Transcript: Góp Nhặt Cát Đá 2

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:29:54

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:19]Nghe tiếp chuyện thứ 17. Hà tiện lời dạy. Một y sĩ trẻ ở Tokyo tên là Kusuda gặp một bạn đồng nghiệp đang nghiên cứu thiền. Vị y sĩ trẻ này hỏi bạn: "Thiền là gì?" Người bạn đáp: "Tôi không thể bảo bạn nó là gì, nhưng điều chắc chắn, nếu bạn hiểu thiền, bạn không sợ chết nữa." Kusuda nói: "Hay, tôi sẽ thử coi. Tôi tìm thầy ở đâu bây giờ?" Người bạn đáp: "Hãy đến thầy Nan-in." Vì thế, Kusuda đến viếng Nan-in. Anh ta mang theo một lưỡi kiếm dài 2 tấc rưỡi để coi thầy Nan-in có sợ chết hay không cho biết. Vừa thấy Kusuda, Nan-in kêu lên: "Ồ, chào anh, anh khỏe không? Chúng ta lâu lắm rồi không gặp nhau." Việc này khiến Kusuda bối rối, anh ta đáp:

[1:09]"Chúng ta chưa từng bao giờ gặp nhau mà." Nan-in đáp: "Đúng thế, tôi lầm anh với một y sĩ khác đã theo học thiền ở đây." Việc bắt đầu như thế, Kusuda mất cơ hội thử thầy. Anh ta xin Nan-in để học thiền một cách rất miễn cưỡng. Nan-in bảo: "Thiền không khó. Nếu anh là y sĩ, hãy chữa trị tử tế cho bệnh nhân, đó là thiền." Kusuda viếng Nan-in ba lần, mỗi lần Nan-in đều bảo: "Một y sĩ không được phí thì giờ ở đây, hãy về săn sóc bệnh nhân đi." Thật là tối mò mò đối với Kusuda. Làm sao một lời dạy như thế có thể làm cho ai hết sợ chết được? Vì thế, trong lần viếng thứ tư anh ta phàn nàn: "Bạn con bảo rằng một người học thiền sẽ không sợ chết.

[1:49]Mỗi khi con đến đây thầy đều bảo về săn sóc bệnh nhân. Con hiểu điều đó lắm. Nếu đó là cái được thầy gọi là thiền, con không viếng thầy nữa đâu." Nan-in mỉm cười vỗ nhẹ y sĩ: "Ta xử với anh có hơi nghiêm khắc, để ta cho anh một công án." Nan-in giới thiệu cho Kusuda công án "Không" của Thiền sư Triệu Châu để vượt qua. Nó là vấn đề giác ngộ tâm đầu tiên trong một cuốn sách gọi là Vô Môn Quan. Kusuda suy tư về công án "Không" này trong 2 năm. Sau cùng anh ta nghĩ rằng mình đã đạt được cái tánh chắc chắn của tâm, nhưng Nan-in phê bình: "Con chưa vào được." Kusuda tiếp tục chú tâm thêm một năm rưỡi nữa, tâm anh ta trở nên yên tĩnh,

[2:27]các vấn đề được hóa giải, cái "Không" trở thành chân lý. Kusuda phục vụ bệnh nhân tử tế và không có ngay cả việc hiểu nó nữa, Kusuda thoát khỏi sự lo âu sống chết. Rồi khi Kusuda viếng Nan-in, ông thầy già của Kusuda chỉ mỉm cười.

[2:44]Câu chuyện này cũng hay, rất là thấm thía. Cái người bạn trả lời cũng hay, nói thiền là gì, anh nói tôi không định nghĩa được. Cũng hay, mà chỉ có một cái tính chất thấy được là nếu mà hiểu thiền thì không có sợ chết nữa. Đó, đây là một tính chất của thiền. Cho nên có những cái câu chuyện mà như ngài Nham Đầu Toàn Hoát,

[3:09]ngài rất là giỏi, cái sự chứng ngộ của ngài rất cao. Nhưng mà vì cái lời dạy của ngài nó siêu việt quá, ít có người hiểu nổi. Đến nỗi là thầy của ngài là ngài Đức Sơn cũng nhờ ngài gợi ý mới được chứng ngộ hoàn toàn. Đó, cái ngài Nham Đầu Toàn Hoát giỏi như vậy. Rồi về cuối đời ngài ít nói lắm, ai hỏi đạo ngài chỉ hứ hứ một tiếng, rồi ngài không trả lời. Dường như ngài thấy người người học không đủ sức lĩnh hội cái thiền của ngài. Rồi ngài nói là: Nhưng khi nào ta chết, ta sẽ rống một tiếng. Năm đó nhằm có giặc nổi lên, đánh chiếm các nơi. Tăng chúng trong chùa đều bỏ chạy, mà ngài không có chạy, ngài ngồi yên đó chờ giặc tới.

[3:54]Giặc cướp tới trách ngài không có gì để dâng cúng nên lấy cái giáo đâm ngài. Ngài rống lên một tiếng, cái tiếng rống vang xa mười dặm rồi ngài chết. Đó, cái thái độ bình thản của người hiểu thiền là vậy. Chúng ta không có được cái tâm của thiền nên chúng ta luôn luôn quyến luyến, nắm níu cái sự sống này. Chúng ta sợ hãi không biết sau cái chết là cái gì, cho nên mình không muốn mất cái mình đang có hiện tại, mình nắm níu cái sự sống. Nó có những người mà họ không sợ chết: một là người hiểu thiền chân chính; hai lại là người suýt chết rồi, có những người mà trong cái trạng thái gần như chết, bỗng nhiên họ họ cảm nhận được cái thế giới

[4:41]ở bên kia mà họ sắp bước sang, họ thấy nó không có gì đáng sợ, nó cũng là sự bình an thôi, đó, nên họ không sợ chết. Hoặc là cái người hiểu thiền, ngay trong hiện tại cái tâm họ nó không còn một cái sợ hãi, cái tâm họ nó trải rộng cả cái cõi sinh cõi tử, họ thấy mọi việc nó bình thường. Sống ở cõi này hay đi nơi khác, họ không bao giờ mất cái sự thanh tịnh đó, nên họ không có sợ chết. Còn mình thì không có được cái thanh tịnh phủ trùm đó, cho nên mình rất là sợ chết. Nên người bạn này trả lời hay: không biết thiền là gì, nhưng hiểu được thiền thì không còn sợ chết. Người này đến thử thầy Nan-in, ông thầy này ổng biết ý định nên ổng giả

[5:22]vờ ổng ổng làm cái câu bâng quơ là ông kia không có dịp để thử. Rồi Nan-in ổng khó khăn là ổng không chịu nói thiền là gì, ổng cứ từ chối, cứ nói chữa bệnh nhân cho đàng hoàng đi thôi. Cũng như bây giờ vậy, nhiều khi thầy cũng làm biếng nói chuyện đạo, mà thầy chỉ nhìn cái người trong cái việc làm hằng ngày thôi. Ví dụ như thầy vô nhà bếp, thầy thấy nhà bếp yên tĩnh, ít có người nói ra nói vào, người đang tu nhưng mà vẻ mặt nó trầm lắng là thầy biết người này đang làm nhưng mà đang tu. Đó, đó là thiền. Hoặc là thầy thấy huynh đệ công quả ngoài đồng cũng vậy, đi làm việc này việc kia mà trong cái tâm trạng bình an,

[6:02]à tích cực là thầy biết người này có được cái bình an, đó. Không có cái loạn động, không có cái bất mãn, mơ ước xa xôi, đó. Không phải ở chùa mà tâm nó vọng ra ngoài, ở chỉ chùa, làm việc chùa, biết làm việc chùa, nên thầy thấy người này có một cái bình an cũng hợp với thiền. Đó, chỉ trong cái việc làm mà đánh giá được cái người có hiểu thiền hay không, chứ không đòi hỏi là phải nói vanh vách hay nói là sách này qua vở kia, không phải vậy.

[6:31]Tuy nhiên nó có cái phương pháp thực sự, mà ở đây là cái ngài Nan-in ngài dùng cái đối thoại đầu, đưa cho ông y sĩ Kusuda này nghiên cứu về cái chữ "Không" của ngài Triệu Châu. Là có người hỏi ngài Triệu Châu: Là con chó có Phật tánh hay không? Và ngài trả lời là: Không. Câu này làm mọi người ngạc nhiên, bởi vì sách Phật đã nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tức là đều có khả năng thành Phật. Tại sao ngài Triệu Châu trả lời: Không? Do cái đây cũng là một cái nghi vấn mà các thiền sư đôi khi buộc các đệ tử phải nghiên cứu để tìm ra cái sự thật ở nơi cái chữ "Không" này. Tại sao có vẻ nói ngược đời với Phật?

[7:16]Ở đây ai có thích thì nghiên cứu cái chữ "Không" này, cũng có khi giác ngộ đạo như ông bác sĩ này lắm. Khi mà được 2 năm, anh ta nghĩ rằng mình đã được cái tâm rồi, được ngộ tâm, nhưng mà nhớ rằng anh ta nghĩ rằng, tức là anh ta tự cho rằng mình đã được, thì chưa được. Bởi vì thiền nó không phải là do sự ép đặt. Có một người vậy, có một lần thầy đọc cuốn sách nói về cái công phu tu tập một vị đó, cũng đặc biệt. Có một lần vị đó rơi vào trạng thái tâm nó vắng bặt, lạ lùng lắm, cái vị đó không biết đây là trạng thái gì, rồi sau đó cái vị đó mới cho mình đã đạt được cái tâm thông, à tâm ta thanh thản như mây ngàn á.

[7:57]Nhưng mà cái mà tự cho mình thì cái đó chưa phải, cũng giống như trường hợp của ông y sĩ Kusuda này vậy. Anh ta nghĩ rằng mình đã đạt được tâm thì cái đó không phải. Còn ổng thêm một năm nữa, tâm ổng thực sự vào trong thanh tịnh, yên tĩnh rồi đó, cái đó các vấn đề được hóa giải, đó, lúc đó cái "Không" trở thành chân lý. Là Kusuda không tự cho mình ngộ tâm nữa mà cái tâm nó đã sờ sờ ra rồi. Lúc đó ông thầy của Kusuda vậy, ngài Nan-in ngài cũng không thèm trả lời, chỉ nhìn thấy cái mỉm cười. Ở đây chúng ta thấy cái người ở trong đạo á, họ hiểu nhau không cần qua lời nói, mà chỉ từ tâm tới tâm thôi.

[8:40]Đôi khi là chỉ đi gần, thoáng qua bên nhau thôi, trên đường đi á, hai người đi ngang qua mặt nhau cái là người này biết người kia tu được hay không, tới đâu rồi. Họ hiểu nhau liền. Chứ không cần phải nói, phải nói là tôi đã hiểu thế này hiểu thế kia, mà chính cái người nói nhiều là sai. Hoặc là ở trong chùa cũng vậy, mình chỉ nhìn một người sống thôi, từ cái ánh mắt của họ, từ cái dáng đi điệu đứng, từ cái câu nói của họ là biết họ đã vào thiền được bao nhiêu rồi, chứ không cần phải nói nhiều. Mà ngài Nan-in thì ngài rất là giỏi, khi Kusuda đến viếng là ổng biết liền, cười, mỉm cười hài lòng.

[9:22]Là Kusuda phục vụ bệnh nhân tử tế và không cần phải hiểu việc đó nữa, thoát khỏi sự lo âu sống chết. Đó. Đó là người hiểu thiền là vậy, mình làm trọn vẹn cái bổn phận của mình, không còn thấy có một cái ước mơ xa xôi vơ vẩn nữa. Chuyện thứ 18: Một ngụ ngôn. Phật kể một ngụ ngôn trong kinh: Một người đàn ông băng qua một cánh đồng, gặp một con cọp giữa đường, anh ta chạy trốn, cọp đuổi theo. Đến một vực sâu, anh nắm được rễ nho và đu mình sang bên kia. Cọp ở trên dọa anh ta, sợ hãi, người đàn ông nhìn xuống, dưới xa một con cọp khác đang đợi anh ta, giúp anh ta chỉ có dây nho. Hai con chuột, một trắng một đen, từ từ bắt đầu gặm mòn rễ nho.

[10:04]Người đàn ông nhìn thấy một trái dâu thơm ngon gần đó, một tay nắm dây nho, một tay thò qua hái trái dâu. Ôi, trái dâu ngon ngọt làm sao! Cái chuyện ngụ ngôn này đúng ra là từ trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh.

[10:20]Đây là một chuyện ngụ ngôn tượng trưng thôi, tức là người đàn ông mà đi giữa đường mà rớt xuống cái vực sâu á, tức là tượng trưng cho con người hốt nhiên thọ thai mà sinh ra giữa cuộc đời này. Ở trên á cũng có cọp, mà ở dưới cũng có cọp. Ở trên thì cọp rình, ở dưới cọp rình, là một bên là những cái cọp vô minh, bên là cọp tham ái, sân hận, đó, những cái luôn luôn là nó chờ chực để nó bắt mình, nó hại mình, nó giết mình. Mà anh ta chỉ còn đeo được một sợi dây nho. Dây nho đó là gì? Là tượng trưng cho cái mạng căn của mình, cái tuổi thọ của mình, cái mạng sống của mình đó, cái đời sống, cái tuổi thọ của mình đó, mình nắm sợi dây đó để sống.

[11:04]Hai con chuột một trắng một đen từ từ bắt đầu gặm mòn rễ nho là gì? Ai biết không?

[11:17]Hồi đó thầy cũng không hiểu chỗ này, nhờ bài của em thầy hiểu được. Màu trắng, một đen, hả?

[11:27]Ngày và đêm, thời gian, tức là nó gặm mòn rễ nho đó. Cái sợi dây sinh mạng của mình á nó từng bước từng bước nó bị thời gian bào mòn dần bào mòn dần. Thì cái ngày mà đứt không còn xa nữa. Cái ngày mà mình sẽ rớt xuống để con cọp vô thường nó ăn mình á, ngày đó không còn xa nữa. Nhưng mà sao? Nhưng mà có một trái nho, mình hái mình ăn,

[11:53]mà mình ăn ngon, trái dâu trái nho nó quá ngon đi. Mình quên hết những cái vô thường, những cái đau khổ, những cái vô minh nó đang vây bủa chung quanh mình. Cái trái nho đó là gì? Cái mật ngọt đó là gì?

[12:11]Hử? Mật ngọt đó là gì?

[12:18]Mật ngọt đó là ngũ dục của cuộc đời. Chúng ta hưởng thọ cái dục lạc cuộc đời này mà không bao giờ nhớ lại rằng cái sinh mạng mình đang mất đi từng giờ từng phút, không bao giờ ngờ rằng cái vô minh, tham ái, đau khổ, vô thường hằng là chờ mình để giết mình từng phút từng giây. Cho nên người thì mơ ước là mình đi kiếm được cái nghề, người thì mơ ước lập được gia đình, có vợ đẹp con ngoan, người mơ ước có chồng tốt, đủ thứ hết. Mỗi người có cái ước mơ, nhưng mà quên rằng là hai con chuột nó đang gặm cái sợi dây sinh mạng của mình từng giờ từng phút, không biết ngày nào mình chết. Những cái đau khổ bủa vây cuộc đời này đè nghẹt hết trơn.

[13:00]Mình chỉ nhắm về cái dục lạc để hưởng thụ thôi. Tất cả chúng ta đều như vậy đó hết. Chúng ta không có ráng tu. Trong đây không có nói tới pháp tu, nếu pháp tu thì chắc người đàn ông bay lên được, nhưng mà không có pháp tu, chưa nói tới, chỉ nói là mình vì cái dục lạc mà quên đi thôi. Chuyện thứ 19: Đệ nhất đế. Khi người ta bước chân đến đền Obaku ở Kyoto sẽ nhìn thấy trên cổng đền bằng gỗ có chạm mấy chữ: Đệ nhất đế. Chữ chạm to lớn dị thường và những ai thích chữ đẹp đều luôn luôn chiêm ngưỡng như là một kiệt tác. Những chữ này do Kosen vẽ hai trăm năm trước. Kosen vẽ trên giấy và người thợ chạm theo đó mà chạm lớn hơn vào gỗ.

[13:42]Trong lúc Kosen phác họa trên giấy, một chú đệ tử nhỏ can đảm của Kosen đã mài mực cho Kosen đến mấy bình để viết cho đẹp mới thôi. Và chú luôn luôn phê bình tác phẩm của thầy chú. Chú nói với Kosen sau lần cố gắng nhất của ông: Cái đó không đẹp. Cái này thế nào? Kosen hỏi. Chú đáp: Tệ, xấu hơn cái trước. Kosen kiên nhẫn viết từ tấm này sang tấm khác đến tám mươi bốn tấm Đệ nhất đế chồng chất lên nhau thành đống, vẫn không thấy chú học trò mình đồng ý. Rồi chú bé bước ra ngoài, Kosen nghĩ: Bây giờ là lúc ta tránh được con mắt sắc bén của nó. Và Kosen viết nhanh với cái tâm không lo lắng: Đệ nhất đế.

[14:17]Chú bé từ ngoài bước vào reo lên: Một kiệt tác!

[14:22]Ở đây cái bài này có nhiều ý hay. Thứ nhất là giữa nghệ thuật và thiền nó có sự liên quan. Người ta có có thể tạo ra được cái đẹp, có thể sáng tạo ra được thành những cái giá trị nghệ thuật bất hủ cuộc đời nếu tâm người ta thanh tịnh. Đây là cái điều muốn nói trong bài này. Kosen viết nhanh với cái tâm không lo lắng, viết thành ba chữ Đệ nhất đế mà thành một kiệt tác mà người học trò không chê được. Nhưng mà khi có cái sự kiểm soát người học trò đó, mình có cái tâm bất an lo lắng đó, thì dù ổng là người đã chuyên viết chữ đẹp mà vẫn viết không hài lòng được chú bé. Lý do là vì sao? Lý do là chú bé cũng quá sắc sảo đi,

[15:04]quá sâu sắc đi, đánh giá được nét chữ của ông thầy. Nhưng mà ở đây nó có hai ý mà đúng là trong Góp nhặt cát đá dễ gây hiểu lầm. Người ta đọc chuyện này người ta chỉ thấy được cái thứ nhất, à thấy được cái ý chính này: là khi con người với cái tâm thanh tịnh, à không lo lắng, có thể tạo được, có thể sáng tạo ra được những cái giá trị bất hủ, ừ những kiệt tác của nghệ thuật. Đó, đó là cái ý quan trọng của bài này. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ là Kosen viết tám mươi bốn tấm Đệ nhất đế trước đó với sự cố gắng phi thường. Chính cái sự cố gắng trước đó đó, trong cái cố gắng lo lắng tập trung, nhưng mà vẫn không thành công, cho đến khi mà nó được buông

[15:51]ra một cái, thoát khỏi sự lo lắng, thì thành công liền. Thiền cũng vậy. Người nào đến với thiền mà đòi là sống hồn nhiên thanh thản liền thì biết người này chưa có kinh nghiệm. Đầu tiên người ta phải có một cái day dứt, băn khoăn, ao ước, khát khao, cũng như chúng ta phải sống trong một cái khuôn khổ này, trong cái nền nếp này đó, có hơi khó khăn, có ràng buộc, có bị quở, bị rầy, bị la, rồi có phải có những lúc đau khổ, thao thức. Đó, chính những lúc mà ngồi thiền tập trung, chân thì đau mà tâm thì loạn, không còn tìm con đường để thoát, bế tắc hết mọi đường. Đó, chính những lúc mà nó đầy những đau khổ như vậy đó,

[16:32]qua bao nhiêu cái đó mà vượt qua được hết, thành cái ý chí rồi đó, thì đến một lúc nào, bỗng nhiên cơ duyên tới giống như là chú bé bước ra ngoài vậy, cái tâm mình nó buông hết mọi sự, bỗng nhiên thành được cái đạo. Lúc đó mới là cái đạo hồn nhiên, không còn có một cái khuôn phép, câu nệ, không còn có sự ràng buộc nào hết, bởi vì tất cả đều đã đúng hết, tất cả đều đã thanh tịnh. Đó, cái ý này rất là hay. Chúng ta đừng hiểu một chiều, đọc Góp nhặt cát đá mà hiểu một chiều là luôn luôn sai. Cái thứ hai có được là do cái thứ nhất trước đó. Ổng viết được ba chữ đẹp, thật ra trước kia đã cố gắng hết mình.

[17:08]Chỉ cần một lúc nào đó tâm nó thoáng ra một cái là nó thành tựu. Chúng ta cũng vậy. Cho nên tại sao mà thầy không bao giờ cho một cái sự dễ dãi nào hết. Luôn luôn thầy phải rầy, phải la, phải, thầy phải buộc phải cố gắng, chứ không thầy không cho có cái lơi lỏng, dễ dãi. Chuyện thứ 20: Lời khuyên của mẹ.

[17:29]Jiun, một giáo sư của Shingon, là một học giả Phạn ngữ, Sanskrit, nổi tiếng ở thời đại Tokugawa. Khi còn niên thiếu, Jiun thường hay diễn thuyết cho bè bạn nghe. Mẹ Jiun hay được việc này, viết thư cho Jiun: Con, mẹ không nghĩ rằng con là một người hiến mình cho Phật, bởi vì con còn muốn trở thành một quyển từ điển biết đi cho những kẻ khác. Không ngớt trình báo và phê bình, vinh quang và danh dự. Mẹ muốn con chấm dứt cái việc diễn thuyết của con đi. Con hãy ngậm miệng im lặng trong một ngôi đền xa xôi hẻo lánh trên một hòn núi nào đó. Hãy dâng cả thì giờ của con vào việc thiền định, và chỉ bằng cách này con mới đạt được sự chứng ngộ chân thật.

[18:09]Bài này bả dạy ai đây?

[18:13]Bả dạy thầy nè. Bả dạy hết cho tất cả mọi người. Thật sự như vậy. Cái lý đạo Phật quá thâm sâu đi, nên khi chúng ta hiểu được thường chúng ta thích thú, thích thú mình muốn trình bày cái hiểu của mình cho người khác nghe. Đó, đó là đa số là như vậy. Cho nên mình thấy một người mà họ chưa có cái dụng công nhiều đó, mình gặp họ họ hay giảng đạo mình nghe. Còn người mà đi qua rồi, bao nhiêu cái khăn khó rồi, họ giật mình, lại thấy hiểu là một chuyện mà thực hành là một chuyện khác, nên họ dè dặt lời nói. Thí dụ họ làm được mười họ nói chừng hai, ba thôi. Đó là cái người mà họ sâu sắc. Còn ngược lại cái người chưa làm được một,

[18:53]hai mà đã nói tới mười, hai mươi, là cái người này, cái đứa con này đây, mà cũng là thầy mà cũng là tất cả mọi người chúng ta đó. Mình thích nói nhiều những cái hiểu của mình, mà không có thực hành được nhiều. Đó, nên ở đây bà này bả nói một câu rất hay: Đừng có làm từ điển biết đi, à không ngớt trình báo và phê bình, vinh quang và danh dự. Con hãy ngậm miệng im lặng trong một ngôi đền xa xôi hẻo lánh trên một hòn núi nào đó. Ở đây mình có được cái hòn núi rồi, ha, thì thôi mình cũng gọi là ngôi đền xa xôi hẻo lánh đi, nhưng mà còn thiếu một cái là mình chưa có chịu ngậm miệng im lặng, mình còn nói nhiều quá.

[19:30]Hãy dâng cả thì giờ của con vào việc thiền định, và chỉ bằng cách này con mới đạt được sự chứng ngộ chân thật. Thôi mình nhớ, thì bà nói vậy là quá đủ rồi. Thầy cũng không giảng gì hơn được nữa, tại thầy giảng nhiều có thể thầy cũng vậy, cũng là, bả kêu thầy ngậm miệng mà, thầy cũng đành phải im lặng để qua câu chuyện khác. 21: Âm thanh của bàn tay. Đại sư Đền Kennin là Mokurai, nghĩa là im lặng sấm sét. Mokurai có một chú bé hầu cận tên là Toyo, là thị giả đó. Toyo chỉ mới mười hai tuổi. Toyo thấy những đệ tử khác mỗi sáng vào, và chiều vào phòng thầy để thụ giáo tham thiền, hay là sự chỉ dẫn từng người nhận công án để chặn đứng sự lang thang của tâm thức.

[20:13]Toyo cũng thích tham thiền. Mokurai bảo: Hãy đợi ít lâu, con còn nhỏ lắm. Nhưng chú bé quyết ý, vì thế cuối cùng Mokurai phải làm vừa lòng chú. Một buổi chiều, bé Toyo vào giờ riêng đến cửa phòng tham thiền của thầy. Chú đánh chuông báo hiệu sự có mặt của mình, chú cung kính cúi đầu đảnh lễ ba lần ngoài cửa rồi bước vào phòng im lặng, kính trọng ngồi xuống trước mặt thầy. Mokurai hỏi: Con nghe được âm thanh của hai bàn tay vỗ vào nhau. Bây giờ con hãy chỉ cho thầy âm thanh của một bàn tay. Toyo cúi đầu bái chào thầy rồi về phòng riêng của chú để soi xét việc này. Từ trong cửa sổ của phòng chú, chú nghe nhạc của các geisha xa xa bên ngoài:

[20:54]A, ta có rồi! Chú reo lên. Chiều hôm sau Mokurai bảo chú minh giải âm thanh của một bàn tay, Toyo bắt đầu chơi nhạc của các geisha. Geisha là các kỹ nữ. Mokurai bảo: Không, không, cái đó không đúng. Đó không phải là âm thanh của một bàn tay. Con chưa được chi cả. Nghĩ rằng như thế nên chấm dứt nhạc, Toyo dời chỗ ở đến một nơi khác. Chú lại trầm tư: Cái gì có thể là âm thanh của một bàn tay? Chợt chú nghe tiếng róc rách của nước chảy. Chú nghĩ: Ta được rồi. Khi Toyo gặp thầy, chú bắt chước tiếng róc rách của nước chảy. Mokurai hỏi: Cái gì thế? Đó là tiếng nước chảy, không phải âm thanh của một bàn tay.

[21:31]Hãy cố nữa đi. Vô ích! Toyo trầm tư để lắng nghe âm thanh của một bàn tay. Chú nghe tiếng thở dài của gió, nhưng âm thanh này cũng bị từ chối. Chú nghe tiếng kêu của chim cú, âm thanh này cũng lại bị từ chối. Âm thanh của một bàn tay không phải là âm thanh của những con châu chấu. Hơn mười lần Toyo viếng Mokurai với những âm thanh khác nhau, tất cả đều không phải. Gần một năm trời Toyo suy tư lung lắm về âm thanh của một bàn tay có thể là cái gì. Cuối cùng, bé Toyo bước vào sự thiền định thật sự và siêu việt qua tất cả mọi âm thanh. Sau đó chú giảng giải: Ta không còn sưu tập nữa vì ta đã đạt được âm thanh không âm thanh.

[22:08]Toyo đã chứng ngộ được âm thanh của một bàn tay. Cái bài này rất là hay, nói về cái yếu chỉ của thiền, đồng thời nói đến cái người mà vô tư đó, dễ vào thiền hơn là cái tâm hồn của những người mà mà suy tư nhiều quá. Ở đây có ai có thể nghe được âm thanh của một bàn tay không? Ai nghe được thì nói cho thầy nghe, thầy mừng với. tiếng ếch kêu nãy giờ không phải không? tiếng róc rách của nước chảy. Mình ở đây được cái thú vị là cũng nghe tiếng róc rách của nước chảy, nghe gió thổi rì rào của mùa đông, nghe tiếng ếch kêu nãy giờ. Rồi ngoài cái đó còn tiếng gì nữa đâu kể? Chú này kể tới mười tiếng lận.

[23:00]Thầy giảng trong thiền định như thầy có nói nè: khi cái tai mình nghe được cái âm thanh, như nãy giờ mình nghe tiếng ếch kêu đó, bây giờ không còn ếch kêu nữa mình vẫn nghe thấy, vẫn biết là không còn ếch kêu nữa. Chớ tai mình nó không có điếc, nó vẫn còn nghe, nên nó biết được có lúc có tiếng ếch kêu và lúc không còn tiếng ếch kêu. Chớ nếu mà lúc có tiếng ếch kêu mình nghe được, không có tiếng ếch kêu cái mình điếc thì mình đâu biết được là lúc này không còn tiếng ếch kêu. Đó. Chính mà cái mà cái bên trong mình đó, cái nghe cái biết bên trong á, nó không phải là cái trần cảnh bên ngoài, không phải là âm thanh bên ngoài.

[23:38]Cái âm thanh bên ngoài thì bị dao động, bị biến dị, bị thay đổi, khi thì có tiếng này, khi có tiếng kia, khi thì tiếng nhỏ, khi tiếng lớn, nhưng mà cái biết nghe bên trong mình đó cái đó nó không có thay đổi, đó. Người đi tìm thiền là người xoay lại với cái đó đó, sống an tịnh với cái đó. Dù muôn ngàn âm thanh khởi ra bên ngoài mình không có chạy theo, bởi vì mình sống với cái tâm yên lành của mình. Cái tâm đó nó biết trước tất cả mà nó không có chạy theo tất cả. Đó, cái tiếng này tiếng kia nó nghe hết, nhưng mà nó không chạy theo những tiếng đó, bởi vì nó nghe thôi, chứ nó không có chạy theo. Đó.

[24:12]Chứ không phải như dự thi mà lắng nghe cái học pháp môn lắng nghe mà cứ nghe hết tiếng này tới tiếng kia là cái tâm mình nó chạy ra ngoài. Đó, ở đây thì mình sống với cái nghe thôi, cái mà biết nghe đó, cái đó nó thanh tịnh, nó ở lại một chỗ, còn cái âm thanh thì khi có khi không mình không có chạy theo nó. Nhưng mà sao? Nhưng mà ông thầy rất là hay, mà chú bé thì vô tư, rất là quyết tâm tập trung một vấn đề. Ở đây tài không đợi tuổi, người nào cũng có thể học thiền, nếu mà người đó đủ quyết tâm mà cái tâm hồn đơn giản trong sáng giống như cái chú thị giả Toyo này. Đó, chú không có cần học nhiều, những vị khác là chắc là học qua nhiều kinh điển.

[24:52]Chú có lẽ là không biết chú biết chữ rành chưa nữa, mới 12 tuổi mà học chữ Nhật cũng khó lắm. Chỉ có một cái là nghe lời ông thầy rồi là hạ thủ công phu, quyết tâm đi tìm cho ra được cái âm thanh của một bàn tay thôi, cứ đưa một bàn tay lên để nghe thử thôi. Mà rồi qua mấy năm vậy đó, một hai năm, chú chú không còn chạy ra bên ngoài để nghe nữa, chú trở lại sống được với cái nghe, chú tìm được cái đó, tìm ra được cái âm thanh của một bàn tay, cái không có một tiếng động hết mà vẫn biết rõ ràng, vẫn tỉnh giác, trong sáng ở trong tâm mình. Thế còn như là sao? Ví dụ như là như O mà la nhiều quá thì O không nghe được cái tiếng đó,

[25:31]cái âm thanh của một bàn tay, mình phải im lặng mới nghe được âm thanh một bàn tay. O nhớ nha. Bài 22: Tim tôi bừng cháy như lửa. Soyen Shaku, thiền sư đầu tiên đến Mỹ Châu nói: "Tim tôi bừng cháy như lửa, nhưng mắt tôi nguội lạnh như tro tàn." Soyen Shaku đã tạo ra những quy luật sau đây để áp dụng suốt đời mình: Buổi sáng trước khi mặc áo quần, hãy thắp hương và thiền định. Hãy nghỉ vào những giờ nhất định, hãy ăn vào những giờ nhất định, hãy ăn điều độ và đừng bao giờ ăn đến mức thỏa mãn. Hãy tiếp khách cùng một thái độ như khi ở một mình; khi ở một mình hãy giữ y một thái độ như lúc tiếp khách.

[26:12](Câu này thiệt hay). Hãy giữ gìn lời nói và bất cứ nói điều gì phải làm theo lời nói. Khi cơ hội đến đừng để nó qua mất; hãy luôn luôn nghĩ hai lần trước khi hành động. Đừng tiếc nuối quá khứ; hãy nhìn về tương lai. Hãy có thái độ không sợ hãi của một anh hùng và trái tim yêu của một trẻ thơ. Lúc ngủ hãy ngủ như đã bước vào giấc ngủ cuối cùng; lúc dậy hãy tức khắc rời bỏ giường lại đằng sau như vứt bỏ một đôi giày cũ. Những cái này thì quá hay, mà giảng cho hết những ý nghĩa này thì nó thật là thâm trầm sâu sắc, chúng ta không có thì giờ. Cho nên chúng ta phải đi qua nhiều câu chuyện nữa, cho nên đây chỉ nói phớt qua thôi.

[26:54]Khi mà thức dậy, ngài cũng thắp hương và thiền định, mình cũng vậy, mình ráng lên, đừng có bỏ bữa nào hết. Tối trước khi ngủ và sáng là vừa thức dậy, ngoài ra trong ngày cũng vậy, có những ngày mà gọi là rảnh rỗi, ừ khi mình lại cái chỗ nào vắng vẻ mình cũng bắt chân mình ngồi, chứ đừng để bỏ thời giờ trôi qua không. Thực ra nếu mà sau này mà tu viện được thành lập hẳn hoi, có nề nếp đâu đó, thì ban ngày cũng phải ngồi thiền đó, thêm cái thời ngồi thiền. Bây giờ thì chưa được, bây giờ mình còn phải lao động chút đỉnh, ai rảnh thì tranh thủ ngồi được một chút, buổi trưa dậy sớm một chút, ngồi cũng được nửa tiếng.

[27:33]Hãy nghỉ vào những giờ nhất định, hãy ăn vào những giờ nhất định, hãy ăn điều độ và đừng bao giờ ăn đến mức thỏa mãn. Đó, để làm cho mình dễ tu hơn, vì nếu mình ăn ngủ xáo trộn thì nó làm cho cái cái người mình nó khó chịu, khó ngồi thiền. Khi nào mình đạt đạo rồi thì những vấn đề này nó không còn quan trọng nữa. Một người đạt đạo rồi thì ăn giờ nào ăn, ngủ giờ nào ngủ, hết quan trọng rồi. Nhưng mà khi mình đang tu thì những việc như thế này nó giúp đỡ cho việc thiền định của mình. Cái câu mà thầy thích nhất là: "Hãy tiếp khách cùng thái độ như khi ở một mình; khi ở một mình hãy giữ y thái độ như lúc tiếp khách."

[28:09]Chúng ta thì thường thay đổi thái độ. Ví dụ như lúc mình có khách mình làm ra vẻ trịnh trọng, đạo mạo, từ tại, không có khách mình cái là ngồi nằm cho bừa bãi rồi lăn chiên cùi nèo ra quần áo, nhếch nhác đủ thứ. Đó, cái đó là cái mà mình không thực đó, không có thực. Người mà thật tình đó thì dù không có ai kiểm soát mình, mình vẫn tự kiểm soát mình. Hãy giữ gìn lời nói và bất cứ nói điều gì phải làm theo lời nói. Nhiều khi lúc hứng mình hứa cái rồi mình quên mình làm không được. Lưu đội nhớ cái đó nha.

[28:44]Phải giữ gìn lời nói bớt lại, đừng có nói nhiều, cẩn thận đừng có nói lời thừa. Ví dụ như là mình tính nói câu đó chừng mười chữ, mình nói thử trong đầu mười chữ, mình nói rút bớt còn năm chữ được không? Rút được năm chữ rồi thì mình nói năm chữ thôi, đừng thèm nói mười chữ, nó dư.

[29:03]Khi cơ hội đến đừng để nó qua mất; hãy luôn luôn nghĩ hai lần trước khi hành động. Nó có cái quyết đoán, có cái phán đoán nhưng mà quyết định chứ không có do dự. Đừng tiếc nuối quá khứ; hãy nhìn về tương lai. Hãy có thái độ không sợ hãi của một anh hùng và trái tim thương yêu của một trẻ thơ. Thương yêu một cách vô tư, không có vụ lợi, không có tính toán. Lúc ngủ hãy ngủ như đã bước vào giấc ngủ cuối cùng. Không còn bận tâm chuyện gì trên đời hết, ngủ như trẻ thơ. Nằm xuống nhưng mà đừng có suy tư nữa, đừng có nghĩ ngợi chuyện này chuyện kia. Nằm xuống mình để ý vào hơi thở hoặc là để tâm trên đỉnh đầu, từ từ chìm vào giấc ngủ.

[29:44]Những người mà khó ngủ đó, nằm xuống mình để tâm trên đỉnh đầu, từ từ nó chìm vào giấc ngủ; hoặc là người quen nhiếp tâm hơi thở thì để ý hơi thở một lát cũng ngủ. Nhưng bệnh nặng phải để tâm trên đỉnh đầu, bệnh ít, ít có bị mất ngủ thì để ý hơi thở là ngủ được.

[30:02]Lúc dậy hãy tức khắc rời bỏ giường lại đằng sau như vứt bỏ một đôi giày cũ. Nghĩa là sao? Nghĩa là nói cho gọn là đừng có ngủ nướng. Thức rồi đừng có lăn qua lăn lại nằm đó, bật ngồi dậy đi rửa mặt ngồi thiền. Cái chết của Eshun. Khi Eshun, một thiền ni... Ai nhớ Eshun không? Cái bài mà "Yêu tôi hãy yêu công khai" đó. Một thiền ni 62 tuổi và sắp từ giã trần gian này. Bà đắc đạo nghe, bà tu rất là vững, cho nên cái thái độ của bà trong một cái cái bức thư tỏ tình rất là hay, đúng là người đắc đạo. Eshun bảo vài nhà sư chất củi thành đống trong sân, rồi Eshun ung dung bước vào ngồi vững vàng giữa

[30:45]giàn hỏa và bảo đốt lửa chung quanh giàn. Một nhà sư la lên: "Sư bà, ở đó không nóng sao?" Eshun đáp: "Việc như thế này chỉ có ngu như ngươi mới sợ hãi mà thôi." Ngọn lửa dâng cao và Eshun qua đời. Thấy thiền sư ni đó ớn lạnh chưa? Nữa đó mấy đứa ráng tu sao tới già cũng vậy đó, chất đống củi leo vô ngồi.

[31:07]Cái chết của Eshun, đây là cái cái kết quả của người tu thiền suốt đời mà được cái được cái thành quả như vậy. Nên cái bài hôm trước mà nói lúc bà còn trẻ, bà đẹp và nhiều người thương yêu bà, viết thư tỏ tình với nọ. Và bà giải quyết một cách rất là độc đáo, rất là sáng suốt là như vậy.

[31:26]Thì đúng là kết quả cuối đời bà tự tại với cái sống chết như vầy là đúng một con người đặc biệt như vậy. 24: Tụng kinh. Một nông dân mời một tu sĩ trường Tendai (Thiên Thai) tụng kinh cho vợ ông đã chết. Sau khi tụng kinh xong, nông dân hỏi: "Thầy có nghĩ rằng vợ tôi xứng đáng được hưởng như thế này không?" Tu sĩ trả lời: "Không những vợ ông mà tất cả chúng sinh hữu tình cũng được lợi ích trong cuộc tụng kinh này." Nông dân hỏi: "Nếu thầy bảo tất cả chúng sinh hữu tình đều được lợi ích, vợ tôi có lẽ rất yếu đuối, như vậy những kẻ khác sẽ tranh hết lợi của nàng, giành hết những công đức của nàng,

[32:04]vậy hãy làm ơn tụng riêng kinh cho nàng thôi." Tu sĩ giảng giải rằng đó là ước vọng của một Phật tử dâng tặng những phước báu và muốn ban ơn cho mọi sinh vật. Nông dân kết luận: "Đó là một lời dạy hay, nhưng xin hãy trừ một điều: Tôi có một láng giềng nói năng thô bạo với tôi, hãy loại trừ hắn ra khỏi tất cả những chúng sinh hữu tình đó đi." Cần giảng câu chuyện này không?

[32:31]Cái này có người đến với đạo học hỏi thì những lời trong kinh là lúc nào cũng cầu nguyện cho tất cả chúng sinh. Nhưng mà sự thật là mình cũng khó lòng thương yêu tất cả mọi người, vì trong cuộc sống đụng chạm, cũng có những người mà làm mình mích lòng, mình không có thật sự thương họ được. Mình đến với tín ngưỡng, với tôn giáo mà mình cũng chỉ vì cái lợi ích riêng thôi, không có thật lòng vì tu hành. Cho nên cái bài kinh tụng của người tu sĩ ngày luôn luôn kêu gọi con người thương yêu, đem cái ơn phước ban rải cho tất cả mọi loài. Nhưng mà sao mình lợi dụng tín ngưỡng để mà cầu cái phước đó cho mình,

[33:04]nếu không phải là thật sự như là cái tín ngưỡng, cái tôn giáo muốn? Tôn giáo muốn mình trải lòng thương mọi người, nhưng mình chỉ muốn cái linh thiêng của tôn giáo dành riêng cho mình thôi, nên mình đến với tôn giáo mà đến một cách ích kỷ. Mấy lần mấy Phật tử lên chùa thầy cũng hay nói: Mọi người đi chùa một ngày ích kỷ một chút, đi một tháng, một năm thành ích kỷ cả đống, là vì sao? Bởi vì cứ quỳ trước bàn Phật mà cầu nguyện á, cầu nguyện cho con, cho gia đình con thôi. Cho nên mỗi lần cầu nguyện như vậy thì lòng ích kỷ tăng thêm một chút. Cứ cầu nguyện quanh năm suốt tháng thì cái người đi chùa đó ích kỷ không ai chịu nổi nữa.

[33:38]Cho nên mình phải biết khi mà quỳ trước bàn Phật mà cầu nguyện, đừng cầu nguyện cho mình mà cầu nguyện cho tất cả chúng sinh. Giống như Quất Quỳ Nấp bây giờ đi về ghé ai ghé chứ không ghé, không ghé bà cũ nữa. Giận, không ghé. Chuyện 25: Ba ngày nữa. Suiwo, môn đệ của Hakuin là một thiền sư ưu tú. Trong suốt thời kỳ ra hạ để thiền định của Suiwo, có một đệ tử từ một hòn đảo miền Nam nước Nhật đến viếng Suiwo. Suiwo cho anh ta một công án để lắng nghe âm thanh của một bàn tay. Người đệ tử theo đuổi suốt ba năm nhưng không thể vượt qua cuộc trắc nghiệm này. Một đêm anh ta khóc với Suiwo, anh ta nói:

[34:23]"Con phải về Nam với sự hổ thẹn và ngượng ngùng vì con không thể giải quyết nổi vấn đề của con." Suiwo khuyên: "Hãy ở lại một tuần và hãy suy nghĩ không ngừng." Sự giác ngộ vẫn không đến với người đệ tử. Suiwo bảo: "Hãy cố gắng một tuần nữa." Người đệ tử vâng lời nhưng vô ích. Một tuần nữa vẫn hoài công. Quá thất vọng, người đệ tử xin được giải bỏ, nhưng Suiwo đòi một cuộc thiền định năm ngày nữa vẫn không có kết quả, rồi Suiwo bảo: "Hãy suy tư ba ngày nữa, nếu anh không đạt được sự giác ngộ, tốt hơn hết là anh nên tự tử đi." Vào ngày thứ hai, người đệ tử giác ngộ. Cái lối thiền công án như vậy đó, nó dồn người ta căng thẳng,

[35:01]tập trung căng thẳng để mà hiểu cho được cái công án. Ví dụ như là cũng là lắng nghe âm thanh của một bàn tay, người này tới ba năm, trong khi cái chú Toyo có hơn một năm, không tới hai năm, ba năm vẫn không xong. Đến nỗi ông thầy ổng mới ra một cái điều kiện cuối cùng: Nếu mà không không ngộ được âm thanh của một bàn tay thì tự tử chết đi. Người này nghĩ là mình coi như buông hết rồi, coi như mình chết rồi. Cái mà coi như mình đã chết, tự nhiên giác ngộ được. Nên đến với đạo như vậy đó, nhiều khi người ta liều mạng cùi đó mà thành.

[35:37]Câu chuyện thứ 26, đây là câu chuyện vui nhất trong cái cuốn Góp nhặt cát đá này: Cuộc đối thoại mặc cả chỗ ở.

[35:49]Bất cứ một nhà sư lang thang nào cũng có thể được ở lại trong một ngôi đền Thiền, miễn là ông ta thắng cuộc tranh luận về giáo lý Phật giáo với những người đang ở nơi đó, nếu bại phải đi nơi khác. Có hai sư huynh sư đệ cùng đang sống trong một ngôi đền ở miền Bắc nước Nhật. Sư huynh là một người học rộng, nhưng sư đệ là một người ngu đần và chột mắt. Một nhà sư lang thang đến hỏi xin ở trọ và đặc biệt thách họ tranh luận về giáo lý thượng thừa của Phật giáo. Ngày hôm đó người sư huynh mệt quá vì học nhiều, bảo người sư đệ thay mình. Người sư huynh cẩn thận dặn trước: "Hãy đến yêu cầu một cuộc đối thoại im lặng."

[36:25]Và nhà sư trẻ cùng ông sư lạ đến ngồi xuống trước bàn thờ Phật. Sau đó chẳng bao lâu, nhà sư lang thang đứng dậy đến nói với người sư huynh: "Sư đệ của anh thật là một người bạn kỳ diệu, anh ta đã đánh bại tôi." Người sư huynh bảo: "Hãy kể tôi nghe cuộc đối thoại." Nhà sư lang thang giảng giải: "Được, đầu tiên tôi giơ một ngón tay, tượng trưng cho Đức Phật, một người đã giác ngộ. Và anh ấy giơ lên hai ngón tay có nghĩa là Đức Phật và giáo lý của Ngài. Tôi giơ lên ba ngón tay, tiêu biểu Đức Phật, giáo lý của Ngài và những người theo Ngài sống một cuộc đời hòa hảo, tức là Phật, Pháp, Tăng. Rồi anh ấy đưa nắm tay siết chặt đập vào mặt tôi,

[37:01]chứng tỏ rằng cả ba phát xuất từ một sự chứng ngộ. Thế là anh ấy đã thắng và tôi không có quyền ở lại đây." Rồi nhà sư lang thang bỏ đi. "Thằng bạn đó ở đâu rồi?" - người sư đệ vừa chạy đến vừa hỏi. Người sư huynh nói: "Tôi biết sư đệ đã thắng cuộc tranh luận." Người sư đệ nói: "Không thắng đâu, em sẽ đánh hắn." Người sư huynh bảo: "Hãy nói tôi nghe đề tài tranh luận." Người sư đệ trả lời: "Tại sao lúc hắn đưa lên một ngón tay lăng nhục em bằng cách ám chỉ rằng em chỉ có một mắt? Vì hắn là người lạ, em nghĩ phải lịch sự một chút, vì thế em giơ lên hai ngón tay khen ngợi hắn có đủ hai mắt. Rồi hắn vô lễ giơ lên ba ngón tay, bảo rằng giữa em và hắn chỉ có ba mắt.

[37:40]Vì thế em nổi khùng lên và bắt đầu đấm hắn, nhưng hắn bỏ chạy và cuộc tranh luận chấm dứt." Đây là câu chuyện vui nhất trong cuốn này mà cũng là đắc đáo nhất. Cái nghĩa như thế này: Hai cái người đó, mỗi người đều mang một cái thành kiến, một mặc cảm, một cái chấp kiến nào không ai nhìn thấy được sự thật.

[38:05]Nghĩa là ông kia đó, ổng nhìn cái gì cũng thấy thiền thiền thiền hết, Phật Phật Phật hết, là ai nói câu gì cũng nghĩ chắc ta nói thiền. Nó thành cái bệnh, thành cái bệnh. Bây giờ cũng có nhiều người như vậy lắm, hiện nay họ cũng bắt chước mấy thiền sư đó, ai nói câu gì cũng nghĩ rằng người ta nói thiền rồi cũng đem thiền lý cãi lại. Mà sự thật nhiều khi người ta nói chuyện rất là đơn giản thôi. Giống như là cái ông sư đệ này ổng mang cái mặc cảm chột mắt, thấy giơ ngón tay lên cũng chắc nói tới con mắt của mình, khổ vậy. Mà ổng nhịn lắm đưa hai ngón tay là khen thôi anh có đủ hai mắt là thua anh đó.

[38:41]Như bây giờ cũng vậy, thí dụ như là như cái câu chuyện câu chuyện vui không biết thầy đọc ở đâu, xưa có cặp tình nhân, anh chàng là cựu viên bộ đội, thương binh gì đó, ngồi nói chuyện, trong khi mà ngồi thì thầm tâm tình vậy, cái cô kia nói: "Em chỉ cần người chân thật", cái anh chàng kia thất vọng ê trề tại ảnh bị cái chân giả. Cái nói vậy, cái câu này người ta nói cái ý này, nhưng mình bị mang cái mặc cảm về cái thân phận mình cái mình hiểu qua ý khác. Ông kia thì mang cái cái cái cái thành kiến về thiền, thấy ai nói gì cũng tưởng thiền; người thì mang mặc cảm chột mắt, thấy ai nói gì cũng nói tới con mắt của mình.

[39:18]Ừ, còn ví như những người mang răng giả rồi thí như vậy đó, rồi thấy ai nói gì cũng chắc ai nói tới cái răng của mình. Nó vậy, nó có những cái như vậy. Mà sự thật là chân lý nằm ở chỗ khác, ở chỗ mà con người ta phải buông hết những cái thành kiến xuống, kể cả thành kiến về thiền, kể cả những hiểu biết về thiền. Nên phải nhìn vấn đề, nhìn đúng như nó, đúng như nó, nó là thế nào phải thấy như thế đó. Nên các thiền sư cũng nói cái câu là: "Như một tấm gương trong, người Ấn Độ đến thì biết là người Ấn Độ, người Trung Hoa đến thì hiện ra là người Trung Hoa." Đó, tức là cái tấm gương đó người Ấn Độ đến

[39:54]đó cái hiện ra bên trong là người Ấn Độ, người Trung Hoa đến cái hiện lên là mặt của người Trung Hoa. Đó. Cho nên người nào mà ngộ lý của thiền rồi là như vậy á, tâm họ họ buông hết những cái thành kiến về Phật, về thiền á thì người đó đến nói chuyện về đạo cái mình biết: "À, ông này đang nói về đạo." Một người đó đến nói chuyện riêng tư, biết nói chuyện riêng tư không phải về đạo, biết liền, chứ không có méo mó, nghiêng ngiệp. Câu chuyện này không trách cái người sư đệ chột mắt mà trách cái nhà sư nè, trách tất cả những người học thiền mang cái kiến giải thiền đầy ắp trong lòng, không buông xuống được, nên không thấy được cái sự thật của cuộc đời.

[40:30]Câu chuyện rất là hay. 27: Giọng nói của hạnh phúc. Sau khi Bankei qua đời, một người mù sống gần ngôi đền của Bankei nói với một người bạn: "Vì tôi bị mù, không thể nhìn được mặt người, cho nên tôi phải đoán tính tình qua âm thanh của giọng nói. Thường khi tôi nghe người nào ca tụng hạnh phúc hay sự thành công của kẻ khác thì tôi cũng nghe thấy cả cái giọng nói của sự ghen tị bí mật. Khi nghe họ nói lời chia buồn về sự bất hạnh của kẻ khác thì tôi cũng nghe thấy sự khoan khoái và sự thỏa mãn, dường như sự chia buồn thật sự là sự hân hoan vì một cái gì đó được bỏ lại để họ có thể đạt được trong cái thế giới riêng tư của họ.

[41:08]Trong tất cả kinh nghiệm của tôi, giọng nói của Bankei luôn luôn thành thật. Bất cứ lúc nào Bankei biểu lộ sự hạnh phúc, tôi chỉ nghe thấy sự hạnh phúc, và bất cứ khi nào Bankei biểu lộ sự buồn sầu, tôi cũng nghe trọn sự buồn sầu." Cái bài này thì đại ý nói về cái cái khuynh hướng ganh tị bí mật của con người mình. Thường thường mình không muốn cho ai hơn mình hết, đó là cái cái bản năng của con người. Con người ta có cái bản năng ganh tị rất là bí mật. Mình thấy ai có một điểm gì nổi bật, mình luôn luôn ganh tị. Nhiều khi mình khen ngợi họ nhưng bên trong sâu thẳm mình cũng đau khổ ghê gớm, đau khổ bởi vì họ đã hơn mình.

[41:47]Đây là một cái sự thật mà mình phải đối diện, phải nhìn cho ra, phải nhìn cho ra. Ví dụ như là trước thấy không có ai, thấy tôi là người được thầy quý mến, tôn trọng, sau có nhiều người khác tới cái thầy phớt lờ tôi, thấy thầy trọng người khác hơn, cái như vậy mình có một sự ganh tị đối với những người đến sau mình. Cái đó cũng là một cái sai, cũng là một cái ganh tị. Hoặc là thấy thầy quý trọng ai, lòng mình cũng có một sự ganh tị bí mật. Ví dụ như có những người đến mà nhiều khi thầy cầm cái gậy, thầy tiễn họ đi một đoạn rất là xa thì mình thấy mình cũng bực mình, thấy sao thầy ưu ái với họ mà không ưu ái với mình.

[42:27]Nhiều khi mình nói là à cũng khen là tại người đó tốt này nọ, nhưng trong lòng mình vẫn đau khổ. Đó là cái cái người mù nói nè. Chỉ có người sống chân thật, không có giả dối như Thiền sư Bankei thì mới không bị cái này. Bởi vì lòng ngài đã vượt qua hết sự ganh tị, đố kỵ. Daigu viếng Đại sư Baso ở Trung Hoa. Thực ra câu chuyện này là câu chuyện của Tàu chứ không phải của Nhật. Daigu này là ngài Huệ Hải, viếng ngài Mã Tổ ở Trung Hoa. Mã Tổ hỏi: "Anh tìm gì?" Huệ Hải đáp: "Giác ngộ." Mã Tổ nói: "Anh có một kho tàng của riêng anh, tại sao anh đi tìm bên ngoài?" Huệ Hải hỏi lại: "Kho tàng của con ở đâu?

[43:07]Cái gì anh đang nói là kho tàng của anh?" Nghe câu này, Huệ Hải giác ngộ. Từ đó về sau, Huệ Hải luôn luôn thúc giục bạn bè: Hãy mở kho tàng của riêng mình mà dùng. Chuyện này trong cái Thiền sư Trung Hoa có ghi. Mà ngài Huệ Hải là người rất là thuần. Trước khi đến với Mã Tổ là tâm ngài đã rất là an định, cái đức hạnh của ngài rất là chu toàn. Cho nên ngài Mã Tổ biết, chỉ hạ một câu nói liền ngài ngộ đạo liền. Mà ở đây cái ngộ đạo là ngộ được cái tâm gì đó nơi chính mình, không phải là cái bên ngoài. Cái kho tàng của riêng mình. Thầy có biết một cái ông đó. Ổng à

[43:50]ổng là một người theo Tây học, ổng đã từng du học bên Tây. Bây giờ thì ổng là một người tu thiền và ổng thường dạy người khác tu thiền. Ổng làm cư sĩ thôi, có vợ có con bình thường. Nhưng mà mức ngộ thiền cũng rất là đặc biệt. Ừm rồi người ta hỏi ổng là nghiên cứu thiền từ lúc nào, ổng chỉ nói là từ cái câu nói của Jean-Jacques Rousseau là mỗi người phải tự về chăm sóc cái ngôi vườn của mình, cái khu vườn của mình. Kể từ đó là bắt đầu ổng đi vào đạo. Ổng ngộ lần lần lần lần từ năm 12 tuổi. Và cho đến bây giờ thì ổng chắc cũng xấp xỉ 60, thì cái sức ngộ cũng rất là vững. Ai đến ổng cũng đều khuyến khích người ta tu thiền, đó.

[44:24]Thì cái mỗi người về chăm sóc cái khu vườn của mình thì nó rất gần gần với cái kho tàng của của riêng mình đó. Ở đây chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng có một kho tàng của nội tâm. Chúng ta hãy ráng mở ra mà xài. Mở ra bằng gì? Bằng những giờ phút tọa thiền, bằng từng giờ, từng phút tỉnh giác trong khi làm việc, đó, là mở được cái kho tàng của mình. Chuyện số 29: Không nước, không trăng. Ni cô Chiyono theo học thiền với Bukko của Engaku. Trong một thời gian dài nhưng Chiyono không thể đạt được kết quả. Sau cùng một đêm trăng sáng, Chiyono gánh nước. Để kỷ niệm, Chiyono viết một bài thơ: Bằng cách này ta đã cố gắng cứu chiếc xô cũ,

[45:07]bởi vì bao nan đã yếu và gần hỏng, cho đến lúc cuối cùng đáy vỡ rơi xuống, không còn nước trong xô, không còn trăng trong nước. Bài này nói lên chỗ giác ngộ của bà. Thì lẽ ra là thầy sẽ giảng cái bài cái bài thơ của bà Chiyono này. Tuy nhiên rằng thầy không thích là một người đi tìm thiền bằng cái nghe giảng và hiểu rồi để nói lại. Thầy muốn rằng các huynh đệ bằng cái công phu tu hành của mình hiểu được bài thơ này nó hay hơn. Cho nên bài này thầy không giảng. Qua bài 30: Danh thiếp. Keichu, một đại thiền sư đời Minh Trị, là sư trưởng đền Tofuku, một tu viện ở Kyoto. Một hôm, Thống đốc Kyoto viếng Keichu lần đầu tiên.

[45:59]Một đệ tử đưa lên Keichu tấm danh thiếp của nhà cầm quyền, thiếp viết: "Kitagaki, Thống đốc Kyoto." Keichu bảo với người đệ tử: "Ta không có việc gì với một con người như thế. Hãy bảo hắn ra khỏi nơi này." Người đệ tử hoàn lại tấm thiếp với lời xin lỗi. Viên Thống đốc nói: "Đây là lỗi của tôi." Và với cây bút chì trong tay, ông xóa mấy chữ "Thống đốc Kyoto" rồi bảo người đệ tử: "Hãy hỏi lại thầy anh." Lần này thấy tấm danh thiếp, Keichu kêu lên: "Ồ, Kitagaki đấy à? Ta muốn gặp người đó." Bài này thật là hay. Thứ nhất là Thiền sư Keichu, một người ngộ đạo, không bao giờ biết khiếp sợ trước quyền quý, không bao giờ biết nịnh bợ trước quyền quý.

[46:44]Mà Thống đốc một cái cái thành phố lớn Kyoto như vậy thì cái quyền uy nó không phải nhỏ. Mà đến thăm ông mà đưa cái tấm danh thiếp có đề cái chức vụ mình, ông không tiếp liền. Nói: "Con người đến đây ỷ mình là chức vụ, người đó không thể hiểu đạo được. Không phải là người đến tìm đạo, ông không tiếp." Đó, đây là cái hay, ông chỉ tiếp những người đến tìm đạo. Cái đây là cái tiết tháo, cái khí phách của một thiền sư đúng nghĩa. Mà chính ra chúng ta đọc lại chuyện này, mình chỉ biết cúi đầu, nghiêng mình, nghĩa là hết lòng kính trọng. Chứ thật ra mình cũng khó bắt chước được các ngài. Đôi khi mình vẫn còn sợ hãi trước những cái cái người có chức, có quyền.

[47:27]Nhiều khi họ có thể dùng cái chức, cái quyền của mình để ảnh hưởng đến cái cái chùa chiền của mình, mình cảm thấy cần phải ngoại giao, cần phải nhỏ nhẹ thế này thế kia, đó, đó là cái mà mình vẫn còn dở. Bởi vì mình sao? Mình vẫn còn nhiều cái phải bám víu, còn nhiều cái phải lo sợ. Chứ không được cái phước và cái uy, cái đức như là Thiền sư Keichu này. Mà ông Thống đốc này cũng là người hay. Khi mà người đệ tử hoàn lại với lời xin lỗi, ông hiểu liền, ông hiểu là cái lỗi là ở cái chỗ Thống đốc Kyoto, ông gạch. Nghĩa là ông chấp nhận ông đến đây với một người như mọi người để đi tìm đạo mà thôi, chứ không có đến với cái quyền chức của mình.

[48:08]Cho nên ở đây có hai con người rất là hay. Một thiền sư không biết khiếp sợ là gì, và một vị Thống đốc mà không bao giờ nghĩa là không bao giờ hãnh diện vì cái cái quyền chức của mình. Đó, hai con người đều thật là đặc biệt. Chúng ta cũng vậy, mình đọc câu chuyện này rồi mình ráng để ý để học được chút nào hay chút đó. Là không sợ trước những cái cái cái cái quyền thế bên ngoài. Mà nếu mình có một cái gì hơn người á cũng đừng bao giờ hãnh diện, đừng bao giờ cố chấp vì cái cái hơn người của mình. Đó, đây là cái bài học. Hai người trong câu chuyện này thật là đặc biệt. Câu chuyện thứ 31: Mọi thứ đều ngon nhất.

[48:51]Khi Banzan, ở đây là chữ Nho Bàn Sơn á, Bàn Sơn pháp hiệu ngài là Bảo Tích. Ngài ở núi Bàn Sơn ở U Châu, là đệ tử của Mã Tổ. Khi Banzan đi ngang qua chợ, ông nghe xa xa cuộc nói chuyện giữa một khách hàng và một người bán thịt. Khách hàng bảo: "Hãy cho tôi miếng thịt ngon nhất đấy nhé." Người bán thịt đáp: "Mọi thứ trong hàng tôi đều ngon nhất. Cô không thể tìm thấy ở đây một miếng thịt nào không ngon nhất." Nghe những lời đó, Banzan bừng ngộ. Đó là ngài cũng là người dụng công rất là sâu xa, tâm đã vào định rất là vững, nhưng mà chưa đủ duyên để ngộ. Đến khi ngài lơ thơ đi đâu ngang chợ không biết,

[49:34]nghe cái người bán thịt đáp là trong hàng ông mọi thứ đều ngon nhất, không có cái thứ nào là không ngon nhất thì ngài liền ngộ đạo. Thì cũng như vậy, giống như cái bài thơ trước. Nếu thầy giảng cái câu này ra tại sao mà ngộ đạo thì thầy mang tội với chư Tổ, nên thầy tiếp tục im lặng để cho quý huynh đệ tu, đó trong cái tâm chứng của mình hiểu được cái câu nói này. Chuyện thứ 32: Một phân thời gian ngàn phân ngọc. Một lãnh chúa yêu cầu Thiền sư Takuan vẽ cho ông làm cách nào để giết thì giờ. Ông cảm thấy cuộc đời mình kéo dài lê thê trong việc theo dõi những công việc đều đều chán ngán ở văn phòng và phải ngồi chết

[50:18]một chỗ ở đó để nhận sự tôn kính của những người khác. Takuan viết cho vị lãnh chúa tám chữ, chữ Nho. Ở đây thì được dịch thành bài thơ bốn câu: Ngày này không đến hai lần, một phân thời khắc ngàn phân ngọc ngà. Ngày này không đến nữa mà, một giây thời khắc một nhà ngọc châu. Là ông ta thấy mất thì giờ thì Thiền sư cho ông mấy chữ cũng để cho ông biết rằng thời giờ rất quý, mà không có dạy thêm cái gì. Thì coi như là ngài muốn cho ông dùng cái thời gian mà kéo dài lê thê đó để làm một việc có ý nghĩa hơn. Đáng lẽ ra ngài phải dạy thiền, nhưng mà lạ cái là ngài chỉ cho biết cái giá trị thời gian.

[51:06]Để làm cái gì trong thời gian đó thì ngài không nói. Vậy chúng ta làm cái gì thì thì tự biết. Bài thứ 33: Bàn tay của Mokuseki. Mokusen Hiki đang sống trong một ngôi đền ở tỉnh Tamba. Một trong những đệ tử của Mokusen phàn nàn về tính hà tiện của vợ anh ta. Mokusen viếng vợ của người đệ tử và đưa nắm đấm ra trước mặt nàng. Người đàn bà ngạc nhiên hỏi: "Ngài muốn nói gì thế?" Mokusen hỏi: "Giả sử tay ta luôn luôn thế này, ngươi sẽ gọi nó là gì?" Người đàn bà đáp: "Dị dạng." Rồi Mokusen xòe thẳng bàn tay ra áp sát vào mặt nàng, hỏi: "Giả như nó luôn luôn thế này là gì?" Người đàn bà đáp: "Một thứ dị dạng khác." Mokusen kết thúc:

[51:49]"Nếu ngươi hiểu nhiều, ngươi là một người vợ hiền." Rồi Mokusen bỏ đi. Sau cuộc viếng đó, người vợ giúp chồng nàng trong việc chi tiêu cũng như việc để dành. Ở đây chuyện này dễ hiểu. Tức là con người mình sống thì tránh cái cực đoan. Ngài đưa bàn tay nắm luôn luôn nắm là cực đoan, mà luôn luôn mở ra cũng là cực đoan. Đó mình luôn luôn hà tiện cũng là cực đoan, mà phung phí cũng là cực đoan. Mà không riêng về cái vấn đề chi tiêu, mà mọi vấn đề khác chúng ta không khéo đều trở thành cực đoan. Ví dụ như khi thấy một người nói nhiều thì nói đừng có nói nhiều, cái từ đó người đó quằm mặt xuống im không thèm nói,

[52:26]ai hỏi không trả lời, nó lại là một cái cực đoan khác. Cái trung đạo là mình ít nói, nói lời chính đáng, không nói lời thừa. Nhưng mà trong tâm với mọi người luôn luôn hòa hợp, vui vẻ, chứ không phải là vì ít nói mà mình ngăn cách với mọi người. Cũng không phải là đi tìm sự hòa hợp với mọi người bằng cách phải nói thuyên thiên, phải nói nhiều. Đó, mà trong đời sống như vậy, trong việc tu hành cũng vậy, nó dễ rơi vào một cực đoan nếu chúng ta không khéo. Cái tinh tấn cũng vậy, nếu mình tinh tấn một cách căng thẳng cũng là sai, mà mình lơi lỏng cũng là sai. Đó, nó tùy lúc. Như có lần thầy nói đó, khi ngồi thiền bị buồn ngủ,

[53:08]có trường hợp mình phải cố gắng vượt qua cái buồn ngủ đó, nhưng có trường hợp thì phải ngủ một chút cho tỉnh rồi ngồi tiếp. Nên nó tùy trường hợp, chớ đừng có kết luận một chiều, dễ rơi vào cực đoan. 34: Nụ cười trong đời Mokugen.

[53:26]Mokugen không bao giờ biết cười cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời ông. Khi giờ ra đi của ông đến, Mokugen nói với các đệ tử: "Các anh đã theo ta học tập hơn 10 năm rồi. Bây giờ hãy tỏ cho ta biết sự tri giải chân thật của các anh về thiền. Bất cứ anh nào diễn tả điều này rõ ràng nhất sẽ là người đắc đạo của ta và được phó chúc y bát này." Các đệ tử nhìn khuôn mặt khắc khổ của Mokugen nhưng không ai lên tiếng. Encho, một đệ tử theo học đã lâu, đến bên giường Mokugen đẩy chén thuốc tới trước một chút. Đây là câu trả lời của Encho. Khuôn mặt của Mokugen trở nên nghiêm trọng hơn, hỏi: "Đó là tất cả sự hiểu biết của anh?" Encho bước tới đem chén thuốc trở lại.

[54:09]Một nụ cười tươi đẹp làm tan vỡ những nét nghiêm nghị trên khuôn mặt của Mokugen. Ông nói với Encho: "Mày, thằng lõi! Mày đã học với ta hơn mười năm mà chưa thấy toàn thân ta, hãy lấy y bát của ta đi, chúng thuộc về mày đó." Cái câu chuyện này cái chủ yếu là cái biểu hiện của một người hiểu thiền, cái biểu hiện của một người hiểu thiền.

[54:36]Encho biểu hiện cái hiểu thiền của mình không bằng lời nói mà bằng một hành động là đẩy chén thuốc tới trước thì Mokugen trở nên nghiêm trọng là thấy đây là gần đúng rồi, có thể là đúng rồi. Nhưng mà nếu chỉ như vậy thì chưa phải, cần một câu trả lời nữa thì Encho lấy chén thuốc trở lại và Mokugen hài lòng truyền cái y bát của mình lại cho cho Encho. Thì cái mà để chén thuốc tới là nói cái nghĩa gì và lấy chén thuốc trở lại là nói cái nghĩa gì? Thì thầy cũng không giảng. Các huynh đệ ráng tu để mà hiểu điểm này. Thiền trong mọi phút. Chuyện thứ 35. Những thiền sinh phải ở với thầy họ ít nhất mười năm

[55:22]trước khi tự họ có thể dạy những người khác được. Tenno đã qua thời gian học tập và đã trở thành một thiền sư đến viếng Nan-in. Nhằm ngày trời mưa Tenno đi đôi guốc gỗ và che dù. Sau khi chào mừng Tenno, Nan-in hỏi: "Giả sử anh bỏ đôi guốc của anh ngoài thiền đường, tôi muốn biết dù của anh ở bên phải hay bên trái đôi guốc?" Tenno bối rối không thể trả lời ngay được, vì thế Tenno biết mình chưa thể hiện được thiền trong mọi giây phút. Tenno trở thành đệ tử của Nan-in và học 6 năm nữa mới hoàn thành thiền trong mọi phút. Người có thiền ở trong đời sống họ được cái tỉnh giác chánh niệm, không có việc gì mà họ không biết. Đó.

[56:03]Bữa nay ông chỉ hỏi một việc nhỏ trong cái cái chánh niệm thôi. Thì khi mà để đôi guốc xuống rồi đó thì cái dù anh gác bên phía nào? Một việc rất là tầm thường. Nhưng mà lúc đó nếu mình không có chánh niệm mình sẽ quên, mình không biết là mình để cái dù ở bên phía nào nên người ta hỏi không trả lời được. Còn lúc đó mình có chánh niệm, tỉnh giác, mình gác bên phải, mình ý thức cái việc làm của mình rõ ràng đó và người ta hỏi thì mình biết liền. Đó. Cho nên ở đây cái thiền, cái tỉnh giác chánh niệm và cái trí nhớ nó có liên quan với nhau. Khi mà mình còn có những lúc đãng trí thì biết rằng cái tỉnh giác của mình nó chưa thường xuyên.

[56:41]Đó. Cái câu hỏi này nó hay, nó nói về chánh niệm, tỉnh giác. Đôi khi chúng ta hiểu qua cái nghĩa mà thiền ngữ, một cái câu hỏi hỏi mà để xem trong hiện tại Tenno trả lời được hay không? Cũng có thể như vậy nữa. Ví dụ như ông hỏi một câu bất ngờ mà Tenno ngay lúc đó trả lời được liền, nó cũng là thiền, cũng là có thể đáp liền ngay khi người ta hỏi mình không bị bối rối. Nhưng ở đây, thầy không thích cái lối đó, mà thầy thích nói theo cái chánh niệm tỉnh giác. Là trong từng hành động của mình, mình ý thức rõ ràng. Thầy thích hiểu cái nghĩa này hơn, nó bình thường, nó đơn giản mà nó thực tế hơn. Còn mà mình lanh miệng để có thể đáp được cái câu

[57:21]hỏi của người khác, thầy cũng không thích. Nó chỉ là thiền ngữ thôi, mặc dầu nó lanh lợi đó, nhưng mà chưa chắc nó biểu hiện được cái giải thoát trong đời sống. Còn cái nghĩa chánh niệm tỉnh giác, mình làm việc gì luôn luôn mình ý thức rõ, mình biết rõ do tâm mình thanh tịnh thì cái này nó thực tế hơn. Đó, cần thiết hơn trong đời sống của người tu hành. Chuyện thứ 36: Mưa hoa. Subhuti là một đệ tử của Phật. Cái này âm Việt Nam mình gọi là Tu-bồ-đề đó. Ông có khả năng hiểu sâu xa tiền thể của tánh Không. Lập trường này cho rằng không có gì hiện hữu trừ sự tương quan giữa chủ thể và khách thể. Cái câu này thì nghi cái bản dịch như thế nào chứ nó không đúng.

[58:04]Một hôm, Subhuti đang ngồi dưới một gốc cây hoa trong một tâm cảnh tánh Không cao độ. Hoa bắt đầu rơi quanh ông. Rồi có tiếng thì thầm của các vị thần bên tai: "Chúng tôi đang ca ngợi ngài về bài thuyết pháp tánh Không của ngài." Subhuti đáp: "Nhưng tôi không nói về tánh Không." Tiếng thì thầm của các thần lại vang lên: "Ngài không nói tánh Không, chúng tôi cũng không nghe tánh Không, đây là tánh Không chân thật." Và hoa tiếp tục rơi xuống Subhuti như mưa. Cái truyền thuyết về ngài Tu-bồ-đề khi ngài ngồi thiền trong hang núi mà chư thiên rải hoa, mưa hoa xuống để cúng dường là câu chuyện được ghi trong kinh Bát-nhã.

[58:45]Thì à ngài coi như là một đại đệ tử của Đức Phật mà ngài đệ nhất giải Không, tức là hiểu được cái tánh Không rõ nhất trong các đệ tử của Đức Phật. Thì câu chuyện này nhắc lại cái truyền thuyết đó để nói rằng cái cái quan trọng ở cái câu nói của các vị thần á, chư thiên á: "Ngài không nói tánh Không, chúng tôi cũng không nghe tánh Không, đây là tánh Không chân thật." Đoạn này nhắc chúng ta điều gì? Nhắc rằng có thể chúng ta nói về thiền định, à có thể chúng ta nói về hư vô, về vô biên, về Phật tánh đủ chuyện. Nhưng rồi cũng chỉ là người nói, cũng chỉ là người nghe, đến khi nào mà không còn phải

[59:27]nói, phải nghe mà thật sự thể nghiệm đó, đó mới là tánh Không chân thật. Nên cái câu chuyện này thúc đẩy chúng ta cố gắng thực hành một cách thực sự, chứ không còn phải chạy trên cái văn nghĩa nữa. Câu chuyện thứ 37: Xuất bản kinh.

[59:48]Tetsugen, một người hiến mình cho thiền ở Nhật, quyết định xuất bản một bộ kinh mà thời bấy giờ chỉ được thông dụng bằng chữ Nho. Những quyển sách được in bằng những tấm bản gỗ trong một lượt sản xuất 7.000 bản, thật là một việc làm kinh khiếp. Tetsugen bắt đầu du hành, làm một cuộc quyên lạc để thực hiện việc in kinh. Một vài người có nhiều thiện cảm cho Tetsugen 100 đồng tiền vàng, nhưng phần nhiều Tetsugen chỉ nhận được vài xu nhỏ của những kẻ khác. Tetsugen tạ ơn những người có hảo tâm bằng một tấm lòng biết ơn như nhau. Sau 10 năm, Tetsugen đã đủ tiền và bắt đầu công việc. Nhằm mùa nước lớn của sông Uji tràn ngập,

[1:00:25]nạn đói xảy ra, Tetsugen đem tất cả vốn liếng đã góp để in kinh cứu những người khác khỏi chết đói, rồi Tetsugen bắt đầu quyên lại. Năm, bảy năm sau đó bệnh dịch nan tràn khắp nước Nhật. Tetsugen lại đem những gì đã góp được ra giúp mọi người. Vì thế Tetsugen lại bắt đầu lần thứ ba và sau 20 năm ý nguyện của Tetsugen đã được thực hiện hoàn toàn. Những bản in gỗ ra đời lần thứ nhất là những bộ kinh mà ngày nay người ta thấy trong tu viện Obaku ở Kyoto. Người dân Nhật bảo với con cái họ rằng: "Tetsugen đã làm được ba bộ kinh và hai bộ đầu vô hình nhưng vượt hẳn bộ sau cùng." Câu chuyện này rất là cảm động, thầy đọc lại mà thầy vẫn còn thấy cảm xúc.

[1:01:05]Thật sự là đúng là kinh điển dạy cho mọi người làm lành, lánh dữ để tu hành vân vân. Nhưng mà nó cũng chỉ là lời nói. Chính cái hành động để làm gương á nó nó có cái sức mạnh hơn. Cái câu chuyện này nói điều này. Nên kinh thì cũng nói gì? Nói thương yêu chúng sinh, nói từ bi đủ chuyện hết, nhưng cũng chỉ là những lời nói. Mà Tetsugen là một người tu hành. Ông biết thực hiện, biết làm hơn là biết nói. Đó. Ông cũng thiết tha với việc truyền bá kinh điển, bởi vì không bao giờ ông bỏ cái hoài bão của mình, nhưng ông vẫn biết là cái lòng thương người nó cần phải thể hiện bằng hành động thực sự hơn là lời nói.

[1:01:51]Bây giờ mình cũng vậy, mình cũng thường hay nói thương yêu chúng sinh, nhưng mà làm sao? Mình dễ nạt người ta lắm, dễ la người ta lắm, dễ hách dịch lắm.

[1:02:03]Nên ráng thực hiện bằng cái tấm lòng chân thật của mình hơn là bằng lời nói. Lời nói cũng rất cần thiết, nhưng mà hành động cần thiết hơn. 38: Tác phẩm của Ryo-so. Ryo-so được chấp nhận làm ni cô lúc 10 tuổi. Ryo-so được sự giáo huấn của những chú tiểu khác. Khi được 16 tuổi, Ryo-so viếng từ thiền sư này đến thiền sư khác để học với họ. Ryo-so lưu lại với Inzan 3 năm, với Gikey 6 năm, nhưng vẫn không đạt được giác ngộ. Inzan chẳng phân biệt Ryo-so là người khác phái chi cả. Ông mắng nhiếc Ryo-so như mưa bão. Inzan đã tát Ryo-so để đánh thức bổn tánh của Ryo-so. Ryo-so ở lại với Inzan 13 năm và rồi Ryo-so đã tìm được cái gì muốn tìm.

[1:02:46]Để tôn vinh Ryo-so, Inzan viết một bài thơ: "Ni cô này đã theo học dưới sự hướng dẫn của ta 13 năm, buổi sáng cô ta xem xét một công án sâu xa nhất, buổi chiều cô ta dấn thân một công án khác. Tetsuma, ni cô Trung Hoa đã vượt qua tất cả trước Ryo-so và kể từ Mujaku không ai có chân tài như Ryo-so này. Hẳn còn nhiều cửa nữa để Ryo-so vượt qua, Ryo-so sẽ còn nhận nhiều cú đấm của bàn tay sắt ta." Sau khi giác ngộ, Ryo-so đến tỉnh Banshu, bắt đầu sống trong một ngôi đền riêng và dạy 200 ni cô khác cho đến khi Ryo-so qua đời vào tháng 8 một năm nọ. Ở đây, một người ni đã giác ngộ, là một thiền sư mà giáo hóa được

[1:03:29]200 đệ tử, thật là một chuyện đặc biệt, chuyện cũng hiếm có.

[1:03:36]Cái câu chuyện này có mấy điểm: Thứ nhất là nêu tấm gương của một người ni đã tu hành lỗi lạc. Thứ hai là về ông thầy, ông không có xem Ryo-so là một người nữ mà ông cũng thẳng thừng dạy một cách nghiêm khắc, kể cả dùng cái tát, cái đánh để mà dạy và Ryo-so đã ngộ đạo. Mặc dầu với những cái thủ đoạn có vẻ tàn bạo, nhưng lòng ông thầy rất là thương khi thấy người đệ tử mình đã thành đạt nên viết một bài thơ để khen ngợi. Ở đây tương lai chắc mình là ni nhiều hơn tăng. Để coi coi có ai là Ryo-so không. Thầy chưa có tát ai mà mới la la thôi, mặt nhăn hết cả đám. 39: Ngủ ngày. Đại sư Soyen Shaku qua đời lúc 61 tuổi.

[1:04:30]Soyen Shaku đã làm trọn việc đời mình. Soyen đã để lại một giáo lý vĩ đại, phong phú hơn rất nhiều giáo lý của hầu hết những thiền sư khác. Các đệ tử của Soyen hay ngủ ngày giữa mùa hè, trong khi Soyen bỏ qua điều này và chính mình không lãng phí một phút nào. Vừa được 20 tuổi, Soyen đã học tư tưởng triết lý của trường phái Tendai, là Thiên Thai. Vào một ngày mùa hạ, khí trời rất oi bức, chú bé Soyen vãi chân ra ngủ trong khi thầy chú đi vắng. Ba tiếng đồng hồ êm ả trôi qua, bỗng dưng chú Soyen thức giấc, nghe tiếng chân thầy bước gần, nhưng quá trễ rồi, chú nằm ỳ ra đó, chắn ngang lối vào cửa.

[1:05:05]"Xin lỗi con, xin lỗi con," thầy chú thì thầm và nhẹ nhẹ bước qua người chú như là một người khách đặc biệt. Sau vụ này, Soyen không bao giờ ngủ ngày nữa.

[1:05:16]Nghĩa là Thiền sư Soyen lúc nhỏ được cảm hóa bởi ông thầy. Ông không có rầy mắng mà lại tôn trọng đệ tử như một người khách. Mà việc này làm cho chú cảm động. Đây là một trong những lối dạy đặc biệt, mà ông thầy đã dùng lối dạy đúng người. Đó. Với một con người có ý thức cao, ông thầy ổng cảm hóa bằng cái đánh thức cái lòng tự trọng của Soyen, mà Soyen làm được, tỉnh ra liền. Đó, đây là một trường hợp. Nhưng mà đừng có rơi vào cực đoan. Có những người mà nếu thầy áp dụng kiểu đó, họ leo lên nóc chùa họ ngồi luôn. Đó. Với những người mà ý thức á, nhiều khi chỉ một cái nhìn của thầy họ hiểu ý thầy muốn cái gì mà không làm nữa, phải không?

[1:06:05]Nhưng có những người không hiểu á, thì thầy khàn tiếng, ho như kỳ rồi cũng không hết nữa. Nhưng mà đây cái này cái khen là khen cái người Soyen này, cố gắng học cái hạnh của chú này. Mình không cần thầy phải nói nhiều, chỉ với cái ánh mắt và một vài cử chỉ đã biết ông thầy muốn gì và cố gắng làm theo, không đợi thầy phải nói thành lời. Đó, cái người mà có trí tuệ là vậy đó, khôn ngoan, tỉnh giác cao độ. Câu chuyện 40. Lạ là câu chuyện này sao nó lại ngược với câu chuyện vừa rồi, thầy cũng phải nói ra, tại vì trong đây nó ghi như vậy. "Trong cõi mộng". Một đệ tử của Soyen Shaku kể lại. Soyen thì đã nói là không bao giờ ngủ ngày,

[1:06:47]còn dưới này thì đệ tử Soyen kể là là thầy ngủ ngày. "Thầy chúng tôi hay ngủ một chút vào lúc xế. Chúng tôi, trẻ con hỏi ông tại sao ông ngủ như vậy, ông đáp: 'Ta đi vào cõi mộng để gặp những ông thánh đời xưa như Khổng Tử vậy. Khi Khổng Tử ngủ, ông ta mộng thấy những ông thánh đời xưa, và sau đó kể lại cho những đệ tử của ổng nghe.' Một hôm trời cực nóng, vài đứa chúng tôi ngủ trưa một giấc, thầy chúng tôi mắng. Chúng tôi giải thích: 'Thưa thầy, chúng con vào cõi mộng để gặp những ông thánh thời xưa như Khổng Tử vậy.' Thầy chúng tôi hỏi: 'Thế những ông thánh đó gửi lại gì đâu?' Một đứa chúng tôi trả lời:

[1:07:21]'Chúng con đi vào cõi mộng có gặp mấy ông thánh, và hỏi các ổng, thầy chúng con có đến đây gặp các ông, gặp các ngài vào mỗi bữa trưa không? Nhưng các ổng lắc đầu bảo rằng, không bao giờ các ổng nhìn thấy một người nào hết.'" Đó là chuyện vui. Mà lạ cái là ở trên thì nói Soyen không ngủ ngày, dưới này thì Soyen ổng bị ngủ. Rồi ổng ổng gạt đệ tử bị đệ tử gạt lại. Đệ tử nó lanh quá, chơi trác ổng lại. Câu chuyện này hàm cái ý là dạy đệ tử cần chân thật.

[1:07:51]Tại vì nếu mình dối gạt thì nó sẽ bắt chước liền. Mà nó hơn mình nữa, nó nói là mình mình cứng họng luôn. Nên cần sự chân thật là vậy.

[1:08:02]Nữa có dạy ai á thì ráng mình giữ cuộc đời mình chân thật, nói ra nó chắc ăn. 41. "Thiền của Joshu". Joshu tức là Triệu Châu. Joshu bắt đầu học thiền khi 60 tuổi và tiếp tục học cho đến năm 80. Lạ vậy ta?

[1:08:18]Câu chuyện này có lẽ như thế nào chứ theo như thầy biết là Triệu Châu là ngài Tùng Thẩm, ngài ngộ đạo từ hồi ngài còn Sa-di. Và ngài thọ tới 120 tuổi. Nên có lẽ điều này không chính xác.

[1:08:32]Joshu dạy từ năm 80 tuổi cho đến năm 120 tuổi khi ông qua đời. Thọ 120 thì đúng, nhưng mà theo thầy nhớ thì là ngài còn nhỏ, ngài là Sa-di Tùng Thẩm Triệu Châu, ngài đã ngộ đạo rồi. Một lần kia một đệ tử hỏi: "Nếu con không có bất cứ vật gì trong tâm hết, con sẽ làm gì?" Joshu đáp: "Hãy vứt nó đi." Người đệ tử hỏi tiếp: "Nhưng nếu con không có vật gì hết, làm sao con vứt nó được?" Joshu đáp: "Được rồi, hãy đem nó ra." Đây cũng là những thiền ngữ, những cái yếu chỉ đặc biệt trong nhà thiền. Người đệ tử nói trong tâm không có vật gì hết, tức là tâm đã được thanh tịnh rồi. Thấy trong đó không có gì hết,

[1:09:10]nhưng mà vẫn chưa hiểu được lý thiền, chưa có ngộ đạo được. Mặc dầu tâm rất là định, nhưng vẫn chưa ngộ đạo. Thì sau cái câu nói cuối cùng của Triệu Châu: "Được rồi, hãy đem nó ra" thì người này ngộ đạo luôn. Còn giải thích từng câu thì thầy cũng vậy, thầy không có giải thích. Ráng tu mà hiểu. 42. "Người chết trả lời". Khi Mamiya sau này trở thành một giảng sư danh tiếng, đến viếng một thiền sư xin được thụ giáo thêm, thiền sư bắt Mamiya tri giải âm thanh của một bàn tay. Công án này cũng nổi tiếng ha. Mamiya chú tâm suy nghĩ cái gì có thể là âm thanh của một bàn tay. Thiền sư bảo Mamiya: "Con chưa làm việc cần mẫn đầy đủ, con còn bị những đồ ăn,

[1:09:50]của cải, sự việc và âm thanh trói buộc quá nhiều, thà con nên chết đi là hơn. Chết đi là vấn đề được giải quyết ngay." Lần sau Mamiya ra mắt thầy, thiền sư lại hỏi Mamiya về âm thanh của một bàn tay. Lập tức Mamiya ngã xuống làm như chết. Thiền sư quan sát: "Con chết được rồi, nhưng còn âm thanh đó thế nào?" "Con chưa hóa giải được", Mamiya vừa trả lời vừa nhìn lên. Thiền sư bảo: "Người chết không nói, hãy cút đi." Cái này nói rằng, ông thầy kêu tốt hơn là con nên chết đi, thì ông này cũng hiểu ý đó. Chết tức là coi như mình bỏ hết thân mạng của mình. À. Không còn tâm, không còn thân gì nữa, dồn hết chỉ còn cái âm thanh một bàn tay thì

[1:10:30]mới có thể tìm ra được cái âm thanh đó. Nhưng ông này thì ổng chưa có chưa có nhập được cái điều đó, nên bị ông thầy ổng lừa. Ổng nói: "Ờ, con chết thì được rồi đó, nhưng âm thanh thế nào?" Con ngóc đầu lên trả lời, tức là ông thầy biết rằng người này khi mà chưa dồn hết cái tâm, cái thân mình vào cái câu nói đó như là một người đã chết. Đó, chỉ là giả vờ chết mà chưa chú tâm vào cái công việc, nên còn bị ổng gạt cái là lòi ra liền.

[1:10:56]Câu chuyện này cũng hàm ý chúng ta tu hành cũng vậy, dồn hết cả thân tâm của mình vào cái đối tượng thiền định. 43. "Thiền trong cuộc sống ăn mày". Tosui là một thiền sư nổi tiếng vào thời ông. Tosui đã ở nhiều ngôi đền và dạy nhiều nơi khác nhau. Ngôi đền Tosui viếng cuối cùng quy tụ rất nhiều đệ tử. Tosui bảo họ là ông sắp bỏ hẳn việc giảng dạy. Tosui khuyên họ giải tán, hãy đi đến nơi nào họ thích. Sau đó không ai thấy dấu vết của Tosui đâu cả. Ba năm sau, một đệ tử khám phá thấy Tosui đang sống với một số người ăn mày dưới một gầm cầu ở Kyoto. Lập tức anh ta khẩn cầu Tosui chỉ dạy. Tosui bảo nếu anh có thể sống được như ta độ một đôi ngày thì ta dạy cho.

[1:11:37]Vì thế người đệ tử mặc quần áo ăn mày và sống với Tosui được một ngày. Ngày hôm sau một tên ăn mày ngã ra chết. Tosui và người đệ tử nửa đêm mang xác chết chôn trên một sườn núi. Chôn xong, hai thầy trò trở lại gầm cầu. Phần đêm còn lại, Tosui ngủ rất ngon giấc nhưng người đệ tử không thể ngủ được. Sáng hôm sau Tosui nói: "Hôm nay chúng ta không phải đi xin đồ ăn, người bạn đã chết để lại một ít kìa." Nhưng người đệ tử không ăn được một miếng nào. Tosui bảo: "Ta đã bảo anh không thể sống như ta được, hãy cút đi khỏi nơi đây, đừng làm phiền ta nữa." Tosui là một thiền sư đặc biệt. Ông dám thể nghiệm cái đời sống giải thoát

[1:12:13]trong một cuộc sống mà thấp hèn nhất, để xem tâm mình có động không. Mà rõ ràng là ông ta tự tại được trong cái đời sống thấp hèn đó.

[1:12:25]Cái này cho chúng ta nhiều cái suy nghĩ. Chúng ta cũng vậy. Trong cuộc sống vinh quang nhất chúng ta cũng bị dao động, sung sướng, kiêu hãnh. Mà trong cuộc sống thấp hèn nhất chúng ta đau khổ, bối rối, là hy vọng, chờ mong. Hai cái cực đoan đó làm chúng ta khó chịu, không thể tu được. Mà chúng ta luôn luôn thích vươn lên cái vinh quang, chấp nhận cái kiêu hãnh, mặc dầu cả hai đều không tu được. Ở đây, Tosui ở trong cái vinh quang là một ông thầy có nhiều đệ tử quy tụ, kính ngưỡng, ông thấy mình không động và ông đi tìm cuộc sống thấp hèn để thử nghiệm tâm mình một lần cuối cùng. Đó, để để lại một tấm gương cho những người sau.

[1:13:10]Nghe câu chuyện này chúng ta nhìn lại mình. Ví dụ như khi lúc nào đó chúng ta được trọng vọng, được nhiều người nể nang, cũng đừng lấy làm kiêu hãnh, giữ tâm mình cho bình ổn để tiếp tục tu. Hoặc một lúc nào đó bị rầy la, bị mọi người coi thường cũng vậy, trong cuộc sống đó chúng ta vẫn bình tâm tu hành chứ không có có lấy gì làm quan trọng, không có làm dao động cái tâm mình. 44. "Ăn trộm trở thành đệ tử". Một buổi chiều khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên trộm tay cầm một lưỡi gươm bén bước vào bảo Shichiri đưa tiền cho hắn, nếu không hắn sẽ giết chết. Shichiri nói với hắn: "Đừng có làm phiền ta.

[1:13:51]Tiền trong ngăn kéo kia, anh có thể lấy đi." Rồi Shichiri tiếp tục đọc kinh. Một lát sau, Shichiri dừng lại gọi: "Đừng có lấy hết nghe, ta cần một ít để mai đóng thuế đó." Tên trộm nhặt gần hết số tiền và bắt đầu chuồn. "Hãy cảm ơn người ta khi anh nhận quà chứ", Shichiri nói thêm. Tên trộm cảm ơn ông rồi bỏ đi. Ít hôm sau tên trộm bị bắt giữa đám đông. Hắn xưng đã phạm tội với Shichiri. Khi Shichiri được mời đến làm chứng, ông nói: "Người này không phải là ăn trộm, ít nhất là về phần tôi. Tôi đã cho tiền anh ta và anh ta có cảm ơn tôi." Sau khi mãn tù, anh ta đến viếng Shichiri và trở thành một đệ tử của ông.

[1:14:29]Câu chuyện này thật là thấm thía.

[1:14:34]Nghĩa là, ví dụ như thầy đây á, thầy muốn kiếm đệ tử, thầy nói gần gãy lưỡi không ai theo hết, phải không? Hoặc là lên công quả thấy mệt mệt là lóng nhóng chạy xuống mất. Mà thầy cũng phải nói nhiều. Còn ông Shichiri này không cần nói nhiều, nói có ba câu: "Tiền trong ngăn kéo, lấy đi. Lấy, chừa lại một chút để đóng thuế." Câu thứ ba là: "Cảm ơn nha." Rồi xong, vậy mà được đệ tử. Đệ tử ngon lành hay không thầy không biết. Đệ tử có có có chà đồ nhôm cõng nữa không thì thầy không biết, nhưng mà một người đã hối cải, ân hận, ăn năn suốt trong thời gian ở tù. Nghĩa là ngồi trong đó nghiền ngẫm cái lòng từ bi của một vị thầy tu.

[1:15:20]Đó, trước một cái con dao kề cổ mà không sợ hãi, bình tĩnh, ừ với cái tiền bạc không có tiếc nuối. À. Một con người như vậy mà cái tấm gương đó giày vò, day dứt, ám ảnh của anh ta suốt trong thời gian ở tù, đủ để chuyển hóa tâm hồn của anh ta lại. Nên sau khi ra tù, anh ta trở thành một người tu hành thật là hay. Cho nên từ đây thầy trò mình cũng vậy, ráng ít nói. Nói một chữ, hai chữ thôi. Nhưng mà có một cái là, đừng để ăn trộm vô mà để im lấy hết mà nói ba câu cho lấy đi hết là tội nghiệp thầy lắm nha. Còn nhiều người để tu nữa. Mất được cái bên đây. 45: Đúng và sai. Trong những tuần an cư để thiền định của Bankei,

[1:16:16]nhiều đệ tử khắp nơi trên đất Nhật đến theo học. Trong những cuộc tụ tập này, có một anh đệ tử bị bắt quả tang về tội ăn cắp. Việc này được trình đến Bankei với lời yêu cầu là phải trục xuất tội phạm, Bankei làm ngơ vụ này. Sau đó, người đệ tử này lại bị bắt trong một hành vi tương tự và Bankei cũng bỏ qua luôn. Việc này làm những người đệ tử nổi giận, họ làm tờ khiếu nại hành động xấu của kẻ ăn cắp, tuyên bố rằng, nếu không họ sẽ bỏ đi nơi khác. Bankei đọc xong lời khiếu nại, ông gọi tất cả mọi người đến và nói với họ, "Các anh là những người khôn ngoan, các anh biết việc gì đúng, việc gì không đúng.

[1:16:48]Các anh có thể đến nơi nào khác để học nếu các anh muốn, nhưng người anh em đáng thương này không biết phân biệt đúng sai, nếu tôi không dạy thì ai dạy cho anh ta? Tôi sẽ giữ người anh em này lại dù cho tất cả các anh em bỏ đi hết." Một suối nước mắt chảy xuống rửa sạch khuôn mặt người đệ tử ăn cắp, tất cả lòng ham muốn ăn cắp biến mất. Bankei này thiệt là một nhà giáo dục đặc biệt. Nghĩa là ông giương một mũi tên bắn rớt luôn hai con chim. Nghĩa là thế này, ông làm ngơ à ông làm ngơ không thèm xử để làm gì? Để chờ cho người kia phạm tội thêm, để chờ cho những người đệ tử còn lại tự thử thách cái tâm mình trước cái việc nghịch cảnh đó, à.

[1:17:30]Khi thấy trong chúng có một người như vậy đó, tâm của họ phản ứng như thế nào, có còn giữ được bình tĩnh, có được giữ được từ bi hay không? Đó đó là cái mà ông ta vừa chờ đợi cái cơ hội chín muồi để dạy người đệ tử ăn cắp mà vừa cho những người đệ tử khác nhìn lại cái tâm mình một lần. Chứ nếu mà cuộc đời nó thuận tiện, mình sống trong môi trường ai cũng tốt, thì mình khó thấy được cái tâm mình. Nên ông không phải là ông bỏ lơ, nhưng ông chờ cơ hội để dạy. Mà ông biết cái người này sẽ được dạy bằng một lời cảm hóa, bằng sự thương yêu, chứ không phải bằng một lời quở mắng. Cho nên, ông chờ đến lúc ông nói ra một lời tràn ngập cái lòng từ

[1:18:09]bi thương yêu, và đúng là chuyển hóa được tâm hồn của người này. Chúng ta sẽ gặp thiền sư mà chuyên môn đánh, hét đệ tử, một lát sau chúng ta sẽ thấy, còn thiền sư này thì dùng cái lòng độ lượng vô biên để mà giáo hóa. Ổng nói một câu nói đó là làm cảnh tỉnh cái người đệ tử ăn cắp mà làm giật mình hết tất cả mọi người đệ tử kia. Họ sẽ nhìn lại họ thấy, "Nào giờ mình chưa đủ từ bi." Bởi vì cái từ bi là từ bi đối với người xấu. 46: Cỏ và cây sẽ giác ngộ thế nào? Vào thời Kamakura, Shinkan học ở trường Tendai 6 năm và học thiền 7 năm, rồi Shinkan sang Trung Hoa chiêm ngưỡng thiền 13 năm. Khi trở về Nhật, nhiều người muốn viếng Shinkan và hỏi nhiều câu hỏi khó.

[1:18:58]Nhưng khi tiếp khách, thường Shinkan hiếm khi trả lời những câu hỏi của khách. Một hôm, một thiền sinh 50 tuổi đạo đến nói với Shinkan, "Tôi đã học ở Tendai về tư tưởng khi tôi còn bé, nhưng có một điều tôi không thể hiểu được: Tendai dạy rằng cả đến cỏ cây cũng sẽ giác ngộ, đối với tôi điều này có vẻ kỳ lạ quá." Shinkan hỏi, "Bàn luận về cỏ cây sẽ giác ngộ thế nào có ích gì đâu? Vấn đề là làm sao chính ông có thể giác ngộ được, ông có xét thấy điều này không?" Người già lấy làm lạ, "Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều này." Shinkan kết thúc, "Rồi, hãy về nghĩ kỹ xem." Cái câu chuyện này thế này, à cũng giống như Đức Phật vậy đó, Ngài không có trả lời những cái chuyện xa

[1:19:37]vời mà Ngài muốn ngay trong hiện tại, từng giờ, từng phút mình thanh lọc được cái tâm của mình để đạt được sự giải thoát, hạnh phúc. Khi mình đạt được cái bình an, hạnh phúc giải thoát rồi, thì mọi vấn đề khác tự nó được hóa giải thông suốt. Chứ còn mà mình ti- đi tìm cái kiến thức hiểu biết, làm sao hiểu được nhiều vấn đề này, nhiều vấn đề kia, cuối cùng mình vẫn không giải thoát, tâm mình không có thanh tịnh được. Cho nên, cái Shinkan hiếm khi trả lời những câu hỏi, mà đưa ra một cái câu mẫu, hỏi về cỏ cây giác ngộ, ổng nói nói chuyện viển vông, thôi lo lại phần mình, ráng tu cho thanh tịnh.

[1:20:14]Đây là cái điều thực tế. 47: Nghệ sĩ bần tiện. Gasan là một nhà sư nghệ sĩ. Trước khi Gasan bắt đầu vẽ hay họa hình, Gasan luôn luôn bắt trả công trước và giá cả thường rất cao. Gasan nổi tiếng là nghệ sĩ bần tiện. Một lần kia, một cô geisha, geisha là gái kỹ nữ, nhờ Gasan họa. Gasan hỏi, "Cô có thể trả tôi bao nhiêu?" Cô geisha đáp, "Bất cứ cái gì ông đòi, nhưng tôi thích ông làm việc trước mặt tôi." Như thế, một hôm, cô geisha mời Gasan đến, nàng đang dọn tiệc cho chủ nàng. Với cây cọ tốt, Gasan vẽ tranh. Khi bức tranh vẽ xong, Gasan đòi một giá cao nhất trong đời ông. Gasan nhận tiền công, cô geisha quay lại nói với người

[1:21:03]chủ, "Ông nghệ sĩ này chỉ có tiền là trên hết, những bức họa của ông đẹp nhưng tâm hồn của ông bần tiện, tiền đã làm tâm hồn của ông thành bùn. Được vẽ bằng tâm hồn bẩn thỉu như thế, tác phẩm của ông không đáng đem trưng bày, nó chỉ đáng giá bằng một cái áo lót của tôi thôi." Nàng cởi váy ra, xoay lưng lại bảo Gasan vẽ một bức khác về phần sau chiếc áo lót của nàng. Gasan hỏi, "Cô trả tôi bao nhiêu?" Cô gái đáp, "Ôi, bất cứ giá nào." Gasan kêu một giá rất thích thú, vẽ bức tranh theo cách thức đòi hỏi, xong rồi bỏ đi. Sau này, người ta biết rằng Gasan có những lý do sau đây để cần tiền: Nạn đói khốc liệt thường viếng tỉnh Gasan ở,

[1:21:40]người giàu không giúp kẻ nghèo, vì thế Gasan có một ngôi nhà chứa bí mật không ai biết, nơi đó Gasan chứa thóc chuẩn bị cho những trận đói xảy ra. Từ làng Gasan đến thánh điện quốc gia, con đường đi rất khó khăn và nhiều du khách khổ tâm khi phải đi qua đó, Gasan muốn làm một con đường tốt hơn. Thầy Gasan qua đời không biết Gasan muốn xây một ngôi đền và Gasan muốn làm xong ngôi đền này cho thầy mình. Sau khi hoàn thành ba ý muốn của mình, Gasan vất cọ và những vật dụng nghệ sĩ, rút lui vào núi ẩn tu, không bao giờ vẽ nữa.

[1:22:13]Câu chuyện này dạy chúng ta là đừng đánh giá một người vội vàng.

[1:22:19]Đôi khi cái mình thấy những biểu hiện người ta tầm thường nhưng sự thật chứa đựng những cái ước mơ cao thượng, những cái lý tưởng tức là tốt đẹp. Mình đánh giá vội vàng thì nhiều khi nó sai lầm đi. Mà mình làm sao? Mình thì dễ đánh giá vội lắm, nhất là o đó. Nhúc nhích cái là o nói xấu, nghĩ xấu người ta. Vì không nên, luôn luôn mình đánh giá vội nó không có tốt. Nhiều khi thấy như vậy á, đôi khi mình tìm hiểu thêm mình thấy người ta vẫn có những điểm đáng yêu khác. Câu chuyện này thì nó nhiều, hôm trước có lần hình như ở Thầy Giảng Nhất Lâm, Thầy có kể câu chuyện này. Mà Thầy nói thế này, trường hợp Gasan

[1:23:06]cái biểu hiện của ông là một biểu hiện bần tiện, nhưng cái mục tiêu của ông thật là cao đẹp. Còn chúng ta thì coi chừng, nhiều khi mình biểu hiện, mình nói ra những lời nói cao đẹp, nhưng mà mục đích bên trong là danh lợi, mình làm ngược lại. Ví dụ như mình nói là vì Phật pháp, nhưng kỳ thực mình chỉ vì cái túi tiền của mình. À mình chỉ nói là vì hóa độ chúng sinh, nhưng kỳ thực là mình chỉ vì danh vì lợi mà thôi, đó. Mình đưa ra những biểu hiện rất là đẹp, nhưng mà bên trong là vì chính mình. Còn Gasan thì ổng có biểu hiện thật là thấp hèn, nhưng bên trong của ông là những cái hoài bão cao quý.

[1:23:46]Câu chuyện thứ 48, đây là câu chuyện mà Thầy thích nhất, câu chuyện mà Thầy tâm đắc nhất trong cái cuốn Góp Nhặt Cát Đá này: Sự cân xứng chính xác. Sen no Rikyu, một trà sư, muốn treo một giỏ hoa trên một trụ cột. Sen no Rikyu nhờ một thợ mộc giúp mình, chỉ dẫn người thợ đặt giỏ hoa cao hơn hay thấp hơn một tí, qua phải hay trái một tí, cho đến khi Sen no Rikyu tìm thấy điểm đúng chính xác. Cuối cùng, Sen no Rikyu nói, "Đó, chỗ đó." Người thợ mộc muốn thử vị trà sư, đánh dấu điểm đó rồi vờ quên đi, "Chỗ này? Có lẽ chỗ này?" Người thợ mộc vừa hỏi vừa chỉ những chỗ khác nhau trên trụ cột. Nhưng cảm quan về sự cân xứng của vị trà sư quá chính xác,

[1:24:28]mọi vị trí đều không phải cho đến khi người thợ mộc chỉ đến điểm đồng nhất, chính xác lại đúng vào điểm đã được ghi dấu trước. Câu chuyện này thì nói về cái cảm quan về cái mỹ thuật cân xứng của vị trà sư. Ông thấy trong cái gian phòng đó, à nơi mà cái đà đó thì cái chỉ có một cái điểm bằng cái bút chì thôi là điểm cân xứng nhất. Ngoài cái lệch khỏi cây bút chì chừng chừng một phân, hai phân là ông không chấp nhận. Cái cảm quan của ông chính xác mà lần thứ nhất cũng như vậy, lần thứ hai cũng đúng cái điểm đó mà chỉ bằng cái đầu của cây bút chì thôi, chứ không cho phép nó lệch qua nửa phân hay một phân.

[1:25:07]Mặc dầu là cả cái gian phòng nó lớn như vậy, cả cây đà nó lớn như vậy, nhưng mà ông cảm nhận cái điểm chính xác tuyệt đối nhất, không cho nó lệch một chút nào. Chân lý cũng vậy. Chân lý cũng vậy. Chúng ta hiểu về thiền, về đạo, về lẽ phải, về nhân quả nghiệp báo cũng vậy đó. Nó mênh mông trừu tượng, nhưng mà sự thật nó chỉ có một điểm đúng bằng cây bút chì thôi. Cái điểm đúng đó thì nói là chỉ bằng cái điểm chấm cây bút chì, lệch qua khỏi cái đó nửa phân hay một phân là sai. Nhiều người cũng vậy, cũng nói về Phật pháp, cũng nói về thiền, nói về Phật tánh, nói về nhân quả nghiệp báo, nhưng mà sao?

[1:25:45]Họ cách xa cái điểm bút chì đó tới một tấc hay nửa thước lận. Đó, mà nếu chúng ta không có cái cái trí tuệ đó, chúng ta không thể thấy được cái sai của họ. Chúng ta thấy họ cũng nói giống như Phật. Như là một số hiện tượng, có một bà nữ thiền sư nào ở bên nước ngoài đó, hiện nay thì cái quay băng video rồi rất là nhiều, thì cũng nói Phật tánh là ai cũng có Phật tánh, tu đi, đủ thứ, nghe cũng rất giống, rất giống với thiền, rất giống với đạo Phật, nhưng sao? Nhưng người có trí đó, biết bà cách cái điểm cân xứng nó hết hai ba thước, mặc dầu cũng nói giống như vậy. Còn có những người khác thì họ họ đúng hơn, chính xác hơn cái bà này,

[1:26:28]nhưng mà đôi khi họ nói cũng về Phật tánh, về chân tâm, về thiền định, về huệ, về giới, về nhân quả nghiệp báo, vân vân, nhưng mà sự thật nó cách cái điểm chấm bút chì đó hết một phân hay nửa phân, chứ không có được chính xác hoàn toàn. Ở đây đòi hỏi chúng ta có cái duyên phước nhiều đời lắm, mà tâm mình phải lắng xuống, nó không còn bị một cái thành kiến nào của quá khứ nó chi phối, chúng ta mới có cái khả năng nhìn thấy được cái điểm như một cái chấm bút chì. Giữa một cái không gian bao la như vậy, không có một cái điểm nào để định hướng rõ, mà chỉ có một điểm duy nhất nhỏ như cái chấm bút chì,

[1:27:05]đó mới là đúng với chân lý, còn lệch qua một chút xíu là không phải. Mà chúng ta làm sao chọn được cái điểm đó? Ví dụ như nói thế này, nói là: "Ở hiền gặp lành, gieo nhân nào thì gặt cái quả đó, người bố thí sẽ được giàu sang, người giết người sẽ bị giết hại trở lại", đó. Những cái câu nói như vậy thì đúng là nhân quả thôi, không có gì sai, nhưng mà coi chừng, nó chưa có đạt được cái điểm chính xác như là cái chấm bút chì, nó còn cách cái điểm đó tới hai ba thước. Còn rất là xa mới đúng được cái chân lý của nhân quả nghiệp báo. Hoặc là nói rằng người nói thiền nói là: "Con người ai cũng có Phật tánh, chân tâm.

[1:27:44]Chân tâm đó vốn nào giờ thanh tịnh. Tại vì bụi trần che lấp nên mình không có tự ngộ được", vân vân. Cái câu nói đó ai cũng nói được hết. Từ bên Đông, Tây, cổ, kim, ai học được một chút đạo Phật, một chút thiền đều có thể nói cái câu giống hệt như vậy. Nhưng mà sự thật làm sao? Sự thật nó cách chân lý hết nửa thước rồi. Cách cái điểm mà chấm bút chì đó hết nửa thước rồi. Đó, như vậy đó. Hoặc là có những người nói cái định thế nào, huệ thế nào, đó, rồi chánh niệm tỉnh giác là làm sao, đó, cái đạo Phật cứu cánh giải thoát là làm sao, nói rất là lưu loát, nhưng mà sự thật nó cách cái điểm chấm bút chì của chân lý là hết hết là hết một tấc, hết nửa tấc, không phải là dễ.

[1:28:29]Cho nên ở đây, chúng ta đừng có tưởng rằng nghĩa là ai nói thiền, nói đạo, nói chân tâm, Phật tánh đều là nói đúng chân lý đâu, chưa chắc đâu, chưa chắc đâu. Có một lần, có một người bên nước ngoài về thì thầy nhìn thấy người này là người học nhiều, đọc sách nghiên cứu về thiền, về đạo Phật rất nhiều, mà người này rất là tự hào về cái cái sở học, cái kiến thức của mình về đạo. Nhưng mà lúc đó, ngay lúc đó thầy cũng cảm nhận được rằng, mặc dầu người này học rất nhiều, có kiến thức nhiều, nhưng chưa có tìm được cái điểm chấm của cây bút chì, vẫn còn cách cái điểm đó hai ba tấc, hai ba tấc như vậy.

[1:29:09]Nên thầy có kể lại cái câu chuyện này và thầy thành thật khuyên. Thầy nói: "Đừng có chủ quan với những cái mình biết, bởi vì những điều người ta nói, nó thật sự là nó cách cái điểm chấm bút chì, cái chân lý thật sự cách tới nửa tấc, một tấc, hai tấc, ba tấc. Thấy giống nhưng mà không phải." Đây là câu chuyện mà thầy tâm đắc nhất, thầy thích thú nhất trong cái tập truyện Góp nhặt cát đá này. Ở đây, quý huynh đệ ráng tu làm sao để mình có cái nhãn quan, khi ai nói lên vấn đề nào là nhìn thấy được cái điểm chấm bút chì liền, biết người ta nói cách cái điểm đó nửa phân, một phân hay là một tấc, hai tấc, biết liền.

[1:29:46]Đó, phải đạt được như vậy để mình không có đi sai, đi đúng con đường của chánh pháp.