[0:09]Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay ngày Phật Đản lại về, chúng ta lại hân hoan đón mừng kỷ niệm ngày Phật Đản để tưởng nhớ cái ngày mà
[0:26]hơn 2500 năm trước, Đức Phật đã đến với trần gian này để rồi từ đó để lại cho thế giới này một chân lý bất diệt.
[0:39]Ngày hôm nay, chúng ta là người của muôn nơi, ở mọi nhà, mọi nẻo đường trên đất nước này hoặc là ở trên thế giới này tìm về đây với nhau cùng một mái ấm, dưới một bóng chùa, chung một trái tim thương yêu, chỉ bởi vì vào cách đây hơn 2500 năm đã có một người vĩ đại, siêu nhiên, cao cả đã xuất hiện giữa thế gian này. Chính vì có con người cao cả đó đến với trần gian này mà ngày hôm nay chúng ta ngồi bên nhau vai kề vai, mắt nhìn mắt với cái tấm lòng thương yêu nhau không có biên giới, không có ngăn cách. Chính vì có con người cao cả đó đến với trần gian này mà ngày hôm nay, chúng ta quay lưng với bóng tối để bước dần,
[1:35]bước dần về với ánh sáng, với niềm vui, với hạnh phúc. Vì vậy, cái công ơn của Đức Phật đối với nhân loại, đối với chúng sinh thật là không sao kể xiết. Cứ mỗi năm, đến ngày Phật Đản sinh, chúng ta lại cùng nhau vân tập về dưới mái chùa thân yêu, nơi này hoặc nơi khác, để cử hành tưởng niệm ngày Phật Đản sinh trong cái lòng hết sức là thành kính, trong không khí hết sức là thiêng liêng. Ngày hôm nay, cũng trong buổi lễ Phật Đản này, chúng tôi xin trình bày cái ý nghĩa của Phật Đản với đề tài là: Trước Phật và sau Phật. Theo hiểu biết của loài người cũng như theo sử liệu được ghi lại trên trái đất này thì trước Phật không có một nhân vật nào hoàn hảo như Đức Phật.
[2:38]Đó là điều mà cái tất cả kiến thức của loài người còn để lại mà chúng ta biết được. À tại sao như vậy thì chúng ta sẽ điểm qua.
[2:50]Đồng thời với Đức Phật á thì hàng loạt những vĩ nhân của nhân loại cũng xuất hiện cùng thời đó. Ví dụ như ở bên Trung Hoa thì có hai nhân vật lỗi lạc cũng là một giáo chủ, một bậc đạo sư của cái Trung Hoa kéo dài đến ngày hôm nay là Lão Tử và Khổng Tử. Lúc đó bên Hy Lạp cũng có một nhà triết gia mà cũng là nhà toán học mà có cái trình độ tâm linh rất cao là Pythagoras. Và nhân loại được biết là như vậy, cùng thời với Đức Phật đã xuất hiện những con người lỗi lạc như thế trên trái đất này. Nhưng mà nếu so với Đức Phật thì tất cả vẫn không có thể bằng được với Đức Phật. Và trước Đức Phật cũng vậy, trong sử liệu cũng không ghi nhận
[3:40]có một nhân vật nào mà vĩ đại như thế, cao cả như thế.
[3:46]Lão Tử ở bên Trung Hoa để lại cái cuốn Đạo Đức Kinh cũng như là để lại nhiều cái phương pháp luyện tập mà cho chúng ta một cái triết lý rất là phóng khoáng, thanh tịnh. Đọc cuốn Đạo Đức Kinh còn để lại, Lão Tử đập vỡ hết mọi tham muốn con người, giúp con người tìm về với cái nội tâm an tĩnh, hư vô, điềm đạm; giúp cho con người không còn á đi tìm những cái giá trị tạm bợ, hư ảo của trần gian này để mà có thể sống vui được với cái tính chất phác, hồn nhiên, an ổn của chính mình. Vào cái thời của Lão Tử hoặc Khổng Tử xuất hiện thì Trung Hoa là một thời Chiến quốc, là chiến tranh giữa các nước đánh nhau liên miên bất tận.
[4:37]Thì lúc đó, Khổng Tử muốn đem cái an ổn đến cho loài người thì dạy con người ta sống có kỷ cương, có nề nếp, có trung, có hiếu, có nhân, có nghĩa. Nghĩa là chính nhờ cái đạo đức tạo cái tương quan tốt giữa người và người mà loài người sẽ an ổn hơn, tốt đẹp hơn, thanh bình hơn. Còn Lão Tử thì lại nhìn một cách khác, ông thấy rằng sở dĩ loài người hỗn loạn, chiến tranh bởi vì con người ta tham cầu nhiều quá, đi tìm ra bên ngoài nhiều quá. Vì vậy, ông đã dạy cho con người một cái đạo đức là buông bỏ hết những cái tương quan, cái đối đãi bên ngoài để tìm lại được cái nội tâm thanh tịnh của mình. Cả hai nhân vật đó đưa ra hai triết thuyết đều rất có lợi cho xã hội
[5:28]mà sau này người Trung Hoa hầu hết đều kết hợp áp dụng cả hai cho cái lối sống của mình mà người ta gọi là một nhà Nho chân chính. Tuy nhiên, chúng ta thấy Lão Tử không đề cập đến nhân quả trong suốt cái tác phẩm Đạo Đức Kinh của ông. Đây là một cái mảng thiếu rất là lớn mà Đức Phật đã đề cập rất là kỹ. Còn Khổng Tử cho xã hội một cái kỷ cương, một cái minh triết nhưng không nhắc đến giải thoát, giác ngộ mà giúp con người siêu thoát, vượt khỏi ba cõi sáu đường. Cho nên những bậc đạo sư đó cũng rất là vĩ đại nhưng mà so với Đức Phật thì không thể sánh bằng được. Hoặc là bên Ấn Độ vào thời đại đó có rất nhiều vị giáo
[6:17]chủ mà kể cả có những vị có hẳn là thần thông luôn. Có những vị cùng thời với Đức Phật mà họ có thể hô phong hoán vũ, có thể thậm chí có người có thể bay được hoặc là có người cũng nhớ được một số tiền kiếp của mình. Nhưng mà so với Đức Phật cũng không thể so sánh được. Trước Đức Phật thì không có những vị thánh rõ rệt nhưng người Ấn Độ có được cái bộ kinh Vệ-đà rất là quý giá. Bộ kinh Vệ-đà đó là bộ kinh mà nói đến nhiều điều liên quan đến cuộc sống, đến tâm lý, đến triết lý mà tiêu biểu nhất là cái bộ Áo nghĩa thư. Trong bộ Áo nghĩa thư này, chúng ta nghe những vấn đề rất gần với đạo Phật là có cả
[7:04]nói đến luân hồi, có nói đến nhân quả, có nói đến đạo quả giải thoát, vân vân. Tuy nhiên, cái cuốn sắp đặt ra nhưng mà cái hệ thống giáo lý không hoàn chỉnh, có nói đến sự chứng ngộ nhưng sự thật chưa có một vị thánh nhân chứng ngộ mà xuất hiện vào những thời đại đó cho đến khi Đức Phật xuất hiện. Thì chúng ta biết cái nhân duyên để một Đức Phật ra đời đến với chúng sinh là một đại kỳ duyên của nhân loại, cũng là cái đại hạnh nguyện của Đức Phật đó. Thì Đức Phật Thích Ca chính là cái con người như thế mà cũng chính là cái nhân duyên như thế của nhân loại. Do cái công hạnh từ vô lượng kiếp trước,
[7:49]Ngài đã tu tập với lòng từ bi thương yêu chúng sinh không bờ không bến và Ngài cũng đã có cái công phu tu tập thiền định, tinh tấn không lơi lỏng. Ngài dấn thân trong hạnh Bồ-tát, đi trong luân hồi, đi trong cái nghịch cảnh đau khổ để gieo duyên để đến với tất cả chúng sinh. Rồi ở trong cái kiếp cuối cùng, Ngài sinh vào trong cung vua Tịnh Phạn ở nước Ca-tỳ-la-vệ, thành một vị Thái tử. Đó là cái ngày mà trời đất rúng động. Vào hôm đó khi Hoàng hậu Ma-da theo tục lệ người Ấn Độ để đi về cái quê của mình mà sinh nở, thì nhưng mà khi đường đi giữa đường cùng với đoàn tùy tùng thì bà thấy tự nhiên hoa cứ nở rộ trong cái mùa nắng này.
[8:46]Lúc đó mùa xuân đã trôi qua, mùa hè đã đến nhưng mà hoa cứ nở rộ, nở rộ theo cái bước chân bà đi. Thì đi đến một khúc giữa đường, ngày nay chúng ta gọi là vườn Lâm-tỳ-ni
[9:03]Thì bà chợt thấy đóa hoa ưu đàm rực rỡ, chúng ta còn gọi là hoa linh thoại, là một loài hoa hiếm mà theo tương truyền của Ấn Độ chỉ khi nào có thánh nhân xuất hiện thì loài hoa đó mới nở. Thì lần đó hoàng hậu chợt thấy cái đóa hoa linh thoại nở rộ giữa đường, bà mới ra lệnh cho đoàn người dừng lại, bà bước xuống kiệu để đi về phía đóa hoa mà muốn tự tay mình hái được cái đóa hoa đó. Thì giữa cái giây phút mà bà với tay lên, bà vừa chụp được cái cánh hoa, cái cành hoa, cái cuống hoa, hoa rất là to, thì cũng ngay phút đó thái tử đản sinh. Theo như truyền thống nói rằng là Đức Phật là thái tử khai bên cái hông bên phải của mẹ mình bước ra và hoàn toàn tinh sạch.
[10:03]Lúc đó đất trời rung động và chư thiên ở các tầng trời trổi nhạc để cúng dường. Trên bầu trời các đám mây ngũ sắc hiện ra liên tiếp và hoa trời giữa hư không tự nhiên rơi vãi đầy cả một cái vùng đất như vậy. Là vô số điềm lành xuất hiện, chúng ta còn nghe kể giai thoại rằng lúc đó có hai con rồng hiện ra để phun nước. Phun nước ta là phun mưa đó, chứ không phải là phun thành vòi, phun thành mưa mà mưa như mưa phùn hạt lất phất lất phất bay che mát cả cái bầu trời lúc đó làm cho tất cả đoàn người ở đó đều thấy dễ chịu và tất cả đều kinh hãi. Kinh hãi bởi vì một hiện tượng phi thường mà trong cuộc đời họ chưa bao giờ chứng
[10:52]kiến được khi mà có cái sự đản sinh của một vị thái tử cao quý như thế. Thì lúc đó lập tức cái những người thị vệ vội vã quay trở về thành Ca Tỳ La Vệ để báo cho vua Tịnh Phạn biết là chưa về tới quê mà hoàng hậu đã hạ sinh. Và vua Tịnh Phạn lập tức truyền lệnh là cho đoàn người trở về kinh thành liền, chứ không có về tiếp cái quê hương của Hoàng hậu Ma Gia nữa. Thì cái câu chuyện đó chúng ta đã nhiều lần nghe kể Đức Phật sinh ra mới được nhiều lời tiên tri. Lúc đó có nhiều vị tiên tri là các vị Bà-la-môn giỏi về số thuật được vua Tịnh Phạn mời đến để xem tướng cho thái tử. Thì mọi người đều tấm tắc khen ngợi mà chúng ta nghe
[11:40]một cái câu tiên tri như thế này, những vị Bà-la-môn đó cùng nói thế này, nói là: Tâu bệ hạ, vị thái tử này nếu sau này xuất gia sẽ là một đấng Chánh Đẳng Chánh Giác mà đem chân lý giáo hóa khắp tất cả quần sinh. Nếu thái tử là người tại gia thì sẽ là một vị Chuyển Luân Thánh Vương trị vì khắp bốn châu thiên hạ. Đó là lời tiên tri như vậy làm cho đức vua rất là đẹp lòng. Nhưng mà chỉ có một cái lời tiên tri của ông tiên A Tư Đà là khẳng quyết một chiều. Khi ông đến gặp thái tử, khi thái tử được bế ra cho ông xem thì ông khóc. Ông khóc nức nở thì trước một vị đạo sĩ đã nhiều năm tu luyện trên núi sâu rừng cao, lòng đã bất động với mọi chuyện thế gian,
[12:38]mà chợt nhiên hôm nay khi nhìn dung nhan của thái tử, ông oà khóc nức nở thì là một chuyện phi thường, một chuyện lạ xảy ra. Với một người mà tâm đã bình thản, bất động không bao giờ còn cái vẻ vui buồn hiện ra nữa, bởi vì tiên A Tư Đà là một bậc đạo sĩ rất nổi tiếng thời bấy giờ. Ông sống rất là bình an, rất giải thoát. Thái độ luôn luôn bất động trước mọi cái thuận nghịch của cuộc đời, vậy mà hôm nay ông bật khóc nức nở thì chuyện tất là phải nghiêm trọng. Thì vua Tịnh Phạn mới lo sợ hỏi ông chuyện gì thì ông nói ông lắc đầu ông nói không có chuyện gì. Thưa là: Bần đạo chỉ khóc cho thân phận của mình,
[13:22]bởi vì chắc chắn sau này thái tử sẽ trở thành một đấng giác ngộ cao cả muôn đời của cả thế gian này. Nhưng khi mà thái tử đã đắc đạo để thành Đức Phật thì lúc đó bần đạo đã đã qua đời, không có duyên để được trực tiếp làm đệ tử của thái tử nữa. Cho nên bần đạo thương xót cho thân phận của mình mà khóc thế thôi. Cho nên các vị Bà-la-môn khác á thì tiên tri về thái tử có hai hướng: một là xuất gia, hai là tại gia. Nhưng riêng tiên A Tư Đà thì khẳng định một đường một là chắc chắn thái tử sẽ xuất gia và sẽ thành Phật. Bảy ngày sau khi thái tử đản sinh thì hoàng hậu Ma Gia mất. Thì hoàng hậu Ma Gia mất, khi được nhìn theo cái truyền thuyết huyền thoại
[14:19]thì nói rằng cái công đức mà đã hoài thai để đem đến cho nhân loại một vị thánh tuyệt đối cao cả quá lớn, đủ để hoàng hậu sinh về cõi trời. Cho nên hoàng hậu đã từ giã thế gian này và sinh lên cõi trời Đao Lợi. Cõi trời Đao Lợi mà hoàng hậu Ma Gia sinh về là một cõi tịnh độ siêu tuyệt. Ở trong đó tất cả chư thiên chỉ sống bằng tâm thiền định. Nghĩa là người đắc thiền định rất sâu mới sinh được về cõi trời Đao Lợi. Ở đó chỉ có niềm vui, chỉ có hạnh phúc, chỉ có sự thanh tịnh. Nghĩa là chỉ có thánh và thánh mới ở được cõi trời Đao Lợi. Và hoàng hậu Ma Gia công đức hoài thai một Đức Phật cho nhân loại
[15:05]nên đã được sinh về đó sau bảy ngày, nghĩa là bà đã xong nhiệm vụ. Bà không cần thiết phải sống một đời thế tục ở bên cạnh đức vua nữa, dù là một đời thế tục đầy vinh quang của một vị hoàng hậu. Và bà đã từ bỏ để trở về cõi trời. Nhưng mà có những người họ nhìn theo cái nhìn bi quan thì nói rằng vào thời đó nhiều sản phụ hay bị qua đời sau khi sinh con vì những phương tiện thuốc men không đầy đủ thì có những cái lời người ta nói như vậy. Nhưng chúng ta cũng nghe qua cho biết nhưng không cần phải bận tâm. Thì ở đây khi Đức Phật lớn lên thì ngài được dạy dỗ đủ mọi cái học thuật của thế gian. Nghĩa là nếu nói về văn học, văn thơ thì ngài là một người cực kỳ giỏi.
[15:58]Đó là điều mà chúng ta thấy sau này ngài thuyết pháp thao thao, uyên bác, sâu sắc, nghĩa lý tinh rộng và xuất khẩu là thành những bài kệ thơ bất tuyệt và ý tứ thật là sâu sâu xa. Rồi về võ học thì ngài cũng là người rất là giỏi. Vào thời đó, Ấn Độ đã có những cái môn võ công không khác gì võ công của người Trung Hoa mà chúng ta thấy được trong phim kiếm hiệp. Nghĩa là vào thời đó, cái người Ấn Độ mà sau này là người Tây Tạng cũng đạt được á, họ có thể phi thân nhảy rất là cao, họ có thể đánh được chưởng, họ có thể là có những cái gọi là nội lực phi thường vào thời đó như vậy. Nghĩa là cái nền văn minh của Ấn Độ nè,
[16:43]Tây Tạng, Trung Hoa và sau này lan qua bên Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn á giống nhau ở chỗ là họ tìm được cái phương pháp của cái sức mạnh tiềm ẩn bên trong. Thì Đức Phật cũng như vậy, ngài là một người cũng thành tựu được cái môn võ học của Ấn Độ thời đó. Đó là chính là lý do tại sao mà sau này khi đi xuất gia ngài đã sáu năm khổ hạnh nhưng mà vẫn không có bị ảnh hưởng đến sức khỏe nhiều vì trước đó lúc thời còn nhỏ ngài đã luyện được cái võ công rất là đặc biệt như vậy. Rồi còn các môn khác như là thiên văn, tướng số, tử vi hoặc là quân sự, võ bị, chính trị, tất cả học thuật ngài đều giỏi. Là ý của vua Tịnh Phạn thấy con mình xuất sắc như vậy nên muốn đào
[17:33]tạo để cho thái tử sau này trở thành một một vị quốc vương. Mà nếu nói đúng hơn cái tham vọng của ông là muốn thoát khỏi thân phận của một quốc gia nhược tiểu để trở thành một cái đế quốc lớn thời đó. Vì vào thời đó là cái vương quốc Thích Ca ở Ca Tỳ La Vệ chỉ là một tiểu quốc nhỏ, còn cái đế quốc lớn là nước Kiều Tát La và nước Ma Kiệt Đà. Cho nên khi mà nghe các vị Bà-la-môn tiên tri như thế thì vua Tịnh Phạn cũng ấp ủ một tham vọng là sau này con mình lớn lên nối ngôi sẽ thống trị là tất cả mọi đất nước khác để cho Ca Tỳ La Vệ, để cho dòng họ Thích Ca, tức là dòng họ Thích Ca, sẽ trở thành một cái đế quốc hùng mạnh.
[18:21]Vì vậy ông đào tạo thái tử rất là kỹ. Nhưng mà rồi như chúng ta biết cuối cùng ngài đã từ bỏ tất cả để ra đi. Bởi vì cái lời nguyện từ vô lượng kiếp là ngài phải thành một đấng Chánh Giác để đem ánh sáng, đem sự giác ngộ, đem đạo lý đến với chúng sinh. Và cái cuộc đời của Ngài là như vậy, là Ngài đã thành một vị Phật. Sau khi mà Ngài đã tu tập đắc đạo thành Phật thì Ngài với đôi bàn chân trần đi từ nơi này sang nơi kia để giáo hóa. Vào trong thời đó, cái kỹ thuật không có nhiều, cho nên các đệ tử của Đức Phật chỉ ghi nhớ lời dạy của Phật vào trong tâm mà truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Cho đến ngày hôm nay, khi mà cái nền khoa học kỹ thuật hiện
[19:12]đại đã vượt lên thì những cái lời kinh Phật dạy bắt đầu được cái kỹ thuật mới truyền bá rộng khắp thế giới. Và ở đây chúng ta mới thấy thế này: Vào thời đó, nói rằng Phật pháp giáo hóa khắp quần sinh, kỳ thực là chỉ một vài vùng của Bắc Ấn Độ và Trung Ấn Độ, vì phương tiện truyền bá không có. Mà chính ngày hôm nay, cộng được với cái phương tiện khoa học kỹ thuật, đúng là Phật pháp đã tràn lan khắp mọi ngõ ngách trên Trái Đất này. Những nhà trí thức trên khắp thế giới đều cúi đầu ngưỡng mộ đi theo đạo Phật. Trước kia có thể họ theo một tôn giáo nào đó, nhưng ngày hôm nay, khi bắt gặp được đạo lý của
[19:56]đạo Phật rất là sâu xa, mầu nhiệm, chân chính, họ lần lần quay về với đạo Phật, bởi vì họ tìm thấy nơi đó lẽ phải, sự bình an, niềm hạnh phúc và sự cứu độ là như vậy. Ở đây, với cái nhìn của những người đệ tử Phật, rõ ràng chúng ta thấy là trên thế giới, từ trước đến giờ, chưa có một con người thứ hai nào vĩ đại, cao cả, thiêng liêng như Đức Phật. Nhưng Đức Phật của chúng ta với cái thái độ hết sức là khách quan và khiêm tốn, Ngài không nói như thế. Đức Phật nói rằng: Trước khi Đức Phật xuất hiện, trên Trái Đất này đã từng có những vị Bích Chi Phật là những người, những vị thánh mà không cần thầy dạy, tự mình tu rồi cuối cùng chứng ngộ.
[20:48]Cái chứng ngộ đó không khác Đức Phật, chỉ có là cái nhân duyên, phước đức, trí tuệ có thể không bằng Đức Phật, nhưng sự chứng ngộ không thua Đức Phật. Đức Phật gọi đó là những vị Độc Giác Phật đã xuất hiện trước Đức Phật. Ngài cũng nói về những vị Phật quá khứ như là Phật Tỳ Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Ca Diếp, vân vân, là những đức Phật quá khứ như vậy. Là những đức Phật đó, Ngài nói rằng đúng là đấng Chánh Giác của trời và người. Là những vị đó là trí tuệ như Phật, phước đức như Phật, nhân duyên như Phật, chứng ngộ như Phật vào những thời rất xa xưa, rất xa xưa của Trái Đất này. Ở đây, lời Phật nói như thế về những vị Phật quá khứ
[21:34]thì chúng ta không tìm thấy trong cái lịch sử khảo cổ của nhân loại, bởi vì lịch sử cái khoa học khảo cổ của thế giới hiện nay thì không có khẳng định được rằng Trái Đất này đã qua rất nhiều nền văn minh cao từ thời rất xưa, rất xưa. Nhưng trong kinh Phật thì Đức Phật có nói đến điều đó. Ngài nói rằng Trái Đất này đã trải qua rất nhiều nền văn minh, đã
[22:04]hiện giữa thế gian này. Và sau này Đức Phật cũng nói sẽ còn những vị Phật tương lai xuất hiện, mà cụ thể nhất là Đức Phật ấn chứng cho Bồ Tát Di Lặc hiện nay đang ở trên cung trời Đâu Suất, sau này sẽ đản sinh để trở thành một vị Phật tương lai nối tiếp Đức Phật. Và như vậy, chúng ta thấy thế này: Là đối với các tôn giáo khác là họ có một thần linh cao cả nhất mà không ai bằng được, vĩnh viễn trước đó không có người bằng, sau đó không có người bằng. Nhưng trong đạo Phật, chính miệng Đức Phật nói ra rằng đúng, đạo quả giải thoát là cao nhất không ai bằng, nhưng trước Đức Phật đã có nhiều người đạt được và
[22:51]sau Đức Phật sẽ còn những người đạt được. Nên ở đây chúng ta thấy là cái thái độ của Đức Phật là một thái độ khách quan và khiêm tốn, còn hầu hết trên thế gian này ai cũng muốn mình hơn cả quá khứ và hơn cả tương lai. Ví dụ như có một vài người hiện nay mà có khả năng ngoại cảm, họ có thể tiên tri biết chuyện này chuyện kia thì họ đã tuyên bố rằng 5.000 năm trước họ chưa có ai có khả năng ngoại cảm như họ, hoặc là vài ngàn năm sau họ cũng sẽ không ai có cái phép như họ. Chúng ta thấy con người ta vội vàng như vậy. Còn ở đây, Đức Phật đã không như thế. Chúng ta thấy Đức Phật cũng là một con người như mọi người,
[23:38]cũng là một tu sĩ như mọi tu sĩ, cũng là một thiền giả như mọi thiền giả, nhưng mà đạo quả Phật đạt được thật là tuyệt đối, thật là vô biên. Nơi cái đạo quả này, trên thế gian này không ai có thể dùng tâm mình để hiểu được tâm của Phật, không ai có thể dùng trí tuệ mình để hiểu được trí tuệ Phật. Đây là chỗ chúng ta phải nghiệm kỹ câu nói này. Khi mà chúng tôi nói rằng không ai có thể dùng tâm mình để hiểu hết được tâm Phật là để nhắc nhiều người trong cuộc đời này. Có nhiều người đến với đạo Phật không bao lâu, họ đến với đạo Phật 1 năm, 3 năm, 5 năm, 7 năm, 10 năm, 20 năm gì đó, họ nghiên cứu giáo lý đạo Phật rồi họ bị cái ảo tưởng
[24:23]rằng họ đã nắm hết toàn bộ cái yếu chỉ, cái tinh túy của đạo Phật, của Đức Phật. Và như vậy, họ thường hay nói những cái câu cao ngạo, cho rằng mình bằng Phật, cho mình đã thấu hiểu hết mọi cái chân lý của đạo Phật. Những người như vậy rất là đáng thương. Đáng thương vì sao? Là bởi vì họ không đủ trí tuệ để hiểu rằng là không bao giờ chúng ta có thể dùng tâm mình hay dùng trí tuệ mình để có thể hiểu được Đức Phật, bởi vì cái trí giác của Đức Phật thật là siêu tuyệt, thật là vô biên. Chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu được mà thôi. Ở đây, chúng ta xem lại những bài kinh Phật, chúng ta sẽ thấy những điểm thế này:
[25:08]Có một đoạn kinh mà diễn tả về Đức Phật ăn thì chúng ta thấy hết hồn luôn. Tức là bài kinh diễn tả khi Đức Phật đưa cái muỗng múc miếng cơm lên thì cái tay khoan thai như thế nào, cái miếng cơm mà Ngài múc không quá nhiều, không quá ít, không để tràn một hạt nào rớt ra khỏi cái muỗng mà không để quá lưng. Ngài đưa vào miệng với cái miệng mở ra vừa vặn như thế nào, không mở quá lớn, không mở quá nhỏ. Mà khi cái muỗng đưa vào, Ngài ngậm lấy một cách nhẹ nhàng mà đổ hết cái phần thức ăn vào miệng xong rút muỗng ra khoan thai để xuống và bắt đầu nhai với cái nhai không quá nhanh, không quá chậm. Và với những hạt cơm trong miệng, nghĩa là mức độ nó cỡ nào thì Ngài bắt đầu nuốt.
[25:53]Nghĩa là bài kinh mà diễn tả cái oai nghi của Đức Phật về nhai ăn thôi. Đó là chưa kể tới những cái bài kinh mà diễn tả cái oai nghi Đức Phật về đi và đứng. Khi Ngài bước đi nghĩa là từng bước chân đi không quá nhanh, không quá chậm, đi mà như không cần phải đến, từng bước chân đặt lên mặt đất cứ như là đặt ở trên mây, bởi vì như là nhẹ nhàng như mây như gió nhưng mà lại trầm hùng như một con voi chúa đi giữa bầy đàn voi. Những bài kinh mà diễn tả về oai nghi Đức Phật siêu việt như vậy, nghĩa là từng cái phất tay, từng cái nhấc chân đều hàm chứa trong đó đầy đủ mọi trí tuệ, đầy đủ mọi giải thoát.
[26:32]Ngay cả ánh mắt của Đức Phật nhìn không bao giờ có cái nhìn thừa, không bao giờ Ngài đảo mắt nhìn một cách nghĩa là vội vã rồi liếc mắt lại giống như mình, nghĩa là khi Ngài quay nhìn ở đâu là có ý có tứ chậm rãi, khi thu tầm mắt lại đều có ý có tứ chậm rãi chứ không bao giờ mà sơ suất dù một cái chi tiết nhỏ. Chúng ta thấy Đức Phật không có một ngón tay nhúc nhích mà mà dư thừa. Nghĩa là toàn bộ cái thân của Ngài, từ một sợi tóc, từ một ngón tay đều được trí tuệ Ngài kiểm soát trong sự bình an vô hạn. Nghĩa là nếu mà chúng ta được phước chiêm ngưỡng Đức Phật toàn bộ tấm thân Đức Phật thì chúng ta sẽ cảm nhận được cái
[27:20]sự bình an, sự giải thoát, sự thánh thiện toát ra toàn bộ Đức Phật như một cái tòa núi châu báu rực rỡ. Nhưng nếu nhưng nếu ví dụ rằng chúng ta chỉ được phước nhìn một ngón tay Đức Phật thôi chứ chúng ta không được phước nhìn toàn bộ thân Đức Phật, nếu chúng ta chỉ được phước nhìn một ngón tay Đức Phật, chỉ chiêm ngưỡng một ngón tay, chúng ta vẫn có thể cảm nhận từ ngón tay đó toàn bộ sự bình an, toàn bộ sự giải thoát. Đó là cái điều vĩ đại vô cùng của Đức Phật. Vậy chúng ta hiểu rằng tâm của Ngài cực kỳ tinh tế và cực kỳ thanh tịnh. Lòng từ bi của Ngài thì phủ trùm đến tất cả các cõi trời, trên là đến các cõi trời, dưới là đến tất cả các loài sâu bọ.
[28:06]Nghĩa là vào mùa mưa vậy, khi Đức Phật kiết cái giới an cư nghĩa là cho chúng Tăng ở lại một chỗ, vì lúc đó Ngài thương chúng Tăng phải đi đường xa cực khổ mà cũng sợ là mùa đó dế trùng sinh sôi nảy nở nhiều, đi từng đoàn mà cả 500 vị Tỳ kheo, 1.000 vị Tỳ kheo thì có thể là giẫm đạp rất nhiều cái côn trùng dưới đất như con cào cào, con dế, con giun, vân vân. Đó là lòng thương của Ngài, hoặc là mọi điều mà Ngài nói ra Ngài cân nhắc trước cân nhắc sau rất là kỹ. Những điều mà Ngài làm lợi ích cho loài người mãi mãi mà cũng lại lợi ích cho các vị thiên tử ở trên cõi trời mãi mãi. Nghĩa là một lời Ngài nói ra không có ngẫu hứng nói cho người
[28:55]trước mắt, mà một lời của Ngài nói ra trong đó hàm chứa cái trí tuệ lợi ích muôn đời muôn kiếp cho chúng sinh. Nên chúng ta thấy cái trí tuệ đó ngày nay không ai có thể so sánh được. Ví dụ bây giờ chúng ta đến gặp một vị sư, một vị thầy tu hoặc là một ni sư, vân vân, chúng ta hỏi đạo thì vị đó có khi là vì nể chúng ta nói một đạo lý, chúng ta nghe lòng chúng ta thanh tịnh, nhưng cái đạo lý đó đem nói qua người thứ hai, người kia mất thanh tịnh liền, hiểu lầm liền. Đó là lợi ích cho người trước mắt nhưng mà không lợi ích cho người về sau. Còn Đức Phật thì không như vậy. Ngài nói một đạo lý lợi ích cho người trước mắt nhưng mà
[29:37]cũng lợi ích vĩnh viễn cho tất cả chúng sinh về sau. Vì từng câu nói của Ngài, từng lời của Ngài là ẩn chứa cái trí tuệ của một bậc giác ngộ trong đó chứ không có một sơ suất nhỏ như vậy. Đọc cuộc đời Đức Phật, đọc kinh Phật, chúng ta thấy một điều này nữa là so với các tôn giáo khác hay tự ràng buộc mình trong cái xứ sở của họ.
[30:05]Ví dụ như là chúng ta đọc Kinh Cựu Ước của người Do Thái, cũng là đạo Thiên Chúa hay đạo Hồi á đều dùng chung cuốn Kinh Cựu Ước, thì cuốn kinh đó chỉ nói tới xứ sở Do Thái, coi dân Do Thái là cái dân mà được Chúa chọn, dân cao cả. À người nào mà không phải người Do Thái là bị chê bai hết. Ừm, chúng ta để ý như vậy. Hoặc là đạo Hồi mà tiên tri Mahomet nói thì chỉ nói ca ngợi người Ả Rập, còn các người khác thì không coi trọng bằng. Riêng trong đạo Phật, đọc các kinh điển đạo Phật, chúng ta thấy một điều là Đức Phật thường hay nói đến tam thiên đại thiên thế giới. Nghĩa là một cái đất nước của ngài đối với ngài quá nhỏ,
[30:50]mà cả cái Trái Đất này, cả cái nhân loại này đối với Đức Phật cũng hãy còn nhỏ, mà cái trí tuệ Đức Phật thấy được là trong vũ trụ này còn vô số cái hành tinh, vô số Trái Đất giống như vậy mà có chúng sinh ở. Và lòng từ bi của Đức Phật đều bao phủ, đều chan rải đến tất cả những chúng sinh như thế. Và Đức Phật cũng dạy cho những người đệ tử Phật giống như vậy. Nghĩa là ngày hôm nay chúng ta đến với đạo Phật, chúng ta học theo tâm hạnh từ bi của Đức Phật thì lòng thương yêu này chúng ta không giới hạn ở những người thân chung quanh mình, ở đất nước của mình, thậm chí cả cái Trái Đất này, mà chúng ta phải nghe lời Phật dạy là chan rải cái lòng thương
[31:35]yêu của mình đến tận vô tận, vô cùng trong vũ trụ này. Nên chúng ta thấy đây là một cái điều đặc biệt. Hôm nay là ngày Phật Đản, chúng ta nói một vài điểm về Đức Phật thì chúng ta phải nhắc mình thế này: Thứ nhất là đừng bao giờ nghĩ rằng mình bằng Phật. Nhớ trong lòng chúng ta như vậy, tuyệt đối không bao giờ có cái ý nghĩ rằng mình bằng Phật. Đó là điều chúng ta dặn lòng trước hết. Điều chúng ta dặn lòng kế đó là đừng có tin bất cứ ai nếu người đó cho rằng họ bằng Phật. Chúng ta nhớ điều đó như vậy. Nếu trong tâm chúng ta tự cho mình bằng Phật, chúng ta đang bị ảo tưởng và chúng ta sẽ bị tổn phước nặng nề.
[32:25]Cái quả báo của nó sẽ là sự điên loạn. Còn nếu người nào đó mà tự cho họ bằng Phật, tự cho họ là đạo sư, là thánh sư, là vô thượng sư, vân vân, là ý họ muốn họ khoe ngang với Phật thì chúng ta phải hiểu ngay lập tức nếu họ không có ý lừa bịp thì họ là người hiểu lầm một cách đáng thương là không đủ trí tuệ. Nếu họ là người lừa bịp thì dĩ nhiên tội rất là nặng vì họ cố ý, còn nếu mà họ hiểu không tới thì rất là đáng thương, chúng ta cố gắng giải thích cho họ. Đó là điều chúng ta phải dặn như vậy, bởi vì trước Phật và sau Phật, trừ cho đến khi nào Phật Di Lặc xuất hiện, còn không, không ai có thể so sánh với Phật được cả.
[33:14]Và hôm nay cũng vậy, chúng ta đến đây kỷ niệm ngày Phật Đản thì chúng ta dặn với nhau, cùng nhau tâm nguyện là phải bảo vệ cái Chánh pháp mà Đức Phật đã đem đến cho thế gian này. Chúng ta bảo vệ Phật pháp mà Đức Phật đã soi sáng cho thế gian này. Chúng ta bảo vệ bằng cách nào? Thì có năm điều để chúng ta bảo vệ Phật pháp. Thứ nhất là bảo vệ Phật pháp thoát khỏi sự biến thái, sai với căn bản của Phật pháp. Là có những người từ từ họ tự ý giải thích đạo Phật, nhưng mà rồi sai với căn bản của đạo Phật. Ví dụ như luật nhân quả họ cũng có nói, nhưng mà họ nói một lát thì họ nói rằng có một chỗ không còn nhân quả chi phối được nữa, thì người này hiểu sai đạo Phật.
[34:08]Như ví dụ có những người nói là người tu đến đắc quả thì không còn bị nhân quả chi phối, muốn làm gì làm không còn tội phước, thì người này sẽ đọa làm thân chồn 500 kiếp. Vì như vậy họ suy luận, suy diễn một lát sai mất căn bản đạo Phật. Hoặc là ví dụ như là cái lý tưởng về sự giải thoát giác ngộ là mục tiêu không thể sai đạo Phật, nhưng nếu mà giải thích đạo Phật cuối cùng đánh mất cái lý tưởng giải thoát giác ngộ là người này hiểu sai. Hoặc là cái tâm từ bi trong đạo Phật là điều không thể thiếu, nhưng nếu một người giảng dạy về đạo Phật rồi cuối cùng chối bỏ cái tâm từ bi thì người này hiểu sai đạo Phật.
[34:50]Cho nên vì vậy trước hết, chúng ta phải hiểu rõ căn bản của Phật pháp để bảo vệ không cho ai giải thích sai đạo Phật, là cái thứ nhất. Cái thứ hai, chúng ta bảo vệ Phật pháp là thoát khỏi sự cố chấp mà không cho Phật pháp phát triển. Là mỗi ngày cái tâm tình con người phát triển, thời đại phát triển thay đổi, cái suy nghĩ, cái quan điểm con người thay đổi, đạo Phật thì không bao giờ sai, nhưng mà lý luận của đạo Phật thì luôn luôn cần phải phát triển mới mãi. Cho nên là người nào mà luôn luôn muốn giữ đạo Phật lại y như cũ, không cho phát triển về lý luận thì chúng ta biết người đó cũng đã làm cho đạo Phật mai một, lạc hậu và như vậy tàn lụi dần dần.
[35:37]Do đó, chúng ta phải bảo vệ Phật pháp không cho có sự cố chấp. Điều thứ ba là chúng ta bảo vệ đạo Phật thoát khỏi những âm mưu phá hoại từ bên ngoài. Nghĩa là những người ở bên ngoài luôn luôn họ tìm cách phá bớt cái ảnh hưởng của đạo Phật để cho người ta chê đạo Phật. Ví dụ như họ nói rằng đạo Phật là mê tín, ví dụ họ nói rằng đạo Phật là tiêu cực, là thụ động thì những cái đó là những âm mưu phá hoại từ bên ngoài. Vì họ đã giải thích hiểu sai về đạo Phật mà họ muốn truyền rao để cho nhiều người cùng chán ghét đạo Phật. Thì chúng ta phải bảo vệ đạo Phật thoát khỏi những âm mưu đó. Hoặc là có những cái âm mưu là gây chia rẽ trong đạo Phật
[36:23]thành ra nhiều mối, nhiều nhóm, nhiều giáo hội, nhiều giáo phái, nhiều tông phái để cho đạo Phật tự mình yếu đi. Thì chúng ta là người đệ tử Phật ngày hôm nay phải sáng suốt nhận định, đạo Phật trước đây đã lỡ chia nhiều tông phái rồi, lỡ rồi thì thôi không nói, nhưng mà chúng ta thứ nhất không cho phép chia rẽ thêm nữa, không cho phép chia thêm giáo hội ra nhiều giáo hội, không cho phép lập thêm nhiều giáo phái, tông phái. Đồng thời, chúng ta kêu gọi lần lần trở thành hợp nhất nha. Nghĩa là dù có thể người ở hệ phái này, ở tông phái kia nhưng mà tu làm sao từ từ trở thành giống nhau, đệ tử Phật.
[37:04]Nghĩa là tuy lỡ mình là ở phái này, lỡ là mình là đã là phái kia, nhưng trong thâm tâm mình tự thấy mình không còn một hệ phái nào nữa mà chỉ còn duy nhất là người đệ tử Phật. Là như vậy chúng ta thoát khỏi cái âm mưu mà bị kích động chia rẽ từ bên ngoài, phá hoại từ bên ngoài. Cái điều thứ tư là cũng là điều mà giống như vậy là thoát khỏi sự chia rẽ từ bên trong. Có khi bên ngoài người ta không xúi mình chia rẽ, mà tự bên trong đạo Phật chia rẽ lẫn nhau. Thì người đệ tử Phật ngày hôm nay cũng phải bảo vệ đạo Phật thoát khỏi sự chia rẽ như thế. Vì ở trong đây thì rất là nhiều, có khi vì hơn thua, vì danh lợi,
[37:46]vì ganh tị rồi nghĩa là những người cùng là đệ tử Phật mà nói xấu nhau, chia rẽ, chống báng nhau cũng làm cho đạo Phật yếu đi. Đây là những điều mà chúng ta phải cảnh giác, phải bảo vệ Phật pháp thoát khỏi những điều như thế. Điều cuối cùng mà để bảo vệ Phật pháp là chúng ta phải nỗ lực tu, học, truyền bá và bảo vệ. Chúng ta phải thực sự tu tập theo đạo Phật, không được nói trên cái miệng suông. Phải có lạy Phật, phải có sám hối tụng kinh, phải có tọa thiền, phải có tu tập từ bi, phải biết đi làm việc thiện. Là phải có tu, tức là phải có tu, không được mà đến với đạo Phật chỉ nói cái miệng không.
[38:31]Chúng ta phải có học, nghĩa là cái học đối với Phật pháp không bao giờ đủ, không bao giờ đủ. Không bao giờ chúng ta được cho mình là đã hiểu hết về đạo Phật, phải nhớ điều đó, không bao giờ. Dù sau này ở trong những người chúng ta đang có mặt ở đây, có một người nào đó trở nên cực kỳ uyên bác, giỏi giắn, có thể bước lên cái là giảng đường thuyết pháp thao thao bất tuyệt cũng không bao giờ tự cho phép mình ngừng cái việc học Phật pháp, bởi vì Phật pháp là vô biên vô tận, nhớ điều đó như vậy. Huống hồ là ngày hôm nay chúng ta hầu hết là những người mới đến với Phật pháp thì càng phải nỗ lực tinh tấn, học hỏi Phật pháp nhiều hơn nữa.
[39:13]Cái điều thứ ba là truyền bá. Đức Phật với vô số những công hạnh khổ cực để đến với cuộc đời để đem đến cái giáo lý cho chúng ta. Thì ngày hôm nay, chúng ta đền ơn Phật bao nhiêu cách nào cũng không đủ. Dù chúng ta lạy Phật muôn ngàn lạy cũng không đền được, dù chúng ta có đem thân mạng này đốt đi để cúng Phật cũng không đền được ơn Phật. Mà chỉ có một cách để đền ơn Phật chân chính nhất, đúng đắn nhất, đó là đem lời mà Phật đã dạy cho khắp tất cả mọi người trên thế gian này. Đó là sự đền ơn chân chính nhất, đó là nối tiếp cái tâm nguyện của Phật, nối tiếp cái hoài bão của Phật, là sự cúng dường chân chính nhất.
[39:59]Hoài bão của Phật, tâm nguyện của Phật là muốn cho tất cả chúng sinh đều đều được giác ngộ, hiểu được giáo pháp, ngộ được đạo lý. Thì ngày hôm nay chúng ta thực hiện hoài bão đó của Phật, thực hiện tâm nguyện đó của Phật, một khi mình đã may mắn có được đạo lý rồi thì cố gắng đem đạo lý đó đến với tất cả mọi người thì đó chính là sự cúng dường chân chính nhất. Ngày hôm nay chúng ta vui mừng, chân thành, cảm xúc để đón mừng Phật Đản. Chúng ta nói với nhau về ý nghĩa Phật Đản qua cái nội dung là trước Phật và sau Phật để hiểu rằng trước và sau Phật vĩnh viễn không có người bằng Phật, trừ những vị Phật mà chính Đức Phật nói.
[40:41]Và chúng ta cũng nhắc nhau cái bổn phận của người đệ tử Phật là vinh danh Đức Phật bằng cái nỗ lực tu tập của chính mình và truyền bá, bảo vệ Phật pháp. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.