Transcript: Kinh Nikaya 31 - Kinh Tiểu Không Khổ Uẩn

  • Speaker: Thượng Tọa Thích Chân Quang
  • Duration: 1:08:27

Full transcript of the talk (in Vietnamese), taken from its subtitles. Select a timestamp to play that part.

[0:10]Để khi nào có duyên thì ai đọc. Hôm nay mình bắt đọc cái bài Tiểu kinh Khổ Uẩn là nói tới cái khổ hạnh của các ngoại đạo. Thầy nói phớt qua cho nên gọi là tiểu kinh. Cái nhân duyên của bài kinh này là do một người dòng họ Thích Ca tên là Mahānāma.

[0:31]Ông này ổng là dòng họ hoàng tộc. Mà những người trong hoàng tộc đi tu hết. Rồi ông phải ở lại để ông giữ ngôi. Ông làm cư sĩ nhưng là một người Phật tử, thỉnh thoảng ông đến thăm hỏi đạo, ủng hộ, giúp đỡ, cúng dường chư Tăng. Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn sống giữa dòng họ Sakka, trong thành Kapilavatthu, tại vườn Nigrodha. Lúc ấy có người Sakka tên là Mahānāma, thì trong Hán tạng hay đọc là Ma Ha Nam, đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến xong, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Mahānāma bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, đã lâu rồi con đã hiểu như thế này lời dạy của Thế Tôn: 'Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm'.

[1:24]Bạch Thế Tôn, con đã hiểu như thế. Tuy vậy, đôi lúc các tham pháp chiếm cứ tâm con và an trú lại; các sân pháp chiếm cứ tâm con và an trú lại; các si pháp chiếm cứ tâm con và an trú lại. Bạch Thế Tôn, con tự suy nghĩ: 'Pháp nào tự trong con không đoạn trừ được để cho các tham pháp, sân pháp, si pháp chiếm cứ và an trú trong tâm con?'". "Này Mahānāma, có một pháp trong ngươi chưa được đoạn trừ. Do vậy, các tham pháp, sân pháp, si pháp xâm nhập và an trú trong tâm ngươi. Và này Mahānāma, pháp ấy trong ngươi có thể đoạn trừ được nếu ngươi không sống trong gia đình, nếu ngươi không thụ hưởng các dục vọng.

[2:13]Này Mahānāma, vì pháp ấy trong ngươi chưa được đoạn trừ,

[2:19]vì ngươi sống trong gia đình và thụ hưởng các dục vọng. Các dục vọng vui ít, khổ nhiều, não nhiều; sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn". Câu này Phật nhắc đi nhắc lại rất nhiều để chúng ta nhớ. Nhiều lần mình nhớ: Các dục vọng vui ít, khổ nhiều, não nhiều; sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn. "Này Mahānāma, nếu một vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với như thật chánh trí tuệ, nhưng nếu vị này chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sinh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy vị ấy chưa khỏi bị các dục chi phối. Này Mahānāma, khi nào vị Thánh đệ tử khéo thấy như vậy với chánh trí tuệ:

[3:06]'Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều; sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn'". Nghĩa là thế này, cái câu này nói ra ai cũng hiểu, nhưng mỗi người hiểu theo một cách khác. Người hiểu như bây giờ mình nghe mình cũng hiểu, còn cái vị mà có tu, có nhập được thiền định thì hiểu câu này sâu sắc hơn, nên Phật khuyến khích cái hiểu sau này nè, cái hiểu mà do mình có thiền định mà hiểu. "Và vị này chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sinh hay một pháp nào cao thượng hơn", tức là từ Sơ thiền trở lên á, "như vậy vị ấy không bị các dục chi phối". Hiểu điều đó rồi, hiểu các dục là nguy hiểm rồi mà phải chứng được từ Sơ thiền trở lên á mới không bị các dục chi phối.

[3:48]"Này Mahānāma, thuở xưa, khi Ta còn là Bồ-tát, chưa chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: 'Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều; sự nguy hiểm ở đây là nhiều hơn'. Dù Ta có thật có thấy như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc hay pháp nào cao thượng hơn, và như vậy Ta biết rằng Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Ta biết rằng Ta chưa khỏi bị các dục chi phối". Câu này rất quan trọng đối với người tu hành.

[4:25]"Và này Mahānāma, khi nào Ta thấy điều đó với chánh trí tuệ và chứng được thiền pháp thì như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahānāma, thế nào là vị ngọt các dục? Này Mahānāma, có năm pháp tăng trưởng các dục: Các sắc pháp do mắt nhận thức khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức; các hương do mũi nhận thức; các vị do lưỡi nhận thức; các xúc do thân nhận thức khả ái, khả lạc, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này Mahānāma, y cứ vào năm pháp tăng trưởng các dục này có lạc và hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.

[5:09]Và này Mahānāma, thế nào là sự nguy hiểm các dục?". Cái bài này nó lấy cái bài kinh khác trích vô để dẫn thêm là trong bài kinh từ 143 tới 147 cũng có nói về cái đau khổ mà cái dục nó đưa đến.

[5:29]Ờ như là người ta đã vì cái dục mà người ta tham lam, sân hận rồi mắc quả báo, bị hình phạt, tù đày, vân vân. Thầy giải thích đoạn đó. Giờ mình không có lặp lại, mình nói ý nghĩa cho biết thôi. "Như vậy là sự nguy hiểm các dục đưa đến đau khổ tương lai là khổ uẩn do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân. Này Mahānāma, một thời Ta ở tại Rājagaha, trên núi Linh Thứu, lúc bấy giờ rất nhiều Ni-kiền-tử tại sườn núi Isigili, trên Thạch Nham, đứng thẳng người, không chịu ngồi và cảm giác những cảm thọ thấu thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy". Hồi nãy thì Phật nói các pháp dục vọng, hưởng thụ khoái lạc,

[6:10]bây giờ Phật nói ngược lại cái pháp mà khổ hạnh, đau khổ, đày đọa mình. "Này Mahānāma, rồi Ta vào buổi chiều từ thiền tịnh độc cư đứng dậy đi đến sườn núi Isigili tại Kālasilā, chỗ các Nigantha ấy ở. Khi đến nơi, Ta nói với các Nigantha ấy: 'Chư Hiền, tại sao các ngươi lại đứng thẳng người, không chịu ngồi xuống và cảm giác những cảm thọ thấu thiết, khổ đau, khốc liệt, bén nhạy như vậy?'. Các vị Nigantha ấy trả lời như sau: 'Này Hiền giả, Nigantha Nātaputta", tức là ông giáo chủ của cái, "'là bậc Toàn Tri, Toàn Kiến,

[6:47]tự xưng là có tri kiến toàn diện như sau: "Dù ta có đi, có đứng, có ngủ và có thức, tri kiến luôn luôn được tồn tại liên tục ở nơi ta". Vị ấy nói như sau: "Này các Nigantha", tức là ông giáo chủ nói như vậy, "nếu xưa kia ngươi có làm ác nghiệp, hãy làm cho nghiệp ấy tiêu mòn bằng khổ hạnh khốc liệt này. Sự không làm ác nghiệp trong tương lai chính do sự hộ trì về thân, sự hộ trì về lời nói, sự hộ trì về ý ngay trong hiện tại ở tại nơi đây. Như vậy chính nhờ sự thiêu đốt, sự chấm dứt các nghiệp quá khứ, sự không làm các nghiệp mới mà không có sự tiếp tục trong tương lai. Do sự không tiếp tục trong tương lai, các nghiệp được diệt trừ;

[7:29]do nghiệp được diệt trừ, khổ được diệt trừ; do khổ được diệt trừ, cảm thọ được diệt trừ; do cảm thọ được diệt trừ, tất cả khổ đau sẽ được tiêu mòn". Và vì chúng tôi chấp nhận điều ấy và chúng tôi kham nhẫn điều ấy nên chúng tôi được hoan hỷ'". Cái đoạn này có nghĩa thế này: Nghĩa là cái ông giáo chủ đó ổng nói rằng sở dĩ mà mình không giải thoát vì mình có cái nghiệp quá khứ. Bây giờ muốn giải thoát là phải cho hết cái nghiệp quá khứ. Mà muốn hết cái nghiệp quá khứ đó, vì quá khứ là mình gây cái nghiệp nên đời này mình phải chịu khổ, thì bây giờ mình chủ động mình trả trước bằng cách là mình đày đọa mình một cách đau khổ cùng cực.

[8:09]Khi mình đày đọa mình một cách đau khổ cùng cực như vậy là mình đã tự nguyện mình trả hết cái nghiệp quá khứ. Do quá khứ hết nghiệp nên mình được giải thoát.

[8:22]Cũng nói theo nhân quả mà, nên câu này mình không tinh ý mình bị lừa liền, thành ra hiểu sai một chút là thành một cái đạo mà tà kiến luôn. Chứ ông giáo chủ mà Nigantha Nātaputta này ổng giỏi, có cái trình độ tâm linh cao lắm, cho nên ổng nói không có nói láo là: "Dù ta có đi, có đứng, có ngủ và có thức, tri kiến luôn luôn được tồn tại liên tục ở nơi ta" là vậy, nghĩa là một người mà trong đời sống có sự tỉnh giác.

[8:50]Cái người mà đạt được thiền định sâu lắng khi họ nằm ngủ nhưng họ tỉnh giác, vẫn ngủ, vẫn ngáy nhưng mà vẫn tỉnh sáng, ai lại gần đây rần rụng rạc rạc biết hết. Thì ông này ổng đạt được cái trình độ thiền định đó nên ổng nói ổng là bậc Toàn Tri, Toàn Kiến, ngủ hay thức gì tri kiến không bao giờ biến mất. Và ổng nói lên cái giáo lý là phải khổ hạnh, đày đọa mình để tiêu diệt các nghiệp, khi nghiệp hết thì thì mình giải thoát.

[9:19]Khi được nói như vậy, ta nói với các Nigantha ấy như sau: "Này chư hiền Nigantha, các ngươi có biết chăng trong quá khứ các ngươi đã có mặt?" "Thưa hiền giả, chúng tôi không biết." "Và các ngươi có biết trong quá khứ các ngươi có làm ác nghiệp hay không làm ác nghiệp?" "Dạ." "Ngươi có biết là trong quá khứ các ngươi làm cái ác nghiệp loại nào hay không?" "Dạ không." "Như vậy các ngươi có biết là cái mức độ đau khổ cỡ nào tiêu được hết cái nghiệp đó không?" "Và các ngươi có biết là sự đoạn trừ ngay trong hiện tại các bất thiện pháp và sự thành tựu các thiện pháp là như thế nào?" Cái Phật nói: "Đúng rồi, các ông toàn tu hành trên sự không biết.

[10:00]Các ông đưa ra một con đường để tu mà hỏi từng điểm từng điểm trong con đường đó mấy ông không biết gì hết. Thấy rõ ràng là sai rồi." Thấy Phật cũng hay không? Hỏi lại cái thấy trật liền. "Các ngươi không biết điều gì hết", đoạn này dài lắm lặp lại hết, "Các ngươi không biết là trong quá khứ có mặt hay không, mình đã tạo nghiệp gì, bây giờ mình phải đau khổ, khổ hạnh cỡ nào, mà dùng loại khổ hạnh nào cũng không biết. Không biết làm sao đoạn trừ các bất thiện pháp trong hiện tại để thành tựu thiện pháp trong hiện tại cũng không biết. Chư hiền Nigantha, như vậy thì những kẻ săn bắn ở đời với bàn tay đẫm

[10:34]máu làm các nghiệp hung dữ được tái sinh trong loài người, những hạng ấy có xuất gia trong hàng ngũ Nigantha các ngươi không?" "Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ." Đây là cái lý luận, cái này mình nghe không khéo là mình chấp, mình cũng có thể hiểu giống như vậy đó. Nghĩa là không có hạnh phúc đưa đến hạnh phúc mà chỉ có chịu đựng đau khổ mới đưa đến hạnh phúc. Mình nghe nhiều khi coi chừng cũng xuôi tai á. "Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc

[11:10]và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama." Họ cũng nói có lý lắm, họ nói mà nếu mà hạnh phúc mà đạt được cái hạnh phúc, cái ý hạnh phúc trước á tức là sự hưởng thụ dục lạc thế gian, cái hạnh phúc sau là cái tâm an lạc giải thoát. Họ nói rằng cái hưởng thụ dục lạc thế gian không thể nào mà đưa đến cái an lạc của thiền định được thì họ nói câu này có lẽ đúng rồi. Nhưng mà lời nói này thật sự đã được các tôn giả Nigantha nói lên một cách hấp tấp không có suy tư là hạnh phúc không thể thành tựu nhờ hạnh phúc, hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ.

[11:47]Bây giờ bắt đầu Phật mới hỏi lại. "Chư hiền Nigantha, nay ta sẽ hỏi các ngươi một câu cũng về vấn đề này. Nếu các ngươi vui lòng hãy trả lời câu hỏi ấy. Các ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha, vua Ma Kiệt Đà Seniya Bimbisara là vua Bình Sa Vương á, có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?" Tức là ngồi thiền bất động hay là đứng bất động trong thiền định. "Này hiền giả, không thể được." "Chư hiền Nigantha, nhà ngươi nghĩ thế nào? Vua Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy

[12:26]lạc thọ luôn sáu ngày, năm ngày năm đêm, bốn ngày bốn đêm, ba ngày ba đêm, hai ngày, một ngày một đêm được không?" "Dạ thưa không." "Còn ta, ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm, trong hai ngày hai đêm, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, bảy ngày bảy đêm. Nhà ngươi nghĩ thế nào? Ai sống hạnh phúc hơn ai? Vua Bimbisara hay là ta?" "Thưa Tôn giả, Tôn giả sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisara." Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Mahānāma thuộc dòng họ Sakya hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn. Bài kinh này thì ngắn đơn giản, có nhiều cái ý hay để mình phân tích với nhau.

[13:09]Đầu tiên á là ông Mahānāma ổng nói lên là ổng biết cái tham, sân, si là xấu nhưng vẫn bị. Bị cái này là Phật phân tích là do gia duyên ràng buộc, các thú vui nó tràn ngập vây quanh. Phật nói người mà sống như vậy với cái bổn phận, trách nhiệm của gia đình, về cá nhân, mình hưởng thọ các thú vui của gia đình thì như vậy cái tham, sân, si khó có thể dứt trừ được. Cho nên cái điều này Đức Phật là khuyến khích đời sống xuất gia, dễ đưa tới giải thoát hơn. Bài kinh này như vậy, nhưng ở đây mình phân tích cái ý nghĩa phụ của nó. Bây giờ nói á: Cư sĩ khó tu vì công ăn việc làm ha, vì các trò vui cuốn hút mất thì giờ của họ.

[14:02]Thì như vậy mình đi xuất gia, nhưng mà nếu không khéo thì đời sống xuất gia của mình cũng sẽ bị tương tự nếu mình không biết sắp xếp. Ví dụ như mình vẫn phải làm những việc gì quần quật quá đáng, lo toan quá đáng, hoặc là mình vẫn hưởng thụ những cái thú vui của người đời như là

[14:24]ví dụ như mình là người tu mà mình có hưởng cái gì đó giống người đời.

[14:33]Ở đây quý sư không khéo lại hưởng giống người đời, như bên kia xập xình xập xình. Bây giờ mình nói ra thì giống như nói lỗi người tu, nhưng ở đây chúng ta tự biết ha. Có những người tu mà hưởng thụ những cái thú vui ở ngoài đời nên các tham, sân, si nó cứ chiếm cứ và an trụ trong tâm mình. Ở đây quý sư tự nghĩ nha.

[14:54]Ví dụ như là, thôi nói lại đụng chạm không muốn nói. Hút thuốc nè, uống bia, nhiều cái nữa.

[15:07]Nhiều khi có người đánh bài nữa, đủ thứ chuyện mới ra phiền lắm. Thôi bây giờ chúng ta để ý thế này: Khi chúng ta bước vào đời sống xuất gia thì ngoài cái việc mà tránh né những trò vui thế gian, chúng ta vẫn phải sắp xếp cái đời sống trong chùa sao cho nó có nhiều thời gian tu hành, bớt bận tâm về cái cái sinh kế, bớt bận tâm về sinh kế. Có những chùa vì lý do kinh tế vẫn phải tổ chức lao động thì điều đó trong thời buổi này mình cũng cảm thấy là đúng, chứ không thể nào mình nhờ vả Phật tử hoàn toàn. Mình chưa đủ định lực để ăn được một ngày mà đi khất thực rồi về, với xã hội bây giờ cái khất thực cái không có thích hợp lắm.

[15:45]Mà Phật tử thì không ủng hộ nhiều để đến chùa mà nuôi mình thường ngày được, nên mình vẫn còn phải lo toan tính toán mọi việc. Tuy nhiên nếu quý sư có trách nhiệm trong chùa nhớ sắp xếp cho đội chúng mình làm sao đừng có bận rộn quá đáng vì cái sinh kế, để dành thời giờ đó tu học. Đây là Đức Phật nhắc nhở cái yếu tố đó nhưng cũng chính là nhắc nhở cái cái người tu của mình. Mình giữ cái vấn đề quan trọng là không ô nhiễm để dành nhiều thời giờ cho việc tu hành mà chủ yếu là thiền định, chủ yếu là thiền định. Chúng ta cần phải học, đúng là cần phải học, nhưng mà học một cách cô đọng nào đó để có thể áp dụng được trong đời sống tu hành để làm sao cho thiền định được thăng

[16:26]tiến và trong đời sống luôn luôn mình đạt được sự tỉnh giác, đức hạnh.

[16:34]Cái đoạn mà nói rằng: "Các dục vọng vui ít, khổ nhiều, não nhiều, các nguy hiểm còn nhiều hơn nữa."

[16:44]Thôi bây giờ mình học bằng cách trao đổi đi. Ở đây chúng ta hiểu đoạn này như thế nào? Ví dụ ai giải thích được cái đoạn này: Tại sao các dục vọng, các trò vui ở thế gian á vui thì ít mà khổ thì nhiều?

[17:02]Sư Minh Vinh. Cảm ơn sư.

[17:12]Có ai có ý kiến gì nữa không? Sư Minh Trung.

[17:21]Cái dục vọng này mình hiểu là các thú vui đi. À các thú, các niềm vui ở thế gian á. Không bao giờ thỏa mãn được. Dạ đúng sư.

[17:32]Đây là cái điểm quan trọng mà người tu hành của mình phải nhìn cho ra. Cái điểm này mình không thể bỏ qua chơi chơi được. Có nhiều người từ nhỏ bước vào chùa tu hành không biết được các trò vui ở thế gian, khi lớn lên bắt đầu nhìn người đời họ đi vào chùa họ ăn mặc xe sua, họ đi xe cộ này kia kia, họ nghe nhạc, họ mặc đồ đẹp, họ uốn tóc rồi thế nọ vân vân, cái bị ngờ ngợ không biết cái niềm vui thế gian nó như thế nào, nó hay cỡ nào. Ở đây chúng ta là người tu mình nhìn cái này cho kỹ, phân tích cho ra để mình có một lập trường kiên định đối với đời sống thanh bần đạm bạc của người tu mình, mình giữ được cái lập trường không lay chuyển

[18:10]mà không bị các niềm vui thế gian nó lôi cuốn khi mình nhìn ra được bản chất của điều này: các dục vui ít khổ nhiều. Chúng ta phải cùng nhau phân tích cho ra điểm này, không có được lơ là với cái điểm này. Sư Minh Hiếu.

[18:28]Sư Minh Đạo đi. Sư hiểu điều này như thế nào? Sư Minh Đạo. Chúng ta phải nhìn điều này cho ra, phải nhìn cho ra điều này chứ không giỡn chơi được. Sư, mời sư nha.

[18:47]Vui theo sự đau khổ, khổ kéo theo sau. Mình phải có cái nhìn về nó, dù ít dù nhiều, dù cạn dù sâu phải có nhìn cho ra điều này chứ không được lơi lơi được. Sư, sư tên gì? Minh Phương hả? Phải tập nói. Thôi sư Hải đi.

[19:14]Cảm ơn sư. Giờ mời bên Ni. Trí đi, mời cô Trí. Chúng ta phải nhìn cho ra điểm này, không có giỡn chơi điểm này được.

[19:27]Cô Bửu Hạnh hả? Mời.

[19:34]Xí, rước cô Ngọc Hạnh đi.

[19:39]Dục vui ít khổ nhiều là các niềm vui của thế gian á, vui thì ít, khổ thì nhiều. Tại sao?

[19:52]Sơ sài quá, không được. Chúng ta phải nhìn. Cho nên kỳ tới mà làm cái bài này đó, quý sư, quý cô nhớ phân tích điểm này cho thật kỹ nha. Phân tích thật sâu sắc, không giỡn chơi được. Trên người tu mình đây là cái điểm mà để chúng ta giữ được lập trường tu hành hay không là do nhìn ra cái này nè. Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều và nguy hiểm còn nhiều hơn nữa. Trước hết như nãy đó cô, mấy sư cô kia nói được á, là trước hết sự tìm cầu, mình vất vả ghê lắm mới đạt được cái niềm vui mình mơ ước. Ví dụ như một đứa trẻ thôi, nó muốn đi coi xi nê thôi, ba mẹ nó cho tiền, nó nói có khi là nó phải,

[20:26]bữa đó nó phải đi bán vé số, nó làm gì được mấy ngàn để tối đó nó có ít tiền để nó mua vé nó vô nó coi xi nê. Còn cái người lớn có những cái ước vọng lớn hơn, như là muốn mua một chiếc xe, à sắm một cái nhà, hoặc là người ta cưới một cô vợ, thì phải lao động quần quật ghê gớm bao nhiêu năm tháng mới được cái, cái, nhưng được rồi đó, mình chưa có nói tới lòng tham kế mà mình chỉ nói cái bảo vệ của nó thôi. Để làm cái khổ nè. Tìm được nó để đánh đổi lại là bao nhiêu công sức mới tìm được nó. Tìm được rồi là phải bảo vệ, phải lo lắng vì nó. Mà nếu mất thì làm sự hối tiếc. Mà nhiều khi giữ gìn, tranh giành bảo vệ nó,

[21:08]đôi khi đưa đến sự nguy hiểm, ví dụ cướp, giật, giết người, vân vân. Lại một cái thế gian, những cái niềm vui nó giăng bủa mà cái lòng tham con người nó không có đáy. Bây giờ mình cho người ta trái đất, người ta sẽ đòi thêm mặt trăng. Cái ước vọng con người nó không cùng, cái lòng tham chưa dừng được thì cái mơ ước chưa chấm dứt. Mà mơ ước chưa chấm dứt thì sao? Con người cứ tiếp tục lăn lóc lăn lóc để làm lụng mà đi tìm tới cái mục đích kế tới nữa. Đó, cái khổ là cái mà không bao giờ dừng lại được cái mục tiêu của mình. Điểm này một lát mình sẽ nói cái điều trong đạo nó tương tự. Nhưng đó với các dục của thế gian á, cái vui nó lóe lên một cái mình

[21:47]gọi là hưởng thụ nhưng để tìm được nó cái thời gian nó dài hơn. Bảo vệ nó, rồi hối tiếc vì nó đã qua. Và đôi khi mình bị nguy hiểm vì mình sở hữu nó nữa. Đôi khi bị nguy hiểm vì đã sở hữu nó nữa. Ở đây chúng ta là người tu nên mình không phân tích nhiều về cái này, chứ có một bài giảng tôi giảng về cái nỗi khổ của thế gian đối với thế, với cư sĩ tôi phân tích điều này rất là sâu. Cho nên chúng ta ở đây phải nhìn điểm này cho kỹ, sau này mà quý sư quý cô có gặp cư sĩ mà giảng á, phải giảng cho kỹ điểm này. Mà chính chúng ta vậy, chúng ta hiểu sâu điểm này chúng ta mới, mới giữ được cái lập trường tu hành của mình.

[22:26]Cái đoạn kế tiếp Phật nói là thế này, trước kia Phật cũng thấy điều đó, cũng thấy các niềm vui thế gian thì vui ít khổ nhiều, nhưng mà ngài vẫn còn bị các dục chi phối vì chưa chứng được thiền định. Và như vậy ta biết rằng ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Cái điểm này quan trọng lắm. Cái chỗ mà ta biết rằng ta chưa khỏi. Người tu mình cái điều quan trọng á là phải biết đúng được cái vị trí của mình, không có lạm nhận, không có tự mãn, không có tự hào. Thường á ví dụ quý sư nào có kinh nghiệm thiền định sẽ thấy, mình nhiếp tâm được tự nhiên nó có cái niềm vui nó khởi lên. Mà cái niềm vui đó luôn luôn nó kéo theo cái tự hào.

[23:12]Mà cái tự hào, tự mãn nó nổi lên á, cái công phu mình nó dừng lại, ít bữa sau nó lui nó động tâm trở lại. Còn nếu khi mình nhiếp được tâm, bữa nay nào giờ mình chưa nhiếp được, bữa nay mình nhiếp được tâm vọng tưởng nó lặng lẽ hết. Mình không có để cho niềm vui nó khởi lên, không có tự mãn, tự hào mà biết rằng mình vẫn còn dở, vẫn còn có thể bị thối thất, chưa thoát được gì hết, còn thua xa so với chư thánh, nên cứ cố gắng lo sợ mà nhiếp tâm tiếp. Người này có thể tiến được. Cái chữ lo sợ, biết lo sợ để mà tu. Cái điểm này là các thiền sư đó, nhiều vị

[23:55]họ đạt được một cái trạng thái là bây giờ họ gọi là cái nghi tình trong thoại đầu á, nhưng sự thật nó không hẳn như vậy. Nó chỉ có nghĩa là một cái ray rứt, một cái trăn trở. Người tu mà đạt được một cái, có cái trạng thái ray rứt trăn trở đó cái người tu dễ tiến vì người đó không có xuất hiện cái tâm trạng tự mãn. Còn nếu mà chúng ta đang tu mà chúng ta thiếu cái trăn trở, cái lo sợ đó, cái niềm vui nó khởi lên một cách tự mãn, tự hào thì ít bữa lui liền. Điều này tôi nhắc rất nhiều lần. Nhưng hôm nay trong bài kinh này tôi nhắc lại, lúc nào cũng phải tự nhủ rằng cái công phu của mình hiện tại chưa có chắc ăn.

[24:36]Có câu chuyện vui nhưng mà nói nó nó nó hợp với ý đạo, tôi kể ra cho nghe cho vui. Có hai gia đình nông dân đó trồng lúa. Hôm đó ông già ổng dẫn cậu con trai ra đồng thăm lúa, thấy lúa trổ, trổ ngậm sữa đầy hết trơn. Cái ổng nói: "Kỳ này chắc ăn con ha?" Con trai nói: "Dạ chưa chắc ăn đâu ba." Cái tới kỳ lúa chín vàng hết không có rụng không gì hết, "Chắc ăn con ha?" "Dạ chưa chắc ăn đâu ba." Ổng ổng hầm hầm trong bụng ổng không nói. Cái tới ngày gặt lúa, gặt lúa rồi đi gặt rì xèo không có gì hao hết không bị ăn trộm cướp, "Chắc ăn chưa con?" "Dạ chưa ba." Ổng hầm hầm. Cái lúa đem về đổ đầy bồ trong nhà hết trơn rồi,

[25:17]"Chắc ăn chưa mày?" "Chưa đâu ba." Coi như đem xay lúa ra nấu cơm dọn lên bàn ăn. Bắt đầu ổng ổng đập cái bàn ổng nói: "Chắc ăn chưa mày?" "Dạ chưa đâu ba." Ổng giận quá ổng đá cái bàn cái rầm, văng cơm gạo tung tóe hết trơn. Cái nói: "Dạ con nói chưa chắc ăn mà." Đây là câu chuyện đùa mà đúng ra người tu mình cũng cần như vậy. Là ví dụ như ngày xưa chúng ta là ở cư sĩ nên mình thấy nó chông chênh mong manh khó tu, mình trở thành người xuất gia, mình vào thế phát cạo đầu, đắp y, chắc ăn chưa? Chắc ăn chưa? Chưa. Sau đó cái mình thọ giới, Tỳ kheo vân vân, chắc ăn chưa? Chưa chắc ăn. Tại vì có mấy, mấy nhiều người thọ Tỳ kheo cũng có ra đời dài dài ha.

[26:06]Rồi cái mình được gặp thầy bạn tốt hướng dẫn thiền định. Mình tu thời gian tinh tấn mình nhiếp tâm được, nghĩa là mình có thể ngồi thiền lặng lẽ suốt hai tiếng đồng hồ, không khởi vọng tưởng, chắc ăn chưa? Chưa. Nhớ cái cái ông mà nông dân con đó, nhớ câu đó mà vậy mà lo sợ mà tiến tu thì người này khả dĩ không lui lại. Còn người nào ví dụ như được một chút gì đó có cái mừng, thấy mình ờ ổn rồi, chắc rồi, chắc chắn sẽ bị lui sụt rất sớm. Mà tùy cái tâm tự hào nó đến sớm hay muộn. Ví dụ như cái người mà mới xuất gia mà đã tự mãn, ờ thôi chắc ăn rồi đó, vô đạo là thấy khỏe rồi, thoát nợ đời rồi, thì ít bữa nữa lui ra rất sớm.

[26:49]Còn cái người đợi tới thọ Tỳ kheo xong rồi mới cảm thấy chắc ăn, không, giờ mình thọ Tỳ kheo rồi ha chắc ăn rồi đó, thì không ít bữa ra đời liền. Còn cái người mà nhiếp tâm được mà nói chắc ăn cũng sẽ bị thối thất liền. Như có câu chuyện ngày xưa dưới Hà Tiên, này tôi nghe kể lại, có ông sư ổng tinh tấn tu dữ lắm, ổng ngồi thiền ổng nhập định thế nào mà phát hào quang ra trong cốc ấy. Nên do cái tin đó nó đồn ra, tiếng đồn lan ra, nhiều người tới quy ngưỡng, kính lễ dữ lắm. Nhưng thời gian sau ổng ra đời, rồi ổng lập gia đình rồi ổng lao động vất vả để kiếm sống. Cái nguyên nhân nằm ở chỗ là thấy chắc ăn rồi đó.

[27:28]Tưởng mình giết được tâm, phát được hào quang thấy mình như đắc đạo rồi, thua liền. Mà kinh nghiệm của tôi tôi cũng thấy điều đó. Ví dụ tôi nhìn một người mà tôi thấy họ có thể tiến xa được, họ tiến xa được trong đạo về cái sự thành công, ví dụ như là họ nhiếp tâm được định sâu hoặc là họ có cái danh tiếng lớn thì tôi nhìn tôi thấy là người này cái cái tâm tự mãn họ ít. Thấy họ vẫn cứ lo, cứ lo tới lo tới mà không có cái cái tự mãn. Tôi thấy rõ ràng người này cái cái cái danh tiếng nó cứ hoặc cái sự thành công nó cứ tăng trưởng nó cứ kéo dài. Còn cái người mà họ sụp đổ sớm thì tôi nhìn thấy đúng,

[28:09]đúng có cái lý do, lý do ở cái điểm là họ xuất hiện cái tâm tự mãn sớm quá, cho nên cái sự thành công không nhiều. Nhất là với những người khoe khoang nữa. Tôi có gặp một cái ông, ông này ổng cũng là hình thức cư sĩ, ổng như ở bên Thiên Liêng gì đó, không phải đạo Phật, thờ Mẫu hay gì. Thì ổng tự nhận rằng ổng là người ở cõi trên sai xuống làm giáo chủ để giáo hóa trần gian này. Rồi ổng luôn luôn ổng có cái ý nghĩ rằng, có cái mặc cảm rằng không ai bằng ổng được. Ổng làm việc gì cũng thành công, ổng làm điều gì cũng là hay là tốt, vân vân. Rồi khi tôi nhận thấy điều đó, tôi đờ chờ đợi cái sự thành công của ổng.

[28:50]Mà đúng tôi chờ mãi chờ mãi thì thấy cái thành công của ổng nó cứ gượng gạo một cách chậm chạp, ít ỏi và thấy trở ngại. Nên tôi thấy rõ đúng cái sự khoe khoang, cái tự mãn tự hào nó làm chặn đứng cái phước của mình lại. Nên chúng ta ở đây ai cũng còn nhỏ, tôi cũng vậy, quý sư quý cô cũng vậy, người nào mình cái đường phía trước còn dài. Cái điều mà chúng ta phải cảnh giác là luôn luôn biết như Đức Phật nói: "Ta biết rằng ta chưa khỏi bị các dục chi phối." Dù là ngày hôm nay chúng ta đang đứng ở một vị trí nào đó thấy giống như chắc ăn lắm, chắc ăn lắm. Nhưng mà xin thưa chưa chắc ăn. Phải biết lo sợ để tu.

[29:30]Ngay cả trong thiền định cũng vậy, cái người mà cái cái tinh tấn á nó hiện ra vẻ mặt thấy rõ lắm. Họ có một cái gì nó nghiêm cẩn, cảnh giác, khiêm tốn, thì mình thấy người đó còn đi được nữa. Còn mình nhìn thấy người đó nó hiện ra một cái vẻ mặt an lạc, tự tại, coi chừng ổng rớt bữa nào không hay. Tại vì cái an lạc tự tại mà làm ra vẻ đó thì nó không phải thứ thật. Nó không phải là cái nụ cười của Đức Phật khi mà ngài đã vượt hết được cái vô minh rồi. Mà nó chỉ là một sự gượng gạo, một sự khoe khoang ngầm không nói thành lời mà lộ lên trên cái cử chỉ như ta là tự tại. Có một lần tôi gặp một nhà sư, nói nhà sư chứ ông tu bên Bắc Tông,

[30:17]Lúc nào ổng ngồi ổng cũng nở nụ cười trên miệng rất là tự tại, hiền lành. Nhìn coi hay lắm, ai cũng nói ông này như ông thánh vậy đó. Tôi nhìn cái tôi tôi đoán ông thầy của ông này là ai. Tôi nhìn ông này xong tôi nói: "Ông này phải là đệ tử của ông bên đây, phía bên kia núi Dinh phải không?" Cái ổng nói: "Dạ đúng." Thôi tôi không nói nữa nhưng biết rồi. Và đây là cái trạng thái mà bị gạt, bị gạt là biểu lộ như mình đang tự tại. Chính cái người mà cho mình là đang tự tại và biểu lộ được tự tại thì người đó ít bữa rớt liền. Lâu quá tôi không gặp lại ông đó, không biết ổng đi đâu rồi thì không không biết nữa, không biết là tôi có đoán lầm hay không.

[30:53]Nhưng mà ngay ngày đầu tiên tôi nhìn là tôi thấy ông này ông ông lầm rồi. Là ổng có thể được một chút định gì đó, một chút hiểu hay được một chút định nào đó, cứ tưởng mà phải người tu thành công là phải biểu lộ được sự tự tại, không phải, cái người đó sẽ rớt liền. Cái người mà tu được á là mình nhìn vô họ thấy có một luôn luôn có một sự lo sợ, một cái sự cảnh giác, một sự khiêm tốn, bởi vì sao? Họ biết được giống như Đức Phật đã biết ngày xưa là: "Ta biết rằng ta chưa khỏi bị các dục chi phối." Đó, cái cái điểm quan trọng chỗ đó. Còn cái người mà thấy rằng à ta đã khỏi bị các dục chi phối nên mới

[31:29]có cái niệm mỉm cười, làm ra vẻ tự tại, người đó ít bữa rớt liền. Các dục vọng thì nó ngăn trở sự tu hành. Điều này chúng ta biết, cho nên người tu mình tránh cái tránh cái sự hưởng thụ cái thú vui thuộc về năm giác quan hay sáu giác quan quá đáng. Đây là một cái điều mà chúng ta đã ý thức rồi, biết rồi phải không? Đó, không phải nói. Bây giờ mình nói qua một cái khía cạnh

[31:58]là khi Đức Phật nói chuyện với các nhà tu khổ hạnh Nigantha đó, Ni-kiền-tử đó. Thật ra cái đoạn kinh này tôi thấy sao nó hơi lạ, chứ đúng ra tôi đọc được một đoạn kinh khác thì nó như thế này để tôi kể lại cho nghe, mà tôi thấy đoạn kinh sau này nó hay hơn trong cái bài kinh này, là lúc đó Đức Phật đi đến chỗ các Ni-kiền-tử đang tu tập khổ hạnh: người thì đứng không ngồi, người thì ngồi không nằm, người thì ngồi trên gai trên tro, người thì nắm chặt cái ngón tay để cho móng tay mọc xuyên vào trong lòng bàn tay mình, người thì ăn tro ăn phân bò khô, vân vân, tức là họ tu tập những khổ hạnh khốc

[32:35]liệt mà người thường mình không làm nổi. Đức Phật mới thấy xót thương mới hỏi là: "Các vị khổ hạnh như vậy để làm gì?" Thì các vị đó mới trả lời là thầy của ổng là ông giáo chủ Nataputta này đó, Nataputta đó, là một vị mà có tri kiến trong lúc thức cũng như trong lúc ngủ. Hồi nãy chúng ta đã nói đó, là người mà đạt được cái sức định, có cái tỉnh giác, thức cũng tỉnh giác mà ngủ cũng tỉnh giác. Ở đây ai đạt được cái trình độ ngủ cũng tỉnh giác chưa? Có chưa? Sư huynh đi đảo tu nè, có không? Nên ổng thấy vậy là ngon rồi, ổng có được cái chánh kiến rồi, thì ổng mới giải thích một điều theo nhân quả:

[33:16]Sở dĩ bây giờ mình chưa giải thoát là vì kiếp trước mình đã gieo nghiệp. Cho nên bây giờ mình chủ động trả nghiệp bằng cách khổ hạnh, đày đọa mình cho đau khổ. Khi mình đày đọa đau khổ như vậy thì mình trả được cái nghiệp quá khứ. Do nghiệp quá khứ hết nên bây giờ mình được giải thoát. Đó là lý luận của ông ta về dựa vào nhân quả. Nghe nó có hợp lý bởi vì nó dựa vào nhân quả. Nên nhớ là cái luật nhân quả đó được nói đến trước khi Đức Phật xuất hiện nha, chứ không phải là Đức Phật có rồi bên Ấn Độ mới nói tới nhân quả. Chớ thật ra là là luật nhân quả là các vị thánh của Ấn Độ đã nói từ rất lâu.

[33:55]Nhưng nhân quả luân hồi là nói lâu rồi. Đức Phật xuất hiện Ngài chỉ bổ sung thêm, Ngài xác nhận và Ngài bổ sung thêm chứ không phải Ngài là người đầu tiên mà nói đến luật nhân quả. Cho nên mấy cái ông Ni-kiền-tử này cũng nói dựa vào nhân quả để đi tìm cái cách giải thoát là phải khổ hạnh triệt để, đày đọa, đau khổ, trả nghiệp quá khứ, hết nghiệp quá khứ thì được giải thoát. Thì lúc đó Đức Phật mới hỏi lại mấy ông ta, nói rằng: "Như vậy các vị biết trong quá khứ các vị đã làm nghiệp nào không?" - "Dạ không biết." - "Như vậy các vị có biết là đời này quý vị phải chọn cái loại khổ hạnh nào mà thích hợp không?" - "Dạ cũng không biết." - "Mà quý vị có

[34:36]biết là với cái loại khổ hạnh đó, quý vị phải đày đọa trong bao lâu thì mới hết nghiệp quá khứ không?" - "Dạ cũng không biết." Nói: "Như vậy các vị tu hành toàn là dựa trên sự không biết thì làm sao giải thoát?" Đức Phật hỏi như vậy mấy ổng mới thấy có lý. Đức Phật mới rồi các vị đó mới hỏi lại Đức Phật: "Như vậy Tôn giả Gotama là có ý kiến gì về việc này?" Đức Phật mới trả lời thế này: "Ta nói có tham, có sân, có si là có đau khổ, có có đau khổ. Không tham, không sân, không si là không đau khổ." Như vậy, cái giải thoát của Đạo Phật nó không dựa trên nhân quả mà nó dựa trên tâm lý.

[35:21]Cái nghiệp của ý á là có tham sân si, có vô minh hay không, chứ không phải là mình đã chịu đau khổ đủ chưa. Đây cái điểm khác nhau giữa Đạo Phật và cái đạo Ni-kiền-tử. Đây là điểm chúng ta nhớ, ghi nhớ nha, không có bị lộn. Nên sau này đôi khi có một người nào đó họ cũng hiểu nhân quả sâu nhưng mà họ không hiểu cái ý nghĩa giải thoát nó nằm ở chỗ nào. Cái ý nghĩa giải thoát nó dựa vào tâm, chứ nó không phải dựa vào cái nghiệp thiện ác, khổ hay là vui hay là cái quả báo khổ vui. Có những trường hợp như Đức Phật Ngài nói là thời xưa, khi mà Ngài còn tu, Ngài đã thực hiện những cái khổ hạnh khốc liệt mà không một đạo nào, không một sa-môn nào có thể thực

[36:08]hiện nổi mà Ngài cũng không đạt được sự giải thoát. Chỉ đến khi bởi con đường thiền định, Ngài bắt đầu lại từ cái Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, ngang đó Ngài thấy chấm dứt được vô minh, Ngài tuyên bố thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó là bài đại kinh Khổ Uẩn nói đó. Hôm nay mình học bài tiểu kinh Khổ Uẩn, nhưng tôi nhắc lại một ít cái ý nghĩa của bài đại kinh Khổ Uẩn. Đức Phật thấy cái khổ hạnh không đưa đến bởi vì cái sự giải thoát nó không dựa vào cái nhân quả thiện ác đưa đến khổ hay vui, mà do mình chấm dứt được vô minh hay không. Mà chấm dứt được vô minh bằng con đường thiền định, mà khởi đầu bằng cái Sơ thiền.

[36:48]Thật ra cái Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền không phải Đức Phật là người đầu tiên nói đến, mà trước đó các du sĩ, các sa-môn của Ấn Độ cũng đã từng nói tới rất nhiều. Nếu chúng ta có nhớ lại cái lịch sử Đức Phật sẽ nhớ rằng trong một buổi lễ hạ điền, là buổi lễ cày vỡ đất để cày ruộng đó, chính vua cha Tịnh Phạn cũng dẫn các quan đi ra ngoài ruộng để mà cày, thì Đức Phật ngồi dưới bóng mát, bóng của cây, Ngài nhập Sơ thiền. Lúc đó Ngài còn nhỏ mà Ngài nhiếp tâm vào định cái Ngài đạt được Sơ thiền liền do cái căn cơ nhiều đời. Lúc đó mặt trời đã ngả qua bên hướng khác mà bóng cây không thay đổi để che mát cho Ngài.

[37:32]Cái vua cha Tịnh Phạn thấy cái hiện tượng lạ đó mới lễ Ngài lần đầu tiên, đó là à lễ Ngài lần thứ hai, lần đầu ổng lễ lúc Ngài mới sinh, lần thứ hai là ổng lễ khi ổng thấy rằng Ngài ngồi thiền dưới bóng cây mà mặt trời đã đổi qua bên hướng khác mà bóng cây vẫn giữ lại yên đó để che mát cho cho thái tử, nên ổng lễ Ngài lần thứ hai. Nên khi mà Đức Phật bao nhiêu năm khổ hạnh không tìm ra đó, Ngài mới nhớ lại cái Sơ thiền của buổi đầu mà Ngài thực hiện. Và như vậy cái điều đó dạy cho chúng ta một bài học là chúng ta đi tìm sự giải thoát trong Đạo Phật hãy bắt đầu bằng thiền định, không bằng con đường nào khác hết.

[38:11]Nếu có ai nói một con đường nào khác với thiền định thì chúng ta phải biết rằng người này chưa nói đúng Đạo Phật lắm, có thể họ còn ở một giai đoạn nào đó thôi. Chứ đúng Đạo Phật phải bước vào thiền định thực sự, tâm đạt được cái định lực thật sự, không phải là nói chơi. Tuy nhiên ở đây nó có nhân quả ở trỏng, người nhiếp được tâm hay không nhiếp được tâm vẫn là do cái phước mình có hay không nữa. Chứ không phải là cái người nói rằng tôi bỏ hết mọi việc là tôi xuất ly đồ chúng, tôi không thèm học, à tôi không hợp với ai hết để mà tôi lo tôi tu thiền thôi thì xin thưa rằng người này chưa chắc đủ phước để nhiếp tâm được vào định.

[38:54]Đạt được định là do phước. Cái đỉnh cao thiền định nó được những cái chân tháp của nó bảo vệ: Thứ nhất là cái đạo đức. Thứ hai đó là cái phước mà mình đã giúp đỡ rất nhiều người tu. Cái thứ ba là cái cái phương pháp, mình có cái phương pháp tu thiền đúng, nhớ đúng nha, sai là điên á. Và thứ tư là một cái lời nguyện, một lời nguyện mạnh mẽ từ nhiều kiếp. Bốn cái yếu tố đó mới đưa lên cái đỉnh thiền định ở bên trên được, chứ không phải là mình nói bước vô là tu thiền là đạt được liền, không có. Muốn đi thiền á mình phải đủ bốn cái điều đó. Cái đạo đức, cho nên mình phải dọn lại tâm hồn mình, tìm lại từng chút cái tâm niệm mình để vượt qua được những cái lỗi lầm:

[39:49]Không giận hờn, không tham sân, không ích kỷ, vân vân, phải mỗi ngày mỗi loại ra, mỗi ngày mỗi loại ra. Không biết mấy sư có cái tâm trạng là ví dụ như năm nay mình nhìn lại cái mình thấy: "Ờ, năm ngoái mình dở quá chừng." Mấy sư có tâm trạng đó không? Hay thấy năm nay năm ngoái giống nhau? Năm nay năm ngoái mà giống nhau, một là mình hết lỗi lầm rồi, hai là không tiến được chút nào. Người tu thực sự đó, ví dụ năm nay mình nhìn lại, mình nhớ lại năm ngoái, mình giật mình thấy sao năm ngoái mình quá nhiều lỗi lầm. Đó, cái người đó là người tu tiến, cái trí sáng lên á thấy được cái lỗi của mình.

[40:29]Còn mà mình tu qua năm ba năm, mình thấy mình không có lỗi, mình nhìn chung quanh thấy ai cũng có lỗi hết thì thua rồi đó, bắt đầu thua rồi đó. Đó là yếu tố thứ nhất. Yếu tố thứ hai á là phải có làm phước là giúp mọi người tiến tu. Ví dụ như người huynh đệ đó họ chưa biết phương pháp tu thì mình giới thiệu lại thầy lành bạn tốt, mình đưa những tài liệu cho họ nghiên cứu, mình có khả năng tài chính thì mình bảo vệ cho họ, ủng hộ họ nhập thất, mình bảo vệ thất cho họ yên ổn, vân vân, tức là phải làm tất cả mọi điều gì để giúp đỡ mọi người tu hành. Mà gần nhất là những huynh đệ chung quanh mình, ngay cả như mình công quả,

[41:11]...cái nghiệp, tổn phước. Còn người biết giữ cái phước tu, đối với huynh đệ mình, mình thầm lặng ít nói, gặp nhau mình chỉ nói những chuyện cần thiết vừa chừng để giữ tâm của huynh đệ mình được yên tĩnh. Đó thì như vậy cũng có phước. Luôn luôn lo sợ giữ gìn sự yên tĩnh cho các huynh đệ mình, đó là cái phước lớn. Cái người mà có đạo đức họ dễ nhiếp tâm trong thiền định là bởi vì sao? Bởi vì họ không làm động tâm người khác, không làm bận tâm người khác. Cái câu này các thiền sư hay nói là: "Một người mà vào rừng không khua lá, vào nước không nổi sóng." Tức là một cái người mà có cái tâm hạnh họ sống trong chúng mà người ta quên mất họ.

[41:58]Người ta quên mất tiêu họ, tại họ không đụng tới ai hết. Họ sống một cách yên tĩnh, thầm lặng. Nên có những người như vậy. Tôi nhớ ngày xưa tôi ở trong trong chúng vậy, có một người huynh đệ họ có một cái hạnh như vậy, nên một người sư huynh khác nói với tôi: "Trời, nhiều khi quên mất có mặt ông đó trong chúng mình." Sống đạt tới cái trình độ như vậy, tức cái hạnh thầm lặng, nhẹ nhàng, hiền lành, không sân, không si, không tham, không đụng chạm tới ai, không làm cho ai phải bận tâm tới mình. Đó cái người như vậy cái phước lớn là không làm cho người khác bận tâm, động tâm, nên mình dễ nhiếp được tâm của mình.

[42:33]Đó là cái phước tiêu cực. Còn cái phước tích cực là luôn luôn giúp đỡ huynh đệ tiến tu. Đó người nào mà mình thấy hơi lơi lỏng, mình mình năn nỉ người ta tu, mình khuyến khích người ta tu, mình tạo điều kiện để người ta được tu. Đó phải như vậy. Chớ còn một người tu hành mà chỉ mơ ước làm sao mình sớm đạt được cái kết quả mà không nghĩ gì tới huynh đệ chung quanh mình hết, thì người đó không thể nhiếp tâm vào định được. Hoặc là nếu được thì cũng càn cạn gì đó thôi, không sâu được. Cho nên cái khởi đầu của cái sự tu hành là bằng cái tâm vị tha tràn đầy. Bởi vì sao? Bởi vì khi mình phát tâm tu, nghĩ tới tất cả chúng sinh

[43:21]mà tu, chớ không phải là mình nghĩ cho bản thân mình. Đây là yếu tố quan trọng. Cái người nào khi bắt đầu tu hành mà chỉ nghĩ tới mình thôi, nói: "Ờ, con mong con được giải thoát, thoát khỏi trần gian đau khổ này, hoặc là con mong con được trí tuệ để con hóa độ chúng sanh", nói câu đó nghe hay không?

[43:41]Ví dụ cái người mà nói câu rằng là: "Tôi mong tôi đạt được sự giải thoát giác ngộ để hóa độ tất cả chúng sinh", đó cái câu nói như vậy hay không? Sư Trung? Nói câu đó hay không?

[44:01]Đúng rồi. Câu đó thì đúng đâu có sai phải không? Mình nghe nói là: "Con nguyện phát nguyện được giác ngộ giải thoát, cứu độ tất cả chúng sinh", câu đó nghe thì rất là đúng. Vậy đố sai chỗ nào?

[44:22]Ai biết được sai chỗ nào? Mời Sư Hải. Dạ chưa có sự thanh tịnh.

[44:36]Dạ dạ, rồi cảm ơn sư. Ai có ý kiến gì khác? Sư Vinh. Không, dĩ nhiên là chưa. Khi mình mới bắt đầu tu thì mình chưa được, nhưng cần cái lời nguyện thì cái lời nguyện là nguyện được giác ngộ giải thoát, cứu độ tất cả chúng sinh, thì mình thấy không sai phải không? Đúng rồi, câu nói nó không gì sai, nhưng mà có chỗ sai đó. Đố ai tìm ra được. Cô cô Ngọc Hạnh cười cười đó. Đúng rồi đó. Cái sai nó nằm ở chỗ cái ta. Cái nguyện mà mình cứu độ tất cả chúng sinh, nghe thì nó hay lắm, nhưng mà nó có cái này, ví dụ nửa lớn lên cái mình có cái đạo tràng, cái xui xui đâu bên kia cũng có cất cái đạo tràng, mình đang cứu độ chúng sinh mà cái ông thầy bên kia

[45:23]cũng giành cứu độ chúng sinh của mình, có khi lộn á.

[45:29]Cho nên ở đây nó không phải là thật tâm mong cho chúng sinh được giải thoát, mà trong đó nó mong cho mình được vinh quang, mong cho được nhiều người quy hướng về mình, bởi vì sao? Mình đắc đạo, mình làm bậc thánh rồi. Cái câu nói nghe rất đúng, nhưng hoàn toàn đó là cái mơ ước, cái mơ ước vinh quang của cá nhân, chứ không phải là thật tâm vì tất cả chúng sinh. Nên đây hầu hết chúng ta dễ bị điều này lắm.

[46:01]Ông thầy phải giải thích điều đó, để cho họ họ nhìn vào trong tâm họ đó, để họ thấy họ giật mình. Ví dụ họ phát nguyện cái câu đó rồi á thì ông thầy phải phân tích, phân tích cái bản ngã nó đang len lỏi, nó đang lừa mình ở phía sau của cái lời nguyện đó, nghe rất vĩ đại, rất tha thiết, nhưng mà không ngờ nó nó nó trật trong đường tơ kẽ tóc, nó biến thành cái mơ ước, cái tham vọng của bản ngã, mơ ước mình đắc đạo tức là thành thánh chứ gì nữa, để người ta cúng dường, cung kính, người ta đến nghe mình giảng pháp, mình để cứu độ tất cả chúng sinh, nghĩa là chúng sinh nào cũng do mình giáo hóa, người khác giáo hóa là chết.

[46:40]Đúng đúng đúng đúng, sư nói đúng. Một cái lời nguyện đó đó, câu lời nguyện đúng là không có lỗi, mà cái lỗi là cái ý phía trong. Mà cái chỗ này là cái người thầy phải biết mà gợi cho người đệ tử mình. Cái câu nguyện nó không có gì sai hết, nhưng mà phải người thầy phải chỉ cho đệ tử mình tránh cái ẩn ý phía sau đó. Như sư sư gì? Sư Giới, Sư Giới nói đúng cái lời nguyện không có lỗi, mà cái lỗi là ẩn ý phía sau nó dễ bị cái bản ngã mình nó gạt để mình thành một cái tham vọng, một cái mơ ước. Cho nên hai người phát cái lời nguyện giống hệt nhau vậy á, nhưng mà một người mình nhìn thấy ông này ổng tinh tấn,

[47:16]ổng tu hiền lành, tại vì cái lời nguyện đó nó chân thành giống Sư Hải nói, nó chân thành, nó khiêm hạ, hiền lành; nhưng một người cũng phát cái lời nguyện đó mà mình thấy ổng kênh kênh, coi chừng đúng là cái ông thứ hai này cái lời nguyện như vậy mà bản ngã nó đã xâm chiếm, chứ còn cái lời nguyện nó không có lỗi. Và cái lời nguyện mà cứu độ tất cả chúng sinh á, chúng ta cẩn thận, nãy tôi nói cái hệ quả là tại sao? Mai mốt mình nghe ừ cái phương kia ở gần đó có cái người cũng giáo hóa chúng sinh thì tự nhiên mình bực bực, bực bực bởi vì mình cứ nghĩ rằng chúng sinh là phải do mình giáo hóa, là cái lời nguyện ban đầu cái bản ngã nó đã xen vô, nó sai sử mà mình không hay.

[47:55]Nên tôi muốn nói cái lời nguyện đó để trở lại cái chỗ mà công hạnh để trước khi mình bước vào thiền như vậy. Chúng ta phải phát cái lời nguyện rất là vững, nhưng trong cái lời nguyện đó mình cố gạt ra hết những cái bản ngã thầm kín, luôn luôn mình thiết tha mơ ước cho huynh đệ mình được tiến tu tốt hơn mình, làm sao tất cả chúng sinh được giải thoát mà không hẳn là do mình, hoặc là do những vị thầy khác cũng được, mong sao cho có nhiều bậc chân sư xuất hiện trên cuộc đời này để cho chúng sinh có nơi nương tựa, đôi khi mình cũng được nương tựa, và vì thế gian này còn thiếu nhiều bậc tu hành chân

[48:29]chính, cho nên mình có bổn phận tu hành chân chính để đóng góp thêm cái số lượng người chân tu trong cuộc đời này. Cái câu nói đó nó nó giúp chúng ta có một cái nhìn khiêm tốn hơn. Chúng ta không mơ ước mình là một vị giáo chủ duy nhất, một vị đắc đạo duy nhất, mà mà chúng ta mơ ước thế gian này nghĩa là rất nhiều bậc tu hành chân chính đắc đạo, nhưng vì thế gian ít quá cho nên từng người từng người chúng ta phải cố gắng tu hành chân chính để đóng góp vào cái số lượng người chân tu đang thiếu trên cuộc đời này. Như vậy đó, trên bước đường tu hành của mình, huynh đệ mình mà có cái gì trở ngại là mình xót xa,

[49:11]mình giúp đỡ để người đó vượt qua, chứ mình không có có thích thú; hoặc là khi huynh đệ mình vấp ngã, mình không có chỉ trích, khinh bỉ mà mình che chở, hỗ trợ, khuyến khích để người đó vượt qua. Cái mà chúng ta dễ tạo nghiệp nhất á là lúc mà chúng ta gặp người có lỗi. Lúc đó là lúc mà thử thách đạo tâm của mình nhiều lắm. Như ừ để tôi kể một câu chuyện. Chuyện thật, có một cái sư cô đó tu hành vậy cũng tốt. Ngày xưa ở trong chúng thì luôn luôn được khen là người có đạo đức tốt, nhưng rồi sau khi ra ở riêng,

[49:55]bất ngờ gặp một cái người nghệ sĩ đến chùa giúp đỡ, rồi hai người họ có tình ý với nhau và cô ta hẹn ra đời, ra đời. Họ chuẩn bị họ sắp xếp một cái cuộc ra đời xong hết rồi, và dường như là họ có phạm một số sai lầm nào nữa để họ sắp xếp cái cuộc ra đời đó. Khi mà tôi biết cái chuyện đó thì tôi mới gọi cô ta tới, tôi mời cô ta tới, tôi mới nói thẳng là tôi biết hết, tôi hết biết hết những điều đó rồi, nhưng mà tôi nói bằng cái lòng thương yêu và không có cái sự khinh bỉ, lòng thương yêu và sự tôn trọng, tôi nói rằng: "Ai cũng vấp ngã hết, ai cũng có thể phạm lỗi lầm hết, nhưng cái giá trị là người biết đứng lên mà tiếp tục đi,

[50:45]chứ không phải là người vấp ngã rồi lui gót lại. Cái giá trị nằm chỗ đó, chứ còn vấp ngã ai cũng có thể bị hết. Cho nên là tôi thành thật khuyên cô đứng lên mà đi tiếp, đừng có lui lại, đừng có rời bỏ cái đạo cao cả mà mình đang bước chân trên đó." Cái chỗ này tôi nói không phải là tôi khoe, mà như tôi nói một cái một cái ví dụ để sau này như quý sư quý cô gặp một người lầm lỗi...

[51:17]Hoặc là họ phạm sai lầm như phạm giới, vân vân thì lòng mình trước hết phải xót thương chứ đừng có cái chỉ trích, cười ngạo, kể cho người này biết, kể cho người kia biết để mà giống như là mình thấy người ta dở dở dở, còn lại mình mình hay. Cái tâm trạng mà chúng ta chỉ trích cái người khác là vì thế này, là chúng ta muốn thế gian ai cũng dở hết để một mình mình hay. Chính vì cái tâm trạng bí mật đó mà mình hay có cái tật chê người này, chỉ trích người kia. Chúng ta để ý điều đó, cho nên sau này khi chúng ta gặp một người có cái gì lầm lỗi, dở kém, chúng ta nên thương xót và làm cách nào đó để họ vượt

[51:57]qua được lỗi lầm của họ, họ đứng lên, họ đi tiếp trong đạo. Cái chỗ này là chỗ thử thách đạo tâm mình. Ngay khi chúng ta gặp một người lầm lỗi thì lúc đó là chúng ta đang đứng ở ngã ba. Nếu chúng ta có cái tâm chê bai, chỉ trích thì chúng ta rẽ vào một bên tạo nghiệp, sau này chúng ta sẽ rơi đúng vào con đường đó. Nếu chúng ta xót thương, giúp đỡ họ, nâng đỡ họ để họ vượt qua thì chúng ta bước vào con đường tạo phước thì sau này cái đạo nghiệp của mình vững bền, không có bị lui sụt. Đó là điều chúng ta nhớ. Sau này chắc chắn chúng ta sẽ gặp những huynh đệ lỗi lầm của mình thì hãy nhớ thương yêu họ, nâng đỡ họ để họ vượt qua lỗi lầm,

[52:38]họ tiến tới tiếp, chứ đừng có làm cho họ phải lui lại. Đó là trường hợp thứ nhất. Trường hợp thứ hai là chúng ta gặp được người thành công. Hôm nào đó chúng ta thấy một người họ tự nhiên có trí tuệ biện tài, thuyết pháp như mây như mưa, người khác nghĩa là nghe rất là thích thú, hoặc họ nhiếp tâm được trong thiền định có những kết quả sâu sắc mà nhiều người tới lui để tham học. Chúng ta sẽ thấy cái tâm mình.

[53:10]Chúng ta cũng phải đứng trước ngã ba đường. Một là chúng ta có một cái gì nó bực tức, ganh tị bí mật, không muốn cho người khác thành công trước mình. Thì cái tâm đó nổi lên là chúng ta bước vào con đường tạo nghiệp, sau này mình không thành công nữa. Còn nếu chúng ta vui mừng, tán thán, khen ngợi họ người đó mà lòng mình vui mừng thật sự, mình kính trọng người đó thật sự, và mình giới thiệu nhiều người khác đến với người đó để được hướng dẫn thì cái phước mình tăng lên, sau này mình sẽ thành công. Mà cái sự thành công mình có khi còn nhiều hơn cái người người huynh đệ của mình đó nữa. Đó, cho nên là khi gặp một người thất bại hay gặp người thành công là chúng ta

[53:52]đang đứng ở ngã ba đường, tùy cái thái độ của mình, tùy cái tâm tư của mình. Như vậy mà chúng ta nói tới bốn cái chân của thiền định, chúng ta lặp lại là thứ nhất là gì? Là đạo đức. Thứ hai là cái phước, phước giúp người khác tu.

[54:10]Thứ ba là cái phương pháp tu thiền cho đúng, sâu sắc, toàn vẹn, toàn diện. Và thứ tư là cái lời nguyện chân chính. Cái lời nguyện chân chính nghĩa là lời nguyện mà nó không có ẩn ý của cái bản ngã trong đó. Sư Giới đồng ý không?

[54:33]Đó, bốn điều đó chúng ta nhớ. Thì từ bốn điều đó mà chúng ta tích lũy một cách sâu sắc, đầy đủ, lâu dài thì trên cái đỉnh đó thiền định nó vươn lên. Cái đình lực cái định lực chúng ta nó vượt lên, nó vượt lên dần dần. Thì bốn cái chân đó nó nó dày, nó to, nó sâu thì cái định sau này mình sẽ phát triển được nhiều hay ít là nhờ đó. Cho nên, ví dụ như là sau này quý sư nhập thất hay quý sư có đệ tử sắp xếp cho nhập thất cũng để ý điều đó. Cái người nhập thất là người đã đủ bốn yếu tố kia hay chưa? Nếu họ chưa đủ bốn yếu tố đó, khoan vội vàng cho họ nhập thất vì chưa hẳn có thành công lâu dài. Họ nhập thất chừng chừng thì được để để xác định cái phương

[55:16]pháp tu thì được, trong cái yếu tố thứ ba thì được. Chứ còn mà nói nhập thất là buông bỏ thân mạng, nhập cho quyết liệt để đắc đạo mà nếu họ chưa đủ bốn yếu tố đó một cách sâu dày thì sẽ không thành công. Chính bản thân chúng ta hãy xét mình điều đó để sau này mình có kinh nghiệm mà mình hướng dẫn đệ tử lại cũng như vậy. Hãy trang bị cho mỗi người mình đủ bốn yếu tố đó thật là dày, thật sâu. Ở đây có một đoạn sau này là khi mà nói cái hạnh phúc thì Đức Phật đã so sánh thế này, là vua Bình Sa Vương tuy làm vua hưởng mọi cái niềm vui của thế gian, nhưng mà Phật cũng giống như là Phật buộc các ông Ni Kiền

[55:58]Tử này để xác nhận là cái hạnh phúc đó đó so với cái hạnh phúc thiền định mà Phật đạt được là bất động thân thể trong bảy ngày bảy đêm thì cái hạnh phúc nào hơn? Thì cái ông Ni Kiền Tử đó xác nhận là Đức Phật hạnh phúc hơn bởi vì Đức Phật có thể thiền định bất động trong bảy ngày bảy đêm. Ở đây Đức Phật không tự cho là cái hạnh phúc thiền định hơn mà Đức Phật bắt người khác xác nhận. Giống như là một sự khách quan, một sự khách quan là cái niềm vui thế gian thì nó tạm bợ, vui ít khổ nhiều, thế này thế kia đó, nó xao động mệt mỏi, bất an, hối tiếc, phải đánh đổi, vân vân, đó là niềm vui thế gian.

[56:37]Còn cái niềm vui của thiền định, nó là một sự an lạc, sâu sắc, nhưng mà giải thoát, vân vân, nói như vậy. Cho nên nó vượt hẳn cái niềm vui của thế gian. Ở đây chúng ta để ý một điểm nhỏ là Đức Phật tự xác nhận mình đắc được thiền định có thể ngồi bất động bảy ngày bảy đêm. Đó là người xác nhận cái thành quả của mình. Rồi cũng như là trong những bài kinh khác, Đức Phật kể lại cái sự tu hành, cũng xác nhận mình thành một vị đại A La Hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Rồi ở đây chúng ta nghe nói nghĩa là tu không còn chứng đắc mới là đúng. Nhưng mà tại sao Đức Phật vẫn xác nhận cái cái cái thành quả của mình?

[57:21]Như vậy điểm sai, điểm đúng ở đây chỗ nào?

[57:32]Chúng ta vẫn thường nghe nói là vô chứng vô đắc hay vô sở đắc. Phải không? Người tu họ đắc đạo rồi không bao giờ nói mình chứng đắc hay không thấy mình chứng đắc mới thật là chứng đắc. Nhưng mà tại sao Đức Phật xác nhận cái thành quả của mình? Như vậy Đức Phật sai chăng? Nếu Đức Phật không sai coi chừng mình sai. Đây ai phân tích được chỗ này? Trong lớp của mình đây ai là người có trí nhất ha? Quý sư, quý cô thấy ai có trí nhất?

[58:09]Ai có trí nhất trả lời. Sư Trung có trí không? Nãy sư Hải khen sư là viên ngọc ngọc sáng dính gì đó.

[58:27]À mời sư. Hiểu ý sư rồi, để tôi lặp lại ha. Tức là sư nói rằng Đức Phật nói nhưng mà ngài không có ý khoe khoang, nói là một sự thật thôi nên không có lỗi. Còn như mình ví dụ mình có nói, có khoe khoang nên có lỗi, phải không? Ý sư như vậy. Cảm ơn sư, cũng khá hay. Có ai có bổ sung gì thêm không?

[58:56]Thường không thấy sư làm bài. À sư vậy đó hả? Thôi để nói luôn là sư Giới nói khá đúng, nhưng mà đứng về thế này. Tu tức là trí. Ví dụ cái đơn giản ở cái niệm tu hành của mình, vọng tưởng khởi lên thì mình thấy liền, phải không? Lấy rằng người đó biết tu. Còn vọng tưởng khởi lên mà mình không biết thì cái người đó có phải biết tu không? Mình mê cái mình trôi theo cái tư tưởng đó, mình nghĩ hết chuyện này qua chuyện kia, thì như vậy là người này không biết tu. Còn cái người biết tu là niệm khởi lên mình thấy nó đang khởi cái mình dừng lại liền. Tức là người đó có trí, người đó biết tu. Đó là cái căn bản của sự tu hành.

[59:36]Cái khởi đầu của sự tu hành là như vậy, là biết được trong mình có niệm khởi hay không có niệm khởi, phải không? Rồi cho đến một ngày kia, qua 5 năm, 10 năm, 20 năm, 30 năm gì đó, tâm mình nó đến cái chỗ không bao giờ còn niệm khởi nữa. Mà chẳng những không phải là cái niệm thô ngoài cái ý thức mà cả những cái động trong vô thức mình cũng vượt qua được luôn. Như vậy cái người này có biết rằng mình đã vượt qua được hay không? Có biết hay là vượt qua mà không biết? Biết hay không biết? Phải biết, phải không? Rõ ràng tu là cái trí mà, phải biết. Hôm nay mình còn vọng tưởng, mình biết. Ngày mai mình hết vọng tưởng thì mình đã biết rằng à hôm nay đã hết vọng tưởng.

[1:00:15]Phải biết điều đó, đó là cái trí. Nhưng mà khác nhau chỗ này, biết điều đó, bắt đầu nó có một cái tình nổi lên. Cái tình đó là cái sự tự hào, thích thú, mừng rỡ, thấy mình hơn người, khen mình. Cái tình nó thầm kín nằm bên trong theo thì cái đó gọi là còn thấy mình có chứng đắc vì cái tình đó còn. Chứ còn đúng ra thấy mình có chứng đắc là đúng, không có sai. Thấy mình hết vọng tưởng, thấy mình đã vượt qua ý thức, thấy mình đã vượt khỏi vô thức, cái thấy đó không có sai. Nhưng mà nếu còn cái tình, cái tình để thấy mình hay, cái tình à mình ngon rồi ha. Cái tình đó đó cái đó thuộc làm loại tình cảm, cái niệm thầm kín thì cái đó là sai.

[1:01:01]Cái đó gọi là có tâm sở đắc hay là tâm tự hào hay là còn chứng còn đắc. Cho nên Đức Phật khi mà ngài thành đạo, ngài vượt qua hết cái vô minh, bản ngã, vượt hết ý thức, vô thức, ngài có nói rằng à Như Lai thành được Chánh Đẳng Chánh Giác là ngài muốn xác nhận một sự thật và gây một niềm tin cho Phật tử, cho đệ tử chứ không phải là ngài còn cái tình của cái sự khoe khoang hay là khen mình hay là thấy hơn người, nó không còn những cái tình đó. Nên chúng ta thấy nó khác nhau chỗ này. Như một người mà nhiếp tâm được định mà cái tình đó nó có khởi lên đó thì mình thấy cái người đó sao? Tuy nhập định được nhưng mà có cái cao ngạo.

[1:01:47]Ở đây chúng ta gặp người đó chưa? Có gặp trường hợp đó chưa? Có những người mình thấy cái trình độ tâm linh họ vững vàng, sâu sắc, đúng vậy không? Nhưng mà nhìn vào nét mặt họ cao ngạo, thì biết rằng đúng người này có cái trình độ tâm linh, nhưng mà cái tình của cái mà tự hào đó, cái tình đó nó còn. Cái tình thầm kín nó còn. Còn cái người mà cũng nhập được vào định, có cái sở đắc tâm linh, nhưng mà cái tình đó nó không có thì người đó mình thấy họ sống hiền lành, lặng lẽ và cái đức hạnh càng lúc càng phát triển. Cái người này đi đúng đường, cũng gọi là người vô sở đắc, là không có tự hào. Cái tâm sở đắc mình định nghĩa lại cho đúng gọi là cái tâm tự hào,

[1:02:28]thấy mình hơn người khác, thấy mình có được cái gì đó hơn người khác. Cái hơn thua đó, cái khen mình đó, cái đó gọi là tâm sở đắc. Cho nên ở đây chúng ta thấy Đức Phật xác nhận cái hạnh phúc của mình, cái thành công của mình, và cái hạnh phúc nó thật sự là do thiền định. Và Ngài có nói lên điều đó là không phải là sự hơn thua, khoe khoang mà bởi vì để xác nhận cho mọi người thấy rằng cái niềm vui của thiền định là hơn hết.

[1:02:59]Hôm nay chúng ta học bài kinh này ngắn thôi, nó có vài điểm mình mình điểm qua lại. Nhất là trường hợp mà biết tham sân si là xấu nhưng vẫn bị, nhưng vẫn có tồn tại, Đức Phật nói cái lý do là vì gia duyên ràng buộc, vì cái niềm vui trần gian còn vây bủa, còn hưởng thụ. Ừ. Rồi cái cái ý quan trọng nữa là phải biết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, nguy hiểm còn nhiều hơn nữa. Bởi vì đó là một sự đánh đổi, sự tìm cầu, sự bảo vệ, sự hối tiếc và sự nguy hiểm. Ừ. Một cái ý là mặc dầu Ngài biết được cái thế gian là đau khổ, mặc dầu Ngài dốc chí tu hành, nhưng mà thời khi chưa đắc đạo Ngài nói ta vẫn biết là ta chưa thoát khỏi bị các dục chi phối.

[1:03:41]Cái biết một cách khiêm tốn, biết một cách thành thật đó đã giúp Ngài đắc đạo, thì ngày nay chúng ta nhớ, chúng ta phải trang bị cho mình một cái lo sợ, một cái cảnh giác, một cái một cái biết khiêm tốn, thành thật như vậy để chúng ta tiến tu. Với cái ý nữa là sự đau đớn, khổ hạnh cực đoan không phải là sự trả nghiệp. Có khi đó là nghiệp quá khứ, như hôm trước, kiếp trước mình cũng khuyến khích người ta tu khổ hạnh, người ta nghe lời mình, người ta đày đọa người ta, kiếp này mình mắc quả báo, cái tự nhiên mình cũng gặp người khác xúi mình tu khổ hạnh, nhịn ăn, nhịn khổ hay gì đó, để mình cũng phải đày đọa mình.

[1:04:15]Thành thử ra cái khổ hạnh đời này chưa hẳn là cái cái tự mình nghĩ ra đâu, mà có khi cái đó là nghiệp quá khứ. Mình đã xúi ai tu khổ hạnh một cách sai lầm, đời này mình cũng khổ hạnh một cách sai lầm, mà nó không phải là cái giải quyết vấn đề luân hồi sinh tử vô minh, mà chỉ có con đường thiền định. Với một cái sự hành trì từ sự không biết, à mấy ông Ni-kiền-tử mày hỏi cái gì cũng không biết, thì hành trì từ một sự không biết thì rõ ràng không đưa đến kết quả nào hết. Chúng ta phải biết con đường mình đi, biết từng cái tâm niệm của mình khởi hay không khởi, và xác lập rõ cái mục tiêu, cái Bát chánh đạo, cái đường lối, vân vân, mọi khía cạnh của thiền.

[1:04:53]Hôm nay cũng vậy, chúng ta sống trong thời đại khoa học, lần lần khoa học họ sẽ bước vào thiền để họ nghiên cứu. Họ sẽ dùng máy móc một cách thực tế họ đo. Nếu chúng ta thực hành thiền mà dựa trên cái ảo tưởng và niềm tin mà không thực tế, không kết hợp với khoa học, thì sau này chúng ta sẽ bị hố. Họ phân tích được những điểm sai của mình. Ngày nay khi chúng ta tu thiền chúng ta phải biết tất cả mọi vấn đề liên quan tới thiền, từ cái tâm lý, triết lý, đạo lý, cả cái sinh lý của cái não bộ của cơ thể, phải biết hết. Thành một cái con đường, biết cả những cái nhân quả sâu xa để đưa đến thiền định

[1:05:27]như thế nào, biết cả những cái tâm nguyện đưa đến thiền định như thế nào, biết rõ những cái đạo đức, những cái tâm niệm tự hào hay khiêm tốn nó ảnh hưởng tới thiền định như thế nào, phải biết cái đời sống sinh hoạt ăn, ngủ, nghỉ, giờ giấc kia nọ nó ảnh hưởng tới thiền định như thế nào, vân vân. Mọi cái phải biết hết, tức là chúng ta phải hành trì từ sự hiểu biết, chứ không phải là từ sự không biết như các ông Ni-kiền-tử này. Bây giờ còn cái điểm nữa là hạnh phúc do đau khổ hay do hạnh phúc? Như là cái vấn đề chỉ trích hạnh phúc không phải do hạnh phúc, mà hạnh phúc phải do đau khổ, Đức Phật không đồng ý điều này.

[1:06:08]Bây giờ chúng ta trả lời hạnh phúc do đau khổ hay do hạnh phúc? Hạnh phúc do tâm vị tha. Câu trả lời như vậy. Người nào có tâm vị tha, người đó được hạnh phúc. Và cái hạnh phúc thật sự là gì? Hạnh phúc thật sự là thiền định. Người tu mình thì khẳng định điều đó. Giờ hôm nay chúng ta học bài kinh ngắn này nó có vài ý như vậy thôi. Và cái câu hỏi chúng ta là để làm ngày sau, lần sau nộp hai bài là hai tuần nữa nha, giảng lại bài kinh này, ngắn ngắn thôi, câu hỏi ngắn ngắn thôi, đừng dài. Khi chúng ta viết cái bài làm như vậy đó, chúng ta nhớ dàn một cái ý cho kỹ, chúng ta đi từng bước và dùng cái câu văn nó mạch lạc, nó rõ ràng, nó giàu cái hình tượng để

[1:06:51]cái người mà họ đọc cái bài văn của mình đó họ hiểu được cái đạo lý của mình. Quý sư, quý cô đừng nghĩ là viết cho tôi đọc nha. Quý sư, cô nghĩ là viết cho một người nào họ chưa có hiểu bài kinh này, mà khi mình viết lên họ hiểu được những đạo lý trong đó để họ tu. Nhớ như vậy, chứ không phải viết cho tôi. Trung bộ 1, "Tiểu Kinh Khổ Uẩn", trang 150... 53. "Tiểu Kinh Khổ Uẩn" nha, Trung bộ 1, trang 153.

[1:07:30]Sư với cô ráng làm bài. Mình làm này đừng có nghĩ là làm cho mình, mà mình nghĩ đây là cái bổn phận đối với tất cả chúng sinh. Mình phải có một cái khả năng để giáo hóa, chớ đi mình tu mình có làm gì lợi cuộc đời đâu, chỉ bằng cái cái sự giáo hóa, làm cho người khác họ họ hiểu, họ tu thôi, thì đó là sự đền ơn, đâu còn cái gì khác. Đứng lên hồi hướng.

[1:07:55]Mấy cái bài này Sư Hạnh nhớ cho ghi điểm vô sổ nha. Nguyện đem công đức này hướng về

[1:08:10]khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.