Transcript: Sự Khác Nhau Giữa Chứng Thiền Và Chứng Thánh - Thiền Thất Hương Vân

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:08:46

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:09]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:22]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:35]Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[0:47]Cung thỉnh Thượng tọa giảng sư đăng pháp tòa. Thưa con, con kính bạch trên hòa thượng, con kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni, và kính thưa quý Phật tử, hôm nay thật là vinh dự trong cái không khí thiêng liêng này, con được về đây theo lời dạy của thầy để có một bài pháp, thứ nhất là cúng dường trên Phật Hoàng Trần Nhân Tông, cúng dường trên thầy, cúng dường đại chúng, và cũng là món quà tặng cho quý Phật tử trong cái cơ hội hiếm hoi này. Vì trước mặt chúng ta là một khối đá bằng ngọc, ừm nguyên khối mà tạc Phật Hoàng. Hòa thượng ta đây cũng hết sức là kỳ công mới thỉnh về đây được để cho chúng ta chiêm bái.

[1:46]Thì trong suốt một tuần để chiêm bái này, nhiều vị trong mấy ngày trước đã giảng về thân thế, cuộc đời, hành trạng của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, cho nên hôm nay chúng con xin phép không nói về nhiều về Phật Hoàng Trần Nhân Tông nữa, mà xin nói về một cái một cái tính chất của thiền. Cái đề tài hôm nay chúng ta chia sẻ với nhau là "Sự khác nhau giữa chứng thiền và chứng thánh".

[2:18]Từ rất lâu, hầu hết chúng ta nhầm lẫn giữa chứng thiền và chứng thánh cứ tưởng là một. Ta cứ tưởng ai mà tu đắc thiền định, có thể nhiếp được tâm, có thể nhập được định, có thể có thần thông là chứng thánh. Thực sự là ta đã lầm hoàn toàn, cái đó không phải. Hồi xưa chúng tôi cũng vậy, cứ nghĩ như vậy, hễ là ai nhiếp được tâm, nhập được định rồi, có thần thông là ta cứ xem đó là thánh, xếp vào là thánh. Đến khi xem trong kinh Trung bộ của Phật, Phật nói người ta có thể chứng đến tứ thiền mà vẫn chưa phải là thánh. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên về điều này và một thời gian rất dài không hiểu điều này.

[3:06]Nhưng mà Phật đã nói trong kinh thì không thể sai. Có cái gì đó mà ta không hiểu, có cái gì đó mà cả một thời gian rất dài điều này không được giảng trạch, phân tích chi ly, thấu đáo. Và chính chúng tôi trong cuộc đời tu hành của mình cũng từng chứng kiến những cái điều bế tắc. Ví dụ như có thể gặp một vị đó họ đắc được thiền định, thậm chí họ có thần thông, không bao lâu sau họ phát điên. Nói ủa, nếu mà đắc được thiền định là chứng thánh thì không thể phát điên. Vì với một cái vị mà chứng thánh quả Tu-đà-hoàn sơ quả thì ba ác đạo đóng lại vĩnh viễn, là không bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không bao giờ bị tâm thần điên loạn.

[3:56]Nghĩa là vị đó nếu có thể còn cái nghiệp của quá khứ, có thể bị bệnh thần kinh não, có thể bị bệnh thần kinh não gì đó, nhưng tuyệt đối không bao giờ bị tâm thần, mất tư cách. Nhưng mà ở đây thấy vị đó rõ ràng là họ đắc thiền, có thần thông, thiền ngữ thông suốt, phát điên. Rồi gặp một vị khác nữa, nghĩa là họ cũng đắc thiền, nói thiền ngữ là như mây như gió, nói như sấm như chớp và thực sự là sâu sắc, nhưng rồi vẫn phát điên. Cái điều đó làm chúng tôi cứ phân vân mãi không hiểu đây là gì. Rồi cứ nhớ lại cái đoạn trong Trung bộ kinh Đức Phật dạy là trong cái pháp này có tứ quả thánh là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán;

[4:46]trong pháp này có bốn mức thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; và Phật tách ra làm hai rõ ràng. Ngoại đạo có thể tu chứng tới tứ thiền mà vẫn chưa phải là một vị thánh. Và Phật nói điều rất là lạ: chỉ trong giáo pháp của Đức Phật mới có tứ quả thánh, còn ngoài giáo pháp này có thể người ta chứng được thiền định cao siêu vẫn không chứng được một phần nào trong tứ quả thánh này. Nghĩa là nếu ngoại đạo tu đắc lực có thể chứng thiền lên cõi trời luôn, mà lên tới cõi trời rất cao, thậm chí là vào cõi trời Vô Sắc giới, tâm tan luôn vào trong vũ trụ, không có hình hài, chỉ một cái tâm tan trong vũ trụ và an trú

[5:32]trong đó vài triệu năm, hết phước, động niệm trở lại rớt xuống lại liền. Lạ lùng như vậy. Nghĩa là cái thiền chứng của người ta lệ thuộc vào cái phước của người ta. Hễ là phước cao thì chứng thiền cao, phước thấp chứng thiền thấp. Phước dày thì an trú trong thiền định rất lâu, phước mỏng an trú trong thiền định ít, tắt rớt trở lại liền. Đây là điều mà rất là lạ. Mà nếu không tu thiền thì ta không phải đạo Phật. Vì cái lõi của đạo Phật là thiền định. Tu gì thì tu, ta đến với đạo Phật, ta đến bằng nhiều cái cửa. Có đến bằng nhiều khi nghe một bài hát thích thôi cũng tìm đến chùa quy y, thấy tượng Phật đẹp thích vào chùa

[6:20]quy y, vô tình nhà mình có đám tang, quý thầy quý cô về tụng cho bài kinh cầu siêu cảm động quá đến chùa quy y, hoặc là mình bế tắc trước cái cõi chết, cái đến học cái pháp môn Niệm Phật Tịnh Độ rồi đến với đạo Phật, hoặc là mình bị bệnh gặp vị thầy Mật tông niệm cho câu chú cái mình uống miếng nước hết bệnh, đi bằng cửa đó mình đi vào đạo Phật, nhưng cửa gì thì cửa, cuối cùng vẫn phải là thiền định. Vì Đức Phật của chúng ta nhờ thiền định mà mà đắc đạo. Nhưng con đường thiền là con đường thiên nan vạn nan, không nói tới thời gian. Nghĩa là cái người mà tu thiền không bao giờ biết được bao giờ mình mới có thể chứng ngộ, cứ chỉ tu,

[7:04]tinh tấn tu, tinh tấn tu và trong đầu mình cứ nghĩ yên tâm 1.000 kiếp. Và cái tâm thế đó đó, cái tâm thế đó đủ sức để đi qua 1.000 kiếp khi bắt đầu ta vào tu thiền. Mà tu cho đúng nha, tu sai là ngàn kiếp không chứng á. Vậy á mà nhiều khi bất ngờ trong 5 năm sau chứng một cái, một cái tầng bậc nào đó không biết được. Nhưng trong đầu không được nghĩ đến vài tháng vài năm, mà trong tâm lúc nào cũng nghĩ đến việc kết quả là của vài ngàn kiếp sau, nhưng mà kết quả đến có khi rất là bất ngờ, không ngờ được. Thì ai mà đến với đạo Phật đã lâu ngày, dày tháng, tu tập tinh tấn có chiều sâu rồi đều phải từ

[7:50]từ bước vào con đường thiền định, không còn con đường nào khác. Còn ví dụ như ta ta dung nhiếp hết mọi pháp môn, bởi vì mỗi pháp môn đều có một lợi ích gì đó cho chúng sinh, nhưng khi chúng sinh nào mà đã đủ căn cơ, đủ trí tuệ rồi đều phải bước vào thiền hết. Hôm nay ta nói thẳng thắn điều này vì trước mặt ta là tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông, người đã khai sáng lên một cái thiền phái cho Việt Nam ta, người đã quy tập lại, tổ chức lại Giáo hội Phật giáo của ta từ bắt đầu từ thời nhà Trần. Nghĩa là một vị vua anh minh, là can đảm, ba lần chỉ huy đất nước này, thật ra hai lần thôi, lần đầu là vua cha là Trần Thánh Tông,

[8:40]hai lần sau là ngài làm vua chỉ huy và đánh tan được ngoại xâm. Khi đất nước yên bình rồi nhường ngôi đi tu, mà thật ra ngài đã ngộ đạo từ khi còn ở trong trong cung. Đây là điều rất là đặc biệt. Rồi cái ân đức để lại rất là lâu cho dân tộc ta. Nhưng mãi một thời gian rất là dài, qua các triều đại hình ảnh ngài thật sự có bị lu mờ, ít được nhắc tới, nhất là những giai đoạn mà đất nước ta bị bị ngoại xâm, bị xâm lược. Ngày hôm nay khi đất nước ta đã hòa bình, thống nhất, độc lập, những giá trị của dân tộc ta được khôi phục, được phục dựng lại thì cái uy danh của ngài bắt đầu sống dậy. Thì điều này nó nó là biểu hiện cho hai điều:

[9:32]một là đất nước ta đã đến vào thời kỳ mà độc lập, tự chủ, phát triển; điều thứ hai là ở trên cõi cao ngài đã vượt lên một cái cảnh giới rất là là lớn, rất là vĩ đại, ứng với cái phước đó ngày hôm nay uy danh của ngài trở nên lừng lẫy trở lại, ta nhớ như vậy. Ta nhớ như vậy vì thật sự không ai ở cõi người chứng một lần là chứng tột cùng cả. Sau Phật thường là như vậy, không ai chứng một lần chứng tột cùng, có vị còn phải trở lại, có vị không trở lại, nhưng ở trên cõi trên các ngài vẫn tu hành và nhiều khi chứng được những quả vị cao hơn, mà cái quả vị trên đó nó sẽ ứng dưới dưới dưới cõi người này.

[10:18]Ví dụ như là ngài Vạn Hạnh vậy, hoặc ngài Từ Đạo Hạnh cũng vậy. Ngài Từ Đạo Hạnh vậy nói: "Ta tịch sẽ để lại nhục thân,

[10:31]rồi ta còn phải trở lại cõi người, rồi khi nào mà rồi ta lên trời, khi nào trên cõi trời đó ta nhập luôn Niết Bàn thì cái thân mà ta để lại đây tự nhiên sẽ tan hoại." Tức là trên đó các ngài vẫn còn phải tu và biết được cái quả vị của mình như vậy. Thì hôm nay là khi mà tượng Phật Hoàng, khi mà sự nghiên cứu về Phật Hoàng Trần Nhân Tông bắt đầu khởi dậy, phát triển, trở thành niềm tự hào thì ta cũng hiểu ở trên cao kia Đức Phật Hoàng của chúng ta đã vượt lên một cảnh giới rất là cao. Rồi ta không nói được vì ta chỉ là người trần mắt thịt. Bây giờ ta trở lại cái vấn đề là sự khác nhau giữa chứng thiền và chứng Thánh,

[11:15]là nếu nói là cái người mà chứng thiền rất sâu, thậm chí đắc được thần thông mà không phải chứng quả Thánh, chưa chắc là chứng quả Thánh và có lúc sẽ bị thoái đọa. Có khi họ thoái đọa trở lại cõi người bình thường và có những người thoái đọa một cái trở thành điên loạn luôn. Như trong Kinh Lăng Nghiêm nói vậy, người tu thiền, chứng thiền có thần thông, có thần thông rồi bị ma ám, có thể làm điều bậy, phát điên và bị, bị pháp luật xử lý nữa, đến như vậy. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói về phần ngũ ấm ma rất là rõ thì đó là những người chứng thiền mà không chứng Thánh. Còn chứng Thánh rồi, không có cái chuyện mà

[11:57]bị đọa ba đường ác và bị điên loạn, nhớ như vậy. Nên chứng Thánh là Tu-đà-hoàn là như vậy. Nhưng mà trong các quả Thánh á, từ cái quả mà Nhị quả Tư-đà-hàm cho tới A-na-hàm, A-la-hán, cái thánh tính của người ta hiện ra rất là rõ. Nghĩa là gặp một vị mà chứng Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán là ta thấy bộc lộ ra liền cái tư cách, tư cách siêu nhân, một người đặc biệt phi thường, điềm đạm, hư vô, cao siêu liền. Nhưng riêng có một vị Thánh mà khó hiểu nhất là vị Thánh Tu-đà-hoàn. Vị Thánh Tu-đà-hoàn á là nhìn vào ta không thấy đặc biệt, không thấy đặc biệt, nhưng mà quả chứng nằm ở trong rồi. Vì sao vậy?

[12:38]Vì quả chứng Tu-đà-hoàn không đòi cái thiền định cao, chỉ cái người mà nhiếp tâm trong thiền định đạt được cái chánh niệm tỉnh giác ban đầu thôi, vọng tưởng chưa hề hết, vọng tưởng vẫn khởi. Tâm sáng lên trong chánh niệm tỉnh giác và bất ngờ do cái nhân duyên lành gì đó, phá được ba kiết sử: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, vị đó chứng Tu-đà-hoàn và ta nhìn vào ta không biết, ta không hề biết vị đó chứng Thánh. Ví dụ như vị đó có tới lui trở lại cõi người này, có khi xuất gia, thậm chí có khi làm cư sĩ, nhưng mà mang trong tim mình một ngọn đèn của thánh quả cứ cháy leo lét, leo lét trong đó mà người đời không biết.

[13:19]Và nhiều khi người đời xúc phạm á, có khi nói xấu, có khi nghĩ xấu nữa, nhưng mà thực sự đó là một vị Thánh và ta ít biết vị đó lắm. Thậm chí có khi trở lại cõi này vị đó ở trong kiếp mà không tu thiền nhiều nữa. Lạ như vậy. Có những vị trở lại tu thiền rất là tinh tấn để vượt lên, nhưng có cái vị vì nhân duyên gì đó trở lại cũng không tu thiền nhiều, nhưng mà đặc biệt là một người quân tử, người tốt, tâm từ thiện vị tha rất là lớn. Quý Phật tử có bao giờ cảm nhận được trong đời mình đã gặp một vị mà mình nghi ngờ là vị đó chứng Thánh chưa? Có bao giờ chưa? Có chưa? Chưa phải không? Đây thầy chỉ cho, nha.

[14:06]Thứ nhất, vào nhà Tổ, nhìn vào đôi mắt của vị, của Hòa thượng Sư ông là Hòa thượng Sư phụ của Hòa thượng đây, Hòa thượng Thượng Hồng Hạ Sáng ở trong ấy, hãy nhìn vào đôi mắt đó. Đó là đôi mắt của một vị Thánh á.

[14:22]Có vào nhà Tổ lễ Tổ chưa ạ? Có mấy người chưa nha, vô chùa làm biếng à. Hãy vô đó nhìn đôi mắt á. Đó đôi mắt của một vị Thánh á, từ bi sâu xa, kỹ lưỡng, tinh tế. Nên cái khó nhận ra nhất là cái vị, vị Thánh Tu-đà-hoàn vì cái chứng thiền không cao, chỉ mới chứng cái ban đầu của chánh niệm tỉnh giác thôi. Tâm rỗng sáng một chút xíu, vọng tưởng vẫn còn nhiều, nhưng mà đạo đức, quan điểm thay đổi tận gốc rễ. Đây là điều ta rất là khó hiểu. Còn những vị Thánh từ Tư-đà-hàm là đã cuối cái chánh niệm tỉnh giác, nên kiến giải, tư cách bắt đầu phi thường. Còn cái vị A-na-hàm là bắt đầu nhập vào Sơ thiền cho tới Tam thiền.

[15:11]Ở Sơ thiền, vị này có thần thông ít, nhưng mà ở Tam thiền thì cái vị mà A-na-hàm là thần thông quảng đại, đi mây về gió, phi hành biến hóa được, đi xuyên qua tường được. Cũng là A-na-hàm, nhưng mà nếu A-na-hàm mà chứng ở Sơ thiền thì thần thông chưa nhiều, còn A-na-hàm mà chứng tới Tam thiền thì đi xuyên qua vách đá luôn, bay lên được luôn. Còn mà A-la-hán thì bắt buộc cái mức thiền tương ứng phải là Tứ thiền. Rõ vậy. Nhưng ngược lại, có người tu chứng chánh niệm tỉnh giác, rồi nhập vào Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, có thần thông quảng đại, chưa hề chứng được quả sơ quả Tu-đà-hoàn.

[16:02]Đây là điều rất là lạ nha. Nghĩa là người mà chứng Thánh á, bắt buộc phải có một cái mức thiền định tương ứng, nhưng mà người chứng thiền á chưa chắc chứng được thánh quả nào. Đây là điều rất là lạ. Nên hôm nay, khi nói về điều này, ta đang nói một điều rất là sâu trong giáo lý của đạo Phật, rất là sâu trong công phu thiền định, chỉ bởi vì cái nhân duyên là ta tôn vinh là tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Nên hôm nay những người nào trong pháp hội này nghe cái bài này mà có thể hiểu được thì là nhân duyên rất là lớn. Hồi thời Đức Phật á, ta hay có các danh xưng là Tôn giả, Trưởng lão, Tỳ-kheo hoặc là Hiền giả.

[16:50]Vào thời các Thiền sư Trung Hoa thì chỉ có cái danh xưng là Thiền sư, là vị đó đắc thiền, nhưng mà đắc Thánh hay không hổng biết à nha. Nên cái chữ "thiền sư" rất là chung và chính vì thế mà ta nhầm cho đến hôm nay, cứ tưởng ai chứng thiền là chứng Thánh, nhưng sự thật không phải. Như có một câu chuyện thế này, lần đó là trong pháp hội của ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn ấy, ngài giảng pháp, cái ngài Sơ Sơn cũng là một người chứng thiền mới phản đối cái đạo lý của ngài Hương Nghiêm, đứng lên phản đối. Cái ngài Hương Nghiêm mới nói: "Nếu mà ông phản đối thì ông có cái ý kiến gì, ông nói ra đi." Thì ngài Sơ Sơn mới nói:

[17:34]"Muốn tôi nói thì ngài phải lễ tôi ba lễ." Ngài Hương Nghiêm xuống pháp tòa lạy ba lạy liền. Ông kia ổng mới trình bày đạo lý thì ngài Hương Nghiêm mới nghe là biết ông này chứng thiền mà chưa chứng Thánh. Thì ngài mới nói câu này, ngài mới thọ ký câu này: "Nếu ông nói như vậy thì 30 năm ông ở rừng không có củi đốt, ở suối không có nước uống và ăn vô bao nhiêu ói hết ra bấy nhiêu." Ngài thọ ký xong, đúng là từ giờ phút đó ngài Sơ Sơn bị như vậy tới 30 năm mới trả hết cái nghiệp đó. Vì chứng thiền có kiến giải rồi, không phải chứng Thánh, nói vẫn trật. Khiếp như vậy! Nhưng mà lúc đó, các vị vẫn chưa minh định ra làm hai cái chứng thiền và

[18:18]chứng Thánh mà điều này thì trong Kinh Trung Bộ ngày xưa có nói, nhưng mà không được lý giải nhiều vì, nên do đó là ta hay bị, bị nhầm, vậy. Bây giờ ta phân tích là những dấu hiệu của một người chứng thiền là thế này: là khi ta bắt đầu dụng công tu tập thiền định thì không có kết quả gì hết. Ông thầy ổng dạy cho mình cách nhiếp tâm trong hơi thở hay trong quán chiếu thì vọng tưởng cứ tuôn trào và mỗi thời ngồi thiền rất là đau khổ. Chân đau, người ngứa, tê, không nhúc nhích được mà khổ sở, khó chịu. Nhưng mà nếu người nào trong cái khổ sở, khó chịu đó vẫn tinh tấn tu tập, không bỏ, không nản là vì kiếp trước mình có cái công đức gì đó rồi.

[19:11]Còn cái người mà kiếp trước không có công đức á, ngồi thiền được, đau chân mấy bữa bỏ liền, là người biết đời xưa không có gieo duyên. Còn người đời xưa có gieo duyên á, bây giờ ngồi thiền bất động, chân đau vẫn không nản mà tâm thì vẫn loạn thì cái thời gian mà thời gian mà dụng công không kết quả này có khi kéo dài 5 năm, 10 năm tùy người. Đau khổ suốt 5 năm, 10 năm không kết quả gì hết. Qua suốt cái thời gian này cộng với một đời sống tốt lành, thánh thiện, bắt đầu xuất hiện kết quả đầu tiên là chánh niệm tỉnh giác, tâm bắt đầu rỗng sáng. Tâm bắt đầu rỗng sáng, không bị vọng tưởng chi phối nhưng vọng tưởng vẫn tồn tại.

[19:56]Vọng tưởng không hết, không tắt, nhưng mà mình không lầm theo vọng tưởng, tâm sáng tỏ. Giai đoạn này kéo dài có khi 30 kiếp, có khi 3 năm. Có khi 3 năm rồi nhập vào Sơ thiền, có khi 30 kiếp sau mới vào được Sơ thiền, không cố định thời gian. Nhưng trong cái giai đoạn mà chánh niệm tỉnh giác, tâm rỗng sáng này, ta có cơ hội chứng hai quả Thánh là Tu-đà-hoàn và Tư-đà-hàm. Đó là cái thiền là như vậy. Nhưng cái biểu hiện của cái người mà chứng thiền á là thế này: là thường có biểu hiện tự tại, chứng từ chánh niệm, Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, vị này có biểu hiện tự tại, rất là thong dong, thanh thản, trầm lắng.

[20:42]À nếu có nói ra đạo lý gì, thường nói ra cái đạo lý là tự tại, buông bỏ, không chấp, nói cái gì cũng không. Nên ta nghe một vị tu thiền mà nói cái gì cũng không, biết vị này có an trú trong thiền, nhưng mà chứng Thánh hay không, không biết à. Nói cái gì cũng không, à thôi không đến, không đi, buông bỏ đi, vân vân, biết vị này chứng thiền. Tâm tự tại, phong cách thong dong, tự tại, ánh mắt nhìn trầm lắng, à không vướng bận chuyện thế gian nhiều là dấu hiệu của người chứng thiền. Cái biểu hiện thứ hai của người chứng thiền nữa là có thần thông. Có thần thông, thần thông từ thấp cho tới cao. Thấp là biết được tâm người khác, đoán được tâm, đoán được tính chất người khác,

[21:36]đoán được cuộc đời, vận số người khác, đoán được những việc sắp xảy ra tới mình. Là đoán trước có khi nhiều, có khi ít, nhưng mà đều có dấu hiệu đó. Có dấu hiệu đó phớt phớt phớt phớt phớt phớt. Ai sắp tới thăm mình, mình biết trước. Ai nghĩ tới mình, mình biết trước. Hoặc là nhìn một người biết được bản chất người đó tốt bao nhiêu phần, xấu bao nhiêu phần. Rồi người đó cuộc đời người đó nhiều cái điều tốt đẹp hay là những cái điều không tốt chờ đợi cũng biết được. Thậm chí là nhiều khi nhìn một người cảm nhận được luôn kiếp trước của người đó luôn. Đó là biểu hiện thứ hai của người chứng thiền á là dấu hiệu của thần thông.

[22:14]Biểu hiện thứ ba của người chứng thiền á là kiến giải lanh lợi. Kiến giải lanh lợi là nói kinh nói điển hay đối đáp thiền ngữ cực kỳ nhanh nhẹn, chớp nhoáng mà sâu sắc. Cái người mà không chứng thiền không thể nói được như vậy. Họ nói ý ẩn ý sâu xa mà ẩn chứa nhiều cái kiến kiến giải rất là... Ví dụ như có một người đến hỏi một thiền sư: "Thế nào là đại ý Phật pháp?" Ông thiền sư ổng nói: "Cây bách ở trước sân." Ngài Triệu Châu nói: "Cây bách trước sân." Bây giờ ta nghe ta có hiểu đó là gì không ạ? Ví dụ như bây giờ ta đến hỏi hòa thượng đi: "Bạch thầy, thế nào là đại ý của Phật pháp, thầy gom cho con trong một câu thôi?" Hòa thượng mới nói:

[23:01]"Cây bồ đề trước sân." Thì mình nghe mình có ngộ không ạ? Nhưng mà cái người mà chứng thiền họ nói rất nhanh và trong đó ẩn chứa cái đạo lý sâu xa mà không có được suy nghĩ à. Mà ngài nói ngài cũng không suy nghĩ nữa. Mà ngài thấy làm sao ngài nói vậy. Ngài thấy cây bồ đề trước sân đó chính là đại ý Phật pháp, ngài nói toạc ra. Mà không suy nghĩ, không tính toán, không giấu giếm, không ẩn dụ, không ẩn dụ. Vì ngài thấy thế ngài nói thế: "Cây bồ đề trước sân". Đó là toàn bộ Phật pháp hết. Nghe hiểu không ạ? Ai mà thấy được như đó thì cũng chứng thiền luôn rồi. Giơ tay lên cho thầy biết. Nên cái kiến giải rất là lanh lợi của người chứng thiền.

[23:44]Cho nên, kiến giải lanh lợi rồi nhưng mà chưa phải chứng Thánh này nha, mới chứng thiền thôi á. Một cái đặc tính của người chứng thiền nữa là vẫn có thể thoái thất. Cái thoái thất của người chứng thiền á nó gồm có hai cái trường hợp là thoái thất ngay trong kiếp này và một cái trường hợp là thoái thất của nhiều kiếp sau. Cái người chứng thiền lại là không bảo đảm. Là vẫn tiến rồi lui được, tùy phước. Hễ phước còn thì còn an trú trong thiền định, phước hết trở lại người tầm thường mà thậm chí thua người tầm thường. Ủa, nói: "Tại sao lại chứng thiền rồi mà có thể thoái thất thua cả người tầm thường?" Bởi vì lúc chứng thiền mình tưởng mình chứng Thánh.

[24:31]Người nào khi chứng thiền mà lầm tưởng mình chứng Thánh thì khi hết phước của thiền lui lại thì tệ hơn cái người bình thường. Đây là điều sợ chưa ạ? Sợ chưa? Ví dụ như người ta là người bình thường, người ta cứ ăn, cứ mặc, cứ sống bình thường rồi chết, không nói gì hết. Còn mình tu thiền đắc được thiền định, nhập được định, thậm chí có thần thông, ngồi có thể phát hào quang trong ban đêm. Đến khi hết phước nó lui lại một cái, bắt đầu dở dở ương ương, tâm thần bất định, nói năng bậy bạ, không làm được việc, rồi xé quần xé áo ra ngoài đường đi ăn xin. Nghe sợ chưa? Tức là lui hơn cả cái người tầm thường luôn. Chỉ vì sao?

[25:16]Chỉ vì lầm tưởng chứng thiền là mình đã chứng Thánh, tự coi mình là Thánh. Chính cái lầm tự coi mình là Thánh á là phước mất sạch và phước nó âm luôn. Thiếu phước luôn thành tội luôn. Cái ý nghĩ mà tưởng mình chứng Thánh rất là tai hại. Đó là thoái thất ngay trong kiếp này. Còn nếu mà thoái thất ở những kiếp sau là thế này: Vị đó chứng thiền xong, chưa thoái thất, chết lên cõi Trời luôn. An trú trên những cõi Trời rất là cao. Mà ở trên cõi Trời đó có khi ở 300 năm, có khi ở 3.000 năm, có khi ở một triệu năm, tùy cái mức thiền sâu hay cạn. Đến khi hết phước một cái rớt trở lại, xuống trở lại. Mà cũng tùy nha, nếu mà tưởng mình chứng Thánh,

[25:59]rớt trở lại một cái làm con người ngu ngu dại dại luôn, thua người tầm thường. Còn nếu mà không có ý nghĩ rằng mình chứng cao thì rớt lại làm một người bình thường. Nên ta đi ra đường, nếu ta gặp người nhiều khi thấy họ dở dở ương ương, thiểu năng, đừng coi thường. Biết đâu người này đã từng chứng thiền rất cao, bây giờ bị thoái đọa vì lầm tưởng mình chứng Thánh. Cái người mà chứng thiền sâu á còn được một cái biểu hiện này nữa là có thể tịch tự tại. Muốn chết là chết. Biết trước giờ chết, chuyện vặt. Ví dụ nói: "À, thầy nói tụi con nghe nha, tuần sau là thầy tịch đó nha, rồi coi mà về." Tức là biết trước và chờ đợi cái chết đến với mình.

[26:44]Chuyện đó còn rất nhỏ, rất là vặt. Còn mà chứng thiền mà cao rồi đó, nói: "Thôi tháng sau thầy tịch." Cái đệ tử nói: "Thôi thầy ơi, tụi con về chưa kịp." Thì thôi thầy hẹn: "Tháng sau, hai tháng đi." "Ờ, thôi được hai tháng." Qua khỏi tháng rồi, thấy tụi con về đủ mà: "Thôi tụi con đủ rồi, không đủ cần đủ hai tháng đâu, thôi lát thầy tịch cho rồi." Lát leo lên ngồi tịch liền. Tức là muốn chết là chết. Đó là người chứng thiền, mình nể chưa? Rất nể! Vẫn chưa phải chứng Thánh. Sợ chưa? Nên có một cái chuyện về một cái thiền sư mà trong chúng có một cái người nhập định luôn mấy ngày? Bốn, năm ngày.

[27:23]Chúng mới báo ông thầy tri sự. Ông thầy tri sự xuống kêu ông đó ra hỏi: "Nghe nói ông nhập định được ba, bốn ngày. Đâu ông nói một câu thiền ngữ tôi nghe?" Ông kia không nói được, vô trong giường ngồi bắt chân lên tịch luôn. Tịch xong đem làm lễ trà tỳ thiêu ra được một đống xá lợi. Thì cái ông thầy tri sự mới lại ổng cầm cái cây gậy ổng gõ gõ lên cái cái hộp bình xá lợi đựng xá lợi, ổng gõ cốp cốp vậy. Ổng nói: "Giờ ông có thiêu ra được mấy đấu xá lợi không bằng lúc tôi hỏi ông nói một câu thiền ngữ cho nó đúng cái đã." Và ổng cho rằng ông này chứng thiền thật sự, chưa chứng Thánh, đạo lý chưa thông.

[27:57]Khiếp chưa? Nên người xưa người ta thấy rõ điều đó. Ờ và khi mà ta tu tập thiền định, nhớ như vậy, kiến giải của ta đầu tiên là coi chừng chứng thiền không phải chứng Thánh. Đó, phải biết rõ. Đó là những điều mà ta nói về những người chứng thiền. Bây giờ ta nói về đặc tính của những vị chứng Thánh. Phật lập ra cái thang mười kiết sử để đánh giá một vị chứng Thánh

[28:25]là mười tiêu chuẩn của đạo đức. Dựa vào mười tiêu chuẩn của đạo đức này mà đánh giá là chứng được quả nào trong bốn quả Thánh. Phật cũng đưa ra tiêu chuẩn để xác định cái tứ thiền, tức là định được cái chỗ nào thì là chứng thiền thứ mấy, tâm nhiếp được vào chỗ nào thì chứng thiền thứ mấy. Nhưng riêng đối với tứ thánh quả, Đức Phật lại không nói cái thiền mà lại nói về đạo đức. Để một người chứng được Tu-đà-hoàn thì phải phá được ba cái kiết sử, tức là ba cái xấu ở trong chúng sinh có: Thứ nhất là thân kiến là ích kỷ. Thứ hai là nghi là không đủ lập trường lý tưởng, niềm tin để tu, nên người này cứ dao động.

[29:13]Thứ ba là giới cấm thủ là chấp nguyên tắc mà không, quên mất cái mục tiêu, quên mất cái mục tiêu. À nói về ba cái kiết sử này ta nói cả đời không hết. Nhưng mà một vị mà chứng Tu-đà-hoàn rồi, phá được ba kiết sử này rồi, ta thấy họ có những biểu hiện thế này: Thứ nhất, vì phá được thân kiến, ích kỷ, nên họ sống rất vị tha, không sống cho mình. Cái vị tha này nó chưa phải là cái vô ngã như một vị A-la-hán tuyệt đối, nhưng họ sống tâm rất là thiện, rất là quân tử, vì người, vì đời, không vì mình. Mà mỗi lần làm cái gì cho mình, thấy hổ thẹn. Đó là lý do mà từ chiều nay khi đến chùa gặp được Hòa thượng,

[30:02]Hòa thượng không nói mà thầy cứ nghi nghi Hòa thượng này ổng chứng Tu-đà-hoàn. Tại cả một đời cứ đi lo cho người khác, nuôi trẻ mồ côi ha, làm những việc cho Phật, và những cái kiến thức, những cái trí tuệ, những cái sáng tạo không thể tưởng tượng được. Thầy ngồi nãy giờ thầy cứ nghi như Hòa thượng chứng Tu-đà-hoàn rồi hay sao á, thấy nhiều cái ổng đặc biệt á. Và khi mà vào nhà tổ gặp vị thầy của Hòa thượng đây, nhìn vào đôi mắt, mình nói: "Ông này ổng chứng thánh rồi. Với đôi mắt này người này là chứng thánh, yên tâm." Đó. Nên cái người Tu-đà-hoàn quý vị, thứ nhất là họ sống vị tha. Cái tâm từ thiện thôi thúc, họ không sống một mình được.

[30:40]Ví dụ một người chứng thiền á, có thể ở yên trong cốc nha, không tiếp xúc với ai. Ở trong cái thất vắng, trong am vắng cả mười năm, hai mươi năm hổng nói chuyện với ai được. Họ an trú trong thiền định, hạnh phúc trong thiền định và không cần cuộc đời. Nhưng một người mà chứng quả thánh Tu-đà-hoàn không ở trong cốc á, mà đi đâu? Ra ngoài đường đi đắp đường, đi làm phước, giúp đời, giúp người vì cái tâm từ thiện, tâm vị tha nó thôi thúc người ta. Đó là cái dấu hiệu thứ nhất. Dấu hiệu thứ hai của một vị chứng Tu-đà-hoàn là phá được cái nghi, tức là niềm tin là lý tưởng tu hành như sắt như đá, không ai có thể làm lung lay được.

[31:24]Đối với Phật niềm tin là tuyệt đối, vì Phật chết chết liền, không có do dự một giây nào hết. Nếu lúc đó cần phải chết vì Phật, chết liền, không sợ. Và cái lập trường tu hành thì đừng hòng ai làm cho dao động. Đừng hòng ai nói thôi, sống trên đời này làm ừm có thì phải lo mà hưởng, ha. Ừm tài sản, danh vọng, vợ con, nhà cửa đồ thì có phải mà hưởng. Ừm chớ thôi để từ từ tu, chừng nào già già tu, người đó không chấp nhận, không chấp nhận lý luận đó. Vì sao? Vì cái lý tưởng tu hành nó cứ thôi thúc từng ngày từng ngày từng giờ trong tâm mình. Nên người đó cái lòng tin đối với Phật là tuyệt đối, cái lập trường hướng về sự giác ngộ giải thoát là không ai làm lung lay được.

[32:10]Đó là dấu hiệu thứ hai. Dấu hiệu của đạo đức không à. Cái thứ ba là phá được giới cấm thủ, lúc nào cũng nắm cái mục đích mà vượt qua nguyên tắc. Tôn trọng nguyên tắc nhưng khi cần vượt bỏ nguyên tắc liền. Ví dụ như hôm nay quý vị, ừm chúng tôi đến cái ngôi chùa có có chuyện viếng thì vào trong nhà ăn ăn. Thì cái một người ăn xong, họ mới để cái khay của họ thì cái người bên cạnh mới gom cái khay đem đi để dọn. Thì một cái người ở trong chùa mới đến rầy, nói: "Ai ăn nấy bưng dọn, không được để cho người khác dọn." Mà họ rầy la coi căng thẳng lắm. Lúc đó chúng tôi mới mới rầy cái người kia, chúng tôi nói:

[32:51]"Sống với nhau bằng tình yêu thương, đừng sống bằng nguyên tắc." Ai dọn cũng được, miễn cái bàn sạch. Mà cái người dọn người ta vui người ta dọn giùm, chớ đâu có bị ai ép, phải không ạ? Và miễn cái bàn sạch được rồi, chứ sao cứ phải khăng khăng à trong nguyên tắc, trong thanh quy có đề ra à ai ăn xong phải tự mình dọn lấy phần của mình. Thì thanh quy có ghi cái đó thì đúng, để cho nó có cái nề nếp, kỷ cương. Nhưng mà nó không phải là tất cả, mà nó không thể cao hơn cái từ bi của Phật dạy. Sống với nhau bằng tình yêu thương, bằng từ bi, cái đó mới là cái đỉnh cao. Còn cái nguyên tắc thanh quy lập ra coi vậy chứ chỉ là

[33:28]cái tạm, con người lập ra được con người bỏ được. Con người tạo ra được con người xóa được, đổi được. Luật pháp thế gian cũng vậy. Như hôm nay là quốc hội biểu quyết cái luật này, qua vài năm quốc hội thay đổi qua luật khác. Luật con người tạo được, con người sửa được. Nhưng có những chân lý thì không ai sửa được. Cái từ bi, cái lòng yêu thương giữa người và người, đó là chân lý bất biến. Dù thời đại nào không ai được quyền phủ nhận điều đó được. Nên cái người mà họ chứng Tu-đà-hoàn rồi thì họ vượt khỏi cái cái cái mà chấp nguyên tắc. Biết khi nào giữ nguyên tắc, biết khi nào bỏ nguyên tắc để giữ được cái

[34:03]cứu cánh, cái lý tưởng, cái mục tiêu cao thượng của cuộc sống này. Chúng ta nhận ra được điều này không ạ? Nhận được điều này. Đó là cái dấu hiệu và nãy giờ ta không nghe nói tới thiền định, ta không nghe nói tới thần thông. Tức là một người chứng Tu-đà-hoàn không bắt buộc người đó phải nhập định được, không bắt buộc người đó phải ngồi thiền được lâu, không bắt buộc người đó phải có thần thông, mà người đó có ba cái dấu hiệu của đạo đức, của trí tuệ: không có cái à thân kiến ích kỷ, không có cái nghi hồ nghi, không có dao động hoang mang, và không có cái cố chấp nguyên tắc. Những điều này nó thuộc về gì?

[34:42]Đạo đức, triết lý cuộc sống. Do đó là cái người mà chứng Tu-đà-hoàn họ sống trong đời họ sâu sắc, họ tinh tế.

[34:54]Đó là dấu hiệu của vị thánh. Còn cái người mà chứng thiền á thường hay nói những điều tự tại, bỏ qua, bất cần,

[35:04]phớt lờ là dấu hiệu người này chứng thiền. Còn cái người nào mà sống trên đời tinh tế, sâu sắc trong cái cư xử với con người, ưu ái con người, quan tâm đến con người, kiểm soát kỹ trong từng hành vi của mình thì người này chứng thánh. Hai người khác nhau. Chúng ta phân biệt được chưa ạ? Còn cái người mà chứng thánh cao á, họ có cái quả vị cao, họ có cái thiền định cao thì họ có cả hai. Họ vừa có cái gì? Tự tại, siêu thoát, bất cần, thong dong, nhưng vẫn luôn luôn tinh tế, sâu sắc, ân cần, ưu ái với con người, họ có cả hai. À. Còn cái người mà chứng Tu-đà-hoàn mới ban đầu họ mới được một cái à.

[35:48]Một cái tinh tế, sâu sắc, ân cần với cuộc sống này, với cư xử với con người, nhưng mà cái thong dong, tiêu sái, tự tại họ chưa có. Còn cái người chứng thiền á thì họ có liền à, họ có liền cái ung dung, tiêu sái, tự tại, nhưng mà cái tinh tế, sâu sắc thì chưa chắc. Cho nên ta hiểu được điều này khi ta gặp người nào mà tu có cái gì lạ lạ ta đem cái này ra ta so ta biết rằng là vị này chứng thiền hay vị này chứng thánh hay vị này chứng cả hai. Mà nếu chứng cả hai là mức thiền ra khá cao, nhớ, đó, đây một dấu hiệu như vậy. Còn cái người mà chứng Tư-đà-hàm á, cái quả thứ hai á, trong kinh Phật dạy là mỏng nhạt tham sân.

[36:30]Tham và sân mỏng nhạt. Cái câu này mình nghe thường đúng không ạ? Nghe thấy bình thường quá hả? Nghe bình thường mà làm không nổi đâu, làm không nổi. Vì sao vậy? Vì cái tham, tham vọng, tham muốn, tham có tài sản, thậm chí tham có danh tiếng đều là những cái tham. Cái tham đó tiềm ẩn trong lòng ta thành một khối rất là lớn và không phải ai cũng có thể vượt qua được. Chỉ cái người mà chứng Tư-đà-hàm thì cái điều đó còn mà như không, nhưng mà chưa hết á, chưa hết hẳn, là chứng Tư-đà-hàm. Cái sân mình nghe thường quá hả? Coi vậy mà làm không nổi á. Cái người mà chứng Tư-đà-hàm á thì cái sân còn chứ

[37:17]không hết hẳn, nhưng đừng hòng ta khơi lên nổi. Ta không khơi nổi cái sân của người đó. Nghĩa là ta có thể chọc giận, ta có thể chửi mắng, ta có thể cướp, ta có thể làm cho người đó bị thương tích, ta có thể đánh đau người đó, ta lấy hết đồ người đó, ta hạ nhục người đó, ta vu khống người đó, đừng hòng thấy người đó nổi sân. Điềm nhiên, tỉnh mặt, nhưng mà trong góc sâu vẫn chưa hết sân. Vì góc sâu mà bứng hết sân thì chứng quả thứ ba rồi, nhưng mà quả thứ tư là đã được điềm đạm, hư vô. Gốc tham chưa hết, gốc sân chưa hết, nhưng mà đừng hòng ta thấy được cái tham, cái sân của người đó, vì nó mỏng nhạt quá.

[38:01]Đó là bậc chứng Tư-đà-hàm cộng thêm với cái đời sống vị tha như ta đã nói của Tu-đà-hoàn. Còn cái bậc mà thánh chứng A-na-hàm á, bậc thánh quả thứ ba á thì họ bứng sạch tham sân thì như hư như vô luôn. Người này đạo đức gần như tuyệt đối. Và thế gian này không ràng buộc được nữa. Cõi người này không ràng buộc được cái con người mà đã chứng A-na-hàm. Và chính vì cái tâm họ không còn tham còn sân nên cái duyên với cõi người cắt mất. Phật gọi người này là Bất lai, không trở lại cõi người nữa. Còn cái người Tư-đà-hàm á vẫn còn chút xíu tham, chút xíu sân cho nên còn phải làm sao? Trở lại một lần, Nhất lai.

[38:46]Còn chút xíu trở lại Nhất lai, còn A-na-hàm dứt sạch tham sân, cắt luôn bỏ duyên thế gian, không trở lại cõi người nữa, thế là Nhất lai. Còn Tu-đà-hoàn trở lại mấy lần? Mấy lần? Có một số luận bản thì nói bảy lần, nhưng trong kinh Phật gốc không nói mấy lần cả. Kinh gốc của Phật không ra con số bảy lần, thành thử có thể là bảy chục lần trở lại cõi này. Tái đi tái lại làm vua, làm quan, làm thầy tu, làm cư sĩ, làm trưởng giả, vân vân. Không biết, nhưng mà tới chừng nào mà chứng được Tư-đà-hàm thì chỉ còn phải trở lại một lần. Thế làm sao mà ta biết? Thì cái này không biết được đâu. Thường cái câu chuyện nổi tiếng trong nhà Thiền á là ngài Tô Đông Pha.

[39:31]Tiền thân của ngài là Ngũ Tổ Sư Giới, chứng một cái mức thiền có thể là mức Thánh rất là cao. Nghĩa là thiền ngữ như mây bay nước chảy, không ai đối đáp lại. Mà đến khi chết một cái, trở lại đầu thai làm Tô Đông Pha, bảy vợ, làm ông quan, có nhiều chính kiến đi tới chìm sâu trong chính trị. Nhưng mà có người bạn là Phật Ấn, người bạn này cũng dìu dắt tu hành, rồi sau này ông Tô Đông Pha ông mới chứng được cái kết quả là A-na-hàm. Cư sĩ mà ông chứng tới A-na-hàm, ông mới viết lại những cái kiến giải của mình về cái cảnh giới ông chứng, ta thấy đó là A-na-hàm và ông không bao giờ trở lại nữa. Còn cái đời làm Ngũ Tổ Sư Giới làm tăng á,

[40:14]vẫn phải trở lại một một kiếp để làm Tô Đông Pha. Cư sĩ là Tô Đông Pha nhưng lại chứng Bất Lai, không trở lại nữa, đi luôn. Và có thể giờ này ở trên cõi trên, ông chứng A-la-hán rồi, cũng không biết chừng. Nên cái nhân quả là vậy. Cái vị mà Thánh A-na-hàm á bứng sạch hết tham, sân và thần thông thì có người nhiều, có người ít tùy cái mức thiền. Vì A-na-hàm dao động trong mức thiền từ Sơ thiền cho tới Tam thiền. Nếu người chứng Sơ thiền thì có một số thần thông sơ sơ. Mình lại gần người đó, vị đó biết mình suy nghĩ cái gì liền, đoán ra. Sự việc thì sắp tới các ngài cũng biết được một số điều. Là, hoặc là nhìn mình, như các thiền sư nói là như cái tấm

[41:01]gương trong, hồ đến thì hiện hồ, Hán đến thì hiện Hán. Tâm các ngài trong, nên cái người nào đến trước mặt ngài thì toàn bộ bản chất người đó bộc lộ ra hết luôn. Người đó một ngày nói dối mấy câu, ăn ngày mấy bữa, là có hơn thua, ganh tỵ, lừa lọc gì là bị lộ ra hết liền. Đó là từ Sơ thiền là các ngài đã có thần thông. Còn mà nếu tới chứng tới Tam thiền thì thôi, siêu đẳng rồi, đi mây về gió vậy. Còn cái quả Thánh mà A-la-hán á, đây là điều rất là lạ này nha, mà nói ngoài Phật thì không ai có thể biết được tới chỗ mức độ mà tinh tế như thế này. Phật mới nói: Cái người A-na-hàm dứt hết tham, sân như vậy nhưng còn năm cái kiết sử cuối cùng.

[41:46]Năm kiết sử cuối cùng là thế này. Cái nói cái này đúng là thiệt, ta không thể nào mà không quỳ lạy Phật được. Không phải Phật, không ai có thể biết được chuyện này. Thứ nhất là vị đó còn, vị A-na-hàm á vẫn còn bị sắc ái, tức là yêu quý cái cõi trời mà cõi trời Sắc giới. Khi các ngài sinh lên đó rồi, cõi trời đó vi diệu quá, nên tâm các ngài có luyến ái bí mật, chính các ngài không biết. Ở trên cõi đó vi diệu quá! Cái cõi trời Sắc giới muốn gì có nấy, thân hình cao lớn, tất cả khí hậu ôn hòa tiện lợi, muốn mặt mày mình ra sao mặt mày ra, muốn tóc mình là sao, muốn y phục mình ra sao, muốn bay đâu thì bay, muốn đi đâu thì đi,

[42:28]về đâu thì về, tất cả mọi điều đều tự tại như ý. Ta đọc cái cuốn mà kinh Vô Lượng Thọ hay ta đọc cuốn kinh Quán A Di Đà diễn tả về cái cõi Phật Tây phương Cực Lạc, sự thật kinh đó diễn tả chỉ là một phần triệu của cõi trời Sắc giới mà thôi. Cõi trời Sắc giới thật sự vi diệu gấp triệu triệu lần cái điều mà trong kinh Di Đà diễn tả về cõi Cực Lạc. Khiếp như vậy! Cho nên một vị chứng A-na-hàm mà lên cõi đó rồi, tâm các ngài có ái luyến cái cõi trời Sắc giới đó, mà ái nó nhẹ, nó sâu đến nỗi các ngài không tự thấy. Cứ nghĩ là mình sống trong cõi trời an vui, tự tại rồi tu tiếp. À, đó là cái dở thứ nhất của các ngài, gọi là kiết sử còn lại: sắc ái.

[43:14]Cái thứ hai là vô sắc ái. Vô sắc ái là sao? Có những trường hợp những vị A-na-hàm không ở cõi trời Sắc giới mà nhập vào cõi trời Vô sắc, không còn hình hài, không còn hình thể, không còn hình tướng, tan hòa hết trong vũ trụ, mà cõi đó vi diệu vô cùng. Và các ngài có cái chút ái luyến của cái cõi đó, chính các ngài không biết luôn. Mà Phật thấy được, Phật mới thấy rằng các vị ở trong cõi đó vẫn còn cái tâm ái cái cõi đó, gọi là vô sắc ái. Cái dở thứ ba của một vị A-na-hàm là còn giải đãi, lạ lùng chưa? Lười biếng, lạ lùng chưa? Tu chứng Thánh tới đó rồi mà còn giải đãi không hay, không hay mới gọi là kiết sử.

[43:55]Chỉ có Phật mới nhìn ra thôi. Tại sao vị chứng tới đó rồi còn giải đãi? Vì cái quả vị A-na-hàm nó đem đến một sự an lạc lớn quá, thế nên các vị không cần phấn đấu nữa. Không thấy, không cần phấn đấu nữa. Nhớ như vậy nha. Khi ta được một điều gì quá lớn rồi, bỗng nhiên cái cái chí hướng phấn đấu ta mất. Nhớ như vậy, giống như thí dụ gì? Giống như ta có hai cái ví dụ: ví dụ như một cái người mà sinh trong gia đình giàu, thường là một người kém ý chí, kém nghị lực, đúng không ạ? Cái gì cũng có hết rồi. Thành thử nói: Thôi con đi học làm bác sĩ á? Nói: Thôi học làm bác sĩ rồi mình có bệnh mình chạy ra kêu mấy ông bác sĩ chữa à.

[44:36]Nói con đi làm giám đốc á: Trời, nhà mình thuê giám đốc đầy, mắc mớ gì con phải làm giám đốc, phải không ạ? Cái gì cũng có hết, nên không cần phấn đấu, hoặc là vậy. Hoặc khi một đất nước mà trong chiến tranh gian khổ á, người ta phấn đấu phải không, hy sinh cả mạng sống mình, đó là lìa bỏ cả gia đình thân yêu của mình đi lên đường để đấu tranh mà giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc. Nhưng đến khi hòa bình rồi thì sao? Giống như bây giờ thì sao? Giờ kêu chết cái: Thôi, sợ chết lắm, phải không ạ? Sợ, cái gì cũng sợ. Trong khi hồi trong khi chiến tranh, đất nước bị xâm lược thì lên đường cầm súng cầm gươm, không hề sợ chết.

[45:16]Đến khi thời bình rồi, bây giờ đang trong hưởng thụ rồi, giờ nói: Thôi bây giờ anh leo lên sửa cái dây điện đó giùm nha. Nói: Sửa nó có nguy hiểm không? Nói: Nó cũng có nguy hiểm, nếu anh té xuống thì anh chết thôi chứ không có gì đâu. Thì: Thôi thôi thôi, từ chối liền, sợ liền, thấy không? Nhưng mà hồi xưa mà nếu trong chiến tranh: Anh đi băng qua đó nha, địch mà nó gặp anh nó bắn anh chết, cầm gươm đi liền không sợ, phải không ạ? Còn bây giờ kêu làm gì cái mưa ướt: Thôi ra ngoài đó mưa ướt lạnh rồi bệnh rồi èo èo. Nghĩa là khi đã được nhiều quá, bỗng nhiên người ta mất hướng phấn đấu, thì A-na-hàm bị cái đó.

[45:48]Các vị ở trong cái quả vị đó an lạc quá, bỗng nhiên mất hướng phấn đấu. Và chính cái mất hướng phấn đấu đó bị Phật nhìn ra liền, Phật gọi là tâm giải đãi còn. Nói thiệt, không phải Phật, đừng hòng ai nhìn thấy những điều vi tế này. Và cái thứ tư, nhược điểm thứ tư của một vị A-na-hàm là còn kiêu mạn, lạ chưa? Tham hết sạch, sân hết sạch, người đạo đức như băng như tuyết, vậy mà vẫn còn kiêu mạn, vẫn còn thấy mình hơn người khác, lạ lùng chưa? Cái điều này nói không phải Phật, đừng hòng ai nhìn ra những cái chỗ mà vi tế đến cùng cực thế này. Nếu ta gặp một vị A-la-hán, ta sẽ thấy thế nào? Ta thấy vị đó như sao?

[46:33]Như hư vô, phải không ạ? Không còn gì nữa. Nội đây mình gặp Hòa thượng này thôi là mình đã muốn quỳ xuống lạy. Hồi nãy vậy, có vị thầy dắt thầy trong chánh điện giới thiệu, Hòa thượng bước tới, thầy nhìn thấy Hòa thượng, thầy đã quỳ xuống thầy lạy liền. Vì sao? Vì Hòa thượng toát ra một cái cái sự cao siêu của một bậc chân tu. Mình thấy. Còn nếu mình gặp một bậc A-na-hàm, không biết thầy chứng A-na-hàm chưa, con cũng không rành lắm nên con không dám nói, chắc chưa. Nếu mà mình gặp A-na-hàm á thì mình thấy những điều nó toát ra cao siêu, hư vô, cái hư vô thanh tịnh tự tại không chấp, không nhất, không gì hết, vậy mà vẫn còn thấy một chút xíu

[47:12]mình hơn chúng sinh, bị Phật nhìn ra liền. Và Phật chê đó là còn kiêu mạn, kiết sử thứ tư còn sót lại của vị A-na-hàm. Và cái kiết sử cuối cùng của một vị A-na-hàm, tất nhiên phải bị đó là vô minh. Thì A-la-hán mới hết vô minh, A-na-hàm thì vẫn còn. Thôi, cái vô minh này ta không luận bàn nổi. Hai chữ vô minh này không ai đủ sức hiểu, không ai đủ sức diễn tả, trừ cái người chứng A-la-hán rồi mới biết: À, mình vừa thoát vô minh. Vô minh đã hết, minh đã sanh, thì chỉ người A-la-hán mới biết vô minh là gì và mới thấy mình đã thoát vô minh. Còn tất cả chúng ta, chưa chứng A-la-hán thì không người nào hiểu chữ vô minh là gì cả, không hiểu nổi.

[47:58]Nhưng mà vô minh đó, nếu theo mười hai nhân duyên, là vô minh duyên duyên hành, hành duyên thức... Cái này thôi bài khác, hôm nay không giảng được. Cái vô minh đó là cái gì đã làm thành chấp ngã. Nhớ như vậy thôi. Vô minh nó sâu hơn chấp ngã, nhưng mà ta không hiểu, nhưng vô minh làm thành chấp ngã. Đó là những tính chất của Thánh. Còn tính chất của thiền thì nãy ta nói như vậy đó, là cao siêu, thần thông, tự tại nhưng thoái thất, có thể thoái thất nếu chứng thiền mà chưa chứng Thánh. Còn chứng Thánh thì bắt buộc phải chứng thiền. Nhớ như vậy nha, đây công thức nè: Chứng thiền thì chưa chắc là đã được chứng Thánh,

[48:41]nhưng hễ chứng Thánh thì bắt buộc phải chứng thiền, mà cái mức thiền nó tương ứng tùy từng quả Thánh. Tu-đà-hoàn thì chỉ cần là chứng được cái chánh niệm tỉnh giác ban đầu, sơ sài. Tư-đà-hàm thì chứng, yêu cầu bắt buộc là phải chứng cái chánh niệm tỉnh giác ở khúc cuối, chưa vào được Sơ thiền nha. Còn A-na-hàm thì buộc phải chứng từ Sơ thiền trở lên tới Tam thiền. Còn A-la-hán, bắt buộc phải chứng Tứ thiền. Đó, là chứng Thánh thì buộc phải chứng thiền tương ứng, còn chứng thiền chưa chắc chứng Thánh, ta nhớ cái điều này cho cho thật kỹ. Nên nhiều khi có cái vị đó dạy thiền mà sao? Nói tới Sơ thiền liền, nói mọi người bắt buộc

[49:23]vô tu là phải chứng Sơ thiền, không được. Vì sao vậy? Bởi vì Sơ thiền là tam quả A-na-hàm. Chúng ta nhắm tu kiếp này chứng tam quả A-na-hàm liền được không? Có không? Có không? Ai nhắm được giơ tay lên cho thầy đảnh lễ liền. Không đâu. Trong kiếp này, nếu ta tu đúng, tu tinh tấn thì hy vọng trước khi chết ta chứng được Tu-đà-hoàn thôi, làm cái vốn mang đi, không đi vào ác đạo nữa thôi là mừng lắm rồi, phải không ạ? Chứ đừng hy vọng mà nói tới A-na-hàm nha. Ráng làm sao tu cho đúng thôi. Bởi vậy chúng tôi vẫn nói với những đệ tử của mình như vậy á, nói: "Thầy chỉ mong làm sao thầy dạy tụi con trong kiếp này

[50:03]tụi con chứng được Tu-đà-hoàn thôi là thành công, đừng mơ ước cao hơn mà té đau, đừng trèo cao té đau. Cứ ráng làm sao chứng được Tu-đà-hoàn để đừng đọa ác đạo là được rồi." Đó. Cho nên vô mà cứ đòi hỏi Sơ thiền, Sơ thiền liền là thực ra vượt khả năng, vì Sơ thiền đã là tam quả A-na-hàm rồi, không phải dễ đâu. Phải mấy chục kiếp tinh tấn nữa chứ không phải là dễ. Đó, ta nói như vậy. Bây giờ ta nói liền ta để ý phân biệt thế này: cái người mà chứng thiền á, thích nói về thiền, thích nói về cái tiêu diêu tự tại. Hễ ta nghe ai mà nói về thiền, tiêu diêu tự tại, ta biết người này chứng thiền. Còn ta gặp người nào mà ta thấy người đó nói về đạo đức

[50:49]cuộc sống sâu xa, ta biết người này chứng Thánh. Nhớ hai cái đó khác nhau. Thì ta có hai bậc nghen là triết gia, đạo học rất là nổi tiếng là Lão Tử và Khổng Tử. Hai vị đó ai chứng thiền, ai chứng Thánh? Lão Tử để lại cuốn Đạo Đức Kinh. Ta đọc trong đó ta biết được tư tưởng của ngài. Còn Khổng Tử để lại cái gì? Tứ Thư, Ngũ Kinh. À nhất là cái bộ Xuân Thu nói về hành trạng, những lời dạy của ngài. Đọc đó ta biết cái quan điểm tư tưởng của ngài. Thì như vậy Lão Tử và Khổng Tử so ra thì ai là người chứng thiền, ai là người chứng Thánh?

[51:33]Ta là hậu nhân mà dám lấy tiền nhân ra để nhận xét phê bình thì ta rất là hỗn, ta rất vô lễ. Với lại đã đi hơn 2.000 năm, những vị đó ngày nay nhiều khi chứng cao hơn rồi mà ta vẫn đánh giá cái lúc thời điểm 2.000 năm trước ta có lỗi rất là lớn. Nhưng mà thôi hôm nay ta xin phép ta phân tích một chút cái hành trạng của các ngài của thời điểm hơn 2.500 năm xưa. Trong cuốn Đạo Đức Kinh á, Lão Tử nói về những điều tiêu diêu tự tại. Vô đầu câu là: "Đạo khả đạo, phi thường đạo; Danh khả danh, phi thường danh." Cái đạo mà có thể nói được là không phải là cái đạo bất diệt. Cái tên, cái danh xưng mà có thể kêu ra được,

[52:21]đó là không phải là cái danh xưng bất tử. Kìa, cái câu nói đó nghe cao không? Rất cao siêu, phải không ạ? Nhưng nó đều là nói về thiền cả. Tâm thiền định cả, không nói về Thánh. Sau đó ngài có đi vào cái quan điểm cuộc sống, quan điểm về chính trị. Ngài cũng nói nhiều lắm, nhiều cái cũng hay lắm, nhưng mà thường cái tiêu diêu tự tại đó nó ám chỉ người có cái chứng về thiền. Còn Khổng Tử thì sao ạ? Nói về đạo đức cư xử, đúng không ạ? Tinh tế từng chút một, đó là người chứng Thánh, ít nhất là Tu-đà-hoàn. Cho nên bên đạo Nho, người ta thờ Khổng Tử là vạn thế sư biểu, coi như đức là thánh Khổng, hoàn toàn không sai tí nào, không sai tí nào nha.

[53:02]Rồi ta nhìn qua đạo ví dụ như đạo Kitô, Chúa Giêsu. Những cái lời dạy của Chúa Giêsu, cái đạo đức mà Chúa Giêsu dạy ở trong đó không khác gì một vị Thánh. Ví dụ như ngài nói về nhân quả thế này: lúc đó là có lính vào bắt ngài, thì cái đệ tử ngài là Phêrô mới cầm gươm lên để bảo vệ thầy mình, Chúa Giêsu mới nói: "Phêrô, Simon, hãy bỏ gươm xuống vì ai dùng gươm sẽ phải chết vì gươm." Cái câu đó đúng nhân quả không ạ? Rất đúng nhân quả. Cho nên vì vậy là có những bậc Thánh xuất hiện trong cuộc đời, chứ không phải là không đâu. À đó. Thì đó là ta điểm qua một vài vị đạo sư ngày xưa, nhưng mà nếu mà qua hơn 2.000 năm thì

[53:50]các vị đó nhiều khi đã chứng cao hơn nhiều, và ta không lạm bàn được. Thế như Lão Tử trong cuốn Đạo Đức Kinh thì ta thấy bàn bạc cái ý thiền nhiều hơn là ý Thánh, nhưng mà đừng nói là vị đó chưa chứng Thánh nha. Nhiều khi vị đó vừa chứng thiền vừa chứng Thánh, cho nên vị đó cũng nói về thiền. Chứ bây giờ ta phủ nhận ta nói là: "À, Lão Tử như vậy mới chứng thiền, chưa chứng Thánh", mình hớ một câu mình mình mang đọa chết á. Nhưng mà mình chỉ nói được quyền nói thế này: trong cuốn Đạo Đức Kinh, Lão Tử bộc lộ nhiều cái tính chất của thiền. Chứ đừng nói là ổng chưa chứng Thánh à, có khi ổng chứng Tư-đà-hàm mất tiêu rồi mình không hay á. Nha.

[54:26]Còn Khổng Tử thì ta xác quyết ông này chứng Thánh thiệt, ít nhất Tu-đà-hoàn. Bởi vì sao? Vì những lời dạy của ngài chi ly cặn kẽ từng chút từng chút một trong cái đối nhân xử thế mà rất là cao siêu. Hay lắm nha, vậy. Cả hai cái người chứng thiền, chứng Thánh đều phải cần một cái phước quá khứ rất lớn mới chứng, không biết chứng thiền hay chứng Thánh. Nhưng mà phải phước lớn mới chứng được, không có phước không chứng gì cả. Nhưng mà cái chứng thiền á, vì lý do là còn có thể thoái thất, cho nên trong cái phước mà mình đã gieo á, nó có một cái gì nó chưa bất diệt. Ví dụ sao gọi là chưa bất diệt? Ví dụ như mình làm việc từ thiện rất nhiều, hưởng phước hết rồi có thể lui lại.

[55:16]Cái người làm việc từ thiện á thì nó sinh ra hai loại quả phước: một cái loại là phước thế gian, nếu người đó sau khi làm phước đắp đường, bắc cầu, phóng sinh, giúp người đủ hết rồi tâm không hướng về tâm linh thì lập tức sau này người đó hưởng lại cái quả báo thế gian là giàu sang, quyền quý rồi hết. Còn cái người mà hướng về tâm linh thì có khi không hưởng giàu sang, quyền quý nhưng trong tâm linh chứng được thiền, cực kỳ an vui, tự tại và có thần thông. Đó là cái... Nhưng mà rồi sao? Rồi hết, cái gì cũng hết. Thiền cũng tắt, tâm loạn trở lại; quyền quý, giàu sang cũng hết, trở lại người bình thường lại, làm lại cái phước để trở lên trở lại. Ừ đó là cái...

[56:05]Còn chứng Thánh rồi hổng mất. Ví dụ như chứng Tu-đà-hoàn rồi, có khi ta lộn lên lộn xuống, đầu thai tới lui bao nhiêu lần không biết, nhưng quả Thánh cứ nằm trong tâm, giữ cho ta không đọa ác đạo và dẫn ta đi. Cái quả Thánh Tu-đà-hoàn nó dẫn ta đi cho tới khi ta phải chứng Tư-đà-hàm, rồi chứng A-na-hàm, chứng A-la-hán. Nghĩa là cái quả Thánh nó dẫn ta đi. Ừ, lạ lùng như vậy. Còn cái chứng thiền á có khi rớt mất. Đó là hai cái khác nhau, nhưng cả hai đều đòi hỏi phước rất lớn. Như vậy ta gieo phước gì thì ta có thể chứng Thánh, và ta phải gieo phước gì ta chỉ chứng thiền? Cái phước gì khác nhau?

[56:48]Ta biết để ta gieo cho đúng, để mình có tu chứng Thánh chứ đừng chứng thiền không, lỡ chứng thiền xong cái mai mốt phát điên nữa kỳ lắm. Thôi chứng Thánh luôn cho bảo đảm. Nhưng mà cả hai đều phải làm phước rất vất vả, rất dày. Nhưng mà phước gì thì chứng được Thánh, phước gì thì chỉ chứng được thiền? Chứng thiền á thì chỉ cần thế này thôi: giúp người cho nhiều, giúp đời cho nhiều, rồi sau đó ráng tu thiền thì chứng thiền.

[57:21]Chứng có thể là nếu mà phước nhiều, thiền sâu, dày, an trú trong thiền rất lâu rồi mai mốt hết. Còn chứng Thánh á cũng phải vậy, cũng phải là sống một đời rất vị tha, thương người, thương chúng sinh, nhưng đặc biệt một điều, có hai cái điều đặc biệt của người gieo cái nhân chứng Thánh: thứ nhất là phải tôn kính Phật tuyệt đối; thứ hai: mơ hồ hình dung hướng về vô ngã. Ta chưa chứng vô ngã, nhưng một cái người mà để gieo nhân chứng Thánh á phải suy nghiệm về vô ngã, biết rằng mình đang chấp ngã, đang còn chấp ngã đầy đây, và trong tâm mơ ước về một điều, một ngày mà cái chấp ngã này tan biến, không còn bản ngã nữa, phải biết mơ ước điều đó.

[58:09]Người này gieo nhân chứng Thánh, đó, cộng với cái tôn kính Phật tuyệt đối. Chứ tất cả chúng ta đều đến chùa ta lễ Phật, thậm chí có người xuất gia rồi cũng mỗi ngày cũng tụng kinh lễ Phật, nhưng mà lúc lễ Phật cái tâm chưa hề tôn kính Phật tuyệt đối thì người đó vẫn chưa gieo cái nhân chứng Thánh. Còn người nào mà mỗi khi quỳ trước tượng Phật, biết rằng đây chỉ là tượng thôi, nhưng mà tâm Phật ứng qua đây, thần lực của Phật ứng ở đây, sự linh thiêng của Phật ứng vào đây, nên quỳ lạy Phật với tất cả lòng tôn kính tuyệt đối thì người này đã có cái nhân để chứng Thánh. Có thể chưa chứng nhưng nhân đã hình thành rồi.

[58:52]Trong tâm bắt đầu giống như cái than nó chưa bùng lên lửa, nhưng bắt đầu khói bốc lên rồi, nó ửng ửng ửng đỏ rồi. Đó, đến lúc nào nó bùng cái thành ra ngọn lửa cháy lên nữa là ta chứng được quả Thánh, ít nhất Tu-đà-hoàn. Cho nên vậy, về làm phước thì cái người mà muốn chứng thiền hay chứng Thánh đều giống nhau là phải làm phước rất nhiều, giúp đời rất nhiều, giúp người rất nhiều, không có sống thụ động, ích kỷ. Đó. Nhưng cái người chứng Thánh thì đòi hỏi hai yếu tố: thứ nhất là phải tôn kính Phật tuyệt đối mà thường lễ kính Phật; thứ hai, trong tâm cứ mơ hồ hình dung, mơ ước về vô ngã. Như vậy ngày hôm nay ta hiểu điều này rồi, phải không ạ?

[59:35]Ta hiểu được cái móc này rồi, cái yếu quyết chỗ này rồi. Từ đây mỗi người chúng ta phải gieo cái nhân để chứng Thánh nha. Mỗi khi đến chùa, mỗi khi trước tượng Phật, lạy Phật với tất cả lòng thiết tha tôn kính, không lạy Phật thờ ơ, hời hợt nữa. Cái thứ nhất. Cái thứ hai, thường suy nghiệm về vô ngã. Cái ta đang có đây là cái gì? Có bền không? Có thật không? Nhớ như vậy nha. Hai điều này mà ta thường xuyên gieo, rồi ngoài ra thêm cái thứ ba nữa là một đời sống tràn đầy lợi ích cho mọi người. Thường cúng dường Tam Bảo, hộ trì chư Tăng Ni, giúp mọi người trong cuộc đời này, làm được việc gì thì làm.

[1:00:16]Địa phương kêu mình xây nhà từ thiện giúp người nghèo, ủng hộ hết, làm gì được thì làm. Đó. Hôm, hồi sáng nay có một cái người Phật tử đâu nước ngoài gọi điện về cho chúng tôi mới hỏi câu này, nói: "Thưa Thầy, trong kinh Phật dạy là mình phải biết ơn ông chủ, mà con thấy mấy ông chủ bên Mỹ ác quá, đuổi mình không biết lúc nào. Mình làm nó trả lương mình rồi không biết đuổi lúc nào, rồi sao mà gọi là biết ơn như lời Phật dạy?" Chúng tôi mới trả lời nói thế này: "Trước hết là mình biết ơn vì họ đã lập ra được cái doanh nghiệp á, mình mới có công ăn việc làm, phải không ạ? Thôi điều đó cũng là điều mà mình biết ơn." Cái người kia mới hỏi:

[1:00:53]"Nhưng mà lỡ họ đuổi mình sao ạ?" Nói: "Thì thế này, ví dụ như họ trả lương mình 2.000 đô một tháng, thì mình phải làm sao thành ra cái công mình phải xứng đáng là 2.500 đô. Thì như vậy họ mắc nợ mình. Và họ mắc nợ thì họ không bao giờ đuổi mình được. Còn mình làm ít hơn cái cái công lao mình bỏ ra tính ra giá trị nó thấp hơn cái lương họ trả là họ hết mắc nợ mình, họ đuổi à." Nghe ổng kêu: "Ồ ồ, có lý. Thôi được, yên tâm, rồi ráng làm, ráng cống hiến." Cho nên là mình làm trong môi trường nào cũng vậy, làm cho ông chủ tư nhân, hay làm cho nhà nước, hay làm cho nhân dân, lúc nào mình cống hiến nhiều hơn cái mình thụ hưởng thì sao?

[1:01:32]Phước mình cứ tăng dần, tăng dần, mà công việc mình ổn định. Thì cái tích lũy đó cũng là cái tích lũy cho cái quả thiền, quả Thánh sau này. Mà người chứng Thánh, muốn chứng Thánh thì thêm hai yếu tố là tôn kính Phật tuyệt đối và hướng tâm về về vô ngã. Đó, hôm nay là mình biết được chìa khóa rồi thì ráng mà dụng công, nghe không? Từ nay đừng lễ Phật hời hợt nữa nha. Nhớ như vậy. À ta còn hai ý nữa nè. Thứ nhất là ta đánh giá việc dạy và học thiền thời nay. Hiện nay đó, thiền giống như là một kỹ năng thời thượng. Ở nơi này quảng cáo mình dạy thiền, nơi kia quảng cáo dạy thiền. Có người trong đạo Phật dạy thiền, có người ngoài đạo Phật cũng dạy thiền.

[1:02:14]Vì cho rằng thiền đưa đến tâm yên tĩnh, giúp vệ sinh thần kinh, giúp con người ta thư giãn, sống là thanh thản, tự tại, bớt xì trét gì đó, vân vân. Thì vì vậy người ta đua nhau dạy thiền và cũng đua nhau học thiền. Nên cái mục đích rất là khác nhau. Là có người thiền cho khỏe, có người thiền để khoe, có người thiền để thư giãn, có người thiền để có nhân điện mà chữa bệnh, có người thiền để đắc được khí công, có người thiền để có thần thông, nhưng riêng chúng ta thiền để giải thoát. Cái mục đích nó khác nhau, cho nên đừng nghe nói thiền mà tưởng ai giống ai vì mục đích khác nhau rất là xa. Có đúng vậy?

[1:02:54]Do đó là ta cẩn thận. Điều nữa là ta đừng có nhầm lẫn giữa chứng thiền và chứng Thánh. Đừng nhầm lẫn hai điều này. Thấy cái người đó họ chứng thiền cao siêu quá, mình cứ nể phục, tôn họ như thầy, coi chừng ta thờ nhầm ông thầy tà. Mà lúc ta quy y Tam Bảo, Phật đã dạy rồi, phải không? Không được thờ gì? Tà sư ác hữu. Không được theo mà thờ cái ông thầy tà và bạn ác, vì theo họ là ta mất cái nhân giải thoát. Mà hễ ta thấy họ đắc thiền có thần thông, mình tưởng họ là Thánh, chết liền ạ. Nên vì vậy, hôm nay ta nói với nhau điều này để từ nay ta tránh cái đó luôn. Đừng thấy ai chứng được thiền, đừng thấy ai có thần thông tưởng họ là Thánh.

[1:03:36]Nhiều khi chỉ chứng thiền mà chưa chứng Thánh, vẫn thoái đọa, vẫn làm tà sư được, không phải là không. Cho nên ta đừng nhầm lẫn giữa cái chứng thiền và chứng Thánh. Ta để ý một điều này nữa, coi chừng cái hệ quả điên loạn bất ngờ của người tu thiền. Là vì sao vậy? Tu thiền mà không đúng, hư bộ não. Là chưa chứng gì hết, bộ não hư, điên luôn. Hoặc là chứng được thiền rồi, tưởng mình là Thánh, mai mốt hết phúc thiền rồi, rớt lại làm người thiểu năng trí tuệ, điên luôn. Đó là những hệ quả bị. Còn ta gieo nhân cho đúng, đi đúng đường thì cứ tiến dần, tiến dần cho tới chứng Thánh thì không bị điên.

[1:04:12]Nhớ, cái người mà chứng Tu-đà-hoàn rồi thì dứt khoát không bị điên loạn. Ví dụ có bệnh thần kinh, ví dụ người đó mắc cái nghiệp xưa có thể bệnh thần kinh, có thể bị té, đập đầu chấn thương sọ não, vân vân, nhưng mà không bao giờ bị điên. Phải tỉnh táo, sáng suốt. Đó mới là người chứng là Tu-đà-hoàn thiệt nha. Một điều nữa là thiêu mà có xá lợi, đừng tưởng người đó chứng Thánh. Nhớ như vậy. Đừng tưởng người đó vãng sanh, vãng gì, mệt lắm. Cái người có tâm tốt, có thiện chí, thiêu đều có xá lợi. Mà xá lợi nhiều loại xá lợi. Có những loại xá lợi là cái xương vẫn còn nguyên vì đốt chưa kỹ. Có loại xá lợi nó đặc quánh lại thành rắn cứng

[1:04:57]hơn, giống như xà cừ, và có loại xá lợi của Phật trong như kim cương, có màu lấp lánh luôn. Nhiều loại, cho nên nhiều khi thấy cầm lên mảng xương hơi xanh xanh vàng vàng, nói: "Người này có xá lợi." Sự thật không phải, chỉ là mảng xương còn lại thôi và rất là mềm, bóp một cái có thể bể. Còn xá lợi bóp không bể, đập không bể. Nhớ như vậy, nên đừng thấy, mà có xá lợi cũng chưa bảo đảm. Nhớ như vậy nha. Chứng Thánh rồi thiêu phải có xá lợi, nhưng thiêu có xá lợi chưa chắc là chứng Thánh. Nhớ không ạ? Nhớ giùm Thầy điều này. Cũng giống như là chứng Thánh thì phải có chứng thiền, nhưng chứng thiền thì chưa chắc chứng Thánh.

[1:05:36]Do đó khi một người tịch mà thiêu có xá lợi thì đừng nghĩ người đó chứng Thánh. Nhưng hễ người nào chứng Thánh thiêu bắt buộc phải có xá lợi. Nhớ như vậy nha. Cái người nào mà vừa có định, vừa có đạo đức vô ngã sâu thẳm thì mới thực sự là là chứng Thánh. Điều cuối cùng ta muốn nói với nhau nữa là thế giới này, nhân loại này cần rất nhiều bậc Thánh. Thế giới đang rất thiếu các bậc Thánh. Con người ta sống trong mờ mịt, trong tăm tối và cứ dựa được vào đâu, bám vào đâu đó được thì bám, mà không có được những tấm gương sống động giữa đời để noi theo. Nếu trong cuộc đời này ta may mắn gặp được những bậc Thánh

[1:06:20]thì ta có chỗ nương tựa, có đường đi, có ánh sáng. Và nếu thế giới này rất nhiều bậc Thánh thì thế giới này bớt hỗn loạn, bớt đảo điên, bớt đau khổ, bớt chiến tranh, bớt tang tóc. Vì vậy mỗi người chúng ta đều có bổn phận phải tu làm sao để chứng Thánh. Chứng Thánh không phải đi tìm cái vinh quang cho mình mà để làm gì? Để cho thế giới này bớt bớt tối tăm, bớt đau khổ. Vì yêu thương cái thế giới này, vì muốn cho thế giới này bớt tối tăm, bớt đau khổ mà tất cả chúng ta đều phải tinh tấn tu tập để chứng chứng Thánh nha. Nhớ như vậy. Hôm nay nhân cái cơ hội là Hòa thượng kính yêu của chúng ta thỉnh được Phật tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông về,

[1:07:06]chúng ta có cơ hội về đây để chia sẻ đạo lý với nhau. Trước hết, con xin cảm niệm công đức của Thầy, Hòa thượng, một bậc chân tu khả kính của chúng con đã cho chúng con có cơ hội này, có nhân duyên này. Chúng con xin kính chúc ngài phước thọ tăng long, Phật sự viên thành, chúng sinh dị độ, mãi mãi là cây bồ đề, đạo thọ cho chúng con nương tựa. Chúng con cũng xin bày tỏ tấm lòng kính ngưỡng gửi các bậc tu hành ở đây, các vị thượng tọa, đại đức, tăng ni ở đây đã được nương theo Hòa thượng mà mà tu tập. Nhìn mặt ai cũng là những bậc chân tu là tương lai của đạo pháp, rất là đáng kính, đáng đáng yêu.

[1:07:53]Và cuối cùng là Thầy kính chúc cho các Phật tử vậy tinh tấn tu hành, hướng về Thánh quả để chi? Để thắp sáng cái thế giới này lên với Thánh đạo nha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

[1:08:11]Nguyện đem công đức này

[1:08:20]hướng về khắp tất cả,

[1:08:28]đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.