lý do mà tại sao chúng ta thấy
[5:15]thầy trụ trì của chúng ta ở đây, nghĩa là hiểu về cuộc đời sâu sắc. Ai cần gỡ rối tơ lòng thì xin lên lầu là vậy, luôn luôn thầy giải đáp thỏa đáng hết mọi điều. Người có Chánh kiến là vậy đó. Chuyện tình duyên, gia đạo rồi đó, bất cứ chuyện gì trên đời. Thất tình, thất nghiệp, thất bại gì vân vân là cứ đến là thầy sẽ giải quyết được hết, người có Chánh kiến là vậy đó. Ở đây chúng ta thấy thế này nữa là thường á theo Bát Chánh Đạo là cái chánh đạo phía trước á là nó tạo ra cái chánh đạo phía sau. Ví dụ như là mình có cái quan điểm tu hành đúng rồi á thì mình sẽ có cái Chánh tư duy, là mình suy nghĩ đúng.
[5:54]Nhưng mà ngược lại cũng vậy, cái chánh đạo phía sau nó lại củng cố trở lại cái chánh đạo phía trước. Ví dụ mình suy nghĩ về đạo lý chân chính rồi tự nhiên nó củng cố ngược trở lại cái Chánh kiến ban đầu. À ví dụ như là Chánh ngữ với Chánh nghiệp vậy. Ví dụ như Chánh ngữ là mình nói về bố thí, nói về bố thí, nhưng khi mình nói được về bố thí rồi thì tự nhiên cái bàn tay mình sẽ làm cái hành động bố thí. Tức là có nói rồi mình sẽ làm. Cứ nói trước đi rồi mình sẽ làm, từ từ làm sau. Ví dụ mình cứ nói về việc niệm Phật, mình nói rồi tự nhiên mình sẽ làm. Tức là mình trao đổi với người khác về cái cách niệm Phật hay về
[6:30]cái cách thiền định, rồi chính mình tự nhiên cũng sẽ làm được. Nên cứ nghĩa là nói đúng rồi sẽ làm đúng. Nhưng mà có cái ngộ là làm đúng rồi sẽ củng cố ngược lại làm cho mình nói đúng lại. Nghĩa là hôm trước mình nói sơ sơ không kỹ lắm, hơi hơi, nhưng khi bắt tay thực hành rồi mình mới phát hiện ra nhiều điều phức tạp. Thế là lần sau mình nói lại mình sẽ nói đúng hơn. Ví dụ như mình có cái hạnh bố thí, đi giúp người, rồi mình nói rằng thấy ai khổ thì mình giúp trong khả năng chừng mực của mình có. Đó là mình nói. Rồi đến khi mà mình bắt đầu thực hành, mình móc tiền ra mới thấy nó đau đứt ruột đứt gan.
[7:06]A, rồi khi cho thì có khi người ta lại đem đồng tiền người ta sử dụng đúng, có khi người ta sử dụng sai, đủ cách phức tạp trong khi thực hành cái hạnh bố thí. Thì khi mà mình thực hành bố thí mình mới phát hiện ra nhiều điểm lắt nhắt ở trong cái bố thí không đơn giản là cứ móc tiền cho, nên lần sau khi mà mình nói về bố thí mình sẽ nói rất cẩn thận, rất dè dặt, chứ không phải là nói là bố thí tức là đụng đâu cho đó, không có nữa. Tại vì thứ nhất móc tiền ra tự nhiên cái ruột nó đau, ngộ vậy đó, không biết sao kỳ tim nó nhói bụng nó đau kỳ khôi. Rồi đến khi mà cho người phải cho làm sao đồng tiền có lợi ích,
[7:37]vân vân, lúc đó mình sẽ củng cố lại cái lý thuyết về về bố thí. Vô số những điều khác cũng vậy, vô số điều khác. Chúng ta nói rồi chúng ta làm, nói đúng sẽ làm đúng, nhưng mà làm đúng rồi thì cái nói nó sẽ được củng cố lại, đó là vậy. Cho nên là trong cái tuần tự của Bát Chánh Đạo á, cái trước tạo ra cái sau, nhưng cái sau cũng củng cố ngược lại cái trước. Trong Bát Chánh Đạo có một cái điểm độc đáo là Chánh mạng á. Chánh mạng có nghĩa là mình có được một cái đời sống về vật chất đúng hướng, chân chính. Nên người Phật tử mình có làm cái nghề gì đó, cũng tránh những cái nghề mà tạo nghiệp, ví dụ như là nghề bán rượu là Phật không cho, không cho phép;
[8:17]cái nghề mà giết mổ đó, giết mổ thịt á là Phật không cho phép; hoặc là cái nghề mà buôn bán súng đạn, Phật không cho phép. Còn buôn bán ma túy thì sao? Tuyệt đối ha. Cứ rớ vô rớ vô thì thì thì... Cho nên cái người mà mình có phước rồi á, tự nhiên mình có một đời sống rất là dễ, mình sẽ dễ có một cái nghề chân chính và làm ăn nó cũng dễ dàng, đỡ phải vất vả. Cái gì chớ mà cái mà lo chạy ăn á là mình bận tâm dữ lắm, vì nó là một cái nhu cầu căn bản nhất. Mình không thể nào mà yên tâm ngồi đây nghe pháp mà nếu chiều nay mình không biết mua gạo có gạo để ăn hay không, đúng không? Nên cái người mà ngồi đây nghe pháp là phải bảo đảm cái thùng gạo nhà mình sao?
[9:02]Nó cũng đã đầy rồi, phải không? Hoặc là bắt đầu mình ngồi cầm cuốn kinh ra coi, lát nữa lễ Phật, ngồi thiền thì cái thùng gạo nhà bếp mình cũng đã đã đầy rồi. Đó là điều rất thực tế. Mà ông bà mình nói câu gì? Có thực mới mới vực được đạo, vực là dựng đứng dậy đó. Mình có thực mình mới vực được đạo. Cho nên là trong cái quá trình Bát Chánh Đạo á, Đức Phật vạch con đường để chúng ta tạo cái phước cho vững để khiến mình có được một cái đời sống về vật chất thoải mái, rồi mới nói tới chuyện tu giải thoát là cái phần Chánh niệm, Chánh định là đi sâu vào tâm linh. Chúng ta nhớ trong Bát Chánh Đạo, cái phần đi sâu vào tâm linh là nằm ở phần cuối là Chánh niệm, Chánh định.
[9:43]Mà muốn có cái Chánh niệm, Chánh định là phải nguyên năm cái chánh đạo phía trước để tạo phước, xuất hiện được một cái đời sống vật chất dễ dàng, một cái thoải mái rồi mới nói tu được. Cho nên là có những người ví dụ nói theo cái gọi là không tưởng, không thực tế, cứ nói theo quan điểm Đại thừa là cái gì cũng không, nói nghèo quá làm sao tu? Nói anh cứ coi cái nghèo anh là không rồi cứ tu, ở đó mà tu. Đúng là tu, rồi người đó chỉ hú thôi chứ chưa thể tu được. Cho nên cái thực tế nhất là khi chúng ta hướng dẫn một người khác tu hành, chúng ta phải giúp người đó tạo phước trước, phải làm sao cho người đó có phước nhiều.
[10:20]Đây là điều căn bản của bất cứ ai trên đời này. Cho nên nếu mà tu hành không chịu làm phước là một tà kiến nặng nề, một sai lầm rất là lớn, một sai lầm nặng nề. Cho nên bản thân mỗi người chúng ta cũng vậy, chúng ta nhớ cái quá trình của Bát Chánh Đạo ở phần đầu là hoàn toàn lo tạo phước không, sống cho đúng, làm cho đúng để có phước cái đã. Chừng nào mà chúng ta thấy xuất hiện một đời sống kinh tế, vật chất vững vàng là lúc đó chúng ta biết được, sau đó sẽ đi vào tâm linh. Và vì vậy, ví dụ chúng ta đi nơi này nơi kia, chúng ta đọc sách hay chúng ta nghe giảng mà chúng ta thấy ví dụ cái người giảng sư đó
[10:57]không khuyến khích vấn đề tạo phước à hoặc là cản trở vấn đề tạo phước hay thậm chí chê bai vấn đề tạo phước thì chúng ta có thể kết luận rằng người giảng sư đó không đi đúng Bát Chánh Đạo. Đừng tưởng ai giảng Phật pháp cũng là giảng chân chính đâu, có những người giảng không có căn bản. Vì vậy, dù đó người tu bất cứ pháp môn nào, à nếu mà dù tu Thiền hoặc là tu Tịnh độ, Mật tông gì không biết, mà nếu không lo làm phước là người đó sai con đường của Phật dạy. Ngoài cái việc mà chúng ta có cái phước để cho có một đời sống vật chất dễ dàng để mình sau đó dễ đi vào tâm linh sâu á, là phần Chánh niệm, Chánh định á, chúng ta còn có điều này nữa là người
[11:38]có phước là người có giá trị giữa cuộc đời, người có giá trị giữa cuộc đời. Mình mà thiếu phước thì mình làm người chứ mình thua sút người ta lắm, khổ lắm, không đơn giản. Chúng ta hãy nhìn những cái người mà sống ngoài hè phố, không nhà không cửa, những lúc trời mưa lóp ngóp nép mình trong cái hàng hiên nhà người ta, quấn cái miếng vải rách nào đó mình nhặt được ở đâu đó, rồi có ăn đâu được cái gì đó sơ sơ, thì chúng ta thấy đúng là làm người mà thiệt cũng không xa cái đời sống của súc sinh bao nhiêu, bởi vì thiếu phước. Là cái giá trị của chúng ta trên đời này là phước nhiều hay ít mà thôi. Cho nên vì vậy, trước khi chúng ta có cái giá trị của
[12:16]một bậc thánh thì chúng ta phải có cái giá trị của một con người đầy đủ, phải có cái phước, quan trọng. Nên cái Chánh mạng mà Phật nói thật là thực tế mà thật là quan trọng, nhớ chúng ta không được quên điều này, lúc tới Chánh kiến ta nhắc lại. Bây giờ chúng ta nói là cái Chánh kiến là cái quan điểm tu hành để khởi đầu và cái cuối cùng của Bát Chánh Đạo là? Thuộc cho lẹ, giờ này không được quên. Nói chánh đạo thứ tư là mấy nói ra liền, thứ năm là mấy, thứ bảy mấy, thứ tám mấy nói ra liền. Chánh đạo thứ tám là gì? Chánh định, nhớ nha. Lần sau trả bài nha. Lần sau ai đi nghe giảng là phải trả bài đó.
[12:57]Là cái cuối cùng là Chánh định. Thì từ cái Chánh kiến ban đầu, chúng ta tu riết tu riết cho tới cái ngày chứng được cái Chánh định là cuối cùng. À, như vậy là Chánh định là cái kết quả, còn cái khởi điểm là Chánh kiến. Do Chánh kiến mà chúng ta tu dần dần cho đến được Chánh định, nhưng mà ngược lại, chúng ta vào được Chánh định rồi, tự nhiên chúng ta sáng trở lại được cái Chánh kiến, phải không? Sáng được cái Chánh kiến là có những điều trước đây chúng ta chỉ hiểu trên lý thuyết, nhưng đến khi chứng được rồi, tu có kết quả tâm linh rồi, đạt được Chánh định rồi thì chúng ta sẽ hiểu vấn đề sâu sắc hơn.
[13:31]Ví dụ như chúng ta tụng cái bài kinh Bát-nhã, đó là cái câu nói là: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Sắc bất dị không, không bất dị sắc". Ở đây có tụng không? Có không? Bài Bát-nhã Tâm Kinh á. Các chùa đêm nào cũng sau khi tụng xong bài kinh đều tụng cái bài Bát-nhã Tâm Kinh để nhắc nhở, ha, là: "Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm" rồi đó. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thì trước đây thí dụ mình nghe cái chữ là sắc tức là không, không tức là sắc thì mình mới đầu cũng hơi lấy làm lạ, rồi mình cũng nhờ quý thầy giảng, quý thầy giảng rồi mình cũng
[14:07]hiểu hiểu gì đó, nhưng mà hiểu không kỹ lắm, hiểu để đó. Cho đến cái ngày mà chúng ta chứng được Chánh định rồi cái chợt vỡ ra, vỡ ra hiểu thế nào là sắc tức là không. Sắc tức là cái có, ví dụ như cái lọ hoa này là một cái điều có, rồi cái chỗ trống không này gọi là không, rỗng. Vậy cái lọ hoa này mà nó cũng tức là cái không có, cái có cũng tức là không, không tức là có, mình hơi ngạc nhiên. Nhưng khi mình chứng trong Chánh định rồi, hiểu liền, à thế là vậy. Đúng, có tức là không, không tức là có. Giờ ai hiểu chưa? Hiểu rồi phải không? Rồi, lên đây giảng được rồi. Có mấy người gật đầu lẹ lắm, vậy là chứng ở Chánh định hết trơn rồi đó.
[14:53]Hỏi hiểu chưa gật đầu liền, chứng Chánh định. Thường thường đối với lý Bát-nhã, cái người mà có thiện căn á là chấp nhận, thích thú mà không hiểu hết. Thường chúng ta ví dụ mình có thiện căn, mình đọc cái cuốn sách Bát-nhã nói: "Các pháp đều là không. Mây không, trời không, cây không, lá không, sông không, núi không, nhà không, ta không, người không". Mình nghe không hết, tự nhiên mình cảm thấy có cái gì cao siêu, mình không dám bác mà thích, mà không hiểu tại sao. Đó là người có thiện căn á, thiện căn đời trước tu hành đó. Ở đây có ai thích cái đó không, giơ tay lên? Thích tức là có thiện căn.
[15:29]Còn ví dụ cái người không có thiện căn á mà nghe nói cái gì cũng không hết á, mình khó chịu, không tin, không chấp nhận. Mặc dù không hiểu tại sao nói tất cả đều không, nhưng mà vẫn có cái thích thầm thầm trong bụng là mình có thiện căn. Nhưng mà tới khi chứng được Chánh định, mình mới hiểu rất rõ à, vì sao là không, vì sao là không. Thì thôi đợi tới chứng hiểu luôn nha, bây giờ nói... Trong Bát Chánh Đạo á, có một cái điều thế này, một cái điều mà Phật không nói ra nhưng luôn luôn đi kèm trong Bát Chánh Đạo, kèm một bên, kèm một bên, là cái tâm khát khao giác ngộ, cái khát khao chân lý, khát khao tu hành,
[16:11]cái tâm khát khao, cái ước vọng, cái ham thích, một cái lý tưởng, một cái ước mơ, một cái hoài vọng. Là cái đó. Ví dụ chúng ta vì khát khao chân lý cho nên chúng ta tu tập Chánh kiến, phải không? Mình muốn biết coi chân lý cuộc đời là gì, đạo lý là gì. Đó, chính cái khát khao, cái muốn đó mình mới đi tu tập làm sao cho có Chánh kiến, là chính cái khát khao đó tạo ra. Rồi chúng ta hiểu đạo rồi chúng ta mới thích, chúng ta mới chịu khó tư duy. Có cái khát khao chân lý mình mới tư duy, hoặc là mình có ham thích đạo lý mình mới mở miệng mình nói những lời đạo lý. Chớ còn nếu mình không có ham thích đạo lý,
[16:50]mình mở miệng mình nói những chuyện gì? Chuyện thế gian, chuyện đời, chuyện bậy, chuyện bạ không. Chuyện Bao Công, à Bao Công thôi cũng đạo lý đi, mấy nay chắc bữa nào cũng xử án hả, xúm nhau xử án. Rồi có khát khao chân lý, khát khao sự giác ngộ, khát khao tu hành, chúng ta mới bắt tay tu tập Chánh nghiệp là làm phước. Chớ cái người mà không có cái trái tim đó, không có cái trái tim bừng cháy khát khao ước mơ, hoài vọng, mong mỏi, ham thích thì người đó đâu có chịu làm phước gọi là tu tập Chánh nghiệp, phải không? Không chịu. Người đó sẽ hời hợt, ví dụ như tới giờ, ngày đi nghe giảng, người ta rủ cũng không thèm đi nữa,
[17:26]bởi vì không có cái trái tim nó cháy bỏng, là sống hời hời hợt hợt. Cho nên cái yếu tố mà cái tình cảm á, cái ham muốn đó, nó là cái sức mạnh để chúng ta tu tập Bát Chánh Đạo. Đó, rồi cái tình cảm khát khao này nó khác với Chánh tinh tấn, Chánh tinh tấn là một sự quyết tâm, còn cái tình cảm này nó vô hình, nó không thấy nhưng nó là cái sức mạnh để cho chúng ta tu tập. Mà tại sao chúng ta có cái tình cảm này? Tại sao chúng ta có cái ước mơ, cái khát khao chân lý, khát khao giác ngộ này? Vì có cái khát khao này mình mới chịu tu tập Bát Chánh Đạo, chứ không không chịu. Ví dụ như khi chúng ta đi nghe giảng là chúng ta đang tu tập Chánh kiến
[18:06]nè, chúng ta mở cuốn kinh ra đọc là đang tu tập Chánh kiến nè, chúng ta xem sách, chúng ta nghe băng giảng là đang tu tập Chánh kiến nè. Nhưng mà vì chúng ta ham thích, chúng ta mới chịu tu phải không? Mới chịu nghe, mới chịu đọc. Thì ở đâu ra cái ham thích đó? Bởi vì biết bao nhiêu con người đang sống trên đời này không hề có sự ham thích, chỉ thích ăn nhậu, vui chơi thôi. Như vậy ở đâu ra cái tình cảm này? Ở đâu ra cái khát khao, cái ước mơ cao quý này? Đây là một tình cảm rất cao đẹp, rất cao quý. Nên tất cả những người mà chúng ta có mặt trong buổi giảng hôm nay ít nhiều đều có cái khát khao chân lý, là những người rất đáng quý hết.
[18:46]Cho nên mình có quyền là mình khen mình chút xíu đi, mình lấy tay mình xoa xoa má mình á, mình khen mình chút xíu. Nhưng mà ở đâu ra cái tình cảm khát khao này? Ở đâu? Thì ở trong tâm. Mà ở đâu trong tâm nó hiện ra? Chớ mình đâu có ở ngoài mình bỏ vô túi mình được. Kiếp trước gieo trồng. Có người nói câu vừa đúng gần đúng. Kiếp trước gieo trồng đúng, từ kiếp trước. Nhưng mà kiếp trước làm cái gì mà để đời này tự nhiên có một cái khát khao chân lý, khát khao giải thoát, giác ngộ? Kiếp trước làm cái gì? Tôn trọng bậc thánh, đúng. Người này cho 10 điểm. Giỏi! 10 điểm, quỳ xuống.
[19:29]Đúng là kính trọng bậc thánh. Tức là một đời nào đó không biết, mình có gặp một cái vị nào đó chân tu. Còn ai mà gặp Phật, thì giờ này đắc đạo hết rồi. Ờ nói là có lẽ là chúng ta chưa có duyên gặp Phật lắm. Nhưng mà thường mình gặp cũng một vị thánh nào đó, một vị cao tăng, một vị chân tu nào đó, mà lòng mình có cái tôn kính. Là chính cái tình cảm tôn kính của kiếp đó, ngày hôm nay nó biến thành một cái tình cảm là khát khao giải thoát, giác ngộ, khát khao chân lý. Chứ nếu kiếp xưa mình chưa bao giờ tôn kính bậc thánh, thì đời này mình chỉ khát khao ăn nhậu thôi. Đó là một điều có thật. Cho nên tất cả chúng ta có mặt ở đây ngày hôm nay,
[20:07]có lẽ kiếp nào đó chúng ta đã có duyên gặp một bậc thánh nào đó rất là mập, đẹp, tròn như là thầy trụ trì của chúng ta ở trên. Hên vậy. Vậy đó. Cho nên bây giờ mình chịu cực, chịu cực hôm nay là ngày thứ ba, không phải là ngày Chủ nhật, mà cũng ráng đi nghe giảng như vậy là một điều rất là là là là đáng mừng nha. Nên vì vậy, thì chúng ta không biết là kiếp này chúng ta có thể gặp được vị thánh hay không. Ờ chúng ta mong mỏi là chúng ta sẽ gặp được những vị thánh ngay trong kiếp này, để chúng ta khởi được cái lòng tôn kính mà nó nuôi dưỡng thành cái lý tưởng giác ngộ cho nhiều kiếp sau nữa, phải không?
[20:41]Như vậy kiếp này chúng ta phải đi tìm những bậc thánh, tìm ở đâu? Tìm ở đâu? Lên trên lầu, nghe không, đó là một. Với cái điều nữa là chúng ta hãy vào trong chánh điện mà lễ Phật. Đó, chính cái tâm mà chúng ta lễ Phật với tâm khát khao, với cái tâm kính ngưỡng tột cùng, thì cũng là cái nhân lành để cho nhiều đời sau nữa chúng ta luôn luôn có cái cái ước mơ cháy bỏng về sự tu hành, nhớ như vậy. Nên vì vậy là mỗi tuần chúng ta phải vô Từ Tân leo lên lầu, mỗi ngày chúng ta phải đến trước bàn Phật quỳ mà mà đảnh lễ, nhớ như vậy. Đó. Đó là chúng ta đã giới thiệu tổng quát về Bát Chánh Đạo. Bây giờ chúng ta đi vào cái chánh đạo đầu tiên là Chánh kiến. Ừm.
[21:24]Cái chữ kiến á trong chữ Nho á, dịch ra có nghĩa là là là thấy, kiến nghĩa là thấy. Ừm. Kiến nghĩa là thấy. Nhưng mà ở đây á, vì cái từ ngày xưa với từ bây giờ có khác nhau, cho nên mình nói là thấy đúng, mà không hiểu. Cho nên chúng ta dịch thế này, Chánh kiến có nghĩa là quan điểm tu hành đúng. Quan điểm tu hành đúng, nhớ như vậy. Nghĩa là trước khi chúng ta bắt tay tu hành, chúng ta phải có cái quan điểm về sự tu hành, phải không? Không có quan điểm, thì chúng ta tu bậy liền. Nên đầu tiên của việc tu hành là xác định một cái quan điểm, một cái lập trường, một hướng đi để tu. Chứ chưa có quan điểm thì chúng ta sẽ tu mò mò thôi.
[22:04]Đầu tiên về trong Bát Chánh Đạo là Chánh kiến là vậy. Nhưng mà muốn có cái quan điểm tu hành đúng á, chúng ta phải có hai cái hiểu biết đúng: một, hiểu biết về về về Phật pháp, phải biết về đạo lý, biết về Phật pháp. Thứ hai, phải hiểu biết về về cuộc đời. Bởi vì sao? Mục đích của Phật pháp là để chữa lành những đau khổ của cuộc đời. Chúng ta phải biết cả hai. Cho nên một người ví dụ người đi tu lâu năm trong chùa mà ít biết chuyện thế gian quá, thì người đó thứ nhất là về quan điểm tu hành coi vậy chứ không sâu sắc. Mà thứ hai là sau này em đi giảng đạo nói cũng không sâu nữa tại vì nói không thực tế.
[22:46]Do đó, một cái người tu muốn có một cái Chánh kiến vững, phải hiểu vừa hiểu được kinh điển mà vừa hiểu cuộc đời. Đó là những người làm thầy người ta được á. Chứ còn nếu mà loay hoay học à học kinh điển cổ không mà không có biết về cuộc đời thì cũng không có thành tựu được Chánh kiến. Mà muốn biết về cuộc đời thì phải làm sao? Phải làm sao? Không cần phải phải va chạm, phải sống nhiều đâu, không cần đâu. Không cần. Mà chỉ cần sao? Mình khéo quan sát. Bây giờ có nhiều tạp chí, có thể đọc được vậy thôi. Chúng ta nhớ có cái cái cuốn sách của ông Hermann Hesse, một nhà văn của Đức mà ổng được giải Nobel từ cái cuốn là Câu Chuyện Của Dòng Sông.
[23:30]Ở đây có ai đọc chưa? Có, phải không? Câu Chuyện Của Dòng Sông kể một nhân vật tên là Tất Đạt à sống quyền quý sau đó bỏ đi làm đạo sĩ sống rồi gặp Đức Phật. Sau đó anh thử thách bản thân anh vào cách là ừ cưới một cô kỹ nữ sống trà trộn trong cuộc đời. Cho đến khi thất bại, thất vọng, thất tình, thất nghiệp thì lên trên dòng sông làm một người chèo đò. Làm một người chèo đò. Cái câu chuyện như vậy và anh ta giác ngộ lúc mà anh ta chèo đò. Lúc giác ngộ, còn lúc mà làm đạo sĩ một cách nghiêm chỉnh thì lại không giác ngộ. Và còn cái lúc mà sống lẫn trong cuộc đời cũng không giác ngộ, cho đến khi lên bờ sông chèo đò thì mới tổng hợp được hai cái điều đó:
[24:11]một là cái đạo lý học được lúc làm đạo sĩ, hai là cái cuộc đời mà lúc mà anh ta sống anh ta đụng chạm, va chạm. Kết hợp được hai cái đó, rồi lúc mà lên trên dòng sông làm một người chèo đò á, mới tu hành thật sự. Lúc đó gọi là mới biết tu. Thì câu chuyện đó cũng khéo. Nhưng mà tuy nhiên là ngày hôm nay quý Phật tử thì không nói gì, nhưng mà những người thầy tu thì không cần phải phải va chạm quá mức là phải đi vào trong kỹ viện, vào trong sòng bài, vào trong vũ trường, không cần. Không cần điều đó. Mà chỉ cần đọc sách là biết rồi. Bây giờ báo chí, sách vở nhiều, mình cứ bình tĩnh quan sát. Rồi vừa biết đạo lý vừa biết cuộc đời là từ từ có Chánh kiến.
[24:48]Đó. Trước khi chúng ta bắt tay tu tập á thì chúng ta phải nắm trong tay mình một cái bản đồ cho đúng hướng. Chúng ta khởi hành, đi băng qua một khu rừng rậm của vô minh để về được cái bến bờ tươi sáng, chúng ta phải có cái bản đồ. Nếu cái bản đồ đó đúng, thì chúng ta sẽ về được cái chỗ an lành, nơi giác ngộ, nơi giải thoát. Còn nếu bản đồ đó sai mà chúng ta đi theo thì đến khi mình đã mòn chân mỏi gối, đã sức cùng lực kiệt thì chúng ta dừng lại nơi một cái vực thẳm à nơi một cái bụi gai à nơi một cái vách đá không bước tới được nữa. Rồi lại đằng sau thì cũng không còn đường lui nữa. Chúng ta sẽ chết, chết trong cái
[25:33]cái già yếu mệt mỏi, hiu quạnh, buồn khổ và đau đớn. Nên vì vậy, cái bản đồ ban đầu rất là quan trọng. Bản đồ ban đầu rất là quan trọng. Nếu mà bản đồ không đúng hướng, mình tu cho đến già đến chết không có kết quả, hoặc là đạt được một kết quả sai lầm. Mà đợi cho tới già rồi mới biết mình sai thì làm sao? Thật là uổng phí cả một cái đời tu. Cho nên quan trọng là ngay từ lúc chúng ta bắt đầu tu, chúng ta phải ráng tìm cho được cái bản đồ cho đúng hướng. Ừm. Một trong những dấu hiệu để cho biết rằng cái người đó tu đúng hướng là nhìn ở đâu? Nhìn ở đâu?
[26:16]Thật ra nhìn nơi gương mặt á. Nhìn nơi gương mặt. Ví dụ như chúng ta gặp một người bạn đạo, rồi sau đó ba năm gặp lại. Ờ người đó vẫn tu trong ba năm, mình vẫn tu trong ba năm. Ờ ba năm xa nhau đến khi gặp lại, mình thấy gương mặt người đó quang minh hơn, tươi sáng hơn, phúc hậu hơn, đẹp hơn thì người này có đường đi đúng rồi đó, đường đi đúng. Còn nếu ba năm gặp lại, mình thấy mặt người đó cau có hơn, nghĩa là hơi suy hao hơn, tăm tối hơn một chút, một chút thôi chưa nhiều là người này trong cái tu hành có cái sai rồi đó. Vậy đó. Cho nên bây giờ là chúng ta nhớ nhìn mặt nhau và đồng thời chụp
[26:54]cái mặt của mình để kỷ niệm, ba năm sau mình chụp lại để hai cái gần nhau mình so sánh, để mình biết mình tu đúng hay không. Nhưng mà trong ba năm gặp lại nhau đó, với điều kiện là không có được thoa một cái mỹ phẩm tối tân hiện nay, dễ bị lừa lắm vậy nè. Tự nhiên thấy mặt đẹp hơn á, chúng tôi cũng bị lừa hoài. Bây giờ có nhiều cái mỹ phẩm tinh vi quá. Tự nhiên gặp nói, "Ủa sao lúc này tu hành coi mặt mày quang minh đồ coi tốt quá ta?" Nhưng mà nói chuyện thì thấy không có gì hết, nói chuyện thì thấy không hề tiến bộ về nội tâm, mà gương mặt thì thấy rất là đẹp, rất là tiến bộ. Hỏi ra thì ra là do cái sản phẩm tân kỳ của một cái hãng mỹ phẩm nào mới đem qua.
[27:30]L'Indo rồi gì đó tùm lum không biết sao. Bioré rồi gì ôi quảng cáo đầy báo. Ủa, trúng tên sao cười dữ ta? Trúng tim đen hả? Là trúng tim đen rồi nà, cười dữ à. Nhưng có cái điều á có điều thế này, đây là một sự thật đây là một sự thật. Cho nên, ví dụ khi chúng tôi gặp một người Phật tử mà lớn tuổi ừm mà nếu chúng tôi thấy cái gương mặt cái người Phật tử đó đẹp lên, phúc hậu lên, chúng tôi rất là mừng. Vì chúng tôi biết chắc cái người này khi chết sẽ sinh về cõi lành. Chứ mình sắp sửa chết đi về cõi nào thì thật ra nó hiện ra ngay bây giờ rồi, chứ không phải đợi chết rồi ngồi coi thầy bói. Rồi có người đến gặp chúng tôi hỏi quỳ xuống,
[28:12]"Thưa thầy, xin thầy cho con biết là ba con chết rồi đi về đâu?" Chúng tôi mới nói, "Phải đợi thầy 3 năm, đợi thầy 3 năm để thầy đi học coi bói cái đã." Rồi sao biết mà nói. Nhưng thật ra không đợi không đợi coi mà mình chỉ nhìn gương mặt trước khi chết thôi. Có thể họ bệnh vân vân có thể vậy, nhưng mà gương mặt phải quang minh. Còn nếu mình tu qua 3 năm rồi mà gương mặt không quang minh, phải xét lại pháp tu của mình. Nhớ đây là một câu cảnh giác cho tất cả mọi người nha, tất cả mọi người đó, để biết mình đi đúng. Thì bây giờ chúng ta trở lại nói về cái bản đồ, cái bản đồ gọi là cái chánh kiến á nó phải có cái đích đến rõ ràng ba điều.
[28:55]Một là giải thoát, hai là giác ngộ, ba là khả năng hóa độ chúng sinh. Tức là khi mình tu á cái kết quả hiện ra rõ ràng là phải giải thoát, vượt ra khỏi luân hồi. Chưa vượt ra khỏi luân hồi thì tâm mình phải từ từ thoát khỏi những phiền não, những đau khổ. Thứ hai là giác ngộ, tức là có khả năng có trí tuệ có trí tuệ sắc bén, sáng, nhìn được những điều sâu thẳm của đạo lý. Và thứ ba là khả năng hóa độ chúng sinh. Ừ. Khả năng hóa độ là tức là mình nhìn chúng sinh biết, biết đạo lý, biết cách trình bày vân vân, đó là gọi là cũng là trí tuệ. Cái bản đồ đó đó phải vẽ rõ cái lộ trình từ chỗ mình đang đứng
[29:38]nhớ là từ chỗ mình đứng nha, rồi đi qua nhiều cung đường, vượt qua nhiều thác ghềnh, băng qua nhiều sa mạc, lướt trên nhiều ngọn sóng để đi tới cái đích giác ngộ rõ ràng. Chúng ta nhớ như vậy là bắt đầu từ chỗ mình đứng. Vì sao vậy? Vì có những cái bản đồ bắt đầu từ cái chỗ một chỗ nào đó xa lạ mà không phải chỗ đứng của mình, cho nên mình không thể đi được. Nghĩa là sao? Nghĩa là cái quan điểm tu hành của chúng ta phải rất là căn bản, rất là thấp, chứ không được nói những điều quá cao vì chúng ta đang đứng ở vị trí rất là thấp, phải không? Ví dụ mình đang là một người Phật tử, mình mới tu năm giới, đang làm những điều phước,
[30:20]đang tập tành lễ Phật, có ngồi thiền chút, vân vân, thì quan điểm tu hành tức là cái bản đồ hướng dẫn mình tu á phải bắt đầu từ ngay chỗ đó, chứ không được cao hơn, không được nói ngang cái chỗ của người đã chứng thánh rồi nói tiếp, mình không hiểu nổi. Hoặc là ví dụ mình nói về Phật pháp cho một người nào cũng vậy, mình phải biết rằng người đó đang đứng ở vị trí nào. Ví dụ đó là một người trí thức, có ăn học, có bằng cấp, hiểu biết, chưa tin đạo, chưa tin nhân quả, chưa tin luân hồi thì mình cũng phải cho họ một cái quan điểm tu hành, một cái bản đồ hoặc là những lời giải thích mà phù hợp với người đó, nghĩa là cũng phù hợp
[30:56]với cái trí thức của họ, với kiến thức về khoa học, về xã hội, về đời sống. Rồi dần dần mới cho họ cái căn bản là tin được nhân quả, tin được luân hồi, có một cái khái niệm về giải thoát, giác ngộ, dần dần rồi mới giúp người đó đi sâu hơn dần, sâu hơn dần, chứ không bao giờ được nói về một cái quan điểm tu hành ở trên mây, rời xa cái chỗ đứng của mình. Mỗi người chúng ta để ý điều đó. Cái bản đồ này đó là ai trao cho mình hay tự mình vẽ? Hử? Cái chánh kiến này nè, tức cái quan điểm tu hành nè hay gọi là bản đồ, chúng ta nói cho cụ thể là bản đồ, là phải tự mình vẽ lấy, nhớ nha. Chứ còn ai đưa cho mình là ít bữa họ lấy lại.
[31:41]Nên luôn luôn cái bản đồ này là phải tự mình vẽ, mình phải mở một tờ giấy trắng ra, bắt đầu mình cầm cây bút mình vẽ, mình đánh dấu cái vị trí của mình rồi mình vẽ dần dần. Nhưng mình dựa vào đâu vẽ? Dựa vào đâu? Phải dựa vào cái bản đồ người khác. Phải copy, phải chép thôi. Đó. Nghĩa là chúng ta nhớ hồi xưa mình đi học á, mỗi khi mình làm bài mình thi đó, mình hay cọp dê đó. Ừ, photo thì bây giờ bắt đầu mình tu mình cũng vậy. Nhưng mà hồi xưa mình cọp dê như vậy thì thầy trừ, thầy bắt phạt, bây giờ thì không, bây giờ thì khuyến khích. Nghĩa là chúng ta sẽ mượn cái bản đồ người khác và chúng ta vẽ lên cái bản đồ của mình.
[32:22]Mượn cái bản đồ của người khác là làm sao? Làm sao? Nghĩa là nghĩa là học hỏi. Chúng ta học hỏi. Chúng ta học hỏi từ nơi nào? Từ nơi quý thầy giảng sư, phải không? Đi nghe giảng để chúng ta nắm được quan điểm tu hành, đó là một cách để về vẽ lại. Rồi ở đâu nữa? Trong kinh điển cổ, nếu mình có khả năng chúng ta là mượn cái ý trong kinh, bắt đầu vẽ lên cái đường đi tu hành của mình. Rồi ở đâu nữa? Trong nhiều cái cuốn sách à có vị này viết, vị kia viết mình cũng tham khảo, rồi mình rút ra ở đâu đó được cái nào hợp thì lấy lại, còn không hợp thì thôi. Bắt đầu vẽ lên cái bản đồ của mình. Như vậy, cái bản đồ của mỗi người có giống nhau không?
[33:11]Không giống nhau lắm đâu, chỉ giống một cái điểm tổng quát nào đó, ờ nhưng mà rồi trong chi tiết có nhiều cái khác nhau. Là người thích tu theo thế này, người thích tu theo thế kia, người bắt đầu ở khởi điểm cao, người bắt đầu ở một cái khởi điểm thấp. Vậy nhưng mà để thiết lập chánh kiến thì đầu tiên là chúng ta phải biết học hỏi. Đó, đó là quan trọng. Nghĩa là muốn tu tập chánh kiến trong đạo Phật thì cái việc chúng ta phải làm là học hỏi, nhớ như vậy. Nên cái người nào mà siêng năng học hỏi giáo lý là người đó đang tu tập chánh kiến. Cái việc tu tập chánh kiến là không phải là làm một cái gì ghê gớm mà chỉ là thụ động học thôi,
[33:51]chỉ lặng lẽ tìm thầy hay, bạn tốt, sách quý để học, đó là tu tập chánh kiến, ừ. Tuy nhiên, là trong cái việc mà chúng ta mượn cái bản đồ người khác để chép lại đó, tức là chúng ta mượn quan điểm cái tu hành của người khác, học hỏi quan điểm tu hành của những người đi trước, đó thì ở đây nó còn có điều này, là không biết cái người kia bản đồ họ có đúng hay không, phải không? Không biết à, không bảo đảm. Ngay cả một cuốn sách viết như vậy cũng không bảo đảm là tác giả đã nắm được chánh kiến, không bảo đảm là tác giả là người có được bản đồ đúng, không bảo đảm. Rồi kể cả một giảng sư cũng vậy, một giảng sư leo lên pháp tòa ngồi nói thao
[34:31]thao bất tuyệt, không bảo đảm ông đó đã giảng đúng, ghê gớm như vậy. Cho nên ở đây để tu tập chánh kiến, chánh kiến mà tìm được một cái chân lý đúng, cái đạo lý đúng hay bản đồ đúng thì nó lệ thuộc vào sự may mắn. Nếu chúng ta may mắn thì chúng ta gặp được minh sư, thiện hữu, sách hay, kinh tốt là chúng ta mới học được quan điểm tu hành là mình sẽ đi đúng đường. Còn nếu không may mắn, chúng ta đi theo một tà sư, dùng chữ tà thì hơi nặng, có một người hiểu không tới, hiểu cạn, là chúng ta sẽ dựa vào đó để vẽ vào cái bản đồ của mình, mình sẽ đi sai. Nên đây lệ thuộc rất nhiều vào cái phước quá khứ, nghĩa là cái sự may mắn.
[35:17]Là chúng ta cũng không biết rằng bao nhiêu người đang ngồi ở đây là hên hay là xui nữa, không biết. Là sao vậy?
[35:28]Nếu cái người mà ngồi giảng ở đây mà giảng đúng thì coi như quý cô, quý Phật tử là gặp gặp hên, ừ. Còn nếu cái người mà ngồi lải nhải nói ở đây mà nói bậy nói bạ thì coi như hôm nay là ngày một ngày một ngày xui xẻo, ha, mình mất một tiếng rưỡi đồng hồ lãng nhách. Mà có khi mà xui mình lấy về mình tu cũng trật luôn nữa, ha. Đây là không biết hên xui. Thôi giờ mình vừa nghe vừa niệm Phật, lại cái vái trời cho ông này ổng nói đúng giùm con nha, vái vái trời với Phật phù hộ cho ông này ổng nói đúng giùm con. Bây giờ là chúng ta thường là nghe theo lời dạy của ai? Đi vào nội dung tiêu chuẩn tu hành á,
[36:04]mình sẽ học hỏi quan điểm tu hành của ai, cái người đó là người nào? Ai? Không, khoan khoan khoan nói Phật đã. Những người mình gặp trong cuộc đời nè, những người nói ra tiếng á chứ Phật không nói ra tiếng. Không phải, không phải. Tức là cái người nào đó mà mình biết rằng tu hành có có kết quả, tức là tạm nói là đắc đạo á, phải không? Là đầu tiên á mình muốn đi học đạo thì mình phải lựa đi theo một người tu hành đắc đạo. Đó là căn bản. Đó. Nhưng mà bây giờ ai đắc đạo giơ tay lên để cho mình theo học? Thấy không? Tìm không ra, phải không? Tìm không ra. Nên đây là một điều rất là khó. Mà có những người họ đắc đạo nhiều khi họ lại yên lặng, họ không làm việc.
[36:54]Họ giấu đâu trong thâm sơn cùng cốc á. Còn cái người mà ngồi nói lải nhải đây thường là người không đắc đạo, mới chết vậy đó chứ. Mới chết vậy. Nhưng mà trên nguyên tắc á thì dĩ nhiên là mình phải học đạo với cái người đắc đạo. Đó, đó là nguyên tắc. Nhưng mà trong thực tế thì rất khó biết được ai đắc đạo, khó tìm được vị đắc đạo như là Phật, phải không? Khó, rất khó. Bây giờ phải làm sao giờ? Đó. Mà có một điều này nó kỳ lạ nữa, mà ngày xưa Đức Phật cũng nói nữa. Ngay cả một vị chứng A La Hán chưa chắc là người giảng dạy hay nữa. Kỳ lạ như vậy. Cho nên ví dụ như trên đời chúng ta có may mắn gặp được một vị
[37:32]đắc đạo cũng coi chừng vị đó dạy không kỹ, không hay nữa. Cái điều rất là lạ. Nên ngày xưa Đức Phật cũng đã nói như vậy. Đức Phật nói là không phải luôn luôn một vị A La Hán đều khéo giảng dạy. Nếu chúng ta may mắn mà chúng ta gặp được một vị chân sư vừa đắc đạo mà vừa khéo dạy thì coi như cuộc đời mình là có đại diễm phúc. Rất là hên. Chứ bình thường khó. Bình thường là một vị dạy, nhiều khi dạy thấy khéo mà không phải đắc đạo. Còn người đắc đạo không khéo dạy. Còn cái người vừa đắc đạo mà vừa khéo dạy là một cái viên ngọc quý giữa đời. Chúng ta gặp được một vị như vậy thì rất là đại diễm phúc.
[38:10]Nếu ai có gặp xin báo cho tôi biết giùm để tôi đi theo học nữa nghen. Xin báo giùm. Ví dụ thế này nè. Ví dụ như có vị đó đắc đạo, cái mình tới mình học. Nói: "Xin thầy dạy cho con ơ ngồi thiền." Vị đó nói: "Ờ con hãy ngồi tập hơi thở. Ờ con hít vào con biết rõ, con thở ra con biết rõ." Ông nói sơ sài mình tu ít bữa mình muốn điên cái đầu luôn. Kỳ vậy đó. Nghĩa là ổng thì đắc đạo, ổng tu cũng đúng rồi, ổng nói không trật. Nhưng mà không kỹ, cái lối dạy không kỹ, làm cho mình cũng khi tập trung vào hơi thở, mình hơi bị dằn ép, cái mình rất là căng thẳng, mình tu bị trật, bị sai. Mà trong khi ổng thì ổng biết hơi thở ra, biết hơi thở vào ổng đắc đạo mất tiêu.
[38:51]Mình làm theo cái mình đi trật. Đó đây là điều rất là lạ, rất là lạ. Cho nên mình cần những vị với họ tu có kinh nghiệm, có kết quả rồi, nhưng mà khi họ dạy họ dạy chi ly, kỹ lưỡng phù hợp với mình. Bây giờ là điều khó như vậy. Bây giờ là bây giờ không có gặp vị đắc đạo rồi thì bây giờ mình học theo ai? Thì trong trường hợp mà mình không gặp được một vị đắc đạo như vậy, chúng ta sẽ sẽ học theo ai? Hử? Học theo ai? Thưa Thầy. Không, ờ Thầy là củ khoai đừng quan trọng Thầy. Thầy nói tổng quát thôi à. Nè, đây là nguyên tắc này nha. Là trong trường hợp mà không gặp được vị đắc đạo thì chúng ta sẽ học theo những vị giảng sư ăn hay nói giỏi.
[39:38]Nói giỏi thôi chứ không cần ăn hay. Ổng ăn hay kệ ổng. Những vị giảng sư mà nghĩa là, nhưng mà bị tiếng Việt Nam mình chữ "ăn nói" đi chung á, giờ tách ra nó hơi kỳ ha. Thôi cứ tạm là một vị giảng sư ăn hay nói giỏi. Mà vị giảng sư đó khi mà họ giảng á, mình nghe thấy có lý và làm cho mình thích thú. Đúng không? Có lý và thích thú. Tức là cái người giảng á mình nghe thấy hợp lý, có lý, mà cái cách giảng giải làm cho mình thích thú thì những vị như vậy mình cũng học theo được, phải không? Nhưng mà trong cái câu nói nè: "có lý và thích thú", nó có hai yếu tố ở trong. Có lý là thuộc về thuộc về cái gì?
[40:16]Thuộc về lý trí. Thích thú thuộc về tình cảm. Tức là một người giảng sư mà giỏi á phải đạt được cả hai điều này: là nói ra những đạo lý nghe rất hợp lý. Với con người mình có cái nhìn khách quan, mình không thiên lệch, mình không có cái chủ quan định kiến từ trước, giống như là nhất là những người trí thức mà chưa từng biết đạo á, đến với đạo một cách khách quan á, mà nghe vẫn phải thấy hợp lý thì như vậy người giảng sư đó đạt được một cái yếu tố ban đầu là có lý. Mà trong cái cách trình bày đó vừa có những ví dụ, vừa có những trò vui hay là cái câu nói dễ hiểu thế nào đó làm cho mình thích thú, tức là đánh vào tình cảm thì được cả hai đó là một giảng sư giỏi.
[40:56]Giảng sư giỏi là được hai điều: vừa có cái có lý, tức là hợp lý, vừa làm cho mình thích thú, là hai mặt. Ừ. Thì hai cái vấn đề này đó, mình cẩn thận tách ra. Nói điều này để quý Phật tử có đi nghe giảng mình cẩn thận. Là chúng ta nói một bài giảng hay nó gồm hai điều: một là có cái tính lý trí, hợp lý cao; và hai là bài giảng hấp dẫn, nghe thích thú. Có những trường hợp một bài giảng nghe thích thú, hấp dẫn nhưng vô lý, sai với đạo lý. Phật tử mà gặp bài giảng này là coi như xui tận mạng. Vì sao vậy? Vì cái bài giảng nghe hấp dẫn, nghe thích thú mà sai đó làm cho mình chấp nhận cái bài giảng đó, mình tu theo bài giảng đó và mình đi sai luôn.
[41:42]Mà bị lỡ xui là cái giảng sư đó, ông giảng sư đó giảng rất là khéo, rất là hấp dẫn. Và mình bị cái hấp dẫn đó mình chấp nhận luôn cái bài giảng đó, không ngờ bài giảng nó có cái điều vô lý ở trong mà mình không phát hiện ra được. Cả ông giảng sư đó ổng không phát hiện ra được. Mình nghe mình cũng đi sai luôn, đây là điều rất đáng sợ. Ví dụ thế này, ví dụ như trong bài giảng mình mới đến chùa không lâu lắm thì lên ngồi cái ông giảng ổng nói rất là hay. Ổng nói nghĩa là: "Trong cuộc đời này quý Phật tử thấy cái gì cũng không hết thì ngay đó là giác ngộ, giải thoát. Thấy nghĩa là thấy nhà không, cửa không,
[42:17]vợ không, con không, trời không, đất không, ta không, người không, người hiểu như vậy là giác ngộ, là đắc đạo." Nghe nói mình nghe hùng hồn, mình nghe rất là thích, phải không? Nghe thích không? Hồi nãy câu vừa rồi nghe thích không? Thích không? Cũng hơi hơi, phải không? Đó. Nhưng mà mình theo thì sao? Chết, đúng, tiêu. Làm sao mà ngồi đó mà thấy không cái đắc đạo liền được, đâu đơn giản. Đâu có đơn giản một cái sự giác ngộ chỉ là thấy tất cả là không. Muốn có một sự giác ngộ, đi qua Bát Chánh Đạo làm biết bao nhiêu việc phước, hiểu sâu về nhân quả, phải có cái đạo đức thánh thiện, ừ phải có cái lòng từ lớn.
[42:53]Đó, rồi tu tập biết qua bao nhiêu giai đoạn thiền định chúng ta mới có cái đắc đạo, chứ không đơn giản mà hễ ai nói gì ôi cái đó không, nói gì cái đó không, gì cũng không hết là đắc đạo, không có. Đó sẽ rơi vào cái ảo tưởng, sai lầm và cuồng loạn. Cho nên nhiều khi ông giảng sư ổng nói mạnh quá, cái mình nghe hấp dẫn quá không ngờ là sai. Ví dụ nói rằng: "Cái cuộc đời này đừng có bận tâm làm gì hết, cứ một câu niệm Phật cầu vãng sanh về cõi Phật A Di Đà. Bỏ hết, bỏ hết, cuộc đời này là cõi tạm, cõi kia mới là cõi thiệt, bỏ hết nha, về bỏ hết nha, ráng niệm Phật đi về vãng sanh." Nhiều khi ổng nói mạnh quá mình nghe thích, không ngờ đó là một một sai lầm.
[43:31]Một sai lầm. Vì sao vậy? Để muốn biết sai lầm sao chúng ta đối chiếu với cái người tôn giáo bạn mà gieo rắc kinh hoàng cho thế giới. Là nhóm Hồi giáo cực đoan á. Chúng ta xem hai cái quan điểm nha. Cái phương tiện họ làm rất là sai nhưng mà cái quan điểm họ rất là đúng là chỗ này: cái mục tiêu của người tu theo đạo Hồi á là chết được về với Thánh Ala, mục tiêu của họ. Và cái phương tiện, cái cách mà để họ khi chết được về với Thánh Ala là lúc sống trên đời họ cứ lo truyền đạo thôi. Còn việc về với Thánh Ala không cần, Thánh sẽ lo chuyện đó. Ala sẽ lo chuyện đó, còn lúc sống họ chỉ lo một điều: lo truyền đạo thôi.
[44:12]Truyền đạo cách nào thì cũng được hết, dùng bom cũng được, dùng súng cũng được, dùng dao cũng được, miễn bắt người ta kê dao vô cổ người ta, bắt người ta theo đạo Hồi, người ta theo đạo được là thành công, vậy thôi, không cần biết. Nghĩa là cái quan điểm của họ là cứ lo truyền đạo. Rồi còn mà khi chết xin về Ala là chuyện của Thánh Ala. Quan điểm đó rất đúng nha. Nhưng mà cái cách truyền đạo họ thì trật, cách truyền đạo họ kinh hoàng quá, quá sợ đi, là sai. Nhưng mà cái quan điểm mình cứ lo truyền đạo thì chết được về cõi Trời, quan điểm đó đúng. Còn mình tu á, khi mình trật chỗ nào? Còn khi mình tu mình trật cái gì? Mình trật cái này là:
[44:49]mình chỉ lo đi về cõi Phật mà không lo truyền đạo, đúng không? Người Phật tử mình tu đúng không? Mình tu như vậy đó, là mình lại không lo truyền đạo mà tối ngày chỉ lo niệm Phật để cầu về cõi Phật. Mình đi ngược với quan điểm đạo Hồi. Đó là lý do tại sao đạo Phật mình càng lúc càng suy, còn cái đạo Hồi càng lúc càng mạnh. Mặc dầu cái phương tiện kinh hoàng, rất là hung dữ, nhưng mà lại không ngờ đúng cái hướng. Còn mình á thì đạo Phật mình rất chân chính, nhưng không ngờ cái cách thực hiện mình sai. Mình cứ lo đi về cõi Phật mà không lo truyền đạo. Cho nên ngày hôm nay phải đổi ngược quan điểm đó lại,
[45:28]là chúng ta cứ lo đem gieo rắc đạo lý đến cho mọi người, còn việc mình sinh về cõi Phật, Phật sẽ lo cho mình. Đồng ý không? Nghe cái này có lý không? Cái quan trọng hồi nãy mình nói cái có lý và cái thích thú á, nghe cái này có lý hơn không ta? Có lý hơn không? Tức là khi mình sống trên đời chỉ lo sống tốt đẹp với con người, đem niềm vui hạnh phúc đến cho con người, đem đạo lý đến cho con người, còn khi chết có về cõi Phật hay không, chuyện đó Phật phải lo cho mình một cách công bằng. Đồng ý không? Đó, nhớ nghen! Chứ đừng có mà cứ tập trung chỉ lo trong tâm mình chỉ lo niệm Phật mà không lo cho con người, thì coi chừng ngược lại lại không có kết quả đấy.
[46:07]Vì vậy, chúng ta nhớ là khi chúng ta học đạo lý với một vị giảng sư, nhớ là vị giảng sư chứ không phải là vị thánh, thì vị giảng sư đó giảng chúng ta nghe được là vừa phải có lý mà vừa phải thích thú. Chúng ta chỉ cẩn thận cái người giảng thích thú mà vô lý, mình sẽ chết vì những người đó. Họ giảng nghe nói rất mạnh, rất hấp dẫn, rất lôi cuốn, rất xác quyết, mình tưởng đúng đi theo không ngờ trật, coi chừng điều đó một chút. Hãy cẩn thận khi đi nghe giảng pháp. Bây giờ, bắt đầu từ đâu mà chúng ta thiết lập cái chánh kiến, tức là cái quan điểm tu hành? Bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ... từ Đức Phật.
[46:45]Chúng ta nhớ chúng ta là đệ tử Phật thì mình bắt đầu cái quan điểm tu hành của mình, từ cái việc học hỏi đạo lý của mình từ Đức Phật. Nhớ đây là điều chánh kiến ban đầu, đầu tiên đó, là chúng ta bắt đầu từ Đức Phật để chúng ta học tập chánh kiến, chứ chúng ta không thiên vị một vị tông sư nào hết. Chúng ta nhớ như vậy. Là bây giờ ông thầy của mình ổng giỏi gì giỏi vẫn phải thua ông Phật, đồng ý không? Ông thầy mình giỏi gì giỏi vẫn thua Phật. Ông tổ mình giỏi gì giỏi vẫn phải thua ông Phật. Do đó, khi chúng ta tu tập, chúng ta chánh kiến là chúng ta học hỏi để chúng ta có được cái bản đồ tu hành thì đầu tiên phải bắt đầu nơi
[47:25]Đức Phật, tôn kính Đức Phật, học hỏi với Đức Phật trước. Và chúng ta đảnh lễ Phật để cầu Phật gia hộ cho chúng ta: thứ nhất có được chánh kiến, gặp được kinh đúng, gặp được sách hay, gặp được thầy giỏi. Bây giờ thì có thêm băng với đĩa nữa, gặp được băng đĩa hay nữa. Hồi xưa thì chỉ có kinh với sách, giờ thì mới có băng với đĩa, video đồ nữa, hén. Thì khi chúng ta học nơi Đức Phật, bắt đầu từ nơi Đức Phật hai điều: một á là lục lại những kinh điển cổ của Phật, dựa đúng vào lời dạy của Phật; thứ hai là đảnh lễ cầu Phật gia hộ cho chúng ta để chúng ta gặp được thầy hay, bạn tốt. Đó, nhớ như vậy, học bắt gặp được chánh kiến.
[48:08]Nếu chúng ta không cầu nguyện mà mình chủ quan với cái ý của mình, mình đi lang thang học hỏi nơi này, học hỏi nơi kia, sẽ có ngày gặp tà sư mà không hay biết. Vì vậy là phải nhớ siêng năng lễ Phật, cầu nguyện Phật gia hộ cho mình gặp được sách hay, thầy giỏi. Và cái điều quan trọng chúng ta nhắc lại: không bao giờ được thiên vị một vị tông sư nào hết. Nghĩa là dù là vị đó mình thấy có vẻ như là đạo cao đức trọng, nhưng phải nhớ một điều: gì thì gì cũng không bằng Phật. Cho nên chúng ta luôn luôn dựa sát với Đức Phật, nắm chắc cái lời dạy của Phật, rồi cái vị mà tông sư đó, thầy của mình đó, hay gì hay á mình cũng phải đối chiếu lại với lời dạy của Phật.
[48:50]Vì có khi ông thầy mình vẫn trật một chút chứ không đúng hoàn toàn. Nhớ như vậy. Đây là cái quan điểm ban đầu. Có một trường hợp thế này nữa, là ví dụ như một cái vị nào đó rất là nổi tiếng, thậm chí có thể có thần thông, vân vân, mình phải xác định là hổng bằng Phật. Mà nếu cái vị đó mở miệng ra nói vị đó bằng Phật, hoặc là vị đó nói vị đó thay thế Phật, thì mình kết luận vị đó là ai? Tà sư liền, hổng sai. Liền, không nghi ngờ. Tại cái quan điểm ban đầu là không thể nào có một người thành Phật lúc này hết. Chưa phải Phật Di Lặc xuất hiện thì không có ai thành Phật hết, người nào cũng phải thua Phật hết, chúng ta nhớ điều đó.
[49:31]Cho nên vị nào đó mà mở miệng một cách ngạo mạn, nói rằng: "Bây giờ mình là người thay Phật Thích Ca", hoặc: "Mình tu như vậy là mình bằng Phật Thích Ca" thì mình kết luận một cái liền: người này tà sư liền, đừng tới gần nữa. Quý Phật tử đồng ý không? Đồng ý nha, nhớ điều đó đó. Chúng ta nhớ cái điều này nè: Để học được chánh kiến, chúng ta cần có một câu thần chú bỏ vô bụng mình. Một câu thần chú. Câu thần chú gì? Câu thần chú là: "Úm ba la, đúng nhưng chưa đủ". Nhớ cái câu mà: "Đúng nhưng chưa đủ" là cái câu chúng ta phải nằm lòng. Nghĩa là làm sao? Chúng ta có thể học được cái điều đúng rồi đó, nhưng mà chưa bao giờ đủ đâu.
[50:16]Ví dụ như bây giờ mình học về đạo lý nhân quả, là nói: "Ai gieo nhân gì sẽ gặt quả đó", phải không? Là: "Ai đem đau khổ đến cho người khác sẽ chịu lại khổ đau", đó. "Ai tạt axit người khác, mai mốt sẽ bị tạt axit lại", thì đó là đúng không? Đúng! Sao sai được? Đó là đúng nhân quả, phải không? Nhưng mà đủ chưa? Chưa. Vậy phải làm sao? Phải học nữa, nghiền ngẫm nữa, thực hành nữa để hiểu sâu hơn. Cho nên chúng ta nhớ, để tu tập cái chánh kiến này suốt hết đời này qua những đời khác, chúng ta phải có một câu thần chú bỏ trong bụng là: "Đúng nhưng chưa đủ". Chúng ta học được đạo lý nào rất là hay thì phải nhớ: "Đúng nhưng chưa đủ".
[51:00]Có một vài Phật tử thì khi nghe một vài băng giảng, hay quá, nói: "Thôi, con tu nhiêu đây là đủ thành Phật" là trật, dùng cái chữ "đủ" là trật liền. Đúng thì đồng ý băng đó hay thiệt á, đúng thiệt á, nhưng không bao giờ đủ, không bao giờ đủ. Như có nhiều người vậy, cũng rất là có tấm lòng, đến gặp chúng tôi nói: "Thưa thầy, chỉ cần tu theo cái bộ Tâm lý đạo đức của thầy là thành Phật". Cái câu nói đúng không? Không bao giờ. Không bao giờ đủ. Phải đến Từ Tân dự Bát Quan Trai, mỗi ngày mùng một, rằm học thêm nữa, không thấm thía gì đâu. Phải không? Cho nên đúng thì đúng thiệt á, hay thì hay thiệt á, nhưng chưa bao giờ đủ được hết.
[51:35]Nếu đạo đức đào sâu ra, còn sâu nữa, sâu nữa, vô tận mênh mông luôn. Thì đó, phải nhớ như vậy. Hoặc là có một người gặp được một vị nói: "Tất cả đều không", nói: "Thôi con nắm mấy câu này là con giải thoát", được chưa? Sai! Không bao giờ đủ đâu. Hễ gì nắm được một câu là trật. Có một lần vậy, có một Phật tử gặp chúng tôi cái nói: "Thưa thầy, như vậy đạo Phật chỉ là thế này thế kia", nói đừng có dùng chữ "chỉ". Hễ dùng chữ "chỉ" là bắt đầu mình cực đoan, mình cố chấp, mình hẹp hòi liền. Đạo Phật là cái gì vô tận mênh mông, đa dạng, toàn diện, không bao giờ có chữ "chỉ". Nghĩa là ai tu mà nói: "À chỉ một câu niệm Phật này là
[52:12]bất lao đàn chỉ đáo Tây phương", mình nói trật liền. Trong đạo Phật không có chữ "chỉ". Không bao giờ được cho mình đủ. Đúng thì có thể chấp nhận, nhưng chưa bao giờ đủ. Nên cái câu thần chú mà để chúng ta học chánh kiến là: "Đúng nhưng chưa đủ, úm ba la". Nhớ tụng câu đó giùm nha mỗi ngày: "Đúng nhưng chưa đủ, úm ba la". Chúng ta càng tu càng học á thì sẽ hiểu sâu hơn, chi tiết hơn. Đây là cũng là cái tinh thần khoa học, cũng là tinh thần khoa học. Nó có một cái điều thế này tức cười lắm, là khoa học với tôn giáo có một cái điểm ngược nhau. Đối với khoa học á thì cái gì mà mới phát minh á thì cái đó là làm sao?
[52:57]Rất là hay, rất là đúng phải không? Rất là chính xác. Tức là những cái gì mà càng khám phá về sau á thì cái đó hay hơn, đúng hơn, chính xác hơn. Phải không? Mà trong tôn giáo thì sao? Cái gì mà nó càng xưa thì càng dường như càng hay. Hơi ngược nhau điều đó. Cái này nói cho các tôn giáo bạn á, các tôn giáo bạn. Ví dụ như ngày xưa, các tôn giáo bạn nói rằng là có một Thượng đế tạo ra tất cả. Đó là ngày xưa, ha. Thì bây giờ ai nói gì nói nhưng mà cái điều đó vẫn luôn luôn đúng, tôn giáo bạn. Mà khoa học thì ngược lại, khoa học thì mỗi ngày một tiến bộ, họ tìm ra những điều mới, họ thấy không đơn giản như vậy,
[53:38]không phải là có một thần linh mà tạo ra được trời đất vũ trụ đâu, không đơn giản đâu. Đó, những cái về sau phát minh càng đúng hơn. Chỉ có cái là trong đạo Phật chúng ta đó, cái giáo lý bắt đầu được phát khởi, được tuyên thuyết bởi một đấng Giác Ngộ quá vĩ đại. Cho nên là những điều mà Đức Phật dạy không thể sai. Dù bao nhiêu ngàn năm trôi qua nữa, những điều Phật dạy không thể sai. Chỉ có một điều là vì trong cái thời điểm đó Đức Phật không thể nói quá chi tiết, lúc ấy chưa có chữ viết mà. Cho nên Phật không thể nói dài dòng quá được, chỉ nói rồi truyền miệng, cho nên Phật nói cô đọng để dễ nhớ, thì ngày hôm nay mình có quyền đào sâu chi tiết.
[54:19]Điều đó chấp nhận được. Chấp nhận được, nghĩa là Phật đã cho chúng ta cái đúng, và vĩnh viễn một triệu kiếp sau chúng ta đi tìm cái đủ. Nhớ tìm cái đủ là một triệu kiếp nha! Nhớ! Còn đúng thì ban đầu chúng ta đã có cái khởi điểm đúng từ nơi lời dạy của Phật rồi. Cho nên trong kinh Đại Thừa nói thế này: Thập Địa Bồ Tát vẫn chưa đủ chánh kiến mà. Kinh hồn chưa? Thập địa Bồ Tát vẫn chưa đủ chánh kiến, huống hồ là sao, huống hồ là mấy ông giảng sư, phải không? Huống hồ là ai? Huống hồ là cái người mới đắc định có chút thần thông? Không nhằm gì đâu, không bao giờ. Thập địa Bồ Tát mà còn chưa đủ chánh kiến như Phật
[54:58]thì trên đời này đừng có ai dám tuyên bố mình là chân lý tột cùng hết, không bao giờ. Đúng thì có đúng á, nhưng mà hễ nói mình đủ là bắt đầu sai. Vậy đó. Những điều mà chúng ta hiểu biết về đạo lý ngày hôm nay, phải không, chỉ là rơm rác so với 20 năm tới nữa. Ví dụ ngày hôm nay, quý Phật tử ngồi đây nghe giảng pháp những điều này thấy rất là mới, là thích, mình bắt đầu mình có cái quan điểm tu hành. Nhưng nếu mình tu hành đúng hướng chân chính, 20 năm sau mình nhìn lại những cái ngày hôm nay mình những điều đã hiểu thì thấy điều hiểu ngày hôm nay chỉ là rơm rác, rơm rác. Phải nhớ như vậy đó. Cho nên mỗi ngày chúng ta phải tiến dần dần,
[55:35]đừng bao giờ dừng lại một chỗ nào để cho mình là là đúng liền. Nếu tự mãn là đứng lại liền. Cho nên trong cái việc mà thiết lập chánh kiến, cái tâm khiêm hạ rất quan trọng. Không bao giờ là cho mình đã hoàn toàn đúng, không bao giờ dám cho mình đã hoàn toàn đủ. Nhớ như vậy, cái khiêm hạ là quan trọng. Còn nếu mà mình kiêu mạn thì mình không còn học hỏi được nữa, phải không? Chúng ta nhắc lại một cái đoạn kinh là về Đức Phật khi mà hái nắm lá trong rừng, ngài đã nói là: "Những điều ta biết như lá trong rừng, mà những điều ta nói chỉ như lá trong bàn tay." Đó, luôn luôn vì đạo lý là vô tận, chứ kinh điển chưa hề nói hết được đâu, phải không?
[56:16]Và để nói hết được lá trong rừng, vô lượng kiếp tới nữa. Ừm. Do đó, người đệ tử Phật cần cái kiến thức rất là rộng để tu và để giáo hóa, nhưng đừng để mất thì giờ vô ích. Chúng ta đừng có cái tham vọng học nhiều, bởi vì cái tham vọng học nhiều cũng sẽ làm trở ngại. Cái học đến với chúng ta một cách rất là tự nhiên trong cái học mà như không học, đó, để học được chánh kiến. Và bây giờ chúng ta bắt đầu đi vào chánh kiến nè. Một chánh kiến đầu tiên là luật nhân quả nghiệp báo. Nghĩa là tu theo đạo Phật, đầu tiên phải hiểu luật nhân quả nghiệp báo cho kỹ, cho chín chắn, cho đúng, cho xác quyết, không được nghi ngờ.
[56:55]Cái căn bản là ai gieo nhân gì sẽ gặt quả đó. Đó gọi là thiện ác báo ứng á. Nghĩa là chúng ta đối xử với chúng sinh như thế nào thì sau này quả báo sẽ trở lại với chúng ta như thế đó. Cho nên trong luật nghiệp báo này đòi hỏi có sự tương tác giữa chúng sinh này với chúng sinh kia, chứ không phải một mình mình. Đó, đó là cái vậy. Tuy nhiên mà đi sâu dần vào trong chi tiết của luật nhân quả hoặc là đến phạm vi lớn trên toàn vũ trụ thì chỉ có Phật mới biết hết thôi. Chứ còn chúng ta không biết hết nổi, chúng ta biết một số căn bản thì được. Tuy nhiên là nếu ai hiểu luật nhân quả mà hiểu sâu hơn, chi tiết hơn thì người đó gọi là có chánh kiến nhiều hơn.
[57:35]Đó, mặt căn bản là cái chánh kiến. Trong cái luật nhân quả này thì cái hành động đối xử giữa người này với người kia là tạo thành nghiệp. Còn có những cái hành động mà vẩn vơ thì dường như không có thành nghiệp. Ví dụ như là mình đi thơ thẩn, ở ngoài sân mình đi thơ thẩn qua lại thì có thành nghiệp không? Không, không thành nghiệp, không có tác động tới ai. Trừ trường hợp là mình đi thơ thẩn mà mình mình che cái tầm mắt của người ta để người ta đang nhìn cái gì đó. Đi cố ý, mình cố ý đi qua lại che tầm mắt người ta thì thành nghiệp. Còn mình đi thơ thẩn ngoài sân không đụng gì tới ai hết thì không thành nghiệp.
[58:12]Hoặc là mình đứng yên một mình, à đứng một mình ở trong phòng mình mình cắn cái móng tay của mình thì có thành nghiệp không? Không, không thành nghiệp, phải không? Cho nên vậy, nên từ đây về sau mà mình muốn không có tạo nghiệp á thì cứ đứng ở trong phòng mà cắn móng tay nha, không có đụng tới ai hết là không có tạo nghiệp gì hết trơn. Chứ còn nếu có người để mình đối xử là thành nghiệp liền. Đó. Còn có những cái tương tác mà ảnh hưởng tới tha nhân thì thành nghiệp, ví dụ thế này: là mình đào cái đường mình để mình lắp cái ống nước vô nhà mình, rồi xong cái mình lấp lại, phải không, mà lấp không kỹ,
[58:42]cái xe chạy qua nó dằn một cái, xe chạy qua dằn một cái là thành nghiệp rồi đó. Thì cứ nhớ mình cứ đếm đi. Mình cứ đếm là mình để con đường đó ba tháng, rồi mỗi xe đi qua dằn một chút, mà một ngày đó là có 200 chiếc xe qua lại. Mỗi lần đi qua dằn, bánh trước dằn một cái, bánh sau dằn một cái, mình đếm một ngày mấy trăm xe, mà ba tháng như vậy bắt đầu mình mới thấy mình lấp cho bằng, thì một lúc nào đó, kiếp này hoặc kiếp sau, là khoảng chừng như mấy chục ngàn cái dằn đó là mình phải đi cà nhắc mấy chục ngàn cái như vậy. Thay vì người ta đi bằng bằng, vậy mình đi cà giựt, giựt, giựt, là cái giống như chiếc xe đi qua cái chỗ
[59:15]đường mình lấp mà không kỹ nó dằn, dằn một cái. Ráng chịu. Nên ai mà muốn đi mà cà nhắc cà nhắc dằn á thì mình cứ đào đường cho người ta đi dằn dằn chơi, thì sau này mình tự nhiên mình sẽ được đi như vậy, rất là đẹp, nha, rồi đó, đó. Đó, nghĩa là mình có làm cái gì mà ảnh hưởng tới tha nhân là thành nghiệp và có quả báo, vậy. Thí dụ như một cái tâm niệm vẩn vơ ít có thành nghiệp, như mình nhìn một bụi cây mình đếm coi cây này bao nhiêu lá thì có thành nghiệp không? Không, không đụng gì tới ai, không thành nghiệp. Còn nếu mà là một cái tâm niệm mà liên quan đến đạo đức, ví dụ như mình tự cao hay là mình nghĩ mình giỏi,
[59:48]mấy người kia không bằng mình, bắt đầu thành nghiệp á. Thì lúc đó có cái đối tác, có cái tương tác, có cái đối tượng đối với chúng sinh là thành nghiệp, như vậy. Hoặc là ví dụ mình không làm mà mình ngồi mình nghĩ thôi, mình nghĩ là bao nhiêu người ngồi đây là mình sẽ thương hết, mình cưng hết, cưng vô cùng hết thì có thành nghiệp không? Thành, bắt đầu thành cái phước từ từ trong tâm mình. Đó. Cho nên bây giờ chúng ta vừa ngồi nghe vừa lẩm nhẩm trong đầu mình là: "Nhiêu đây tôi cưng hết á, cưng tha thiết hết." Vậy đó. Vậy đó. Là lát đi ra có chút phước bỏ túi xài á. Vậy nha. Nhớ nha, thấy nhìn nhau mình cứ cưng hết giùm.
[1:00:22]Hoặc là mình không nói miệng ra mà mình cứ hay chê trách mọi người. Gặp ai mình cũng chê, cũng trách trong bụng mình, không nói ra. Nói ra là sợ người ta ghét, mất lòng, mà chỉ nghĩ xấu người ta trong tâm mình âm thầm thôi thì có tạo nghiệp không? Có. Tự nhiên sau này người ta xa lánh mình. Hoặc là tự nhiên mình đổ những cơn bệnh vô cớ. Thì đó đó chính là cái ở trong tâm không ai biết mà vẫn tạo thành cái quả báo bên ngoài là do có thành nghiệp á. Một điều thế này nữa là nghiệp của một người liên quan đến nghiệp của nhiều người. Vì sao vậy? Bởi vì nghiệp là do tương tác giữa người và người, phải không, trong kiếp trước?
[1:00:59]Nên sau này khi quả báo nó trổ ra, nó đụng tùm lum hết, nó lây lan từ người này qua người kia. Là ví dụ như bây giờ một người mà giàu lên, trúng số đi, thì bảo đảm thế nào mấy người chung quanh cũng đỡ khổ một chút, phải không? Thế tự nhiên bây giờ mình trúng số mấy tỷ thì thế nào cha mẹ mình, anh chị em mình thế nào mình cũng phải cho, phải không? Thấy bà con người ta nghèo quá, thấy ngày đó thế nào mình cũng lại cho người ta một ít, trừ trường hợp cái người quá trùm sò thôi. Trúng số rồi là giấu bặt luôn, không ai biết, giả bộ tiếp tục ăn cơm với nước mắm rồi thì thôi, người đó mình chịu thua.
[1:01:29]Chứ còn bình thường á là trúng số mừng quá la lên rồi thế nào mình cũng cho người này một chút, người kia một chút. Cho nên có ai trúng số la lên giùm thầy biết nha. Đó, phải không? Chứ đừng có trúng số rồi tiếp tục ăn cơm với nước mắm, tội nghiệp. Ví dụ thế này: ví dụ như sự thành tựu của tâm linh cũng là do nhân quả chi phối nữa. Như là sao? Như bình thường ấy sống trên đời mình sống rất là tốt với mọi người, lúc nào mình cũng sợ người ta buồn, lúc nào mình cũng sợ người ta phiền, lúc nào mình cũng muốn giúp để người ta được an vui. Người ta thiếu, mình giúp; người ta khó khăn, mình giúp, vân vân.
[1:02:00]Là nhờ cái giúp của mình nên người ta tâm người ta được bớt lo, bớt suy nghĩ, bớt khổ, phải không? Thì những cái mà an vui nơi tâm người khác nó rớt lại vô trong tâm mình. Đến khi mình tu tập thiền định, cái tâm mình nó yên. Đó là mình cộng lại bao nhiêu cái yên của người khác mà mình đã làm thì cộng lại, ép lại, nhét lại, nén lại, nén lại bỏ vô tâm mình, nó thành cái định của mình, thành cái định trong cuộc đời mình. Nên vì vậy là chúng ta phải ráng sống tốt với mọi người, giúp cho mọi người được yên tâm. Ừm, khi mọi người được yên vui rồi thì ở trên đó Phật sẽ ép ép, nén lại bỏ vô tâm mình, mình sẽ được yên, được định, nhớ như vậy đó.
[1:02:39]Tuy nhiên là cái định đó nó không có lâu. Hết thời gian mình hưởng hết là mất. Vì sao vậy? Vì sao? Bởi vì những cái niềm an vui mà mình đem đến cho chúng sinh không phải là vô lượng, không phải là vô tận, không phải là tuyệt đối, có giới hạn. Ví dụ mình cũng sống tốt vậy đó, nhưng mà trong chừng mức nào đó thôi, chứ không phải là tuyệt đối, vô tận, vô lượng. Cho nên cái định mà mình hưởng được trong tâm mình cũng như là cái định mà mình hưởng được trên cõi Trời sau này thì có bao nhiêu năm đó nó sẽ hết, ví dụ 1.000 năm hay 500 năm gì đó, hết cái mình phải tái sinh trở lại để phải bắt đầu loạn tâm lại, lo nghĩ trở lại.
[1:03:19]Còn cái người nào mà sống vị tha, đem cái niềm vui đến cho mọi người vô biên, vô lượng, vô tận, tuyệt đối, làm mãi làm mãi không bao giờ cầu cái gì cho mình hết, suốt đời hết kiếp này kiếp kia cứ đem an vui đến cho mọi người, thì cái người đó mới có thể chứng được cái giải thoát được. Là lúc đó cái an vui trong tâm mình là vô lượng tuyệt đối luôn, không bao giờ thoái chuyển nữa, không bao giờ lui sụt nữa. Nhưng vì vậy, một người mà muốn giải thoát thì phải làm sao? Phải sống cực kỳ tốt với tất cả mọi người. Chúng tôi chưa có dịp cái duyên để giảng kinh Kim Cang, nhưng mà điều này được nói trong đầu kinh Kim Cang.
[1:04:01]Là khi mà ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: "Làm thế nào để hàng phục được cái vọng tâm, vọng tưởng của mình?", Đức Phật đưa ra một cái câu trả lời cực kỳ lạ lùng, là: "Hãy độ cho tất cả chúng sinh này được vào Niết-bàn hết đi". Lạ chưa? Đó, đó là cái câu trả lời tuyệt vời luôn, là chính cái đời sống của chúng ta đem được niềm vui, đem được đạo lý đến cho tất cả mọi người nó mới tác động trở lại vào tâm mình, tự nhiên tâm mình sẽ yên. Ở trong kinh Kim Cang Phật nói rất là rõ, đó là đúng với nhân quả đó. Nên sau này chừng nào có duyên chúng ta sẽ trao đổi với nhau về kinh Kim Cang sau. Chúng ta nhớ vậy. Cái yếu tố mà gọi là làm phước á, sống tốt với con người á là một
[1:04:39]điều quan trọng trong việc tu hành nha, nó là chánh kiến á. Còn nếu mà người nào không chịu làm phước, à không khuyến khích làm phước, ngăn cản người khác làm phước, đó là một tà kiến. Chúng ta phải xác định điều này cho rõ nha, xác định, mà phải làm phước cho tới vô tận mới thành Phật được. Nhớ như vậy. Đừng có tưởng làm phước rồi hưởng phước, không có đâu. Cái người biết tu không đừng có sợ hưởng, có phước rồi tâm mình mới yên. Còn cái người nào nói: "Đừng có làm phước, làm phước rồi cái hưởng phước nhân thiên luân hồi hoài", là người đó không hiểu đạo sâu, hiểu đạo không sâu. Mình có phước rồi mình muốn hưởng hay không là ăn thua mình.
[1:05:15]Người có phước là người có tự do, người không có phước là người bị ràng buộc. Chúng ta nghe điều này chưa? Chúng tôi đã từng nói điều này trong những loạt bài Đạo Phật - Xã hội rồi. Người có phước là người được tự do. Ví dụ như bây giờ là mình nhìn cái áo đẹp, mình muốn mua, nhưng mà nếu mình có tiền thì mình mua liền là mình tự do, phải không? Còn người muốn có áo đẹp mà không có tiền để mua là mất tự do, phải không? Đó, hoặc là mình muốn đi một chuyến đi chơi, mình có tiền, bỏ tiền ra, mình hợp đồng với một cái tour du lịch đi được liền là vì có phước. Còn giờ muốn đi chơi mà không có tiền là không đi được, tức là mất tự do.
[1:05:51]Chúng ta nhớ như vậy: có phước là có tự do. Cũng vậy, ví dụ như khi mình có phước, mình muốn hưởng hay không là tùy mình, chứ cái phước không bắt mình hưởng. Ví dụ tiền nhiều quá, nhiều quá rồi thì sao? Không muốn hưởng thì cứ đem cho, phải không? Tự do. Còn muốn hưởng thì cứ hưởng. Nên do đó, có phước cái đã. Còn ai nói mà: "Đừng có tạo phước, có phước rồi cái phải hưởng phước nhân thiên luân hồi tái sinh", người đó không hiểu đạo kỹ, tà kiến đó. Chúng ta cẩn thận. Một quốc gia hùng mạnh cũng là do toàn dân có phước. Ví dụ đất nước Việt Nam mình sở dĩ nghèo bởi vì từng người dân của mình chưa nhiều phước.
[1:06:26]Bây giờ nếu từng người dân của nước Việt Nam mình ai cũng tạo phước rất nhiều, phước đầy lên hết rồi thì cả đất nước mình mạnh lên liền. Nhớ như vậy, mạnh lên liền. Trong đạo Phật cũng vậy, nếu mà tất cả người đệ tử Phật từ xuất gia tới tại gia ai cũng có phước lớn hết thì đạo Phật làm sao? Đạo Phật mạnh liền, phát triển liền, Phật pháp huy hoàng liền, nhớ như vậy. Còn nếu trong đạo Phật mà những người đệ tử Phật sống trầm lặng không chịu làm phước và không có phước thì đạo Phật suy tàn liền. Chúng ta nhớ như vậy, cho nên cái việc làm phước rất là quan trọng. Chúng ta làm phước nơi bản thân mình nhưng mà kỳ thực là chúng
[1:07:02]ta đang đóng góp vào cái sự huy hoàng của Phật pháp, chúng ta đang đóng góp vào sự hùng mạnh của quốc gia, nhớ như vậy. Nên phải siêng làm phước. Đó là chánh kiến đó, ừ. Ở đây mình nói tổng quát thôi. Bây giờ cái chánh kiến thứ hai, hồi nãy chánh kiến thứ nhất là luật nhân quả nghiệp báo phải nắm cho vững, cái chánh kiến thứ hai là Tứ Diệu Đế. Thì người đệ tử Phật phải nắm vững Tứ Diệu Đế. Mình học Tứ Diệu Đế ở đâu? Ở đâu? Thì đang học đây chứ đâu nữa mà thắc mắc. Cho nên mình không có nói về Tứ Diệu Đế, phải không? Mà chính là đang nói. Không nói mà nói đó là nói. Chánh kiến thứ ba là là đạo lý vô ngã. Nhớ nha.
[1:07:46]Đây là những cái chánh kiến trong đạo Phật chúng ta phải nắm cho vững để sau này không có đi lạc đường. Bình thường á chúng ta có cái bản ngã rồi chúng ta chấp ngã. Do chấp ngã nên chúng ta có tham, có sân, có giận hờn, có đố kỵ, có ích kỷ, có hơn thua, à có đủ thứ phiền não, bất thiện, đó. Cái bản ngã này là một cái ảo tưởng, nhưng mà cái ảo tưởng nó rất là thật khiến cho chúng ta cứ tưởng là mình có cái ta thật sự. Giống như là chúng ta nhìn cái người họ cầm cái đuốc đang cháy họ quay rất là nhanh thì mình thấy giống như là có một cái cái vòng lửa, phải không? Vì quay quá nhanh thôi, chứ sự thực có vòng lửa không?
[1:08:30]Không, chỉ là một cây đuốc quay nhanh. Thì cũng vậy, chúng ta không hề có cái bản ngã thật ở trong mà chỉ là những tâm niệm nó nối tiếp nhau quá nhanh đi, tức là trong một sát-na, trong một khoảnh khắc hiện tại, cái đầu chúng ta đang suy nghĩ 1 triệu tư tưởng ở trỏng á. Hiện nay chúng ta đang ngồi đây là trong tâm chúng ta đang có 1 triệu tư tưởng ở trỏng. Có ai thấy không? Không, mình chỉ thấy một vài cái tư tưởng nào nó nổi bật thì mình thấy rõ, còn 1 triệu tư tưởng thầm kín đang liên tục xảy ra. Chính vì nó diễn biến quá nhanh, nó làm cho mình có cái cảm giác như mình đang có một cái bản ngã.
[1:09:04]Và vì mình tưởng mình có cái bản ngã riêng biệt với tất cả mọi người, cho nên mình ngăn cách với mọi người, hơn thua mọi người, mình ích kỷ giành về phần mình, rồi mình tham lam để có được nhiều cho mình, mình giận hờn khi người ta xúc phạm tới mình, rồi mình ganh tị với cái người giỏi hơn mình, rồi mình tự cao đối với cái người kém hơn mình, vân vân là do cái ảo tưởng về bản ngã. Vì vậy là chúng ta phải thoát được cái ảo tưởng này, nhưng muốn thoát được cái ảo tưởng về bản ngã này chúng ta phải biết chúng ta không thật có bản ngã, đồng thời phải tu tập thiền định cho sâu. Nhưng mà có cái điều thế này, là ngoài đạo Ấn Độ đó họ cũng
[1:09:39]tu định, họ đạt được tâm thanh tịnh rất là trong sáng. Khi họ đi qua được cái giai đoạn loạn động rồi, tới giai đoạn tâm thanh tịnh rồi thì chợt bừng lên một cái tâm rất là sáng và họ gọi đó là chân ngã, họ gọi là thần ngã, họ gọi là thánh ngã. Họ đứng lại đó và rốt cuộc bản ngã cũng còn. Trong Upanishad. À đây là chỗ mà Đức Phật của chúng ta vượt qua được. Khi mà các vị đạo sư của Ấn Độ đó họ nói về chân ngã rất là hay, cũng nói về thiền định, à nói là tâm thanh tịnh, nói tất cả là không. Nhưng mà khi họ tu sâu rồi nó bừng lên một cái tâm rất là sáng và họ gọi đó là chân ngã, thần ngã, thánh ngã, đứng yên đó.
[1:10:25]Đến khi Đức Phật chúng ta đến học với các vị đạo sư đó ngài chứng được liền, chứng nhanh chóng. À Đức Phật mới bằng cái trí tuệ, cái công đức của một vị Phật tương lai, Đức Phật mới hỏi ông Alara Kalama và vị đạo sư Uddaka Ramaputta: "Hỡi thưa thầy, là chứng được cái này là còn ngã hay không còn ngã? Nếu mà còn bản ngã thì chưa giải thoát tột cùng, mà nếu không còn bản ngã thì ai tự biết mình chứng được?". Cái câu hỏi của ngài lắt léo quá, hai vị đạo sư thời danh lúc đó không trả lời nổi và Đức Phật bỏ đi. Ừ, ngài bỏ đi ngài mới đi tìm một con đường nào để chấm dứt hoàn toàn bản ngã mới thật sự giải thoát.
[1:11:03]Rồi ngài đã thực hành khổ hạnh khốc liệt trong 6 năm cũng không thành công. Ngài mới nói khổ hạnh không đạt được cái vô ngã. Ngài quay trở lại con đường thiền định và cuối cùng ngài đã chứng được. Ngài nhập định suốt 49 ngày đêm dưới cội cây Bồ-đề và đã thành Phật. Và khi thành Phật là ngài vượt qua được cái chân ngã của ngoại đạo. Lúc mà ngài đạo tu thiền định nó bừng sáng lên trong tâm mình và gọi đó là chân ngã, thần ngã, thánh ngã, đứng lại đó, bản ngã còn. Đức Phật đi tiếp đi tiếp vượt qua hẳn luôn cái trạng thái đó luôn và ngài đã chứng được vô ngã hoàn toàn, ngài trở thành một vị Phật. Chúng ta nhớ như vậy. Cái hơn thua nhau chỗ này.
[1:11:40]Vậy nó có ba cái giai đoạn của sự tu hành. Ban đầu á là cái bản ngã phàm phu tầm thường như chúng ta. Tu lấy một giai đoạn cao tâm thanh tịnh bừng lên một cái chân ngã, nhưng bản ngã sâu vẫn còn. Và phải tới các vị A-la-hán hay Phật thì mới thật sự hoàn toàn chấm dứt bản ngã, đạt được vô ngã hoàn toàn. Thì cái điểm vô ngã này là một cái chánh kiến mà chúng ta phải xác định, phải xác lập trong việc tu hành theo đạo Phật. Đây là một chánh kiến quan trọng, nhớ, vô ngã là mục tiêu quan trọng, là một chánh kiến quan trọng, không được coi thường. Khi chúng ta tu tập thì chúng ta phải theo gương Đức Phật là phải nhắm đến vô ngã.
[1:12:20]Ví dụ bây giờ chúng ta tu chứng đến đâu vậy, tâm mình thanh tịnh cái gì, mình được bất cứ điều gì, phải cảnh giác một điều là: bản ngã vẫn còn ẩn núp chưa hết. Bởi vì ngoại đạo Ấn Độ họ tu ngang đó họ bị mà, thì mình cũng vậy, cũng phải rất là cảnh giác vì bản ngã luôn luôn còn tồn tại. Vậy vô ngã rồi là gì? Có người cứ hiểu rằng vô ngã rồi hết không còn gì nữa, không phải, không phải. Khi mà hoàn toàn chấm dứt bản ngã rồi thì cái vị này trở thành toàn thể vũ trụ, thành toàn thể chúng sinh, trở thành tất cả. Nhớ như vậy. Mà do là không còn bản ngã nên tâm từ bi thương yêu chúng sinh tuyệt đối vô tận luôn.
[1:13:01]Chúng ta còn bản ngã, chúng ta có thương yêu ai cũng còn giới hạn. Còn một đức Phật, một vị A-la-hán bản ngã không còn, cái lòng thương trải rộng đến chúng sinh là tuyệt đối, nhớ như vậy. Cho nên vô ngã tức là lòng từ bi tuyệt đối, vô ngã cũng là trí tuệ tuyệt đối. Bởi vì một cái vị mà không còn bản ngã, vị đó biết hết toàn bộ vũ trụ luôn. Nên vô ngã rất là hay. Mà chỉ có cái trở ngại là chúng ta nhiều khi tu chứng đến một cảnh giới nào đó mình tưởng đó là đủ rồi, mình đứng lại nên không đạt được vô ngã. Đây là điều phải cảnh giác. Nhớ vô ngã là một chánh kiến phải xác lập. Cái chánh kiến thứ tư mà chúng ta phải xác lập là cái lý vô thường. Lý vô thường.
[1:13:44]Cái chánh kiến này còn gọi là trí tuệ Bát-nhã ở mức độ chuẩn căn bản. Cái lý vô thường nói rằng là tất cả đều đều thay đổi, dù là nhanh, dù là chậm nhưng đều phải thay đổi. Đó. Có những cái mà rất chậm thay đổi, ví dụ một cái cục đá mình cứ để yên bên lề đường để hoài thì thật ra là không biết bao nhiêu triệu năm nữa nó mới tan vỡ, không biết. Còn có những cái mà thay đổi rất là nhanh, ví dụ đời sống của một con phù du hay là đóa hoa, đóa hoa phù dung, vân vân vậy, là sớm nở tối tàn. Còn bình thường trung bình là một đời sống của một con người ha, chúng ta sinh ra đừng có cái gì trục trặc thì đừng có bị trúng gió nửa chừng,
[1:14:30]đừng có tai biến gì hết thì từ từ tới tám mươi mấy chín chục tuổi rồi mình cũng cũng die. Đúng không? Tất cả chúng ta. Thì trong cái thay đổi đó là có khi đổi từ tốt trở thành xấu hoặc có khi đổi từ xấu trở thành trở thành tốt, nhưng phải thay đổi. Ví dụ như là chúng ta gieo một cái hạt giống vào một cái đống phân, đống phân thì là tốt hay xấu? Xấu, nhưng mà không ngờ nó vươn lên thành một cái cây, ra hoa ra trái rất là rất là ngon lành. Đó, nên là từ xấu thành tốt. Nhưng rồi cái cây mà ra hoa ra trái là đang tốt trước mắt mình á, mai mốt làm sao? Từ từ hết qua cái tuổi thọ nó tàn úa lại. Đó, cuộc đời là cứ thay đổi như vậy, từ tốt thành xấu, từ xấu thành tốt.
[1:15:16]Từ xấu thành tốt thì cho chúng ta cái lạc quan yêu đời và từ tốt thành xấu thì cho chúng ta cái bi quan chán đời, thấy không? Đó mình thấy là từ đứa trẻ thơ bỗng nhiên lần lần lớn thành một cái thanh niên khỏe mạnh, đó là đang thay đổi từ xấu thành thành tốt và làm cho chúng ta yêu đời, phấn chấn. Nhưng cái người thanh niên khỏe mạnh đó bỗng nhiên chững lại rồi sao? Da nhăn, má cóp, già, yếu từ từ rồi chết. Đó là từ tốt thành xấu làm chúng ta nhìn vào đó chúng ta thấy bi quan, chán đời. Thì chúng ta hiểu cái lý vô thường, chúng ta bỏ qua cái bi quan chán đời, bỏ qua cái lạc quan yêu đời để nhìn cái sự thay đổi của mọi việc trên đời
[1:15:56]bằng cái tâm giải thoát, không bi quan không lạc quan, được không? Được. Đó, đó là lý vô thường là một cái chánh kiến quan trọng nha. Là khi mà chúng ta nhìn mọi sự thay đổi như vậy thì tâm mình không có dính mắc. Chính tâm mà không có dính mắc á nó hỗ trợ cho thiền định rất nhiều. Là chúng ta không mừng khi mình có được điều tốt, chúng ta không buồn khi mình vướng phải cái điều xấu. Đó, nhờ cái tâm mà bớt mừng bớt buồn đó sẽ hỗ trợ cho cái tâm an định trong thiền định của chúng ta. Đó. Trong cái thay đổi đó nó trở thành cái luân hồi, nghĩa là từ tốt thành xấu, xấu thành tốt, tốt thành xấu, xấu thành tốt nó cứ trôi lăn mãi.
[1:16:36]Giống như cái luân hồi của chúng ta mà nếu mình không biết tu thì mình không dừng lại được, cứ bị cái luật vô thường, cái nguyên lý vô thường, cái sức mạnh vô thường cứ cuốn mình đi hoài thôi. Ừm. Tuy nhiên khi mà nhìn mọi việc trên đời là thấy cái gì cũng vô thường hết thì chúng ta cẩn thận một điều. Cẩn thận là coi chừng mình rơi vào cái tâm vô cảm như cây như đá. Ai hỏi gì nói: "Ôi, vô thường," coi mọi việc dửng dưng, coi chừng lúc đó mình đang rơi vào trạng thái vô cảm. Là phải biết, nghĩa là mặc dầu cuộc đời vô thường nhưng mà từng con người, từng con người đều đáng yêu đáng quý, từng chúng sinh đều đáng yêu đáng
[1:17:14]quý vì cùng chịu với nhau cái kiếp luân hồi đau khổ, phải không? Do đó biết là mọi chuyện trên đời đều thay đổi, ai cũng sinh ra lớn lên rồi già rồi chết, mọi việc khi thịnh khi suy biết rất là rõ là lòng mình không vướng bận với mọi điều nhưng mà lúc nào phải giữ cái tâm từ bi thương yêu muôn loài. Đó mới là không bị rơi vào cái vô cảm như cây như đá, được không? Đó, đó là chánh kiến, nhớ như vậy đó nha. Ừm. Là trong cái nhìn mọi việc vô thường á là chúng ta có tâm từ bi và có cái đạo đức. Là chúng ta biết ơn cái điều tốt và dứt khoát nói không với điều xấu. Phải như vậy. Đó, chứ không phải là nói vô thường thôi gì cũng được,
[1:17:57]tốt được xấu cũng được, cái đó là ba phải, đó là thiếu trí tuệ, đó là si. Còn cái vô thường, cái nhìn của trí tuệ biết là mọi điều thay đổi nhưng mà quý hóa, biết ơn điều thiện và nói không với điều ác. Nhớ như vậy. Cái chánh kiến thứ năm là thiền định, là cái tâm an định. Tâm an định là một chánh kiến, là một cái phương tiện, là một đường đi quan trọng. Là chúng ta sẽ nói nhiều trong phần chánh niệm, chánh định. Nhưng bởi vì chúng ta đang nói về chánh kiến mà thiền định hoặc là cái nội tâm an tĩnh là một quan điểm quan trọng trong sự tu hành, là một cái chánh kiến quan trọng. Nghĩa là tu theo đạo Phật là luôn luôn phải giữ tâm an tĩnh.
[1:18:42]Đó là một chánh kiến không thể sai được. Chúng ta nhớ như vầy nè, cái chánh tư duy là động hay là tĩnh? Động hay tĩnh? Động, bởi vì suy nghĩ mà, động. Chánh nghiệp là động hay tĩnh? Động, vì phải lo làm phước mà, phải tính toán phải làm mới làm phước. Chánh mạng là động hay tĩnh? Động luôn, vì lo làm ăn mà, phải sống trên đời mà. Tức là những cái đó đều là động. Nhưng mà cuối cùng để đưa đến cái gì? Chánh chánh định. Nhớ, chánh định là mục tiêu. Nếu những cái điều kia là đúng, cái tư duy đúng, chánh nghiệp đúng, cái mạng đúng thì sẽ đi tới thiền định. Còn nếu những cái kia sai thì chúng ta sẽ không có được chánh định.
[1:19:27]Cho nên vì vậy là dù chúng ta làm điều gì, chúng ta tu cái gì, tạo bao nhiêu hạnh nghiệp gì tốt đẹp, phải nhớ cái mục đích cuối cùng là chánh định, là nội tâm an tĩnh. Nên cái quan điểm về cái nội tâm an tĩnh là một quan điểm tu hành quan trọng, chúng ta không được quên. Nhưng mà nói theo Bát chánh đạo mà tuần tự thì chánh định nằm ở phần cuối. Nhưng mà như chúng ta đã nói là trong Bát chánh đạo đó cái tu tập vừa tuần tự mà vừa hỗ tương. Là trong khi chúng ta đang tu tập chánh tư duy, chánh kiến chúng ta vẫn phải tu tập chánh định liền, đồng thời. Nghĩa là trong khi mà chúng ta làm phước nè, chúng ta suy ngẫm đạo lý nè nhưng mà vẫn luôn luôn khéo giữ gìn tâm hồn an tĩnh.
[1:20:12]Đó, đây là cái quan điểm quan trọng, chứ không phải là đợi bây giờ tôi tu hết các chánh đạo trước cái đã rồi từ từ sẽ tu chánh định sau. Thì như vậy người này vẫn chưa hiểu được Bát chánh đạo. Vì sao vậy? Bởi vì tu tập Bát chánh đạo là tu tám điều đó đồng thời, đồng thời. Nhưng mà có ban đầu thì mình hơi thiên về chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp. Về sau thì mình hơi thiên về chánh định, vậy đó. Nhưng cùng một lúc phải tu đầy đủ tám cái chánh đó hết. Và luôn luôn quan trọng là giữ tâm mình thanh tịnh. Chúng ta có cái thước để đo được cái đạo lực của mình, đó là nội tâm an tĩnh bất động.
[1:20:51]Đó, nghĩa là trong mọi tình huống mà tâm mình giữ được an tĩnh bất động, đó là người có đạo lực. Còn nếu mình đụng chuyện mà tâm mình xao động bất an thì đạo lực mình rất là kém. Cho nên ở đây là chúng ta đánh giá cái sự tu hành của mình có tiến bộ hay không là do khi mình đối duyên tiếp cảnh tâm mình có động hay không. Nhớ đây là điều quan trọng. Dĩ nhiên là cái tâm bất động này là một cái tiêu chuẩn để đo thôi, chứ còn những cái khác để đo nữa, như tâm từ bi cũng là một cái thước để đo đạo lực. Nhưng mà hôm khác mình nói, ở đây không có nói. Ở đây chúng ta chỉ nói là lấy cái tâm an tĩnh làm cái thước đo đạo lực của mình.
[1:21:29]Là trong mọi tình huống xảy ra mình coi coi mình có bị mừng, buồn, tự hào, giận hờn, ganh ghét, đố kỵ, ích kỷ hay không. Lúc nào phải xét cái điều đó để giữ tâm an tĩnh. Nha, đó là một quan điểm quan trọng. Và cái chánh kiến thứ sáu là thế này, là dùng cái đạo lý để phân tích được, ứng dụng được vào mọi khía cạnh của cuộc sống này. Đây là một cái chánh kiến quan trọng. Bởi vì cái đạo lý cuối cùng để làm gì? Để chúng ta tu được trong cuộc đời này, để chúng ta sống được trong cuộc đời này chứ không phải là cái đạo lý để chúng ta trốn vào trong rừng, trong sa mạc, không phải. Nên do đó cái quan điểm tu hành nữa quan trọng là cái đạo lý
[1:22:12]đó phải phân tích được mọi chuyện diễn biến trên cuộc đời. Thí dụ mình nhìn cái vụ mà cháy ở cái Trung tâm Thương mại Quốc tế, mình cũng phải phân tích được cái nhân cái quả của nó, vậy. Rồi ứng dụng được, rồi đời sống của mình mình đang giàu thế này mình tu làm sao, ví dụ mình đang nghèo thế này mình tu làm sao, phải ứng dụng cho được. Và đây là một cái chánh kiến, một quan điểm tu hành quan trọng là đạo Phật phải gắn liền với cuộc đời. Cho nên Lục tổ có nói một câu rất là hay là: "Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch bồ đề, du như tầm thố giác." Nghe hiểu gì không?
[1:22:50]Nói chữ Nho nó giống đọc thần chú. "Phật pháp tại thế gian" nghĩa là Phật pháp thực ra là ở ngay tại trong cuộc đời, ngay tại thế gian này. Nghĩa là Phật pháp tại thế gian "bất ly thế gian giác", nghĩa là không lìa khỏi, bất ly là không lìa khỏi đó, ly là chia ly đó, là không thể rời khỏi cuộc đời này để tìm sự giác ngộ ở đâu đâu. Mà chính ngay mình đang sống trong cuộc đời thực tế này, mình tìm được cái sự giác ngộ. Còn nếu mình rời bỏ cái cuộc sống này thì không hề có một cái sự giác ngộ nào khác nữa. Chính chúng ta sống với cuộc đời, sống với con người này là lúc chúng ta đang tu. Vì vậy, cái quan điểm tu hành quan trọng làm chánh kiến thứ
[1:23:27]sáu là phải ứng dụng được Phật pháp trong cuộc đời, phải đem Phật pháp soi rọi được mọi điều trong cuộc đời. Đó, như vậy. Mục đích của đạo Phật là đem an vui đến với cuộc đời, nó dẫn dắt cuộc đời, nên giáo lý phải thực tế, phải áp dụng được vào trong cuộc sống này. Ừm, bây giờ chúng ta phải tập là nhìn mọi chuyện xảy ra trên đời và mình nhận định đúng với đạo lý, chứ đừng có nhận định theo cái thói thường nữa. Ví dụ như thế này, bây giờ có hai người hàng xóm họ gây gổ với nhau, bởi vì cái máng xối bên cái nhà người này cái chảy tuột qua sân người kia cái gây lộn với nhau, thì mình nhận định sao nếu theo Phật pháp?
[1:24:07]Đó, theo Phật pháp, mình thấy hai người hai gia đình gây lộn nhau vì cái chuyện mà nước chảy, thì mình nhiều khi nếu lý luận trên đời á, thì mình nói là: "Cái máng xối này, cái lỗi là tại cái máng xối." Phải không? Máng xối tự nhiên nó bể ra cái nó chảy tràn qua nhà người ta. Nhưng mà nếu mình nhìn theo đạo Phật thì mình trách tại ai? Tại hai người đó, phải không? Hổng bao dung, không độ lượng nhau. Từ từ mình nói với nhau, chứ có gì đâu phải gây gổ. Mình luôn luôn dùng đạo lý để suy. Ví dụ một cái nền kinh tế suy giảm thì mình lý do tại sao? Thì nếu mà các nhà kinh tế học họ sẽ lý luận là tại
[1:24:43]thặng dư, thị trường, rồi tại mất mùa, tại gì đó. Còn nhìn theo đạo thì tại gì? Tại vì phước chung của xã hội bị suy giảm, phải không? Do phước chung của mọi người bị suy. Mà tại sao phước chung của mọi người bị suy? Là bởi vì mọi người không có chịu làm phước tiếp hoặc là xài phung phí. Khi mà người ta đem tiền ra người ta xài tầm bậy vào các cuộc chơi vui vô độ thì người ta hết phước và đất nước đó kinh tế sẽ giảm. Cho nên chúng ta nhìn một đất nước, ví dụ thấy họ đang giàu lên rồi họ mở nhiều cái tụ điểm vui chơi, hưởng thụ, sa đọa thì mình có thể kết luận rằng một ngày không xa đất nước đó sẽ suy giảm kinh tế liền.
[1:25:21]Bởi vì tạo điều kiện cho người ta hưởng thụ xa hoa, phung phí thì đất nước đó sẽ tuột. Nhớ như vậy khỏi cần suy luận nhiều. Cho nên chúng ta đừng có tưởng mà thấy nhiều cái tụ điểm xa hoa nổi lên đó là dấu hiệu đất nước văn minh, không có đâu. Đó là mầm mống của sự suy tàn của đất nước đó. Ví dụ như kinh tế vừa hơi khá khá, cái lật đật cứ mở vũ trường lên cho nhiều đó tưởng đó là văn minh đó, mà không ngờ đó là những cái mầm mống tiêu diệt cái đất nước đó luôn. Bởi vì người ta vào đó người ta phung phí, một viên thuốc lắc là mấy trăm ngàn, chai rượu mấy triệu, rồi cái tiêu phí sức khỏe, thời gian vô ích trong khi đáng lẽ người ta phải dùng
[1:25:56]tiền bạc, sức khỏe, thời gian đó để tu hành, để làm điều tốt cho con người. Cho nên những cái tụ điểm xa hoa, giải trí, phung phí mở ra càng nhiều thì đất nước đó sẽ nghèo lại nhanh chóng thôi. Kinh tế sẽ suy giảm, vân vân. Đó mình nhìn theo cái đạo mình đánh giá, chứ không phải là mình nhìn theo cuộc đời. Đó, nhìn... Ví dụ một cái người rất là giỏi mà không thành công thì cái người đời sẽ lý luận là tại họ không gặp thời. Còn nhìn theo đạo Phật là tại gì? Là tại vì một cái chướng nghiệp nào đó nó ngăn cản. Mà một trong những chướng nghiệp ngăn cản có khi là tại vì kiêu mạn, giỏi mà kiêu mạn thì cũng không thành công.
[1:26:33]Đó mình phải nhìn bằng cái cặp mắt của đạo để quan sát mọi điều xảy ra trên cuộc đời này. Đó. Trong cái quá trình mà chúng ta sống, chúng ta làm việc, chúng ta tu hành thì cái chánh kiến sẽ được bổ sung mãi cho tới ngày mình thành Phật luôn. Nhớ chánh kiến không bao giờ hết nha. Ngày hôm nay chúng ta đang tu tập chánh kiến, đang thiết lập chánh kiến, nhưng mà chúng ta sẽ bổ sung mãi vào trong cái quan điểm tu hành một ngày một sâu sắc hơn, đúng hơn. Khi chúng ta sống nè, chúng ta tu nè, chúng ta làm việc, chúng ta học hỏi tiếp. Đó, lần mỗi ngày một chánh kiến. Thời giờ đã hết rồi, thôi cũng tạm. Tạm rồi lần sau gặp nhau nữa.
[1:27:09]Bây giờ chúng tôi trả lời vài câu hỏi ha. "Những người bị chết vì hỏa hoạn, thiêu cháy là đời trước do tạo nghiệp gì?" Mình nói cái nghiệp của một cái người mà đã mất hoặc là ở trong cái tai nạn, nó giống như một sự xúc phạm, cho nên điều này rất là tế nhị, điều này rất là tế nhị. Rõ ràng là theo đạo Phật thì có gây cái nhân bất thiện chúng ta mới bị cái quả báo bất thiện, phải không? Nó đương nhiên như vậy. Nhưng mà nếu bây giờ người ta đã chết, gia đình người ta đang buồn, cái mình nói: "Tại vì kiếp trước anh vậy vậy đó", nghe có buồn thêm không? Buồn, nó như sự xúc phạm. Cho nên vì vậy là chúng ta không nói cái nhân quả trong trường hợp này.
[1:27:45]Thì năm nào đó có thể mình quay lại mình nói, nhưng mà hiện nay tình hình đang còn nóng bỏng quá mình không nói, mà mình chỉ đổ thừa là tại ai? Hai cái ông thợ hàn mà hàn tầm bậy xẹt cháy nhà người ta, phải không? Do cái hệ thống phòng cháy chữa cháy quá lạc hậu, cũ kỹ, do cái phòng ốc bố trí không hợp lý, tối mù tối mịt, ở điện dây điện nó lâu quá bắt đầu nó hở dây hở đồ ra, vân vân. Mình đổ thừa mấy cái đó trước, khỏi mất lòng ai hết và chúng ta sẽ đến đó thắp nhang tưởng niệm, cầu siêu cho họ, phải không? Còn muốn nói nhân quả gì 10 năm nữa mình quay lại nói. "Con thắc mắc tại sao hình Phật đản sanh chỉ có một ngón tay trỏ lên trời,
[1:28:21]còn ngón tay trỏ dưới đất nữa?" Để sư phụ trụ trì trả lời cho chúng ta. "Thưa thầy, chó hay cắn hoa, bới đào, nhổ cây, tức quá nhưng mà nhốt lại thì sau này bị nhân quả bị người ta trói lại. Giờ phải làm cách nào cho được tốt và an toàn?" Thì sao? Ai nghĩ ra cách gì hay? Cứ xích nó hoài thì thì nữa mình cũng bị người ta xích lại, phải không? Nhưng mà không xích thì nó đi nó phá hoa, thì sao? Nhớ đừng giao cho tiệm thịt cầy, tội nghiệp nó. Thì điều này nó tế nhị lắm, điều này rất là tế nhị. Ví dụ do đó là chúng ta nhiều khi chúng ta nuôi một con vật mình thương nhưng mà phải nhốt là chúng ta có cái quả báo ở tù á.
[1:29:03]Chúng ta mắc quả báo ở tù, nhiều khi không lâu, một tháng à. Ví dụ mình nuôi cái con vật đó mình nhốt tới ba năm, nhưng vì nó là con vật cái phước nó ít, ừ cho nên sau này mình ở tù chừng một tuần, 10 ngày bù lại. Còn mình nhốt một con người á thì mới có chuyện. Nhưng mà nhốt cái người tội phạm lại không có tội, mà có phước nữa. Lạ như vậy. Ví dụ cái người đó rất là độc ác, cho nên cái người công an họ phải bắt nhốt, tại vì nếu thả ra thì sao? Đi quậy thiên hạ chịu gì nổi, cho nên cái người công an mà bắt nhốt cái người tội phạm, người công an lại có phước chứ không phải bị tội, nhớ như vậy. Thì trường hợp cái con chó vậy, nếu mà quậy quá,
[1:29:38]mình xích nó lại một chút xíu cho nó đỡ quậy thì có khi cũng có chút phước. Nữa mai mốt bị người ta trói cổ lại chút à, không sao đâu, vài ngày không có gì. "Giả sử trong một đời nào đó nếu con có người thân bị đọa phải làm trâu chó thì cầu siêu có tác dụng gì không? Nếu không thì phải làm sao để giải thoát?" Thứ nhất là mình đoán mò, mình chả biết ai bị đọa làm trâu chó, phải không? Mình đâu có biết được. Còn nếu mình biết chính xác là chuyện khác. À, biết chính xác là chuyện khác. Mà còn thông thường là thế này: Thông thường là cái người thân của mình nếu mà không biết tu, họ chết có khi họ bị đọa.
[1:30:11]Có khi họ đọa là xuống địa ngục, có khi họ đọa làm ngạ quỷ, có khi họ đọa làm súc sinh. Mà nếu mình là người biết đạo á thì mình làm phước mình hồi hướng cho họ. Mình làm rất nhiều việc phước mình hồi hướng, và do có cái duyên với nhau là trong nhà nữa, cho nên cái phước mình làm mình hồi hướng người đó sẽ được hưởng. Nếu người đó ở địa ngục tự nhiên sẽ sớm được thoát ra. Nếu người đó đọa làm ngạ quỷ cũng sẽ sớm được thoát ra, mà nếu người đó đọa làm súc sinh sẽ chết sớm để đầu thai trở lại. Nên có những con vật mình cưng lắm, tự nhiên nó ngã lăn nó chết à, bởi vì nó đọa chút thôi, không có nhiều.
[1:30:42]Ví dụ có những con chó mình đem về mình cưng, nuôi mấy bữa cái bệnh chết ngắc, là vì nó giải thoát sớm kiếp chó do đọa chút, là có khi là con cháu làm cái phước gì cầu nguyện á, cái thôi bỏ kiếp chó đi. Như vậy là cái cách mà chúng ta vậy, là mình có người thân mất, mình cứ làm phước hồi hướng cho họ, xong. "Hằng ngày thắp hương cúng hoa quả ông bà và mời ông bà ra mâm ăn cơm cùng con cháu tốt hay không tốt?" Cái lòng hiếu thì tốt, nhưng mà thôi không nên, ha, vì cúng thì cứ cúng trên bàn thờ thôi. Cúng trên bàn thờ thôi được rồi, chứ đừng có mời ra mâm ăn cơm với con cháu làm chi. "Hoa quả, cơm canh đã cúng ông bà còn ăn được hay không?
[1:31:17]Xin thầy chỉ bảo chúng con được rõ." Hai trường hợp. Có những đồ cúng mình ăn tốt, có những đồ cúng mình ăn không có tốt, là lệ thuộc vào cái người về ăn á. Ví dụ cái người mà về ăn là hàng ngạ quỷ, cô hồn thì mình cúng xong đừng có đụng tới nha. Mình cho chó ăn, cho chim ăn. Bởi vì họ lấy hết cái tâm linh trong cái thức ăn rồi. Mình ăn cái đó hoài cái tâm linh mình sẽ mờ mịt. Thứ nhất là cái đồ cúng thí thực ở ngoài hè đó là tuyệt đối đừng đụng tới, bởi vì cái chúng sinh mà đến ăn cái đó là chúng sinh rất ít phước. Còn ví dụ như ông bà mình á mà nếu mà ông bà mình có phước, khi chết rồi về cái cõi tương đối an lành á,
[1:31:50]thì ví dụ về có hưởng thức ăn rồi sau đó con cháu ăn không sao. Tại vì những vị mà đến ăn có phước, có khi lại có thêm thần lực trong đó nữa. Nhất là những cái thức mà chúng ta cúng Phật á. Ví dụ trái cây cúng Phật, nước cúng Phật, cơm cúng Phật rồi, mình đem xuống mình ăn tự nhiên mình minh mẫn thêm. Ừm, minh mẫn thêm, nên lệ thuộc vào cái người về hưởng nhiều lắm, như vậy. Thôi, hồi hướng nha. Nguyện đem công đức này Hướng về khắp tất cả
[1:32:26]Đệ tử và chúng sanh Đều trọn thành Phật đạo.
[1:33:10]Ngoài trời hoa bay bay,
[1:33:17]mịt mù sương khói giăng.
[1:33:25]Lời câu chim líu lo,
[1:33:32]vườn ngồi lắng nghe kinh.
[1:33:39]Trầm lắng nghe trong ta,
[1:33:47]từng giọt mưa long lanh,
[1:33:54]từng dòng suối róc rách, từng giọt nắng trong ngần.
[1:34:05]Ngoài trời hoa rơi rơi,
[1:34:13]mịt mù đầy sương khói.
[1:34:20]Trầm lắng nghe trong ta, nghe trong ta điều nhiệm mầu. Ngoài trời hoa bay bay,
[1:35:12]mịt mù sương khói giăng.
[1:35:19]Lời câu chim líu lo,
[1:35:27]vườn ngồi lắng nghe kinh. Trầm lắng nghe trong ta,
[1:35:41]từng giọt mưa long lanh,
[1:35:49]từng dòng suối róc rách, từng giọt nắng trong ngần.
[1:36:00]Ngoài trời hoa rơi rơi,
[1:36:07]mịt mù đầy sương khói.
[1:36:14]Trầm lắng nghe trong ta, nghe trong ta điều nhiệm mầu.